Đã có những lúc tôi mong được như con mèo trong tục ngữ Mỹ, chết rồi còn sống lại được 9 lần. Đó là vào đầu năm 1955. Cũng như con mèo, tôi có thể từ bỏ cuộc sống của thời gian ấy để sống lại trong một đời sống mới. Nhưng không, tôi vẫn phải sống tiếp cuộc sống này. Trong khi quen biết với Trình Minh Thế, tôi vẫn tiếp tục những công việc khác mà phần lớn là những vấn đề có vẻ khó khăn và rắc rối.
Tôi đã tạo ra những chuyện lộn xộn với vị tân Đại Sứ là Tướng Collins. Tôi khuyến khích những chương trình của người Việt Nam liền gây ra thù oán, trong đám những kẻ thơ lại. Tôi nghênh đón một vài người Phi sang Saigon và được biết rằng họ là những người tiền thám của một nhóm chí nguyện hăng hái, đi tìm sự hướng dẫn để biết làm cách nào có thể giúp được người Việt Nam. Tôi gia nhập tổ chức huấn luyện hỗn hợp quân sự Pháp- Mỹ và làm trưởng một ngành với một nhiệm vụ rất khó thực hiện, chỉ để biết được rằng người Pháp bao vây bộ tham mưu của tôi bằng những nhân viên mật báo, những nhân viên ưa dùng thì giờ và khả năng vào việc viết nhiều báo cáo về cá nhân tôi. Tệ hơn nữa, cơ sở bí mật của Pháp ở Việt Nam còn gửi cho tòa Đại sứ Mỹ một danh sách dài đây những việc làm sai lầm của tôi với bằng chứng và yêu cầu tôi, nếu có thể, đến trả lời về những tội trạng ấy trước một buổi họp sĩ quan cao cấp. Thật là một cách khởi sự năm mới “khá vui vẻ”.
Tướng Collins đã đem lại một không khí làm việc chính xác kiểu nhà binh trong những buổi họp các chuyên viên về vấn đề bản xứ thuộc Tòa Đại Sứ tại Saigon mà trước kia dưới thời Đại Sứ Heath là những cuộc gặp gỡ thân hữu với những cuộc thảo luận rất cởi mỡ. Collins chú trọng đến hình thức kỷ luật, bắt mỗi người phải trình bày vắn tắt bằng miệng sau đó tất cả ngồi im nghe ông ta nói về tình hình thực sự như thế nào và mỗi người phải làm gì đối với những vấn đề ấy từ đó cho đến phiên hội tuần sau. Ông ta thực sự là một ông xếp mà chúng tôi phải trả lời “thưa có, thưa không”… theo định kỳ.
Collins và tôi đụng đầu nhau trong phiên họp tòa Đại Sứ đầu tiên do ông điều khiển tại Saigon. Những nguyên do sâu xa khiến xảy ra vụ này có lẽ là ở quan niệm quá khác biệt mà mỗi người chúng tôi mang đến Saigon lúc ấy khi cả hai phải làm việc với nhau để phục vụ xứ sở.
Tôi vừa trải qua cuộc đấu tranh chống quân Huks ở Phi Laật Tân, cuộc đấu tranh có nhiều liên hệ với đời sống dân chúng. Điều đó gây cho tôi nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ .
Collins thì xuất thân từ thế giới của những vấn đề trọng đại, từ giới điều khiển tối cao ở Hoa Thịnh Đốn. Giới này bắt buộc phải nhìn những vấn đề thế giới rắc rối diễn ra hàng ngày bằng cái nhìn giản lược, để rồi họ phân phối những số lượng chính xác về nhân sự, tiền bạc, vật liệu mà họ tưởng là đủ thỏa mãn từng nhu cầu. Trong cái thế giới như vậy, vấn đề danh từ có vẻ như không hề được lưu ý đến, có những chữ thường khi tạo ra những hình ảnh sai lạc cho người xử dụng. Thí dụ như chữ “chính phủ” , bao hàm ý nghĩa của một tổ chức gọn ghẽ gồm những nhà hành chánh từng ở chức vụ nhiều năm, có một vị trí vững chắc trong xã hội, mặc dầu có những vụ thay đổi Tổng Thống hay Thủ Tướng từng nhiệm kỳ, như ở Âu Châu hay Mỹ Châu chẳng bạn. Đem ứng dụng hình ảnh ấy vào hiện trạng Việt Nam, nơi mà một nhóm nhỏ những kẻ thơ lại ngồi chùm đống ở Saigon để ra lệnh cho nhau mà chẳng hề biết những gì đang xảy ra ở ngoài vùng ngoại ô, sẽ có thể dẫn đến những sự phán đoán sai lạc. Xã hội Việt Nam vẫn còn ở trong thời kỳ phong kiến Trung Cổ. Cộng Sản đã tìm được một phương thức cải tiến. Những người quốc gia cũng phải tìm ra một phương thức khác nếu không sẽ phải thảm bại.
Trong buổi họp đầu tiên ở Tòa Đại Sứ, Collins đã phác họa những thứ tự ưu tiên các công tác phối hợp tương lai, trong đó có vấn đề giúp đỡ gia tăng hiệu năng của chính phủ Ngô Đình Diệm và về vấn đề thẳng tay cắt giảm quân số của quân đội quốc gia vì Hoa Kỳ phải đài thọ chi phí cho quân số này. Khi ông ta chấm dứt tôi liền phát biểu về hai vấn đề mà tôi đã chuyên chú từ trước khi ông ta sang Việt Nam : nhu cầu sách động các tổ chức quần chúng trong chính trường trước ngày ấn định Tổng tuyển cử 1956 vói Cộng Sản, và sự quan hệ của việc sát nhập các bộ đội sứ quân địa phương vào quân đội quốc gia trước khi cắt giảm quân số. Collins nóí với tôi một cách chắc nịch rằng tôi đã đi ra ngoài vấn đề, rằng ông ta là đại diện cá nhân Tổng Thống Hoa Kỳ, rằng với tư cách đại diện ấy ông ta đã quyết định các ưu tiên và không có gì cần bàn cãi nữa. Tôi có hiểu như vậy không? Tôi đứng dậy và nói : “Thưa tôi hiểu. Tôi nghĩ rằng chẳng có ai ở đây đại diện cá nhân cho nhân dân Hoa Kỳ. Có lẽ nhân dân Mỹ muốn cho chúng ta thảo luận về những ưu tiên này. Vậy do đó, tôi tự phong cho tôi làm đại điện cho nhân dân Mỹ và tôi không thể làm việc với ông nữa.” Nói xong, tôi đi ra khỏi phòng họp.
Tôi sang văn phòng cố vấn tòa đại sứ ở sát bên văn phòng Đại Sứ nơi phiên họp đang tiếp diễn. Ngồi tại đây, tôi bắt đầu ghi lại nhữug công việc mà tôi phải thu xếp trước khi rời Việt Nam vì tôi tin chắc rằng Collins sẽ ra lệnh cho tôi đi khỏi đây tức khắc. Một lát sau Cố vấn tòa đại sứ Randy Kidder trở về phòng và bảo tôi rằng buổi họp Tòa Đại Sứ đã chấm dứt. Tướng Collins cần gặp tôi ngay. Tôi sang gặp Collins, ông đang ngồi ở bàn giấy bận rộn với nhiều thứ giấy tờ.
Bằng một giọng kẻ cả ông ta nói rằng ông ta rất buồn và thất vọng vì thái độ của tôi trong buổi họp. Là một quân nhân, chắc chắn tôi phải hiểu rằng chỉ có một người chỉ huy được ra lệnh. Tôi đồng ý nhưng vạch rõ rằng hoàn cảnh hiện nay không giản dị mà cũng chẳng thuận tiện: chúng ta đang đối diện với một hoàn cảnh phức tạp cần phải suy nghĩ và hiểu biết cặn kẽ trước khi quyết định đường lối hành động, mà tương lai thì rất đáng ngại. Collins trả lời rằng ông đã suy xét rất nhiều để lựa chọn những ưu tiên mà ông cắt đặt cho chúng tôi. Đó là những mục tiêu lớn lao của những vấn đề chính yếu của chúng ta. Những gì tôi nêu lên trong buổi họp chỉ là những chuyện nhỏ.
Tôi nói tôi thành thật mong muốn ông thành công trong nhiệm vụ tại Việt Nam, sự thành công của ông rất có ý nghĩa đối với tương lai của hàng triệu người và tôi hy vọng sẽ đưọc giúp đỡ ông ta. Tuy nhiên tôi không thể nào giúp ông cũng như ông không thể thành công được nếu chúng ta bị che mắt, bị bịt miệng ở giữa một khung cảnh đối với chúng ta phần lớn là xa lạ, không hiểu rõ và lầm lẫn. Tôi sẵn sàng để được ở lại hoặc được về Mỹ, do quyết định của ông ta. Nếu tôi ở lại, tôi mong được cung cấp những tin tức cho các vấn đề và các dữ kiện để ông xem xét trước khi quyết định. Tôi hiểu rằng biệt danh “Joe Sấm Sét” được các chiến hữu của ông đặt cho là vì cách suy xét các vấn đề và lấy quyết định một cách mau chóng của ông. Có lẽ ở Việt Nam ông nên suy xét một cách công khai trong những buổi gặp gỡ riêng với tôi và tôi sẽ có thể thêm vào đó những gì tôi biết để loại trừ những yếu tố mà ông cho là phụ thuộc đối với bất cứ vấn đề nào được đem ra cứu xét.
