Tôi Làm Quân Sư cho Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM

Lượt đọc: 8017 | 2 Đánh giá: 7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
mặt trận giáo phái thống nhất

Vào những tháng đầu tiên sau dịp Tết âm lịch 1955 năm con Dê, có một biến cố lớn suýt nữa đã làm cho Việt Nam bị xâu xé ra từng mảnh. Nhiều dấu hiệu khiến người ta tin tưởng được ở một mùa xuân thái hòa với những tiến bộ của đất nước. Ông Diệm ở chức vụ Thủ Tướng mỗi ngày một tỏ ra khôn khéo hơn. Hàng trăm ngàn người Bắc di cư đang xây dựng một đời sống mới và nhà cửa ở miền Nam. Quân đội Việt Nam đã quên hẳn những ngày lộn xộn của tướng Hinh và đang thâu nhận những phương thức mới do các cố vấn Pháp-Mỹ của T.R.I.M truyền đạt. Chiến Dịch Bình Định Cà Mau tiến hành tốt đẹp và Chiến Dịch Giải Phóng ở miền Trung hứa hẹn nhiều tiến bộ hơn nữa. Một niềm hy vọng mới được khai sinh khi nông gia cày cấy được những vùng đất bỏ hoang trong những năm chiến tranh. Vấn đề các giáo phái đã được giải quyết bằng việc đồng hóa nhiều lực lượng giáo phái vào quân đội quốc gia: du kích Liên Minh của Tướng Trình Minh Thế, 10.000 Cao Đài Nguyễn Thành Phương, một trung đoàn Hòa Hảo của Nguyễn Giác Ngộ (trước đã sát nhập một trung đoàn) và 4 Tiểu đoàn Hòa Hảo của Trung Tá Nguyễn Văn Huệ. Chính quyền còn sẵn sàng sát nhập các lực lượng giáo phái khác. Tướng Ely, Tổng Tư Lệnh Pháp đã thỏa tluận chấm dứt quyền kiểm soát quân đội Việt Nam và đã tính đến chuyện rút Quân Đoàn Viễn Chinh về nước.

Ngày 5-5-1955 đã có những dấu hiệu đáng chú ý. Hôm ấy các lãnh tụ giáo phái gặp nhau ở Chợ Lớn và quyết định dành lấy chính quyền khỏi tay Ông Diệm để chia chác nhau. Buổi hội do Bảy Viễn triệu tập. Bảy Viễn đau khổ vì một sắc lệnh do ông Diệm ban hành vào tháng Giêng; cấm các thiếu niên vào các nhà mãi dâm và cấm việc buôn bán ma túy. Bảy Viễn nói với các lãnh tụ Cao Đài và Hoà Hảo rằng nhân dân miền Nam muốn có một chính quyền tốt đẹp hơn thứ chính quyền của ông Diệm điên khùng. Nếu các giáo phái có thể đoàn kết đủ lâu dài để làm một công việc chính trị, thì họ có thể đòi hỏi và nắm giữ những vị trí chi phối tài nguyên nhân lực và tài chính quốc gia. Ông Diệm sẽ bị đẩy vào vị trí một Thủ Tướng danh dự và họ sẽ nắm thực quyền. Nếu họ tập trung lực lượng quân sự lại thành một quân đội duy nhất và mạnh mẽ, ông Diệm sẽ khiếp sợ và chấp nhận các yêu sách ấy. Công việc có thể sẽ chẳng khó khăn gì.

