Những tuần lễ đầu năm 1955 có đầy rẫy những công việc bình định, hay là về cái mà ông Diệm đã yêu cầu gọi là hoạt động an ninh quốc gia. Có nhiều buổi họp dài về kế hoạch giữa ban tham mưu T.R.I.M của tôi và bên Việt Nam. Hầu hết là những bài thuyết trình liên tục của các viên chức để đảm bảo rằng họ thấu hiểu chương trình, những việc thanh tra huấn luyện binh sĩ và hiệu năng tiếp vận, và sau đó là sự hướng dẫn và yểm trợ các cuộc hành quân của chính họ khi những cuộc hành quân này đã tiến hành. Đó là một thứ nỗ lực có tính cách xây dựng làm cho tôi cảm thấy vui thích khi ra khỏi giường mỗi buổi sáng và đi làm việc.
Vào đầu năm 1955, còn hai vùng tập kết của Việt Minh ở miền Nam như hiệp định Genève đã qui định. Khi Việt Minh đã di chuyển ra khỏi các vùng ấy để về phía bắc khu phi quân sự ở vĩ tuyến 17, chính quyền Việt Nam sẽ tiến vào để nắm quyền kiểm soát. Việc tiếp thu và nắm quyền kiểm soát này là nỗ lực chính của chương trình bình định. Chương trình nầy phải được thi hành đúng đắn để dân chúng ở các vùng này vui vẻ đón tiếp sự tiếp thu của chính quyền Sàigòn. Theo hiệp ước thì vùng tập trung thứ nhất bán đảo Cà Mau ở mỏm cực nam của Việt Nam, sẽ được tiếp thu vào ngày 8 tháng 2. Vùng thứ hai là các tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định dọc bờ biển miền Trung Việt Nam sẽ được tiếp thu từng giai đoạn phân định, mỗi ngày một khu bắt đầu từ 22 tháng 4. Ngoài nhu cầu thiết lập chính quyền cho hai vùng tập trung nầy còn có những vùng khác đã được coi như ở dưới quyền kiểm soát của Sàigòn nhưng trên thực tế thì chỉ cai trị được phần nào một cách vô trật tự, những vụ cướp bóc và khủng bố vẫn còn. Những vùng này cũng cần được lưu ý.
Khả năng làm công việc này của phía Việt Nam rất yếu kém, chỉ có một ít người ở Việt Nam tốt nghiệp đại học, và phần lớn số này là dân chuyên nghiệp ngoài chính quyền. Nhìn tổng quát, các công việc ở Việt Nam đều được điều khiển bởi những người tốt nghiệp trung học trong các công sở hay trong hàng ngũ sĩ quan quân đội dưới quyền người Pháp.
Các công chức trong chế độ Pháp bị giới hạn trong các nhiệm sở chức vụ tương đối ít quan trọng ; các sĩ quan các cấp chỉ được chỉ huy cấp tiểu đoàn, chỉ một số ít được thử cho chỉ huy hai ba tiểu đoàn lâm thời tập trung trong các lực lượng lưu động.
Còn bây giờ trong chương trình bình định, chúng tôi yêu cầu các sĩ quan Việt Nam này điều khiển những hoạt động rộng lớn hơn và phức tạp hơn là những công việc mà họ đã làm trước kia. Hầu hết những người tốt nghiệp trung học đều là con nhà thành thị, vì ít gia đình nông dân có đủ sức cho con cái đi học ở các thành phố, là nơi có trường trung học. Đây cũng là một vấn đề, vì công cuộc bình định sẽ diễn ra ở nông thôn và sự quen thuộc với những gì ở nông thôn sẽ là chìa khóa dẫn đến thành công
Trong các câu chuyện với ông Diệm, tôi đã lưu ý vấn đề thiếu thốn nhân tài trong các công sở để phục vụ tại các tỉnh, dù rằng những chương trình huấn luyện như Công Dân Vụ của ông Cung sau này sẽ sản xuất thêm. Lực lượng quân đội có nhiều nhân tài thừa hành, cả về số lượng lẫn về kiến thức trong quần chúng. Phần lớn binh sĩ là thanh niên nông thôn được đưa vào đời sống quân ngũ do các toán tuyển mộ đi theo các đơn vị quân đội, và phần lớn các cuộc chiến đấu cũng như các cuộc di chuyển của binh sĩ đều ở xa các thành phố. Hơn nữa quân đội Việt Nam là tổ chức duy nhất có một hệ thống thông tin liên lạc trên toàn quốc vì hệ thống vô tuyến và điện tín vẫn còn chịu những thiệt hại do chiến tranh gây ra. Quân đội có thể chuyển các huấn lệnh đến bất cứ đơn vị nào trong nước và áp dụng những hành động về kỷ luật khi cần đến. Các bộ dân sự không thể làm được như vậy. Tất cả những điều đó nhằm biện minh cho việc tạm thời xử dụng quân đội vào việc cấp thời nới rộng quyền kiểm soát hành chánh của Saigon khắp miền Nam Việt Nam.
