Một trong những lợi ích chưa được thừa nhận trong đời sống quân ngũ là người quân nhân mỗi ngày lại học thêm được mỗi nhiều đức khiêm tốn. Tôi đã gặp một trường hợp khó quên vào cuối 1955 từ phía tân Trưởng Phái Bộ M.A.A.G. Tướng O’Daniel đã hết hạn quân vụ và nhiệm kỳ phục vụ của ông. Ông đã về Mỹ để hồi hưu. Người thay O’Daniel là Tướng Samuel Tankersley Williams, đến Sàigòn ngày l5-11-1955. Ông này là một vị chỉ huy tác chiến nổi tiếng, được nhiều người trong quân đội Mỹ biết đến từ lâu dưới tên Hanging Sam (Sam treo cổ).
Lý do khiến ông có cái tên đáng sợ ấy chẳng bao lâu đã lộ rõ. Wiliams bắt đầu “uốn nắn” lại Phái Bộ M.A.A.G theo ý ông bằng những lời khiển trách dữ dội các sĩ quan cao cấp có trách nhiệm đối với những việc không vừa ý ông như làm ăn cẩu thả hoặc không ngăn nắp thứ tự. Những tiếng la của ông vang dội khắp mọi dãy nhà trong bộ chỉ huy M.A.A.G khi những kẻ xui xẻo mạng nọ tiếp mạng kia đứng trước mặt ông để ông trút cơn thịnh nộ lên đầu.
Sĩ quan thường bị ông xếp mới này kết tội là đã làm việc như “Dân Vệ Texas và còn tệ hơn thế nữa”. Những người cứng cỏi cũng phải phát khóc.
Chẳng bao lâu là đến lượt tôi. Ngày thứ hai của ông ở phái bộ M.A.A.G, Hanging Sam gọi tôi vào văn phòng. Đến gần văn phòng ông, tôi đã nghe thấy tiếng ông nói lớn với một người nào đó về tình trạng bừa bãi lộn xộn của ban Công Xa. Tôi vội vàng kiểm soát lại cách phục sức của mình ; nút áo cài đủ, khuy phéc-mơ-tuya kéo kín. Một vị Thiếu Tướng ở văn phòng Williams bước ra, mặt tái mét và sợ hãi. Vị Thiếu Tướng hỏi tôi có vào gặp Hanging Sam không ? Tôi nói có. Ông ta nói với tôi một cách nồng nhiệt :“Xin Chúa giúp anh” lúc tôi bước vào phòng WiIliams. Tôi đi qua bàn của mấy người tùy viên đang cắm cổ trên đống giấy tờ ra vẻ siêng năng. Đến trước bàn Williams ngồi, tôi nện gót giày đứng nghiêm, chào ông rất ngay ngắn và trình diện.
Williams ngó tôi một lát rồi bảo tôi bằng giọng nói chuyện bình thường rằng ông đã tới thăm ban tham mưu của tôi lúc tôi đi vắng. Ông kết luận : “Ông chỉ huy họ như một bầy gipsies (gipsies : loại người ăn mặc, nói năng một cách khác thường kỳ dị.). Ông có gì để nói không ?”. Tôi ngó lại ông ta, rồi chợt nhớ ra rằng một số sĩ quan của tôi vừa đi thăm dân Thượng về hẳn đã đeo vòng Thượng trên cổ tay. Chắc chắn trông họ có vẻ giống một bọn gypsy. Vì vậy tôi cười nhận lỗi và thêm rằng :“Thưa Đại Tướng, tôi khoái bọn gypsy lắm”.
Sau một lúc yên lặng, cơn nước lũ liền đổ xuống. Tôi được nghe một bài giảng rát mặt mũi về vấn đề duy trì kỷ luật có vẻ kéo dài vô tận và chắc chắn là không phải chỉ dành cho riêng lỗ tai tôi mà cho mọi sinh vật ở khắp cõi thủ đô này cũng như ở những chiếc tàu ngoài biển nữa. Trong khi bài giảng tiếp tục, các tùy viên của ông nhón gót ra ngoài tìm nơi trú ẩn tránh cơn bão táp ấv. Cuối cùng bài giảng chấm dứt và Tướng Williams bảo tôi đi ra. Tôi nói có một vấn đề khác cần thưa với ông. Ông ta hỏi : “Vấn đề gì?” Tôi trả lời : “Tôi muốn mời Đại tướng lại nhà tôi dùng cơm tối nay”.
Sau một vài câu qua lại trong đó ông ta lưu ý tôi rằng tôi đã không chú tâm đến bài giảng của ông và tôi đã nhấn mạnh một cách quả quyết rằng tôi đã nghe được từng chữ một, ông ta nhận lời mời của 1ôi. Tôi đã không nói cho ông biết rằng lời khiển trách của ông làm tôi nhớ đến những lời mắng mỏ của ông nội tôi, một người rất ngoan cố. Kỷ niệm sâu đậm về ông nội tôi đã xâm chiếm hết đầu óc tôi trong suốt bài giảng của Williams.
Không những Hanging Sam chỉ đến ăn với tôi bữa tối hôm ấy, mà hai chúng tôi còn dần dần hiểu biết nhau nhiều hơn, và tình thân hữu ít có đã thể hiện, đem lại cho tôi một ý nghĩa khá sâu xa. Mấy tuần lễ sau khi về Hoa Thịnh Đốn tôi nói chuyện với một nhóm sĩ quan trong Bộ Tham Mưu Liên Quân ở Ngũ Giác Đài. Một sĩ quan ngắt ngang câu chuyện và tỏ vẻ ngạc nhiên : “Có thật ông muốn nói là ông thích Hanging Sam không ?” Tôi trả lời chắc chắn tôi thích ông ta. Tôi thành thật nghĩ như thế, hồi đó cũng như bây giờ.
