Đối với hành khách đến bằng phi cơ ngày 10-5-55, Saigon có một bộ mặt méo mó và dơ dáy. Phi cơ đến nơi bay trên tàn quân Bình Xuyên chạy về phía hạ lưu con sông, trên nhà cửa đổ nát vì chiến trận, trên những chiến xa và binh lính Pháp hỗn độn ngoài đường phố và trên những vùng tro tàn màu đen ở các quận thuộc Chợ Lớn nơi vừa có trận hỏa hoạn lớn thiêu hủy. Trong số hành khách đến đây có George Frederick Reinhart – tân Đại Sứ Hoa Kỳ. Là một nhân viên ngoại giao chuyên nghiệp, ông đến đây thay thế đặc sứ của Tổng thống – Tướng J.Lauton Collins. Quả thật Hoa Kỳ đã không còn muốn tìm cách giải quyết những vấn đề rắc rối ở VN một cách mau chóng và giản tiện qua một cộng sự viên uy quyền của Tổng thống , mà đi một đường lối khác theo qui tắc thông thường qua công tác ngoại giao chuyên môn.
Thời gian này ông Diệm chỉ biết rất ít về việc thay đổi các nhân vật Mỹ tại Saigon. Ông bị bận bịu về những vấn đề quân sự, những vấn đề đã dạy ông nhiều bài học trong những ngày vừa qua. Dù rằng các lực lượng Bình Xuyên thực sự sắp bị tiêu diệt nhưng đồng minh của họ là các “quâa đội” Hòa Hảo của Trần Văn Soái và Ba Cụt đã chận ngang đường sông Cửu Long và sông Bassac, đã bao vây các thành phố vùng phía Nam, đã cố gắng mở đường rút cho quân Bình Xuyên bại trận nhưng không thành công. Ông Diệm tỏ ra dữ dằn trong việc giải quyết vấn đề các giáo phái còn chống đối ông. Khi tôi nhắc đến bài diễn văn truyền thanh mới đây để nói về việc ông cần phải chiến thắng một cách đại lượng, thì ông chỉ vắn tắt trả lời rằng ông đâu đã chiến thắng.
Ông Diệm thực sự làm công việc của một vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia. Ông điều động các tiểu đoàn, thay đổi các cấp chỉ huy, nắm vững số lượng chính xác các đơn vị hỏa lực của mỗi tiểu đoàn có thể sẽ phải tham chiến và biết rõ những chi tiết chính xác về tư cách của nhiều người trong các đơn vị chiến đấu. Ông trauh luận từng điểm với các cấp chỉ huy quân đội Pháp về việc nhượng lại quyền kiểm soát trong các trục giao thông thủy bộ để ông chuyển quân, về việc chỉ huy và trang bị giang lực, về sự hiện diện của các quân nhân Pháp trong các lực lượng đối lập và về phẩm chất đạn dược tiếp tế cho quân đội quốc gia. Ông nghĩ rằng người Pháp tiếp tế loại đạn dược tốt hơn cho địch thủ của ông. Một lần ông chất vấn một tướng lãnh Pháp về việc Ba Cụt có lẽ cũng được trợ giúp như vậy. Viên tướng này giận dữ trả lời : “Không thể có chuyện ấy. Chúng tôi xử dụng loại đạn ghi dấu sản xuất năm 1949 và 1950”. Ông Diệm quật lại :“ Một số đạn ghi 1951. Ba Cụt bắn chúng tôi bằng đạn 1954. Đó là điều được cho rằng không thể có”.
(Mấy tháng sau khi Thủ Tướng Miến Điện U Nu sang thăm VN, tôi hỏi ý kiến ông Diệm đối với vị quốc khách. Ông Diệm cho rằng U Nu có vẻ không đủ bản chất cần thiết để cầm quyền ở Đông Nam Á trong thời gian này. Bản chất ấy là cái gì ? Ôug Diệm bảo tôi:“U Nu không biết tí gì về quân đội của ông. Ông ta không thể nói được cho tôi biết quân đội của ông có bao nhiêu người, bao nhiêu tiểu đoàn và có loại súng nào”).
