Một ngày cuối tháng Chạp năm Trùng Hưng thứ nhất, đúng giờ Dậu gà lên chuồng, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư sai gia nô bày bàn tiệc. Cách đây ba hôm, Đức ông truyền rằng tiệc không cần lớn, nhưng các món phải ngon và thanh. Mấy ngày liền, gia nô phủ Nhân Huệ chạy cuống lên trong thái ấp Chí Linh. Đã lâu lắm rồi, họ không còn thấy Đức ông Nhân Huệ mời khách. Ngày trước, hồi sau khi Đức ông Thượng tướng Nhân Thành hầu mất, vị vương trẻ Nhân Huệ vẫn thường tụ tập khách khứa bạn bè náo động cả Chí Linh. Nhưng rồi, một câu chuyện chẳng hay ho gì xảy ra. Mối tình vụng trộm giữa Nhân Huệ vương với phu nhân của Hưng Vũ vương đột nhiên vỡ lở. Bao nhiêu tai họa đổ ập xuống vị vương đang lúc phong vân nhẹ bước ấy. Và thái ấp Chí Linh sau đận đó lúc nào cũng đóng cửa im ỉm. Không khách khứa, không tiệc tùng, không chè chén. Có vẻ như gia nô phủ Nhân Huệ và gia nô thái ấp đã dần quên mất cung cách thết khách của vị vương gia tính tình thất thường này. Mà kể, cũng phải nói cho rõ ràng mọi sự: Nếu giặc Nguyên không kéo sang, không có cuộc đại hội vương hầu ở bến Bình Than mà đích thân Hưng Đạo vương xin với Quan gia triệu vời rồi trọng dụng Nhân Huệ vương thì có nhẽ tới giờ, Trần Khánh Dư vẫn chỉ là một ông trùm bán than phiêu bạt giữa giang hồ.
Được phục chức, rồi trao binh quyền, Nhân Huệ vương bước vào cuộc chiến với vị thế người đang tìm lại những gì đã mất.
Rồi ông đi qua binh lửa và ra khỏi cuộc chiến với vị thế Phó Đô tướng quyền cao chức trọng. Phủ Nhân Huệ ở kinh thành bị quân Nguyên đốt phá tan tành liền được ban cho mở lại và trong khi các gia nô đều về ngụ tạm thái ấp Chí Linh. Kẻ ăn người làm ở Chí Linh đều chắc mẩm phen này vị vương thừa kế sẽ tiếp tục tiệc tùng ngày này qua tháng khác. Thế nhưng, mọi chuyện không xảy ra như thế. Chẳng thấy vị khách nào được mời tới. Chẳng tiệc tùng nào diễn ra. Kể ra việc ấy cũng là lẽ thường. Vì Nhân Huệ vương được Quan gia giao phó gánh nặng trấn nhậm Vân Đồn, một trọng trách quá lớn. Mãi năm cùng tháng tận, Chí Linh mới lại sắp có tiệc. Mà tiệc ít người chứ không ầm ĩ như thuở trước.
Tiệc bày lên nhà ngang đã xong mà khách chưa tới. Đức ông Nhân Huệ loẹt quẹt đi ra ngắm nghía các món rồi gật đầu bảo quản gia Vũ Khắc:
– Được, nhà ngươi cũng tinh đấy! Rét mướt thế này, tất cả các món chốc nữa đều đem hâm nóng được cả.
Vũ Khắc cúi đầu:
– Dạ bẩm, đấy là A Lý đã dự liệu trước, trình Đức ông!
Nhân Huệ vương khoát tay:
– Thưởng cho A Lý, rồi gọi nó lên ta bảo.
A Lý rón rén đi lên, khép nép chờ lệnh. Nhân Huệ vương bảo:
– Nhà ngươi thực đã cố gắng, tiền thưởng lần này mang về nhà, không được đánh bạc nữa nghe chưa!
A Lý còn đương lập cập chưa biết đáp lại ra sao thì gia nô lên trình: "Khách đã đến”. Gã đầu bếp mới chạy từ Tống sang Đại Việt liền mừng rỡ lỉnh xuống sân ngay khi Đức ông Nhân Huệ chạy ra đón khách. Cả lũ gia nô nấp nỏm sau gốc cây, cố rình xem khách là ai mà được đón tiếp cầu kỳ đến thế.
Khách chỉ có ba. Một nhà sư, một chàng trai và một cô gái trẻ. Nhà sư đi trước, gương mặt già nua ngời lên vẻ phúc hậu. Chàng thanh niên, vóc dáng văn nhã thư sinh nhưng đôi mắt thì sáng và sắc. Cô gái dáng vẻ chân chất, vẻ mặt thông minh và đôi mắt thoáng nét buồn ẩn vào sau chiếc khăn màu nâu non. Họ chắp tay vái chào Đức ông chủ thái ấp. Đám gia nô vô cùng ngạc nhiên thấy những người khách có vẻ tầm thường đó được Nhân Huệ vương hớn hở nắm tay khoác vai kéo xềnh xệch lên thềm.
Gia nô phủ Nhân Huệ không biết, gia nô thái ấp không biết, chỉ có quản gia Vũ Khắc là rõ mặt ba vị khách. Chàng thanh niên là phó tướng dưới cờ Hoài Văn vương Trần Quốc Toản. Cô gái là đội trưởng nữ dân binh đã cùng đoàn quân với lá cờ sáu chữ đánh giặc nhiều phen. Giữa cô gái và Hoài Văn vương (hồi đó mới chỉ là Hoài Văn hầu) cũng có thoáng chút tơ vương nhưng chưa kịp thổ lộ vì chiến tranh. Bây giờ giặc đã tan, Hoài Văn hầu ngã xuống bên bờ Như Nguyệt và được truy phong vương tước. Đội quân trẻ trung ngày nào nay đã sung vào quân của Chiêu Văn vương Nhật Duật. Người khách thứ ba là sư ông chùa La. Nhà chùa có một chú tiểu hy sinh trong quân của Hoài Văn và sau đó, chính nhà chùa cũng vác giáo theo quân...