“Joe Sấm Sét” mỉm cười và nói rằng điều đó có thể làm được. Ông giải thích rằng ông thường suy nghĩ rất nhiều vào lúc ông nghỉ ngơi chốc lát trên giường sau bữa trưa. Ông có ngủ trưa như thói quen của vùng nhiệt đới không ? Không, ông chỉ nằm dài trên giường, nghỉ ngơi và suy nghĩ. Tôi nói:
– Được lắm. Tôi sẽ đến nhà ông ngay sau bữa trưa và theo ông vào phòng ngủ, ngồi yên lặng ở đấy trong khi ông nghỉ ngơi. Nếu ông muốn nói chuyện, thì được, chúng ta sẽ nói chuyện .Nếu ông chỉ muốn nghỉ ngơi thì tôi sẽ không nói một tiếng. Ta hãy thử coi xem làm vậy có được không?.
Tôi cáo lỗi và đi ra vội vàng vì lúc ấy đã đến giờ ăn trưa. Có mấy người đợi tôi ở nhà mà tôi phải tiếp một lát rất mau sau đó nuốt vội miếng cơm trưa rồi lại tư thất ông Đại sứ. Thấy tôi, ông nhăn mặt và bảo rằng ông không còn muốn nghỉ trưa trong khi tôi phải chờ đợi.
Tôi giục ông :
– Nào, ta hãy thử xem, đằng nào thì tôi cũng đã đến đây .
Ông dẫn tôi lên phòng một cách miễn cưỡng. Ông nằm dài trên giường trong lúc tôi ngả mình trên chiếc ghế dựa cạnh giường. Chúng tôi nói chuyện suốt trong giờ nghỉ. Tôi kể cho ông nghe những gì tôi cho rằng đó là sở trưòng hay sở đoản của Ngô Đình Diệm, vì sự sống cách biệt của ông Diệm làm cho tôi lo ngại. Tôi mô tả sự chia cách giữa chính phủ ở thủ đô với nền hành chánh rời rạc ở các tỉnh và sự cách biệt còn lớn hơn thế nữa giữa các viên chức hành chánh tỉnh với dân chúng ở làng mạc. Cần có những đoàn thể quần chúng để nhờ đó người dân có thể khởi sự tham dự vào các sinh hoạt công cộng. Một số cơ chế chính quyền thiết lập sẵn như một cơ quan với đa số là quân đội và một số nhỏ dân chính có được xử dụng để thực hiện các dịch vụ hànnh chánh kể cả vấn đề sinh hoạt chính trị tại những vùng nông thôn Việt Minh vừa rút đi theo hiệp định Genève. Tôi thuật lại những điều tôi được biết về nỗi xúc động của người dân quê vào thời kỳ sơ khởi của Việt Minh khi lần đầu tiên họ được có cơ hội phát biểu công khai trong những buổi họp tập thể và khi một vài vụ cải cách ruộng đất thật sự được thực hiện. Về sau sự đàn áp của Việt Minh đã làm tiêu diệt mất tinh thần hăng hái ấy, nhưng còn chính quyền Saigon thì chẳng bao giờ cố gắng làm những việc khởi đầu như Cộng Sản đã làm. Vấn đề chủ yếu đối với kết quả của cuộc Tổng tuyển cử thử thách 1956 là chính quyền phải làm công việc khởi đầu một cách chân thành, công việc mà nhân dân có thể thông hiểu và cảm thấy họ là một phần ở trong đó.
Collins chỉnh tôi về chỗ đã dùng sai chữ “chủ yếu” (vital) trong câu chuyện. Ông ta kể cho tôi nghe nhiều vấn đề khó khăn ở Hoa Thịnh Đốn, như sự chỉ trích đòi phải gia tăng hiệu năng xử dụng những ngân khoản trong giai đoạn chuyển tiếp của mối liên hệ giữa Hoa Kỳ với Đông Dương, như bản chất rất tế nhị của sự giúp, đỡ của chúng ta cho người Pháp trong khi họ đang liên can sâu xa thêm vào những vấn đề ở Bắc Phi và trong khi vị trí của họ ở các quốc gia Đông Dương đang chịu sự thay đổi lớn lao, và như cuộc thi đua nguyên tử ngày càng nguy hiểm hơn giữa Hoa Kỳ và Nga Sô. Những tấn kịch chính trị của cuộc thi đua này mới xứng đáng với sự mô tả như là “chủ yếu” ; còn các vấn đề nhỏ bé hơn chắc chắn không phải là chủ yếu. Việc cần phải hành động hòa hợp với người Pháp ở Việt Nam là một vấn đề “quan trọng” dù rằng việc này có thể gây thêm khó khăn như những khoản viện trợ của Hoa Kỳ cho họ đã tiêu tan hết và làm cho người Pháp bị khích động thêm. Hoa Kỳ dường như sẽ không hỗ trợ tiền bạc cho cuộc tranh chấp của Pháp ở Bắc Phi, và cũng có những câu hỏi khó trả lời về những số vũ khí của Mỹ ở trong tay người Pháp ở Việt Nam hiện nay.
Sau buổi nói chuyện dài và gay cấn này, tôi thấy Collins có vẻ mệt và tôi nhận ra rằng ông bị ảnh hưởng vì sự sai lệch thời giờ do chuyến bay quá mau từ vùng giờ Hoa Thịnh Đốn sang vùng giờ Saigon. Thân thể và thói quen của ông như muốn bảo rằng ông đang ở Hoa Thịnh Đốn vào những giờ ngắn ngủi buổi sáng. Tôi xin lỗi đã đòi hỏi một cuộc gặp gỡ nhiều suy nghĩ trong khi đáng lẽ ông cần phải ngủ trưa để hòa hợp với giờ giấc của Saigon. Ông đồng ý. Tôi vội vàng rút lui. Những ngày tiếp theo chúng tôi còn nói chuyện thêm về nhiều vấn đề cũng với không khí tương tự như vậy. Những câu chuyện này thường làm cho tôi thắc mắc, dường như là mỗi người chúng tôi đã tiếp tục công việc một cách cẩn thận thành thật trong hai thế giới hoàn toàn ngăn cách.
***
Một câu trả lời cho vấn đề cần phải làm gì đối với những viên chức dân chính Việt Nam đã do một người khách lại thăm nhà tôi đem đến. Người ấy là ông Kiều Công Cung, một người Việt Nam thấp lùn, tráng kiện và nhiệt thành, khoảng 40 tuổi. Cũng như những người khác, một hôm ông Cung đến một mình, tự giới thiệu và nói rằng ông được nghe nói tôi đang cố gắng giúp đỡ Việt Nam nên có một vài ý kiến về những điều cần làm. Ông ta đã từng là một viên chức của Việt Minh nhưng đã rời bỏ họ vì bất mãn với phương thức mà bọn thơ lại Cộng Sản đã làm ô uế cả phong trào vì những mục tiêu chật hẹp của riêng họ. Nhưng những điều ông nhìn thấy ở bọn thơ lại Saigon cũng làm cho ông ghê sợ. Họ là một bọn thợ chạy giấy kiêu căng, chậm chạp, vô kỷ luật, không có một chút tin tưởng nào về chính trị và chỉ biết nghĩ đến đồng lương mà thôi. Khi phải tuyển cử với Cộng Sản vào năm 1956 thì bọn này sẽ là những đống rơm rác quá yếu kém không thể trông cậy gì được.Ông Cung mong muốn được dạy dỗ bọn thơ lại này biết phục vụ nhân dân thực sự như thế nào. Có thể sau đó phe quốc gia sẽ có được chút may mắn vào năm 1956.
Cặp mắt của ông Cung sáng lên ánh giận dữ khi ông giải thích lý do ông đến thăm tôi. Ông càng tỏ vẻ giận dữ hơn nữa khi tôi bảo ông rằng có lẽ ông chỉ muốn một chức vụ trong chính nhủ như xếp sòng một cơ quan dân chính chẳng hạn, và tôi không phải là nhân vật cần gặp để kiếm một chức vụ trong chính phủ Việt Nam. Thế là ông lên tiếng: ông không phải là kẻ đi kiếm một chức vụ. Ông không muốn làm lãnh tụ. Thực ra ông sẽ rất hài lòng nếu ông có thể làm cách nào để những ý kiến của ông được một viên chức có đủ ý thức và nghị lực chấp nhận và thực hành những ý kiến ấy. Rồi sau đó ông sẽ vui lòng đi theo con đường của riêng ông không dính dáng gì đến chính phủ nữa.