Tôi không nghỉ lễ ở VN, còn Tướng Villiama thì ở lại đây. Ông bảo tôi rằng ông đã ở với Quân Đội VN tại khu Phi Quân Sự trong lễ Giáng Sinh và Tết Dương lịch, và không hề cảm thấy cô đơn bao giờ trong đời ông. Ông nhận được những báo cáo về việc binh sĩ Bắc Việt được chuyển xuống vùng giáp giới này cùng với những báo cáo về việc quân Bắc Việt được trang bị chiến xa và đại bác mới của Nga. Những báo cáo này đã khá cũ, vì vậy ông vẫn lo ngại không biết những gì đang xảy ra hiện thời khi ông nhìn về phương Bắc. Tính chất thiếu sót của các báo cáo tình báo làm cho ông càng lo ngại thêm. Ông vẫn hình dung đến một cuộc tấn công bất ngờ của lực lượng Cộng Sản và không mấy tin tưởng vào lời dự đoán của tôi rằng C.S.B.V sẽ bí mật xâm nhập miền Nam chứ không tấn công công khai. Ông đã là cựu chiến binh ở Đại Hàn, nơi mà Cộng Sản đã mở cuộc tấn công vượt tuyến công khai. Ông còn nhớ bài học Cộng Sản đã dạy ông. Những điều tôi bói thấy được căn cứ trên sự hiểu biết về cá tính của họ Hồ, của Giáp và của các lãnh tụ Bắc Việt khác. Mặc dầu gặp may mắn ở chiến trường Điện Biên Phủ, nhưng tôi tin rằng họ vẫn nghĩ đến phương thức du kích chiến và các hoạt động bí mật. Họ vẫn cho rằng một cuộc tấn công công khai là quá nguy hiểm và trái ngược với đường lối của họ, trong khi còn có nhiều phương thức khác chắc ăn hơn.
Việc Tướng Williams nghi ngại về một cuộc tấn công từ miền Bắc đem lại kết quả là ông đã cố gắng giúp đỡ quân lực VN đủ sức đương đầu với cuộc tấn công ấy. Điều này có nghĩa là phải tổ chức và huấn luyện quân đội Nam VN thành những đơn vị đủ lớn và đủ hỏa lực chống lại cuộc tấn kích của nhiều sư đoàn Bắc Việt. Khi Nam VN chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh qui mô dự liệu như vậy thì quân đội của họ dần dần mang sắc thái của quân đội Hoa Kỳ, không phải chỉ có Trung đoàn và Sư đoàn mà có cả cấp Quân đoàn. Thời kỳ của những Tiểu đoàn biệt lập và tự trị rải rác khắp nơi đã qua rồi. Bây giờ binh sĩ và hoả lực được tập trung lại thành khối để phòng thủ.
Mấy năm sau, những nhà phê bình xa-lông với những nhận định đáng nghi ngờ giá trị đã cho rằng tổ chức quân đội VN thành một lực lượng có tính cách qui ước như vậy là một hành động ngu xuẩn. Những nhà phê bình này dĩ nhiên đã không chịu nhìn sang bên kia biên giới nơi có những Sư đoàn Cộng quân được thành lập để làm những công việc đáng được nghi ngờ là một cuộc tấn công.
Tướng Williams dành phần lớn thì giờ để đi thăm binh sĩ VN. Thấy ông làm như vậy, tôi không khỏi cảm động vì mối tình thân hữu mau chóng giữa ông và các binh sĩ. Họ thường đến với ông, xin ông chỉ bảo riêng cho những vấn đề cá nhân hoặc báo tin cho ông biết khi có chuyện sinh đẻ hay chết chóc trong số các thân nhân của họ. Các sĩ quan VN tỏ ra tin tưởng ở ông về các vấn đề chỉ huy một cách đặc biệt mà ít khi họ có đối với các cấp trên VN.
Người Mỹ thì chỉ coi Williams như một cấp chỉ huy tác chiến kém khôn ngoan, thiếu thông cảm, thích “đánh hơi” như các quân sĩ VN nhận xét thấy. Rất ít người trong số hàng ngàn người Mỹ phục vụ ở VN sau đó đã có những liên hệ với người Việt Nam gần gũi như Tướng Williams.
Williams đã cố gắng mở đường cho người Mỹ dưới quyền làm như ông. Tôi xin những ai có nhiệm vụ huấn luyện và cố vấn cho quân sĩ ngoại quốc tại nước họ hãy làm theo phương thức của Williams. Mỗi tháng một lần, các cố vấn quân sự Mỹ ở toàn quốc VN được triệu tập về Saigon. Trong cuộc hội họp ấy không phải chỉ có riêng người Mỹ trao đổi với nhau các vấn đề hiện hành, mà còn có một phần Williams dành cho người VN lên diễn đàn. Trong phần này Tướng Trần Văn Đôn, Tham Mưu Tnrởng Bộ T.T.M. sẽ cho những người Mỹ hiện diện biết một cách chính xác và thẳng thắn về những ý nghĩa của người VN đối với họ, thành công hay thất bại. Tuy không chỉ đích danh một người Việt hoặc một người Mỹ nào nhưng các vấn đề tác phong, khác biệt văn hóa và những sự xung đột ý kiến có thể đưa đến những khó khăn nghiêm trọng giữa quân nhân hai nước đều được thảo luận công khai. Đây là một bài kiểm thảo xóa bỏ những ý tưởng sai lầm và giúp cho mỗi người Mỹ tham dự có cơ hội hiểu biết về những điều mà cho đến nay còn xa lạ với họ.
Dĩ nhiên còn có những người Mỹ khác làm việc gần gũi với người VN. Một số liên hệ ấy sẽ đưa đến những diễn biến mà tôi tin rằng chỉ đem lại hậu quả tai hại cho miền Nam. Khi tôi phát giác được việc này, tôi đã cố gắng làm sao cho sự việc đi theo một đường khác kể cả việc phải về Hoa Thịnh Đốn can thiệp với cá nhân vị ngoại trưởng, nhưng tôi đã thất bại.
Diễn biến nói trên là diễn biến có tính cách chính trị. Tôi có những ý nghĩ ấy lần đầu tiên khi nhiều gia đình đến nhà tôi một buổi sáng để cho biết thân nhân họ bị bắt giữ vào lúc nửa đêm: tất cả những ngưừi này đều có liên hệ đến vấn đề chính trị. Những vụ bắt bớ này khá kỳ lạ đối với họ xảy ra khi mọi người đã yên giấc và do một số người võ trang cùng mình được biết là những nhân viên Công An Mật thi hành. Các gia đình đến nhờ tôi bảo đảm hoặc giúp đỡ đều không thể trả lời rõ ràng lý do tại sao thân nhân họ bị bắt piữ. Tuy không biết chắc nhưng họ đoán rằng thân nhân họ không phải là phạm pháp hay vi luật, mà là nạn nhân chính trị bị đảng Cần Lao trả thù. Họ nói rằng mọi viên chức chính quyền đều bị ép buộc gia nhập đảng và thân nhân họ đã từ chối. Thân nhân họ là người yêu nước và tận tâm phục vụ chính phủ nhưng không thích vào đảng để bảo vệ địa vị. Họ có ác cảm với vấn đề này một phần vì họ được nghe nói trong lễ tuyên thệ các tân đảng viên phải hôn ảnh ông Diệm và thề trung thành suốt đời với ông. Nhiều tiểu tổ bí mật của đảng Cần Lao được tổ chức mau chóng trong mọi cơ quan dân sự và quân sự.
