Ngôi nhà nằm ngoài thành phố. Thời tiết xấu cộng thêm việc hệ thống định vị không tìm nổi đường khiến họ mất hơn nửa tiếng để đến được nơi hẻo lánh này. Nếu không nhờ cây đèn đường nhỏ bé chiếu sáng lối vào, họ đã nghĩ nơi đây không có người ở.
Xe cứu thương chầm chậm tiến dọc theo khu vườn trong tình trạng hoang phế. Đèn hiệu xe làm những bức tượng tiên nữ phủ đầy rêu và những bức tượng thần Vệ nữ cụt tay chợt bừng tỉnh trong đêm tối. Chúng chào mừng chuyến viếng thăm của họ với những nụ cười méo mó, vươn mình trong những cử chỉ thanh tao và thiếu hoàn chỉnh. Chúng khiêu vũ trong tư thế bất động, chỉ cho riêng mình.
Đón tiếp họ là một ngôi biệt thự cũ kỹ như thể một chỗ trú ẩn an toàn giữa cơn bão. Bên trong không thấy ló ánh đèn. Nhưng cửa ra vào lại mở.
Ngôi nhà đang chờ họ.
Họ có ba người. Monica, một cô bác sĩ nội khoa trẻ có ca trực tại phòng cấp cứu vào đêm hôm đó. Tony, một anh chàng y tá lành nghề dày dạn kinh nghiệm về hồi sức cấp cứu. Và người tài xế, anh này ở lại xe trong khi hai người kia thách thức cơn bão tiến về phía ngôi nhà. Trước khi bước qua ngưỡng cửa, họ lớn tiếng gọi.
Chẳng có ai đáp lời. Họ bước vào.
Mùi ôi thiu bốc lên, ánh sáng màu cam yếu ớt của một dãy đèn soi tỏ một hành lang dài những bức tường tối màu. Phía bên phải có một cầu thang dẫn lên tầng trên.
Ở căn phòng trong cùng thấp thoáng một cơ thể bất tỉnh.
Họ lao tới để cấp cứu và thấy mình trong một phòng khách với toàn nội thất phủ vải trắng, ngoại trừ một chiếc ghế bành đã được trưng dụng, chễm chệ giữa phòng, ngay trước một cái tivi thuộc loại đồ cổ. Mọi thứ ở nơi đây thực sự đều nhuốm màu cũ kỹ.
Monica nhảy chồm lên người đàn ông đang nằm duỗi dài trên mặt đất, thở khó nhọc, và gọi Tony tới chỗ cô với tất cả những dụng cụ cần thiết.
“Là chứng xanh tím,” cô xác định.
Sau khi chắc chắn đường thở đã thông thoáng, Tony đặt bóng Ambu lên miệng người đàn ông trong khi Monica dùng đèn pin kiểm tra đồng tử.
Ông ta chừng năm mươi tuổi và đang bất tỉnh. Trên người mặc một bộ đồ ngủ kẻ sọc kèm áo khoác và đi dép da. Vẻ bề ngoài khá luộm thuộm, râu dài mấy ngày chưa cạo, đầu tóc bù xù. Một bên tay còn đang nắm chặt chiếc điện thoại lúc trước ông ta dùng để gọi số cấp cứu than vãn về cơn đau dữ dội ở ngực.
Bệnh viện gần nhất là Gemelli. Trường hợp báo động đỏ, bác sĩ trực đã kết nối ngay tới nhân viên y tế của xe cứu thương đầu tiên còn trống.
Vì thế Monica có mặt ở đây.
Trong căn phòng còn thấy một chiếc bàn bị đổ, một cái bát vỡ, sữa và bánh quy vương vãi khắp nơi, dính cả vào nước tiểu. Có lẽ trong lúc xem tivi, người đàn ông cảm thấy không được khỏe và đã tè dầm. Một trường hợp điển hình, Monica thầm nghĩ. Đàn ông năm mươi tuổi, sống một mình, bị đột quỵ, nếu không đủ sức gọi cấp cứu thì thông thường sẽ được hàng xóm phát hiện ra khi thi thể bắt đầu bốc mùi. Nhưng ở cái biệt thự hẻo lánh ấy thì đó là điều không thể. Nếu không có họ hàng gần đây, có khi sẽ phải mất hàng năm trước khi ai đó phát hiện ra chuyện gì đã xảy đến với ông ta. Dù thế nào đi nữa, đây cũng không phải là cảnh tượng xa lạ và cô thấy thương cảm cho ông ta. Ít nhất cho đến khi họ cởi áo choàng để chuẩn bị ép tim. Trên ngực ông ta có xăm một dòng chữ.
Giết tao đi.
Cả bác sĩ và y tá đều vờ như không nhìn thấy. Nhiệm vụ của họ là cứu mạng người. Nhưng từ giây phút đó, mỗi động tác của họ lại ẩn chứa một nỗi lo sợ vô hình.
“Độ bão hòa oxy đang giảm,” Tony nói, sau khi anh kiểm tra máy đo. Không khí không tới được phổi của ông ta.
“Chúng ta phải đặt nội khí quản nếu không sẽ không cứu được ông ta.” Monica rút từ trong túi ra một lưỡi đèn và di chuyển về phía sau đầu của bệnh nhân.
Làm vậy, cô giải phóng tầm nhìn của Tony và chợt thấy một tia chớp bất ngờ lóe lên trong mắt anh ta. Một sự bối rối mà cô không lý giải nổi. Tony vốn là một y tá lành nghề được huấn luyện để đối phó với mọi tình huống, nhưng cái gì đã làm anh hàng hoàng đến thế.
Nó ở ngay phía sau cô.
