Trần Khánh Dư

Lượt đọc: 2978 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XIV

Trăng giữa tháng treo lơ lửng trên biển rộng. Từ trên mỏm núi cao trông ra phía biển, Trần Đức Việp thấy trăng vàng mọng và đẹp mê hồn. Tá Thiên vương quay sang cười cười nói với Trần Khánh Dư:

– Trăng đẹp thế này, hơn hẳn trăng Thăng Long rồi chú ạ. Trần Khánh Dư nâng chén rượu lên nhấp rồi mới dửng dưng trả lời:

– Ở đâu mà lòng ta thảnh thơi, thì trăng nơi đó đẹp.

Trần Đức Việp giật mình:

– Chú Nhân Huệ đang có gì lo nghĩ?

Trần Khánh Dư xoay người bảo cháu:

– Lúc này thì phải lo nghĩ nhiều đó cháu. Tin thám báo của ta gửi về, thằng Trương Văn Hổ là tướng nhà nòi. Cha nó là cướp biển về hàng Nguyên từ sớm. Nếu nó cầm thủy quân, thực không dễ đánh.

Trần Đức Việp ngần ngừ một chút rồi hỏi:

– Cháu cứ nghĩ, sao Quốc công không cho đóng hải thuyền thực lớn để đấu với chúng nhỉ?

Nhân Huệ vương vươn người, túm lấy cổ tay Tá Thiên vương:

– Chuyến này, ai cử cháu ra Vân Đồn?

Trần Đức Việp vội trả lời:

– Dạ bẩm chú, là cháu vâng mệnh Quan gia.

Trần Khánh Dư nghiêm mặt:

– Vậy là Quan gia muốn cháu ra đây học thêm những thứ mà ở Thăng Long không ai dạy được.

Đức Việp gật lấy gật để:

– Dạ đúng đấy ạ, Quan gia dặn cháu có gì thắc mắc không được giấu, cứ đem ra hỏi chú. Quan gia bảo, trước hãy hỏi chú... Nhân Huệ vương phì cười:

– Rồi việc quân quốc trọng sự thì mới vấn kế Quốc công phải không?

Đức Việp tủm tỉm cười:

– Bẩm vâng. Quan gia bảo, cháu còn trẻ, nếu hỏi nhiều quá, ắt sẽ bị Quốc công quở.

Rồi chàng vương gia trẻ tuổi rụt cổ lại, nói tiếp:

– Cháu thấy Quan gia có việc, cũng phải nghĩ suy lắm mới dám đem hỏi Quốc công. Ai cũng bảo, người duy nhất hỏi mà không sợ Quốc công chỉ có mình chú!

Trần Khánh Dư phá ra cười, sai lính hầu rót rượu thêm cho Đức Việp rồi bảo:

– Đức ông Tiết chế là bậc trên, uy nghi nhưng gần gũi, lẽ ra các cháu không nên sợ sệt. Nếu có việc cần, nhất định phải hỏi. Quốc công không trách phạt gì các cháu đâu. Chỉ là lũ các cháu tự dọa nhau mới nên nỗi.

Đức Việp hấp háy mắt:

– Đấy là Quan gia nghe chị Bảo Thánh nói thế. Quan gia đối với chị Bảo Thánh còn nể nang mấy phần, sau lại nghe chị ấy kể vậy, làm gì chẳng ngại. Quan gia kể với cháu, ngày trước ngồi học Quốc công ở Giảng Võ đường, mỗi khi bị Quốc công hỏi thì Quan gia lo lắm.

Trần Khánh Dư lúc lắc đầu cười to:

– Đấy là đám các cháu còn không được học ông nội ta đấy. Xưa cả họ Trần, đến ông An Sinh vương gặp ông nội ta còn không dám cất lời kia...

Nói tới đó, Trần Khánh Dư giật giọng:

– Giờ để ta giả nhời câu hỏi lúc nãy của cháu.

Câu hỏi này, không phải Đức Việp là người hỏi đầu tiên. Đã không ít vương hầu và các tướng thắc mắc hoặc cầu xin triều đình cho đóng hải thuyền loại lớn. Lớn ngang với ngự bạc [45] . Họ tin rằng phải có thuyền đủ lớn mới đương cự được với quân giặc trên mặt biển. Ngay cả người từng được Quốc công giao cho trông coi việc đóng thuyền như Hoa Xuân Hùng cũng đã từng có lần lén thắc mắc với Trần Khánh Dư như thế.

