Tổ Chức Gia Đình

Lượt đọc: 516 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương I
điều kiện cốt yếu: thích công việc nhà

1. Phải yêu công việc rồi làm mới có kết quả.

2. Nếu bà không thích những công việc lặt vặt trong nhà...

3. Công việc của người nội trợ có đúng chán không?

a. Nó thường thay đổi.

b. Bà được tự do.

c. Bà phát huy được tài năng của bà.

d. Bà làm việc cho bà.

4. Nên trang hoàng chỗ bà làm việc.

5. Công việc tự nó không đáng chán.

1. Phải yêu công việc rồi làm mới có kết quả.

Những nhà phát minh đại tài như Edison, những vị bác học danh tiếng như Pasteur, tự giam mình trong phòng thí nghiệm hàng chục năm trời, có khi làm việc 18 giờ một ngày mà không thấy mệt, không biết chán là vì thích công việc nghiên cứu, say mê nó, coi nó như một trò chơi.

Những văn nhân như Flaubert, Buffon, suốt ngày kiếm ý và lời khổ tâm chữa bản thảo, có khi 18, 20 lần, đến nỗi có người đương cầm cây viết trên tay thì lăn ra chết, những vị đó nếu không yêu công việc sáng tác của họ thì làm sao trọn đời đeo đai cái nghề bạc bẽo và lao tâm ấy được.

Trong bất kỳ ngành hoạt động nào, phải có yêu nghề mới có thành công vì có thích công việc, ta mới đủ kiên nhẫn để thắng trở ngại, mới tìm cách cải thiện phương pháp làm việc.

2. Nếu bà không thích những công việc lặt vặt trong nhà...

Các bà nội trợ cũng vậy, muốn làm việc nhà cho có hiệu quả thì trước hết phải yêu công việc nhà. Chúng tôi nói yêu công việc nhà chứ không nói yêu chồng con. Yêu chồng con là một sự dĩ nhiên rồi. Nhưng yêu chồng con chưa phải là yêu việc nhà.

Tôi thấy có nhiều bà chịu đầu tắt mặt tối xoay xở mọi cách để kiếm thêm tiền cho gia đình, lúc nào chồng con đau yếu thì lo lắng lắm, tận tâm chạy thuốc thang; nhưng công việc bếp nước, vá may thì lại chểnh mảng. Những bà đảm đang ấy yêu chồng con chứ không yêu việc nhà và thích buôn bán làm ăn hơn là công việc nội trợ.

Trời sinh có những người đàn bà như vậy và thân mẫu tôi là một trong số phu nhân đáng trọng ấy. Từ mờ sáng người đã đi buôn bán, sẩm tối mới về nhà. Ăn uống xong là tính toán tiền nong hoặc đi đòi công nợ, mọi việc trong nhà đều cậy bà ngoại tôi hết. Có vậy người mới nuôi nổi một mẹ goá và bốn con côi. Một khi nghĩ tới người là tôi nhớ ngay 2 câu thơ của Tú Xương:

Quanh năm buôn bán ở ven sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng

Những bà đảm đang ấy tất nhiên không có thì giờ lo việc nhà, mà nhiều khi cũng không thích việc nhà vì gia đình không phải là khu vực để các bà đem tài ra thi thố.

Nếu độc giả nào tự xét mình thuộc vào hạng ấy thì tôi không dám khuyên nên làm trái sở năng và thị hiếu của mình làm chi. Các bà cứ lựa người nào đáng tin cậy mà giao cho công việc trong nhà rồi đem tài, trí giúp chồng con trong những việc ở ngoài. Chồng con bị thiệt về phương diện này nhưng được lợi về phương diện khác. Tuy vậy, các bà ấy cũng nên bỏ ra vài giờ đọc cuốn này để biết ít nhiều quy tắc hầu phân phối và kiểm soát việc nhà cho có hiệu quả, vì tuy lo việc ngoài mà vẫn phải để mắt vào việc nhà.