Ngày 13-5 tướng Soái đưa đề nghị hòa hoãn với ông Diệm. Lực Lượng Hòa Hảo của ông ta sẽ chấp nhận trung thành với Chính Phủ nếu ông Diệm chịu cấp l7 trệu để giải quyết tiền nợ lương binh sĩ và sau đó trợ cấp cho lực lượng của ông bốn triệu rưỡi đồng bạc mỗi tháng. Ông Diệm trả lời thẳng thừng rằng việc Trần Văn Soái chận ngang đường sông; đã làm thiệt hại kinh tế quốc gia, và ông không chịu trả số tiền ấy. Tướng Soái cho binh sĩ đào giao thông hào trong thành của ông ta ở Cái Vồn. Ba Cụt mang quân vào đóng trong thành này. Quân Hòa Hảo ở đây bắn súng cối vào Cần Thơ. Qua những lời tuyên bố công khai, quả thật các lãnh tụ Hòa Hảo vẫn còn tin chắc họ sẽ có thể đánh bại quân Đội VN và ông Diệm.
Ông Diệm liền hành động. Ông điều động l.500 lính của Trung đoàn Ngự Lâm Quân xuống chiếm đóng các vị trí chống lại phe Hòa Hủo ở Cái Vồn. Đó là một đòn tâm lý khéo léo. Soái và Ba Cụt với tư cách những người ủng hộ Bảo Pại, đã tuyên bố chống ông Diệm thì bây giờ ông Diệm lại gửi trung đoàn của Bảo Đại xuống đánh họ. (Trung Đoàn này do Tướng Vỹ mang từ Dalat về Saigon trong mưu toan bất thành nhằm lật đổ ông Diệm. Khi mưu toan này thất bại, ông Diệm đã thay thế các sĩ quan trong trung đoàn và thuyết phục được trung đoàn này đứng về phía mình). Hành động của ông Diệm làm cho hầu hết mọi người ở Nam VN thấy rõ ràng là ông cương quyết nắm quyền lãnh đạo.
Soái và Ba Cụt gửi thơ đến Giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc hiện vẫn giữ danh nghĩa đứng đầu Mặt Trận Giáo Phái Thống Nhất, nói rằng họ cần được quân đội Cao Đài trợ lực trong cuộc chiến đấu chống ông Diệm. (Quân đội Cao Đài trước kia dưới quyền Nguyễn Thành Phương vẫn trung thành với chính phủ và đã được đồng hóa vào quân đội quốc gia). Vì vậy Giáo chủ Phạm Công Tắc phong Lê Văn Tất lên cấp Tướng và giao cho ông này thành lập một quân đội Cao Đài mới.
Qua những câu chuyện tôi nghe được thì người Pháp đang khuyến khích về việc làm sống lại quân đội Cao Đài để chống ông Diệm. Ông Diệm nói với tôi rằng có một tướng lãnh Pháp đã đến thăm Giáo chủ Phạm Công Tắc ở Tây Ninh. Khi tôi góp ý kiến rằng có thể ông tướng Pháp ấy đến để can gián Giáo chủ Phạm Công Tắc thì ông Diệm bảo rằng ông biết tôi không đến nỗi ngây thơ như vậy. Hai sĩ quan Pháp khác đã hữu hiệu hóa cuộc thăm viếng của ông tướng ấy bằng cách trao một món tiền lớn cho Giáo chủ Phạm Công Tắc. Sau khi nghe ông Diệm nói chuyện này, tôi hỏi riêng Tướng Nguyễn Thành Phương. Phương xác nhận vụ tiếp xúc của hai sĩ quan Pháp và cho tôi tên hai người này. Nếu tướng Phương chịu đem quân của ông theo lực lượng Cao Đài mới này, họ sẽ biếu ông một triệu đồng, số tiền này đã được trưng ra cho ông thấy với mục đích dụ dỗ. Tướng Phương đã thẳng tay bác bỏ. Lòng thương nhớ Trình Minh Thế còn quá mạnh khiến ông không thể đi ngược lại con đường mà cả hai người đã coi là tốt đẹp nhất cho đất nước.