Lời Bảy Viễn đã lọt tai một số người chầu chực, có người đánh hơi thấy mùi tiền tài và thế lực mà Bảy Viễn hứa hẹn. Họ bàn tính việc đảo chánh. Một Mặt Trận Giáo Phái Thống Nhất được thỏa thuận. Giáo Chủ Cao Đài Phạm Công Tắc sẽ là vị Chỉ Huy Tối Cao của Mặt Trận vì ông ta đã đóng góp toàn bộ lực lượng Cao Đài thuộc quyền cho mục tiêu của Mặt Trận mà không chịu sát nhập vào quân đội quốc gia. Dù rằng các quân đội giáo phái vẫn độc lập dưới quyền các vị chỉ huy hiện tại (những người này được buổi họp hôm ấy hứa hẹn sẽ cho thăng cấp bậc) nhưng khi cần thiết sẽ được đặt trong một lực lượng duy nhất. Ba Cụt được phong làm Tổng Chỉ Huy lực lượng này. Bảy Viễn còn vuốt ve Ba Cụt thêm bằng cách đặt quân đội Bình Xuyên dưới quyền Ba Cụt trong bất cứ trường hợp khẩn cấp nào. Buổi họp chấm dứt bằng những lời hứa hẹn ủng hộ Mặt Trận và chương trình của Mặt Trận.

Tôi được biết vụ hội họp này khi Tướng Thế và Nguyễn Thành Phương ghé nhà tôi sau khi dự cuộc họp trở về. Hai người cười lớn vì cho rằng Mặt Trận ấy là một chuyện khôi hài vĩ đại. Họ tỏ vẻ ngạc nhiên thấy tôi không những đón nhận tin ấy với một cách nghiêm trang mà còn vạch rõ việc cả hai người đã bị lợi dụng trong một vụ lường gạt hiển nhiên.

Nếu hai người ưng thuận làm ủy viên của Mặt Trận tức là đã đặt quân đội của mình dưới quyền Ba Cụt cho một mục tiêu chính trị do sáng kiến của Bảy Viễn. Khi họ bắt đầu hành động, hai người (Thế và Phương) sẽ mắc kẹt không thể nào ra khỏi. Trường hợp Trình Minh Thế vừa tuyên thệ trung thành với chính quyền sẽ khiến cho ông ta ở vào một tư thế mà mọi hành vi liên hệ đến Ba Cụt và Bảy Viễn sẽ làm cho ông rất dễ bị kết tội phản bội, phiến loạn. Nguyễn Thành Phương với quân đội Cao Đài của ông đang ở giai đoạn chót chờ sát nhập vào quân đội quốc gia, trên thực tế cũng ở cùng một trường hợp. Còn có thể thông cảm được chăng là nếu hai người dù được Bảy Viễn tin tưởng, nhưng đã chấp nhận hy sinh cho một lý tưởng cao cả hơn. Bây giờ nói một cách đứng đắn, thì chẳng hay hai người đã nhận làm ủy viên trong Mặt Trận chưa ?

Hai người nhận rằng họ đã ưng thuận vào Mặt Trận.

Họ không được biết rằng những ủy viên trong Mặt Trận sẽ có thể bị coi là phản bội và phiến loạn vì lẽ Quốc Trưởng Bảo Đại cũng có liên hệ đến việc này. Một vài nhân vật thân cận với Nguyễn Đệ cũng có mặt trong buổi họp và khuyến khích sự hình thành Mặt Trận cùng các mục tiêu của Mặt Trận. Nếu khi nào đi đến hành động quân sự chống chính phủ của ông Diệm, chắc là Bảo Đại sẽ phải hợp pháp hóa hành động ấy.

Tôi cho rằng hai vị tướng này đã giao tiếp với một bọn người lạ lùng. Nguyễn Đệ thì mang nhiều tiếng xấu trong dân chúng, bị coi như là kẻ chủ chốt trong những âm mưu dùng tay chân đi lường gạt mà Nguyễn Đệ ngày một thêm giàu có, nhiều thế lực. Còn nhiều tên thực dân cuồng nhiệt trong số những người Pháp ở đây đang tạo ảnh hưởng với Bảy Viễn và Ba Cụt, những tên thực dân có quyền lợi riêng tư đi ngược lại quyền lợi của những người Việt Nam mong mỏi quốc gia được hoàn toàn độc lập. Phải chăng hai người đã thay đổi mục đích làm việc cho nền độc lập của Việt Nam, một mục đích mà họ từng khẳng định trong lần gặp gỡ tối trước đây ?