Cuộc chiến giữ nước vừa rồi, có lẽ cái chết của Hoài Văn vương Trần Quốc Toản là để lại trong lòng Nhân Huệ vương nhiều xót xa nhất. Sau mấy lần gặp gỡ chuyện trò, Trần Khánh Dư rất vừa ý với đứa cháu trẻ tuổi tài hoa này. Cứ như đánh giá của Trần Khánh Dư, Quốc Toản sẽ là một viên dũng tướng mà triều đình có thể trông cậy lâu dài. Nhân Huệ vương từng mong muốn khi binh lửa đã tan, ông sẽ xin Quan gia và Quốc công cho phép dìu dắt Quốc Toản thành một tướng tài kiêm văn võ. Tiếc rằng chàng dũng tướng trẻ tuổi ấy đã ngã xuống trong trận đánh bi tráng bên bờ Như Nguyệt. Đó là một trận đánh nhỏ, xét về diễn biến. Không có một chữ nào trong quốc sử dành để chép về trận ấy. Nhưng xét về ý nghĩa đối với toàn cục, thì trận Như Nguyệt lại vô cùng quan trọng. Trần Quốc Toản đã nhận một mệnh lệnh quyết tử từ chính Quốc công Tiết chế. Đội quân trẻ trung với lá cờ sáu chữ phải đánh đến cùng để khi Thoát Hoan vượt qua được Như Nguyệt, hắn sẽ tin rằng vừa thoát khỏi chốt chặn cuối cùng của quân Trần. Đội quân đang trên đường rút chạy đó sẽ buông lỏng cảnh giác, và sa vào trận mai phục Vạn Kiếp mà Quốc công bày sẵn. Trần Quốc Toản hoàn thành xuất sắc tướng mệnh, và chàng nằm lại bên bờ Như Nguyệt. Trận Vạn Kiếp đại thắng, hầu như toàn bộ sinh lực của quân Nguyên đã bị diệt. Nếu muốn phục hận, Nguyên chúa Hốt Tất Liệt chắc cũng phải mất một thời gian để xây dựng lại đội quân Nam chinh mới trên những khiếp sợ kinh hoàng mà Thoát Hoan mang về từ Đại Việt... Giặc tan, nhưng lòng Trần Khánh Dư vẫn còn chưa nguôi được mỗi khi nhớ về Trần Quốc Toản. Ông luôn cảm thấy, cuộc đời và cả triều đình, quá bất công với chàng hầu tước trẻ anh hùng. Triều đình đã bỏ quên Hoài Văn hầu suốt bao năm. Tới khi giặc sang, ngay tại Bình Than, Quốc Toản cũng không được cho ra trận. Nếu như chàng trai ấy không đủ bản lĩnh mà tự dựng lên ngọn cờ sáu chữ, thì viên ngọc sáng hẳn vẫn còn đang khuất lấp trong bụi cát. Kịp tới lúc tung hoành thỏa chí, hiển hiện tài năng, thì Hoài Văn lại mất đi khi còn quá trẻ. Người anh hùng ấy đã được truy phong vương tước, nhưng vương hay công thì nào có nghĩa gì đâu. Cũng chỉ là một ngọn gió lạc trong mênh mông mà thôi...
Đức ông Nhân Huệ hất hàm ra ý hỏi, và quản gia Vũ Khắc vội vã chắp tay trình: "Bẩm Đức ông, tướng quân Đỗ Niêm vẫn chưa về tới”. Đúng lúc ấy, phía ngoài vẳng lại tiếng vó ngựa mỗi lúc một gần. Nhân Huệ vương bật cười: "Nó về đến nơi rồi đấy”. Chỉ một chốc sân thái ấp đã vang tiếng oang oang của viên tiểu tướng một thời từng theo Hoài Văn hầu xông pha khắp chốn. Thoáng nghe giọng nói, những vị khách cũng có thể biết ngay người quen. Đúng, người vừa đến vốn tên là Trê. Trê hỏi người này, trêu người kia, không quên bỡn cợt mấy ả thị nữ vốn quen với sự im lặng của thái ấp. Rồi anh ta nhảy lên thềm, bước vào gian chính và vòng tay cung kính chào Nhân Huệ vương nhưng mắt thì vẫn hấp háy cười. Trần Khánh Dư khoát tay: "Bỏ lễ nghĩa đi thôi!” Đoạn, ông quay sang ba người khách: "Các vị thấy thằng này theo ta chưa lâu mà khác hẳn ngày trước không?” Trần Khánh Dư chẳng cần hỏi thì tất thảy đám khách đều đã chung một ý như thế. Hồi còn theo Hoài Văn hầu, Trê là một gã nhút nhát, đặc biệt là nhát gái. Điều ấy bắt nguồn từ xuất thân. Trê là con nhà thuyền chài nghèo đói lang bạt trên sông. Chỉ từ khi đi theo Hoài Văn hầu, anh ta mới thực được làm người tự do, thực được tôn trọng. Xông pha chiến trận, Trê là một chiến tướng oai hùng. Nhưng khi về trại, Trê vẫn nguyên là một cậu chàng khép nép và giữ ý. Vậy mà, từ khi theo Nhân Huệ vương về trấn Vân Đồn, Trê thay đổi đến mức làm người ta phải ngạc nhiên. Ăn nói bạo tợn, dáng đi khuềnh khoàng, nhìn đã rõ ra là một anh "giặc biển”. Trê toe toét chắp tay chào phó tướng cũ Hoàng Chí Hiển, chào sư ông chùa La và cô Thoan đội trưởng dân binh. Thật ra, khi chào đến Thoan thì nụ cười của Trê đã nhạt đi nhiều. Ai đi theo lá cờ sáu chữ mà chẳng biết cô đội trưởng dân binh này đã dành trọn tấm lòng cho Hoài Văn hầu. Ngày khâm sai mang cờ biển về Võ Ninh truy phong vương tước cho Trần Quốc Toản, Thoan đã khóc ngất lên ngất xuống trong vòng tay mấy nữ dân binh thân tín. Mãi đến khi lễ tất, phu nhân ôm lấy và cất lời an ủi thì Thoan mới nguôi được đôi phần. Hôm ấy, nước mắt phu nhân chảy ròng rồi nhỏ xuống mái tóc mây đang gục ở trong lòng bà. Trê không dám nhìn lâu cảnh đó, phải lặng lẽ bỏ ra ngoài trông lên trời nhìn mây cuối chiều u uẩn trôi. Bây giờ, trông thấy Thoan, Trê lại chạnh lòng nhớ về chủ tướng cũ, nhớ những ngày đi theo lá cờ sáu chữ tung hoành khắp chốn khiến giặc khiếp kinh...
Nhân Huệ vương hiểu nỗi lòng của ba vị khách và viên tiểu tướng được gọi về giúp ông đãi khách. Trần Khánh Dư đã hai phen đánh Nguyên. Ông đã chứng kiến biết bao nhiêu cái chết của binh lính dưới quyền. Nhưng chỉ riêng cái chết của Trần Quốc Toản cứ làm ông trăn trở. Ông thương chàng trai trẻ ấy. Thương cả cô đội trưởng dân binh đem lòng thương thầm nhớ trộm chàng hầu tước mà chẳng dám thổ lộ lấy một lời. Thương cả viên phó tướng dưới ngọn cờ sáu chữ giờ phiêu dạt trong nhân gian... Thật lạ, Nhân Huệ vương vẫn mang tiếng là người không nệ tình, chỉ quan tâm tới cái lý của riêng ông. Thế mà bữa tiệc cuối năm này lại nặng trĩu những thương và xót... Dẫu rằng bữa tiệc hôm nay, ông đặt ra như một cách giúp chính ông và những người đang còn sống xóa nhòa đi những khắc khoải trong lòng trước khi bước vào năm mới.
Ngay chính Quan gia cũng còn đổi niên hiệu từ Thiệu Bảo sang Trùng Hưng, thì tại sao quân tướng không mượn chén rượu mà khép lại một mùa chinh chiến tàn khốc và thương đau? Nhân Huệ vương lớn giọng: "Nào, các vị, ta mời các vị hôm nay là để khoe một vật và bàn một việc. Vậy thì nên làm gì trước nhỉ?” Hỏi thì hỏi tất cả, nhưng Nhân Huệ vương nhìn chằm chằm vào mặt Hoàng Chí Hiển. Rồi không đợi Hoàng Chí Hiển trả lời, Trần Khánh Dư tiếp luôn: "Ta hẵng nói trước việc này. Hôm truy phong Hoài Văn vương, ta có kể cho chị dâu ta [1] nghe chuyện về thằng Trê. Ta cũng nói sẽ giao cho nó một chân tùy tướng. Chị dâu đã nhắc ta nên định lại tên cho nó, chớ để cái nôm na làm mất uy phong của một viên tướng. Ta nhân tên cũ mà gọi nó là Đỗ Niêm””. Trê – tức Đỗ Niêm [2] – cười bâng quơ cứ như chuyện đang nói về một người nào khác. Mà giọng của Nhân Huệ vương cũng đều đều và lơ đãng rõ như người ngủ gật hát ru.