Sáng hôm ấy theo chương trình ấn định, tôi gặp ông Diiệm. Nhân cơ hội này tôi cho ông Diệm biết về những vụ bắt bớ ban đêm ấy và đưa tên những người tôi nghe nói đã bị bắt giữ. Ông nhận ra những người này và tỏ vẻ ngạc nhiên về việc bắt bớ nói trên. Ông kiếu lỗi để đi ra ngoài khoảng 20 phút. Khi trở lại ông báo cho tôi biết rằng đó là sự lầm lẫn và những người này sẽ được tha. Ông có vẻ bối rối và lúng túng khi nói chuyện này với tôi. Tôi ngờ rằng ông đã đem sang nói với ông Nhu mà văn phòng ông Nhu ở ngay phía sau Dinh, và có lẽ thực sự ông Diệm không biết gì về câu chuyện trước khi tôi nói ra.
Thấy gặp dịp thuận tiện, tôi bèn nói với ông Diệm những gì tôi được nghe về việc tuyển mộ bí mật đảng viên Cần Lao trong mọi cơ quan quân-dân sự và về lễ tuyên thệ trong đó tân đảng viên phải quì để hôn ảnh ông. Ông Diệm cười và nói rằng đó là điều vô lý ; ông chắc chắn rằng không có những chuyện ấy. Về đảng Cần Lao thì quả thực có nhiều tân đảng viên gia nhập để ủng hộ ông chỉ vì họ có cùng chung với ông lập trườug phát triển và xây dựng nước VN. Tất cả những gì ông Nhu đang làm chỉ là tổ chức một đảng chính trị đằng sau vị Tổng Thống V.N.C.H. mới đắc cử, không khác chi ở Mỹ, mỗi Tổng Thống có một đảng ủng hộ.
Tôi nói một cách hùng hồn rằng ông có một tư thế gần giống với George Vashington không có đảng chính trị của mình như các vị Tổng thống Mỹ sau đó. Tại VN, nhiều đảng viên của các đảng chính trị kỳ cựu đã bỏ phiếu bầu ông vì tin tưởng ông sẽ dành cho mọi người cơ hội đồng đều để được tham dự vào đời sống chính trị của quốc gia. Nếu đảng Cần Lao được ông Nhu tổ chức như một cơ cấu chính trị bí mật khắp trong chính phủ, dùng Công An Mật do ông Nhu kiểm soát để loại trừ đối lập, thì đảng Cầa Lao sẽ khiến cho các đảng phái quốc gia khác rút vào phạm vi hoạt động bí mật để khỏi bị tiêu diệt. Nó sẽ làm cho hàng ngũ chính trị ở Nam VN bị phân hóa sâu xa trong một cuộc đấu tranh âm thầm nhưng tàn tệ giữa những người quốc gia với nhau, vào đúng lúc mà những người có tư tưởng yêu nước cần sinh hoạt công khai xây dựng Hiến Pháp cũng như thiết lập một thể chế chính trị mới đối lại với chế độ Cộng Sản ở miền Bắc. Những sự kiện đang xảy ra chỉ dẫn đến việc tái diễn những thảm kịch ghê gớm trong những thành phần đảng phái quốc gia như Đại Việt, V.N.Q.D.H., Hòa Hảo, Cao Đài.
Ông Diệm trả lời sơ qua về những điều tôi nói. Tôi kiếu từ ông và trở về tòa Đại Sứ ! Tôi nói với Đại Sứ Reinhart về chuyện này và kết luận rằng đãđến lúc các nhân viên Mỹ thuộc quyền ông có liên lạc thường xuyên với ông Nhu và đang cố vấn cho ngành Cảnh Sát Đặc Biệt cần phải ráng thuyết phục người VN hướng đến một quan niệm chính trị rộng rãi và cởi mở hơn. Khi tôi nói, gương mặt ông Đại Sứ thoáng một vẻ lạ lùng. Sau một lát im lặng, ông nhỏ nhẹ bảo tôi rằng chính sách của Hoa Kỳ đã được quyết định. Người Mỹ chúng ta phải giúp đỡ những gì giúp đỡ được vào việc xây dựng một đảng quốc gia mạnh để ủng hộ ông Diệm. Vì ông Diệm nay là một vị Tổng Thống đắc cử nên ông cần có một đảng của ông.
Tin tức về việc quyết định một chính sách như thế của Hoa Kỳ mà tôi không được biết và không có cơ hội nói lên một điều gì khi chính sách ấy được cứu xét đã gây xúc động cho tôi. Tôi nói khá nhiều với Reinhart, nêu rõ rằng ông ta và những người vạch ra chính sách ấy ở Hoa Thịnh Đốn dư biết tôi bàn bạc với ông Diệm gần như mỗi ngày phẩn lớn là về các đề tài chính trị. Không người Mỹ nào gặp ông Diệm thường xuyên như tôi mặc dầu đôi khi ông Diệm có gặp những người Mỹ khác như Wesley Fishel người soạn thảo chương trình huấn luyện của Đại Học Michigan cho các viên chức hành chánh VN và Wolf Ladejinsky, người đang cố vấn cho công tác cải cách điền địa. Dù tôi vẫn thường gặp Fishel và Ladejinsky nhưng họ không hề nói với tôi về việc Hoa Kỳ tán thành việc lập môt đảng chính trị bí mật của Tổng Thống, và tôi ngờ rằng cả hai người ấy cũng không biết.
Reinhart nói với tôi một cách dứt khoát rằng chính sách của nước Mỹ đã được quyết định, và tôi nên hành động dựa theo chính sách ấy. Theo lời yêu cầu của tôi, ông mời bộ tham mưu về chính trị của ông đến gặp tôi. Các viên chức tham mưu này quả quyết rằng những lý do của họ với tư cách những chuyên gia về khoa học chính trị, là những điều xác đáng ; cần phải có một đảng quốc gia mạnh để hỗ trợ vị Tổng Thống. Tôi công nhận rằng đó là điều lý tưởng ngoại trừ ở Việt Nam trong lúc này ; việc lập một đảng như vậy do những người VN, những người sẽ tổ chức đảng ấy trong bóng tối từng tiểu tổ bí mật, có nghĩa là tất cả các đảng phái quốc gia khác sẽ phải giữ kín các hoạt động của họ. Đảng Cần Lao sẽ kiểm soát ngành Cảnh Sát, quân đội và quyền hạn về kinh tế của chính phủ. Việc bắt bớ vào nửa đêm những nhân vật chính trị đối lập chứng tỏ những quyền lực này có thể sẽ được xử dụng như thế nào. Đảng Cần Lao sẽ có thể lớn mạnh nhưng hàng ngũ chính trị ở miền Nam sẽ bị thương tổn nặng nề.