***
Trong khi cuộc đụng độ diễn ra ở vùng thôn quê thì tại thủ đô mọi người rất giao động. Nhiều người Âu không thích chính phủ ở Saigon đã lầm tưởng rằng chắc chắn ông Diệm sẽ bị lật đổ bởi phe đối lập. Khi tình hình xảy ra ngược lại thì họ tỏ vẻ giận dữ cực độ. Dĩ nhiên ông Diệm là mục tiêu chính, nhưng những đòn phép còn nhắm cả vào người Mỹ một cách tổng quát và đặc biệt là nhắm vào tôi. Đó là một trường hợp chơi xấu nhau của loài người mà tôi không bao giờ quên được.
Một phần sự giận dữ nói trên lộ ra qua báo chí. Nhiều phóng viên Pháp và Anh đã thêu dệt những chuyện quá đáng về các biến cố mới xảy ra ở Saigon. Bây giờ họ phải che đậy những sự sai lầm của họ bằng những bài bình luận giật gân, mà bài nhẹ nhàng nhất cũng vẫn còn lập luận rằng Bảo Đại nên lập một chính phủ liên hiệp có Bình Xuyên tham dự, và đó là cách duy nhất để cứu vãn tình hình VN. Họ tạo một hình ảnh về ông Diệm như là một con người nhỏ bé thiếu may mắn, bàn tay đã nhúng vào máu những người vô tội. Tôi là người Mỹ làm quân sư đằng sau ông Diệm, tất nhiên không thể là một kẻ lương thiện, và không thể là một người khôn khéo. Những bài này xuất hiện trên những tờ báo Anh – Pháp có tiếng và được tung trở lại Saigon qua các hãng tin làm khuấy động tâm lý mọi người lần nữa. Dư luận ấy được tự nuôi dưỡng.
Cuộc tấn công của báo chí còn có thể chịu đựng dù nó có đổi sang một phương thức đáng ghê tởm hơn. Điều xảy ra kế tiếp đó thì không chịu nổi. Một nhóm người Pháp bất mãn ở Saigon đã tiến hành một chiến dịch khác khủng bố độc ác nhắm vào Mỹ Kiều. Nào lựu đạn ném vào trong sân nhà người Mỹ ban đêm. Nào xe cộ của người Mỹ bị phá hoại hoặc bị gài bẫy. Các viên chức an ninh Pháp chỉ ngọt ngào thông báo cho các viên chức Mỹ rằng các vụ khủng bố ấy là hành động của Việt Minh và những người VN khác để trả đũa việc người Mỹ can thiệp vào công chuyện của người VN. Người Việt Nam căm thù người Mỹ chứ không căm thù người Pháp.
Các bà các cô làm ở tòa Đại Sứ Mỹ đến nhờ tôi chỉ dẫn và giúp đỡ. Một người đàn bà sống một mình ở một thành phố ngoại quốc phải làm gì khi có quả lựu đạn nổ ở cửa vào lúc nửa đêm ? Làm sao biết chắc rằng xe của mình không bị gài mìn trước khi mở máy ? Để giải đáp các câu hỏi này, nhân viên thuộc quyền tôi đã mở một lớp hướng dẫn riêng tại văn phòng ở đường Taberd. Tại đây chúng tôi biều diễn cho các cô gái Mỹ cách đề phòng mìn bẫy và lựu đạn. Một trong số học viên là Anita Lauve, nhân viên chính trị tòa Đại sứ. Những bài học chúng tôi dạy khôn đủ giúp cô ta. Sáng sớm hôm sau chiếc xe của cô đậu ngoài đường trước nhà phát nổ. Cô ta quên cả thận trọng để nguyên bộ đồ ngủ mà đuổi theo bọn thủ phạm trên đường phố và rất giận dữ khi không thể bắt được chúng.
