Trần Khánh Dư

Lượt đọc: 2972 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG X

Nắng gay gắt trên biển Vân Đồn. Trần Khánh Dư đứng trên vọng lâu trông ra đội thuyền chiến đang thao luyện. Phía sau ông, Hoàng Phủ Tín vẫn im lìm đứng hầu. Nhân Huệ vương quay lại và hỏi:

– Ngươi thấy thế nào?

– Dạ, bẩm chủ nhân, rõ là thuyền của ta nhỏ và yếu. Tôi đã từng đối đầu với hải thuyền Tống khi đi theo những thuyền cướp biển. Hải thuyền Tống cực lớn, có thể đè sóng mà đi băng băng. Thuyền của ta vẫn phải lựa sóng mà tiến, thoái. Nếu đối trận, tôi e rằng ta khó mà địch nổi...

– Phải, nhưng thuyền lớn cũng không đóng kịp thêm nữa. Có đóng cũng chẳng được nhiều mà lại không còn sức đóng thuyền nhỏ...

Nhân Huệ vương ngừng lời. Trên biển, ba chiếc thuyền lớn giả làm hải thuyền của giặc đang đè sấn mấy đoàn thuyền của ta để băng băng tiến. Những thuyền nhỏ bật tung ra hai bên, chới với trên sóng. Lính trên thuyền nhỏ quăng dây để trèo lên thuyền lớn, nhưng cứ leo gần lên tới nơi lại bị xô xuống. Có những người lính loay hoay trèo lên tới bốn năm lần cũng chẳng ăn thua gì.

Trần Khánh Dư truyền Hoàng Phủ Tín phất cờ thu quân. Ông tướng đánh thủy trèo xuống vọng lâu, ra tận bãi biển đón quân sĩ. Ba tướng nhà họ Phạm và Đỗ Niêm không giấu nổi sự mệt mỏi. Đánh trên bộ mệt một thì đánh trên biển mệt tới cả mười. Vừa đánh, vừa phải giằng co với sóng, với gió. Nhưng cái mệt của hôm nay thì khác. Đây là cái mệt của người chưa tìm ra cách khắc chế quân thù. Mới chỉ có ba thuyền lớn đã xé nát cả đội hình bày trận như thế này thì sẽ phải đối phó ra sao khi cả đoàn hải thuyền lừng lững của giặc kéo sang?

Trần Khánh Dư hiểu lòng các tùy tướng. Ông cho quân về trại, rồi truyền các tướng vào gian lều nhỏ dưới chân vọng lâu. Rượu đã được bày ra. Trần Khánh Dư nâng bát rượu lên, bảo:

– Các ngươi đã vất vả nhiều. Nay hãy uống hết bát rượu này rồi cùng ta bàn kế.

Bữa rượu trôi qua trong im lặng. Hoàng Phủ Tín loay hoay nhìn vẻ trăn trở trên gương mặt ba tướng nhà họ Phạm và Đỗ Niêm, rồi lại ngắm vẻ trầm tư khó giấu của Trần Khánh Dư... Phạm Chính đột ngột cất lời:

– Trình vương gia, trận hôm nay không tìm thấy hai người.

Lại thêm hai người lính chết trận. Chỉ là thao luyện, nhưng trận giả trên biển vẫn có thể chết. Những người lính quá mệt khi ngã xuống biển có thể không bám được vào thuyền và cũng không bơi nổi vào bờ. Đánh trận giả trên bộ thì thường cũng chỉ đến bươu đầu, hay đi tập tễnh vài ngày; nặng nữa thì phải nằm chừng nửa tháng. Nhưng đánh trận trên biển khắc nghiệt vô cùng. Dẫu đã có một đội thuyền nhỏ chuyên cứu ứng nhưng làm sao cứu cho hết được.

Trần Khánh Dư thở dài:

– Nhắc đám chài để tâm xem có tìm vớt được họ không? Bằng không thì lại đành bày lễ mà hương khói vọng ra biển cho người ta...