Quan niệm của tôi bị bác bỏ. Vì vậy sau khi bị ngăn chận ở Saigon, tôi quay sang phía Hoa Thịnh Đốn và yêu cầu được về Mỹ để tham khảo. Tôi được chấp thuận. Đến Hoa Thịnh Đốn, tôi bắt đầu gặp gỡ khắp mọi chỗ để thăm dò ý kiến các nhà thảo chính sách, các nhân vật điều hành hoạt động, các nhân viên yểm trợ và bộ tham mưu của họ. Tôi trình bày trường hợp của tôi nhưng không có kết quả. Tôi còn gặp riêng Foster Dulles và Allen Dulles vì hai anh em nhà này có tiếng nói quyết định trong việc xác định liên hệ của Hoa Kỳ đối với VN. Tôi cũng không thành công với hai người này dù rằng cuộc gặp gỡ với họ rất thân mật. Tôi đoán rằng họ đã cho đường lối mà các chuyên viên chính trị ở Saigon đề nghị là đường lối thực tế dù họ có cảm tình với những quan điểm của tôi, ngay cả trường hợp họ đánh giá những quan điểm ấy là quá viễn vông và quá lý tưởng. Lời trình bày của tôi rằng đây là thời kỳ mà chủ nghĩa lý tưởng đúng nguyên lý mới là con đường thực tế và cụ thể nhứt chỉ khiến cho họ phải khuyên tôi nên thôi đừng dính dáng gì vào vấn đề đảng phái chính trị ở VN nữa. Lần này là lần tôi thất bại khá thê thảm.
Khi trở lại VN, tôi thấy chỉ còn một con đường tôi đi theo được. Tôi dùng mọi dịp khi gặp ông Diệm để nói, nói về sự cần thiết phải có một thành phần đối lập hợp pháp và về cách làm thế nào khuyến khích thành phần này tham dự vào các sự việc công cộng. Tôi không thành công mấy về vụ này. Người VN rất giống Thống chế Nga Potemkin : họ sẵn sàng lập ra những đoàn thể đối lập giả tạo cũng như Potemkin lập ra những làng mạc giả tạo để Nữ Hoàng Catherine coi. Vì vậy không ai quá ngạc nhiên khi thấy nhiều đảug phái mới xuất hiện, do các chân tay của ông Nhu lập ra và tự mệnh danh một cách trịnh trọng là “đối lập hợp pháp” , trong khi các đảng quốc gia kỳ cựu đối lập phải chịu cảnh áp bức mỗi ngày mỗi nhiều.
Tôi là một người bàng quan đầu tiên ở VN và về sau thì ở Hoa Thịnh Đốn, tôi đã thấy đảng Cần Lao phát triển. Đảng Cần Lao đã thu hút được nhiều người tốt trong đó có nhiều bạn thân của tôi và chẳng bao lâu đảng này đã là đảng mạnh nhất ở VN. Đảng thịnh vượng được gần 10 năm với một chủ nghĩa mệnh danh “Nhân Vị” và với một kỷ luật đảng cứng rắn. Càng ngày đảng càng làm những việc phá phách phe chống đối. Nhà giam đầy những chính trị gia đối lập, thì các đảng quốc gia kỳ cựu hơn phải rút vào bí mật và hàng ngũ chính trị bị rạn nứt. Cộng sản chủ động ở khắp nơi, chiêu mộ những người ủng hộ hoạt động chống đối lại chính phủ, một chính phủ đứng vững nhờ đảng Cần Lao hơn là nhờ sự ủng hộ của nhân dân. Cơn gió lốc nhân quả sau cùng đã đến vào tháng 11-1963 khi phe quốc gia đối lập bùng lên dữ dội, bắt giam nhiều đảng viên Cần Lao, hạ sát ông Nhu, ông Diệm và một số khác. Thật đau đớn cho kẻ đã theo dõi giai đoạn lịch sử thê thảm này.
Khi gặp anh em Dulles vào đầu năm 1956 tôi đã xin ngoại trưởng dùng ảnh hưởng của ông đối với quân đội Mỹ giúp tôi rời khỏi VN cũng như trước đây ông đã dùng ảnh hưởng ấy để đưa tôi sang VN hồi năm 1954. Tôi nói với ông ta rằng có lẽ thời kỳ làm được những công tác hữu ích của tôi đã hết rồi, vì những giới hạn của chính sách Mỹ. Lời yêu cầu của tôi khiến ông ngạc nhiên. Ông bảo tôi rằng còn rất nhiều công việc khác mà tôi có thể phụ giúp ỏ VN. Ông nêu ra vấn đề Tổng Tuyển cử 1956 đã được qui định trong Hiệp Định Genève. Ông nói chắc hẳn tôi cũng muốn còn ở lại VN để được thấy các thân hữu của tôi ở đây trải qua những khó khăn nguy hiểm do cuộc Tổng Tuyển Cử có thể đem lại. Vì vậy ông nói tôi nên ở lại ít ra là qua năm 1956.
Tổng Tuyển Cử 1956 ? Không biết tôi có nghe đúng chăng ? Tôi nói tôi nghĩ rằng sẽ không có Tổng Tuyển Cử gì cả: quá nhiều việc xảy ra sau Hội nghị Genève. Ông nói dĩ nhiên là phải có Tổng Tuyển Cử và yêu cầu tôi giải thích vấn đề nghi ngờ của tôi. Tôi nhắc lại việc ông Diệm khước từ không chịu gặp gỡ các lãnh tụ Cộng Sản Hà-nội năm 1955 và nhận định rằng từ đó đến nay ông Diệm không hề thay đổi thái độ. Hơn thế nữa nếu Hoa Kỳ dùng áp lực chính thức để buộc ông Diệm gặp gỡ nhà cầm quyền Hà-nội để sắp xếp cuộc Tổng Tuyển Cử, thì sẽ có nhiều trở ngại khác phát sinh. Nhà cầm quyền Cộng Sản, những người đã điều khiển cuộc chiến tranh chống Pháp thắng lợi sẽ là những kẻ tối ư vụng về trong việc điều khiển chính quyền. Số quần chúng ủng hộ họ quá ít ỏi khiến họ không dám cho đi bầu để tranh đua đơn thuần bằng sự may rủi với ông Diệm đang có uy tín tột đỉnh. (Thắng lợi vĩ đại của ông Diệm đối với Bảo Đại trong cuộc trưng dân ý chắc chắn được các lãnh tụ Hà-nội theo dõi). Tôi cảm thấy chắn rằng dù lớn tiếng hô hào Tổng Tuyển Cử nhưng các lãnh tụ Cộng Sản sẽ tìm mọi cách để đình hoãn.
