Tôi Làm Quân Sư cho Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM

Lượt đọc: 8033 | 2 Đánh giá: 7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một đường lối của Mỹ

Cuối tháng 12-1956, Magsaysay yêu cầu tôi ghé lại thăm Ma Ni trên đường từ Saigon về Washington. Vì vậy tôi ở lại Phi Luật Tân một đêm một ngày, thời gian quá ngắn để gặp gỡ người bạn cũ. Thay vì gặp gỡ Magsaysay và các bạn thân thiết trong một đêm yên tĩnh như tôi tưởng thì tôi lại bị mời như vị khách danh dự trong một bữa tiệc chính thức ở dinh Malacanang, một công việc ngoại giao với áo quần trang trọng do các cố vấn giao tế của Magsaysay bày ra, khác biệt hẳn với màu áo quần Kaki tôi bận. Mượn cái quần đen thâu lại cho vừa băng kim găm, một cái “Barong tagalog” (áo sơ mi kiểu Phi Luật Tân) trong tủ áo của Magsaysay, tôi ráng dự cho xong bữa tiệc khá dài với những lần nâng ly chúc mừng nhau và những bài diễn văn. Tôi nghĩ rằng cả tôi lẫn Magsaysay lúc này đâu có vui thích bằng một bữa cơm hồi xưa trong chiến dịch Huk với thịt bò hộp, với cơm và cả ăn bốc bằng tay giữa những chiến hữu không làm mình phiền phức.

Tuy có một số bạn cũ, nhưng nhiều quan khách trong bữa tiệc là những người tôi không quen biết trong đó gồm nhiều viên chức Mỹ đến phục vụ ỏ Phi Luật Tân sau tôi. Hai người trong số này ngó tôi một cách lạ lùng trong suốt bữa ăn.Sau đó khi tôi tự biệt họ để ra về, họ chào tôi bằng những lời nói châm chọc. Bộ quần áo đi mượn của tôi và sự hiện diện tại Phi Luật Tân của tôi đã làm họ khó chịu. Hình như những liên hệ Mỹ-Phi đã được thực hiện trên một căn bản “bình thường”, điều mà tôi đã làm sai lạc hẳn. Sau một vài nhận xét dưới khía cạnh này, một trong hai người nói trên lầm bầm : “Cám ơn Chúa đã cho ông đi khỏi đây”. Rồi cả hai bỏ đi.

***

Ngày hôm sau khi bay qua Thái Bình Dương về Mỹ, tôi mới nghĩ lại câu chuyện nhỏ mọn ấy. Tôi ngờ rằng cái liên hệ “bình thường” giữa người Mỹ và người Á châu có thể là cái thứ liên hệ như hai người Mỹ kia đã nói.

Trong những năm vừa qua ở Á châu, tôi nhận thấy rằng lề lối cư xử của các viên chức Mỹ thật là phức tạp. Có những viên chức chủ trương chính sách cách biệt nói rằng người Mỹ không thể đại diện đích đáng cho nước Mỹ nếu họ liên hệ quá nhiều với dân chúng bản xứ. Có những người khác lại cố tạo tình thân hữu với những người Á châu ở chung quanh họ : một số đi quá xa bằng cách sinh hoạt theo lối sống của người bản xứ, và một số giữ mức trung bình bằng cách vẫn giữ nguyên vị trí của mình trong khi kết giao thân hữu. Có những người Mỹ thuộc loại thích gánh vác, ưa sai bảo mọi người chung quanh thường là để đạt được một vài công việc nhất thời làm cho những người Á châu nhiều cá tính Á châu mà họ giúp đỡ bị mất hết sáng kiến và bị chạm tự ái. Có những chuyên viên không biết gì ngoài những chương trình trực tiếp với mình, nhiều khi khờ dại và vô tình khuyến khích các chính trị gia lưu manh cũng như bọn làm tiền có cơ hội làm ăn trong một vài công tác của Hoa Kỳ. Có những người Mỹ tác phong đàng hoàng và những người Mỹ xấu xa bẩn thỉu. Có những người làm việc mau lẹ và có những người làm việc chậm chạp.Thế nào mới là “bình thường”?