Trần Khánh Dư hỏi Đức Việp:

– Cháu đã đọc kỹ Binh thư yếu lược của Quốc công chưa? Đã ngẫm về câu "Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh” kỹ chưa? Rồi không chờ lời đáp, ông nói tiếp:

– Để ta nhắc cháu điều này: ai nhiều quân bằng Tống triều, nhiều tướng giỏi như Tống triều, vậy mà trước chịu hàng Kim, sau mất nước vào tay Hốt Tất Liệt. Người cầm quân phải trông thế mà làm răn.

Nhân Huệ vương không nói gì thêm, ông lững thững đứng dậy, khoát tay ra ý bảo Trần Đức Việp đi theo. Hai chú cháu đi xuyên qua một bụi cây sẫm rồi lom khom ngồi xuống. Viên tùy tướng của Nhân Huệ vương khẽ đặt vào tay Tá Thiên vương một thanh đoản kiếm. Trần Đức Việp thoáng chút giật mình rồi nhìn chăm chắm vào lưng chú. Chừng giập miếng trầu, từ đằng xa vắng lại tiếng gươm kiếm va nhau, rồi nghe tiếng quát:

– Gian tế chớ chạy!

Hai bóng đen lướt qua trước mặt đám người đang nấp. Viên tùy tướng và Nhân Huệ vương cùng vung tay. Phập, phập. Hai bóng đen khuỵu xuống vì bị dao phóng thẳng vào bắp chân. Trần Đức Việp toan nhỏm lên nhưng lại bị kéo tay xuống. Từ góc khuất, có mấy người lính nhanh chóng hiện ra lôi hai tên gian tế vào sau một tảng đá. Chốc sau, lại thấy một kẻ bịt mặt xuất hiện. Hắn chăm chú nhìn những vệt máu trên đất rồi tuốt kiếm đi theo vết máu. Vút, vút... Hơn chục mũi tên bay ra và kẻ bịt mặt gạt được gần hết. Hắn nhìn quanh tìm lối tẩu thoát. Nhưng đúng lúc đó, một bóng câu liêm mềm đánh vụt tới làm hắn ngã sấp xuống. Chớp mắt đã thấy Đỗ Niêm kề đoản kiếm vào cổ kẻ bịt mặt trong khi đám lính trói quặt tay hắn ra sau. Tới lúc này, Trần Khánh Dư mới kéo Trần Đức Việp từ chỗ nấp tiến ra. Tá Thiên vương còn nguyên cảm giác mơ hồ vì những việc trước mắt vừa xảy ra nhanh quá. Đỗ Niêm moi trong bọc kẻ bịt mặt ra một gói nhỏ rồi mở xem và dâng lên Trần Khánh Dư. Nhân Huệ vương liếc mắt qua rồi quay sang bảo Tá Thiên vương:

– Luồng lạch sông Mang!

Những kẻ này đúng là gian tế. Chúng tìm cách vẽ lại luồng lạch của sông Mang và đang tìm cách mang về Bắc quốc. Thực ra sông Mang tiếng gọi là sông nhưng thực là phần eo biển sâu và hẹp nằm lọt thỏm giữa đồi núi trập trùng. Phần biển đó tựa như một con sông, nên dân mới gọi là sông Mang. Cửa vào sông Mang là cửa thương cảng Vân Đồn. Giữa mùa gió bão, thuyền bè ẩn trong vùng sông Mang tha hồ kín gió. Nhưng luồng lạch sông Mang, chỉ có những tay cực thạo mới hiểu hết. Vì thế, lũ gian tế vẽ được bản đồ luồng lạch ở đây chắc hẳn phải có kẻ tham tiền nào giúp đỡ. Việc xử trí chúng thế nào, các tướng Vân Đồn đều đã quen thuộc: trước là tra hỏi tìm cho ra những kẻ chưa bị bắt, sau là tất thảy mang ra nghiêm trị. Cung cách ấy, Nhân Huệ vương không cần chỉ bảo nữa. Ông chỉ nói với Trần Đức Việp khi ra lại nơi uống rượu ngắm trăng:

– Đó, vương điệt thấy không? Thuyền lớn có nghĩa gì, nếu không giữ nổi những tờ giấy nhỏ!

