Tôi Làm Quân Sư cho Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM

Lượt đọc: 8021 | 2 Đánh giá: 7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
trận chiến ở sàigòn

Sáng 28-4-1955 tôi bận rộn ở T.R.I.M vì những nhu cầu của chương trình “An ninh quốc gia” hiện đã có những hoạt động đang tiến triển ở khắp nơi trong nước.

Tôi đang giải quyết vấn đề thay thế các cầu cống hư hỏng ở miền Trung. Chiến Dịch Giải Phóng bị trở ngại khi tiến qua các con sông, phà tạm bằng các thuyền nhỏ làm cho thời biểu di chuyển quân sĩ và phẩm vật cứu trợ dân chúng bi chậm trễ. Quân Đội Viễn Chinh Pháp có vật liệu làm cầu, nhưng họ lại quyết định chuyên chở từ Pháp và Bắc Phi sang. Đại tá Kim và Trung úy Phillips muốn bay vào Saigon sáng hôm sau để giải quyết vấn đề. Tôi bảo họ cứ vào và thu xếp đi găp Tướng O’Daniel ở_Văn phòng MA.A.G trong Chợ lớn khi tới nơi. Có thể O’Daniel sẽ giúp họ kiếm được vật liệu làm cầu.

Đến trưa điện thoại từ dinh Độc Lập kêu tôi vào gặp ông Diệm ngay. Joe Redick và tôi đến Dinh bằng con đường ngắn nhất. Tới công trường Khải Định tôi nhận thấy có sự khác thường. Nhiều người đi xe đạp đụng vào nhau và té lăn trên đường phố. Xe cộ ngừng lại, cửa xe mở tung, người trên xe phóng xuống vỉa hè nằm dồn đống. Mới nhìn thoáng qua có vẻ giống như một vở kịch khôi hài. Tôi ngạc nhiên chạy chậm lại. Tôi nghe thấy tiếng súng đại liên, tiếng súng bị các dãy nhà ven phố ngăn lại một phần. Vụ này xảy ra quá bất ngờ trong lúc xe cộ lưu thông đông đúc khiến cho sau này hễ thấy xe đạp đụng nhau và té trên đường phố là tôi liên tưởng ngay đến những loạt súng đại liên. Tôi ngừng xe lại, Redick và tôi nhảy xuống xe nằm sát đất với những người khác.

Tiếng súng chấm dứt sau vài phút. Tôi và Redick lên xe chạy qua dòng xe cộ bất động, ngổn ngang quanh công trường. Thấy chúng tôi đi, mọi người mới đứng dậy, tuy sợ nhưng không ai bị thương. Chắc là tầm đạn đi trên đầu chúng tôi. Tôi nhận thấy tại khu công viên sau dinh Độc Lập, có những sự mới lạ : nhiều pháo đội pháo binh VN với các pháo thủ đóng quân cạnh đại bác. Cảnh tượng ấy thật trái ngược với những sân quần vợt, giải trí, lối đi và những dàn hoa tươi tắn dưới cây cối chót vót.

Khi chúng tôi đến nơi thì ông Diệm đang đi lên đi xuống cửa lên lầu một bên hành lang cánh trái. Thay vì đi vào văn phòng ông, chúng tôi đứng ngoài cửa nói chuyện như mọi khi. Ông vừa nhận được tin từ Hoa Thịnh Đốn khi gọi điện thoại cho tôi. Tin này cho biết Đại sứ Collins đã được Tổng Thống Eishenhower chấp thuận cho thay đổi chính sách Mỹ đối với VN. Ông Diệm sẽ bị “bỏ rơi” vì cần có một chính phủ liên hiệp. Tin tức này có đúng không ? Ông Diệm nhìn tôi một cách nghiêm nghị khi hỏi câu này. Tôi nói một cách quả quyết rằng tôi không tin điều đó. Collins đã cam đoan với tôi trước khi về nước rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ ông Diệm, mặc dù có những tin đồn ngược lại. Ông Diệm từ chối không cho biết từ đâu mà ông có đường tin tức ấy. Tôi nói sẽ phối kiểm lại với Hoa Thịnh Đốn qua đường vô tuyến để biết chắc chắn hơn về những điều tôi vừa nói với ông Diệm. Vì lúc đó là nửa đêm ở Hoa Thịnh Đốn, nên có thể ít giờ đồng hồ sau mới hy vọng được các viên chức ở đó trả lời.

Ông Diệm cho biết ông đã nhắm kỹ vào Dinh. Ngay tại cửa dinh chỗ chúng tôi đang đứng là mục tiêu của súng cối 8l mà Bình Xuyên kiếm được trong thời gian hưu chiến. Chúng tôi có thể bị bắn tan xác khi đứng nói chuyện với nhau như bây giờ.

Tôi hỏi ông Diệm về vụ Đại Tá Thái Hoàng Minh, Tham Mưu Trưởng Bình Xuyên. Ông cho biết đã dàn xếp xong để đưa Đại tá Minh và 4 Tiểu đoàn về bên nay và sẽ đồng hóa họ vào Quân Đội. Ông Minh cho biết lính của ông và 6 Tiểu Đoàn “Công An Xung Phong” đã thực sự sẵn sàng tác chiến. Một Trung đội trung thành với ông Minh hiện ở khu Catinat, trong khu vực Pháp kế cận Dinh Độc Lập.

Tôi lái xe về nhà. Đường phố vắng bóng xe cộ. Lúc ấy đã quá l giờ trưa. Dân Saigon đã về ăn cơm và ngủ trưa. Khi vừa vòng xe vào cổng nhà, thì một loạt tiếng nổ vang đến từ hướng dinh Độc Lập. Quả nhiên cuộc tấn công vào Dinh đã bắt đầu. Khi tôi vào nhà, chuông điện thoại đã reo vang.

Ông Diệm gọi tôi, giọng ông trầm tĩnh, không có vẻ lo ắng. Ông cho biết sẽ gọi tướng Ely và bảo tổng đài cho tôi nghe cuộc nói chuyện giữa 2 người để làm nhân chứng.Trước khi tôi kịp hỏi thêm, đã thấy Tướng Ely ở đầu giây. Tôi ráng theo dõi câu chuyện bằng tiếng Pháp (sau đó tôi kiểm lại câu chuyện với Redick và ông Diệm). Ông Diệm cho Ely biết hiện dinh Độc Lập đang bị Bình Xuyên pháo kích và ông muốn Ely biết rằng hành động thù nghịch này đã phá vỡ cuộc hưu chiến. Ely nói ông không nghe thấy tiếng nổ nào. (Ely ở gần Dinh bằng nửa khoảng cách từ nhà tôi đến Dinh. Tôi lấy làm ngạc nhiên, có lẽ Ely ở trong phòng kín có gắn máy lạnh làm cản tiếng đạn trái phá nổ ở gần đấy chăng ?)

Ông Diệm cũng có vẻ ngạc nhiên về việc EIy không nghe được tiếng nổ. Ngay lúc ấy một tiếng “ầm” lớn vọng qua điện thoại. Hai người ngưng một lát. Ông Diệm lại nói tiếp, giọng hơi run. Ông hỏi Ely có nghe thấy tiếng nổ ấy không ? Một viên đạn nổ ở bức tường phòng ngủ nơi ông Diệm đang nói chuyện. Ôug muốn Ely hiểu rằng ông không phá vỡ hưu chiến, mà chính Bình Xuyên phá. Ông đã tức khắc cho lệnh quân đội phản công. Ely nói điều gì đó nhưng ông Diệm chận ngang để nói với EIy rằng ông đã thông báo các sự kiện xảy ra và sẽ hành động. Rồi ông gác máy.