Ông Cungđã nói đúng, cơ quan chính quyền rất chậm chạp trong việc cải tiến. Tại một vài vùng chỉ có cải tiến sơ sài. Những nơi khác không có. Khoảng 80% viên chức chính phủ cư trú và làm việc ở khu vực thủ đô Saigon, họ là dân thành thị, là những viên chức trưởng giả điển hình. Chính quyền Saigon hầu như không thể thành lập nổi những toán công chức hành chánh có khả năng để bổ sung cho những vùng Việt Minh vừa rút đi. Nếu ông Cung có những ý kiến thực tiễn về việc làm sao biến đổi những kẻ làm việc bàn giấy bất lực thành những con người nông thôn cường tráng trong một thời gian ngắn, thì tôi sẽ hết sức cố gắng tạo cơ hội cho ông ta được trình bày vấn đề trước chính phủ. Ông Cung hứa sẽ nghiên cứu một kế hoạch cụ thể.
Ngày hôm sau tôi thảo luận với một số người Mỹ trong ban cố vấn hành chánh của phái bộ kinh tế Hoa Kỳ. Họ đang bận rộn với kế hoạch thiết lập trường Quốc Gia Hành Chánh ở Saigon, trường này sẽ giảng dạy những đề tài huấn luyện cao cấp trong giảng đường cho các viên chức chính quyền có khả năng nhất. Một hợp đồng được ký kết cho trường Đại Học Tiểu Bang Michigan thực hiện công tác này cũng như công tác giám sát chương trình an ninh công cộng để huấn luyện ngành cảnh sát về hoạt động tại các vùng nông thôn. Tôi chăm chú nghe thấy người Mỹ này miêu tả tính chất tỉ mỉ cặn kẽ của chương trình ấy. Phải đợi rất nhiều tháng nữa mới có thể có kết quả của những nỗ lực này.
Nhưng chúng ta không có thì giờ. Tôi giải thích cho họ nghe rằng thời hạn của hiệp định Genève để lại trong xứ nhiều khu vực rộng lớn không có một sinh hoạt công quyền nào, đặc biệt trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 5-1955. Không phải chính phủ Sàigòn chỉ tiến vào những nơi đó mà còn phải khởi sự các sinh hoạt công quyền ở những nơi còn chưa hoàn bị hoặc những nơi chưa có gì. Hiệp định Genève qui định rằng các chính quyền Nam Bắc sẽ bắt đầu các cuộc thảo luận về cuộc tuyển cử 1956 vào khoảng tháng 7-1955. Một năm là thời gian ngắn nhưng đủ để chứng minh cho nhân dân thấy một chính quyền quốc gia có thể chấp nhận được so với những gì Cộng Sản đã cho họ thấy. Điều đó có nghĩa là bằng cạnh này hay cạnh khác phải thiết lập một chính quyền tốt đẹp và hoạt động hiệu lực ở khắp miền Nam Việt Nam trước tháng 7 năm 1955. Những người Mỹ này bảo tôi rằng: – Không thể nào làm được ! Họ quay lại với việc thiết lập học viện.
Đầu tháng Giêng, ông Cung đem lại cho tôi kế hoạch ông thảo. Kế hoạch dự trù một trại huấn luyện ở nông thôn, có lẽ ở gần Saigon. Hàng trăm công chức mỗi khóa sẽ được huấn luyện một cách cẩn thận về cách thức làm việc với hai bàn tay trong công việc lao động chân tay. Khi vào trại huấn luyện họ sẽ cởi bỏ những bộ đồ thành thị để mặc những bộ đồ bà ba đen của nông dân. Bà ba đen là trang phục duy nhất được bận cho đến khi họ đi qua hết chu kỳ công tác ấn định. Chu kỳ này không phải chỉ gồm có phần huấn luyện chính trị, đào luyện thể xác và học cách xử dụng trang cụ trong trại huấn luyện, mà còn gồm cả thời kỳ công tác tại các làng xã. Tại các xã, họ sẽ giúp dân chúng xây trường học, đường xá, cầu cống, hầm vệ sinh và các kiến trúc tương tự cũng như giúp dân thiết lập một chính quyền tự quản. Sau một tháng, họ sẽ được đánh giá khả năng phục vụ quần chúng và những viên chức làm việc có kết quả sẽ được đề cử làm những viên chức hành chánh tại những nơi cần thiết (và được mặc đồ lớn, thắt cà-vạt nếu họ muốn). Công tác này sẽ mang lại sự kiện hữu ích của chính quyền nông thôn một cách mau chóng và sẽ đào tạo ra những công bộc có chút ít hiểu biết về các nhu cầu thực tế của dân chúng cho cơ quan tham mưu cả ở thủ đô lẫn ở các tỉnh.
Lần gặp ông Diệm sau đó, tôi có nói với ông về ông Cung. Ông cũng tỏ ra chú ý như tôi về ý kiến huấn luyện những viên chức quần là áo lượt thành những công bộc bằng cách trước hết bắt họ phải làm công việc chân tay. Ông đã nghe nói về ông Cung và sẽ hỏi ông Nhu thêm tin tức và cho biết hình như ông Nhu có thể có những dữ kiện ấy một cách mau chóng. (Đó là lần thứ nhất ông Diệm thừa nhận với tôi rằng em ông điều khiển công tác tình báo cho ông). Sau đó cùng trong ngày, khi nói chuyện với Tổng Trưởng Quốc Phòng Hồ Thông Minh tôi được biết không những ông Minh quen biết ông Cung mà còn là người đã khuyến cáo ông Cung đến gặp tôi. Ông Minh nói rằng ông Cung là “Một người rất có khả năng”. Hai ngày sau ông Diệm bay đi kinh lý ngoài Huế, mời ông Minh đi cùng. Ông Minh đưa ông Cung đi theo. Kết quả là ông Diệm đề cử ông Cung phụ trách thực hiện chương trình ấy, làm việc trực tiếp với ông Diệm nhưng ngồi tại Bộ Quốc Phòng để ông Minh có thể giúp đỡ ông xúc tiến công việc.
Chương trình được mệnh danh là Công Dân Vụ. Tôi phản đối viện lẽ danh từ này có thể bị lẫn lộn vì Quân Đội Việt Nam đã dùng danh từ ấy cho hoạt động công tác giúp đỡ dân của họ. Ý kiến của tôi không được chấp nhận. Ông Diệm đã đích thân chọn danh xưng ấy do những câu chuyện tôi kể cho ông nghe về công tác dân sự vụ của quân đội Phi Luật Tân. Ông cho rằng đó là một danh xưng thích hợp khi áp dụng cho một công tác huấn luyện các nhân viên văn phòng biết cách phục vụ quần chúng. Tôi đành câm miệng.
Chương trình Công Dân Vụ được ông Cung trình bày trong phiên họp nội các và được ông Diệm chấp thuận một cách nồng nhiệt. Một địa điểm trại huấn luyện được chọn tại vùng ngoại ô Saigon. Công việc tuyển mộ được bắt đầu bằng cách kêu gọi các ứng viên tình nguyện trong số những viên chức làm việc văn phòng của các Bộ. Cách thức ấy bị thất bại. Không có ai tình nguyện. Đám thơ lại đều đồng ý với nhau rằng ông Cung là một loại người ưa làm bảnh muốn bắt họ phải từ bỏ những chức vụ thong thả ở thành thị để về nhà quê nhúng bẩn chân tay mà giúp đỡ dân chúng. Ông ta có biết rằng họ là những người có học, đâu phải là dân lao động ? Sự phản đối quá lớn khiến tôi phải đề nghị với ông Diệm nên sa thải một số công chức đáng tội một cách khôn khéo. Nhưng ông Diệm muốn giải quyết vấn đề bằng cách khác.
Ông Diệm đã xem xét đến vấn đề viễn ảnh tương lai của đám dân di cư miền Bắc. Tôi nhớ ra rằng ông muốn một số nông gia thay đổi việc canh tác thay vì trồng lúa như xưa nay, thì trồng loại cây lấy sợi và chăn nuôi trâu bò, và ông muốn các nhà thủ công nghiệp khởi sự công tác của họ tại vùng phụ cận Saigon. Trong số người di cư có nhiều viên chức văn phòng ở Hà Nội vào đang cạy cục những chức vị cao cấp tại các cơ quan ở Saigon và có nhiều sinh viên vừa tốt nghiệp hoặc còn đang học tại Đại Học Hà Nội. Ông Diệm coi chương trình Công Dân Vụ là một giải pháp cho những người này. Ông chỉ định một nhóm viên chức văn phòng Hà Nội vào công tác (Quí vị muốn phục vụ chính phủ ? Tôi có việc cho quí vị đây !), và ông kêu gọi những người tình nguyện trong số sinh viên đại học, thì họ hưởng ứng nồng nhiệt. Những người di cư này là lớp cán bộ đầu tiên được huấn luyện tại trung tâm Công Dân Vụ.