Hoa Kỳ đang thi hành những chươnng trình viện trợ rộng lớn ở Á Châu sau đại chiến thứ hai đê giúp các quốc, gia tự do cơ hội sinh hoạt trong thế giới. Đối với các chương trình này, từ lâu tôi đã tin chắc rằng cách thức viện trợ quan trọng hơn tiền bạc viện trợ rất nhiều. Sinh hoạt của con người không thiếu những thí dụ về những sự giúp đỡ được thực hiện một cách vụng về xấu xa, đã đem lại ganh tị, ghen tức, oán giận hay khinh rẻ của kẻ thụ hưởng hoặc đã phá hoại bản chất tinh thần của kẻ được giúp đỡ. Sinh hoạt của con người cũng không thiếu những thí dụ về tình thân hữu chân thành trong đó sự giúp đỡ được thực hiện đúng cách, đã nâng cao giá trị cả người cho lẫn người nhận. Tôi còn nhớ 2 câu chuyện mà người Phi Luật Tân kể cho tôi nghe sau khi tôi đến nước này năm 1945, những câu chuyện được kể lại luôn luôn đã in sâu vào trí não tôi. Vào lúc này, người Phi Luật Tân đã có cơ hội hiểu biết về người Mỹ nhiều hơn so với các dân tộc Á Châu khác nhờ ở hai thế hệ liên hệ mật thiết. Những câu chuyện ấy dạy cho tôi rất nhiều về cảm nghĩ của người Á Châu đối với tác phong của người Mỹ.

Một câu chuyện xảy ra với một nhân vật được mến chuông nhất trong số chính trị gia và trí thức Phi. Chuyện liên quan đến một buổi lễ tổ chức để khánh thành cây cầu do Công Binh Mỹ xây qua sông Pasig ở Ma Ni trước Thế Chiến thứ hai. Một viên chức Mỹ cao cấp đọc diễn từ trước đám đông đến dự lễ, ca ngợi những người Mỹ đã xây nên cây cầu và nêu lên vấn đề người Mỹ đã đem văn minh đến cho Phi Luật Tân như thế nào. Người kế tiếp đọc diễn văn là Tổng Thống Manuel Quezon một người quốc gia cực đoan. Quezon tỏ vẻ khinh bỉ lối ăn nói của viên chức Mỹ ấy và đáp từ một cách tức giận rằng thà “sống ở một địa ngục Phi Luật Tân do người Phi Luật Tân cai trị, còn hơn là sống ở thiên đường Phi Luật Tân do người Mỹ cai trị “. Đó là lối đả kích có từ lâu đối với thái độ trịch thượng của người Mỹ. Vậy mà phần lớn những người Phi kể cho tôi nghe chuyện này đều học ở trường công do giáo chức người Mỹ dạy ; các giáo chức này gây được rất nhiều cảm tình sâu đậm. Sự trái ngược giữa điều họ nhìn thấy ở người Mỹ trong lễ khánh thành cầu với điều nọ thấy ở các giáo chức dạy họ đã tạo ra vấn đề. Các giáo chức biết tôn trọng phẩm giá của người Phi Luật Tân trong khi viên chức Mỹ kia mù tịt về vấn đề ấy.

Câu chuyện đáng ghi nhớ thứ hai do những lãnh tụ Phi trong phong trào du kích kháng Nhật hồi Thế Chiến thứ hai. Chuyện này liên quan đến những giờ phút đen tối nhất của Phi Luật Tân vào đầu năm 1942. Các nhân vật trong chính phủ Phi đã chạy được đến cứ điểm ở đảo Corregidor ngoài mũi bán đảo Bataan. Câu chuyện nói Tổng Thống Quezon đã gửi một điện văn cho Tổng Thống Roosevelt, trong đó ông nêu lên vấn đề Phi Luật Tân đã tuyên chiến với Nhật theo đúng sự thỏa thuận với Hoa Kỳ. Tuy nhiên hiện nay quân Nhật đã tràn ngập Phi Luật Tân. Dân chúng đang chịu thiệt hại, đất nước bị tàn phá trầm trọng. Chỉ có một phần nhỏ còn lại của quân lực chống giữ. Với sự thất vọng, phải đi đến kết luận rằng đã tới lúc không còn tiếp tục chiến đấu được nữa. Hoa Kỳ có vui lòng cho Phi Luật Tân được hủy bỏ thỏa hiệp về việc chiến đấu bên cạnh người Mỹ không ‘?