Còn độc giả nào vốn không thích việc nội trợ mà đành phải làm nó, vì lẽ này hoặc lẽ khác, thì tôi khuyên nên ráng thích nó đi.

Lo nồi cơm trách mắm, mua mớ cá lá rau, ngày nào như ngày nấy, làm hàng chục những việc lặt vặt, kể cũng không lấy gì làm thú lắm thật. Tất nhiên là không say mê bằng bước lên khán đài, ca những điệu du dương, để được hàng ngàn thính giả hoan hô nhiệt liệt, hoặc ngồi trước cảnh thiên nhiên, lựa và pha màu sơn rồi ghi những nét hùng vĩ, diễm lệ, huyền ảo của vũ trụ lên trên một mảnh lụa!

Nhưng mỗi người đã có một tài riêng và bà đã phải lo việc nhà thì sao không vui lòng mà làm, càu nhàu, oán hận có ích chi?

3. Công việc của người nội trợ có đúng chán không?

a. Nó thường thay đổi.

Mà tôi tưởng, nếu xét kỹ thì việc nhà không phải là đáng chán.

Chắc bà sẽ mỉm cười, nói: “Tôi biết hạng nhà văn các ông, suốt ngày nằm dài ra đọc sách, lúc nào cao hứng thì hí hoáy viết, rồi đi dạo phố, họp bạn nói chuyện, có bao giờ thò đầu vào bếp nấu cơm, nhúng tay vào vịm rửa chén mà chẳng cho rằng việc nhà không đáng chán”.

Thưa bà, bà nói có lý. Có một số nhà văn như vậy thật, nhưng tôi không phải ở trong hạng đó. Đã có hồi tôi làm công chức và tuy không biết kho cá, nấu canh. Ít nhất tôi cũng có thể so sánh công việc nội trợ với công việc trong các sở được.

Tôi đã thấy một ông đốc công, một ông kỹ sư trong nửa năm trời lục lọi những sổ sách cũ nát, bụi bặm, để kiếm những tài liệu rồi ghi chép, sắp đặt lại; tôi đã thấy nhiều ông “còm mi” quanh năm làm những toán cộng, toán trừ, những ông phán già đời khom lưng chép sổ sách, đến nỗi khi tan sở, bước ra đường, mắt hoa lên, trông cái gì cũng thành hình những số 3 số 9.

Những công việc đó hẳn không vui bằng việc thêu cánh bướm, cánh nhạn trên cái áo gối, hoặc tỉa những bông huệ, bông lan trên một miếng đu đủ chứ?

Rồi còn hàng ngàn, hàng vạn thợ thuyền sống trong những xưởng tối tăm, ẩm thấp và từ sáng đến tối, năm này qua năm khác, chỉ được làm một vài cử động là lắp một con ốc, đập một cái đinh, hoặc dán một nhãn hiệu, lắp một nút ve. Tình cảnh của họ so với tình cảnh của bà ra sao?

Nên ông nhà là công chức hay làm thợ mà 7 giờ tối về nhà, mặt nhăn nhó, bơ phờ và quạu quọ, chán ngán là tại đâu chắc bà đã đoán được?

Thật vậy, công việc của phần đông đàn ông chúng tôi buồn nản hơn công việc nội trợ của các bà nhiều lắm. Chúng tôi phải làm hoài vài ba việc còn các bà được thay đổi hàng chục việc trong ngày: nào may vá, thêu thùa, đi chợ, lựa áo, nấu nướng, quét dọn, giặt giũ, dạy văn cho em nhỏ, giữ sổ sách, lập thực đơn, trồng rau tưới vườn, nuôi gà, vịt...

b. Bà được tự do.

Các bà lại sung sướng hơn chúng tôi là được hoàn toàn tự do, chính mình làm chủ. Chúng tôi, ngày mưa cũng như ngày nắng, mùa đông cũng như mùa hè, phải tới sở, tới hãng cho đúng giờ, trễ năm phút cũng bị người trên quở. Khi đau ốm, phải xin phép, phải đi nhà thương coi bệnh rồi mới được nghỉ. Nếu vô ý làm hỏng việc thì bị rầy có khi lại bị “cúp” lương. Tôi đã thấy những ông đầu bạc bị những ông chủ vào hàng con cháu, mắng một cách thậm tệ mà cũng phải cắn răng chịu.

