Tôi Làm Quân Sư cho Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM

Lượt đọc: 8027 | 2 Đánh giá: 7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
khởi đầu chế độ cộng hoà

Mùa hè xao động ấy cũng đem lại cho tôi nhiều thay đổi. Tôi được thuyên chuyển khỏi T.R.I.M và sang làm bên M.A.A.G. Tôi được yêu cầu tổ chức một ban tham mưu mới ở M.A.A.G để lo những công việc mệnh danh là những vấn đề “phi qui ước”. Công việc này gồm cả huấn luyện quân đội VN về hoạt động tình báo, tâm lý chiến và thông tin cho binh sĩ. Chúng tôi đã giúp vào việc tổ chức và huấn luyện số Biệt Động Quân VN đầu tiên. Tôi tiếp tục gặp ông Diệm hàng ngày.

Ít lâu sau khi chuyển sang M.A.A.G, Tướng Ely và Tướng O’Daniel gặp nhau bàn về vụ lực lượng quân đội Cộng Sản ở miền Bắc gia tăng mạnh. Một kết quả của cuộc họp này là quân đội VN bắt đầu đặt kế hoạch phòng thủ miền Nam nếu bị Cộng Sản tấn công. Họ cũng giao cho tôi việc tổ chức du kích chiến cho người VN trong trường hợp này.Tôi đem vấn đề bàn với ông Diệm, nêu lên với ông rằng tổ chức du kích chiến hữu hiệu nhất phải do các đảng viên chính trị quốc gia. Ông là lãnh tụ quốc gia, thì tùy ý ông chỉ định một nhóm người hoạt động chính trị để tôi cố vấn. Đồng thời nên lập trong quân đội một cơ quan tham mưu để làm việc cùng với những đảng viên chính trị nầy. Ông Diệm mau chóng thiết lập một Nha trực thuộc ông để lo việc này.

Mấy tuần sau, nhiều căn cứ du kích và những khu vực hành quân của họ được đặt dọc hành lang xâm nhập ước đoán, cán bộ chính trị được nhập ngũ và được huấn luyện về căn bản du kích chiến, các hệ thống truyền tin được thiết lập. Quan niệm võ trang dân chúng xã ấp để tự vệ được ứng dụng, không bao lâu phát triển toàn quốc, đó là tổ chức Dân-Vệ Đoàn. Ông Diệm chấp thuận việc võ trang nhân dân này vì đó là cách thực tế nhất để bảo đảm chế độ dân chủ ở Nam VN. Qui chế các sắc tộc miền núi sống đời du mục hai bên các đường mòn nội địa do Cộng sản xử dụng, các sắc tộc được người Pháp dùng vào tổ chức biệt kích chống Việt Minh, cần được duyệt lại kỹ càng. Người VN coi họ như giống người hạ đẵng và đôi bên đều hiềm tỵ nhau. Ông Diệm chấp thuận sửa đổi lại các công việc về hành chánh và về thái độ chính thức đối với vùng sắc tộc. Song song với các chương trình cải tiến xã hội, một lần nữa các sắc tộc lại tổ chức chống Cộng Sản. Các sĩ quan dưới quyền tôi bắt đầu đeo vòng Thượng, tuy nhiên tôi đã giới hạn những cuộc thăm viếng rất ngắn của người Mỹ vì không muốn cho người Mỹ chúng tôi xen vào giữa người Kinh và người Thượng như người Pháp đã làm và như nhiều nhà quân sự Mỹ sẽ làm sau đó hơn 10 năm.

Khi mùa hè gần hết, tôi đến thăm ông Diệm gần như hàng ngày. Ông Diệm phải vật lộn với những tư tưởng về tương lai chính trị và ông đã tìm thấy ở tôi một công vụ hữu ích, một người thân cận và quen biết có thể giúp ông yên tâm và trở lại với con người của mình. Áp lực quốc ngoại đã giảm, đặc biệt là áp lực của Pháp. Pháp đã mở cánh cửa thân hữu đối với ông Diệm sau cuộc hội kiến giữa Dulles và Faure ở Paris. Nhưng các vấn đề đối nội vẫn còn chưa ổn thỏa. Là người lãnh đạo quốc gia đương nhiệm, sáng kiến về một căn bản tốt đẹp cho tình trạng chính trị phải phát xuất từ ông Diệm.