Không khí trên chiếu rượu càng thêm ngột ngạt. Ngột ngạt như những ngày trước bão. Không một ai nói với ai câu gì. Chỉ có những bát rượu nâng lên rồi lại đặt xuống. Uống thật chậm rãi. Từng ngụm, từng ngụm...

Ở xứ sở sông ngòi chằng chịt này, người dân sống bám vào nước. Họ xăm hình thủy tổ Long Quân xuống sông chẳng sợ thủy quái. Cỡ như Yết Kiêu hay Đỗ Niêm có thể sống cả ngày ở dưới nước. Nhưng thuyền của nước Việt chỉ là những con thuyền nhỏ loay hoay ở sát bờ. Rất ít thuyền lớn có thể tung hoành ngoài biển xa, có thể đối đầu với sóng to gió lớn và hải tặc. Dẫu Quốc công đã cho các xưởng đóng thuyền làm việc hối hả từ khi giặc tan, nhưng thật khó mà đóng cho kịp nhiều thuyền lớn. Ngay cả thuyền tướng của Trần Khánh Dư cũng chỉ ngang với cỡ thuyền hạng trung của giặc nếu chiểu theo tin do thám của ta báo về mà so sánh.

Lần trước đoàn thuyền của Toa Đô cũng đã tung hoành trên biển, và ta chỉ có thể chặn chúng lại khi chúng đổ quân lên bộ. Lối đánh vây mòn dựa vào thế đất hiểm trở không thể mang ra biển. Những tay bộ cung hay mã cung lên thuyền chỉ có ngao ngán thở dài. Tên bắn trên thuyền khác xa trên bộ. Sóng dập gió dồn, nhắm đằng này, tên bay đằng khác. Đừng tưởng giặc chỉ biết đánh ngựa. Những viên tướng Nguyên đánh biển đều là hải tặc mới được chiêu hàng. Lối đánh của hải tặc khác với lối đánh của chiến tướng. Quân cướp biển đến cực nhanh và đi cũng cực nhanh. Đã đánh là phải tàn sát cho bằng sạch, cướp cho bằng sạch. Thuyền cướp biển cực kỳ mạnh, mũi thuyền lớn, đè sấn được cả sóng to. Trần Khánh Dư và các bộ tướng đã từng đối đầu thuyền hải tặc vài trận. Ta có cả thắng cả thua, thắng nhiều hơn thua, nhưng thường là chỉ phải đánh với vài thuyền cướp. Lần này nếu giặc kéo sang đoàn chiến thuyền hùng mạnh, đối trận và thắng quả là khó hơn lên trời.

Dĩ nhiên, những điều ấy Trần Khánh Dư chỉ nghĩ trong bụng, và chúng tướng có thể cũng vậy. Nhưng không ai nói ra cả. Chưa ra trận đã sợ thua thì hỏng. Mà nói ra làm rối lòng quân thì là tội đáng chém. Trần Khánh Dư chỉ nói với các tướng:

– Nếu giặc lại sang, việc đánh trên bộ chắc Quốc công nắm phần thắng trong tay. Chỉ có việc trên biển, thực là gánh nặng của ta cùng các ngươi đó!

Chúng tướng tỏ rõ vẻ bồn chồn trước cách nói của Nhân Huệ vương. Vị Phó Đô tướng vốn đã nổi danh làm gì thì chắc như định đóng cột giờ cũng trở nên quá thận trọng. Ngay cả những viên cận tướng như anh em họ Phạm, Đỗ Niêm hay Hoàng Phủ Tín vốn đã vào sinh ra tử bên cạnh ông giờ cũng như tự hỏi "phải chăng những biến cố dồn dập vừa rồi đã khiến vị tướng thân trải trăm trận đột nhiên thay đổi?”