Tôi lái xe ra phố về hướng tòa Đại sứ. Chiến xa Pháp và kẽm gai chận ngang hoàn toàn nhiều đường phố. Tôi quay sang đường khác. Tại một trường học, binh sĩ VN đang nhảy xuống từ một đoàn xe. Tôi ngừng lại, nhiều sĩ quan thấy tôi và nói với những người khác. Họ cầm súng mà vẫy, la lớn, nhảy nhót. Họ đều hăng hái, sẵn sàng tác chiến. Ở góc phố kế đó, Quân Cảnh VN chận tôi lại và yêu cầu tôi đi lối khác. Đang có đụng độ ở phía trước. Tôi quay lại con đường chính xuống Chợ lớn và nghe thấy tiếng súng từ một trận chiến khá lớn. Một Tiểu đoàn VN di chuyển chậm dọc đường phố về hướng có súng nổ. Tướng O’Daniel đi trên chiếc xe của ông chạy qua, ông vẫy tay ra dấu với tôi. Khi vượt qua đoàn binh sĩ ông thò đầu ra ngoài xe và la lớn : “Anh em đập chết bọn nó đi”. Binh sĩ la trả lời bằng những tiếng hoan hô.

Đến tòa Đại sứ sau nhiều lần đi vòng vo, tôi thấy một chi đội xe thiết giáp hạng nhẹ của Pháp đóng trước đó trong tư thế phòng thủ. Trong phòng đại lý sự vụ, các viên chức cao cấp tòa Đại sứ đang ngồi quanh bàn để thảo điện văn gửi về Hoa Thịnh Đốn. Tôi ngạc nhiên thấy họ đang tranh luận nên dùng tĩnh từ nào để chỉ tinh thần chiến đấu yếu kém của binh sĩ VN hiện đang chống lại lính Bình Xuyên hăng hái hơn. Tôi không dám tin cả lỗ tai tôi. Rõ ràng là họ chỉ ngồi trong tòa Đại sứ và tin tưởng vào những tin tức nhận được bằng điện thoại từ các người Pháp quen biết về những sự việc đang xảy ra. Một tùy viên tòa Đại sứ nói ông ta được thông báo rằng tôi đã dẫn quân VN tấn công bộ chỉ huy Bình Xuyên và đã bị bắn chết. Nhiều sĩ quan Pháp nói chính họ trông thấy như vậy.

Tôi kể lại cho mọi người nghe tình hình mà tôi được biết. Họ đón nhận lời nói của tôi một cách nghi hoặc. Tôi yêu cầu họ hãy ngưng thảo điện văn trong 25 phút để ra phố mà xem những gì đang diễn biến, hoặc gọi điện thoại hỏi Tướng O’Daniel vì ông ta vừa lái xe đi nhiều nơi trong đô thành. Tùy viên quân sự là một sĩ quan Bộ Binh vừa về tới cũng xác nhận những điều tôi nói. Tôi xin phép viên đại lý sự vụ gửi một điện văn riêng biệt mang tên tôi để Hoa Thịnh Đốn có thể so sánh các quan điểm mâu thuẫn trong số điện văn ở Saigon gửi về, ông ta đồng ý. Tôi liền ngồi thảo một điện văn chi tiết mô tả các biến cố mà tôi biết được trong ngày hôm ấy. Trong lúc đó cuộc tranh luận về bức điện chính thức vẫn còn tiếp tục.

Tôi rời tòa Đại sứ lúc xế chiều. Những đám khói dày đặc làm đen bầu trời vùng Chợ Lớn. Tại đây một khu vực lớn bị cháy, và bên này đổ lỗi cho bên kia gây ra. Thần hỏa hoành hành dữ dội không ngăn chận nổi, vì lính cứu hỏa không thể vượt qua nơi giao tranh. Hàng ngàn người bỏ nhà cửa đang bốc cháy mà chạy ra đường tìm nơi an toàn nhưng cố tránh xa các địa điểm đang có đụng độ mạnh. Quân đội và nhân viên chính quyền đang lập các trại tạm trú tại các trường học cho đám dân tị nạn để tổ chức cứu trợ họ, tuy nhiên còn có nhiều người phải ngủ đêm ngoài hè phố. Sau này tôi được biết có hàng trăm người chết trong đám cháy, khoảng 500 người khác bị thương nằm tại các bệnh viện và nhiều ngàn người không nhà. Hơn 2 cây số vuông của khu vực đầy dân cư trong đô thành bị thiêu rụi.

Tôi ghé lại căn nhà lớn đường Taberd, nơi đa số nhân viên trong toán của tôi cư trú. Xe cộ bị cháy và bị trúng miểng đạn làm cho đường phố giống như một nghĩa địa xe hơi bên Mỹ. Một xe du lịch móp méo nằm chận ngang cửa trước. Tôi trèo qua tường đi vào. Mọi đồ vật và người ngợm trong nhà đều không hề gì. Tôi bảo Thiếu Tá Fred Allen người quen biết ông Vỹ rất nhiều ráng đi tìm gặp Tướng Vỹ hoặc dò hỏi xem ông ta đang làm gì. Tin tức cho biết Tướng Vỹ đang thi hành lệnh của Bảo Đại. Các viên chức tòa Đại sứ cho tôi biết Tướng Vỹ đã từ Đalat về Saigon với một Tiểu đoàn Ngự Lâm Quân và đã nắm quyền chỉ huy Quân Đội, chắc là để chận cuộc phản công Bình Xuyêa. Allen cố gắng tìm gặp ông Vỹ một cách vô hiệu, nhưng ông Vỹ dù đã có mặt ở Saigon, đã không muốn hoặc không thể gặp Allen. Sau đó, các sĩ quan VN cho tôi hay ông Vỹ đã ban hành các huấn lệnh như là một Tổng Tham Mưu Trưởng, nhưng không ai nghe theo. Họ cho biết thêm rằng ông Vỹ đã thất bại trong việc chấm dứt quyền chỉ huy của Tướng Dương Văn Minh để thay thế bằng một sĩ quan khác người của ông Vỹ.

Đến tối trong những trận đánh khốc liệt, quân đội đã tràn ngập các trọng điểm của Bình Xuyên tại sòng bạc Đại Thế Giới và tại trường Trung Học Petrus Ký. Tướng Nguyễn Thành Phương ghé qua kể cho tôi nghe về trận đánh ở trường Petrus Ký, có một số người Pháp bị bắt tại đây cùng với quân Bình Xuyên. (Hôm sau ông Diệm xác nhận chuyện này, cho tôi biết tên những người Pháp bị quân đội bắt giữ ở Petrus Ký. Sau đó ông tiết lộ có tất cả 37 người Pháp bị xét thấy trong trường Petrus Ký, một số thú nhận là nhân viên trong một tổ chức võ trang của những thành phần thực dân bản xứ).

Khuya hôm ấy tôi nhận được tin ở Hoa Thịnh Đốn. Họ trả lời tôi bằng những lời lẽ thật ngu độn nói rằng : “Điện văn tôi gửi về gồm những điều khác hẳn với tin tức họ nhận được ; nếu ông Diệm vẫn còn sống, vẫn là Thủ tướng và đang được quân đội ủng hộ như tôi nói thì tôi phải nhờ các viên chức cao cấp Hoa Kỳ xác nhận.” Thật là mệt, tôi biết làm cách nào để những người Mỹ cao cấp này được thấy những sự việc ở ngay trước lỗ mũi họ. Nghĩ đến việc ấy, tôi phát buồn ngủ.

Tôi đi một vòng đến nhà các viên chức cao cấp Mỹ vào lúc họ đang ăn sáng hoặc sắp đến sở. Lúc này mọi người đã đồng ý về những điều tôi báo cáo với Hoa Thịnh Đốn. (Vụ càn quét Khu Đại Thế Giới có lẽ đã chứng tỏ được với mọi người về khả năng chiến đấu của Quân Đội). Chỉ có một người tôi không gặp là tướng O’Daniel vừa đi khỏi vài phút. Bà vợ O’Daniel nói với tôi: “Chắc anh biết về Mike mỗi khi có chiến trận ; nhà tôi nóng lòng ra phố từ sáng nay”. Bà chỉ cho tôi thấy những mảnh đạn súng cối rơi chung quanh nhà trên lối vào và trong sân.