Chương trình Công Dân Vụ bắt đầu công việc huấn luyện và hoạt dộng một cách nghèo nàn. Ông Diệm bòn vét được một khoản tiền nhỏ trong ngân sách phụ trội. Phái bộ kinh tế Mỹ thì rất đắn đo trong việc hỗ trợ dù rằng tôi đã tìm cách khiến họ nhúng tay vào kế hoạch ấy và tránh tôi khỏi những liên hệ với công tác này. Họ chỉ yểm trợ một cách tối thiểu sau những áp lực mạnh mẽ. Về sau một số viên chức hành chánh Mỹ đã thú nhận rằng họ e ngại đây là một âm mưu của tôi nhằm làm cho quốc gia này tràn ngập những nhân viên mật vụ, một việc mà họ không thích dự phần. (Mỉa mai thay, đó lại là phản ảnh của luận điệu tuyên truyền của đài phát thanh Cộng Sản đưa ra một lối kết án tương tự). Hậu quả của sự yểm trợ hà tiện này là chương trình huấn luyện Công Dân Vụ thành ra một trường dạy chủ nghĩa thực tiễn cứng rắn ngay từ những ngày sơ khởi. Các học viên thay đồ thành thị để mặc đồ bà ba đen của nông dân lao động miền Nam ngay ngày thứ nhất. Họ học làm việc chân tay bằng cách xây dựng lấy doanh trại và lớp học, đêm ngủ trên mặt đất và tham dự các bài huấn luyện ở ngoài trời.
Khi những toán Công Dân Vụ đầu tiên trình diện các Tỉnh Trưởng sau khi mãn khóa để được xử dụng thì có nhiều Tỉnh Trưởng không tin rằng những thanh niên bận đồ bà ba đen, chân tay chai cứng này lại có thể là những công chức của chính quyền. Kết cục là phần lớn các toán bị giữ lại lè phè ở tỉnh lỵ cho đến khi ông Cung nẩy ra ý kiến đích thân đi thăm từng tỉnh với bộ đồ bà ba đen như các cán bộ. Hình ảnh ông Cung, một viên chức cao cấp của chính quyền được ông Diệm tín nhiệm ăn bận một cách xoàng xĩnh, đã thuyết phục được họ. Các toán liền được gửi xuống các xã. Tại đây họ gặp những khó khăn khác. Giọng nói khác biệt của miền Bắc đã gây ra những sự kỳ thị thấy rõ ở mọi làng mạc Việt Nam, và các toán Công Dân Vụ bị đối xử như những người ngoại quốc xa lạ. Các tổ chức Việt Minh nằm vùng lập tức khai thác nhược điểm ấy. Những lời đồn đãi được loan truyền một cách khéo léo về những việc xấu xa ghê gớm mà những người lạ mặt kia mang đến làng mạc. Du kích Việt Minh nằm vùng đào súng ống lên và hoạt động. Nhiều cán bộ của các toán Công Dân Vụ bắt đầu bị ám sát.
Chương trình Công Dân Vụ được duyệt lại tức khắc. Phần lớn các toán người Bắc được chuyển sang hoạt động trong những khu người di cư nơi dân đồng hương Bắc của họ đang ra sức xây dựng cuộc đời mới. Người Miền Nam được tuyển mộ vào những toán mới, trong đó một số thanh niên có khả năng của các xã nông thôn sẽ được đưa về làm việc tại các quận nguyên quán sau huấn luyện. Sau hết, tại những vùng nguy hiểm nhất mà du kích thường lảng vảng ban đêm, các toán Công Dân Vụ được ghép vào với các đơn vị Bảo An với tính cách là những thành phần dân chính không võ trang của lực lượng này.
Một nhận xét đáng buồn về cuộc đấu tranh dai dẳng tàn bạo tại Việt Nam là sau bao nhiêu năm và bao nhiêu thay đổi danh từ, những lý luận nguyên thủy của chương trình Công Dân Vụ vẫn còn có một giá trị rộng lớn. Cán bộ địa phương với trang phục bà ba đen của chương trình mệnh danh Xây Dựng Nông Thôn hiện đang đi khắp nơi trong nước, công tác ở các xã để giúp đỡ công tác tự quản, tự túc phát triển và tự phòng. Chương trình huấn luyện của họ tràn đầy những kỷ niệm của các thanh niên đã đi trước họ và những cán bộ đã chết trong khi làm việc giúp đỡ đồng bào. Ngày nay những cán bộ áo đen đã được võ trang để tự vệ, Cộng Sản đã đánh giá một cách xấu xa thành tích công tác của họ. Giết một cán bộ X.D.N.T được coi như giết một người Mỹ trong liệt kê thành tích thăng thưởng của các lực lượng Cộng Sản miền Nam và miền Bắc. Cộng Sản đã thiết lập bảng đánh giá này vào ngày 15-3.1967.
Các y sĩ và y tá trong Chiến Dịch Huynh Đệ không phải là những người Phi duy nhất có tinh thần giúp rập người Việt Nam. Một nhóm đông đảo các cựu chiến binh trong lực lượng du kích kháng Nhật và những thường dân từng tự nguyện phục vụ trong chiến dịch bầu cử tự do tại Phi năm 1953 đã thành lập một cơ quan phục vụ đại chúng, không vụ lợi tại Ma Ni vào tháng 11 năm 1954. Họ mệnh danh tổ chức mới này là Công Ty Tự Do Phi Luật Tân và trình bày mục đích của tổ chức là “phát triển chính nghĩa tự do”. Họ bầu Frisco Johny San Juan làm chủ tịch và đặt tôi cùng Magsaysay trong hàng hội viên danh dự. Tôi đã gặp các thủ lãnh của tổ chức mới này trong chuyến viếng thăm ngắn ngủi ở Ma Ni cùng các sĩ quan của tướng Hinh và đã khuyến khích công việc làm của họ. Tôi cảm thấy rằng sự hiện diện tại Việt Nam của những con người như vậy, mà ai cũng thấy là để dâng hiến cho nguyên tắc tự do của loài người sẽ có một ảnh hưởng tình cảm sâu xa đối với những người Việt quốc gia.
Khi tôi nói đến những người Phi trong Công ty Tự Do với Thủ tướng Diệm, là tôi đã đụng chạm ngay với cái thành kiến cố hữu của Á châu – thứ dân tộc tính cố hữu của Á châu –thứ dân tộc tính có khuynh hướng khinh rẻ các dân tộc láng giềng. Về phương diện này, Đông Nam Á giống hệt bán đảo Balkans, dễ nổi giận khi những sai lầm cố hữu của họ bị công kích hơn cả những điều cuồng tín về chủng tộc đen hay trắng ở Hoa Kỳ. Ông Diệm nhăn mặt bảo tôi rằng người Việt Nam không cần đến sự giúp đỡ của đám “nhạc công hộp đêm” (phần lớn các ban nhạc vũ trường ở Á Châu hồi ấy gồm toàn người Phi Luật Tân). Tôi lưu ý của Diệm về những y sĩ và ý tá Phi làm việc tại Việt Nam và nhận xét rằng hiện có sự thiếu hụt trầm trọng những nhân viên Việt Nam được huấn luyện về các ngành kỹ thuật mà sự trợ giúp của những người Phi hiểu biết công việc sẽ rất hữu ích. Ông Diệm nói để ông suy nghĩ lại. Tôi phải ngưng lại ở đó.
Frico Johny San Juan đến Sàigòn với một toán viên chức Công Ty Tự Do để thăm dò cách thức giúp đỡ người Việt Nam . Vì Phi Luật Tân chưa công nhận Việt Nam về ngoại giao và chỉ có một viên chức tại Việt Nam là Đại Tá quan sát viên quân sự Jose Banson, tôi đề nghị họ thu xếp để hội kiến với ông Diệm. Nếu ông Diệm phản ứng thuận lợi thì sẽ lập một khế ước giữa chính phủ Việt Nam và Công Ty về công tác của người họ. Trong buổi hội kiến, ông Diệm đã chú ý đến lời tường thuật của các nhân viên Phi Luật Tân về các cải cách công vụ ở Phi Luật Tân mà San Juan đã chủ động trong việc cải tiến công tác Quan Thuế và hiện đang là Phó Chủ Tịch của Ủy Ban Tố Tụng và Hoạt Động thuộc Phủ Tổng thống. Trước khi cuộc hội kiến chấm dứt, một khế ước được ký kết giữa chính phủ Việt Nam và Công Ty Tự Do để “phát triển chính nghĩa tự do tại Việt Nam”.