Ông Diệm đồng ý với những nhận xét này. Ông cũng chia xẻ quan điểm của tôi về những binh sĩ đã được huấn luyện thêm để tác chiến sẽ cần được huấn luyện thêm nếu nhiệm vụ chính của họ được hướng sang việc hỗ trợ vàbảo vệ dân chúng. Tuy nhiên vấn đề quan trọng là Saigon phải có đạt đến một khuôn mẫu của chế độ dân sự thay vì một chế độ quân nhân. Sự xử dụng quân lực nên được giới hạn ở mức tối thiểu và dầu sao cũng phải ý thức rằng sự xử dụng ấy như là một phương thức tạm thời. Việc chuẩn bị các công chức để thay thế các quân nhân phải được coi là ưu tiên với một thứ tự và một kế hoạch dự trù trước cho việc thay thế ấy.
Sau nhiều suy tư và thảo luận, chương trình bình định được phát động bằng một huấn thị do ông Diệm ban hành với tư cách Thủ Tướng và được tiếp theo bằng những huấn thị bổ túc của Tổng trưởng quốc phòng và Tổng Tham Mưu Trưởng Quân đội Việt Nam (bao gồm không phải chỉ có Lục Quân mà cả lực lượng tân lập Hải Quân, Không Quân và T.Q.L.C). Một đề nghị của tôi đã được hội nhập. Tình hình tại mỗi tỉnh sẽ được duyệt xét để ấn định một cách sát thực trạng nhất xem tỉnh ấy thuộc loại nào trong 3 loại : An ninh quốc gia, Chuyển tiếp hay Dân sự.
– Một tỉnh thuộc loại An ninh quốc gia là một tỉnh được coi như quá lộn xộn khiến cho những viên chức dân sự không thể làm việc hữu hiệu : quân sĩ sẽ được chuyển đến để chận đứng nạn khủng bố và bắt đầu việc điều hành luật lệ, vị chỉ huy quân sự sẽ là tỉnh trưởng đối với những vấn đề hành chánh cũng như những nhiệm vụ quân sự của vị chỉ huy ấy.
– Tỉnh Chuyển tiếp là một tỉnh có những tiến bộ khả quan hướng đến một tình trạng yên ổn ; vị chỉ huy quân sự sẽ có một phó tỉnh trưởng dân sự đối với các vấn đề hành chánh và vai trò của họ sẽ đảo ngược lại khi những tiến triển ấy gia tăng.
– Tỉnh Dân sự là một tỉnh đủ yên ổn khiến cho một chế độ dân sự có hiệu quả ; một người dân sự sẽ là tỉnh trưởng.
Chúng tôi tự ý quyết định rằng các tỉnh vùng Việt Minh tập trung được xếp hạng “An ninh quốc gia” trong những ngày đầu khi chính quyền Sàigòn đến tiếp thu sau khi Việt Minh rời khỏi. Chúng tôi không am tường đầy đủ về những điều kiện tại các khu vực trên để cho phép thảo luận về bất cứ công việc gì khác. Xử dụng quân lính tại các tỉnh này là một việc dễ hiểu. Còn những tỉnh khác ở Việt Nam thì sao ? Có hơn 30 tỉnh cần được xem xét và phân loại thích đáng. Ông Diệm sắp sửa xếp loại cho các tỉnh này bằng nghị định thì tôi nẩy ra một ý kiến. Tại sao không cho các viên chức đã biết các tỉnh này có tiếng nói để thẩm xét việc phân loại cho được xác đáng ? Tất cả các viên chức quân sự và dân sự cao cấp toàn quốc Việt Nam được mời về họp ở Saigon ngày 3 đến 5 tháng 2 để được thông báo về chương trình bình định mới. Tại sao không cho họ trình bày công khai quan điểm trong buổi họp này và có một nhóm các vị Tổng trưởng có mặt để cho quyết định tối hậu ngay tại chỗ ?