Tôi lái xe đến văn phòng ở T.R.I.M. gặp Đại tá Kim và Rule Phillips để đưa họ vào phái bộ M.A.A.G gặp Tướng O’Daniel về việc xin vật liệu làm cầu Bồng Sơn và các cây cầu khác trong Chiến Dịch Giải Phóng. Trận chiến vẫn tiếp diễn chung quanh, nên chẳng có người Cảnh Sát công lộ nào. Lái xe nhanh đến trụ sở T.R.I.M, một cảnh tượng trái ngược hẳn với cảnh tượng ở nhà tôi. Môt đám đông sĩ quan Pháp tụ tập trên đường phố trước văn phòng tôi. Một người trong số đó bồng trên tay một em bé gái VN, chân chảy máu vì một vết thương do đạn trái phá, và ông ta đang say sưa nói với những người chung quanh : “ Hãy xem những điều Lansdale đã làm, hắn ta gây chiến tranh cho con nít phải chịu”. Đám đông nhìn tôi một cách khó chịu, tôi đỡ lấy đứa nhỏ khỏi tay người Pháp ấy và trao cho Trung tá George Melvin để ông ta đưa sang bệnh xá cách đó mươi thước băng bó.

Tuy đã mất một chứng cớ bằng xương bằng thịt nhưng vị phát ngôn viên ấy không chịu thôi, vẫn tiếp tục diễn tả sự đểu giả của tôi. Anh ta làm cho người ta thấy rằng tôi đã chỉ huy cuộc tấn công Bình Xuyên, đồng thời đã chui xuống gầm giường mà trốn cùng với ông Diệm đang run sợ lập cập, đã nhúng tay vào máu dân vô tội và có trách nhiệm về mọi việc xảy ra. Đại tá Kim và Phillips đứng gần đó, cũng ngạc nhiên về bài thuyết trình dài dòng ấy. Tôi bảo họ: “Thôi đi đi, mình còn phải hội với Tướng O’Daniel.”

Chúng tôi đi 2 xe, tôi với Phillips đi chung còn Đại tá Kim đi quân xa VN. Bỗng Đại tá Kim nhảy ra khỏi xe vù chạy về phía tôi. Vừa hành quân ở miền Trung về, ông ta chợt quên mất tình hình thủ đô. Muốn đến M.A.A.G chúng tôi phải đi qua phòng tuyến Bình Xuyên và chắc chắn chiếc quân xa VN của ông ta sẽ bị chúng bắn. Đại Tá Kim lên xe, chúng tôi đều cười một cách bẽn lẽn. Sao chúng tôi lại ngu đần đến thế.

Sự hiểu biết đường xá trong đô thành lúc này mới hữu dụng. Nhiều khu vắng bóng người, nhà cửa đóng kín. Rồi đến một khu có lính đang lâm chiến. Thắng lại, lùi quay trở lại. Luôn luôn có những lính rời mắt khói cây súng đang bắn ngó chúng tôi và vẫy tay ra dấu bảo chúng tôi đi chỗ khác. Trong chuyến đi, chúng tôi quay xe nhiều lần như vậy. Tôi nhớ ra một lối đi phía sau M.A.A.G, qua các con hẻm và ngách vừa khít chiếc xe, đưa chúng tôi lên tuốt phía tây bắc. Lối đi này khá yên ổn cho tới lúc tôi quẹo qua một ngã tư chót trước khi đến M.A.A.G, thì đường này dẫn ngay vào giữa hàng bao cát chắn ngang có lính Bình Xuyên trú đóng. Thấy chúng chỉa súng về phía chúng tôi, tôi liền nở một nụ cười tươi nhất đời, giơ tay vẫy và nói một cách thân mật: “Hello boys!” rồi từ từ lái xe qua.

Đám lính Bình Xuyên đứng yên nhìn theo chúng tôi. Tôi tiếp tục đi, một lát sau đến phái bộ MA.A.G. Lính Bình Xuyên nằm dài sau khẩu đại liên trên vỉa hè, không buồn ngó lên khi chúng tôi chạy xe vào cổng.

Một lúc không lâu sau khi chúng tôi ngồi bàn với tướng O’Daniel về vật liệu làm cầu, vùng phụ cận trụ sở M.A.A.G đã trở thành chiến trường của đôi bên. Chúng tôi phải la lớn mới nghe được nhau giữa những tiếng nổ chát chúa của súng liên thanh và lựu đạn. Tôi xin lỗi đi ra khỏi phòng họp và xuống nhà vệ sinh ở phía sau tòa nhà. Tôi phát giác ra rằng có thể nhìn thấy qua cửa sổ trên chỗ đi tiểu cảnh tượng khá rõ ràng một vị trí Bình Xuyên, tại đây lính mũ xanh đang bắn xuống đường phố. Tôi trở lại phòng họp và nói với O’Daniel vào nhà vệ sinh mà coi cảnh bắn nhau. Nhìn tôi một cách diễu cợt, ông đi xuống nhà vệ sinh. Ngó qua cửa sổ ông bảo với tôi ông chẳng thấy gi cả. Tôi quan sát lại. Lính Bình Xuyên đã bỏ vị trí ấy khi tôi đi vào. Những binh sĩ Bình Xuyên phòng thủ ở đó trước đây đã liệng nón bê-rê mà chạy hết. Trên đống bao cát của vị trí phòng thủ đầy những chiếc nón màu xanh lá cây.

Cuộc đụng độ ở khu vực xung quanh tắt dần khi chúng tôi chấm dứt cuộc họp. Tôi gặp riêng O’Daniel trong khoảng một phút, nói chuyện về bản điện văn ở Hoa Thịnh Đốn gửi cho tôi, chuyện này làm ông có vẻ ngạc nhiên. Ông có một quan niệm chắc chắn về sự trung thành và khả năng của Quân Đội VN, trùng hợp với quan niệm của riêng tôi.

Khi tôi rời phái bộ M.A.A.G, thì bọn con nít đang ra vỉa hè và đường phố, lượm vỏ đạn một cách thích thú. Đạn trúng cột cờ, nhưng lá cờ Mỹ vẫn còn bay. Một Tiểu đội lính VN đang di chuyển về phía tây dọc đường phố, đến chỗ có tiếng súng giao tranh ở khoảng vài dãy phố gần đấy. Tôi đưa Đại tá Kim và Phillips về T.R.I.M để họ thảo luận với ban tham mưu của tôi về những nhu cầu hành quân khác ở miền Trung. Lần này tôi chạy xe qua đường phố rất dễ dàng. Chỉ còn vài cứ điểm Bình Xuyên tại những khu vực chính trong đô thành.

Khi trở về nhà riêng ở đường Duy Tân thì Proc Mojica có vẻ buồn ngủ sau một đêm dài canh gác. Tôi để ly cà phê và xấp giấy trên bàn ăn, ngồi xuống định ghi lại những biến chuyển tình thế tại thủ đô thì Jean Leroy bước vào cửa. Tôi liếc nhìn ra cửa qua người chỉ huy du kích công giáo này ; ông ta đã từng giới thiệu tôi với Hoà Hảo và hiện nay được ghi nhận là đã theo phe Bình Xuyên. Một Tiểu đội lính của Leroy võ trang đầy đủ, đã chiếm giữ các vị trí canh phòug dọc phía trước nhà tôi.

Leroy bảo tôi đi theo ông ta sang Bình Xuyên. Vì đài phát thanh Bình Xuyên vẫn còn truyền thanh những lời đe dọa mổ bụng tôi, tôi bảo với Leroy: “Cám ơn anh, tôi không đi..” Tôi nói thêm là tôi ngại cho sự an toàn của riêng Leroy và kể cho ông ta nghe những thành quả mà quân đội đã đạt được khi đẩy lui Bình Xuyên. Leroy và thuộc hạ đang lâm nguy từng giờ phút khi họ có mặt ở khu vực này. Ông ta nên về khu vực an toàn ngay tức khắc. Leroy nhăn mặt nhắc lại lời yêu cầu tôi đi với ông ta. Tôi từ chối, nói rằng tôi với ông ta là bạn nên tôi không muốn chống cự lại vì nếu làm như vậy thì cả hai người đều bắt buộc phải bị tổn thương.