Ít lâu sau ông Diệm lẫn Công Ty Tự Do đều hỏi riêng tôi ý kiến về những công việc mà người Phi của công ty có thể làm được. Tôi trả lời cả hai bên rằng Việt Nam có một nhu cầu lớn lao về những cơ chế trong đó nhân dân có tiếng nói của họ và được chính quyền lắng nghe. Việt Nam có rất nhiều cựu chiến binh sau những năm chiến tranh vừa qua, vậy thì tại sao lại không có một tổ chức Cựu Chiến Binh? Công Ty Tự Do có một số viên chức vừa được đắc cử trong Hội Cựu Chiến Binh Phi Luật Tân. Gần đây, San Juan đã từng phục vụ với tự cách Chủ Tịch Trung Ương trong hội ấy. Những người Phi này có thể giúp Cựu Chiến Binh Việt Nam thành lập một tổ chức của họ với các chi hội trong toàn quốc. Các cựu chiến binh sẽ nói lên không phải chỉ riêng về nhu cầu của họ mà còn về cả những công việc của cả cộng đồng.
Ý kiến được chấp nhận. Công việc đầu tiên của Công Ty Tự Do ở Việt Nam là hướng dẫn và khuyến khích việc thành lập Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam . Tổ chức mới nầy kiếm được những ngân khoản nhờ dành quyền phát hành sách báo toàn quốc. Chẳng bao lâu số hội viên gia tăng mạnh mẽ đến hàng ngàn cựu chiến binh và hội lập được các cơ sở ở hầu hết các tỉnh. Sau đó trong năm 1955, Công Ty Tự Do được yêu cầu cung cấp chuyên viên huấn luyện quân nhân Việt Nam về bảo trì quân cụ sửa chữa quân xa, xử dụng các dụng cụ điện khí và điều hành các kho hàng quân nhu cùng các loại hàng khác và thỉnh thoảng thoả mãn được những nhu cầu chuyên viên trong nhiều hoạt động khác nữa.
Sau nhiều tháng làm việc lông bông, tôi rất sung sướng được cấp một văn phòng riêng chính thức vào tháng 1-1955. Có lẽ chữ “chính thức” là một chữ quá lịch sự. Thật ra nó chỉ là một cái nhà xép trong sân bộ chỉ huy MAAG ở Chợ Lớn. Nền nhà bụi bặm được lót bằng ván. Có hai cái bóng đèn điện lủng lẳng trên sợi dây điện được thắp sáng trong phòng. Tất cả vật dụng chỉ có mấy cái ghế xếp, mấy cái bàn hành quân và mấy cái thùng không nắp để đựng hồ sơ. Đây là một trong nhiều nhà xép bao quanh toà nhà bộ chỉ huy.
Tòa nhà này là một trường học thuộc địa Pháp xây bằng xi măng trát vữa mà những người ở quanh đó ai cũng nói rằng ngày trước nơi này từng là một nhà thổ do người Nhật lập ra để mua vui cho binh sĩ. Người Pháp cấp cho người Mỹ tòa nhà này là một trong nhiều cách làm trò cười kín đáo của họ. Tôi thì chưa bao giờ tìm ra căn nguyên căn nhà xép của tôi.
Tôi đến làm phận sự hàng ngày trong căn nhà xép này, sau khi tôi tình nguyện vào tổ chức Pháp – Mỹ đã được thỏa thuận hồi tháng 10 để làm bộ phận huấn luyện quân đội Việt Nam. Trong khi đang tìm tòi những chi tiết để làm sao cho người Pháp và người Mỹ sẽ làm chung với nhau, Tướng O’Daniel gom tất cả những người Mỹ đã được lựa chọn vào làm việc trong tổ chức mới và sắp xếp cho chúng tôi vào những căn nhà xép trong sân là vị trí duy nhất có được trong bộ chỉ huy để nghiên cứu kế hoạch xúc tiến những công tác tương lai. Có tất cả 4 ban tham mưu : Lục Quân, Hải Quân, Không Quân và Bình Định. Tôi chỉ huy ban Bình Định, ban này sẽ hướng dẫn quân đội Việt Nam trong các cuộc điều động tiếp thu các vùng trước kia của Việt Minh cũng như quan sát các cuộc hành quân an ninh tại những khu vực du kích vẫn còn khủng bố dân chúng.
Mấy tuần sau đó phần lớn các kế hoạch căn bản đã hoàn tất, kể cả những chỉ thị đề nghị cho quân đội Việt Nam ban hành ngay khi nào họ sẵn sàng tiến hành chương trình. Dù rằng kế hoạch của tôi căn cứ rất nhiều vào những bài học tôi đã học được tại Phi Luật Tân và do những cuộc du hành của tôi khắp nước Việt Nam, kế hoạch ấy còn được các viên chức Việt Nam gọt dũa và sắp xếp. Tôi thảo luận từng giai đoạn với các vị Thủ tướng, Tổng trưởng Quốc phòng và các cấp chỉ huy quân đội Việt Nam mà tôi tiếp tục gặp gỡ gần như mỗi ngày. Sự góp sức ấy của người Việt Nam là thành phần quan trọng nhất trong kế hoạch. Người Pháp và người Mỹ chúng tôi hướng dẫn người Việt coi sóc lấy các công việc của họ. Muốn cho công việc có kết quả, các hoạt động dự định phải được người Việt Nam thấu hiểu toàn bộ và chấp nhận.
Dịp đầu tiên cho người Việt Nam làm việc ấy là vụ danh xưng của chương trình. Họ phản đối danh từ “bình định” (pacilication), cho rằng danh từ này bao hàm một hoạt động thuộc địa của Pháp do Tướng Lyautey nghĩ ra ở Bắc Phi và được áp dụng ở Việt Nam với các đoàn GAMO (Quân Thứ Lưu Động) . Các đoàn này thiết lập chính quyền địa phương và tự vệ tại những khu vực đã được các lực lượng Liên Hiệp Pháp tảo thanh. (Tôi đã thấy các công tác của các đoàn GAMO và nghĩ rằng phần lớn rất có kết quả). Các cấp chỉ huy Việt Nam rất đồng ý với khái niệm xử dụng quân đội Việt Nam để giúp đỡ và bảo vệ dân chúng, vì vậy tôi yêu cầu họ rằng nếu không muốn dùng chữ “bình định”, thì họ tìm lấy một danh xưng khác. Sau khi vò đầu bứt tóc nhiều lần, các cấp chỉ huy chọn một danh từ Việt Nam cho công tác này được dịch sang Anh Ngữ là National Security Action (Hoạt động an ninh quốc gia). Chúng tôi chấp nhận ngay danh từ này. Nhưng thật là buồn cười, nhiều người Việt Nam (cùng nhiều người Pháp và Mỹ) tiếp tục gọi công tác này là “bình định” (Pacilication). Nhiều năm sau, mặc dầu có những lần thay đổi danh xưng chính thức, nó vẫn được gọi là “pacilication”. Thói quen ăn sâu quá rồi.
Đến cuối tháng Giêng tổ chức huấn luyện Mỹ–Pháp mới là phái bộ T.R.I M đã thành hình. Bộ Tư Lệnh Pháp xử dụng cư xá Lorgeril làm bộ chỉ huy, một cư xá có tường bao quanh ở Chợ Lớn gồm nhiều biệt thự xinh xắn bao quanh một cái sân. Tổ chức của cơ quan này được cân bằng một cách chính xác khoa học giữa người Mỹ và người Pháp. Tướng O’Daniel là trưởng phái bộ T.R.I.M nhưng hành động dưới thẩm quyền của Tổng Tư Lệnh Pháp là tướng Ely. Tham Mưu Trưởng phái bộ T.R.I.M (cấp chỉ huy trực tiếp của tôi) là Đại Tá Jean Carbonel, người sĩ quan thuyết trình viên Pháp đã từng kể câu chuyện kém thông minh về vụ tôi mang một chiếc cặp đầy tiền cho Ba Cụt. Phụ tá của ông ta là một người Mỹ, Trung Tá Bill Rosson. Dưới quyền họ là các trưởng ban của 4 ban tham mưu (Lục, Hải, Không quân và An ninh Quốc gia) mà hai người là Pháp, hai người là Mỹ, mỗi người có một phó trưởng ban khác quốc tịch. Tôi là trưởng ban An ninh Quốc gia. Phó trưởng ban của tôi là một quân nhân Nhảy Dù Pháp. Trung Tá Jacques Romain-Delosses. Ban tham mưu của tôi có một số lượng bằng nhau người Pháp và người Mỹ.
Ở phái bộ T.R.I.M tôi có rất ít tình thân thiện. Vị Tham Mưu Trưởng người Pháp là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi có vẻ hiềm khích triệt để với tôi và tỏ rõ thái độ bằng cách từ chối không nói chuyện thẳng với tôi. Thay vào đó, ông ta nói với người phụ tá của ông là một sĩ quan Pháp ngồi cạnh ông. Trong khi nhìn vào tôi, ông ta yêu cầu người phụ tá ấy chuyển đạt lại cho tôi công việc này nọ. Khi người phụ tá vừa nới xong, tôi trả lời thẳng cho ông ta và ông ta liền hỏi lại ngay người phụ tá rằng:
– Ông ấy nói cái gì vậy ?