Những câu chuyện giữa tôi và ông Diệm rất dài. Ông kéo tôi và Redick vào văn phòng ông, ở đây đã có 3 ghế bành lớn đặt sát nhau. Vì lúc nào những chiếc ghế này cũng để yên một chỗ, nên tôi thường trêu ông Diệm bằng cách nói: “Thử máy, một, hai, ba, bốn…” khi tôi ngồi xuống, ám chỉ chiếc máy ghi âm tưởng tượng dấu dưới ghế. Sau đó chúng tôi vào câu chuyện với không biết bao nhiêu là ly trà và nhiều gói thuốc lá. Ông Diệm hút liên tiếp vượt xa tôi và Redick vốn đã là người hút thuốc nhiều (Vì hút nhiều như vậy, chúng tôi gọi căn phòng này là phòng Xanh). Nhờ uống trà, lâu lâu chúng tôi lại phải ngưng chuyện để đi một chuyến vào nhà cầu. Tôi còn nhớ có lần khi tôi hỏi về hiệu quả của việc giáo huấn đạo Thiên Chúa đối với người Việt, ông Diệm đã giảng cho tôi một hơi 5 giờ liền. Những buổi nói chuyện như vậy làm cho thông dịch viên Redick phải mệt đừ, dù rằng sức hiểu biết sinh ngữ của tôi đã dần dần khá hơn đủ đề giúp cho Redick bớt chút gánh nặng.

Tôi cố sức khuyến khích ông Diệm nghĩ đến những quyết định về bản chất của một cơ cấu chính trị khả dĩ đem lại cho Nam VN với một dân tộc tự do, một cơ hội sinh tồn trong thế giới tân tiến. Ông Diêm nên thảo luận về những triết thuyết chính trị chi phối Âu Châu hồi đầu thế kỷ, một vấn đề mà chính ông đã đọc rất kỹ. Tôi đã phản đối một số điểm ông Diệm nêu lên, nhắc cho ông nhớ rằng có những tư tưởng chính trị đã đem lại thống khổ cho nhân loại khi những kẻ tham vọng dùng nó để làm sai lạc những mục tiêu tối hậu, thí dụ như Mussolini xử dụng chủ nghĩa công đoàn. Sau đấy tôi chuyển sự chú ý của ông Diệm sang những vấn đề gần gũi hơn với ông : đó là vấn đề lịch sử VN và vấn đề tiến hóa của xã hội này.

Sự hiểu biết của ông về quốc gia và đồng bào của ông thật rộng rãi, đó là một sự pha trộn đáng yêu giữa những đặc tính uyên bác, tánh ưa nói lảm nhảm và tình thương yêu. Nếu ông muốn, thì ông có thể sẽ là một sử gia giỏi giang nhất. Sau đó, tôi mới hướng đến nhữag cuộc thảo luận về sự ứng dụng các tư tưởng ngoại quốc vào văn hóa VN như sự lừa dối bằng chủ nghĩa Lê-Nin-Nít của Cộng Sản dưới quyền họ Hồ, sự cải cách theo lối Tây Phương của người Pháp và ảnh hưởng lâu dài của tư tưởng Trung Hoa cũng như của đạo Khổng đối với người VN.

Vì ông Diệm trong đời chỉ tiếp xúc nhiều với dân Á Châu và Âu Châu, là những người có quan niệm hẹp hòi về Hoa Kỳ, những người nhìn nước Mỹ phần lớn như một tên khổng lồ chuyên về kỹ nghệ và thiên về vật chất dùng bạo lực và tiền bạc để đạt tới ngôi bá chủ thế giới, nêntôi phải giảng giải cho ông Diệm thấy rõ về quốc gia và đồng bào của tôi. Tôi nhấn mạnh đến sự ra đời khiêm tốn của mước Mỹ, những năm tranh đấu gay go của các nông gia, thợ thuyền và thương gia Mỹ để dành tự do trước thế lực thuộc địa và những năm làm việc kế tiếp để thiết lập cơ cấu tự trị. Ông Diệm được biết bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ ra đời năm 1776 nên ông tỏ ra rất ngạc nhiên khi tôi nói với ông rằng Hiến Pháp Mỹ đươc viết ra sau đó l năm và đến tháng 3-1789 mới có hiệu lực. Tôi đã mô tả những vấn đề phải vượt qua trong một xã hội đơn sơ mộc mạc lúc ấy và cả những mơ ước cũng như những cuộc tranh luận của các vị sáng lập nền Cộng Hòa Mỹ.