Bạch Cung đã phúc đáp đồng ý cho Phi Luật Tân từ bỏ mọi trách vụ đã đem lại thiệt hại cho dân chúng Phi. Quezon được tự do hành động theo đường lối tốt nhất mà ông thấy. Tuy nhiên Hoa Kỳ đã hứa sẽ bảo vệ Phi Luật Tân. Vì vậy cho nên dù rằng rất lấy làm buồn đã phải hành đậng như vậy nhưng Hoa Kỳ vẫn trung thực với lời hứa của mình và sẽ hết sức bảo vệ Phi Luật Tân dầu cho chỉ còn một ngườ Mỹ sống sót để chiến đấu thực hiện mục tiêu ấy. Giữa tấm thảm kịch phơi bày cho dân chúng Phi Luật Tân và dân chúng Hoa Kỳ, sự trao đổi các điện văn nơi trên liên hệ đến một tâm lý bí ẩn thông thưừng của người châu Á. Những người Phi Luật Tân kể cho tôi nghe chuyện này đã kết thúc câu chuyện bằng cách hỏi tôi rằng : “Chúng tôi không thể làm gì khác hơn là tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu trong dân chúng dù chính phủ hành động ra sao đi nữa. Người Mỹ, các ông đã tin tưởng chúng tôi và chứng tỏ điều ấy bằng cách hy sinh để bảo vệ chiúng tôi. Chúng tôi phải đứng về phía các ông và tự tồn tại làm con người” Những năm chinh chiến sau đó có rất nhiều những sự kiện ghi dấu những liên hệ mật thiết đặc biệt giữa Phi Luật Tân và Hoa Kỳ, những liên hệ đã làm thế giới kinh ngạc vì đã được duy trì qua những cơn đen tôi. Đối với tôi, câu chuyện này chứng tỏ quan hệ tư tưởng sẽ tồn tại giữa những dân tộc cùng có chung những tin tưởng. Đấy là tình huynh đệ trong đó chúng ta thương yêu, tin tưởng và giúp đỡ nhau.

Bây giờ tôi rời bỏ Á Châu vào lúc năm 1956 sắp hết, một thập niên nhiều xáo trộn sau Thế Chiến thứ hai. Tôi nhìn nhận hơn bao giờ hết rằng đường lối thực tế nhất cho những người Mỹ phục vụ ở Á Châu là lưu tâm đến chủ nghĩa lý tưởng của chủ thuyết chính trị Hoa Kỳ và lấy đó làm căn bản cho mọi hành động. Chúng ta đã liên quan đến cuộc tranh đấu rộng lớn ở Á Châu với đối phương là Cộng Sản thân Mao, những người tin tưởng cuồng nhiệt rằng họ phải cải tạo cả thế giới theo quan điểm của họ ngay ở đầu mũi súng. Họ theo đuổi một cuộc chiến tranh chính trị giống như một cuộc thánh chiến, lấy tư tưởng làm vũ khí chính. Chúng ta đã chiến đấu chống lại tư tưởng của họ bằng tiềm lực của chính chúng ta, chia xẻ tiềm lực này với các đồng minh. Nhưng tôi lấy làm ghê sợ vì có bao nhiêu người Mỹ chúng ta được coi như là tiềm lực. Chúng ta nói “In God we trust” (Chúng ta tin tưởng ở Chúa), nhưng rồi chúng ta lại tin tưởng nhiều nhất ở vật chất như tiền bạc, máy móc, hàng hóa và quân sĩ để thắng cuộc đấu tranh này. Tôi không chối cãi gì về công dụng của vũ khí, đô-la và vật liệu để trợ lực cuộc chiến đấu, cũng như coi các loại nói trên chỉ giữ một vai trò yểm trợ thứ yếu cho mục đích chính yếu của chúng ta, những nguyên lý của người Mỹ. Chúng ta không thể chỉ tìm cách chống Cộng Sản. Chúng ta còn phải làm gì cho chính chúng ta.