Thế là câu trả lời của tôi lại được nhắc lại. Tình trạng ấy thật là bi thảm vì tất cả chúng tôi đều nghiêm chỉnh cứng ngắc theo thủ tục quân sự và đều nói tiếng Anh mặt đối mặt với nhau. Ông ta còn đem theo hành động này vào trong việc giao tế công vụ. Trong những buổi tiếp tân, thấy tôi bước đến gần là ông ta dậm chân và quay lưng lại. Tôi cố tỏ vẻ thân mật với ông ta bằng cách cư xử của tôi. Tôi đã choàng tay lên vai ông ta một cách tự nhiên và nói với những người đứng gần chung quanh theo lối nói đùa của người Mỹ rằng : “Ông này là bồ của tôi. Các bạn phải đàng hoàng với ông này, nghe chưa”. Câu đó làm ông nổi nóng, hất tay tôi ra khỏi vai ông một cách giận dữ. Tôi nghĩ rằng ông ta vẫn còn tin ở cái huyền thoại quanh co về việc tôi đã hối lộ người Việt Nam bằng những món tiền khổng lồ.
Phần lớn những sĩ quan Pháp trong ban của tôi đã công khai cho tôi biết rằng họ thuộc nhiêu cơ quan tình báo khác nhau. Có đi khi họ đã tỏ vẻ xấu hổ khi tôi bắt gặp họ đang chăm chú viết những báo cáo về công việc hàng ngày của tôi, chắc là để gửi cho các cơ quan gốc của họ. Mặt khác, tất cả những người này đã phục vụ ở Việt Nam những nhiệm kỳ 6 năm hoặc hơn thế và đặc biệt rất am tường về đời sống và địa dư Việt Nam. Vì vậy vấn đề của tôi là phải chuyển hướng họ từ tâm lý nghi ngờ một cách sai lạc mọi việc tôi làm đến việc giúp đỡ thực sự vào công tác sửa soạn của người Việt Nam cho các cuộc hành quân an ninh quốc gia phức tạp và quan trọng đang xúc tiến. Nhưng tôi chỉ thành công được một phần.
Thí dụ như một trong những sĩ quan Pháp thuộc một cơ quan mật. Ông ta ngồi ở một bàn giấy đối diện với tôi, có lúc bận rộn với công việc giấy tờ, xong rồi cứ ngồi đó mà ngó. Tôi nhận thấy ông ta cứ ngó chòng chọc vào cái điện thoại kế bên tôi là cái điện thoại dùng để nói tiếng Anh. Ngay cả những điện thoại ở phái bộ T.R.I.M cũng chia ra hai quốc tịch, dù rằng cái công việc dễ ghét này thì vẫn đồng nhất. Cả hai loại điện thoại để nói tiếng Anh và tiếng Pháp đều hiển nhiên là không bị những ảnh hưởng âm thanh từ thượng tầng không gian, nhưng vẫn có những tiếng nói chen vào giữa lúc đàm thoại hoặc những tiếng la “Alo, Alo!” rồi im bặt. Gần như mỗi lần điện thoại từ ngoài gọi đến đều phải bắt đầu bằng cuộc tranh luận thiếu lịch sự về sự chậm trễ và phải gặp khó khăn mới liên lạc được với chúng tôi. Sau đó người gọi phải vội vàng la lớn điều muốn nói trước khi đường giây bị ngắt. Đã biết thành tích hoạt động của cái điện thoại nên tôi đoán rằng người sĩ quan Pháp ngó chòng chọc vào nó chỉ là để tỏ vẻ căm ghét nó một cách im lặng.
Nhưng một buổi sáng nọ, cái điện thoại nói tiếng Anh ấy reo chuông. Người sĩ quan Pháp đang hí hoáy viết trên một miếng giấy và luôn tay tra cuốn tự điển Pháp–Anh vội đứng bật dậy chụp lấy mảnh giấy và phóng đến cái điện thoại đang reo trước khi một người Mỹ kịp mó tới. Tay giơ cao mảnh giấy lên và đọc trong mảnh giấy ấy, ông ta nói rất cẩn thận vào ống nói : “Tôi không biết nói tiếng Anh. Chào ông” ( I do not speak English, goodbye), rồi gác máy. Ông ta nhìn tôi xem tôi có thấy cái trò đùa ngu xuẩn ấy không. Tôi cười lớn. Ông ta có vẻ ngạc nhiên một chút về phản ứng của tôi rồi toét miệng cười một mình.
Tôi đến bàn giấy của ông ta. Tôi nhờ người sĩ quan Pháp thạo tiếng Anh ở bàn kế bên thông dịch dùm. Lúc ấy tất cả chúng tôi đã quen nhau nhiều hơn. Chúng tôi dự một cuộc thảo luận chung với nhau. Anh chàng làm trò đùa vừa rồi cho biết chỉ còn ở Việt Nam 3 tháng nữa và hiện đang ngồi chơi giết thì giờ cho đến ngày về uước. Tôi thú nhận rằng tôi không có tất cả những câu trả lời đối với vấn đề làm thế nào giúp đỡ được người Việt Nam trong lúc này. Nhưng vì lẽ ông ta đã phục vụ nhiều năm cùng với người Việt Nam, chắc hẳn ông ta từ lâu đã mong muốn thực hiện. Ít ra là một việc gì đó cho người Việt Nam mà chiến tranh đã không cho phép ông ta làm được? Nếu ông ta nói rõ ra và nếu việc ấy thích hợp với công tác của chúng tôi, ông ta có thể dùng tất cả thời gian còn lại cho công tác tự lựa chọn ấy và sẽ nhận được tất cả những sự hỗ trợ mà tôi có thể đóng góp.
Ông ta trả lời một cách đầy suy tư rằng ông ta đã mong muốn từ lâu được trợ giúp các trẻ em Việt Nam và muốn thảo một đề nghị rõ ràng về một chương trình thanh niên phù hợp với khái niệm an ninh quốc gia. Tôi nói điều đó nghe có vẻ hay, rất đáng được hậu thuẫn và mắt ông ta sáng lên. Ông ta bảo tôi rằng với công việc làm ấy, ông ta ta cần phải xin phục vụ thêm ở Việt Nam, tuy nhiên ông rất muốn được nghỉ ít ngày phép trước đã vì ông xa gia đình đã lâu. Chúng tôi từ giã sau nhận định vừa ý ấy. Ngày hôm sau ở T.R.I.M, ông ta đứng nghiêm trước bàn tôi, chào và báo cho tôi biết rằng ông đã được lệnh thuyên chuyển về Pháp. Ngày đi đã được định vào hôm sau. Ông ta có gia tăng thời hạn ở Việt Nam như đã thảo luận không.? Ông trả lời cộc lốc : “Yes, Sir”, cặp mắt tỏ rõ tâm trạng bị đụng chạm thầm kín và im lặng. Ông ta nói là phải đi ngay, chúng tôi từ biệt nhau.
Nhiều sĩ quan Pháp khác trong ban của tôi cũng có những cảm nghĩ sâu xa về những đường lối mà họ thực sự đồng ý để giúp đỡ người Việt Nam. Tôi thúc đẩy ý kiến họ một cách kiên nhẫn và đem ra thực hiện trong những đề án riêng khi có thể được. Nhưng những vụ hồi hương thình lình cứ tiếp diễn. Ban tham mưu dần dần đi đến một không khí lịch sự bề ngoài, thỉnh thoảng lại mất vui vì những lời lẽ nặc danh bộc lộ sự thù ghét do cả đôi bên gắn ở trên bảng thông cáo. Chúng tôi còn phải đối đầu với một số lượng công việc về hành quân và ước tính tiếp vận cùng với người Việt Nam. Hai chiến dịch an ninh quốc gia dài hạn và thành quả của các hoạt động khác đủ làm cho chúng tôi tất cả phải bận rộn suốt thời gian. Tôi sẽ nói về những công tác này trong chương sau. Đó là một phần của lịch sử Việt Nam.
***
Thành kiến của cơ quan Pháp tại Việt Nam đối với sự hiện diện của tôi đã dẫn đến một cuộc tranh luận trong thời kỳ này. Quả thật những câu chuyện về các hành động của tôi được cơ quan mật của Pháp sưu tầm, và sĩ quan của cơ quan này đã than phiền tôi với C.I.A là nơi họ thường liên lạc. Họ quả quyết là họ có một danh sách dài những chứng cớ kết tội thái độ của tôi. Tôi biết được điều này qua ông Đại sứ, ông nói người Pháp muốn đối chất với tôi, trình bày chứng cớ kết tội từng vụ một và ghi lại những câu tôi trả lời. Tuy ông cho biết ông đã phản đối một cuộc đối chất như vậy vì khung cảnh thiếu vô tư và công bình của cuộc đối chất, nhưng tôi vẫn hăng hái chấp nhận. Tôi đã chán ngấy sự cố tình làm hại tiếng tăm của tôi từ nhiều người Pháp, và đây là lúc phải gặp họ mặt đối mặt.