Hiển nhiên là tôi có ở trong danh sách bị thanh toán. Khi lái xe ngoài phố tôi được hoan nghênh bằng những tiếng đạn vút qua trên đầu hoặc bất ngờ bị ném bể kính xe. Tôi đã suýt chết vào một buổi sáng nọ. Một người Pháp có ria mép giống tôi đậu chiếc xe giống hệt xe tôi trước một căn nhà trong khi ông ta ngủ đêm ở căn nhà bên kia đường. Đến sáng ông ta vừa lái xe ra đổi chỗ đậu thì một chiếc xe núp ở góc phố chạy tới bắn một loạt tiểu liên vào ông ta khiến ông ta chết và chiếc xe thủng nhiều lỗ. Cảnh Sát điều tra cho biết thủ phạm đã lầm nạn nhân với tôi.
Sau đó tôi nhận được nhiều tin tức về lý lịch của số người Pháp bất mãn trong đám khủng bố này. Một vài tên là cộng tác viên của viên Đại tá Pháp Tham mưu trưởng T.R.I.M, người không chịu nói chuyện trực tiếp với tôi. Khi đến phái bộ T.R.I.M sáng hôm ấy, tôi vào gặp ông ta. Như thường lệ tôi nói chuyện với ông ta qua người phụ tá. Tôi cho ông ta biết vụ một người Pháp chết vì bị nhận lầm là tôi và tôi đã được biết danh tánh thủ phạm Cái trò hề độc ác này đã đi quá xa, tôi nói thêm một cách tức tối : “Tôi báo để ông biết là tôi sẽ thôi không bảo vệ Quân Đoàn Viễn Chinh Pháp nữa. Nên nhớ rằng các ông ở xa nước Pháp l0 ngàn dậm. Bất cứ điều gì xảy đến với các ông từ nay trở đi tùy thuộc ở các ông”.
Đêm đó những lời nói ấy của tôi có một ý nghĩa nghiêm chỉnh khi những trái lựu đạn nổ rung chuyển tư gia bọn chủ mưu phá hoại của những người Pháp bất mãn. Đồng thời 3 sĩ quan cấp úy quân đội Pháp bị Cảnh sát VN bắt quả tang với chất nổ trên xe jeep và một danh sách những người Mỹ bị coi là mục tiêu. Ba sĩ quan này bị giam lại. Tôi đề nghị với ông Diệm giữ ba người này cho đến khi Tướng Ely đích thân xin cho họ ra. Tôi chắc chắn rằng Tướng Ely không được biết những việc làm sai lầm của bọn chủ trương căm thù trong quân đội của ông. Làm như vậy là cách rất tốt để chỉ cho ông ta thấy rõ. Ông Diệm liền cho lệnh giữ những người ấy lại đến khi có lệnh mới.
Sáng ngày hôm sau, tôi bị tòa Đại sứ khiển trách. Giấy tờ chính thức đã thông báo việc tôi đe dọa rút lại sự bảo vệ đối với Quân Đoàn Viễn Chinh Pháp. Hành động của tôi trái với chính sách thân thiện của Hoa Kỳ đối với đồng minh Pháp. Tôi ngửa mặt trả lời rằng nếu người Pháp còn tiếp tục tìm cách khủng bố người Mỹ, thì ban tham mưu của tôi gồm tôi và 8 người sĩ quan Mỹ khác nhất định từ khước không “bảo vệ” Quân Đoàn Viễn Chinh Pháp gồm 800 người. Tuy nhiên tôi mong muốn điều đình với ngườì Pháp. Sau đó tôi trình cho ông Đại sứ rõ việc 3 sĩ quan cấp úy Pháp bị bắt quả tang đêm trước và trường hợp họ bị giam.