Tướng Thế và Tướng Phương đoan quyết với tôi rằng lý tưởng của họ đối với nền độc lập của tổ quốc vẫn luôn luôn vững chắc. Những vấn đề chính trị mà họ liên hệ tới khác với điều tôi nghĩ. Có lẽ tôi không hiểu rõ ván bài này. Tôi bảo rằng có lẽ cả hai người họ cũng không hiểu rõ và họ đã bị mắc bẫy. Tôi thẳng thẳn đề nghị họ rút ra khỏi Mặt Trận. Họ trả lời không được, họ không thể rút lui vào lúc này. Có lẽ mục tiêu của Mặt Trận khác với mục tiêu của họ, chưa thể biết được. Họ phải ở lại Mặt Trận một thời gian để cố gắng tìm hiểu sự thực bên trong. Sẽ có lúc họ ngăn chận được âm mưu di hại cho quốc gia bằng cách rút lui khỏi Mặt Trận ấy, nhưng bây giờ thì chưa. Chúng tôi cáo biệt sau những nhận định mập mờ này.

Sau khi họ ra về, tôi đến tư dinh Đại Sứ Mỹ để báo cho tướng Collins về vụ hoạt động của các giáo phái. Ông không cho rằng đó là việc không hay vì việc ấy có thể khiến cho ông Diệm phải bắt buộc “mở rộng căn bản” của chính phủ là điều ông thấy tôi tán đồng xưa kia. Tôi trả lời : “Đúng vậy, mở rộng chứ không phải làm mất giá trị.” Mục đích của Mặt Trận lộ rõ tính chất tranh dành quyền hành trắng trợn với quân đội các giáo phái được xử dụng gây áp lực buộc ông Diệm phải trao chính quyền cho một nhóm sứ quân. Một cuộc chính biến như vậy sẽ tạo ra những yếu tố căn bản chẳng tốt lành gì cho tương lai của nước Việt Nam. Hành động này sẽ đem thế lực lại cho những con người từng nổi tiếng về những việc làm phi pháp. Một chính phủ do họ thực sự cầm quyền sẽ là một chính phủ dựa trên tình trạng không ai tôn trọng luật lệ và do đó chính phủ ấy sẽ cai trị bằng luật rừng. Tôi nghĩ chính phủ Mỹ sẽ không thể tiếp tục viện trợ cho một chính quyền Việt Nam lầm lạc kỳ lạ như vậy.

Collins khuyên tôi hãy bớt nóng nảy một chút và bảo tôi lưu tâm việc Tướng Thế và Tướng Phương rút ra khỏi Mặt Trận. Có thể tôi sẽ làm cho nhiều người khác cũng rút lui. Ông cho biết tiếp hiện nay ông đã nói chuyện vớiTướng Ely về vấn đề các giáo phái và cả hai đã cho rằng cần có một nhóm người Mỹ và Pháp nghiên cứu toàn bộ vấn đề.

Sáng hôm sau khi gặp Tướng Ely, ông cho biết ông và Tướng Collins đã thỏa thuận việc này đồng thời cả hai ông muốn tôi phụ trách công việc ấy. Tướng Gambiez sẽ chịu trách nhiệm về nửa phần nỗ lực phía người Pháp vì ông chỉ huy quân lực Liên Hiệp Pháp tại Nam Phần nơi có các giáo phái và ông đã được chỉ thị phải hết sức giúp đỡ tôi. Tôi chấp nhận ngay.