Tôi đã đưa ra đề nghị nầy với ý nghĩa một cuộc tranh luận công khai, xúc tích sẽ đem lại nhiều sự kiện thích đáng về thực trạng mỗi tỉnh. Tôi không ngờ đến cơn bão kích động nổi lên trong phiên họp tháng 2 khi vấn đề này được nêu ra.
Phòng hội ở Saigon chứa đầy những viên chức dân sự, những sĩ quan Việt và Pháp, có đến hàng trăm người. Mỗi người hình như đã có một quan điểm về mỗi tỉnh.
– Những người đang nắm quyền tại một tỉnh thì có khuynh hướng làm cho tỉnh ấy có vẻ là một thiên đường.
– Những người đang mong muốn giữ những chức vụ ấy hoặc chỉ ghen ghét những kẻ đang cầm quyền ở tỉnh thì lại có khuynh hướng làm cho tỉnh ấy có vẻ như một địa ngục trần gian.
– Những người khác chỉ nói lên sự việc những người thân hữu của họ ở cấp tỉnh đã chán nản như thế nào với chiến tranh, với chính quyền Saigon, với giá gạo và với cả ngàn thứ.
– Nhiều người Pháp thuyết trình về mỗi tỉnh đại ý rằng chỉ có họ mới có thể đem lại những ngày thần tiên mà tỉnh ấy đã từng được biết đến, những ngày thần tiên được diễn giả mô tả sau đó.
Dĩ nhiên là những sự phẫn nộ đã bùng lên. Những tiếng la hét phản đối khá nhiều trong suốt 3 ngày hội họp căng thẳng. Cuối cùng rồi cuộc hội họp cũng chấm dứt. Mỗi tỉnh được qui định vào một loại. Không ai có thể nói rằng vấn đề đó đã được thảo luận một cách cặn kẽ.
Việc huấn luyện quân sĩ cho các hoạt động bình định chuyên chú phần lớn vào vấn đề cải thiện tác phong của người lính đối với dân chúng. Một vài việc huấn luyện này có kết quả, một số khác không kết quả. Thí dụ như một trong những nỗ lực trước tiên là sửa đổi những thói quen xấu của tài xế nhà binh. Một anh lính ngồi trước tay lái của chiếc xe jeep hay chiếc xe vận tải lớn là một anh chàng Walter Mitty bị thua sút trong cuộc đua xe hơi Grand Prix từ cuối đoàn xe đua vượt lên để lao tới lằn mức ăn thua trước nhất. Tinh thần hợp tác quân dân bị suy giảm mỗi khi có những chiếc xe nhà binh chạy như bay một cách điên cuồng qua đường làng, làm tán loạn dân chúng, gà, vịt, heo trên lối đi.
Những binh sĩ được đưa vào vùng Cà Mau đã nghe giảng dậy về luật đi đường. Sau đó một cuộc thi tài xế tốt được tổ chức, với các giải thưởng và huy chương cho người tài xế lái xe lịch sự nhất trong mỗi đơn vị. Lễ trao phần thưởng tổ chức ở một công trường thị xã Sóc Trăng. Cuộc lễ này là một biến cố lớn, đa số dân chúng thị xã tham dự. Có ban quân nhạc đến hòa tấu. Huy chương và phần thưởng được trao tặng cho những tài xế lái xe lịch sự nhất. Khi buổi lễ chấm dứt và đám đông đang giải tán thì những chàng tài xế vừa được hưởng vinh dự ấy nhảy lên xe rồ máy ầm ầm phóng như bay về nhà băng qua đám đông. Dân chúng nhảy sang hai bên để khỏi toi mạng và nhường mặt lộ cho những vị hung thần này, miệng thì chửi rủa các vị tài xế vừa được tuyên dương.
Các sĩ quan và nhân viên tâm lý chiến của phòng 5 quân đội Việt Nam được giao phó công tác huấn chính cho binh sĩ. Một loạt các vở kịch ngắn do những toán công tác của phòng 5 soạn và trình diễn cho khán giả quân nhân bị bắt buộc phải tham dự. Mỗi vở kịch nêu lên một thí dụ được sân khấu hóa về tác phong xấu và tác phong tốt của binh sĩ đối với dân chúng, nhấn mạnh vào những hậu quả của nó. Các vai gồm có anh Lính Tốt, anh Lính Xấu và Dân làng. Trong một vở kịch có anh Lính Tốt trả tiền mua gà cho dân, trong khi một anh Lính Xấu ăn trộm một con mặc cho dân làng phản đối ; sau đó dân làng bàn tán về các anh lính bằng nhữnug lời lẽ thân thiện với đơn vị của anh Lính Tốt, nhưng dân làng lại hỗ trợ cho du kích địa phương tấn công đơn vị kia, đơn vị của anh Lính Xấu. Trong một vở kịch khác, dân làng nói lại với nhau lời tuyên truyền của Việt Minh chống lại chính phủ Saigon, anh Lính Tốt thì giải thích về luận điệu ấy một cách hữu lý với bằng chứng xác thực, còn anh Lính Xấu thì gắt gỏng bắt dân làng im miệng. Có hàng chục những vở kịch như vậy được trình diễn trên sàn xe vận tải.