Bữa rượu tàn. Trần Khánh Dư đứng dậy, bảo:

– Các ngươi về trại coi quân, đang khi luyện rèn căng sức này, dặn lính hỏa đầu cho quân ăn no để lấy sức mà tập.

Đoạn, Nhân Huệ vương lững thững bước ra sân. Ông đứng dưới một gốc cây, trầm tư ngẫm nghĩ. Đám cận tướng không dám làm phiền, lặng lẽ lùi ra lối cổng sau. Từ phía một nhà dân xa xa, vẳng lại một tiếng gà gáy eo óc, rồi tất cả lại chìm trong yên lặng. Ông Phó Đô tướng ngồi xuống một hòn đá bên gốc cây. Nếu ông là viên tướng Nguyên cầm thủy quân tiến vào Đại Việt, ông sẽ đánh ra sao? Những câu hỏi cứ thế vần vũ trong đầu vị tướng tựa như mây quẩn ngày mưa gió. Giặc sẽ tiến vào hùng hổ, đè đầu sóng bạc hay nghênh ngang bày thế uy vũ thong dong mà tiến? Hai phen thua trên bộ đến mảnh giáp không còn, chúng sẽ đánh thủy kiểu gì?

Nhân Huệ vương biết gánh nặng của cuộc chiến sắp đến trĩu trên vai ông. Nếu ông thua, cục thế chiến tranh sẽ khác. Chinh chiến đã nhiều, Trần Khánh Dư không sợ nỗi ám ảnh "quân thua, chém tướng”. Nhưng nếu ông thua, mà nhất là nếu thua to, thì sĩ khí của ba quân sẽ yếu, Quốc công khó bề định liệu và cắt đặt. Với cuộc chiến này, ông không được phép thua. Chỉ có điều, không thua đâu phải dễ.

Trần Khánh Dư ngồi yên trên hòn đá bên gốc cây cho tới khi tắt nắng!

Người tìm đến dinh trấn thủ Vân Đồn là một ông già râu bạc. Ông lão chừng sáu mươi, vẫn đầy vẻ quắc thước. Ông tìm hỏi thăm con là lính trong đội lính thủy Vân Đồn. Niềm tự hào ngời lên trong ánh mắt của ông già khi ông trả lời người lính gác:

– Con của lão nó là quân của Đức ông Phó Đô tướng Nhân Huệ vương đấy nhá!

Buồn thay, ông già tìm ra Vân Đồn quá muộn. Con trai ông chính là một trong hai người lính xấu số ngã xuống biển trong cuộc trận giả ngày hôm trước. Người lính gác nghe ông lão kể tên con liền dẫn ông đi tìm Phạm Chính.

Phạm Chính sững người trước vẻ mặt háo hức và những câu hỏi dồn dập của ông già. Tin con ông chết trận đã được báo về quê trong ngày hôm qua, nhưng ông thì chưa biết. Viên tướng bao phen vào sinh ra tử giờ đứng trơ trơ nhìn người cha già lặn lội ra thăm con. Trong cái tay đẫy ông mang theo kia, chẳng biết có gì mà lỉnh kỉnh quá chừng. Phạm Chính đón ông già vào lán, sai người rót bát nước mời ông. Nhìn vẻ mặt Phạm Chính, ông già dường như đã dần hiểu ra một điều xấu đã xảy đến với con ông. Ông già cất lời:

– Nhìn vẻ mặt tướng quân, lão đã đoán được vài phần. Mấy hôm nay, gan ruột lão nóng như lửa đốt nên lão mới đánh đường ra đây. Xin cho lão hỏi, thằng con lão bỏ quân hay hàng giặc? Nó mà đến nước ấy, thì coi như lão không có thằng nghịch tử ở trên đời!

Nói thế, rồi ông già ứa nước mắt. Phạm Chính nghẹn lại. Ôi, tấm lòng của người cha. Phạm Chính nắm lấy tay ông:

– Không phải thế, xin ông lão đừng nghĩ thế. Con của ông lão là một người lính can đảm, nhưng... nhưng...