Đám khách chẳng mấy cũng nhận ra, câu chuyện bâng quơ vừa rồi là cách Trần Khánh Dư kéo dài thời gian. Vẻ như vị vương gia tính tình cổ quái này đang còn mong ngóng thêm một, hai người khách nữa. Nhưng chuyện đổi tên cho Trê thì đã hết, mà khách thì chưa tới. Nhân Huệ vương đột ngột đứng dậy. Ông lẹt xẹt kéo đôi dép da trâu ra thềm, ngóng lên nhìn trời. Đêm cuối năm tối sẫm. Cơn gió bấc thổi ào ạt qua những rặng cây. Tiếng mõ trâu về muộn cũng đã bặt. Trần Khánh Dư quay vào bảo khách: "Ta vốn muốn đợi thêm một người, nhưng người đó chưa tới, vậy thôi, ta đành nói vậy”. Ông ngồi xuống ghế và khoát tay ra hiệu khách cũng ngồi xuống. Trần Khánh Dư cất lời: "Nhân có sư ông ở đây, ta cũng hỏi ý sư ông luôn thể. Ta mới nhận được thư Võ Ninh. Chị dâu ta có ướm hỏi ta, ý chị muốn nhận con Thoan làm con nuôi. Mà, ta cũng lại đương muốn nhận con Thoan làm nghĩa nữ. Hai đường thực khó nghĩ quá, ta có nhắn cả tướng quân Nguyễn Khoái đến, nhưng giờ này vẫn chưa thấy anh ta đâu...”
Vậy là Trần Khánh Dư chưa khoe vật đã bàn việc. Có lẽ bữa tiệc cuối năm này là để dành cho bàn việc, còn khoe vật cũng chỉ góp thêm một chút vui. Tuy ông không nói ra, nhưng Hoàng Chí Hiển cũng hiểu chỗ éo le của câu chuyện. Cứ như tình nghĩa mà Thoan dành cho Hoài Văn vương ngày trước, thì phu nhân nhận cô là con nuôi thực đúng. Nhưng nếu thế, thực đã là giam hãm cả một đời cô gái vừa đẹp vừa tài ấy. Nhược bằng Thoan được Đức ông Nhân Huệ thu làm nghĩa nữ, cô sẽ trở thành quận chúa. Kiểu gì mà Trần Khánh Dư chẳng tìm được một mối con nhà quyền quý cho cô con gái nuôi. Chỉ có điều, khi ấy, ngần này người đang có mặt ở đây, thật khó ai mà an lòng cho được... Dường như, một nỗi canh cánh vẫn còn nguyên trong lòng mỗi người. Mọi điều định làm, đều cảm giác như thực chẳng phải với Hoài Văn vương đã khuất.
Khách và chủ đều thả mình trong im lặng. Mùi khói bếp bay từ mé vườn sau thoảng vào. Quản gia Vũ Khắc rón rén ghé tới bên thềm, tay bê một chiếc lư nhỏ bằng bạch ngọc. Ông ta đợi cái gật đầu của Trần Khánh Dư mới bước vào, thận trọng đặt lư lên kỷ cạnh bàn nước. Hương trầm nhè nhẹ mơ hồ. Thấy chủ nhân đưa mắt ra ý hỏi, Vũ Khắc khoanh tay trình: "Dạ, trầm của thương lái Chiêm Thành vừa cập Vân Đồn”. Trần Khánh Dư gật đầu rồi làm hiệu cho Vũ Khắc. Viên quản gia đi giật lùi ra ngoài và khép cửa lại.
Hồi lâu, Thoan cúi đầu: "Bẩm vương gia, việc là của người lớn nhưng lại có quan hệ đến con. Vậy con xin lui xuống. Đợi vương gia thương nghị xong, con chỉ xin được trình lên một đôi câu trước khi người quyết ý...” Trần Khánh Dư ngả người ra sau, ông chần chừ một chút rồi mới đáp: "Lẽ ra việc này ta đợi tàn tiệc mới nói, nhưng e rằng không nói, thì cả ta và các người cũng đều không yên mà dự tiệc cho được. Thôi thì, nay ta đã nói được ra, vậy các người cứ nghĩ cho chín. Ta hẹn đến giờ Thìn sáng mai, ý ai ra sao thì nói, rồi tự ta khắc quyết”. Đoạn, Nhân Huệ vương lớn tiếng truyền bày tiệc. Ấy là, ông làm theo thói quen, vì tiệc vốn đã bày xong, các món cũng vừa hâm lại cho nóng sốt. Dĩ nhiên, chẳng một ai dám bẩm bạch gì với vị vương khó tính này. Rượu vừa được thong thả rót ra thì quản gia Vũ Khắc lại vào trình: Nguyễn Khoái đã đến, và còn dắt theo một người bị trói. Trần Khánh Dư bước vội ra sân, miệng vẫn còn lẩm bẩm: "Chẳng nhẽ ngần ấy con người ở đây, không ai nghe thấy tiếng vó ngựa của nó?”...
Nguyễn Khoái đang đợi trước sân, phía sau viên dũng tướng cao như Ông Trọng [3] này là người lính đang giữ một kẻ bị trói giật cánh khuỷu. Trần Khánh Dư nheo mắt nhìn, dẫu người kia mặc áo lính nhưng ông vẫn nhận ra đó là gái giả trai. Nhân Huệ vương cười: "Vợ chồng nhà ngươi đi ăn tiệc mà còn không quên trói người à? Bắt được ai thế hử?" Thoan reo lên, bây giờ cô mới nhận ra người kia là Thu, chị họ của cô. Thoan quay sang nói với Nhân Huệ vương: "Dạ, Đức ông thực là thần nhãn. Con còn chưa kịp nhận ra chị mình mà Đức ông đã...” Câu nói của Thoan bị bỏ lửng và Nhân Huệ vương cũng chưa kịp đáp lời thì Nguyễn Khoái đã chen vào: "Trình Đức ông, vợ chồng tiểu tướng theo dõi hắn từ trưa, thấy hắn tìm hỏi đường về đây, rồi rình rập ngoài thái ấp suốt từ khi chiều xuống. Tiểu tướng phải buộc ngựa ngoài mãi xa để hắn không thấy động mà trốn mất”.