Tất cả mọi người ở bệnh viện đều biết chuyện của Monica và em gái cô. Dù chẳng ai nói với cô câu nào nhưng cô cảm nhận được mỗi khi họ nhìn cô đầy thương cảm, lo lắng và thầm tự hỏi làm thế nào cô có thể sống tiếp với một gánh nặng như thế.
Và lúc này cô nhận ra biểu cảm tương tự trên gương mặt của anh chàng y tá nhưng vô cùng hoảng sợ. Monica liền quay phắt người lại và nhìn thấy vật mà Tony vừa thấy.
Một chiếc giày patin bốn bánh bị bỏ ở góc phòng, nó chính xác đến từ địa ngục.
Nó màu đỏ, có móc khóa mạ vàng. Giống hệt với chiếc giày song sinh của nó nhưng không ở đó, mà ở một ngôi nhà khác, trong một cuộc sống khác. Monica luôn thấy đôi giày đó hơi lòe loẹt. Nhưng Teresa lại cho rằng nó mang phong cách cổ điển. Và cả họ cũng là chị em song sinh. Chẳng thế mà Monica như nhìn thấy thi thể của mình khi xác của em gái cô được tìm thấy ở bãi cỏ ven sông vào một buổi sáng của tháng Mười hai lạnh giá.
Teresa mới có hai mươi tuổi và đã bị cắt cổ.
Họ nói rằng những người sinh đôi thường có linh tính về nhau ngay cả ở khoảng cách hàng cây số. Nhưng Monica không tin vào chuyện đó. Cô đã không có bất cứ cảm giác sợ hãi hay nguy hiểm nào khi Teresa bị bắt cóc vào một buổi chiều Chủ nhật khi đang trên đường trở về sau khi đi trượt patin với mấy cô bạn. Thi thể của Teresa được phát hiện một tháng sau đó với chính bộ quần áo cô mặc lúc bị mất tích.
Và chiếc giày patin màu đỏ đó trông như thể một vật dị hợm nhô ra từ chân của xác chết.
Đã sáu năm nay Monica giữ gìn nó và tự hỏi chiếc còn lại đang ở nơi đâu cũng như liệu rằng một ngày nọ chúng có tìm thấy nhau. Đã bao lần cô có hình dung khuôn mặt của người đã giữ lại nó? Đã bao lần cô kiếm tìm nó trong số những người lạ cô gặp trên đường? Cùng với thời gian, nó đã dần trở thành một thứ trò chơi.
Và giờ đây, có lẽ Monica đã tìm thấy câu trả lời.
Cô nhìn gã đàn ông đang nằm sõng soài phía dưới mình. Đôi bàn tay múp míp và nứt nẻ, lông mũi lấp ló, vết nước tiểu còn vương trên đũng quần. Hắn không có vẻ gì của một con quái vật như cô đã hình dung. Hắn bằng xương bằng thịt. Không chỉ có thế, hắn là một con người tầm thường với một trái tim yếu ớt.
Tony kéo cô khỏi dòng suy nghĩ. “Tôi biết cô đang nghĩ gì. Chúng ta có thể dừng lại khi nào cô muốn. Và chúng ta có thể ở đây chờ đợi chuyện phải đến sẽ đến… Chỉ cần có nói với tôi. Sẽ không có ai biết chuyện này hết” .
Chính anh lại là người đưa ra đề xuất, có lẽ vì anh đã thấy cô ngập ngừng với lưỡi đèn lơ lửng trên miệng gã đàn ông đang thở hổn hển. Một lần nữa, Monica nhìn vào ngực hắn.
Giết tao đi.
Có lẽ đó là điều cuối cùng đôi mắt em gái cô nhìn được khi hắn cứa cổ nó như một con vật bị giết mổ. Đâu phải một dòng chữ an ủi ấm lòng cho mỗi sinh vật trước khi vĩnh viễn từ giã cõi đời như đáng lẽ ra nó phải thế. Làm vậy, tên sát nhân muốn giễu cợt em gái cô. Hắn đã rất hỉ hả về việc này. Có lẽ cả Teresa cũng cầu mong được chết để mọi chuyện nhanh chóng kết thúc. Trong cơn giận dữ, Monica ghì chặt tay cầm lưỡi đèn, các đốt ngón tay cô trở nên trắng bệch.
Giết tao đi.
Tên hèn hạ ấy đã xăm dòng chữ lên xương ức, ấy thế mà khi đau đớn hắn lại gọi cứu thương. Hắn cũng có khác ai đâu. Hắn cũng sợ chết.
Monica giày vò suy nghĩ. Những ai từng biết Teresa thì chỉ thấy ở Monica một bản sao giả dối, bức tượng của một bảo tàng sáp, bản copy của một sự ân hận. Với cha mẹ, cô đại diện cho những gì em gái cô có thể và sẽ không bao giờ có thể. Họ nhìn thấy cô trưởng thành và họ kiếm tìm Teresa. Giờ thì Monica có cơ hội để khẳng định mình và giải phóng bóng ma của người em gái song sinh vẫn ngự trị trong cô. Mình là một bác sĩ, cô tự nhắc nhở. Cô đã muốn kiếm tìm một chút lòng trắc ẩn cho cái kẻ đang nằm thẳng cẳng trước mặt cô, hay nỗi lo sợ một công lý cao cả, hoặc cái gì đó tương tự như một dấu hiệu cho việc ấy. Đằng này, cô lại chẳng thấy gì cả. Do đó cô thử đào bới trong tuyệt vọng mối nghi ngờ rằng hắn chẳng liên quan gì đến cái chết của Teresa. Nhưng, với những gì mà cô suy luận, chỉ tồn tại duy nhất một lý do cho việc chiếc giày patin màu đỏ xuất hiện ở đó mà thôi.
Giết tao đi.
Và trong khoảnh khắc ấy, Monica biết mình đã đưa ra quyết định.