Trần Đức Việp cúi đầu không đáp. Chàng vương gia trẻ sực nhớ lời anh trai, tức là Quan gia Nhân Tông, đã nói về Nhân Huệ vương: "Chú Nhân Huệ vẻ ngoài tính khí ngang tàng, nhưng trong lòng thâm sâu khó đoán. Trọng trấn Vân Đồn, là mang trên mình gánh nặng quốc gia. Vừa luyện quân thủy, vừa coi chuyện bán buôn thu thuế, vừa quản đất quản dân, lại còn phải lo chống gian tế của giặc. Người không đủ tài, ắt làm hỏng chuyện. Mà dùng được chú Nhân Huệ, cũng chỉ có Quốc công. Xem ra trong nước Nam này, nếu không nhờ oai đức Quốc công, chắc triều đình cũng không dám dùng chú Nhân Huệ”. Khi đó, Đức Việp cố hỏi: "Tâu Quan gia, chẳng lẽ như thế thì uổng phí tài năng ư?” Nhân Tông gật đầu đáp: "Dùng chú Nhân Huệ, phải dùng hết tài. Chú Nhân Huệ tài cao nhưng ngạo khí ngút trời. Nếu không phải người được ông ấy nể vì tài, phục vì đức.. thì thực không thể dùng nổi ông ấy”.

Trong đám con cháu họ Trần, Nhân Huệ vương chẳng ưa mấy ai. Dạo gần đây, ông mới để mắt đến Tá Thiên vương. Đây là một vương tử trẻ trung, con nhà hoàng tộc nhưng chịu học, tính tình ôn hòa. So về tài, Đức Việp không bằng hai ông chú Chiêu Minh, Chiêu Văn. So về uy, Đức Việp lại càng thua kém hai ông chú. Nhưng Tá Thiên vương thường gần gũi kẻ dưới; và không phân chi Trưởng, chi Thứ, cứ ai hợp là giao du. Vì lẽ ấy, Tá Thiên vương nhiều bạn, mà bề trên cũng quý. Đó cũng là cơn cớ để gã Chương Hiến hầu Trần Kiện không nguôi ganh ghét Đức Việp.

Nhân Tông cũng rất thương Đức Việp. Nhìn cung cách Nhân Tông dạy bảo và uốn nắn Đức Việp, Trần Khánh Dư có thể đoán trước sắp tới nhà vua sẽ trao thêm quyền cho cậu em trai.

Suy nghĩ ấy của Nhân Huệ vương quả không sai, ngay lúc ấy Tá Thiên vương cất lời phá tan sự tĩnh lặng kéo dài trong cơn suy nghĩ của hai chú cháu:

– Bẩm chú, cứ như ý cháu, việc Nguyên chúa ngưng hội quân chỉ là nhất thời...

Đó thực là cách nghĩ của người biết việc, Trần Khánh Dư gật đầu ban khen:

– Vương điệt khá lắm, nghĩ được như thế kể cũng là chín chắn. Cháu nói tiếp đi...

Trần Đức Việp nói ngay:

– Bẩm chú, cháu đã được Thượng hoàng và Quan gia đưa cho xem một đoạn sớ tấu của Lễ bộ thượng thư Nguyên triều Lưu Tuyên dâng lên Hốt Tất Liệt do các thám báo chuyển về. Lưu Tuyên cho rằng tốt nhất nên tạm dừng chinh phạt nước ta. Hai vua hỏi ý cháu, cháu thực lòng tâu lên, nếu việc hội quân chinh phạt có tạm ngưng, cũng chỉ là cái may mà trời đất giúp ta thêm chút thời gian luyện quân rèn tướng.

Trần Khánh Dư thân rót một chén rượu trao cho Đức Việp:

– Chén rượu này là thưởng cho cháu. Biết nghĩ, biết nghĩ.

Đón lấy chén rượu, Đức Việp chợt nghệt mặt ra, quên cả lạy tạ:

– Phải chăng việc đó khiến chúng dăm lần bảy lượt bày kế li gián Quốc công và chú với triều đình, lại toan vu hãm Đức ông Tĩnh Quốc?

Nhân Huệ vương đáp:

– Chính là thế đấy. Mà cũng vì thế, ta mới phải lo về việc Trương Văn Hổ ráo riết dụ hàng đám hải tặc. Và, lính tuần của ta mới phải canh phòng cẩn mật tránh những kẻ gian tế họa lại luồng lạch Vân Đồn như vừa rồi cháu thấy.

Trần Đức Việp càng lúc càng thấy không khí chiến tranh tràn ngập Vân Đồn. Trăng vàng ngoài kia giờ trở nên lạnh lùng và vô vị. Giặc vẫn lăm le ngoài cõi. Dẫu chúng vừa ngưng việc hội quân, và thám báo truyền tin về rằng đám Trần Ích Tắc lại đã lục tục dắt nhau trở lại Ngạc Châu, thì mối họa vẫn còn nguyên.