Việc huấn luyện và giảng dậy về tác phong nói trên không có những nỗ lực như của quân đội Cộng Sản Á Châu. Các qui điều về tác phong của Đệ Bát Lộ Quân Trung Cộng xưa kia vẫn còn là căn bản cho các bài học liên tiếp do chính trị viên giảng dậy và được hậu thuẫn bằng một thứ kỷ luật sắt. (Kẻ vi phạm thường bị xử bắn). Qui điều của Cộng Sản được biết là “ba phương châm kỷ luật trọng đại“ và “tám điều tâm niệm”.
Ba phương châm gồm:
– làm đúng theo lệnh,
– không lấy bất cứ thứ gì của dân,
– không để tư lợi làm hại đến của công.
Tám điều tâm niệm gồm :
– trả cánh cửa (sau khi dùng làm giường nằm),
– dọn sạch rơm rạ (sau khi trải làm nệm),
– nói năng vui vẻ,
– mua bán sòng phẳng,
– trả đồ đi mượn,
– bồi thường đồ hư hỏng,
– không tắm rửa trước mắt đàn bà,
– không lấy đồ riêng của tù binh.
Các qui điều ấy là bản chất chính yếu của chiến tranh nhân dân. Khi quân sĩ kết hợp được với nhân dân là thắng lợi đã bắt đầu đến. Cộug Sản Á Châu thấu hiểu điều đó. Rất ít người bên phía chúng ta biết như vậy. Yếu tố nhân dân Việt Nam còn bị coi thường trong lúc người lính chiến đấu dành những mục tiêu chiến thuật được trao cho họ. Ngày nào còn như thế, chúng ta còn chưa thể chiến thắng.
Tánh bài ngoại của người Việt Nam được biểu lộ khi sắp khai diễn cuộc tiếp thu Cà Mau, hay còn được chính thức mệnh danh là “Chiến Dịch Tự Do”. Mọi người Việt Nam liên quan đến chiến dịch từ ông Diệm trở xuống đều bảo tôi rằng họ không muốn có người ngoại quốc hiện diện khi họ tiến vào vùng này. Bộ máy tuyên truyền Cộng Sản đã gán cho người của chính quyền Saigon là chó săn của Thực Dân Pháp. Các nhà lãnh đạo ở Saigon muốn cho nhân dân thấy chỉ có người Việt Nam trong lực lượng tiếp thu để tạo cơ hội tốt hầu bác bỏ luận điệu tuyên truyền của Cộng Sản và làm cho dân chúng tin rằng Việt Nam đã độc lập cũng như có thể tự cai trị lấy mình. Quả thật tôi cũng thông cảm với điều đòi hỏi này. Nhưng còn có những công việc thực hành cần làm mà không có người Việt Nam nào phụ trách. Nhiều báo cáo về tình trạng y tế ở Cà Mau tỏ ra đáng lo ngại. Để giúp đỡ dân chúng, phải có các toán y tế đi theo binh sĩ vào Cà Mau. Một y sĩ đơn độc thì quá bận rộn trong việc chăm sóc lính tráng. Nếu cần lo vấn đề y tế cho dân, phải dùng đến nhân viên ngoại quốc.
Quân Đội Pháp, Hội Hồng Thập Tự Pháp và người Phi trong chiến dịch Huynh Đệ tất cả đều xin gửi các đoàn y tế đến giúp dân Cà Mau. Tôi trình bày việc này lên ông Diệm và các giới chức khác. Phía Việt Nam vẫn nhất quyết không chịu. Không được có người ngoại quốc. Tôi đã gặp nhiều lúc khó khăn vì bị người Pháp trách móc về việc này, mặt khác người Việt Nam lại kết tội tôi đã ủng hộ cho người Pháp.