Phạm Chính lắp bắp không nói rõ thành câu. Đúng lúc ấy, Trần Khánh Dư bước vào. Vị tướng cướp lời:

– Ông lão ạ, con của ông đã mất. Người lính ấy chết trong một buổi thao luyện của thủy quân. Đó là một người lính chính trực, can trường. Tiếc là, hiện vẫn chưa tìm được thây cậu ta...

Cả Trần Khánh Dư và Phạm Chính đều bất ngờ trước phản ứng của ông lão. Ông chùi nước mắt, vái Trần Khánh Dư:

– Lão không biết tướng quân, nhưng xin bái tạ tướng quân bởi những lời về con trai lão. Nó chết vì nước là lão yên dạ, chứ lão chỉ lo nó bỏ quân hay hàng giặc thì sau này lão biết thưa gửi ra sao với tổ tiên.

Nói đoạn, ông lão nghiến răng xốc cái tay đẫy lên vai, vái Trần Khánh Dư và Phạm Chính:

– Chào hai vị tướng quân, lão tôi xin phép về để lo hậu sự cho con.

Và không chờ lời đáp trả, ông lão xăm xăm đi thẳng ra cửa lán. Tới cửa, ông dừng bước, rồi quay lại và ngồi thụp xuống, mở tay đẫy ra. Ông lôi từ trong đó một xấp vải nâu đưa cho Trần Khánh Dư và nói:

– Lão mang vải ra cho con lão may áo. Nay nhờ tướng quân trao hộ lại cho anh em binh lính kẻo phí vải đi. Nhà lão chỉ có mỗi mình nó, vải này là bà lão ở nhà mua cho nó. Giờ lão mang vải về không, chắc bà lão chẳng chịu nổi đâu..

Trần Khánh Dư cố nén để khỏi bật khóc. Nước mắt ông chảy dài trên mặt, rồi rơi xuống mảnh vải nâu còn cứng nếp. Phía sau, Phạm Chính đã quay mặt vào trong, hai vai rung lên bần bật.

Không hề để ý đến thái độ của hai ông tướng, ông lão nói tiếp:

– Hai vị tướng quân cho lão gửi lời bái tạ Đức ông Nhân Huệ đã dạy dỗ cho thằng con lão nên người. Nó ngày xưa là phá gia chi tử, nay thành người lính tốt là nhờ ơn của Đức ông.

Trần Khánh Dư chắp tay vái ông già như là đã nhận lấy những lời gan ruột ấy. Ông khoát tay cản lại khi Phạm Chính tỏ vẻ muốn nói. Chẳng cần phải để người cha mới mất con biết rằng vị tướng vừa nhận xấp vải nâu chính là Đức ông Nhân Huệ. Cũng không nên nói những lời an ủi vô vị vào lúc này. Hãy cứ để ông già nuốt nước mắt vào trong và kiêu hãnh với niềm tự hào về đứa con đã chết.

Ông lão đã đi xa, Trần Khánh Dư vẫn rưng rưng nâng tấm vải nâu trên tay.

○ ○ ○

Đêm đã khuya. Hoàng Phủ Tín đương ngồi chờ trong gian phòng nhỏ. Nhân Huệ vương vẫn chưa ra về. Những canh bạc đang đến hồi khát nước. Đã thành lệ, mỗi lần tới đổ trường [37] là Trần Khánh Dư chỉ mang theo Hoàng Phủ Tín. Gương mặt và phong thái lạnh như băng tuyết của anh ta dường như quá hợp với không khí nghẹt thở trong đổ trường lúc về đêm, chỉ còn những tiếng bạc to. Riêng hôm nay, tới nơi Trần Khánh Dư bảo Hoàng Phủ Tín ngồi đợi ở gian phòng phía ngoài chứ không cho anh ta theo vào trong. Hoàng Phủ Tín có cảm giác vị vương gia mà anh ta theo hầu bấy nay đang muốn trút bao nhiêu nỗi lòng vào mấy canh bạc; và ông không muốn anh ta chứng kiến những khoảng khắc khốc liệt đó.