Buổi họp đầu tiên tổ chức tại nhà tôi với sự tham dự của 5 sĩ quan Pháp và 5 sĩ quan Mỹ. Tôi trình bày kế hoạch công tác. Trước hết phải thâu thập những dữ kiện trung thực, không thêm bớt về các giáo phái. Khi có đủ tài liệu, chúng tôi sẽ soạn thảo các nhận định và đưa ra các khuyến cáo. Chúng tôi có thể khởi sự bằng cách lấy các tin tức mà mỗi người chúng tôi đã biết, xem xét những chỗ thiếu sót và sưu tầm những sự kiện còn thiếu ấy. Tôi yêu cầu một Đại Tá Pháp ghi lại những tin tức mà mỗi người đã biết để làm một bản liệt kê sơ khởi trong ngày kế tiếp phổ biến cho mọi người trong nhóm.

Tình hình trở nên căng thẳng khi mọi người bắt đầu cung cấp tin tức mình biết. Một vài người Pháp không thể không nhắc đến những câu chuyện hoang đường như tiểu thuyết được lưu truyền trong các trại lính Pháp được coi như những câu chuyện mà ai cũng biết. Tôi bèn yêu cầu họ nên có những bằng chứng chính xác và xác thực dù rằng đó là những chuyện khó nói. Thí dụ khi nói về một đơn vị Hòa Hảo nhỏ của một Đại tá ở Cần Thơ, thì phải biết thực sự có bao nhiêu lính và vũ khí ở đơn vị ấy, và trung thành với ai ? Một vài sĩ quan Pháp cười nói rằng chỉ tôi mới có thể trả lời được câu hỏi ấy vì tôi đã biếu vị Đại tá Hòa Hảo này một chiếc xe Cadillac hôm thứ Hai tuần trước. Tôi nhẫn nại giải thích rằng chúng tôi cần tìm kiếm các sự kiện, chứ không tìm kiếm huyền thoại và chiếc xe nói trên không phải là xe Cadillac mà là xe Buick theo báo cáo ghi nhận. Nhà cầm quyền Việt Nam đã biết được tên tuổi của một Thiếu Tá người Pháp đã biếu chiếc xe này vì lẽ vị Thiếu tá ấy ở trong ban liên lạc với các giáo phái của Tướng Gambielz, tôi thấy rằng các vị sĩ quan trong ban này có mặt ở đây có thể trả lời những câu hỏi của tôi mà không phải kể thêm một chuyện thần tiên hoang đường nào cả.

Trong 10 ngày sau đó, nhóm Pháp – Mỹ chúng tôi cặm cụi nghiên cứu. Tôi bỏ giấc ngủ thường lệ để lo thâu lượm tin tức và khai thác. Trong những buổi họp sau cùng chúng tôi nhận định rằng Việt Nam không thể để các quân đội riêng của các giáo phái tồn tại, dù rằng có cần phải lo vấn đề sinh nhai cho binh sĩ giáo phái, vấn đề an ninh tại các khu vực quân giáo phái hoạt động và vai trò chính trị của các lãnh tụ giáo phái, một khi phải giải tán các lực lượng này. Chúng tôi đề nghị một chương trình giải tán các quân đội giáo phái và thâu nhận binh sĩ giáo phái vào quân đội Quốc gia hoặc Bảo An, hoặc vào các cơ quan Công chánh để làm việc tái thiết hậu chiến. Vấn đề chính trị được giải quyết bằng đề nghị tổ chức tuyển cử toàn quốc bầu quốc hội do dân chúng bỏ phiếu sau đó 3 tháng. Các lãnh tụ giáo phái hoặc các đảng viên được chỉ định của họ có thể ra ứng cử.

Vấn đề kinh tế được giải quyết rộng rãi bằng những đề nghị thiết lập các chương trình nông nghiệp khai phá các vùng ruộng đất mới và gia tăng hoa lợi khả hữu trên những ruộng đất hiện do các nông dân thuộc các giáo phái sở hữu. Còn có nhiều đề nghị chi tiết bao gồm cả chương trình lập những trường công kể cả trường trung học trong các vùng giáo phái.