Ông Diệm đã hỏi tôi những câu rất tinh tế về vấn đề “hạn chế và cân bằng” giữa 3 ngành chính quyền Mỹ và yêu cầu tôi mô tả chi tiết cách thức xử dụng quyền hành của vị Tổng Thống. Một lần tôi đã vẽ một lược đồ chỉ rõ “hệ thống chỉ huy” từ Tổng Thống Mỹ trở xuống. Nhận thấy ông Diệm rất chú ý đến qui chế của Tổng Thống Mỹ, nên tôi còn kể cho ông nghe George Washington đã quan niệm vai trò của mình như thế nào, đặt ra những tục lệ của vai trò ấy và đã hành động như một trọng tài về chính trị ở trên tất cả mọi đảng phái ra sao. Tôi cho rằng rất ít người trong lịch sử có một cơ hội như Washington để trở thành “người cha của dân tộc”. Rất có thể ông Diệm sẽ là một trong số rất ít người nói trên. Là một nhà lãnh đạo quốc gia khi VN độc lập, tôi hy vọng ông Diệm sẽ xử dụng uy lực lãnh đạo của mình khôn khéo như Washington đã làm để được đời sau kính mến.

Sau này khi nồi nước chính trị lại sôi sục ở VN, tôi luôn luôn nhắc ông Diệm rằng ông phải làm sao cho đời sau nhớ đến việc làm của ông. Tôi thường hỏi ông Diệm rằng:“Ông có nghĩ rằng đó là việc mà người cha của dân tộc phải làm không ? ” Thường thường thì ông Diệm ngưng lại và suy nghĩ chút ít trước khi hành động. Có một lần trong cuộc bàn cãi về tự do báo chí (trong đó tôi đã tỏ ý phản đối việc đóng cửa một tờ báo quốc gia hạng nhỏ), ông Diệm kịch liệt bác bỏ quan điểm của tôi và kết thúc câu chuyện bằng cách bảo tôi rằng :“Đừng gọi tôi là papa nữa”.

Giữa lúc ấy, nhiều người khác thúc bách ông Diệm làm những hành động chính trị. Hăng hái nhất trong số này là ông Nhu và ông Cẩn, mỗi người cầm đầu một số đoàn thể cách mạng có khi cạnh tranh lẫn nhau. Ông Nhu làm việc hàng ngày trong Dinh với ông Diệm như một vị phụ tá chính trị và tình báo, quả nhiên có ưu thế hơn trong chuyện cạnh tranh này; ảnh hưởng của ông đối với ông Diệm gia tăng từ giữa năm 1955 trở đi. Tuy nhiên ông Diệm cũng găp ông Cẩn luôn luôn trong những dịp về thăm thẫn mẫu ở Huế hoặc trong những lần ông Cẩn ghé về Saigon. Tôi muốn gặp ông Cẩn người mà tôi được nghe nhiêu câu chuyện tâng bốc cũng có, chê bai cũng có. Ông Diệm vẫn hứa sẽ thu xếp cho tôi gặp ông Cẩn nhưng lần nào cũng bị đình hoãn. Sau cùng ông Diệm bảo tôi rằng ông Cẩn chỉ là người quanh quẩn trong nhà, tôi không nên mất thì giờ thăm “cậu em” ấy. Tôn trọng ý muốn của ông Diệm về việc gia đình riêng, tôi không bao giờ đến gặp ông Cẩn nữa.

Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia từng tham gia vào cục diện chính trị sôi động tháng 5-55, lúc này đã có các cơ sở ở toàn quốc. Dù rằng ban chấp hành phong trào gồm những lãnh tụ quốc gia có nghị lực, mỗi người đều có lực lượng hậu thuẫn riêng, nhưng người chi phối ban chấp hành là ông Nhu. Sang đầu mùa thu năm ấy P.T.C.M.Q.G càng ồn ào và tranh đấu mạnh hơn đòi truất phế Bảo Đại và ủng hộ ông Diệm. Ông Nhu và các đồng chí trong P.T.C.M.Q.G đề nghị nhiều cải tổ về chính trị, có những đề nghị rõ ràng minh bạch, và có những đề nghị chỉ là sự ngấm ngầm tái lập những cơ chế chẳng tốt đẹp gì trong quá khứ. Một trường hợp nói trên là vụ kế hoạch thiết lập một chương trình “cộng đồng tự lực” trá hình mà tôi đã phản đối kịch liệt đến nỗi ông Diệm phải hủy bỏ. Lồng vào trong chương trình đề nghị ấy là guồng máy tổ chức dân chúng báo cáo lẫn nhau giống y như tổ chức Mật Vụ Nhật Bản đã làm khi họ tổ chức liên gia để kiểm soát dân chúng trong vùng chiếm đóng hồi Đại Chiến Thế Giới thứ Hai. Tôi cảnh giác ông Diệm là không nên dùng những biện pháp phòng vệ độc tài để chống lại hiểm họa độc tài của Cộng Sản. Những biện pháp này sẽ đi ngược lại ước vọng tự do của nhân dân và sẽ đưa đến sự oán ghét mà những kẻ muốn lật đổ ông sẽ khai thác và xuyên tạc. Làm như vậy là ông đã tiếp tay cho Hồ Chí Minh thay vì phục vụ cho chính nghĩa.