Hồi còn lang bạt, Hoàng Phủ Tín đã kinh qua biết bao nhiêu đổ trường. Ở chốn này, anh ta chứng kiến đủ mọi khuôn mặt của mọi loại người. Chỉ cần bước đến cửa là đôi mắt họ đã ngầu lên dục vọng và vẻ mặt nhợt nhạt đầy toan tính. Chỉ khi quay ra, những đôi mắt và vẻ mặt mới khác xa nhau. Có kẻ say trong cơn điên rồ chiến thắng. Có kẻ rũ xuống như tàu lá héo vì nhẵn túi và nợ nần... Trước đến giờ, Trần Khánh Dư đi đánh bạc theo một kiểu khác. Ông là người có tiền, có quyền - những thứ ông giành được bằng bản lĩnh và cả sự liều lĩnh. Vì thế, ông vào sới bạc chỉ để thưởng thức một cảm giác khác: dùng liều lĩnh để thách thức may mắn. Có lẽ bởi vậy, chưa khi nào Hoàng Phủ Tín thấy Trần Khánh Dư vui vì thắng hay buồn vì thua. Lúc nào ông cũng dửng dưng vào và ra khỏi sới bạc... Nhưng lần này khác. Sau quá nhiều suy nghĩ và thêm chút đau xót, ông tìm đến đổ trường chắc hẳn cho nguôi ngoai...

Chưa bao giờ anh ta cảm thấy nhớ quê hương như lúc này. Nếu không có loạn lạc nhiễu nhương, nếu không có đội quân Mông Thát tràn xuống chiếm lấy giang sơn nhà Tống thì có lẽ anh ta vẫn đang tung hoành đâu đó trên quê hương rộng mênh mông. Nhưng giờ thì quê hương đó dẫu vẫn rộng nhưng không còn một chỗ trú chân cho những người như Hoàng Phủ Tín nữa. Người thì lánh sang Đại Việt, hay xuống tận Chiêm Thành; cũng có những kẻ đến Cao Ly mong tìm chút an toàn. Cũng may, anh ta sang Đại Việt và được Trần Khánh Dư thu dụng. Có vẻ như vị vương gia tính tình cổ quái này khá tin tưởng Hoàng Phủ Tín, nhưng anh ta chưa bao giờ hiểu nổi Trần Khánh Dư nghĩ gì về mình và mong đợi gì ở mình. Đôi mắt sắc với cái nhìn có phần nghiệt ngã của ông luôn như soi thấu vào tận tâm can của những người tiếp chuyện. Đi theo Trần Khánh Dư, cũng có lúc Hoàng Phủ Tín cảm thấy nản. Nản ghê gớm. Chỉ vì anh ta không sao đoán định được Trần Khánh Dư sẽ làm gì với ai. Thế nhưng, chỉ một câu bóng gió qua bài thơ của Hoàng Sào, ông Phó Đô tướng ấy đã đoán ngay ra Hoàng Phủ Tín muốn ám chỉ âm mưu của lũ người mưu phản...

Chỉ còn một mình, Hoàng Phủ Tín lại chìm đắm trong hoài niệm và ám ảnh. Nỗi ám ảnh còn mới nguyên. Khi truy bắt tên thương nhân Tào Kỷ, Hoàng Phủ Tín đã giao phong với một gã hộ vệ khá lâu. Võ công của gã hết sức âm độc. Thế nhưng lúc tối hậu, gã lại hớ hênh để Hoàng Phủ Tín đắc thủ. Tới khi giết được gã, lột khăn che mặt ra, Hoàng Phủ Tín mới biết đó chính là người bạn tâm giao một đêm Triệu Ngọc Đường. Tìm trong bọc, Hoàng Phủ Tín mới biết được nỗi đau lòng của bạn...