Còn các bà thì sáng dậy đã trễ nửa giờ cũng không sao, hôm nào muốn đi chợ thì đi, không thì thôi, siêng thì làm, chán thì nghỉ, muốn lựa công việc nào thì lựa. Đã đành, khi chồng con đau ốm, các bà cũng phải thức khuya, phải mệt nhọc, và mỗi ngày, tới bữa cơm thì các món ăn cũng phải nấu xong. Nhưng đau ốm là chuyện bất thường, còn cơm nước là chính các bà định lấy, muốn nhiều món hay ít, tùy ý, muốn làm lấy hoặc giao cho người ở cũng được. Và tuy cũng có những ông chồng khó tính, gắt gỏng, nhưng dù sao, bị chồng cằn nhằn, cũng không khó chịu bằng bị người ngoài rầy mắng.

c. Bà phát huy được tài năng của bà.

Các bà lại có nhiều cơ hội phát huy sáng kiến và tài năng riêng của mình. Phần đông các người làm công không được cái vui ấy. Tôi thích dạy toán thì ông hiệu trưởng của tôi bắt dạy Pháp văn, hồi trước tôi thích xây cầu, đắp đường thì người ta bắt tôi phải giữ sổ sách trong phòng giấy. Ở trường chúng tôi học rất nhiều môn mà ra làm có được tới đâu. Sự học chuyên môn, tài riêng của chúng tôi, có khi người ta không cần biết tới. Kẻ nào có sáng kiến thường bị người trên dìm vì người ta không muốn kẻ dưới lại có ý mới hơn người ta.

Còn các bà hễ có tài thêu thì được thêu, có tài làm bánh thì được làm bánh, ưa trồng bông thì trồng bông, thích nuôi gà thì nuôi gà, tự ý thu xếp lấy việc nhà cửa, có sáng kiến gì thì đem thực hành liền.

d. Bà làm việc cho bà.

Nhưng sướng nhất là các bà làm việc cho chồng con, nghĩa là cho chính thân mình, còn các người làm công, chín phần mười có cảm tưởng rằng làm việc cho người khác. Người thợ làm giàu cho ông chủ, thầy ký làm quần quật cho ông sếp, họ chịu hết trách nhiệm và nỗi khó nhọc mà công thì người trên hưởng.

Chỗ đó là chỗ đáng thương tâm nhất của một phần đông đàn ông chúng tôi.

4. Nên trang hoàng chỗ bà làm việc.

Nghĩ vậy rồi mà các bà còn ghét việc nhà thì có lẽ tại phòng bếp và chỗ may vá của bà chưa được đẹp mắt chăng.

Người mình có tục chỉ trang hoàng phòng khách mà những phòng khác thường tối tăm, đồ đạc lủng củng. Hình như ta có thói khoe khoang và trọng khách khứa hơn người nhà. Trọng khách thì nên, khoe khoang thì đừng. Không biết người khác nghĩ sao, chứ khi tôi thấy nhà ai mà phòng khách rực rỡ, bày biện nhiều đồ quý giá, còn nơi ăn chốn ngủ hỗn độn, luộm thuộm thì tôi cho rằng chủ nhân là hạng người chỉ lo bề ngoài.

Mỗi ngày các bà chỉ sống trong phòng khách độ 1-2 giờ còn thì ở trong những phòng khác. Tại sao không dọn dẹp trang hoàng những nơi này cho đời sống được vui tươi hơn? Chúng ta ghét vào bếp, một phần lớn chẳng phải tại đó, khói bốc lên nghẹt thở, tường đầy mồ hóng, và không khí nồng nặc mùi hôi hám ư? Vậy bà nên sửa sang ngay nhà bếp và chỗ vá may của bà; nếu cần thì rút bớt chi phí về bộ sa lông hoặc máy thâu thanh để tiêu về việc ấy. Chỗ làm việc của bà cũng sang trọng như chỗ tiếp khách vậy.