Trần Khánh Dư không đáp, ông quay bước đi về phía thư phòng. Hiểu ý, Nguyễn Khoái cũng bước sau ông. Viên tướng lôi xềnh xệch kẻ bị trói đi theo. Đám khách đều đứng cả lại dưới sân. Chỉ đến khi cánh cửa thư phòng khép chặt và hai người lính hộ vệ tuốt kiếm sáng lòa đứng chắn trên bậc thềm, Thoan mới ngã vào vòng tay của chị. Thu vừa ôm em vừa cúi đầu chào sư ông, Hoàng Chí Hiển và Đỗ Niêm. Sư ông thở dài nhìn trời và bảo Hoàng Chí Hiển: "Sao hôm nay nhiều biến cố đến thế nhỉ? Bần tăng e rằng từ đây tới giờ Hợi, thái ấp Chí Linh sẽ chẳng được yên”. Hoàng Chí Hiển quay ra nhìn Thoan rồi buột miệng: "Bạch sư ông, kể ra thì quyết định của cô Thoan đây cũng sẽ là một biến cố”. Nghe thế, Thu chạnh lòng và bật khóc. Trên đường đi, Nguyễn Khoái đã kể cho vợ về ý định của phu nhân - thân mẫu Hoài Văn vương và của Đức ông Nhân Huệ. Hai vợ chồng cũng ngược ý nhau. Thu nghĩ em cô nên hầu hạ dưới gối phu nhân và chuyên tâm lo thờ cúng người anh hùng vừa ngã xuống. Nguyễn Khoái lại nhất quyết bảo rằng anh muốn Thoan sẽ trở thành Thanh Tâm quận chúa. Chẳng phải tướng quân Phạm Ngũ Lão đã được Đức ông Hưng Đạo gả cho cô con gái nuôi đấy ư? Cứ như ý Nguyễn Khoái thì chắc chắn Đức ông Nhân Huệ cũng sẽ tìm cho nghĩa nữ một đám ra trò. Khi ấy, cả hai vợ chồng họ sẽ cùng về Võ Ninh hầu hạ phu nhân cũng chẳng muộn. Thu càng nghĩ càng quẩn. Cô thương em, và càng hiểu tấm lòng Thoan với Hoài Văn vương. Họ còn quá trẻ. Chiến tranh và cả tuổi trẻ đã ngăn họ ngỏ được lòng mình. Thực ra, chỉ có Thoan là biết chắc tình cảm của cô với viên dũng tướng mặt đẹp như ngọc, bào đỏ giáp trắng xông pha tung hoành trong trận giặc. Còn về Hoài Văn vương, có lẽ chàng trai chưa tròn mười bảy ấy vẫn chưa định rõ được cái "khang khác” trong tâm trí mỗi khi nghĩ và nhớ về cô đội trưởng dân binh lớn hơn một tuổi. Danh phận chưa định, và ngay cả một lời cũng còn chưa kịp ngỏ... Ngẫm mà xem, cuộc chiến vừa rồi đã tác thành nên không ít đôi vợ chồng: từ bậc vương giả như Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật và cô Mơ hương Hoằng đến cung thủ "Nhất tiễn lập công” [4] Hoa Xuân Hùng [5] và cô Vi Hồng đội trưởng dân binh làng Ngọ. Nhưng số cặp thành đôi thì ít, mà lẻ một thật nhiều...
Khi Trần Khánh Dư và Nguyễn Khoái bước ra khỏi thư phòng thì đám khách vẫn đang đứng ngồi lặng lẽ ngoài sân. Chẳng ai vào nhà ngang ngồi quanh bàn tiệc cả. Mỗi người đều đang đuổi theo những ý nghĩ của riêng mình. Đã là cuối giờ Tuất. Trong kia, chắc tiệc đã kịp nguội thêm lần nữa. Người ở ngoài sân đã nặng dần vai áo vì mưa bụi. Trần Khánh Dư cố ngắm nhìn vẻ trầm tư trên gương mặt từng người nhập nhòa trong ánh đèn đuốc. Phía xa, quản gia Vũ Khắc chắc cũng đã đứng chờ thật lâu. Ông ta rất muốn mời khách vào nhà nhưng lại sợ phá tan suy tư của họ. Viên quản gia này hẳn quá quen với những vị khách kỳ lạ của Đức ông Nhân Huệ. Cuối cùng, người phá vỡ không gian im ắng là Nguyễn Khoái: "Bẩm Đức ông, tiểu tướng bạo gan xin chén rượu cho ấm bụng. Quả thực là tiểu tướng vừa đói vừa rét”..
Trần Khánh Dư bật cười. Ông gọi khách cùng vào tiệc. Vũ Khắc cuống cuồng giục gia nhân đun nóng các món. Rượu cũng đã được đem hâm. Trần Khánh Dư bảo: "Đây là rượu của cánh lái buôn Bắc quốc”. Vũ Khắc thưa: "Trình Đức ông, con thấy Hoàng Phủ Tín gọi thứ rượu này là Biên tái tửu”. Trần Khánh Dư hất hàm: "Gọi con chó sói ấy lên đây”...
Trong lúc chờ đợi, Trần Khánh Dư kể cho khách nghe về Hoàng Phủ Tín. Đây là một kẻ dòng dõi Trung Nguyên. Tổ tiên anh ta từng đi theo Phương Lạp dấy loạn và sau đó phải trốn ra vùng biên hoang để lẩn tránh. Dấu chân của người họ Hoàng Phủ đã lưu khắp vùng phụ cận Nhạn Môn quan. Dòng họ Hoàng Phủ đã tham gia vào mọi cuộc chiến Tống-Liêu, Tống-Kim. Dẫu rằng họ Hoàng Phủ chống Tống nhưng vẫn có mặt mỗi khi đất nước lâm nguy. Nhưng sức của dân chúng không thể bù đắp nổi sự ngu muội của triều đình nhà Tống. Tống nhận lời liên kết với Mông để đánh Kim. Và khi Kim mất nước, Kim Ai Tông tự ải, thì đoàn quân Tống kéo đến nhận thành theo như thỏa ước đã bị người Mông tháo nước sông Hoàng Hà dìm chết. Thấy cơ mất nước đã đến, cụ bốn đời của Hoàng Phủ Tín dẫn cả nhà lặng lẽ tìm lối xuống Giang Đông, chuyển sang nghề buôn đường biển. Ông cụ dặn lại con cháu: "Hễ thấy động là giương buồm mà đi, đi càng xa càng tốt”. Ông nội của Hoàng Phủ Tín hỏi cha xem nếu đi thì đi về phương nào. Ông cụ trả lời: "Cao Ly khó đi, Đại Việt dễ đến”.
Hoàng Phủ Tín đã bước vào. Anh ta vái Nhân Huệ vương và cúi đầu chào khách. Trần Khánh Dư trỏ anh ta ngồi vào một chiếc đôn nhỏ và truyền ban rượu. Ông hỏi: "Này, ngươi có biết cái thứ rượu này không?” Hơi rượu nóng thơm lâng lâng. Hoàng Phủ Tín cung kính bái tạ Nhân Huệ vương rồi đưa chén lên mũi ngửi, nhấp một rồi hai lần, và ngửa cổ uống khà một tiếng. Cách cung tay dốc rượu vào miệng đúng như một thảo mãng giang hồ. Hoàng Phủ Tín thưa: "Trình Đức ông, đây chính là Biên tái tửu. Rượu này dành cho những kẻ săn thú dữ và binh lính đồn trú ở nơi biên ải. Rượu có tính ôn, chống rét, và càng uống tay càng vững”. Rồi, dường như hơi rượu đánh thức một góc tối nào trong lòng, anh ta ngửa mặt ngâm oang oang mấy câu thơ:
"Đãi đáo thu lai cửu nguyệt bát,
Ngã hoa khai hậu bách hoa sát.
Xung thiên hương trận thấu Trường An,
Mãn thành tận đới hoàng kim giáp”.