Tôi kể cho anh em Dulles nghe những tin tức ở Bắc Việt, do những người di cư và du khách kể lại. Cuộc Cải Cách Ruộng Đất đã được tiến hành quá đột ngột và quá cạn tàu ráo máng. Nhiều vùng nông thôn Bắc Việt nổi dậy chống đối, đặc biệt là tại Nghệ An, quê hương ông Hồ Chí Minh khiến phải gọi đến bộ đội để tái lập trật tự.
Một biện pháp điền địa khác đã làm cho dân chúng tỉnh ngộ thêm. Vì muốn giải quyết nạn thiếu hụt lúa gạo, chính quyền Hà-nội đã nghe lời chỉ bảo của Trung Cộng phá trụi nhiều ngọn đồi rậm rạp để trồng lúa lốc. Mất lớp che chở thiên nhiên, nước lũ tràn qua đồi khi mưa xuống gây ra lụt lội.
Chế độ Hà-nội còn kém khôn khéo đối với lực lượng quý giá nhất của họ là thanh niên. Cuộc chống đối đã khởi động ở Đại Học Hà-nội, sinh viên đòi giảm mức độ huấn luyện chính trị quá nhiều trong chương trình. Họ tố cáo các giáo sư đã rút bớt ngay cả các đề tài kỹ thuật quan trọng để thảo luận rất nhiều về biện chứng pháp duy vật.
Vì những lý do ấy tôi cảm thấy rằng các lãnh tụ Cộng Sản ở Hà-nội có thể đã kín đáo thông báo cho Nga Sô bớt hối thúc việc tổ chức Tổng Tuyển Cử trong các cuộc gặp gỡ với Anh quốc. Việc này không khiến cho cuộc phiêu lưu công khai hoặc bí mật của Cộng Sản tại Nam VN không thể xảy ra. Xưa nay, quấy rối đất lân bang có thể làm lạc hướng sự chú ý đối với các khó khăn nội bộ. Miền Bắc thiếu hụt lúa rất mong muốn chiếm được miền Nam dư thừa gạo. Tôi muốn nói chắc chắn rằng các lãnh tụ Cộng Sản biết là họ không thể đạt được mục tiêu nói trên qua một cuộc bầu cử.
Quan điểm của tôi về việc có tổ chức Tổng Tuyển Cử hay không chưa có hiệu quả rõ rệt trong thời gian phục vụ tại VN. Tôi trở lại Saigon và ở đây cho đến hết năm. Vì vậy, tôi có mặt ở VN khi một việc kế tiếp liên quan tới vụ Tổng Tuyển Cử xảy ra ở Luân Độn vào tháng 4-1956.
Ngày 11 tháng ấy đại biểu các quốc gia bảo trợ hội nghị Genève là Lord Reading của Anh quốc và ông Gromyko của Nga Sô đồng ý rằng cuộc Tổng Tuyển Cử dự liệu không thể thực hiện được trong những điều kiện hiện tại, vì vậy cuộc Tổng Tuyển Cử sẽ không được tổ chức. Tin tức về vụ này bị một chuyện hấp dẫn và bí mật hơn làm lu mờ. Đó là vụ một người nhái của Anh Quốc, Trung tá Lawrence Crebb bị mất tích gần chiếc tuần dương hạm Ordzhonikidze chở Khruschev và Bulganin đến nước Anh ngày hôm trước. (Lúc ấy chuyện bí mật về người nhái này hấp dẫn tôi hơn là vụ thỏa thuận ngưng tổ chức Tổng Tuyển Cử). Ngày dự trù Tổng Tuyển Cử vào tháng 7 trôi qua một cách lặng lẽ.
Chiến dịch khủng bố của du kích Cộng Sản là cơn ác mộng man dã cố hữu với những vụ ám sát và bắt cóc. Chiến dịch ấy được khơi lại vì những kết quả, hứa hẹn của một chế độ hữu hiệu mà ông Diệm và chính quyền của ông thiết lập được trên toàn quốc. Các lãnh tụ Cộng Sản Hà-nội không thể nào để cho tình trạng tốt đẹp ấy tiếp diễn. Cán bộ Cộng Sản nằm vùng ở các làng mạc đào các hầm chôn dấu vũ khí lên và thi hành những công tác trong bí mật. Cán bộ tập kết năm 1954- 55 bắt đầu từng toán nhỏ trở về địa phương cũ sau khi đã được bồi dưỡng qua khóa huấn luyện bổ túc về các phương thức chính trị và các chiến thuật của đơn vị nhỏ. Cuối năm 1956 có đến hàng trăm du kích Cộng Sản rải rác khắp miền Nam, đang tìm mọi cách kiểm soát dân chúng xã ấp.
Chính quyền trông cậy phần lớn ở lực lượng Bảo An để duy trì pháp luật và trật tự tại các tỉnh. Bảo An rất yếu kém khi phải đương đầu với du kích. Nhớ lại những bài học mà chiến dịch Huk ở Phi Luật Tân đã dạy cho tôi, tôi khuyến cáo ông Diệm nên qui định cho lực lượng Bảo An thành một tổ chức quân đội trừ bị, được trang bị và huấn luyện cho những hoạt động quân sự tối thiểu ngang với cấp Đại Đội cũng như các hoạt động Cảnh Bị thông thường. Tuy nhiên Phái Bộ Mỹ ở VN quyết định một chính sách cứng rắn tách rời hai lực lượng Cảnh Bị với Quân Đội và khuyên ông Diệm rằng phương thức duy nhất để được Hoa Kỳ viện trợ cho lực lượng Cảnh Bị là phải duy trì lực lượng này như một tổ chức dân sự với các chuyên viên Cảnh sát Mỹ dân sự làm cố vấn và huấn luyện viên.
Kết cục là lực lượng Cảnh Bị VN được huấn luyện và võ trang một cách thô sơ ở mức chỉ đủ để duy trì trật tự trong một thị trấn Mỹ, nhưng chẳng thích hợp với những thực tế ở nông thôn VN. May mắn thay trước khi lực lượng Bảo An chịu thiệt hại quá nặng, Tướng Williaus đã lẵng lặng thuyết phục Bộ Trưởng Quốc Phòng VN nên kín đáo cấp phát vũ khí và đạn dược của quân đội cho Bảo An giúp họ ưu thế chiến đấu để tự tồn. Đồng thời, ông Diệm đã xin Phái Bộ Mỹ thay đổi chính sách giúp đỡ lực lượng Cảnh Bị nhưng không được. Bọn thơ lại Mỹ quả là giống khó bảo.