Vì thấy bên Việt Nam tỏ ra mềm mỏng hơn trong việc từ chối sự giúp đỡ của Phi Luật Tân, nên tôi quyết định thay đổi chiến thuật. Những người đã từ chối sự giúp đỡ ấy là phái nam, thì đã có một số thiếu nữ tuyệt đẹp trong đám nữ y tá Phi Luật Tân . Tôi liền đề nghị với Chiến Dịch Huynh Đệ cho những nữ y tá xinh đẹp nhất đi thăm Sóc Trăng là nơi tôi sẽ có một cuộc hội họp với các cấp chỉ huy quân sự Việt Nam để xem xét lần chót cuộc tiến quân vào Cà Mau. Khi cuộc họp ngưng lại vào bữa ăn trưa thịnh soạn, tôi sắp xếp để phái đoàn Chiến Dịch Huynh Đệ được mời cùng vào dự. Mấy sĩ quan cao cấp Việt Nam tranh nhau ngồi bên các cô gái Phi xinh xắn trong bữa ăn. Sau bữa ăn, bên Việt Nam quyết định cho riêng các đoàn y tế Phi Luật Tân mà thôi được đi theo họ vào Cà Mau. Mọi việc được thu xếp ngay tại chỗ. Ở Á Đông có một truyền thống lâu đời về việc dùng phụ nữ có nhan sắc đi thương thuyết. Tôi tự trách mình đã không nghĩ đến chiến thuật nầy sớm hơn. (Chiến Dịch Huynh Đệ vào Cà Mau trên quân xa Việt Nam và thiết lập một bệnh viện dã chiến tại một ngôi trường bỏ hoang cho các đoàn y tế lưu động đi đến các làng mạc. Dân chúng rất mến họ. Cha mẹ của đứa trẻ đầu tiên sinh trong bệnh viện này đặt tên con là O.B. để ghi nhớ Chiến Dịch Huynh Đệ.)
Tinh thần bài Pháp của người Việt Nam đã làm rắc rối cho công việc của tôi trong nhiều phương diện khác. Như một vụ nọ, người Việt Nam không muốn cho người Pháp biết kế hoạch chi tiết của cuộc tiếp thu Cà Mau thí dụ thời biểu tiến quân của mỗi đơn vị ; họ ngại rằng người Pháp sẽ tìm cách phá thối chiến địch khiến cho quân đội Việt Nam bị mất mặt. Tuy nhiên tôi có cả sĩ quan Pháp lẫn sĩ quan Mỹ trong ban của tôi tại phái bộ T.R.I.M đang phụ giúp công việc chuẩn bị cho quân đội Việt Nam thi hành chiến dịch. Họ cần được hiểu biết đầy đủ mới có thể làm công việc giúp đỡ một cánh hữu hiệu. Cuối cùng tôi được phía Việt Nam thỏa thuận sẽ tiết lộ những chi tiết để chúng tôi có thể tiến hành những công tác thực tiễn về tiếp vận sau khi giai đoạn quan trọng đã thực hiên. Một buổi thuyết trình được tổ chức do Trung Tá Dương Văn Đức tư lệnh chiến dịch Cà Mau với sự tham dự của tướng O’Daniel và các sĩ quan Pháp–Mỹ đồng sự. Trung Tá Đức trình bày kế hoạch hành quân của ông mà không dùng đến thứ giấy tờ nào. Tướng O’Daniel nhận thấy ngay nhiều sai lầm trong lời trình bày miệng của Trung Tá Đức và nêu lên nhiều câu hỏi văn vẹo ông ta. Tôi nói nhỏ vào tai O’Daniel rằng Trung Tá Đức bịa ra một kế hoạch giả tạo chỉ vì O’Daniel đã cho sĩ quan Pháp tham dự buổi thuyết trình, điều mà tôi đã khuyên ông đừng làm. Lát sau, tôi đưa cho O’Daniel coi bản kế hoạch thật. Sau đó nữa tôi được Trung Tá Đức thuyết trình lại kế hoạch thật ấy cho ban tham mưu T.R.I.M của tôi.