Tôi đã có những quan niệm riêng về Cộng Sản Á Châu qua những đụng chạm với họ. Tôi lấy làm buồn khi thấy một số người Cộng Sản đã đi theo Cộng Sản thoạt đầu chỉ vì những lý do tư tưởng như tranh đáu cải tiến những bất công xã hội, rồi sau đó mới tự thấy mình bị kềm kẹp trong một guồng máy mà mình đã mất tin tưởng, bị giữ chặt trong guồng máy ấy bằng những biện pháp an ninh sắt thép, hoặc tự thấy những cảm nghĩ tội lỗi vê những hành động mà họ đã nhúng tay vào vì bị mê hoặc. Những kẻ bị kềm kẹp ấy gồm có cả những nhân vật Cộng Sản danh tiếng mà nỗi đau khổ riêng tư của họ chẳng khác gì nỗi đau khổ của thần Prowetheus (nhân vật thần thoại Hy Lạp, đã đánh cắp lửa của Thượng Đế để đem cho loài người).

Tôi cũng đã nhìn thấy những sự dã man tàn nhẫn của Cộng Sản. Lòng tôi thực sự xót thương cho những nạn nhân của Cộng Sản và căm giận cao độ những hành vi họ gây ra. Trong năm 1956, hàng ngàn người bị Cộng Sản lên án đích danh và bị sát hại vì những lý do rất vô tội như sinh trưởng trong những gia đình hay trong những trường hợp mà Cộng Sản không thích. Từ khi Thế chiến thứ hai chấm dứ, 700 triệu người đã bị Cộng Sản chinh phục bằng lực lượng quân sự chính trị, trong một trang lịch sử sôi động, đã lừa bịp được tất cả những người thiện chí bằng chiêu bài “giải phóng”. Hàng triệu con người được giải phóng ấy bị kềm giữ tại các địa phương và các trại lao động, không được phép nói lên tiếng nói cho tương lai mình, và bị trừng phạt một cách khủng khiếp khi vi phạm luật lệ ấn định. Họ sống trong ngục tù bao la xa cách thế giới bên ngoài sau những bức Màn Sắt, Màn Tre.

Người ta có thể thấy trước là Cộng Sản sẽ tiếp tục vai trò chinh phục thế giới, kềm kẹp thêm nhiều phần nhân loại. Các lý thuyết gia Cộng Sản có một định kiến về việc bành trướng cuộc cách mạng của họ sang các nước khác, coi như điều kiện cần thiết để xây dựng thành công một xã hội lý tưởng mà họ hy vọng sẽ được thiết lập. Những lý thuyết gia này giống hệt bọn con nít tin chuyện thần tiên, tin tưởng dễ dàng ở câu chuyện có một kết cục tốt đẹp sau những hồi nguy nan khủng khiếp. Sự kiện ấy chẳng an ủi chúng ta là những kẻ đối đầu với họ chút nào.

Phương thức chinh phục của Cộng Sản mà tôi nhận thấy là những chiến thuật Á Châu của chủ trương “chiến tranh nhân dân”. Thay vì xử dụng quân lực chính quy để xâm chiếm một quốc gia thì họ lại áp dụng một phương thức ít tốn kém hơn, phương thức mà dân nghèo có thể theo đuổi được. Bước sơ khởi có thể được thực hiện với một số rất ít những đồ đệ được võ trang của tư tưởng Công Sản tại một căn cứ mà họ được an toàn không sợ lực lượng Cảnh bị hoặc các lực lượng khác của chính phủ. Được huấn luyện thành đảng viên và du kích, bọn họ ủng hộ sư bất mãn của dân chúng và qui trách cho các nhà cầm quyền. Rồi chừng nào quân số của họ gia tăng, họ sẽ tấn công lực lượng chính phủ tại những nơi và vào những lúc chắc chắn đem lại thắng lợi. Họ tiếp tục lớn mạnh cho đến khi lực lượng của họ chi phối được vùng thôn quê, bao vây các thành thị, cắt dứt thành thị khỏi nông thôn và sau cùng bức hàng các thành thị này. Nói cách khác, đây là một cuộc đấu tranh chính trị do các đảng viên võ trang tuyển lựa từ khối nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân.