Chiến dịch khủng bố của Cộng Sản khởi sự ngay khi mà đời sống nông thôn đã bắt đầu cho thấy những hứa hẹn lớn lao đối với người dân trên đồng ruộng. Đó không phải chỉ là việc quân đội đã không còn phải tác chiến trên đồng lúa để nông thôn được yên ổn thái bình mà còn có nhiều nỗ lực mới được thực hiện để cải tiến toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp ở VN. Mỗi lần đến thăm ông Diệm tôi đều thấy ông bận rộn với việc nghiên cứu vài chương trình mới thường trong một khuôn khổ rộng lớn như việc thoát nước cho vùng Đồng Tháp bao la hoặc việc xây dựng kỹ nghệ chăn nuôi trên cao nguyên để tạo cơ hội sinh sống cho cả người Thượng lẫn người Kinh di dân từ vùng đất cằn cỗi duyên hải Trung phần. Một vài kế hoạch này vẫn chỉ là mộng tưởng, nhưng nhiều kế hoạch đã thành sự thực.
Ông Diệm cũng rất thích các loại hoa mầu mới. Dưới sự chỉ dẫn của ông, loại lúa nước được trồng ở nhiều thí điểm rộng lớn dọc sông Vàm Cỏ nơi mà nước mùa lụt làm cho miền đất thấp biến thành khu vực bùn lầy bao la, và cũng như các làng người Bắc di cư sống ở các bình nguyên dọc dẫy Trường Sơn được khuyến khích trồng cây Kenal lấy sợi dệt bao đựng đường. Một lần, khi ông Diệm khoe khoang rằng trái cây VN ngon nhất hạng. tôi trả lời để phá ông bằng cách ca tụng loại xoài thượng hảo hạng của miền Cebu Phi Luật Tân ; ông Diệm liền cho một số chuyên viên nông nghiệp sang Cebu và ít lâu sau giống cây này được trồng ở Việt Nam. (Tôi cũng đã nói cho êm câu chuyện xoài Phi Luật Tân bằng cách ca tụng trái măng cụt của VN và cho biết Tổng Thống Magsaysay cũng như tôi đều thích ăn măng cụt. Ông Diệm đã cho tôi một thúng đầy măng cụt để gửi cho Magsaysay, mà tôi đã nếm thử hơi nhiều trước khi gửi đi ; thứ trái cây ngon lạ lùng này làm tôi quá say mê)
Wolf Ladejinsky chuyên viên Mỹ về cải cách điền địa lúc ấy đã thôi không làm cho chính phủ Mỹ ; lập tức ông Diệm cho tuyển dụng Ladejinsky. Hai người này trở nên bạn thân năm 1956. Ladejinsky được cấp một ngôi nhà cạnh dinh Độc Lập và gần như ngày nào cũng ăn sáng với ông Diệm. Cho nên công việc hàng ngày của ông Diệm bắt đầu từ bữa ăn sáng nói trên, thảo luận với Ladejinsky vấn đề cải tiến chương trình cải cách điền địa do Ladejinsky soạn thảo và ông Diệm ban hành bằng sắc lệnh cũng như về hàng chục ngàn các vấn đề của những dự án nông nghiệp rộng lớn đang tiến hành khác. Cả hai người cùng có giấc mộng xây dựng một thiên đường Việt Nam, với dân chúng ai cũng sung túc và thực phẩm dồi dào cho những nước bạn khác trong vùng Thái Bình Dương.
Ông Diệm đã làm một việc sai lầm quan trọng trong công cuộc phát triển nông thôn, một hành động sẽ đem lại nhiều hậu quả chính trị tai hại mà lúc ấy tôi không được góp ý kiến với ông. Do một sắc lệnh, ông Diệm đã sửa đổi truyền thống xã thôn tự trị và thay thế bằng một hệ thống viên chức được chỉ định. Viên chức xã được quận trưởng và tỉnh trưởng chỉ định trong khi chính quận và tỉnh trưởng thì do ông Diệm cử. Rõ ràng là ông Diệm có ý định trung ương hóa chính quyền địa phương (trung ương tập quyền), coi như một phương thức thống nhất quốc gia. Những con người hoài nghi trên cõi đời này có thể thấy chuyện này khó tin nhưng thật sự tôi chỉ biết đến sắc lệnh nói trên khá lâu sau khi rời VN. Tôi vẫn không hiểu tại sao tôi đã không được biết đến vụ này, vì nó là một công việc mà tôi rất thiết tha. Nghĩ đến việc ấy, tôi rất buồn.
Trong câu chuyện riêng với ông Diệm, tôi thường nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bầu cử các viên chức địa phương cũng như trung ương, bắt đầu từ cấp xã trở lên. Ông Diệm tỏ vẻ có thiện cảm với ý kiến này nhưng chỉ lưu ý rằng cần có một thời gian để làm quen với lề lối ấy. Nhưng sắc lệnh của ông Diệm về vấn đề viên chức xã đã đi ngược lại chiều hướng nói trên. Quyết định của ông Diệm đã tước đoạt mất nhiều sáng kiến địa phương, nền tảng của nền dân chủ tân tiến, phạm cổ lệ VN “phép vua thua lệ làng” , và giúp cho cán bộ sách động của Cộng Sản có một lập luận rất hiệu nghiệm để vận dụng dân chúng chống lại chế độ ; mọi việc lộn xộn xảy ra trong làng đều bị qui trách cho các viên chức do chính quyền chỉ định nói trên, dù các viên chức này có trách nhiệm hay không cũng vậy.
Cuối năm 1956 tôi bị lôi kéo vào cuộc tranh chấp giữa ông Diệm và khối Hoa Kiều. Tôi đã cố gắng đóng vai hòa giải.
Tháng 8-1956 ông Diệm ban hành hai sắc lệnh ảnh hưởng đến kiều dân Trung Hoa tại VN.
Sắc lệnh thứ nhất: Hủy bỏ qui chế đặc biệt của Hoa Kiều, đòi hỏi họ phải ghi danh như là ngoại kiều, đồng thời ngăn cản ngoại kiều làm 11 nghề buôn bán.
Sắc lệnh thứ hai ban hành sau đó vài ngày : Ban cấp quốc tịch VN cho tất cả mọi người Trung Hoa sinh đẻ ở VN. Những công dân mới này phải lấy căn cước mới và mang tên VN. Sắc lệnh thứ hai này đã giảm bớt một số điều ngăn cấm trong sắc lệnh thứ nhất bằng cách cho phép Hoa Kiều có vợ VN được tiếp tục làm một số nghề bị cấm cũng như cho Hoa Kiều được đầu tư trong các xí nghiệp Việt Nam.