Khi những ngày thu trôi qua, thì tình trạng giao động trong những nhóm cách mạng và những đảng phái chính trị gia tăng. Họ muốn hành động. Tôi nhắc đến giấc mơ từ lâu của ông muốn có một quốc hội đại chúng cho VN, và tin rằng việc bầu cử và tổ chức một quốc hội như vậy sẽ có thể tập trung được tất cả những lực lượng này vào trong một hình thức sinh hoạt hữu ích hơn. Ông Diệm trả lời ngay rằng ông Bảo Đại sẽ chống đối một quốc hội như thế. Tôi nêu lên rằng chủ quyền đích thực của một quốc gia là do nhân dân. Là một lãnh tụ ông Diệm phải làm sao giúp cho nhân dân biểu lộ chủ quyền dưới một hình thức thực tế nàọ đó. Nếu Nam VN muốn còn tự do và độc lập thì đây chính là lúc người Việt tìm lấy đường lối giải quyết những công việc của mình.

Ông Diệm đồng ý rằng phải sửa đổi mạnh mẽ cơ cấu chính trị ở Nam VN nếu người Việt quốc gia muốn tồn tại. Ông viện dẫn nhiều lời phát biểu về tư tưởng này của P.T.C.M.Q.G và các chính trị gia khác. Ông thêm rằng quần chúng đã đi gần đến chỗ có phản ứng ; nếu ông không hành động sớm thì một cuộc cách mạng sẽ lật đổ ông. Tôi đoán ngay ra lời kết luận mà những nhận xét ấy của ông Diệm sẽ dẫn tới và tôi ngắt lời ông. Nếu ông nghĩ đến việc lật đổ Bảo Đại và thay Bảo Hại giữ vai quốc trưởng qua sự ủng hộ bằng các hoạt động P.T.C.M.Q.G và các cuộc biểu tình do P.T.C.M.Q.G lãnh đạo, thì ông nên thôi đi. Gia đình ông quá gần gũi với P.T.C.M.Q.G. Dân chúng VN cũng như dân chúng thế giới tự do sẽ không tin ở giá trị của sự ủng hộ ấy. Vẻ mặt ông Diệm xác nhận điều tôi ước đoán.

Tôi giải thích với ông Diệm rằng chỉ có một cách có thể chấp nhận được, một phương thức tốt đẹp để đem lại những sửa đổi mạnh mẽ mà ông và P.T.C.M.Q.G chủ trương, đó là một cuộc bầu cử, một cách biểu lộ tự do ý muốn của nhân dân qua những lá phiếu. Nếu ông Diệm tin chắc rằng nhân dân sắp sửa phản ứng mạnh nếu không có sự thay đổi thì ông nên làm sao cho họ biểu lộ điều đó bằng lá phiếu. Kết quả sẽ được cả thế giới công nhận vì đã có sự chấp hành rộng rãi nguyên tắc về chủ quyền tối thượng của nhân dân.