Ngay sau đó, chúng tôi đứng trước mặt nhau trong phòng khách. Tay tôi chỉ cách mấy quả lựu đạn mà tôi đã giấu trên bờ cửa sổ sau tấm màn cửa khoảng vài tấc. Giữa lúc ấy Bohannan và nhiều sĩ quan của tôi bước vào. Bohannan nói rằng tôi chẳng cần đến tất cả số lính gác ở trước cửa như vậy vì Bình Xuyên đã bỏ chạy rồi. Tôi bảo Bohannan rằng những lính gác này cũng sắp đi. Tôi khoác vai Leroy và đưa ra cửa. Chúng tôi chào tạm biệt ở đây. Leroy và lính của ông ta phóng xe jeep đi mất.

Tôi không thấy lại Leroy, cho đến 10 năm sau mới gặp nhau ở Hoa Thịnh Đốn để uống ly rượu nhớ lại “ngày xưa” (Leroy đi khỏi VN năm1955 về Pháp. Ông ta và đám thuộc hạ làm thầu khoán xây cất ở bên Pháp, hành nghề thông thạo rất mau, và thành công lớn nơi quê người).

Chiều hôm ấy Conein và Allen đã gặp Tướng Nguyễn Văn Vỹ. Họ cho tôi biết Tướng Vỹ đã nhận được vài ba khẩu đại bác thiết giáp của quân đội Pháp, mà quân đội Pháp thì lúc nào cũng mau lẹ thỏa mãn mọi nhu cầu của Tướng Vỹ. Trước sự kinh sợ của người Pháp, ông trao số đại bác ấy cho quân đội VN. Quân đội liền tức khắc dùng những khẩu đại bác này tấn công các cứ điểm Bình Xuyên còn lại trong đô thành. Quả thật khi lâm sự Tướng Vỹ đã cảm thấy lòng mình đứng về phía các chiến hữu trong quân đội. Thay vì chơi hết ván bài chính trị rắc rối mà Bảo Đại, Bình Xuyên và người Pháp tin tưởng ở ông, Tướng Vỹ đã hành động để giúp cho quân đội có thể ít ra là chiến thắng được mặt trận ở thủ đô. Nhưng Tướng Vỹ vẫn cố nắm quyền chỉ huy quân đội theo lệnh Bảo Đại, và các vị chỉ huy đơn vị chiến đấu thì vẫn không chịu tuân lệnh ông. Nghe thấy thế, tôi kết luận rằng Tướng Vỹ đã cố gắng hành động một cách danh dự dưới những huấn lệnh mà trên thực tế không thể chấp hành nếu có danh dự được.

Xế chiều hôm ấy, ông Diệm gọi tôi vào Dinh. Dinh Độc Lập trông giống như bãi chiến trường. Ngoài vườn trên lối đi và đường xe đầy những hố đạn và cáng cứu thương. Trên tường Dinh có nhiều vết thủng vì miểng đạn. Cửa sổ trong Dinh đóng kín, trên nền Dinh thấy rõ những vị trí phòng thủ bằng bao cát và có nhiều binh sĩ võ trang đầy đủ hiện diện. Một Trung đội bố trí ở cổng trước chắc không mong chờ các quan khách thân hữu. Tôi lách xe vào sân Dinh.

Ông Diệm tiếp tôi ở một buồng xép sau phòng ngủ, tại đó có một bàn giấy nhỏ trên chất đầy hàng đống lớn giấy tờ. Phần lớn công việc hàng ngày ông làm tại chỗ kín đáo này là chỗ tương đối an toàn đối với các loại đạn thường cũng như đạn trái phá. Tôi nhìn kỹ để xem ông đã chống chỏi lại tình trạng căng thẳng này như thế nào. Đêm qua ông không ngủ, con mắt ông cho thấy rõ điều đó. Thay vì đi lại trong phòng, tay vung lên một cách mạnh mẽ như mọi khi, thì ông chỉ ngồi trên ghế, sắc mặt tiều tụy.

Ông Diệm nói quân đội đã tiến đến Kinh Tàu Hủ Chợ lớn, nhưng binh sĩ đã mệt mỏi và cần được nghỉ ngơi trước khi tiến qua Kinh này. Bình Xuyên vẫn còn giữ cầu chữ Y và khu vực phía nam đô thành bên kia con Kinh. Quân đội sẽ vượt Kinh vào sáng sớm. Một số lính của Đại tá Thái Hoàng Minh đã tìm cách vượt Kinh sang phía quân đội như đã dàn xếp trước kia. Một số khác đang trở về nhưng họ phải đánh mở đường qua các đơn vị Bình Xuyên khác để đến được khu vực có quân đội.

Ông Diệm đã nhận được tin buồn về Đại tá Thái Hoàng Minh. Ông ta đã về nhà đón vợ trước khi chạy sang bên này. Một số cận vệ của Bảy Viễn đã đón ông ở nhà. Một người thấy vụ này cho biết Đại tá Minh và vợ bị bắt trói bằng xích xe đạp, bị đánh đập tàn nhẫn nằm lăn lộn trên mặt đất không ai cứu giúp, sau đó bị đẩy lên xe chạy đi. Dường như vợ chồng Đại tá Minh chết ngay lúc ấy hoặc sau đó không lâu.

Nói đến đây giọng ông Diệm nặng nề đầy xúc cảm.

Tôi khuyên ông nên đi ngủ ngay trong ít nhất là một giờ. Ông nói ông cũng muốn ngủ nhưng phải gọi tôi đến vì ông đang bận tâm về một việc khác. Ông bảo tôi đợi ông một lát. Nước mắt ông ứa ra. Tôi gật đầu. Chúng tôi ngồi im lặng một lúc lâu.

Ông đến bàn giấy lôi ra một bức điện văn dài. Bằng giọng nói nghẹn ngào ông cho biết đó là điện văn của Bảo Đại và đọc lớn. Chắc chắn tác giả bức điện đã viết trong một cơn giận dữ ghê gớm. Bức điện nói rằng “ông Diệm đã được chọn cầm đầu chính phủ để đem lại sự đoàn kết và hạnh phúc cho dân chúng VN. Thay vì làm những công việc tốt đẹp ấy, ông Diệm đã không tuân theo ý muốn của Bảo Đại, đã làm suy giảm tình hữu nghị với nước Pháp và đẩy dân chúng VN hiền lành vào cảnh khủng khiếp của một cuộc tranh chấp huynh đệ tương tàn. Bàn tay đầy tham vọng của ông Diệm đã nhúng vào máu của đồng bào vô tội. Hàng ngàn người lâm cảnh vô gia cư vì nhà cửa của họ bị thiêu rụi trong trận hỏa hoạn do ông Diệm gây ra. Sự đau khổ của họ chất đầy trên đầu ông. Thay vì làm một nhà lãnh đạo tốt, ông đã đem lại tai họa cho đất nước. Vì vậy, ông Diệm phải rời Saigon ngay khi nhận được điện văn này, phải sang Pháp bằng chuyến bay gần nhất và phải trình diện Bảo Đại tức khắc tại đây. Ông Diệm phải trao chính quyền lại cho người mà Bảo Đại đã chỉ định. Đó là Tướng Vỹ”.

Khi đọc hết bức điện, ông Diệm nhìn tôi một cách khẩn cầu. Tôi nêu một ý kiến nhẹ nhàng rằng đây mới thực là lúc quyết định. Nếu ông nghi ngại không biết phải làm gì như tôi đoán thấy trên nét mặt ông, thì tôi xin giúp ông tính toán. Ông nên kiểm điểm lại những hành động đã đưa đến tình trạng hôm nay, phê phán từng việc về mặt giá trị đạo đức cũng như về ảnh hưởng đối với đa số quần chúng. Kiểm điểm phê phán như vậy, ông sẽ nhận định được sức mạnh hoặc sự yếu kém trong vị thế của ông lúc này và từ đó mới có thể quyết định được.