Tôi đã cố gắng thuyết phục ông Diệm rằng các sắc lệnh vừa ban hành đã đem lại nhiều biến đổi xã hội và kinh tế mạnh mẽ ; nếu muốn có kết quả, vấn đề này phải được trình bày cho dân chúng thấy một cách khôn khéo, có chính trị. Ông Diệm quả quyết rằng giới Hoa Kiều đã hiểu rõ vấn đề này khá đầy đủ và ông sẽ làm cho các sắc lệnh ấy có kết quả. Khá lâu sau lần trao đổi ý kiến này, tôi và ông Diệm còn tranh luận về thời hạn qui định trừng phạt các cửa tiệm chưa thay đổi tên hiệu sang tiếng Việt, khiến hàng trăm bảng hiệu bằng đèn nê-ông chớp tắt giúp cho đêm Chợ Lớn linh hoạt với ánh sáng và màu sắc sẽ bị dẹp bỏ. Cuối cùng ông Diệm đồng ý nới rộng thời hạn và cho Hoa Kiều một thời gian hợp lý để thi hành việc thay đổi này.
Ít ngày sau khi hai sắc lệnh về Hoa kiều ban hành, bang trưởng ở Cholon đến gặp tôi. Họ được biết tôi đã từng giúp đỡ Hoa kiều ở Ma Ni đối với chính quyền Phi Luật Tân và yêu cầu tôi giúp đỡ họ tương tự như vậy. Tôi hứa thâu nhận ý kiến của họ và sau đó mới xác định sẽ giúp đỡ họ được hay không. Lần gặp gỡ ấy đưa đến nhiều cuộc họp khác ở Chợ Lớn với các nhóm lãnh tụ Hoa kiều, phần lớn cuộc họp xử dụng tiếug Pháp. Ogden Williams làm thông dịch cho tôi thay thế Joe Redick về Mỹ. Tôi lấy làm lạ về sự chia rẽ ý kiến giữa các lãnh tụ Hoa Kiều.
Tôi khuyến cáo rằng họ nên đi đến một quan điểm chung của tập thể Hoa kiều. Nếu làm được như vậy, họ sẽ thông báo cho ông Diệm và chính phủ những quan điểm ấy. Nếu họ muốn, tôi sẽ có thể ráng thu xếp một cuộc hội kiến giữa họ với ông Diệm. Còn nếu như họ sẽ chỉ tranh luận với nhau ngay trước mặt ông Diệm thì tôi nghĩ rằng cuộc hội kiến ấy sẽ chẳng ích lợi gì. Tôi nhắc nhở họ rằng họ đang sống trong một quốc gia có những khó khăn nguy cấp về an ninh, vậy mà rất ít người trong số con cháu họ phục vụ trong quân đội. Phần lớn được một qui chế rộng rãi cho miễn dịch, làm cho những gia đình có con em hy sinh vì nghĩa vụ quốc gia phải oán ghét. Tôi đề nghị giới kiều dân Trung Hoa nên chứng tỏ một cách cụ thể là họ cũng chia xẻ những gì đang xảy ra cho người Việt chung quanh họ, nếu người Trung Hoa muốn người Việt chia xẻ những gì xẩy ra cho mình. Một số người Trung Hoa trẻ tuổi hơn đã tham gia chiến dịch Huynh Đệ. Số người này tham gia với tư cách cá nhân, vì vậy hành động này có tính cách cá nhân chứ không có tính cách cống hiến của tập thể Hoa Kiều. Có lẽ người Trung Hoa nên gia nhập một đơn vị Hồng Thập Tự riêng của họ trong quân đội VN hoặc tổ chức những cơ quan tương tự để giúp đỡ dân di cư và các cô nhi VN đang cần được giúp đỡ rất nhiều. Những sự kiện ấy sẽ khiến cho bầu không khí chính trị thuận lợi hơn đối với người Hoa Kiều..
Dần dà lãnh tụ của các bang hội Hoa Kiều lớn đã hóa giải đưgc những dị biệt. Tôi đã có thể đòi ông Diệm gặp riêng họ một cách không chính thức, để cuộc thảo luận có thể có tính cách chân thành và xây dựng. Nhiều cuộc gặp gỡ như vậy được tổ chức. Kết cuộc là việc đồng hóa Hoa Kiều vào quốc tịch VN vẫn tiếp tục, nhưng từ tốn hơn và một số hình phạt nghiêm khắc dự liệu trong các sắc lệnh cũng được hủy bỏ.
Lệnh chấm dứt nhiệm kỳ của tôi ở VN đến vào cuối năm 1956 cho tôi về một nhiệm sở khác tại Hoa Thịnh Đốn. Trước khi lên đường, tôi hy vọng sẽ thực hiện được một hành động thân hữu sau cùng với ông Diệm. Tôi mong muốn tìm được một địa điểm nghỉ mát thật tốt cho ông Diệm để ông có thể nghỉ ngơi và bồi dưỡng tinh thần cũng như giúp cho sự suy tư của ông lắng dịu là những điều kiện cần thiết để một vị nguyên thủ quốc gia làm việc đắc lực.
Tôi dư biết rằng mỗi người có một lối nghỉ ngơi riêng. Tôi nhớ đến việc làm sai lầm của Hitler. Ông ta đã thực hiện những cuộc trắc nghiệm tâm lý và sinh lý tài tình để biết rõ khi có một trong số các lãnh tụ Đức cần được nghỉ ngơi. Nhưng Hitler đã làm hư hỏng hết khi ông bắt những lãnh tụ đã mệt mỏi ấy đến nghỉ mát gần bên ông ta ở Berchtesgaden thường khiến cho các lãnh tụ ấy mệt mỏi hơn vì họ không thích miền sơn cước hoặc giả vì họ phải ở gần ông xếp của mình quá. Ở Phi Luật Tân, Magsaysey cũng đã có một ngôi nhà nghỉ mát trên miền núi tại Baguio để ông đến nghỉ một đôi ngày, dù rằng khi đến đây ông vẫn còn không xa được khách khứa và, những vấn đề họ đem tới ; những lúc nghỉ ngơi mà ông ưa thích nhất là tại một nông trại của gia đình tại San Marcelino hoặc đi câu cá với bạn cũ ở ven con sông gần nông trại. Ông bà thân sinh của Mageaysay và ông anh là Jesus, lưu ý sửa soạn nơi nghỉ ngơi này sẵn sàng cho ông vào lúc thấy ông muốn chạy trốn khỏi những công việc vặt vảnh ở dinh Tổng thống .