Bản nghiên cứu với những sự kiện vững chắc và các tư tưởng cụ thể nhằm tạo một đời sống hòa bình có lợi cho giáo phái nhiều hơn được trình cho Collins và Ely trong khoảng thời gian 10 ngày mà hai ông đã qui định. Tôi đã làm việc mà không được ngủ nhiều để hoàn thành bản nghiên cứu đúng kỳ hạn và gần xỉu vì làm việc quá độ. Sau khi đọc hết bản nghiên cứu, Collins bảo tôi rằng bản nghiên cứu này không thích ứng với nhu cầu mà ông cần có. Ông sẽ có một ban chuyên viên riêng để soạn thảo bản nghiên cứu khác. Ông không giải thích tại sao bản nghiên cứu của chúng tôi lại không thích ứng. Tôi đoán chừng là Collins muốn tôi phải đề nghị một công thức nào đó để có thể cho Bảy Viễn, Ba Cụt và các lãnh tụ khác gia nhập chính quyền đồng thời để ông Diệm lên bệ làm ông tượng thờ. Tôi trình bày rằng tình hình chính trị đang sắp bùng nổ lớn vì âm mưu của các giáo phái và những đề nghị của tôi có thể dập tắt nguy cơ ấy, nếu được thi hành ngay và sau hết là nếu ông ta cho phép thì tôi sẽ về nhà ngủ bù. Sau đó tôi lái xe về nhà và leo lên giường. Hai mươi giờ sau tôi mới tỉnh dậy.

Tinh thần đã khá khoẻ khoắn, tôi liền gặp lại Tướng Phương và Tướng Thế. Họ cho biết Mặt Trận Giáo Phái Thống Nhất sắp gửi tối hậu thư cho ông Diệm, đòi ông nhường cho họ những chức vụ họ đã lựa sẵn trong chính phủ. Ông Diệm có thể ở nguyên chức vị cũ như một kẻ bù nhìn. Tối hậu thư phải được chấp thuận trong thời hạn 5 ngày. Nếu ông Diệm từ khước, lực lượng quân sự của các giáo phái sẽ biểu dương sức mạnh và buộc ông đầu hàng. Tôi bảo Thế và Phương rằng nếu họ định rút lui ra khỏi Mặt Trận một cách danh dự thì đây là thời cơ rất thuận tiện. Sự rút lui của họ sẽ trì hoãn những kẻ khác đang muốn gấp rút hành động, những hành động có thể khiến cho những tiến bộ của đất nước vừa thực hiện được tan tành hết. Hai người nói rằng trở ngại lớn nhất đối với việc rút lui của họ là quyền hành của vị giáo chủ Cao Đài đối với chức vụ tư lệnh quân đội Cao Đài của Tướng Phương. Họ hẹn gặp lại tôi đêm ấy, tôi đồng ý.

Tôi gặp Collins và trình bày rõ nội vụ với nhận xét rằng không còn thì giờ để nghiên cứu vấn đề nữa. Ông Diệm sẽ phải đối phó với sự thử thách do việc đe doạ biểu dương lực lượng của các giáo phái chống lại chính quyền. Ông Diệm là kẻ chịu chơi, hơn nữa quân đội Việt Nam lại ủng hộ ông. Các sĩ quan quân đội ít ủng hộ các giáo phái. Tôi tin chắc rằng quân đội Việt Nam sẽ đánh bại đối thủ, dù rằng có những dư luận trái ngược lại. Mặt trận Giáo Phái đang đi đến chỗ đụng độ với chính quyền khơi mào cho một cuộc nội chiến, ngoại trừ trường hợp thuyết phục được các lãnh tụ giáo phái hành động hợp lý hơn. Lập trường vững chắc của hai tướng Phương và Thế có thể làm trì hoãn vụ này để cho phe ôn hoà trong Mặt Trận thắng thế. Lúc này là lúc cần những phản ứng mau lẹ và tích cực.

