Giặc đã khởi binh.
Hoàng Chí Hiển trở về với những tin tức xác thực những gì các thám báo đã dò xét và phỏng đoán. Cánh quân đi đường biển của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đã sẵn sàng. Thêm vào đó, vì không còn cách nào để chuẩn bị đoàn phu vận lương theo đường bộ hiểm trở và đầy cạm bẫy cho đội quân xâm lược, Hốt Tất Liệt đã giao Trương Văn Hổ, Phí Củng Thìn dẫn đoàn thuyền tải lương vượt biển sang Đại Việt.
Cơn gió bắc thổi căng buồm đưa Chí Hiển về nhanh. Nhưng cũng chính cơn gió ấy sẽ đẩy thuyền giặc rầm rộ tiến về Đại Việt. Trần Khánh Dư thảo một loạt sớ tấu. Sẽ có những việc phải tâu lên hai vua. Sẽ có những tin phải báo gấp tới Quốc công Tiết chế. Mỗi đội dũng thủ mang sớ đều võ nghệ cực giỏi. Mỗi sớ tấu sẽ sao thành ba bản, do ba đội chia đường đem đi. Quân Vân Đồn đã không còn tụ về đảo chính. Mỗi đảo quanh đó dù lớn hay nhỏ, hoang hay có người ở, từ giờ đều có lính đóng giữ cùng với dân binh.
Lương thảo chia ra cất giữ. Binh khí cũng đã sẵn sàng giấu ở khắp nơi. Không khí chiến chinh tràn ngập Vân Đồn. Cả Đại Việt lại chuẩn bị vào cơn binh lửa mới.
Ngồi ở Vân Đồn, nghe tin báo về những trận đánh trên bộ, Trần Khánh Dư có phần nóng ruột. Giặc tràn qua Lộc Châu chia làm hai cánh tiến xuống. Trình Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhi theo đường Chi Lăng. Thoát Hoan và Áo Lỗ Xích tiến qua ải Khả Lỵ và ải Nữ Nhi, lấy A Bát Xích làm tiên phong. Cánh quân phía tây của Trình Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhi vượt mấy cửa quan đến Lãnh Kinh thì vướng lại. Tướng giữ cửa ấy là Hưng Đức hầu thực xứng là tướng trẻ họ Đông A. Trần Quán biết giặc đang kiêu nên chuẩn bị rất nhiều tên độc. Trận mưa tên chờ đón Trình Bằng Phi trên con đường độc đạo một bên rừng rậm một bên núi đá đã khiến gã Hữu thừa khiếp vía. Tham chính Bột La Hợp Đáp Nhi bị tên bắn trúng chỏm mũ hoảng hồn ép Trình Bằng Phi lui quân. Họ Trình nghĩ ngợi trong thoáng chốc rồi đồng ý. Chúng lui về đóng ở cửa Vũ Cao để chờ tìm đường khác.
Viên Hữu thừa Ái Lỗ dẫn quân đi trước Thoát Hoan. Cánh quân này có một viên tướng đặc biệt, đó là chư vương A Thai. A Thai vốn là một chư vương phản đối Hốt Tất Liệt tiếp nhận ngôi Hãn từ Mông Kha. Vì thế, nay Hốt Tất Liệt bắt A Thai phải theo quân để lập công chuộc tội. Giặc tràn tới Bạch Hạc thì gặp Chiêu Văn vương bày trận chờ sẵn ở cửa quan Mộc Ngột. Thế giặc quá mạnh, quân ta chỉ cản chân giặc được gần một ngày thì phải rút. Tướng ta là Lê Thạch và Hà Anh sa vào tay giặc.
Vó ngựa giặc lại giày xéo lên đất đai Đại Việt. Giặc đi tới đâu, cũng chỉ gặp phải những hầm chông bẫy sập. Mỗi dòng suối chúng qua, dẫu cạn hay đầy đều ẩn chứa hiểm nguy. Mỗi chiếc cầu đều có thể gãy gục ngay giữa đường tiến binh của giặc. Những thôn xóm ven đường không một bóng dân. Giếng đã lấp, những thứ không mang theo được đều đã bị đập bỏ và đốt hết. Một Đại Việt lạnh lùng và âm u đang chờ đợi đoàn quân của Thoát Hoan. Dẫu quân giặc tràn xuống với khí thế bừng bừng, nhưng tướng cầm đầu mỗi cánh quân giặc luôn phải tự nhủ lòng cần vô cùng cẩn trọng. Dường như mỗi người dân Đại Việt, và cả mỗi ngọn cây hòn đá chốn đây đều tìm mọi cách ngăn cản đường tiến binh của lũ xâm lăng.
○ ○ ○
Khởi hành không lâu, gió bắc nổi lên như bão, chu sư của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp hùng hổ giương buồm tiến binh. Đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ cũng ì ạch theo sau. Gió mạnh, buồm căng, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp thẳng đường mà băng băng như không gì cản nổi. Khoảng cách giữa hai đoàn thuyền xa dần. Tới khi bóng thuyền của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đã hoàn toàn biến mất phía chân trời, Trương Văn Hổ thở dài thườn thượt: "Họ tham công đi trước, bỏ mặc ta nặng nhọc đi sau rồi. Xem ra phen này, công đầu tuột khỏi tay ta mất!”