Khi thảo luận vấn đề này tại văn phòng ông Đại sứ, vị trưởng cơ quan C.I.A với nụ cười tự phụ trên môi, đã bằng lòng cho mượn nơi họp với các sĩ quan Pháp vào buổi trưa tại nhà ông và nói rằng chắc người Pháp sẽ chấp nhận. Hình như ông này lấy làm thích thú vào buổi họp ấy, rõ ràng là ông ta tin chắc tôi sẽ nghe những lời chỉ trích nghiêm khăc hoặc những lời tệ hơn thế từ phía những đồng nghiệp người Pháp của ông. Ông thêm rằng người Pháp sẽ để ông ngồi với tư cách quan sát viên trong cuộc phỏng vấn và ông hứa sẽ trình ông Đại sứ một bản báo cáo đầy đủ để gửi về Hoa Thịnh Đốn. Tôi nói ngay rằng tôi cũng sẽ trình một bản báo cáo để có thể gửi đi cùng một lúc. Tôi cảm thấy giống như O’Daniel là sẽ đi vào hang cọp.
Thế là một buổi trưa sau đó, tôi gặp phía người Pháp tại tư dinh trưởng cơ quan C.l.A tại Saigon. Vị chỉ huy cơ quan mật vụ Pháp địa phương, một Đại tá mà tôi thân nhất trong công tác với phái bộ O’Daniel tại Đông Dương năm 1953 ngồi ở cái bàn đánh bài, nhiều giấy tờ trải trước mặt, mặt mũi nghiêm nghị, lưng thẳng, đã mở đầu buổi họp bằng cách nghiêm trang yêu cầu tôi trả lời nếu tôi muốn từng bằng chứng kết tội liệt kê trên những tờ giấy trước mặt ông ta. Vì danh sách ấy rất dài, tôi không tin rằng tất cả mọi đề mục có thể được đề cập xong trước buổi ăn trưa. Chúng tôi có thể ngưng buổi họp một lúc đủ để ăn cơm xong sẽ trở lại cuộc điều tra. Có nhiều sĩ quan của ông hiện diện là những người hiểu biết từ đầu đến cuối về những việc ghi trong danh sách, vậy tôi có bằng lòng cho họ có mặt ở đây không vì họ sẽ giúp cho ông ta chất vấn những câu trả lời của tôi đưa ra ? Tôi đoan chắc với ông ta rằng tôi vui lòng để họ có mặt.
Đề mục đầu tiên kết tội tôi là đã tiếp tế vũ khí cho Ba Cụt, phiến loạn Hòa Hảo, bằng một lần thả dù với ngày tháng xác định. Tôi không dám tin cả lỗ tai tôi. Tôi bật lên cười. Các sĩ quan Pháp nhìn tôi chằm chằm. Tiếng cười của tôi khiến họ bị đụng chạm. Khi tôi lấy lại được hơi thở tôi mới giải thích cho họ nghe rằng vào ngày giờ xác định ấy, quả thật có một vụ thả dù cho Ba Cụt (lúc ấy đã được tướng Hinh phong đại tá trong quân đội Việt Nam ngay trước khi ông đi Paris dù Ba Cụt vẫn đối lập với chính phủ Sàigòn). Tuy nhiên có thể chứng minh được rằng hành động này không phải của tôi.
Tôi báo cho họ biết rằng quân đội Việt Nam đã thấy và đã điều tra vụ thả dù nầy. Quân đội Việt Nam đã tìm ra 3 chiếc dù và tra ra xuất xứ từ một đơn vị quân đội Pháp nhờ những dấu hiệu của nó. Nhiều sĩ quan Pháp hiện diện cạnh Ba Cụt khi đương sự đón nhận hàng thả dù. Những dấu hiệu sau đuôi chiếc phi cơ thả dù đã được ghi nhận và cuộc phối kiểm với nhân viên và với các tài liệu lưu trữ về các hoạt động không lưu tại Tân Sơn Nhứt đã tìm ra các tên hoa tiêu Pháp và phi hành đoàn trên chiếc phi cơ bay vào đúng lúc có phi vụ thả dù cho Ba Cụt. Chính phủ Diệm đã chính thức gửi khiếu nại đến Bộ Tự Lệnh Pháp về việc này, với hồ sơ đầy đủ. Cái gì khiến cho họ nghĩ rằng tôi đã nhúng tay vào hoạt động thuần túy của người Pháp này, do phép lạ chăng ?
Những điều tra viên của tôi rung động. Ông Đại tá quay sang bên cạnh và khẩn cấp thảo luận xì xầm với đoàn“chuyên viên hiểu biết” đang ngồi ở đó. Rồi ông ta ngang nhiên đọc lên đề mục thứ nhì. Tôi bị kết tội đã tiếp tế vũ khí cho Trình Minh Thế như vậy là trợ lực đương sự chiến đấu chống người Pháp mà trước sau cũng là đồng minh của Mỹ. Tôi trả lời điều xác định này bằng một giọng ôn tồn nhất. Trình Minh Thế và quân sĩ Liên Minh hiệa đang trên đường về Saigon để được sát nhập vào quân đội quốc gia và chắc chắn sẽ không đánh lại người Pháp trừ phi người Pháp có ngăn cản việc này vì như vậy là can thiệp vào công việc được quan tâm nhất của quân đội Việt Nam – mà họ đã chính thức yêu cầu được giúp đỡ. Việc chiến đấu (chống Pháp) của họ đã chấm dứt sau khi tôi gặp Trình Miah Thế ở Tây Ninh và tôi tin tưởng rằng ý nghĩa của sự kiện này cùng với sự trở về an toàn của 3 tù binh Pháp, bị Liên Minh Pháp, vẫn được họ tôn trọng.
Tôi tiếp rằng nếu nói về vũ khí thì tôi đã thấy nhiều vũ khí Mỹ mà Liên Minh tịch thu được của các lực lượng Pháp được gửi tới đánh họ và tôi đã ghi lại số truớc tịch của những khẩu súng này để đối chiếu với danh sách của Mỹ tại Saigon. Các vũ khí ấy nguyên được Hoa Kỳ cung cấp cho Pháp tại Hà Nội năm 195l để yểm trợ các hoạt động của người Pháp chống Cộng Sản. Tôi có trong trí mấy câu hỏi sâu sắc về lý do làm thế nào mà những vũ khí này đã được chuyển từ việc xử dụng để chống Cộng sang việc xử dụng bởi các lực lượng Pháp để chống người Việt Nam được biết rõ là đang đánh lại Cộng sản, bởi vì chính ông ta đã tịch thu được những vũ khí đang được nhắc đến từ tay người Pháp.
Đến chỗ này thì găp giờ cơm trưa. Các sĩ quan Pháp nói với chủ nhân rằng họ không thể ở lại ăn trưa. Họ không thể tiếp tục cuộc họp lâu hơn nữa vì họ còn công việc khẩn phải dự ở nơi khác. Họ đứng dậy thu lượm giấy tờ và chuẩn bị ra về. Mặt họ lộ vẻ mất tự nhiên. Hai đề mục đầu tiên đã làm hại họ như điếu xì gà bị nổ và họ không muốn ngồi lại đấy để bị mất thể diện thêm nữa. Tôi yêu cầu họ ở lại để làm xong việc điều tra dù họ có dùng cơm trưa hay không, vì tất cả vụ này là do ý kiến của họ, không phải của tôi. Họ ngồi lại một cách miễn cưỡng và chúng tôi tiếp tục đến hết cái danh sách. Thật rõ ràng là các sĩ quan Pháp đều hối tiếc là họ đã phải tiếp tục đến hết với cái trò hề mà họ đưa ra lúc đầu.