Trần Khánh Dư cả cười. Cái anh chàng này có chút rượu đã ngâm thơ làm loạn. Ông hất hàm hỏi Hoàng Chí Hiển: "Nhà ngươi có biết bài thơ này không?” Hoàng Chí Hiển thưa: "Dạ, đây là bài Bất đệ hậu phú cúc của Hoàng Sào [6] !” Trần Khánh Dư gật gù: "Vậy ngươi mau dịch ra cho mấy vị này hiểu bài thơ đó đi”. Hoàng Chí Hiển vâng dạ rồi cất giọng:
"Đợi thu tháng Chín ngày mồng tám,
Hoa ta liền nở, giết trăm hoa.
Hương trận tung trời, Trường An ngập,
Giáp vàng đầy khắp chốn thành đô”.
Trần Khánh Dư mắt vẫn nhìn Hoàng Phủ Tín nhưng lại hướng giọng về phía khách: "Gã Hoàng Sào này cũng lạ. Thơ cũng ngập sát khí”. Ông nhìn Hoàng Phủ Tín, gật gù hồi lâu rồi cho anh ta xuống nhà dưới và quay qua Nguyễn Khoái: "Tết này ngươi ăn Tết ở đâu?” Viên tướng kềnh càng cố nuốt trôi một miếng rõ to rồi mới thưa được: "Tiểu tướng tính ngày mai sẽ vào Diễn Châu thăm Đức ông Tĩnh Quốc rồi sát Tết thì về Khoái Châu”.
Trần Khánh Dư tủm tỉm cười:
– Phải nhẽ quá! Tết là phải đi chào ông mối. Không có ông Tĩnh Quốc mát tay thì nhà ngươi chắc gì đã được vợ! Lễ nhất quyết là phải thật hậu đấy!
Mọi người cùng cười. Hơi rượu đang nặng nề cũng phai một chút. Nhắc lại chuyện lấy vợ của Nguyễn Khoái cũng rõ là trắc trở. Ông Trưởng Thụ, bố của cô Thu nhất quyết không nhận con rể biết võ. Vì thế, Nguyễn Khoái vốn là học trò yêu của ông lại bị cấm kết duyên với Thu. Tĩnh Quốc đại vương biết chuyện và đích thân đứng ra dàn xếp. Ông Trưởng đành bằng lòng. Hôm đám cưới, Trần Quốc Khang đứng danh nhà trai khiến bên nhà gái mở mày mở mặt với họ hàng làng nước. Ơn nghĩa ấy, Nguyễn Khoái không quên được. Dĩ nhiên, Trần Khánh Dư còn hiểu tâm ý Nguyễn Khoái. Cái Tết năm nay sẽ rất buồn đối với nhiều người, trong đó có Đức ông Tĩnh Quốc. Nếu bên Võ Ninh, phu nhân ăn cái Tết buồn vắng con nhưng lại còn được an ủi bởi niềm tự hào thì Trần Quốc Khang đâu được như thế. Ông cũng mất con, nhưng đứa con ấy chết vì phản quốc và bị trúng tên độc trên đường đào tẩu. Bởi thế, Nguyễn Khoái cũng muốn vào Diễn Châu mong làm Đức ông Tĩnh Quốc nguôi ngoại đôi chút...
Trần Khánh Dư không định khơi mãi vào những mất mát trong bữa tiệc này. Ông gật đầu và bảo Thu: "Ta sẽ gửi biếu ông cụ bên nhà ít quà Tết”. Vị vương gia nổi tiếng tai quái nheo mắt cười: "Mai nhớ nhắc kẻo ta quên”. Nguyễn Khoái đang dở chén rượu liền cố nuốt trôi rồi quả quyết: "Tiểu tướng nhất định sẽ nhắc Đức ông”. Đám khách còn lại cũng ồn lên đòi quà. Cả sư ông cũng chắp tay: "Đức ông chắc không quên nhà chùa. Vậy nhà chùa xin tạ ơn trước đi là vừa”. Không khí của bữa rượu cuối năm đến giờ đã thành rôm rả. Mãi đến qua giờ Tý, gia nhân nhà dưới vẫn nghe thấy giọng chủ nhân gọi rượu và oang oang ke loại rượu vừa bê ra.
○ ○ ○
Có vẻ như chỉ những người khách trong đội quân của lá cờ sáu chữ mới làm cho Trần Khánh Dư hớn hở cười nói. Ấy thế nhưng càng khuya, khách càng nhấp nhổm không yên dạ. Mà chủ thì cũng chẳng còn tâm trí nâng chén. Đôi lúc khuôn mặt Nhân Huệ vương đã thoáng nét âu lo dẫu ông cố giấu. Qua giờ Sửu, Trần Khánh Dư truyền triệt tiệc và sai gia nhân đưa khách đi nghỉ. Nhưng khách không chịu ở lại. Họ nhất quyết lên đường ngay trong đêm. Việc ông hỏi, Thoan xin khất với Đức ông Nhân Huệ cho gác lại trả lời sau. Trần Khánh Dư ngần ngừ một chút rồi khẽ gật đầu... Trần Khánh Dư tiễn khách ra tận cửa thái ấp dù mọi người đều can ngăn bởi sương đêm lạnh buốt. Nhưng vị vương ngang ngược vẫn cương quyết không nghe. Ông đứng nhìn từng người khách nhận quà từ tay gia nô, lại chờ họ buộc quà vào yên ngựa thật kỹ càng rồi mới cất lời dặn dò thấu đáo. Khách vái chào bái biệt Nhân Huệ vương và đồng loạt tung mình lên ngựa. Lũ ngựa hí vang trong đêm vắng. Tiếng vó ngựa khuất dần. Nhân Huệ vương đứng trông theo tới khi cả bóng người và tiếng vó ngựa đều mất dạng thì mới lặng lẽ quay vào. Xa xa phía sau ông, là quản gia Vũ Khắc, trên mặt hằn lên những khuất khúc gì không rõ. Đột nhiên, trong lòng Trần Khánh Dư trào lên một sự cô đơn khôn tả. Những cuộc chia tay trong dịp năm cùng tháng tận này luôn mang lại nỗi niềm như thế.
Đám gia nhân không biết tâm trạng Đức ông Nhân Huệ. Họ chỉ thấy, khách vừa rời đi, chủ nhân đã mang một nét mặt khắc bạc. Nhân Huệ vương đi lên đi xuống mấy bậc thềm gian chính thái ấp. Ông trách móc Vũ Khắc, quát mắng A Lý và đá đổ mấy gốc cây mới đặt trước sân. Một hồi lâu sau, Trần Khánh Dư truyền lính lập thêm trạm canh phía xa ngoài thái ấp. A Lý, Hoàng Phủ Tín, Vũ Khắc và tất cả quân Vân Đồn đều được lệnh quay về ngay hòn đảo chính trong rất nhiều đảo của trấn Vân Đồn. Riêng một mình Đỗ Niêm - tức Trê - là được ở lại. Thái ấp sắp Tết mà im ắng như đang trong một giấc ngủ đông dài. Bếp không đỏ lửa. Nhân Huệ vương đã truyền lính hầu và gia nô trong thái ấp ăn luôn bánh chưng và cá kho vốn được làm để dành cho ba ngày Tết. Đám gia nô đi ra đi vào trong sân thái ấp hệt những chiếc bóng mờ. Gió bấc thổi ào ạt. Cây cảnh và hoa đang sắp trồng nay vứt chỏng chơ, héo dần trên những lối đi.