Ông Diệm không gặp thuận lợi như Magsaysay khi đến lúc phải đi nghỉ mát. Thực sự ông cũng có một công thự để nghỉ mát tại miền núi DaLat mà những rừng thông, những khóm dâu, những vườn rau và những người Thượng đóng khố, mang vẻ tương tự như cảnh Baguio ở bên kia bờ Nam Hải. Nhưng sau khi nghỉ ở Dalat vài ngày trở về, ông Diệm thường có vẻ hốc hác và cho tôi hay là ông bị mất ngủ. Đêm Dalat quá yên tĩnh khiến ông thao thức chờ đợi một vài tiếng động. Ở Dalat ông chỉ thích những lúc ngồi một mình với cuốn sách trước lò sưởi đốt củi. Dù vậy, ông cũng vẫn cảm thấy những lúc này chỉ tương đồng đôi chút với cái thích thú mà ông cảm thấy khi đóng cửa ngồi một mình trong phòng riêng ban đêm ở Saigon, ở giữa đống sách vở chính ông lựa chọn.
Ngoài Dalat, một nơi nghỉ ngơi khác của ông Diệm là tại nhà ông ở Huế nơi bà cụ thân sinh và người em út đang sống. Nhưng sau những lần ra thăm Huế trở về Saigon ông Diệm cũng mệt mỏi như ở Dalat. Tôi đoán rằng những chuyện gia đình và vấn đề chính trị địa phương đã chiếm hết thì giờ nghỉ ngơi của ông. Một lần, tôi đã xúi ông Tổng Thống độc thân này tìm gặp người yêu ngày xưa của ông lúc đó vẫn chưa lấy chồng, và theo tục địa phương đưa bà ta đi dạo sông Hương rồi đánh đàn cho bà ta nghe – ông Diệm cho biết từ hồi niên thiếu đến nay ông không chơi đàn. Khi ở Huế trở về, vị “Tổng Thống hay xấu hổ” này đã thú nhận với tôi rằng đến phút chót ông không đủ can đảm làm việc ấy, chắc chắn tại vì ông chỉ là một chàng Lothario hạng xoàng. (Lothario là vai một chàng hay tán gái trong vở kịch The Fair Benitent của Nicholas Bowe năm 1703).
Khi tôi nói với ông về việc đi nghỉ mát ở vùng bờ biển, ông Diệm không chịu. Tôi đã biết có một căn nhà của chính phủ giữa một rặng thông trên một khu đất dốc trong khoảng bãi biển dành riêng phía bắc Long Hải, tiện đường xe từ Saigon ra. Với làn gió đều đặn phát ra âm thanh rì rào qua hàng thông và với những lớp sóng biển bất tận tung bọt lên bờ cát dốc, nơi này là địa điểm nghỉ mát lý tưởng. Dù ông Diệm không có ý kiến rõ rệt, nhưng gia đình ông lại hăng hái với việc ấy. Ông bà Nhu và các con đã cùng với tôi đi picnic ở khu nhà này, sau đó họ liền tham gia vào một chiến dịch vận động ông Diệm đi nghỉ cuối tuần ở địa điểm nói trên. Phần đóng góp của tôi vào chiến dịch là một vài bức vẽ phác họa cảnh khu nhà và cảnh bờ biển bằng chì mỡ. Bà Nhu đã đem treo những bức vẽ này trong phòng ngủ của ông Diệm để làm bích chương tuyên tuyền. Cuối cùng ông Diệm chịu đi nghỉ cuối tuần ở chỗ ấy và rủ tôi đi cùng.
Tôi và gia đình ông Diệm sống 2 ngày thảnh thơi ở bãi biển trong khung cảnh gia đình. Tôi có mang theo mấy cái quần tắm cho ông Diệm, nhưng ông thích tắm biển bằng đồ lót ; tôi ngạc nhiên khi phát giác ra rằng ông mặc loại quần lót dài thời xưa. Trên đường ra bãi biển, tôi ghé lại chợ mua mấy túi chôm chôm, vì lúc ấy là mùa của loại trái cây ngon đặc biệt này. Mấy người lớn trong gia đình không thèm ăn món quà rẻ tiền đó của tôi, vì vậy tôi và bọn trẻ con bơi xong lại lên ăn chôm chôm đến lúc no bụng. Ông Thục thì tập nói tiếng Anh bằng cách thuật lại cho tôi nghe về những cấp chỉ huy dân vệ ở vùng Mỹ Tho; những con người có rất nhiều khả năng thiên phú nhưng quá kém hiểu biết, không thể làm sĩ quan trong quân đội được. Tôi và ông Thục đồng ý rằng cần phải tuyển chọn những người này đi huấn luyện để họ có dịp tiến thân. Tôi nhận lời ông Nhu thách chơi đố chữ bằng tiếng Pháp mặc dù Bà Nhu bảo tôi đừng chơi với ông ta. Tôi thua ông Nhu hoài cho đến khi tôi đòi chơi bằng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh. Lúc tôi thắng một ván cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp, ông Nhu kêu mệt không chơi nữa. Bà Nhu bảo tôi rằng : “Ông ấy không thích bị thua”.
Ông Diệm với tôi thì phần lớn thảo luận về các nguyên lý của Khổng giáo, những quan niệm mà mọi người VN bắt đầu học từ lúc còn nhỏ trở đi và tôi tin rằng những quan niệm ấy đã tạo ra những tập tục thuần túy VN mà chính quyền VN phải đặt căn bản trên đó. Khi đề cập đến vấn đề này với tôi ở Saigon, thì con người uyên bác của ông Diệm lộ ra, và ông thảo luận một cách thật nồng nhiệt. Nhưng tại căn nhà bờ biển, với âm thanh đều đặn của sóng biển và của rặng thông trong gió, mắt ông sẽ lim dim và tôi không nói gì để lảng ra chỗ khác trong lúc ông nhắm mắt lại làm một giấc ngủ. Ông ngủ lim dim suốt buổi và suốt cả ngày cuối tuần, đồng thời ngủ được đầy giấc ban đêm. Khi về Saigon, ông cho biết chưa bao giờ ông cảm thấy thoải mái khi nghỉ mát như vậy.
Mấy năm sau ở Hoa Thịnh Đốn tôi nghe nói ông đang gặp nhiều khó khăn trong việc lãnh đạo, thì tôi cũng thấy ông trở lại thói quen đi nghỉ mát ở Dalat. Tôi không biết ông có thích nghỉ mát ở đấy không, hay là khi trở về Saigoo với công việc bề bộn, ông lại vẫn bực bội và mệt mỏi. Một lần tôi viết thơ đề nghị ông nên đi nghỉ ở bờ biển như xưa, thì ông cho biết du kích Cộng Sản đã quấy rối vùng này ; ông không muốn binh sĩ phải chịu những sự nguy hiểm chỉ để giữ an ninh cho một nơi nghỉ mát. Có lẽ điều này đã làm thay đổi con đường lịch sử VN.
đổi con đường lịch sử VN.