Tôi nói với ông Diệm rằng, nếu cần, tôi sẽ ngồi lại với ông như một người bạn trong khi ông suy xét điều tôi vừa nói. Ông để tay lên đùi tôi và ra dấu bảo tôi ngồi lại. Ông thong thả và buồn bã kiểm điểm lại những hành động đã qua của ông có liên quan đến cuộc khủng hoảng hiện tại.

Đang lúc ấy ông Nhu bước đến cửa. Ông Nhu cũng có vẻ xúc động. Ông dựa vào khuôn cửa một cách mỏi mệt. Khác mọi khi, trông ông không còn giống như các tài tử trẻ con đóng những vai y sĩ ít tuổi hoặc vai nhà dân biểu mới đắc cử trong phim ở Hollywood. Thêm một người kiệt lực vì tình trạng căng thẳng này. Ông Nhu cho ông Diệm biết đài phát thanh Bình Xuyên đang truyều thanh nội dung bức điện văn của Bảo Đại. Quả nhiên người của Bảo Đại theo phe Bình Xuyên đã nhận được một bản sao điện văn này. Bảo Đại đã tiết lộ bản điện văn mật mã cho những kẻ đang cố sức tiêu diệt ông. Ông Diệm nghiến răng lại khi nghe tin ấy. Việc này là việc có tính cách quyết định. Ông Diệm nói một cách quả quyết rằng ông sẽ ở lại Sàigòn và tiếp tục nắm chính quyền. Tôi hỏi ông có tin chắc vào quyết định của mình không. Ông trả lời chắc : “Tôi biết rằng tôi đang làm một việc hợp lý”.

Tôi rời Dinh và bận bịu với công việc thông báo cho các nhà lãnh đạo Mỹ về tình trạng công việc ở Saigon. Sau khi báo tin về quyết định của ông Diệm cho Reudy Kidder, phó Đại sứ Xử lý Thường Vụ trong lúc Collins vắng mặt, tôi gửi một điện văn của riêng của tôi về Hoa Thịnh Đốn, tóm tắt những điều tôi nghe được từ ông Diệm và những điều tôi nhìn thấy về việc quân đội đẩy Bình Xuyên ra ngoài đô thành.

Đây hẳn là bức điện văn đặc biệt mà Ngoại trưởng John Foster Dulles nhắc đến với tôi mấy tháng sau đó. Bức điện văn của tôi được trình cho Dulles khi ông đang dự tiếp tân. Đọc xong, ông ta kiếu từ để đến Bạch Cung gặp Tổng Thống thông báo tin tức. Tổng Thống Eishenhower liền quyết định ủng hộ ông Diệm bằng mọi giá. Trước đó Tổng Thống đã trao cho Tướng Collins quyền tự do quyết định về các vấn đề chính trị. Dulles cho tôi biết Collins đã bàn với ông về hình thức của một chính phủ liên hiệp tại Saigon. Quyết định sau cùng của Tổng Thống đã được ông lựa chọn sau khi Collins rời Hoa Thịnh Đốn và đang trên đường trở lại Saigon. Vào lúc ấy tôi không biết gì về những cuộc thảo luận cao cấp ở bên Mỹ. Tôi đã không tin vào những tin tức của ông Diệm từ Hoa Thịnh Đốn về việc Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi ông và tôi đã nghĩ rằng tôi thành thật khi biểu lộ điều tôi không tin tưởng ấy. Từ những việc cỏn con mà tôi không hề biết này, rốt cuộc tôi đã đi đến một kết luận rằng vai trò tầm thường của tôi chỉ là vai trò thí bỏ dễ dàng của một con tốt trên bàn cờ chính trị.

Đêm hôm đó, Trình Minh Thế có ghé qua nhà tôi một lát. Ông ta cho biết đã đem các Tiểu đoàn Liên Minh của ông gồm l.300 người từ ngoại ô vào đô thành. Ông Diệm đã yêu cầu ông bọc đằng sau lực lượng Bình Xuyên và ngăn chặn không cho họ di chuyển về khu vực sào huyệt cũ hồi họ còn là bọn ăn cướp trên các con sông giữa Saigon và biển Nam Hải. Chiến xa Pháp đã ngăn chận việc chuyển quân của các Tiểu đoàn Liên Minh dọc các tỉnh lộ dẫn đến sào huyệt của bọn thủy tặc như khu sình lầy Rừng Sát chẳng hạn. Vì vậy đến tối, Tướng Thế và binh sĩ của ông phải lẻn về đô thành. Ông hy vọng sẽ tìm được lối bọc sườn Bình Xuyên và giữ con sông phía sau họ.Tôi chúc Tướng Thế may mắn. Một lát sau khi ông ta ra về, tôi bắt đầu nhận được những cú điện thoại. Nhiều tin đồn lan truyền trong giới người Pháp và người Mỹ rằng bọn du kích man rợ mặc đồ bà ba đen đã về thủ đô để tạo “một đêm tàn sát” mà mọi người (Pháp và Mỹ) sẽ bị cắt cổ hết. Tôi cố trấn an họ rằng những binh sĩ bận đồ bà ba đen là một phần lực lượng quân đội bảo vệ đô thành. Cuối cùng tôi không thèm trả lời điện thoại nữa và đi ngủ.

Việc đài Bình Xuyên phát thanh bản điện văn của Bảo Đại chửi bới ông Diệm cùng với sự hiện diện của quân lính Pháp tại thủ đô và cuộc đụng độ ác liệt giữa quân đội VN với Bình Xuyên, đã gây ra một tình trạng sôi động. Tình trạng ấy xảy ra vào cuối tháng 4, kéo dài đến ngày 4 tháng 5 dưới hình thức một loạt những hành động nóng bỏng của các nhân vật quốc gia. Đến ngày 4-5-55 thì những sự kiện chính trị xảy ra ở VN không giống như những sự kiện mà bất cứ ai có thể dự liệu nổi. Ngay cả tướng Collins vừa ở Hoa Thịnh Đốn trở lại vào ngày 25, Việt Nam đối với ông hơàn toàn khác xa với Việt Nam trước ngày ông về Mỹ. Các biến cố xảy ra đã vượt quá sức hiểu biết của các nhà học giả và các nhân vật cao cấp.

Trong giai đoạn sôi bỏng này, có 2 lực lượng phân biệt mang cùng một danh hiệu, mỗi lực lượng đều hoạt động một cách cuồng nhiệt.

Một lực lượng mang tên Hội Đồng Cách Mạng gồm cả một số chính trị gia Cao Đài và Hòa Hảo hăng bái, chủ trương ủng hộ ông Diệm chống Bình Xuyên. Có lẽ trong số người của Hội Đồng này, người có tư tưởng hơn cả là Nguyễn Bảo Toàn, sáng lập viên của một đảng chính trị gồm những người Hòa Hảo theo tướng Nguyễn Giác Ngộ. Tướng Thế và Tướng Phương có gia nhập Hội Đồng Cách Mạng này. Hội Đồng muốn có một hành động mau lẹ. Hội Đồng đã tuyên bố truất phế Bảo Đại. Còn ông Diệm thì được coi như đã từ chức ngày 29-4-55. Một chế độ mới đã nắm chính quyền dù còn đang có những cuộc tranh luận gay go về thành phần tổ chức của chế độ này. Ông Diệm có thể được Hội Đồng cử làm Tổng Thống. Hoặc là hội đồng sẽ tự nắm quyền cai trị với sự trợ lực về lập pháp của một đoàn thể cách mạng mở rộng với 3 đại diện của mỗi tỉnh.