Hai ngày liền, thái ấp Chí Linh chìm trong giá lạnh và lặng im. Mờ sáng ngày thứ ba, có hai kỵ sĩ trùm áo tơi bị lính tuần chặn từ trạm canh ngoài xa. Một kỵ sĩ hé nón và làm lộ ra một mảnh phù lấp loáng vàng ẩn trong ngực áo. Kỵ sĩ ra hiệu ngăn lính canh thi lễ và phi thẳng về phía thái ấp. Như đã chờ sẵn từ lâu, cửa thái ấp mở toang để hai người phóng thẳng ngựa vào tới trước sân. Trên bậc thềm, chủ nhân đã đợi sẵn. Hai kỵ sĩ để nguyên áo tơi nón lá đi thẳng vào trong, đợi cánh cửa khép kín rồi mới buông áo nón và chắp tay thi lễ: "Lạy chú". Bên ngoài, chỉ có Đỗ Niêm đứng gác sừng sững như một pho tượng đồng đen. Sau cơn xáo động vừa rồi, thái ấp Chí Linh lại chìm trong im lặng. Trời vẫn chưa sáng, nhưng tiếng gà xao xác cuối giờ Dần đã bắt đầu vang lên đây đó trong những khu nhà của gia nô...
Hai người mới đến chính là Hưng Vũ vương và Hưng Nhượng vương. Hai ông tướng con trai cả và con trai thứ ba Đức ông Hưng Đạo. Giá như có người ngoài nhìn thấy cuộc hội ngộ này, chắc sẽ không khỏi ngạc nhiên vì sự oái oăm của nó. Hưng Vũ vương và Nhân Huệ vương đã từng có không ít hiềm khích trong quá khứ. Cuộc đời trớ trêu và mệnh lệnh cử tướng cũng trớ trêu đã khiến cho Hưng Vũ vương thì coi quản đất An Bang lo việc trên bờ mà Nhân Huệ vương làm tướng cai quản đất Vân Đồn lo toàn mặt bể. Tướng dưới bể và tướng trên bờ không thể bất hòa, bằng không cả hai cùng chết. Vì vậy hai ông tướng đành phải tỏ ra bằng mặt dẫu chưa thể bằng lòng để quân lính vững dạ. Hưng Vũ vương thuần tính nhưng cục, đã nóng lên thì chẳng nể mấy người. Nhân Huệ vương thì ngang tàng, nhưng chịu cái ơn Đức ông Hưng Đạo xin cho phục chức và lại tin mà giao quyền lớn nên vẫn có chút nhún. Tuy vậy, nếu không có đại sự thì thật khó bắt họ ngồi được với nhau như lúc này.
Việc chuyến này thì rõ là đại sự. Vừa ngồi xuống, chưa kịp tháo thanh kiếm nhẹ ngang hông, Hưng Nhượng vương đã cất lời:
– Thưa chú, tin của chú vừa đến là cha cháu sai hai anh em cháu tới đây. Cha cháu truyền rằng gian tế giặc chắc chắn sẽ làm bậy nên thúc anh em cháu đi thật nhanh. Còn giờ này hẳn là lính của Khoái hầu cũng đã vây kín thái ấp rồi đấy ạ!
– Nguyễn Chế Nghĩa đích thân cầm quân à? Lính của nó có cả lính viễn thám Hành trung doanh đúng không?
– Bẩm chú, Nguyễn Chế Nghĩa tướng quân vẫn đang ở lộ Khoái, anh em cháu chỉ lặng lẽ lấy đội lính viễn thám cũ theo thôi!
– Ai chỉ huy lính viễn thám thế? Hoàng Đỗ về kinh rồi đúng không?
– Dạ, Hoàng Đỗ đã về kinh. Tướng chỉ huy lính viễn thám giờ là Hoa Xuân Hùng. Giờ Hoa Xuân Hùng là phó tướng của Nguyễn Chế Nghĩa.
– À, ta đã nghe Hoàng Đỗ kể về tay cung Nhất tiễn lập công này. Thực ra Trần Khánh Dư biết thừa Hoa Xuân Hùng. Ông đã cùng Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa và Hoa Xuân Hùng truy đuổi và gọi hàng đám dân bất hảo trên các đảo của Hạ Long và Bái Tử Long. Ông cũng biết từ cuối năm ngoái, Hoa Xuân Hùng và vợ là Vi Hồng nhận mệnh của Hưng Đạo vương lặng lẽ lập trại đóng thuyền để phòng khi cần thủy chiến ở vùng sông chằng chịt sau cửa Lục.
Câu chuyện về cuộc đời và lần gặp gỡ của Hoàng Đỗ [7] và Hoa Xuân Hùng vẫn được lan truyền trong quân gia nô Vạn Kiếp như một huyền thoại về hai viên tướng trẻ. Hoàng Đỗ là con ông già Màn Trò, do cha thiếu nợ người ta không trả được nên Đỗ bị bán làm nô rồi trở thành lính trong quân Thánh Dực của Trần Bình Trọng. Trước trận đánh quyết tử trên bờ Thiên Mạc, Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đã xóa bỏ thân phận gia nô cho Hoàng Đỗ và nhận cậu làm em nuôi. Trận Thiên Mạc, Trần Bình Trọng và ông già Màn Trò đều sa vào tay giặc để chặn đường tiến binh của giặc truy bắt hai vua. Họ đã hiên ngang mắng vào mặt tướng giặc Lý Hằng và anh dũng tử tiết. Hoàng Đỗ hoàn thành nhiệm vụ Quốc công giao cho mang bản mật lệnh vào trao tận tay Thái sư Trần Quang Khải, và khi trở về cậu đã trở thành chỉ huy đội lính viễn thám trong Hành trung doanh của Quốc công. Hoàng Đỗ gặp anh chàng Hoa Xuân Hùng rất tình cờ và sau một cuộc trò chuyện họ lôi nhau ra thi bắn cung. Thi mãi vẫn bất phân thắng bại, Hoàng Đỗ moi một củ khoai chiêm để lên đầu và thách Hoa Xuân Hùng bắn trúng. Cung thủ "Nhất tiễn lập công” đã dùng phép bắn "bạt gió" găm mũi tên đúng vào củ khoai. Lối thi bắn "bia sống” này sau đó bị Quốc công cấm vì nó quá nguy hiểm; nhưng danh tiếng gan lì của chính "bia sống" Hoàng Đỗ và tài bắn của Hoa Xuân Hùng đã thành niềm tự hào không thể che giấu của lính viễn thám Hành trung doanh.
Biết thì biết vậy, nhưng vẫn hỏi, vẫn giả bộ bất ngờ để cho có chuyện. Ông không muốn tỏ vẻ quá khẩn trương trước mặt đám vương hàng cháu, mà một trong hai người lại có nhiều ân oán riêng với ông...
Trần Khánh Dư vừa nói đến đó thì chợt nghe tiếng gió vút qua mái nhà. Một thứ gì đó tròn và nặng lăn uỵch theo mái ngói xuống bậc thềm. Bên ngoài có tiếng Đỗ Niêm quát: "Ai” và tiếp theo liền nghe rõ tiếng rên rỉ.
Ba vị vương gia cùng chạy ra ngoài xem. Dưới sân, Đỗ Niêm đang gỡ mảnh vải che mặt của một kẻ bị trúng tên ngập bả vai. Nhân Huệ vương bước tới nhìn mũi tên rồi ngẩng đầu trông quanh quẩn. Ông nói nhỏ qua kẽ răng với Trần Quốc Nghiễn và Trần Quốc Tảng:
– Thằng Hoa Xuân Hùng bắn khá quá. Nó cố tình không đoạt mệnh tên gian tế nên mới bắn vào vai. Mà nó nấp đâu ta cũng không nhận ra nhỉ?