Đêm, Nhân Huệ vương truyền Thị Thảo cùng mấy người lính chèo thuyền đưa Trần Đức Việp dạo chơi ngắm trăng trên sông Mang. Năm chiếc thuyền nhỏ thong dong trôi trên mặt nước lấp lánh như dát vàng. Đảo lớn đảo nhỏ, núi cao núi thấp lô nhô hai bên như hư, như thực. Vừa đi, Thị Thảo vừa kể cho Tá Thiên vương nghe về Vân Đồn và dòng sông Mang. Câu chuyện miên man trên sóng nước tưởng chừng bất tận. Thị Thảo kể rằng, trên đảo chính Vân Hải của Vân Đồn có một chiếc giếng tên là giếng Hệu. Người con gái nào gội đầu bằng nước giếng sẽ có mái tóc dài. Đêm thanh, Trần Đức Việp sững sờ nghe Thị Thảo ngâm nga câu ca dao chẳng biết có từ bao giờ ở chốn đây:

XXXXXXXXXXCC

Khi đi tóc mới ngang vai

Tắm nước giếng Hệu, tóc dài ngang lưng.

XXXXXXXXXXXX

Thị Thảo còn kể, dân làng vẫn nhắc giếng Hệu vốn xưa chỉ là một giếng nước trong. Từ khi có nàng tiên mến cảnh nơi đây thường ghé qua tắm gội, giếng nước được nhuần tiên khí, trở nên quý giá lạ thường. Trong ánh trăng vàng mơ, thuyền bồng bềnh trôi, Tá Thiên vương cứ ngỡ mình đang được nàng tiên Thị Thảo đưa đi thăm chốn Bồng Lai tiên cảnh...

Tới khi thuyền quay về và cập bờ, nghe khúc Cao sơn lưu thủy văng vẳng Tá Thiên vương chưa hết bâng khuâng càng như muốn đắm chìm trong ảo giác. Thị Thảo nói rằng đó là tiếng đàn của Hoàng Phủ Tín. Từ ngày Triệu Ngọc Đường chết, Hoàng Phủ Tín bắt đầu học đàn. Anh ta tìm học mọi ông thầy đàn lưu lạc đến Vân Đồn. Anh ta yêu đàn như si dại. Mỗi lúc không phải theo hầu Nhân Huệ vương, Hoàng Phủ Tín lại sống với cây đàn.

Thế rồi, tiếng đàn đưa Tá Thiên vương vào một giấc ngủ mộng mị trong đêm trăng tròn giữa trời biển Vân Đồn...

Khi tia nắng đầu tiên rọi vào mắt làm Tá Thiên vương tỉnh giấc, thì thủy quân Vân Đồn đã giương buồm ra khơi để thao luyện từ lâu. Trần Đức Việp nhỏm lên nhìn, ngoài kia những cánh buồm lồng lộng và những ngọn cờ hiệu vàng óng phần phật trong nắng sớm. Các tướng Vân Đồn đang đứng trên lâu thuyền phất cờ lệnh dàn trận.

Lính hầu bẩm rằng Đức ông Nhân Huệ dặn Tá Thiên vương chớ vội đi, để xong buổi tập trận hôm nay rồi Đức ông sẽ cùng Tá Thiên vương về đất liền cho an toàn. Nhưng Tá Thiên vương không đợi được nữa. Chàng vương tử trẻ vội vã truyền quay ngay về Thăng Long. Chuyến ra Vân Đồn đã mang lại quá nhiều điều mà Đức Việp muốn lập tức tâu lên Quan gia. Tá Thiên vương viết lại vài dòng cáo biệt gửi Nhân Huệ vương, rồi đi thẳng ra bến, xuống thuyền. Lính trạo nhi mắm môi chèo. Xung quanh là những hòn đảo lô nhô thực đẹp nhưng Đức Việp không còn mấy tâm trí thưởng ngoạn.

Tá Thiên vương cứ mải nghĩ suy cho tới khi nhận thấy, đoàn thuyền của mình đã bị hai chiếc thuyền tấn công. Những mũi tên đang xé gió vùn vụt lao về phía vị vương tử em trai ruột của nhà vua.

Trần Đức Việp khom người xuống, và tuốt gươm ra...

« Lùi
Tiến »