Tướng Ely được thông báo về vụ này. Ông ta đến nói với ông Diệm về trường hợp của họ và họ được tha. Đổi lại, bọn bất mãn phá hoại kia bị áp dụng kỹ luật. Việc khủng bố chấm dứt.
Cuói tháng 4, nước Pháp đồng ý di chuyển khoảng 80 ngàn quân Viễn Chinh ở những trại và đồn bót vùng Sàigòn và đưa đến đóng tại vùng chuẩn bị lên tàu gần bờ biển. Lính và chiến xa Pháp ra đi thì sự căng thẳng tinh thần cũng đi theo ra khỏi đô thành. Lần đầu tiên sau 90 năm ngoại trừ một lúc gián đoạn năm 1954, người VN mới được kiểm soát Saigon.
Saigon lại trở về tình trạng bình thường, một nhóm phóng viên Pháp đã đến đây để thăm viếng. Vì các chủ nhiệm và chủ bút đã tỉnh ngộ về tình hình VN nên họ phải gửi các ký giả tại tòa báo sang VN tìm hiểu sự thực. Những bài tường thuật trung thực này làm cho những huyền thoại nóng bỏng hồi trước tắt lịm. Tôi có đến gặp họ theo lời họ yêu cầu. Phần lớn các câu hỏi xoay quanh vấn đề tại sao người Việt đã có thái độ bài Pháp trong thời gian vừa qua. Tôi trả lời đó là do một số người Pháp ở đây đã làm sai châm ngôn của người Pháp. Họ hỏi:“Châm ngôn nào ?” Tôi trả lời : “Tự Do – Bình Đẳng– Bác Ái. Khi nào người Pháp đối với người VN như những người anh em tự do và bình đẳng, thì vết thương ấy sẽ được hàn gắn ”.
***
Chiến Dịch chống loạn quân Hòa Hảo của Trần Văn Soái và Ba Cụt đi tới giai đoạn kết thúc vào cuối tháng 5. Chiến dịch này được thực hiện theo khuôn mẫu của những cuộc hành quân “an ninh quôóc gia” đã áp dụng cho việc tiếp thu nhữug vùng của Việt Minh trước kia, với sự chú trọng đặc biệt về những biện pháp chính trị, tâm lý, xã hội và kinh tế cũng như vấn đề quân lực. Trung Tá Dương văn Minh được thăng cấp và được cử làm Tư lệnh Chiến Dịch; ông Nguyễn Ngọc Thơ được cử làm cố vấn chính trị và phụ tá cho ông Minh.
Kết quả của chiến dịch là các lực lượug loạn quân đầu hàng rất nhiều sau những hoạt động mạnh mẽ của quân đội, chỉ còn một số ít loạn quân trong các nhóm nhỏ đã chạy trốn. Thôn quê được yên ổn sau một thời gian ngắn, ông Minh và ông Thơ do đó được nổi tiếng.
Chiến dịch bắt đầu bằng sự ủng hộ của quần chúng ở vùng trung tâm Hòa Hảo là tỉnh Long Xuyên do tướng Hòa Hảo Nguyễn Giác Ngộ. Khoảng 50 đến 60 ngàn người biểu tình ủng hộ chính phủ trưng cờ và biểu ngữ ghi: “Ngô Tồng Thống muôn năm” và “Đả đảo Bảo Đạ”. Rồi sau đó, căn cứ Cái Vồn bị Pháo binh bắn dữ dội và Bộ binh tiến vào thanh toán những gì còn sót lại. Ba Cụt và thuộc hạ bỏ chạy khỏi hầm hố pháo đài trong Cái Vồn trước cuộc tấn công khiến tôi nhớ đến Bedlord Forret chạy khỏi Vicksburg khi thành này bị vây hãm trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Tướng Trần văn Soái cũng chạy khỏi với một số rất ít quân sĩ. Tin tức về vụ thất trận lớn lao này loan đến Tây Ninh. Giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc cùng gia đình và vài cộng sự viên thân tín lưu vong sang Nam Vang.