Đoạn, Trần Khánh Dư bảo Đỗ Niêm:
– Lôi kẻ kia vào nhà, trói cho chặt và rịt thuốc dấu! Khám kỹ người nó cho ta!
Trần Khánh Dư quay vào gian chính, cửa lại đóng kín. Trời bên ngoài đã rõ mặt người.
Hưng Nhượng vương nói tiếp:
– Cha cháu đoán thế nào chú cũng cho quân Vân Đồn triệt thoái...
Trần Khánh Dư cười:
– Anh Trưởng hiểu ta quá. Nếu không cho chúng rút, e rằng chúng và lính viễn thám đánh nhau tơi bời. Thế thì làm gì có chuyện mà bọn Hoa Xuân Hùng áp sát thái ấp ta lại chẳng biết! Phải liều mà tạo ra một cái bẫy giương lên chờ gian tế chứ. Chỉ có điều, ta không ngờ Quốc công lại quá quý trọng cái mệnh của Dư này rồi bắt cả hai vương điệt cùng xuất mã.
Trần Khánh Dư nói như thế cũng là khéo. Dù gì chăng nữa, ân oán xưa vẫn còn nguyên. Thế mà hôm nay, chính Hưng Vũ vương lại thân cầm quân tới đây bắt gian tế bảo vệ thái ấp Chí Linh. Đành rằng Trần Khánh Dư là Phó Đô tướng quân, nhưng cả nhị vị vương gia cùng xuất mã thì thực là quá coi trọng việc này rồi.
Hưng Vũ vương bây giờ mới cất lời:
– Trình Vương thúc, cha cháu truyền "toàn bộ tang vật trong người gian tế đưa thẳng về Thăng Long, mang vào phủ Chiêu Minh để chú Ba tra xét”.
Trần Khánh Dư đang ngả ra sau liền ngồi bật thẳng người lên:
– Sao, sao không trình thẳng lên hai vua mà lại mang qua phủ Thái sư?
Hưng Nhượng vương rành rẽ nói:
– Cha cháu dặn, nếu chú có hỏi thì thưa rằng: "Ấy cũng như kế triệt quân Vân Đồn”...
Trần Khánh Dư im lặng suy nghĩ. Không ai hiểu được bụng con người đa mưu và khó lường như ông bằng Đức ông Hưng Đạo. Vị tướng già mang trọng trách trưởng họ Trần đã từng khiến ông kính phục và giờ khiến ông kinh ngạc. Trần Khánh Dư triệt quân Vân Đồn vì trong số đó có nhiều kẻ gốc bên xứ Bắc. Ông chỉ dùng gia nô và lính hầu Chí Linh bởi họ đã hầu hạ và đi theo cha của ông - Nhân Thành hầu Trần Phó Duyệt - suốt bao năm. Bây giờ trình một âm mưu lên hai vua, e rằng tai vách mạch rừng khó mà giữ kín. Chi bằng lẳng lặng mang đến phủ Chiêu Minh. Đức ông Hoàng Ba trị quân nghiêm và kỹ, tin tức chắc chắn không lọt ra ngoài. Nhưng gửi tang vật đến phủ Chiêu Minh, coi như Đức ông Hưng Đạo đã hoàn toàn tin tưởng và phó thác sinh mệnh bao nhiêu nhà vào tay Trần Quang Khải. Bởi xem ra chắc chắn tang vật đó là những thứ người Nguyên mang vào để toan phao tin "Hưng Đạo vương đồng mưu Nhân Huệ vương tính chuyện làm phản cướp ngôi!” Một sự vu hãm tày trời mà Nguyễn Khoái vô tình khám phá ra được... Thôi, giờ thì cứ để mọi việc theo tính toán của Hưng Đạo vương và sự công bằng minh bạch của Chiêu Minh vương.
Nhân Huệ vương hỏi:
– Vậy, mọi việc cứ theo ý của anh Trưởng. Giờ hai cháu có cần gì không?
Trần Quốc Tảng tủm tỉm cười:
– Dạ có, xin chú cho anh em cháu bữa chén!
Trần Khánh Dư thở phào. Thật ra, ông vẫn có chút ngại ngùng khi đối diện Trần Quốc Nghiễn. Chuyện xưa qua đã lâu nhưng vừa nãy, qua cách xưng hô có thể thấy Hưng Vũ vương vẫn giữ một khoảng cách với ông chú khó chơi này. Việc chính đã xong, nay một bữa rượu nhỏ cũng họa chăng xóa bớt đi cái khoảng cách giữa ông và Quốc Nghiễn. Trần Khánh Dư toan đứng dậy gọi người thì có tiếng gõ nhẹ vào cánh cửa. Đó là Đỗ Niêm. Mặt anh ta còn xanh lè vì mũi tên Nhất tiễn lập công cắm ngập vào búi tóc. Hoa Xuân Hùng vừa từ đâu đó bắn tên báo tin: "Có hơn bốn chục kẻ bịt mặt đang tiến về phía thái ấp”.
Trần Khánh Dư gọi Đỗ Niêm vào. Ông giao cho anh ta ngồi lại trong một góc khuất của gian chính canh chừng. Sau đó Trần Khánh Dư lôi Quốc Nghiễn, Quốc Tảng đi ra sau bàn thờ Phật. Hai ông tướng này lại sùm sụp áo tơi nón lá. Nhân Huệ vương mở một cánh cửa nhỏ. Cánh cửa hé ra lối đi nửa chìm nửa nổi nép vào bên cạnh những chum nước mưa phía sau vườn. Ba người theo lối đó xuyên sang mấy gian bếp cỏ của gia nô. Tới đây, Trần Khánh Dư mở một chiếc hòm, lấy áo và nón choàng vội lên người. Ba người lại theo một lối bí mật khác xuyên vào khu nhà đọc sách của thái ấp. Trong đó, hai tên gian tế đang bị trói và nhét giẻ vào mồm vẫn đang kêu ư ử. Trần Khánh Dư quờ xuống gầm phản lôi ra một thanh gươm, cây cung và mấy mũi tên. Ông buộc mồi, đánh lửa, châm lên đầu tên và hé cửa phóng mũi tên lửa lên mái cỏ của mấy gian bếp. Trần Khánh Dư luồn tay vào sau một chiếc tủ lôi ra hai bọc vải thâm rồi ra hiệu Quốc Nghiễn, Quốc Tảng vác hai tên gian tế lên vai. Giờ thì họ luồn vào một lối đi ẩm ướt tối tăm chìm hẳn trong lòng đất. Nóc của lối đi rất thấp nên hai tên gian tế mấy lần bị va đầu vào nóc, nếu không bị nhét giẻ thì chắc chúng đã kêu đau thấu trời. Lối đi mở ra ngách vào chuồng ngựa. Ba người lấy ngựa rồi im lặng ra hiệu cho nhau bằng mắt. Trần Khánh Dư vắt hai bọc tang chứng vào phía trước yên ngựa rồi nhanh chóng tung mình lên yên trong khi hai ông tướng kia cũng làm theo như thế, chỉ khác ở chỗ thay cho bọc tang chứng là hai tên gian tế. Ba con ngựa nối nhau phi xuyên qua cánh đồng tít tắp dưới trời mưa giăng mù mịt. Phía sau họ, khu bếp gia nhân đang cháy ngùn ngụt. Cả thái ấp chắc giờ đang rối loạn vì không thấy chủ nhân đâu...