Chiến tranh nhân dân thành công với họ Mao ở Trung Hoa và họ Hồ ở Bắc Việt và chỉ bị ngưng lại sau những khó khăn lớn ỏ Phi Luật Tân, Mã Lai và Miến Điện. Đã có bằng chứng cho thấy loại chiến tranh này đang được phát động ở Indonesia, nơi mà sự chuẩn bị trong làng mạc vùng trung bộ Java đã khiến vùng này được mệnh danh “con đường Diên An” , ở Thái Lan nơi có nhiều Việt kiều, trong vùng đông bắc đã tạo nhiều làng mạc thành các căn cứ an toàn cho các cán bộ được huấn luyện tại Hà Nội. Trong thời gian tôi ở VN, Hồ chí Minh, Võ nguyên Giáp và các lãnh tụ Cộng Sản khác đã khoe khoang khá nhiều về thành tích đánh bại người Pháp bằng phương thức chiến tranh tầm thường. Thành tích ấy là phần thưởng kích thích đám dân nghèo khát khao quyền hành ở các quốc gia khác trên thế giới kể cả các quốc gia mà chính phủ sẽ trông cậy vào sự giúp đỡ của Hoa Kỳ khi quốc gia ấy trở nên mục tiêu của Cộng Sản. Người Mỹ sẽ đối phỏ như thế nào ? Hoa kỳ có coi mỗi khó khăn mới như là một thứ tranh chấp Đại Hàn khác hay không ?

Chiến tranh Đại Hàn là một sự kiện khác thường, hai bên chiến đấu trong một cuộc chiến tranh qui ước tại một nơi và vào một lúc mà chiến tranh phi qui ước và chiến tranh cách mạng đã thành một qui tắc mới. Tại Đại Hàn, Cộng Sản đã không áp dụng những điều họ đã cổ võ và những gì đã giúp họ thành công ở các phần đất Á Châu khác. Tôi ngạc nhiên thấy bằng cách chỉ xử dụng du kích như lực lượng phụ thuộc cho quân chính qui, và xử dụng khối lượng rất lớn về bộ binh, mà quân Cộng Sản ở Đại Hàn đã cố gắng chiến đấu theo kiểu Nga Sô thay vì xử dụng những phương thức mà họ Mao đã nhờ đó chiếm được nước Trung Hoa. Đối lại, người Mỹ và đồng minh đã chiến đấu bắng phương thức quy ước của mình gần như là một sự pha trộn giữa Thế Chiến thứ nhất và thứ hai nhưng với những loại vũ khí hiện đại. Cuộc chiến tranh Đại Hàn là một kinh nghiệm tàn bạo, nhưng nó không dạy được bài học nào về chiến tranh nhân dân. Tôi cảm thấy rằug Cộng Sản Á Châu sau khi bị đau đớn nặng nề ở Đại Hàn, sẽ trở lại phương thức quen thuộc xưa nay của họ trong cuộc chiến tranh tới đây. Tôi chỉ ước mong rằng cuộc chiến ở Đại Hàn không khiến cho một số quá lớn người Mỹ mù tịt về loại chiến tranh của Cộng Sản Á Châu một cách kỳ quái và thảm hại. Cuộc tranh chấp kế tiếp sẽ đòi hỏi ở chúng ta nhiều khôn khéo nếu chúng ta trợ giúp và muốn trợ giúp một cách thích đáng.