Lực lượng thứ hai là Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia do ông Ngô Đình Nhu và ông Trần Quốc Bửu khởi xướng. Phong Trào này tổ chức các nhóm cách mạng tại nhiều tỉnh lỵ và trong giới lao động Saigon – Chợ lớn. Họ dự định sẽ tổ chức một Đại Hội ở Saigon với sự tham dự của hàng ngàn đoàn viên vào ngày 1-5-55. Mục đích sơ khởi của Đại Hội là ủng hộ ông Diệm và sau đó là dự trù các cuộc tuyển cử toàn quốc để tổ chức một chính phủ theo thể chế Cộng Hòa. Bảo Đại sẽ được quyền tranh cử cùng với các ứng cử viên khác, dù rằng nhiều người trong phong trào rất tức giận về những hành động của Bảo Đại vừa qua. Một nhãn hiệu nhẹ nhàng nhất mà họ dán cho Bảo Đại là “ngu xuẩn”.

Các đoàn đại biểu đến Saigon dự Đại Hội nhưng tình hình quân sự tại thủ đô không cho phép hội họp đông người (Đâu có ai muốn hội họp ở một mục tiêu của trọng pháo ?). Đại Hội phải dời lại ngày 4 với khoảng 600 đại biểu từ các tỉnh. Những ngày kế tiếp là những cuộc biểu tình ở hầu hết các tỉnh và thị xã của khối quần chúng, liên kết với Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia.

Trong ngày 2-5-55, Dinh độc Lập đã là sân khấu để diễn một vở bi hài kịch khó tin nhưng có thật. Hội Đồng Cánh Mạng đến Dinh để yêu cầu ông Diệm “chiều theo thỉnh nguyện của Hội Đồng, vì quyền lợi quốc dân”. Hội Đồng gặp tại đây một nhân vật khác là Tướng Nguyễn văn Vỹ đang bị Bảo Đại thúc bách phải hành động. Tướng Vỹ bảo ông Diệm đi khỏi VN, và ông ta sẽ nắm chính quyền bằng những quyền lực siêu đẳng. Ông ta có 1.500 quân Ngự Lâm bố trí gần khu vực Pháp, nơi mà quân đội không được phép tiến vào. Nhiều nhân vật dân chính trong Hội Đồng Cách mạng rút súng lục tuyên bố bắt giữ Tướng Vỹ. Ngược lại, Tướug Vỹ tuyên bố rằng Hội Đồng này bất hợp pháp và ông ta không nhận quyền hạn của Hội Đồng. Đúng lúc đó có người ở bộ Tổng Tham Mưu gọi điện thoại đến Dinh mời ông Vỹ đi ăn với họ để mừng việc ông Vỹ đã trao cho quân đội một số súng đại bác. Ông Vỹ trả lời không thể đi được vì ông bị cái gọi là Hội đồng Cách Mạng bắt giữ. Các sĩ quan ở T.T.M nói họ sẽ đem quân đến Dinh cứu ông.

Hai người Mỹ, John Mecklin là bạn tôi làm ký giả và Howard Sochurek có mặt trong Dinh lúc ấy. Sochurek thì lo chụp hình (về sau có đăng trong báo Life). Mecklin thì gọi điện thoại đến nhà tôi tả rõ nội vụ. Tôi nhờ Mecklin cho gặp Trình Minh Thế và ông Hoài thông dịch viên. Tướng Thế cho tôi biết anh em trong Hội Đồng đang lúng túng không biết phải làm gì tiếp, vì quân đội đã kéo đến Dinh. Tôi bảo ông Thế rằng tình trạng này rất nguy hiểm nếu ông ta dính líu vào vụ này và đề nghị ông ta mời hội đồng ra khỏi Dinh ngay lập tức. Nếu ông ta muốn, có thể đưa cả Hội Đồng đến nhà tôi dùng cơm. Tướng Thế cho biết họ sẽ lại ngay và chuyển máy cho ông Diệm. Ông Diệm cho biết ông vẫn bình an, Hội Đồngđã ra về nhà tôi và ông phải giải quyết tình hình mau lẹ. Ông đã yêu cầu Tướng Vỹ hoặc ở lại ăn cơm với ông hoặc đi về ngay cùng lúc với phe Hội Đồng Cách Mạng. Dù cách nào, ông Diệm cũng không nhận lệnh gì qua ông Vỹ hoặc bất cứ ai khác trong lúc này.

Các nhân vật trong Hội Đồng Cách Mạng một lát sau đã đến nhà tôi. Người nấu bếp của tôi phải vội vã sửa soạn cơm nước bằng cách vay tạm đồ ăn của hàng xóm. Chúng tôi ăn một bữa cơm thường, ngồi chung quanh phòng, vừa ăn vừa nói chuyện. Sau khi nghe các nhà Cách mạng hăng hái này phát biểu, tôi khuyên họ nên dự liệu một kế hoạch thận trọng hơn cho tương lai và đề nghị họ nên khôn khéo đoàn kết với Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia. Bề nào thì những người Quốc gia cách mạng VN cũng nên làm việc chung với nhau một tập thể. Sau bữa cơm họ ra về và cho biết họ sẽ tổ chức một phiên họp kín. Sau đó tôi được biết họ đã viết một tuyên ngôn này và khoảng nửa đêm thì họ đem in tuyên ngôn này vào truyền đơn. Nhưng vì những biến cố trong ngày 3 tháng 5, nên chỉ có một nhúm truyền đơn này được đem phổ biến.

Sáng ngày 3-5-55 Tướng Collins họp toán chuyên viên về các vấn đề bản xứ gồm các nhân viên chính yếu của Tòa Đại sứ Mỹ. Ông vắng mặt ở Saigon đã 2 tuần và ông mở đầu buổi họp với nhận xết rằng ông thấy mọi người chúng tôi đã hoàn toàn thay đổi thái độ từ sau ngày ông về Mỹ. Rõ ràng là có kẻ nào đó đã xúi giục một cuộc cách mạng ngay trong số những người Mỹ ở đây. Khi tôi hỏi ông muốn ám chỉ vấn đề gì thì ông lịch sự từ chối giải thích nhận xét ấy. Sau đó ông cho chúng tôi biết các chỉ thị về chính sách hiện tại của Mỹ đối với VN vừa được chuyển đạt cho ông qua một điện văn khi ông về đến Sàigòn. Chúng tôi phải ủng hộ ông Diệm trong cuộc khủng hoảng hiện nay. Chúng tôi phải làm dịu bớt không khí bài Pháp của người VN. (Thời gian này đã có nhiều dấu hiệu biểu lộ sự công khai chống đối người Pháp ở Saigon. Về phía người Pháp, hình như họ không biết đến sự liên hệ thái độ của họ với phản ứng của người Việt. Họ tin rằng, như một phép lạ, tôi là người chịu trách nhiệm về vị thế chính trị đáng buồn của họ. Một vài người còn cho rằng tôi đang cố châm ngòi cuộc Đại CHiến Thế Giới thứ Ba).

Chiều 3-5-1955 bất ngờ Tướng Trình Minh Thế đến nhà tôi. Ông phải giải quyết một vấn đề quan trọng. Vừa nói ông vừa trải tấm bản đồ trên bàn ăn. Khi vuốt cho phẳng tấm bản đồ, vết thương sâu thấu thịt trên tay ông chảy máu. Tôi băng bó bàn tay cho ông trong khi ông nói chuyện.

Ông cho biết vẫn được lệnh bọc hậu quân Bình Xuyên, chận đường rút của họ về những cứ điểm ở vùng hạ lưu con sông: Tuy nhiên sáng hôm ấy quân đội đã bảo ông giữ sườn phía trái bằng hai Tiểu đoàn của ông trong lúc quân đội vượt sông để đánh bật quân Bình Xuyên ra khỏi các vị trí ở các quận và khu ngoại ô sát mặt nam đô thành. Họ sẽ phải vượt qua 2 con rạch để rồi tiến qua quốc lộ l5 xuống Nhà Bè, ở xa về phía sau lực lượng Bình Xuyên.

Tướng Thế và quân sĩ của ông đã di chuyển qua các vị trí của lính Pháp trong đô thành và đến cầu Tân Thuận. Bình Xuyên có một đồn ngay dưới chân cầu. Trình Minh Thế đã điều động khoảng nửa Tiều đoàn qua cầu để tấn công đồn này thì 3 chiếc giang đĩnh của Bình Xuyên xuất hiện xả súng bắn lên cầu, khiến cho rất nhiều người thương vong. Cuộc vượt sông phải ngưng lại. Làm cách nào có thể hạ nổi những giang đĩnh này ? Lính của ông giờ này đang chết ở ngoài ấy.