Trong mưa, Trần Quốc Tảng gọi với sang ông chú:
– Chúng ta sẽ tới bến Bình Than. Nguyễn Khoái đã vâng mệnh cha cháu chuẩn bị thuyền về Thăng Long.
Ra thế, mọi sự không ngoài sự xếp sắp của Đức ông Tiết chế. Trần Khánh Dư càng thêm vững dạ. Thực ra, tới lúc này, ông vẫn chưa yên tâm. Nào ai biết được lòng người. Nhỡ Chiêu Minh vương lại tin vào những chứng cử mà người Nguyên tạo ra thì sao. Bản tính đa nghi đã có trong máu của Trần Khánh Dư từ khi còn nhỏ. Mà có lẽ bản tính ấy đã ẩn đi ở Nhân Thành hầu chứ thật ra nó luôn có ở Đức ông Thái sư Trần Thủ Độ. Chính sự đa nghi đã khiến cho Trần Khánh Dư tạo ra con đường bí mật ở thái ấp Chí Linh trong những ngày ông bị cuộc đời vùi dập. Những ngày đó, con đường hầm vô dụng; nhưng vừa rồi, nó mới đắc dụng làm sao. Nhờ con đường ấy mà tung tích của ông cùng hai vị vương gia đều hoàn toàn bí mật. Còn những gã bịt mặt vốn tưởng rằng sắp đột kích được vào thái ấp Chí Linh thì chắc giờ đây đã sa vào bẫy của lính viễn thám và bỏ mạng không ít dưới tên của cung thủ Nhất tiễn lập công!
Vũ Khắc và đám lính Vân Đồn cập đảo khi trời đã khuya. Ra đón họ là ba tướng Phạm Chính, Phạm Quý và Phạm Thuần Dụng. Ba người này là anh em ruột, theo Nhân Huệ vương từ hồi ông còn đang cầm đầu đội thuyền bán than. Chính ba anh em đã khuyên Trần Khánh Dư chèo thuyền lướt qua mũi thuyền ngự trên bến Bình Than khiến hai vua để ý. Hôm đó, Trần Khánh Dư toan đợi buổi hội vương hầu tan thì mới lên thuyền ngự xin hai vua cho theo đánh giặc. Phạm Chính quả quyết quỳ xuống: "Xin Đức ông mạo muội mà làm, nếu cứ câu nệ lễ tiết e hỏng cả việc lớn”. Trần Khánh Dư được Quan gia cùng Quốc công tin dùng, và ba anh em họ Phạm từ đó trở thành kẻ tâm phúc trong quân Nhân Huệ vương. Giờ thì cả ba tướng đều ra bến thuyền đón sẵn, sau lưng họ, lấp ló một người mới vừa làm khách ở thái ấp Chí Linh. Quản gia Vũ Khắc bước lên bờ liền xẵng giọng: "Ba vị ra cả đây đón ta, thực là hân hạnh. Nhưng binh lính không người coi mà sinh biến, ta không đương nổi tội đâu”. Chỉ thấy ba tướng họ Phạm cùng binh lính sau lưng họ nhất loạt tuốt kiếm, rồi Phạm Chính lớn tiếng:
– Vũ Khắc, ông chớ nhiều lời. Mau bó tay chịu trói, chờ Đức ông về hỏi tội.
Lời vừa nói thì kiếm đã trỏ vào cổ họng Vũ Khắc. Vũ Khắc kêu ầm lên:
– Anh em binh lính trên thuyền, bọn này làm loạn rồi, mau giết chúng nó đi...
Đám lính trên thuyền của Vũ Khắc ngơ ngác chưa biết tin ai thì đã thấy Phạm Chính giơ cao một vật trong ánh lửa bập bùng:
– Có tín phù Nhân Huệ ở đây, kẻ nào dám bảo ta làm loạn?
Nhân lúc đó, Vũ Khắc tung mình bỏ chạy. Nhưng mới được một bước, Vũ Khắc đã khựng lại trước một mũi dao sáng quắc. Vũ Khắc kêu lên:
– Hoàng Phủ Tín, ngươi là người Bắc quốc, sao lại cản ta? Hoàng Phủ Tín cười gần:
– Ta là người Bắc, nhưng quyết không giúp bọn rợ Thát cướp nước người! Ngươi là chó săn của chúng, ta không tha cho ngươi đâu...
Chỉ thấy một ngọn thiết lĩnh từ sau Hoàng Phủ Tín đánh vút tới. Vũ Khắc sụm xuống. Hai đầu gối của hắn liền bị điểm trúng. Hắn đã trở thành phế nhân rồi. Vũ Khắc cố nhỏm lên toan gọi một ai đó, nhưng hắn dừng lại. Phạm Quý bật cười:
– Ngươi toan gọi mấy gã mà ngươi lén đưa vào trong quân hử?
– Chúng bị vị cư sĩ họ Hoàng đây bắn ngã sạch rồi!
Vũ Khắc ngẩng lên, trừng trừng nhìn Hoàng Chí Hiển:
– Sao ngươi lại đến đây, phá kế của ta?
Hoàng Chí Hiển mắng:
– Ta vâng mệnh Đức ông Phó Đô tướng cầm tín phù Nhân Huệ về Vân Đồn là để giúp ba vị tướng quân họ Phạm dẹp phản loạn. Vừa hay tra hỏi thì lộ ra thằng phản tặc là ngươi.
A Lý lại gần, định xốc nách Vũ Khắc lên. Nhưng chỉ một chớp mắt, Hoàng Phủ Tín lại tung chân đá bay mũi châm nhọn mà A Lý toan đâm vào yếu huyệt của Vũ Khắc. Mũi châm cắm vào búi tóc một người lính khiến anh ta mặt như chàm đổ, run cầm cập. Phạm Chính nhìn A Lý thở dài:
– Ta không mong ngươi vọng động, ai ngờ nhà ngươi lộ mặt sớm thế!
Phạm Chính quát lính trói giật hai tên phản loạn và truyền giam vào ngục, canh giữ cẩn thận. Rồi viên tùy tướng quay qua Hoàng Chí Hiển:
– Giờ thì xin mời cư sĩ về qua nhà chú em tôi. Chúng ta sẽ uống rượu chờ tin các Đức ông!
Có lẽ đến tận khi bị tống ngục, Vũ Khắc cũng không bao giờ biết, chính bài thơ lời lẽ ngông ngạo của Hoàng Sào là ám hiệu để Hoàng Phủ Tín báo với Nhân Huệ vương rằng có kẻ bội phản. Vũ Khắc làm sao mà ngờ rằng, bài thơ thì thật là ngông, nhưng lại chẳng chứa một dấu hiệu nào cả. Chỉ cái tên người làm ra bài thơ đó mới nói lên điều Hoàng Phủ Tín cần mật báo. Nếu biết, hẳn Vũ Khắc sẽ uất hộc máu vì bao nhiêu công rình mò nghe trộm của hắn đã đổ xuống biển chỉ vì hắn dốt thơ. Bởi nếu nhận ra Trần Khánh Dư đã biết về âm mưu của hắn, Vũ Khắc nhất định sẽ để A Lý hạ độc vào bữa tiệc chứ không đời nào hắn chịu thất bại đớn đau đến thế này...