Collins bảo tôi coi lại xem có thể làm được việc gì cùng với Thế và Phương tối nay không và cho ông biết ý kiến. Tôi thức gần trọn đêm nói chuyện với hai viên tướng tại tư thất của Tướng Phương, Joe Redick làm thông dịch viên. Họ đã quyết định dứt khoát rút khỏi Mặt Trận, nên câu chuyện của chúng tôi nhắm vào việc họ sẽ rút lui bằng cách nào tốt nhất và vẫn giữ được vị thế có quyền hành để xử dụng vào những mục tiêu xây dựng. Tôi gọi điện thoại báo cho Coilins về quyết định ấy. Ông yêu cầu tôi đưa hai người lại tư dinh gặp ông sáng hôm sau. Tôi lưu ý ông rằng họ sẽ khá mệt mỏi vào sáng mai, nhưng một cuộc gặp gỡ riêng để ông khen ngợi sự việc họ đã quyết định là điều rất có ích nhằm khuyến khích họ.

Sáng hôm sau Thế, Phương, Redick và tôi đến tư dinh tướng Collins sau một đêm dài thảo luận và đang cần tắm rửa, thay quần áo, điểm tâm. Tôi trấn an họ rằng đây là cuộc gặp gỡ thân mật ngắn ngủi, sau đó tất cả chúng tôi lại có thể tiếp tục công việc. Bước vào tư dinh, tôi ngạc nhiên khi thấy Collins triệu tập bộ tham mưu riêng gồm các chuyên viên chính trị, kinh tế và thông tin. Cùng với 2 viên tướng, tôi ngồi chung ghế dựa dài với Collins, còn Redick thì ngồi trên chiếc ghế đầu cạnh 2 viên Tướng làm thông dịch viên. Đám chuyên viên Mỹ kéo ghế đặt vòng quauh trước chúng tôi ngồi ngay ngắn, để những tập giấy lớn tưên đùi, rút bút máy và bút chì sẵn sàng ghi chép những lời vàng ngọc như để lưu truyền cho con cháu về sau.

Collins mở đầu bằng cách nói với quan khách rằng là một quân nhân, ông rất xúc động về thái độ bất trung của 2 vị Tướng đối với chính phủ của họ. Tôi vội ngăn Redick lại không cho dịch câu này và yêu cầu Collins khen ngợi hai vị tướng về việc họ đã quyết định giữ thái độ trung thành với chính phủ. Lời nói của tôi gây ra một cuộc tranh luận gay cấn giữa tôi và Collins trong lúc hai vị tướng ngồi đó ngơ ngác nhìn quang cảnh ấy mà không thể hiểu nổi điều tôi và Collins nói bằng tiếng Anh. Tôi nêu rõ như Collins đã đề nghị rằng tôi mời 2 người đến gặp riêng Collins. Vậy mà có cả một đám đông ngồi đây với giấy tờ bút mực khiến hai vị khách có thể lầm tưởng họ là nhà báo. Ít ra cũng phải giải thích cho hai vị này rõ những người này là ai. Sau đó tôi khuyên Collins chỉ cần tỏ lời khen ngợi việc hai vị tướng đã tỏ ra trung thành với chính phủ, mà đừng nên trách cứ họ. Nhưng Collins chỉ nhắc lại những nhận định ông đã nói lúc đầu tiên bằng một giong nói lớn hơn nữa, và thêm rằng ông đang cố gắng ngăn chặn một vụ đổ máu.

Thật là một buổi họp vô bổ. Tôi sợ rằng Thế và Phương hiểu được ý nghĩa những lời nói của Collins rồi nổi giận mà bỏ luôn quyết định rút lui khỏi Mặt Trận. Nếu thế, cuộc xung đột giữa các giáo phái và chính phủ chắc chắn sẽ xẩy ra, khó có phương cách nào tránh khỏi đổ máu. Nghĩ đến đây tôi mỉm cười đứng dậy và kéo hai vị tướng đi ra với tôi. Tôi nói với Collins là tôi đưa họ đi ăn sáng và sẽ nói với họ rằng ông Đại Sứ rất tán thưỏng quyết định rút lui của họ.