Việc cấm người ngoại quốc đi theo binh sĩ vào vùng hành quân của bộ tư lệnh Việt Nam bao gồm luôn cả sĩ quan T.R.I.M của ban tôi là những người tôi muốn cho đi theo với tư cách cố vấn. Cuối cùng Trung Tá Đức đành chịu nghe theo lời phản đối của các sĩ quan dưới quyền ông và cho tôi được đặt hai sĩ quan Mỹ của tôi theo chiến dịch, hai sĩ quan rất quen biết trong giới Việt Nam. Trung Tá Sam Karrick sẽ cố vấn về tiếp vận tại hậu cứ của chiến dịch. Thiếu úy Rule Phillips sẽ đi theo một lực lượng riêng biệt vào vùng hành quân qua ngả sông rạch và nối tiếp với lực lượng đi trên đường lộ của quân đội Việt Nam tại thị xã Cà Mau. Phillips, từng chơi banh bầu dục cho Đại Học Yale, tóc vàng, cao lm8, là một anh chàng khổng lồ giữa đám người Việt nhỏ con hơn, nổi bật lên như một ngón tay cái bị sưng. Một vài sĩ quan người Pháp ghét cay ghét đắng việc Phillips được biệt đãi và một hôm, họ đã nêu chuyện Phillips với các viên chức Việt Nam và hỏi thẳng thừng rằng: “Các ông nói không một người ngoại quốc nào được đi theo, tại sao các ông lại cho người này đi cùng ? ”Viên chức Việt Nam nhìn Phillips rồi nói: “Ông này là bạn của chúng tôi, không phải là người ngoại quốc”.
Câu chuyện về Phillips quả nhiên đến tai tướng Ely qua hệ thống chỉ huy của người Pháp rồi từ đó đến tai tướng Collins, Đại sứ Mỹ. Trong buổi họp các chuyên viên về bản xứ kế đó, Collins hỏi O’Daniel về việc tại sao chỉ có một thiếu úy cố vấn của T.R.I.M đi với binh sĩ trong cuộc hành quân tiếp thu Cà Mau. Với nhiều tiểu đoàn tham dự, nên có vài chục cố vấn mà ít nhất cũng phải có một vài cấp trung tá. O’Daniel vừa trả lời vừa quay sang tôi: “Người Thiếu úy ấy là nhân viên của Landsdale”. Colllins nói: “À, nếu vậy thì khác”. Tôi vội giải thích về câu chuyện này và về cuộc hành quân đã tiến triển như thế nào mà không cần đến đám cố vấn Mỹ-Pháp hách dịch đeo theo. Ông Diệm sẽ bay xuống thăm Cà Mau. Sau khi Thủ tướng đến, sẽ thừa thì giờ cho tất cả mọi người ngoại quốc muốn đi thăm Cà Mau có thể tới xem xét những gì họ mong đợi.
Cuộc hành quân tiếp thu Cà Mau đi vào lịch sử Việt Nam một cách thắng lợi. Dân chúng đáp ứng lại tình thân thiện và nhân đạo của quân đội Saigon ở bất cứ nơi nào và bất cứ chỗ nào. Cán bộ Cộng Sản buộc dân chỉ được biểu lộ một thái độ phục tùng miễn cưỡng và lúc đầu tiên dân chúng cũng đã phải làm như vậy. Nhưng dân chúng không thể giữ thái độ xa lánh trước thiện chí giúp đỡ nồng nhiệt, trước quá nhiều bằng chứng cho thấy quả thật người ta muốn săn sóc trông nom mình. Hàng ngàn hình quốc kỳ Việt Nam và ông Diệm bằng màu sáng sủa được phát cho dân làng lúc ấy đã lột hết những tấm hình ông Hồ Chí Minh phai mầu dán trên tường nhà và thay thế bằng những hình ảnh mới của Saigon. Hơn thế nữa, dân chúng còn tình nguyện điềm chỉ những chỗ chôn dấu vũ khí và đạn dược, khai báo tên tuổi những cán bộ Việt Minh nằm vùng và bắt đầu làm chung với binh sĩ trong việc xây dựng và sửa chữa lại những kiến trúc công cộng bị hủy hoại hay hư hỏng.
Vì bận công việc ở Saigon, ông Diệm phải hoãn cuộc đi thăm Cà Mau một tuần lễ. Tôi kèo nhèo hàng ngày với ông cho đến khi ông chịu đi, ngoài những lý do khác còn có mục đích để cho tôi câm miệng. Gần như tất cả mọi người nam phụ lão ấu ở thị xã Cà Mau đều đi đón chào ông. Cuộc đón tiếp không được trật tự lắm. Dân chúng vẫy tay và hoan hô ông Diệm. Mọi người như lây sự vui vẻ của nhau. Binh sĩ chào kính đứng cứng nhắc trong thế súng chào đã quên cả kỷ luật bật lên hoan hô. Cảnh tượng ấy diễn lại nhiều lần khi ông Diệm đi qua các phố xá gần đấy. Khi trở về Saigòn ông Diệm có vẻ sống động chứa chan với niềm vui mới. Ông đã thâu đạt được một lòng tín nhiệm chân thành cao độ.
Nhờ kết quả tốt của Chiến Dịch Cà Mau, ông Đức được thăng cấp Đại tá và sau đó là Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Đại Hàn. Rule Phillips thì được thăng cấp Trung úy.