Triệu Ngọc Đường vốn sinh ra thân thể ẻo lả như con gái. Cha mẹ vì thế mời thầy dạy võ để mong hắn rèn luyện mà cứng cáp lên. Người thầy kia xem mạch của Ngọc Đường, liền biết hắn chịu nỗi trớ trêu của hóa công: đó là một cô gái trong thân xác đàn ông. Người thầy liền dạy cho Triệu Ngọc Đường một bộ võ công tà dị nửa dương nửa âm. Thường khi hành tẩu giang hồ, họ Triệu chỉ dùng một nửa võ công mang tính dương.

Triệu Ngọc Đường vì thân thế hoàng tộc nhà Tống, vì cha mẹ... mà cố sức quên đi phần hồn thiếu nữ trong người để thiên hạ chỉ biết tới chàng Ngân diện thư sinh họ Triệu võ công khét tiếng. Ai ngờ, chỉ qua một đêm tri âm tri kỷ cùng Hoàng Phủ Tín, phần hồn thiếu nữ liền trỗi dậy. Ngọc Đường không sao dẹp bỏ được ma tâm, nên đành lang thang khắp chốn quyết tìm cho được Hoàng Phủ Tín. Tìm, không phải để tái ngộ hay tỏ bày. Mặc cảm tràn đầy không cho phép Ngọc Đường làm điều đó khi còn sống. Tìm, để giao phong một trận bằng nửa võ công thuần âm và rồi chết bởi tay người trong mộng. Bao nhiêu tâm tình đành trút vào phong thư viết sẵn bên người, hy vọng là Hoàng Phủ Tín đọc được.

Chẳng biết Hoàng Phủ Tín tìm thấy và đọc được lá thư là may hay không may. Nhưng từ đó, anh ta ngơ ngẩn mãi như kẻ mất hồn. Hoàng Phủ Tín mai táng cho Triệu Ngọc Đường ở chân núi Vân. Bây giờ, trong những giấc mơ, anh ta vẫn gặp lại Ngọc Đường nhưng dưới hình hài thiếu nữ. Ngọc Đường chỉ đứng từ xa nhìn, lã chã nước mắt rơi rồi từ từ tan biến thành hư ảo! Đôi lúc, giấc mơ còn vọng một tiếng đàn cô quẩn.

Hoàng Phủ Tín đã ngủ được một lúc lâu khi thấy Trần Khánh Dư vỗ vào người gọi dậy. Đôi mắt vị vương trấn thủ Vân Đồn thoáng vằn lên những vệt máu đỏ. Suốt dọc đường về, ông không nói với Hoàng Phủ Tín một câu và anh ta cũng hoàn toàn im lặng. Hoàng Phủ Tín sóng ngựa đi cạnh Trần Khánh Dư, anh ta đảo mắt vào những bụi cây tối thẫm trên đường theo thói quen của một người kiếm thủ hộ vệ. Đêm hoàn toàn im lặng. Không có tiếng chim đêm, không có tiếng chó sủa, thậm chí kể cả tiếng côn trùng rả rích cũng không hề thấy. Một cảm giác quạnh vắng tràn ngập trong lòng Hoàng Phủ Tín.