Tôi nói rằng ông cần có trọng pháo để vừa thanh toán các giang đĩnh ấy vừa yểm trợ cho cuộc tấn công đồn. Ông cho biết đã đến bộ chỉ huy lực lượng chính phủ xin nhưng được trả lời rằng hiện giờ không có lấy một khẩu súng nào có thể để ông xử dụng được. Có thể ông phải tiếp tục tấn công mà không có trọng pháo yểm trợ. Sau đó khi có thể được thì quân đội sẽ cố đem trọng pháo đến yểm trợ cho ông.

Tôi hỏi ông thứ súng lớn nhất mà ông có là loại nào. Ông cho biết: có 2 xe thám thính với súng đại liên 50. Đó là loại vũ khí lớn nhất của ông. Tôi nói với Tướng Thế rằng ông nên xử dụng tối đa khả năng của số vũ khí này như một biện pháp tạm thời cho đến khi xin được trọng pháo yểm trợ. Súng đại liên 50 phải tập trung hỏa lực vào tấm thép bảo vệ khẩu đội trên giang đĩnh. Nếu có thể, tướng Thế nên ráng kiếm vài khẩu phóng hỏa tiễn của quân đội để tăng cường cho hỏa lực đại liên. Dưới sự che chở của các loại hỏa lực này, ông nên có gắng đem binh sĩ ra khỏi vị trí nguy hiểm ở trên cầu. Khi đã tập trung lại được quân sĩ, ông phải xin trọng pháo yểm trợ trước khi định tiến quân qua lộ trình dài và lộ liễu ấy lần thứ nhì.

Tướng Thế gật đầu đồng ý. Chúng tôi phấn khởi ôm lấy nhau. Ông chạy ra đường nhảy lên chiếc xe jeep phóng đi. Tôi cũng chạy ra xe của tôi và lái nhauh đến dinh Độc Lập.

Đến Dinh, tôi bước vào giữa lúc có cuộc họp giữa ông Diệm và một nhóm sĩ quan VN. Trong số này có tướng Tỵ, Đại tá Đôn cũng như hai vị chỉ huy mặt trận đánh Bình Xuyên là Minh nhỏ và Minh lớn. Họ đều có vẻ vui mừng. Quân đội đã tiến qua Kinh Đôi ở Chợ lớn và quân Bình Xuyên đang chạy trốn. Họ hỏi tôi có mừng cho họ không ? Tôi trả lời không, chưa mừng được. Trong lúc họ đang quây quần tất cả ở đây để ca tụng lẫn nhau thì cuộc tấn công của họ qua Kinh đang bị thảm bại vì họ không chịu cung cấp hỏa lực yểm trợ bằng trọng pháo cho cánh quân này.

Tôi lưu ý họ rằng như họ đã biết, tôi bị cấm ngặt không được chỉ dẫn cho họ điều gì. Tuy nhiêu lệnh cấm ấy không cấm được tôi kể chuyện cổ tích cho họ nghe. Bây giờ xin nghe câu chuyện này. Ngày xưa có một vài cấp chỉ huy VN ngồi uống trà với ông xếp của họ và kể cho ông xếp nghe họ đã thành công tốt đẹp như thế nào trong khi đáng lẽ họ nên di chuyển một trong những pháo đội ở dinh Độc Lập hay ở trước tư dinh vị Tham Mưu Trưởng, hoặc ở sân bộ T.T.M. để yểm trợ cho Trình Minh Thế ở cầu Tân Thuận. Đơn vị của Tướng Thế là đơn vị duy nhất trong toàn thể mặt trận phải đụng độ với các loại súng lớn được lớp vỏ sắt che chở. Đây cũng là đơn vị duy nhất không được pháo binh yểm trợ. Các vị chỉ huy quân sự sẽ bị dân chúng kết án. Dân chúng sẽ nổi giận khi nghe được chuyện này. Hiện giờ, tôi rất tức giận về việc ấy và mong mỏi các vị sĩ quan hiện diện hãy làm nốt phần kết cục câu chuyện cổ tích vừa kể.

Khi tôi ngưng nói, mọi người im lặng một cách kinh ngạc. Ông Diệm phá tan sự im lặng ấy bằng cách bảo ông Minh nhỏ đem pháo binh giúp cho Trình Mình Thế ngay lập tức. Ông Minh vội đi ngay và những người khác cũng ra về. Tôi tỏ ý vui mừng về vụ tiến quân qua Kinh Đôi. Họ nhìn tôi có vẻ do dự. Tôi đã vô cùng tức giận khi tôi xen ngang vào cuộc họp. Tôi đoan chắc với họ rằng tôi vui mừng đối với các thành quả vừa qua. Tuy nhiên, còn khá lâu họ mới thắng trận này và bây giờ chưa phải lúc nghỉ ngơi.

Ông Diệm bảo tôi ở lại nói chuyện với ông. Chúng tôi sang phòng khách nhỏ có chiếc ghế dài và mấy cái ghế bành lớn để khá xa nhau khó nói chuyện. Vì vậy tôi mời ông cùng ngồi trên ghế dài. Ông Diệm mở đầu câu chuyện, nói rằng chưa bao giờ ông thấy tôi nổi giận như lúc nãy. Dầu sao Trình Minh Thế cũng là một quân nhân là phải chịu nguy hiểm cùng với những người khác ở mặt trận. Tôi không nên quá lo lắng đến công việc của ông ta. Dù Trình Minh Thế là một người bạn, thì ông ta cũng chỉ là một trong nhiều người VN bạn của tôi và có lẽ ông ta không có học vấn cũng như kinh nghiệm bằng một vài người khác. Tôi bảo ông Diệm không nên nói như vậy. Lời nói ấy sẽ dẫn đến chỗ khiến ông nói thêm một vài điều gì đó làm cho tôi bực tức trở lại. Trình Minh Thế đã ủng hộ ông trong lúc những người học thức và kinh nghiệm còn lưỡng lự. Hiện giờ, ông ta đang chịu những nguy hiểm đến mạng sống của mình cho ông Diệm. Tình thân hữu của Trình Minh Thế có giá trị hơn tất cả loại thân hữu chỉ biết phù thịnh. Hơn thế nữa kẻ nào đó ngu xuẩn một cách đáng kết tội đã làm quân sĩ của Tướng Thế chưa được huấn luyện đầy đủ, chưa được trang bị đầy đủ, xử dụng vào một cuộc tấn công qui mô mà không có hỏa lực yểm trợ. Đó là cách xử dụng rất sai lạc khả năng của du kích quân Liên Minh.

Ông Diệm thay đổi câu chuyện. Ông kể tôi nghe rất chi tiết và rất dài về tất cả những hoạt động cách mạng tiến triển trong giới người quốc gia. Ông cho tôi biết tiểu sử vắn tắt của một số lãnh tụ. Người thì từng tham gia trong phong trào Đệ Tứ Quốc Tế, người thì đã làm cán bộ chính trị cho Việt Minh. Thấy tôi có vẻ chú ý, ông Diệm một mình kể tiếp hơn 2 tiếng đồng hồ về các nhà cách mạng VN. Lúc ông nói thì trời đã tối. Đèn trong Dinh bật sáng. Tôi nhắc ông Diệm rằng ông còn nhiều việc phải làm và tôi cũng vậy. Tôi vừa đứng dậy toan cáo từ thì ông Nhu bước vào.