Tôi tự trách về một sự sai lầm nghiêm trọng trong Chiến Dịch Cà Mau. Đó là vấn đề liên quan đến vùng rừng U Minh ở bờ biển phía đông của bán đảo Cà Mau. Rừng U Minh là một đồng lầy chàm đước bao la. Lực lượng thám sát đa số là cựu cán bộ Việt Minh qui thuận đã bảo tôi rằng có thể có hàng trăm cán binh Việt Minh ẩn náu trong vùng này. Dân địa phương và các viên chức y tế nói rằng vùng chàm đước này ai cũng biết là rất dễ gây bệnh đau màng óc và những chứng bệnh nguy hiểm khác. Bởi vậy khi phải đặt vấn đề xử dụng binh sĩ để hoặc là càn quét khắp vùng này, hoặc là chỉ làm những công tác ngăn chận khác, thì tôi đã đề nghị chọn đường lối thứ hai. Tôi cho rằng nếu vùng U Minh bị bao vây, Việt Minh ̉ trong đó sẽ phải bỏ chạy hoặc phải ra đầu hàng. Trên thực tế mặc dầu tỉ số chết chóc cao, Việt Minh vẫn ở lại đó, vẫn sống được và xây dựng được một mật khu vững mạnh. Sau này, U Minh là vùng hậu cần, huấn luyện và dưỡng quân cho các lực lượng du kích VC. Những người Mỹ bị VC bắt là một số trong những tù binh bị giam tại đây. Hiện nay vùng này vẫn còn là một ung nhọt về y tế và chính trị đe dọa Nam Việt Nam.
Khi cuộc hành quân Cà Mau tiến hành khả quan, các kế hoạch khác được thiết lập để tiếp thu một vùng rộng lớn sau cùng mà Việt Minh vừa rút lui. Vùng này được hiệp định Genève mệnh danh là “vùng tập trung tạm thời tại Trung-Bộ vào kỳ hạn chót”. Vùng này chạy dài dọc bờ biển khoảng 200km và sâu khoảng 10Okm, tổng cộng ước chừng 20.000 cây số vuông gồm các tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi. Khoảng đồng bằng duyên hải ăn sâu vào đất liền hàng chục cây số từ bờ Nam Hải, nối tiếp với vùng đồi thấp và thung lũng, sau cùng là núi non trùng điệp phần lớn bao phủ bởi rừng rậm. Quốc lộ trải nhựa và thiết lộ chạy dọc chiều dài vùng đồng bằng, gần bờ biền. Một đường nhựa khác chạy ngang vào phía trong gần vùng cực nam của khu vực tập trung và còn có một số đường xá thưa thớt khác. Chính phủ Saigon dự định sẽ tiếp thu khu vực này ngày 22 tháng tư, vào từ phía Bắc và tiếp tục vào từ phía Nam đúng thời hạn theo thời biểu đã qui định rõ ràng. Việt Minh sẽ lên tàu ở cảng Qui Nhơn và được chuyển vận bằng đường biển ra Hải Phòng.
Vùng này lớn gấp hai vùng chiến dịch Cà Mau. Dĩ nhiên cần phải có nhiều quân sĩ hơn. Quân đội Việt Nam đang bắt đầu Mỹ hóa tổ chức, gồm cả việc thành lập các trung đoàn và sư đoàn bằng những tiểu đoàn biệt lập thập cẩm.
Các sư đoàn 3l và 32 tân lập được chỉ định vào cuộc tiếp thu này. Ông Diệm và bộ T.T.M đặt tên cho chiến dịch là Giải Phóng. Đại Tá Lê văn Kim được giao quyền chỉ huy chiến dịch. Ông đã là tham mưu trưởng ở bộ T.T.M trrớc kia, được coi là vị sĩ quan có khả năng chỉ huy một đơn vị lớn, nguyên quán ở vùng này và từng làm việc gần gũi với phái bộ T.R.I.M khi soạn thảo tài liệu “Những bài học ở Cà Mau”. Tài liệu nay đã được in bằng Việt, Pháp và Anh Ngữ và phổ biến rộng rãi trong chính quyền Việt Nam, chỉ đẫn những cách thức hữu hiệu để bành trướng chính quyền khắp quốc gia.