Sau khi ăn sáng, Thế và Phương đến họp với Mặt Trận. Tại đây bản tối hậu thư gửi cho ông Diệm sẽ được chung quyết. Hai vị tướng này đã phản đối bản tối hậu thư và tuyên bố rút khỏi Mặt Trận, nói rõ là họ phát biểu ý kiến thay cho quân lực dưới quyền chỉ huy của mình.

Những người còn lại trong Mặt Trận quyết định tiếp tục kế hoạch không cần đến sự hậu thuẫn của Thế và Phương cùng lực lượng của hai người nầy. Mặt Trận gửi tối hậu thư cho ông Diệm ngày 22-3-1955, báo cho ông Diệm biết đến ngày 27 là hạn chót để ông chấp nhận hoặc từ chối. Ông Diệm dằn cơn giận, hoà hoãn đề nghị thương lượng với các lãnh tụ giáo phái và nói rằng ông có những đề án riêng của ông mà tất cả mọi người yêu nước có thể cùng tham gia với ông để xây dựng một cái gì vững vàng, bền chặt cho quyền lợi tổ quốc. Đề nghị thương thuyết nầy bị bác bỏ. Bình Xuyên đã bố trí súng cối để pháo kích dinh Độc Lập nếu ông Diệm không chấp nhận tối hậu thư.

Cuộc khủng hoảng được dư luận biết rất mau, làm cho thần kinh dân chúng thủ đô mỗi giờ thêm căng thẳng.

Những lời đồn đãi lan truyền mau như cỏ hoang, che đậy những sự kiện giản dị của cuộc tranh chấp. Có lẽ lời đồn đại vô căn cứ nhưng hiệu nghiệm nhất trong giới ngoại quốc là lời đồn về việc Quân Đội Việt Nam sắp làm phản, sĩ quan và binh sĩ quân đội Việt Nam được họ coi là đối lập kịch liệt với ông Diệm. Giới cao cấp rất tin tưởng vào con vịt cồ ấy đến nỗi tôi đích thân đi xem xét các tiểu đoàn quân chính phủ ở Saigon và điều tôi nhận thấy về binh sĩ có tinh thần rất cao, trung thành với chính phủ đều bị coi là chuyện bịa dặt. Nhiều báo cáo sai lầm nói rằng quân đội Việt Nam không có tinh thần chiến đấu đã được gửi về Hoa Thịnh Đốn và Paris, làm lệch lạc các nhận định của những nơi này. Quan điểm ngược lại của tôi về đến Hoa Thịnh Đốn như một ý kiến phụ thuộc của thiểu số. Nhiều viên chức Việt Nam cũng tin vào lời đồn sai lạc ấy ; một số Bộ trưởng bắt đầu xin từ chức trong đó có Bộ Trưởng Quốc Phòng Hồ Thông Minh. Khi tôi và Tướng Collins gặp ông Minh và yêu cầu ông ta ở lại, ông cho biết ông chưa đích thân xem xét một đơn vị quân đội nào nhưng ông vẫn tin rằng binh sĩ không muốn chiến đấu. Ông ta từ chức và đi khỏi thủ đô.

Sáng 29 tháng 3 sau khi Bộ trưởng Quốc Phòng từ chức, tôi và Redick đến dinh gặp ông Diệm. Rõ ràng là tiểu đoàn phòng vệ ở đây đã nhận được báo cáo về việc Bình Xuyên sắp sửa tấn công. Không giống như những ngày hồi xảy ra vụ tướng Hinh, binh sĩ ở đây đã chuẩn bị chiến đấu. Trong dinh có vẻ hoạt động, điện thoại reo vang mọi người lên xuống vội vã, vẻ mặt nghiêm trọng.