Ngoại trừ một vụ còn tất cả các bằng cớ buộc tội là những điều bịa đặt hiển nhiên, và là những huyền thoại rất dễ bị đánh đổ. Trường hợp ngoại trừ là vụ kết tội toán của Hải Phòng đã dự định “phá tan bến tàu Hải Phòng”. Tôi nhận rằng toán của tôi có nói về việc ấy và sau đó tôi giải thích rõ sự việc. Nguyên vị Đô Đốc Pháp chỉ huy Hải Phòng là một người lớn tuổi ở bên cạnh căn nhà nơi toán của tôi và những người Mỹ khác cư trú. Những người Mỹ này biết rằng cầu tiêu của nhà vị Đô Đốc chỉ cách nhà họ có khoảng một thước và sáng nào vị Đô Đốc cũng vào ngồi trong cầu tiêu khá lâu ; họ liềp nảy ra ý kiến đùa nghịch. Họ phải làm thế nào để dọa cho ông già ấy sợ phát run trong khi ông ta đang ngồi trong cầu lúc buổi sáng ? Có nên ném pháo qua cửa sổ không? Không, tim ông ta dám không chiu nổi sự căng thẳng xúc động. Thay vào đó họ có ý kiến nói chuyện lớn tiếng về việc phá hoại toàn thể hải cảng, trước khi giao lại cho Việt Minh. Vị Đô Đốc chợt nghe thấy câu chuyện ấy liền nhảy ngay ra khỏi cầu tiêu để gửi một điện văn khẩn cho tướng Ely. Tôi đã được thông báo về câu chuyện xảy ra ngay sau đó và đã bảo các sĩ quan Mỹ này thôi đừng làm cho vị Đô Đốc sợ hãi nữa. Họ đã hứa sẽ làm theo. Tuy nhiên nếu các sĩ quan Hải quân Pháp vẫn còn lo sợ, tôi sẽ áp dụng thêm một số biện pháp. Các sĩ quan Pháp trả lời tôi cộc lốc rằng điều đó không cần thiết.
Buổi họp chấm dứt. Dường như bộ Tư Lệnh Pháp có nhận được phúc trình về cuộc tranh luận này. Tôi trình bản báo cáo vắn tắt của tôi cho ông Đại sứ để chuyển về Hoa Thịnh Đốn với những tin tức mà trưởng cơ quan C.I.A địa phương phúc trình. Tất cả câu chuyện lẽ ra nên chấm dứt ở đây. Nhưng dĩ nhiên là không. Bản chất tàn ác của loài người vẫn hãy còn. Sự cố tình làm hại danh giá của tôi vẫn tiếp tục, tiến đến cao độ mấy tuần sau đó vào mùa thu 1955. Những chuyện tưởng tượng của đám người Pháp ở Saigon đã đến tay báo chí Pháp và cuối cùng tới những cây bút ưa thêm thắt của các phụ trương cuối tuần trong các tờ báo ở các xứ Âu Châu khác. Những người có lòng tốt đã cắt những mẫu chuyện này và gửi sang cho tôi, càng làm cho tôi buồn giận cực độ.
Lẽ ra người ta còn phải thổi còi phạt tôi về những hoạt động khác hồi đầu năm 1955. Thí dụ như tôi đã giúp những ý kiến về chiến tranh tâm lý cho một nhóm quốc gia Việt Nam đaug sửa soạn rời Bắc Việt vào Nam. Họ miêu tả về hàng rào tuyên truyền rộng lớn của Cộng Sản mà họ đã phải chịu trận từ nhiều năm qua. Họ nóng lòng muốn đánh trả lại một cú chót trước khi rời quê hương miền Bắc. Tôi có đề nghị nào không ? Quả thật tôi có. Tôi góp với họ 2 ý kiến và họ liền chấp nhận tức khắc.
Ý kiến thứ nhất được áp dụng ngay trước khi người Pháp rời thành phố Hà Nội và trao quyền kiểm soát lại cho Việt Minh. Lúc đó các bộ phận Cộng Sản trong thành phố còn bận rộn với những kế hoạch chuẩn bị dân chúng đón tiếp quân sĩ Việt Minh về tiếp thu.. Tôi đề nghị các người bạn quốc gia hãy phổ biến một thông cáo giả tạo ra lệnh cho mọi người ngoại trừ các nhân viên trọng yếu trong bệnh viện phải ra phố không phải chỉ để chào đón (bộ đội Việt Minh) trong vài ba giờ mà là để dự lễ trong cả tuần. Trên thực tế có nghĩa là ngừng mọi công việc trong 7 ngày. Chuyên chở, điện lực, và liên lạc sẽ bị gián đoạn. Chi tiết giản dị này đã tính toán xong sẽ gây cho Cộng Sản những khó khăn phiền phức không tiên liệu được khi họ vừa bắt đầu cầm quyền.
Một loại thông cáo giống như thật được ấn hành vì phổ biến vào ban đêm hai ngày trước ngày Việt Minh dự trù về thành. Các nhân vật quốc gia đoan chắc với tôi rằng họ có thể phổ biến thông cáo ấy một cách an toàn vì người chỉ huy ngành Cảnh Sát ở Hà Nội là bạn thân của họ sẽ giải cứu người nào bị bắt giam. Ngày hôm sau dân chúng Hà Nội được đọc bản thôug cáo giả tạo và liền thu xếp để vắng mặt ở nhà và ở sở trong một tuần lễ liên hoan ngoài phố. Bản thông cáo trông quá giống thật đến nỗi các cán bộ Cộng Sản trong thành cũng đi nhắc nhở từng khu phố một cách hách dịch rằng mọi người phải đi dự lễ 100 phần trăm. Một bản điện văn vào giờ chót của Cộng Sản bên ngoài thành phố đã ra lệnh cho Cộng Sản nội thành đừng lưu tâm đến bản thông cáo ấy, được coi như một âm mưu phản tuyên truyền của Pháp, và không được chấp hành. Cuối cùng khi các lực lượng Việt Minh vào thành phố Hà Nội, bọn lãnh tụ Việt Minh phải bắt đầu một công việc đáng ghét là ra lệnh cho mọi người trở về với công việc đang làm. Phải mất 3 ngày họ mới tái lập lại được các dịch vụ công cộng. Ba ngày ngưng làm việc là kết quả cụ thể của một mảnh giấy.
Tuy nhiên sau đó khi những nhân vật quốc gia này gặp tôi ở Saigon thì lại tỏ vẻ buồn phiền. Một người đã bị bắt khi phân phát các thông cáo ấy. Người bạn chỉ huy ngành Cảnh Sát Hà Nội vì quá hăng hái với công việc nên đã chở một đống thông cáo trên xe của ông ta để trực tiếp hỗ trợ việc phổ biến. Người Pháp bắt được quả tang và với bằng chứng là những bản thông cáo mà ông giữ, họ đã tin rằng ông là một nhân viên Cộng Sản. Người Pháp bắt ông và giam ông vào nhà giam thuộc quyền của ông. Ông ta đã xin được đưa vào Nam như một phạm nhân. Người Pháp làm đúng như ông xin và chuyển giao ông cho chính quyền Việt Nam ở Saigon. Không ai tin lời của ông rằng bản thông cáo là đồ giả mạo. Ông bị giữ trong nhà lao. Tôi có thể giúp được không ? Tôi liền giải thích câu chuyện xảy ra với Thủ Tướng Diệm. Tôi phải đợi đến tháng Giêng mới giải tỏa được điều ông bị tình nghi và xin cho ông được tha.
Ý kiến thứ hai ứng dụng thói mê tín của người Việt Nam qua một hình thức Mỹ. Tôi thấy có khá nhiều thầy bói ở Việt Nam làm ăn phát đạt nhưng tôi chưa hề thấy lời tiên tri của họ được ấn hành. Tại sao lại không in một cuốn lịch sách (niên giám) 1955 chứa đựng những lời tiên đoán của các nhà chiêm tinh gia và những nhân vật danh tiếng về các việc siêu hình khác đặt biệt về những điều tiên đoán một tương lai đen tối của Cộng sản ? Với một giá phải chăng – nếu biếu không thì quá nặng mùi tuyên truyền. Sách này có thể đem bán ở miền Bắc trước khi khu vực tập trung sau cùng ngoài ấy được di tản. Nếu được thi hành cẩn thận, những sách ấy sẽ có thể chuyển từ người này đến người khác và sẽ phổ biến khắp các vùng Cộng Sản kiểm soát.
Kết quả là một cuốn lịch sách được in gấp rút, chứa đựng những lời tiên đoán về các việc sẽ xảy đến trong năm 1955, kể cả những thời kỳ khó khăn của dân chúng trong vùng Cộng Sản và những sự xích mích trong giới lãnh đạo Cộng Sản. Riêng tôi, tôi cảm thấy vui thích vì cuốn niên lịch này đã đoán đúng một vài việc hiện đã xảy ra (như vụ đàn áp đẫm máu các nông dân chống đối cuộc Cải cách Ruộng đất và sự rạn nứt trong bộ Chính Trị). Cuốn lịch sách là sách bán chạy nhất tại Hải Phòng, hải cảng chính trong vụ di cư. Một số lượng tái bản khá lớn cũng được bán hết ngay khi vừa đem đến các sạp. Các người bạn quốc gia của tôi nói với tôi rằng đây là cuốn lịch sách đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam trong thời gian gần đấy. Họ cũng sửng sốt khi được biết rằng nhờ công việc mà họ tưởng chỉ là sự đóng góp vì tình yêu nước cho chính nghĩa quốc gia kia lại đem đến một số tiền lời khá nhiều. Họ tự ý đem tặng số tiền này vào quỹ hỗ trợ đồng bào miền Bắc di cư.