Đại Tá Kim là một người hiếm có, tốt nghiệp Cao Đẳng Quốc-phòng Pháp. Điều đó giúp cho những phiên họp soạn thảo kế hoạch của chúng tôi với ông ta tiến triển mau lẹ và tốt đẹp, nhưng điều đó cũng gây cho ông Diệm và các anh em ông nghi ngờ rằng có thể vì được người Pháp rất mến chuộng mà ông Kim có vẻ người Pháp hơn là người Việt Nam. Khi Bộ T.T.M và Bộ Trưrởng Quốc Phòng đề nghị lên ông Diệm cho ông Kim làm tư lệnh chiến dịch, ông Diệm đã do dự, lo ngại nhiều vì lẽ ông Kim thường tỏ ra hãnh diện rằng mình có quốc tịch Pháp. Do đó mà có một cuộc họp mặt giữa hai người, trong đó ông Diệm yêu cầu ông Kim chọn lựa hoặc quốc tịch Pháp hoặc quốc tịch Việt. Ông Kim chọn quốc tịch Việt Nam. Ngay cả điều này cũng không làm ông Nhu và ông Cẩn hài lòng. Mỗi ông đều có đặt người của mình trong số các viên chức hành chánh tháp tùng chiến dịch Giải Phóng. Trong chiến dịch, những người ấy gửi hàng đống báo cáo về những hoạt động của ông Kim. Một số báo cáo thật là độc địa đến nỗi tôi phải nói với ông Diệm hãy chọn lấy một người mà ông hoàn toàn tin tưởng và cho người này điều tra kỹ lưỡng giá trị của những báo cáo ấy. Ông Diệm làm theo và từ đó những báo cáo của những kẻ ác tâm mới chấm dứt.
Cũng như ở Cà Mau, phía Việt Nam chỉ cho một cố vấn ngoại quốc là Trung úy Phillips được theo binh sĩ trong Chiến Dịch Giải Phóng. Các sĩ quan Pháp – Mỹ trong phái bộ T.R.I.M. yểm trợ chiến dịch từ bên ngoài. Chúng tôi liên lạc âm thoại thường trực với Phillips đang sinh hoạt và công tác với Đại Tá Kim Tư lệnh Chiến Dịch. Lúc này mọi người đã quen thuộc với lối sắp xếp ấy. Không còn ai thắc mắc về việc tại sao chỉ có một sĩ quan cấp úy Mỹ cố vấn cho Việt Nam dù rằng trong chiến dịch này có cả một quân đoàn tham dự.
Cũng như ở Cà Mau, các y sĩ và y tá Phi Luật Tân của Chiến Dịch Huynh Đệ đi theo binh sĩ vào vùng tiếp thu, lập bệnh xá tạm thời và phụ trách công tác y tế. Một trận bão đã tàn phá vùng duyên hải, làm hư hại tàu tiếp tế và vùng hoạt động của đoàn y tế bị ngập lụt. Dario Arellano đang đi chụp hình hoạt động y tế của Phi Luật Tân phải tìm cách trở về Saigon trong lúc đang còn bão để chuyển cho tôi những chi tiết cần thiết hầu cố gắng giúp đỡ hoàn cảnh khó khăn của họ. Một trong nhiều việc khác mà ông ta nói đến là những người Phi Luật Tân ở đó đã kiếm ra một ngôi nhà cổ trên một ngọn đồi cao hơn mức nước lụt, bỏ hoang và cũ kỹ nhưng mái còn tốt nên họ đã dọn vào ở. Nơi này ở rất khá nhưng đêm đầu tiên họ đã thấy căn nhà đầy ma, những bóng ma ăn bận lối người tu hành. Ống ta hỏi tôi có biết gì về chuyện ấy không, vì không có ai ngoài đó am tường vụ này. Hôm sau tôi hỏi ông Diệm, vì ông là một cuốn tự điển sống về những sự kiện xảy ra ở xứ này. Ông cho biết nơi ấy có một tu viện Công giáo xây dựng từ lâu. Trước đấy độ 50 năm, ngôi nhà là một viện nữ tu nhưng các nữ tu đã dọn đi từ 10 năm nay. Ngôi nhà vẫn bỏ hoang cho đến khi đoàn y tế Phi dọn đến. Tôi liền nói với ông Diệm về vụ mấy người Phi thấy nhiều bóng ma. Ông từ tốn giải thích cho tôi nghe bằng một giọng không chút nghi ngờ rằng có lẽ những bóng ma ấy là các tu sĩ đã chết hơn 100 năm trước ở nơi này. Khi tôi nói lại điều ấy cho mấy người Phi biết, tôi ngạc nhiên khi thấy họ vẫn cứ ở ngôi nhà ma. Họ bảo rằng những hồn ma ấy rất tử tế.