Về tới dinh trấn thủ, Trần Khánh Dư khoát tay ra hiệu Hoàng Phủ Tín về nghỉ. Còn ông thì một mình lững thững tới góc sân. Ở nơi đó, có một bộ bàn ghế làm bằng thứ đá vân xanh ánh lên như ngọc, quà tặng của một thương lái. Thứ đá này, mùa đông ngồi không hề lạnh mà mùa hè thì cực mát. Trần Khánh Dư có hai bộ bàn ghế bằng đá. Bộ nổi vẫn như da cọp vằn, ông đã tặng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Và Chiêu Văn vương cũng đã mang bộ bàn ghế đó tặng Trịnh Giốc Mật, vị chúa tể vùng rừng thượng nguồn sông Đà. Trần Khánh Dư đã từng nghe Thượng phẩm phụng ngự Trịnh Mác kể lại: "Thân phụ của tiểu tướng nhận được món quà đó liền ngồi lì cả ngày ở cạnh; ăn cũng ở đó, uống nước ở đó, bàn việc ở đó”. Trần Khánh Dư trêu: "Vậy ông ấy có định ngủ ở đó không?" Và Trịnh Mác phá ra cười: "Thì tối hôm đó, mẹ của tiểu tướng sai người ra hỏi xem có cần dọn chăn gối lên bàn không!”

Nghĩ lại chuyện trước, Trần Khánh Dư chợt thấy lòng nhẹ bớt. Nhiều người tưởng rằng ông buồn vì thương những người lính chết khi tập trận và thương người cha già đến tìm con. Nhưng sự việc đâu đơn giản như thế. Đời làm tướng, đời lang bạt sông biển, Trần Khánh Dư đã chứng kiến bao nhiêu cái chết, bao nhiêu nỗi thương tâm. Đâu phải chỉ vì có thế mà ông phải vùi quên vào những tiếng bạc? Ông Phó Đô tướng chuyên lo mặt biển đang thực sự lo lắng. Thủy quân Đại Việt tuy thiện chiến và giỏi bơi lặn nhưng thuyền chiến đều bé. Thuyền bé tuy cơ động nhưng khó đương cự khi những hải thuyền cướp biển lừng lững đè sấn lên sóng mà tiến. Chỉ cần tiến vào gần thôi cũng đủ bị những đợt sóng òa ra từ thuyền lớn lắc cho chao đảo rồi. Thuyền chiến của giặc hầu như đều trưng từ đám cướp biển mà bọn tướng Nguyên cũng vốn hải tặc xuất thân. Đương cự với chúng trên mặt biển rộng thì chẳng khác gì bày trận chống đám quân kỵ Nguyên Mông trên đồng cỏ bao la.

Ấy thế nhưng, cứ theo binh tình mà xét, lần này Trần Khánh Dư không thể không làm cái việc khó khăn ấy. Nhất định ông sẽ phải đối trận với một mãnh tướng Nguyên trên mặt bể Đông bao la. Và chúng sẽ quyết tâm đánh tan chốt chặn của ông để tiến thẳng vào đất liền mà hội quân với Thoát Hoan.

Theo lẽ, đã biết chắc thua thì phải tránh. Nhưng mệnh trên ban, không đánh không được. Mà làm tướng, thấy giặc lại chạy ư? Bao nhiêu câu hỏi ngổn ngang trong lòng Trần Khánh Dư.

Hửng sáng, Trần Khánh Dư mới đứng dậy vào dinh nghỉ. Dường như vị Phó Đô tướng đành bằng lòng rằng những điều băn khoăn kia sẽ còn mãi cho tới khi ông thực sự đối trận với viên tướng Nguyên đứng sừng sững trên lâu thuyền. Thì cứ coi như thêm một lần liều lĩnh đùa giỡn may mắn nữa xem sao!

Trần Khánh Dư ngả mình xuống sập. Giấc ngủ mệt mỏi và mộng mị. Trong cơn mơ, Trần Khánh Dư thấp thoáng thấy thân phụ, Nhân Thành hầu Trần Phó Duyệt, nhắc nhở câu gì đó về Trung Vũ vương Trần Thủ Độ - ông nội của ông. Một lời nhắc mơ hồ, nhàn nhạt. Và Trần Khánh Dư cũng nhanh chóng quên đi giấc mơ đó, dù rất có thể sẽ đến ngày ông sẽ phải nhớ lại đến nó. Nhớ mãi về sau...

« Lùi
Tiến »