Chúng tôi chủ ý đến sớm hơn giờ hẹn với ông Diệm vì tôi muốn kiểm soát lại việc thiết trí máy vô tuyến mà tôi thu xếp với Bộ Chỉ Huy Truyền Tin đặt trong dinh. Máy này sẽ giúp Thủ Tướng liên lạc được với hệ thống quân sự và các nơi trong nước trong trường hợp khẩn cấp, các đường liên lạc thông thường bị cắt đứt. Tôi và Redick ghé lại văn phòng của ông Võ văn Hải, bí thư của ông Diệm, và hỏi ông này về chiếc máy truyền tin quân đội mới đặt. Ông chỉ cho tôi thấy chiếc máy đặt gọn ghẽ trong góc tường kế phòng ông Diệm. Khi chúng tôi đang coi máy thì ông Diệm sang theo. Ông cười và cảm ơn chúng tôi về chiếc máy, nói rằng máy này sẽ rất tiện dụng. Tôi nói với ông Diệm rằng máy vô tuyến được thiết trí để chuyển lệnh của Phái Bộ Mỹ cho tôi biết phải tránh xa dinh Độc Lập khi dinh bị tấn công. Hoa Kỳ không muốn có người Mỹ nào ở tại một chỉ huy của đôi bên trong cuộc tranh chấp giữa các phe quốc gia. Tôi bị cấm ngặt không được xử dụng máy vô tuyến. Ông Diệm nói một cách khô khan rằng ông hiểu điều đó.

Trong phòng làm việc, Ông Diệm trải rộng một bản đồ có tỷ lệ nhỏ của vùng thủ đô và chỉ những nơi Bình Xuyên đặt súng cối. Theo chỗ ông biết thì tất cả đều là súng cối 60 ly, tuy rằng có những báo cáo cho biết Bình Xuyên đang cố gắng kiếm một vài khẩu 81 ly. Nếu đúng như vậy thì hơi phiền. Đạn súng cối 60 ly chỉ gây thiệt hại nhẹ đối với bức tường dầy của dinh nầy nếu mọi người ẩn tránh sau bức tường ấy. Ông Diệm nói với chúng tôi bằng giọng bình thản của một sĩ quan đứng thuyết trình, trình bày thông thạo và có vẻ không quan tâm đến việc chính ông là mục tiêu của cuộc tấn công. Tôi bị khích động vì thái độ trầm lặng của ông. Đó là một con người biết tự chế. Thái độ cá nhân ấy chắc phải làm cho những người chung quanh ông vững tâm.

Ông Diệm nói đã đề nghị thương thuyết với các lãnh tụ giáo phái nhưng Bảy Viễn nói rõ rằng ông ta muốn ông Diệm rút lui hoặc phải tránh ra cho Bảy Viễn và tay chân nắm chính quyền.

Ông Diệm cho tôi biết đã nêu vấn đề kiểm soát ngành Cảnh sát với Bảo Đại, nhắc lại việc Quốc trưởng đã hứa cho ông toàn quyền trong chức vụ Thủ Tướng. Dĩ nhiên, quyền hành này bao gồm cả việc kiểm soát ngành Cảnh Sát. Ông Diệm đã yêu cầu Bảo Đại hủy bỏ điều tương thuận với Bảy Viễn cho ông được tự do cử một Tổng Giám Đốc Cảnh Sát khác. Bảo Đại đã trả lời bằng một điện văn hoa mỹ tỏ ý tín nhiệm ông Diệm nhưng tránh khôug trả lời các điều thỉnh cầu. Trong khi ấy có những điện văn khác từ văn phòng của Bảo Đại báo cho Bảy Viễn và người của Bảo Đại ở Saigon biết về việc ông Diệm đòi hỏi. Do đó Mặt Trận Giáo Phái được thành lập và xảy ra vụ gửi tối hậu thư. Hiển nhiên là Bảo Đại đã khuyến khích Bảy Viễn hành động.

« Lùi
Tiến »