Những bài học ở Phi Luật Tân và VN đã nhấn mạnh đến chiến lược nhân dân do Cộng Sản ápdụng và sự cần thiết phải tổ chức phòng thủ nhân dân để chống lại chiến lược ấy. Trên căn bản, nhân dân trong một quốc gia là tính chất chủ yếu trên chiến trường Cộng Sản chọn lựa, vì cuộc tranh đấu ở chiến trường ấy là cuộc tranh đấu giữa Cộng Sản và chính quyền dành sự ủng hộ của nhân dân. Bên nào được dân ủng hộ, bên ấy sẽ dành được quốc gia và đánh bại được bên kia. Vì vậy Cộng Sản cố tìm cách chia rẽ dân chúng với chính quyền và dành quyền kiểm soát một số lượng dân chúng ở mức quyết định. Các phòng thủ vững chắc chống lại chiến lược ấy là chính quyền và dân chúng được kết hợp chặt chẽ với nhau đến độ không thể bị chia rẽ. Nói cách khác, tiềm lực quốc gia phải xuất phát từ điều mà Lincoln đã mô tả ở Getlysburg về một chính phủ “của dân, do dân và vì dân”. Có được một chính phủ như vậy và với dân chúng có hiểu biết, thận trọng, thì phương thức phát động cuộc chiến tranh nhân dân mà Cộng Sản thường khoác lác khoa trương sẽ không có nghĩa lý gì.

Dựa vào sự hiểu biết nói trên về việc phòng thủ clủ yếu trong một quốc gia được Hoa Kỳ ủng hộ, thì vai trò của người Mỹ trong các chương trình viện trợ đã rõ ràng. Riêng việc viện trợ đã có nghĩa là chúng ta sẽ gây ảnh hưởng đến công việc nội bộ của một quốc gia. Vì vậy ta cần phải xử dụng ảnh hưởng ấy một cách thích đáng để hướng dẫn quốc gia ấy đạt được một tiềm lực thực sự, tiềm lực ấy là một phần của tình thân hữu giữa chúng ta và dân chúng quốc gia đó. Lợi ích lâu dài của chúng ta đòi hỏi rằng mỗi hành động của các viên chức ta tại những quốc gia nói trên phải nhằm vào việc khuyến khích công cuộc xây dựng hoặc duy trì trách vụ của chính quyền đối với dân chúng và có dân chúng tham gia. Sự tiến triển có thể chậm, đạp đến từng bước ngắn, nhưng chúng ta không nên đi ra ngoài mục tiêu nói trên chỉ vì lý do công việc này không thích hợp hoặc chỉ để thỏa mãn tự ái quan liêu.

Nói như vậy có nghĩa là các viên chức Hoa Kỳ tại một quốc gia được viện trợ nên lợi dụng từng giờ từng phút khả dĩ tạo được thông cảm với dân chúng trong quốc gia ấy và phải hành động trong phạm vi tình thân hữu đã có. Các cố vấn chính trị nên làm cho chính quyền bản xứ lưu ý đến nhu cầu duy trì tinh thần tôn trọng luật lệ quốc gia đem lại công bằng xã hội cho quần chúng và làm sao cho luật pháp được áp dụng, được bảo vệ và được tăng tiến. Chương trình viện trợ quân sự phải bảo đảm được rằng số quân sĩ do chương trình viện trợ ấy võ trang và sẽ được dùng vào công tác bảo vệ dân chúng, một công tác được coi như mục tiêu tối hậu và vĩnh viễn để đạt đến hiệu năng trong nghệ thuật quân sự. Chương trình viện trợ kinh tế chỉ nên được thực hiện bằng những phương thức, có thể gây cho dân chúng thêm tự tin, và không nên thực hiện bằng những phương thức làm phát triển chế độ chủ nhân ông bản xứ hoặc những vụ toa rập tham nhũng khác. Bất công xã hội, sự tàn bạo của quân đội, cảnh sát và nạn tham nhũng phải được coi là những khuyết điểm trầm trọpg trong việc phòng thủ quốc gia, những sai lầm sẽ đưa quốc gia ấy đến chỗ sụp đổ cũng như kết quả là Hoa Kỳ sẽ sụp đổ khi các đồng minh của mình đã bị đánh bại.