Ông Nhu bước thẳng đến trước chỗ tôi và ông Diệm ngồi, đứng yên lặng nhìn chúng tôi một lúc. Cuối cùng ông nói nhỏ nhẹ : “ Trình Minh Thế chết rồi. Ở trên cầu. Tôi vừa nghe tin”. Nghe thấy thế, tôi xúc động vô cùng. Tôi không nghe nổi hết những lời ông Nhu nói rằng ông đã phối kiểm cẩn thận mọi chi tiết trước khi cho chúng tôi biết Trình Minh Thế bị trúng đạn nơi phía sau tai do một viên đạn súng trường. Suy từ góc độ của đường đạn đi thì thủ phạm ở một nơi phía sau và trên cao. Binh sĩ tại đây nói rằng thủ phạm phải là một lính bắn tỉa. Có dư luận cho rằng đó là lính bắn tỉa Pháp tại một vị trí phòng thủ của quân Pháp ở gần đó.

Ông Nhu ra khỏi phòng. Ông Diệm và tôi ngồi trên ghế không nói một lời nào. Tôi đứng dậy ra về để tìm chỗ vắng vẻ một mình mà nghĩ đến nỗi buồn này. Tôi quay sang bảo ông Diệm: “Chúng ta đã mất một người bạn chân thành”. Tôi không thể nói gì hơn. Ông Diệm nhìn vào mặt tôi rồi khóc. Những tiếng nấc lớn làm rung động thân hình ông. Tôi ngồi lại xuống ghế và ôm lấy ông. Ông xin tôi tha lỗi những điều ông đã nói về Trình Minh Thế trước đấy. Tôi nói thực ra không có gì phải cho tôi tha lỗi, nhưng ông phải luôn luôn ghi nhớ: Bạn thành thật thì hiếm có. Không bao giờ nên bỏ rơi những con người bất vụ lợi phục vụ cho tự do. Tôi và ông Diệm ngồi trên ghế, im lặng, cho đến khi ông Diệm lấy lại được bình tĩnh. Sau đó tôi trở về nhà. Những giọt nước mắt làm cho tôi không còn nhìn thấy đường lái xe.

Ngày 4-5-55 đám tang Trình Minh Thế được tổ chức ở Saigon và ở Tây Ninh, với hàng ngàn người tham dự. Ông được nhiều cảm tình của dân chúng VN. Cùng với bạn ông là Lê Khắc Hoài, tôi đã xin chính phủ VN cấp dưỡng cho vợ con ông. Đứa con lớn là Nhứt 6 tuổi, một bé gái nhỏ hơn là Thu và đứa con trai út là Châu. Đứa thứ 4 đã đến ngày sanh chưa biết lúc nào. Thực sự khi chết, Trình Minh Thế không có lấy một đồng xu.

Tôi ở bên cạnh gia đình ông khi an táng ông ở Núi Bà Đen, ngọn núi thân yêu của ông, bên cạnh các chiến sĩ đã ngã gục cùng ông trên cầu Tân Thuận. Binh sĩ của ông quỳ trên sườn núi dưới ngôi mộ sau các lùm cây và sau lớp sương mù, hát những câu tôi không được hiểu. Ông Hoài bảo tôi rằng họ đã nhận tôi làm đồng chí, tôi là người mà vị lãnh tụ quá cố của họ đã coi như anh em. Tôi yêu cầu họ hãy tỏ ra chân thành với niềm tin tưởng của Tướng Thế và hãy hết lòng phục vụ quốc gia.

Sáng ngày 4-5-55 giữa lúc ở Saigon còn xúc động vì cái chết của Trình Minh Thế đang lên cao, ông Diệm tỏ ý nhất định ở lại nắm chính quyền. Ông triệu tập hội đồng nội các để thông qua các sắc lệnh cất chức tướng Vỹ, hủy bỏ cấp Thiếu Tướng Quân Đội VN của Bảy Viễn và tịch thu tài sản của các lãnh tụ Bình Xuyên. Tiền bán đấu giá các tài sản này được xung vào quỹ xây nhà cho nạn nhân hỏa hoạn và các chương trình cứu trợ tương tự khác (Các tài sản này gồm nhiều khách sạn, hộp đêm, xe vận tải và một số xe cộ bị lấy cắp được tìm ra trong các sào huyệt của Bình Xuyên). Một sắc lệnh khác ngày 4-5-55 cho ông Diệm được quyền đặt bất cứ sĩ quan nào trong quân đội vào tình trạng nghỉ dài hạn khi thấy cần thiết; việc loại trừ những kẻ chống chính phủ bắt đầu từ đấy.

Qua đài truyền thanh, ông Diệm nói rằng Bình Xuyên đã bị đẩy ra khỏi đô thành. Bây giờ quân đội và dân chúng đã hợp tác với nhau trong nỗ lực chung, nên đô thành không còn bị đe dọa nữa. Tướng Vỹ đã tìm cách đâm sau lưng quân đội khi họ chiến đấu bảo vệ dân chúng, vì vậy tướng Vỹ phải đi khỏi VN.

Đến ngày 9 tháng 5 thì tất cả lực lượng Bình Xuyên không còn ở trong khu vực thủ đô và hàng ngàn lính Bình Xuyên còn lại đã rút lui về vùng sào huyện cũ trong khu sình lầy Rừng Sát. Lực lượng cuối cùng của Bình Xuyên ở Saigon trước đó đóng ở nhà Bưu điện, Tổng Nha Cảnh Sát, Ngân Hàng Quốc Gia là những vị trí nằm trong khu vực an toàn của quân đội Pháp. Khi người Pháp báo cho biết họ sẽ giảm bớt sự hạn chế (không cho quân đội VN vào khu vực Pháp) thì tôi đang nói chuyện với ông Diệm ở cửa vào dinh Độc Lập. Cả hai chúng tôi đều ngạc nhiên khi thấy Thiếu tá Huỳnh văn Cao, Sĩ quan trong đơn vị phòng vệ dinh Độc Lập từng được huấn luyện đặc biệt tại Tiểu đoàn phòng vệ Phủ Tổng thống Phi Luật Tân ở dinh Malacanang (Manille), chạy qua chỗ tôi đứng, nhảy lên xe jeep ra cổng lấy 3 người lính gác và chở họ chạy đi. Hai mươi phút sau ông Cao trở về. Ông Diệm hỏi tại sao ông Cao đi vội vã như vậy. Ông Cao nói vì được biết người Pháp chấm dứt các biện pháp hạn chế về an ninh nên ông chợt nhớ ra rằng lính Bình Xuyên vẫn còn trấn giữ các cứ điểm tại nhiều công thự. Ông ta cùng một nắm lính đã chạy xe đến các vị trí này và yêu cầu lính Bình Xuyên đầu hàng. Họ đã nghe lời ông. Đó là một phản ứng mau lẹ và một sáng kiến hay. Ông Diệm liền thăng cấp cho ông Cao.

Sau nhiều ngày chiến đấu trong vùng sình lầy, binh sĩ phải cột mình vào cây tràm để đầu và vai ở trên mặt nước mà ngủ vào ban đêm và với không lực thô sơ của VN cố gắng yểm trợ Bộ Binh bằng cách dội bom biến chế trên những phi cơ loại nhẹ dùng để huấn luyện, tàn quân Bình Xuyên ở Rừng Sát đầu hàng, Bảy Viễn và nhiều lãnh tụ khác trốn thoát bằng thuyền và sau cùng tìm được đường sang Pháp.

Ghi chú vui của tác giả :

Người làm của tôi là Phạm văn Tý, theo tục V.N có hai vợ. Cả hai vợ cùng ở với anh ta và giúp anh ta trông nom nhà cửa cho tôi. Tôi rất lấy làm thích thú và cũng rất sợ hãi vì cái bảng phân chia nhiệm vụ của ông chồng đối với hai bà vợ dán ngay trước của nhà họ. Bảng này được kẻ thành những ô ghi giờ anh ta được phép rảnh rang. Ô ghi tên người vợ ngủ với anh ta đêm đó, ô ghi ngày ấy anh ta ăn cơm với bà nào, v.v… Anl ta bị phân phối một cách phức tạp cho hai bà vợ trong một thời khóa biểu rất bận rộn. Dù bị mất thì giờ và sức lực, nhưng anh ta vẫn giữ được sự vui

« Lùi
Tiến »