Hơn thế nữa, một cuộc trưng cầu dân ý chỉ được tổ chức để lựa chọn vị nguyên thủ quốc gia vẫn chưa đủ. Từ lúc Bảo Đại thoái vị xuống làm Quốc trưởng, VN đã tự cai trị bằng một đống những đạo luật và sắc lệnh phần lớn có từ thời kỳ lệ thuộc. Một số đã lỗi thời đối với một quốc gia nay đã độc lập. Nếu nhân nhân được phát biểu trong cuộc bầu cử người lãnh đạo thì nhân dân cũng muốn phương thức ấy được tiếp tục và được bành trướng. Điều đó có nghĩa là toàn bộ hệ thống luật lệ mới được bao gồm trong một hiến pháp. Ngay cả Bắc Việt mà cũng có hiến pháp như vậy. Trong cuộc tranh cử giữa lề lối cũ của Bảo Đại và chủ trương mới mẻ của ông Diệm, ông Diệm phải công bố những chủ trương mới mẻ ấy. Ít nhất ông cũng phải gắn liền cuộc tranh cử của ông vào một lời tuyên hứa sẽ thiết lập Hiến Pháp do các dân biểu dân chúng bầu nên viết ra. Ông cần phải ấn định chắc chắn thời hạn bầu cử Quốc Hội Lập Hiến ; trong lúc đó nếu nhân dân bỏ phiếu bầu ông thay thế Bảo Đại thì ông sẽ ở chức vụ Quốc trưởng lâm thời cho đến khi Hiến Pháp ra đời. Đến lúc đó vai trò của ông sẽ do Hiến Pháp chi phối.

Tôi bàn chuyện này với ông Diệm vào cuối tháng 9. Câu chuyện khiến cho ông phải suy nghĩ nhiều. Khá lâu sau đó, ông Diệm cho tôi biết ông chấp nhận ý kiến tổ chức bầu cử. Ông đã sắp xếp để cuộc bầu cử được tổ chức trên toàn quốc chỉ trong vòng

1 ngày.

Ngày 6-10-55, ông Diệm tuyên bố tổ chức trưng cầu dân ý vào 23-10-55 để nhân dân quyết định xem ai sẽ là quốc trưởng : Bảo Đại hay Ngô Đình Diệm, với lời hứa sẽ khởi sự thiết lập một chính quyền dựa vào một Hiến Pháp. Cử tri sẽ được phát 2 lá phiếu, một lá in tên và hình Bảo Đại, lá kia in tên và hình ông Diệm. Cử tri sẽ bỏ lá thăm mình chọn và loại bỏ lá thăm kia. Tôi khuyên ông Diệm nên in một tấm hình đẹp của Bảo Đại trên phiếu bầu vì biết chắc ông Diệm sẽ cho in tấm hình đẹp của ông. Tôi cũng nhắc ông lưu ý tới việc P.T.C.M.Q.G có thể sẽ ăn gian thêm phiếu trong thùng, vì lẽ cả ông lẫn cử tri phải có đủ tin tưởng ở giá trị của kết quả đầu phiếu nếu ông thắng cử và khởi sự xây dựng hệ thống chính trị mới. Lừa bịp là xây dựng tương lai trên một căn bản sai lầm và lừa bịp có nghĩa là làm cho những điều ông thực hiện sau này sẽ không được lâu bền. Ông phải nghĩ đến nhu cầu của các thế hệ mai sau nếu ông muốn làm một thứ người cha già của dân tộc, đó là ý nghĩa của cuộc trưng cầu dân ý này.

Ông Diệm lưỡng lự không muốn làm cho Bảo Đại có thêm chút lợi thế trong cuộc trưng cầu dân ý. Trước sau gì Bảo Đại cũng đã cầm quyền khá lâu, và người của Bảo Đại ở VN sẽ làm mọi trò để cho Bảo Đại thắng cử. Họ đã phổ biến rộng rãi bản điện văn ngày 18-10 của Bảo Đại cất chức ông Diệm. Tôi nhắc cho ông Diệm nhớ rằng ông có nhiều người ủng hộ tích cực hơn so với Bảo Đại. Nếu lo ngại những vấn đề về phong tục và mê tín, thì ông chỉ có thể tìm sự bảo đảm thần bí bằng cách in phiếu của ông màu đỏ là mầu hạnh phúc của người Á Đông. Phiếu của Bảo Đại có thể in màu đen, xanh hay là màu lá cây.

Mắt ông Diệm sáng lên khi nghe lời đề nghị này.

Trong cuộc bầu cử 23 tháng l0, phiếu của ông Diệm in màu đỏ, màu tươi vui của các đám cưới và của những dịp vui mừng khác ở Á Đôug. Phiếu của Bảo Đại in màu xanh lá cây, không hấp dẫn, dù rằng bức hình Bảo Đại coi đẹp hơn hình ông Diệm.

Trong khi phu quét đường phải dọn hàng đống phiếu màu xanh lá cây thì tổng kết ông Diệm được 5.721.735 phiếu và Bảo Đại được 63.017 phiếu. Ngày 26 tháng l0, ông Diệm tuyên cáo thành lập V.N.C.H và nhậm chức Tổng Thống.

« Lùi
Tiến »