Nếu mọi quốc gia đồng minh của ta thực tâm xây dựng công cuộc phòng thủ chủ yếu trong nhân dân của họ, và nếu Hoa Kỳ thành công đối với các nguyên tắc đã biểu lộ của mình bằng cách hướng tất cả nguồn ngoại viện riêng cho một công cuộc phòng thủ như vậy, thì sự bành trướng của Cộng Sản bằng việc xử dụng chính sách du kích khủng bố sẽ bị chận đứng. Là một người Mỹ thực tế, tôi đã có và hiện có cảm tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ chấp nhận ý kiến dễ thực hiện này. Đằng sau những người thảo ra chính sách Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn còn khá nhiều nhà chuyên môn phân minh, đáng tin cậy về những giải pháp thích đáng cho các vấn đề thường nhật, về nghệ thuật của chính sách quyền lực và về lối xử dụng các phương tiện thể chất và vật chất một cách tàn nhẫn. Họ có thể hiểu chút ít về sự thực dựng của việc bấu víu lấy ý tưởng có một chính phủ của dân, do dân, vì dân như phương thức phòng thủ vững mạnh nhất mà một quốc gia có thể có để chống Cộng Sản, và họ tìm ra những phương thức khác để đánh bại Cộng Sản, những phương thức mà họ có thể nhìn thấy, đụng chạm đến hay nghĩ ra trên giấy tờ. Vì vậy tôi chỉ có thể kết luận rằng viện trợ của Hoa Kỳ sẽ thất bại không giúp đỡ đươc việc xây dựng công cuộc phòng thủ có thực chất, rằng những khiếm khuyết sẽ tiếp tục tồn tại trên thế giới, và Cộng Sản tinh ranh sẽ nhận thấy, sẽ khai thác các khiếm khuyết ấy. Chúng ta có thể tin tưởng rằng còn những cuộc chiến tranh nhân dân theo đường lối Mao Trạch Đông nữa xảy ra trong thời đại chúng ta.

Trong những cuộc chiến tranh nhân dân tương lai ở những quốc gia đang được chúng ta viện trợ, tôi mong rằng chúng ta sẽ không quên vấn đề căn bản chính trị của các cuộc tranh chấp thuộc loại này và sẽ không đặt quá nhiều tin tưởng một cách sai lầm vào các hành động quân sự, hành động cảnh sát và hành động kinh tế mà không nhìn nhận rằng các hành động ấy chỉ là công cụ của ý đồ chính trị. Nếu chúng ta sai lầm như thế, Cộng Sản sẽ tiếp tục mạo nhận tiếng nói của quần chúng, thổi phồng mọi lầm lỗi của chính quyền họ muốn tiêu diệt, thu dụng những kẻ bị thiệt hại vì chính quyền cùng với thân nhân và bạn bè của họ và tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn. Trong một tình trạng suy đồi như vậy, cách cứu nguy duy nhất là chuyển các ưu tiên về phòng thủ trở lại những mục tiêu đáng lẽ được ưu tiên ngay từ lúc đầu, đó là xây dựng và tăng cường cơ cấu chính trị quốc gia, sự xây dựng có quần chúng tham gia, và đòi hỏi tất cả các hành động khác phải phục vụ cho mục tiêu nầy. Dầu được hưởng ưu tiên thời chiến nhưng nột công việc tế nhị như vậy phải mất nhiều thời giờ.

Nếu muốn thành công, những người Mỹ thiếu kiên nhẫn phải nhớ đến di sản của chúng ta. Các nhà cách mạng thành lập quốc gia ta đã hiểu rõ nhu cầu bắt buộc phải tiến hành cuộc tranh đấu xây dựng nền tảng chính trị. Vậy mà phải mất 5 năm chiến tranh sau khi Tuyên Ngôn Độc Lập ra đời, Hiến Chương Liên Bang đầu tiên mới được phê chuẩn, và thêm 7 năm nữa Hiến Pháp Hoa Kỳ mới được thực hiện.Thời gian l2 năm chúng ta cần có để xây dựng một cơ cấu chính trị vững bền vào thế kỷ thứ l8, tuy có thể là chưa đầy đủ, nhưng thời gian ấy có thể cho phép Cộng Sản tạo được hiệu năng tác hại. Các cuộc chiếu tranh nhân dân cần đến những người chiến sĩ kiên trì.