5. Công việc tự nó không đáng chán.

Sau cùng, dù công việc buồn nản đến đâu, ta cũng có cách làm cho nó hóa ra thú vị.

Ông Dale Carnegie, trong cuốn “Quẳng gánh lo đi và vui sống” kể chuyện một cô tốc ký giúp việc một công ty dầu lửa. Cô phải làm một việc chán nhất trần ai là biên số và tên người vào những tờ giấy phép in sẵn. Một hôm cô quyết định làm cho công việc đó hóa vui để có thể sống mà chịu nổi nó được. Cô nghĩ ra cách thi đua với cô mỗi ngày. Buổi sáng cô đếm xem biên được bao nhiêu tờ rồi buổi chiều ráng biên được nhiều hơn. Cuối ngày cô cộng lại xem được bao nhiêu tờ rồi bữa sau ráng làm hơn số đó. Kết quả là cô hết thấy chán, hết thấy mệt mà hoá ra hăng hái hơn, đắc lực hơn.

Bà có thể theo phương pháp đó. Bà thấy công việc nấu cơm chán lắm ư? Thì sao không nghĩ cách làm cho mau hơn? Hôm nay mất 45 phút. Ngày mai ráng rút đi, còn 40 phút. Ngày nay tốn bao nhiêu than, ngày mai thử tiết kiệm số than xem được không?

Trong bất kỳ việc gì, ta cũng có thể ganh đua với người và cả với ta; như vậy là được cái lợi là công việc hóa ra một sự thử thách đầy hứng thú.

Có tinh thần ấy tức là bắt đầu bước vào môn tổ chức công việc vì mục đích của môn này là để rút thì giờ, sức lực và tiền bạc. Và, biết đâu đấy, do kinh nghiệm và sáng kiến của bà, bà chẳng kiếm ra được nhiều cách may vá, nấu nướng để chỉ bảo kẻ khác rồi làm giàu nữa?

Trong bài “Em bé là một mỏ vàng”2 tác giả là Bill Davidson, kể chuyện có nhiều người nhờ kiếm cách trông nom trẻ em sao cho bớt mệt mà sáng tạo ra được những kiểu xe, trở nên triệu phú. Chẳng hạn một người chế ra một thứ “công bi ne dông”3 có thể lột ra được như trái chuối, để mỗi khi thay áo cho trẻ được dễ dàng, mau chóng, khỏi phải bẻ tay, gập chân chúng lại, làm chúng phải la hét. Nhờ đó, người ấy bây giờ kiếm mỗi năm được 3 triệu Mỹ kim. Người khác chế một kiểu nắp đậy hộp sữa bằng cao su, vừa kín vừa có chỗ để rót sữa. Nắp đó được các bà mẹ ở Pháp rất hoan nghênh.

Vậy công việc tự nó không chán, chán hay không là tại ta. Người nào biết làm công việc cho hóa vui, người đó sẽ sung sướng và giàu có.

TÓM TẮT

Bất kỳ công việc gì, phải thích nó rồi làm việc mới có hiệu quả.

Công việc nội trợ đáng cho bà thích lắm: nó thường thay đổi, giúp cho bà phát huy được tài năng riêng của bà, bà lại được tự chủ và có cảm tưởng rằng làm việc cho chồng, con, tức cho chính thân bà, chứ không phải cho người khác.

Nếu bà vốn không ưa công việc lặt vặt trong nhà mà vẫn phải làm thì sao không kiếm cách làm việc cho được vui?

Có một cách là tự ganh đua với bà, cải cách phương pháp cho công việc được mau hơn, hoàn thiện hơn. Có tinh thần ấy thì chẳng những bà hết chán nản mà còn có thể làm giàu được nữa kia.

« Lùi
Tiến »