Soái và Ba Cụt lẩn trốn trong nhiều tháng, bộ hạ tiêu tán. Cuối cùng Soái, đầu hàng chính quyền vào tháng 3-1956, được ông Diệm trợ cấp và cho một ngôi nhà ở Saigon. Còn Ba Cụt thì số phận thảm hại hơn.
Bị quân đội săn đuổi, Ba Cụt gửi điện cho Nguyễn Ngọc Thơ. Ba Cụt sẵn sàng thương lượng và qui định một địa điểm vắng vẻ để gặp một mình Nguyễn Ngọc Thơ. Mặc dầu có thể bị phục kích, ông Thơ đã đến gặp Ba Cụt, nhưng nhận thấy Ba Cụt vẫn đưa ra những đòi hỏi quá đáng làm điều kiện qui hàng. Ông Thơ bác bỏ những đòi hỏi ấy nhưng đồng ý gặp lại Ba Cụt. Cuộc gặp gỡ thứ nhì diễn ra, cũng tại một nơi vắng vẻ vào nửa đêm. Khi nghe chuyện này, ông Diệm đã ra lệnh cho ông Thơ qua máy vô tuyến là chớ nên mạo hiểm như vậy. Ông Thơ yêu cầu sĩ quan truyền tin đừng chuyển diện văn ấy một cách chính thức ngay cho ông và lén đi gặp Ba Cụt để xem Ba Cụt có thay đổi yêu sách không. Tôi gặp ông Diệm đêm hôm đó và thảo luận về sự can đảm của ông Thơ. Ông Diệm tỏ ý không hài lòng và nói : “Ông Thơ là một người liều lĩnh. Liều lĩnh không phải là can đảm như ông muốn nói”.
Vì ông Thơ đã 2 lần bác bỏ, Ba Cụt mới gửi điện cho tôi yêu cầu gặp mặt. Tôi lựa một địa điểm an toàn cho cả đôi bên và nhắc thêm rằng vì kém ngoại ngữ nên tôi phải mang theo thông dịch viên. Khi Ba Cụt chấp nhận, tôi và Joe Redick gặp đám loạn quân Ba Cụt 2 lần. Ba Cụt có những ý nghĩ rộng lớn về vấn đề danh dự, qui chế và tiền bạc mà ông Diệm sẽ dành cho ông ta cùng thuộc hạ để họ ngưng chống đối, và ông ta không chịu giảm thiểu những điều đòi hỏi. Sau cuộc gặp thứ hai, tôi không tiếp xúc với Ba Cụt nữa.
Ba Cụt bị bắt ngày 13-4-56 khi tôi về Hoa Thịnh Đốn để thảo luận nhiều vấn đề khác về VN. Một toán tuần tiểu bất ngờ gặp Ba Cụt. Khi bị bắt, trong túi Ba Cụt còn một cuốn sổ tay đầy những ghi chú về công việc và có cả một câu tiếng Anh mà ông ta ghi là tôi đã nói. Về sau ông Dịệm hỏi tôi có phải thật tôi đã nói với Ba Cụt câu: “Don’t be so damn greedy” ? (Đừng quá tham lam như vậy). Tôi nhận là có. Mặc dầu tôi có xin khoan hồng cho đương sự, Ba Cụt vẫn bị Tòa Quân Sự kết án tử hình và bị chém ở Cần Thơ này 13-7-56.
Trong thời gian từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc vụ phản loạn ở Cái Vồn, Hội Cựu Chiến Binh VN tổ chức đại hội toàn quốc lần thứ nhất vào ngày 29-5-55 tại tòa Đô Chánh. Ponce Enriquez và các hội viên Hội C.C.S Phi Luật Tân trong Công Ty Tự Do là cố vấn cuộc tổ chức này. Đài Chiến sĩ Vô danh được dựng ở trước tòa Đô Chánh và Tướng O’Daniel đã thay mặt nước Mỹ đặt vòng hoa ở đài này.