Các vị tổ sáng lập nước Mỹ đã để lại một di sản khác về chiến lược cách mạng mà con cháu các vị ấy nên lưu ý trong các cuộc chiến tranh nhân dân. Họ đã chọn nhân vật đầu sỏ của phe đối lập là George III, làm mục tiêu chính trong mặt trận tâm lý chiến được tiến hành liên tục suốt cuộc tranh đấu, loại chiến trah được coi là quan trọng hơn cả vũ khí của quân đội Cách Mạng Mỹ. Hậu quả của chiến dịch tâm lý này mạnh đến nỗi ngay cả những thế hệ về sau trong thế kỷ 20, một Thị Trưởng Chicago đã trúng cử phần lớn chỉ nhờ lập trường chống đối lại George lII đã chết từ lâu. Chúng ta có thể buồn cười vì sư ngây thơ của quần chúng ngày nay nhưng chúng ta không thể phủ nhận hiệu quả tâm lý của hành động nguyên thủy. Chiến lược hướng những đòn tâm lý vào cấp lãnh đạo của địch quân trong chiến tranh chính trị không phải là mới lạ. Đó là điều cần thiết căn bản của một cuộc chiến tranh như vậy, mà trong chiến tranh nhân dân ngày nay thì đó chỉ là những thí dụ mới mẻ nhất.

Guồng máy lãnh đạo độc tài của lực lượng Cộng Sản trong chiến tranh nhân dân là một mục tiêu rõ rệt. Phương thức tuyển lựa một nhân vật Cộng Sản đễ đại diện quân chúng trong cuộc chiến tranh ấy hiển nhiên là điều có thể đem ra đả kích cũng giống như vấn đề “thiên mệnh của vua chúa” ngày xưa. Sự sai lầm trong lập trường của các lãnh tụ Cộng Sản đối với nhân dân và tội dã man cố ý mà họ đã gây nên nhân danh một lãnh lụ cần được phơi bày ra ánh sáng một cách liên tục và mạnh mẽ. Một chính phủ có một căn bản đạo đức dựa vào nguyện vọng của quần chúng có thể thực hiện được một cuộc tấn công tâm lý hữu hiệu nhắm vào guồng máy lãnh đạo của Cộng Sản, vạch rõ sự phân cách giữa các lãnh tụ Cộng Sản với dân chúng, tình trạng bất lực ngày một gia tăng của họ và sự sụp đổ chắc chắn của chế độ ấy. Chiến lược này cũng có hiệu nghiệm trong cuộc chiến tranh nhân dân hiện nay như đã có hiệu nghiệm tại Hoa Kỳ năm 1776. Sự tàn bạo vẫn còn là tàn bạo dù nó mang bất cứ danh hiệu nào.

Tóm lại, tôi kết luận răng những người Mỹ đi giúp dân chúng các nước khác trong các cuộc chiến tranh nhân dân phải hiểu rõ rằng các cuộc đấu tranh này bao gồm nhiều phương tiện hình thành mục tiêu tư tưởng tối hậu. Những cuộc đấu tranh này chủ yếu là những cuộc tranh chấp giữa các quan niệm về giá trị con người. Cộng Sản nhận định một cách duy vật rằng con người chỉ hơn sẽ không (số 0) một chút, con người là vật vô giá trị đối với quốc gia và phải phục vụ quốc gia. Người Mỹ chúng ta, để thành thật với chính mình, phải coi con người như một cá nhân được Tạo-Hóa ban cho “một số quyên lợi nhát định không thể chuyển nhượng”, và để “bảo vệ những quyền lợi này, các chính phủ được thiết lập giữa con người với nhau”. Trong những cuộc chiến tranh nhân dân, đó là tiếng nói cho tự do của người Mỹ trên chiến trường.

« Lùi
Tiến »