Chu sư rầm rộ kéo qua Mũi Ngọc. Chợt Ô Mã Nhi nhận được tin báo, thuyền nhỏ của Đại Việt phục ở cửa Vạn Ninh đột nhiên kéo ra đánh thẳng vào những chiếc thuyền đi cuối, đốt thuyền và bắt sống vài tướng nhỏ cùng mấy chục quân. Viên kiêu tướng phá lên cười trước vẻ mặt không vừa lòng của Phàn Tiếp. Cứ thử nghĩ xem, chu sư của y toàn những chiến thuyền lớn vốn là niềm tự hào của người Nam Tống. Đám thuyền con Đại Việt chỉ dám loay hoay quấy rối vặt chứ sao có thể đối đầu với sức đè sóng phăng phăng của những hải thuyền trong tay Ô Mã Nhi.
Ô Mã Nhi vỗ vai Phàn Tiếp. Cẩn trọng là tốt. Làm tướng nhất định phải cẩn trọng. Nhưng cẩn trọng quá lại thành do dự như đàn bà thì lỡ mất đại sự.
Năm sắp hết. Giờ đã cuối tháng trọng đông [64] . Ô Mã Nhi hiểu rằng, hắn đang mang theo hầu như toàn bộ niềm hy vọng của đội quân Nam chinh dưới tay Thoát Hoan. Hắn càng hội quân với chủ soái nhanh bao nhiêu thì cơ hội chiến thắng lớn bấy nhiêu. Nghĩ mà phát bực, vậy mà hắn cứ phải cố trùng trình để còn bảo vệ cho đoàn thuyền lương lệnh khệnh của Trương Văn Hổ phía sau. Ô Mã Nhi muốn chậm, nhưng gió bắc lại không muốn. Những cơn gió thổi từ đất Bắc đã nâng những cánh buồm để chúng thẳng hướng Đại Việt mà ầm ầm tiến suốt mấy ngày qua.
Dẫu vậy, quân lương vẫn là thứ quan trọng bậc nhất trong việc binh. Ô Mã Nhi đành truyền hạ buồm. Hắn phải thong thả vài ngày mà đợi Trương Văn Hổ.
Đêm, nghe gió rít dọc qua giữa các thân thuyền, Ô Mã Nhi không ngủ được. Lại thêm một lần nữa hắn theo Thoát Hoan chinh Nam. Chẳng rõ giờ này Trấn Nam vương đang ở chốn nào? Các mũi tiến binh liệu có dễ dàng đạp bằng những đạo quân Đại Việt? Bao nhiêu câu hỏi miên man không lời đáp. Ô Mã Nhi trăn trở mãi. Kịp tới đầu giờ Dần, khi vừa chìm vào giấc ngủ nặng nhọc thì gã dũng tướng đã lại phải giật mình tỉnh dậy. Một đội thuyền nhỏ của Đại Việt lại vừa nhằm vào những chiếc thuyền đi cuối mà phóng tên lửa rồi thò câu liêm lên giật cổ những tên lính xấu số. Mất vài tên lính không đáng kể, nhưng lũ phá rối kia gây hại nhiều nhất lại là tìm mọi cách cắt đứt dây buồm của những chiếc thuyền bị tấn công. Khi quân Nguyên tỉnh giấc và bắt đầu bắn tên như mưa về phía thuyền Đại Việt thì lũ phá rối đó đã an toàn rút ra xa. Chỉ tập kích rất nhanh, nhưng người Đại Việt đã kịp làm mấy chiếc thuyền đi cuối bị hỏng không ít.
Ô Mã Nhi bực dọc trông ra mặt biển đang sáng dần lên trong ánh ngày vừa đến. Biển lồng lộng và hùng vĩ đến nao lòng. Ô Mã Nhi ruột nóng như cào và bẳn gắt với Phàn Tiếp khi bị hỏi rằng phải đợi đến khi nào.
Ấy cũng chính là sự giằng co trong lòng Phàn Tiếp và mọi tướng Nguyên. Không một kẻ nào muốn lừng chừng ở ngoài khơi theo kiểu ngồi chờ quân Đại Việt quấy rối như thế này. Nhưng nếu không đợi, mất đoàn thuyền lương phía sau thì chắc chắn đội quân của Thoát Hoan sẽ đói. Chao ôi, thuyền nào đi trên biển chẳng mong thuận buồm xuôi gió. Giờ thì gió đang xuôi, mà lại không thể thuận buồm. Sự mới trớ trêu làm sao.
Mấy đêm liền, cứ chờ tới khuya và gần sáng là Đỗ Niêm lại dẫn đội thuyền nhỏ kéo ra quấy rối. Chỉ tiếc là, biển đêm rất lạnh và gió lồng lộng thổi nên Đỗ Niêm không đồng ý cho đội đục thuyền xuống nước. Quân ta chỉ bắn tên lửa và tìm cách thò câu liêm lên giật phá dây buồm hoặc giật cổ vài binh lính Nguyên xuống nước. Điều chính yếu nhất là không cho giặc ngủ yên.
Nhiệm vụ kể cũng là hoàn thành, nhưng vẫn có điều đáng buồn. Mấy đêm, ta cũng mất mấy chục người lính và mấy chiếc thuyền. Sóng gió ngoài khơi, mưa tên của giặc... Mỗi lần quay về, Đỗ Niêm lại thừ người ra lúc điểm quân.
Buổi trưa, Đỗ Niêm lẳng lặng mang câu liêm ra mài. Việc mài binh khí xưa nay, lính phải làm. Nhưng hôm nay, Đỗ Niêm muốn tự tay mài thật sắc cây câu liêm cán mềm, món quà kỳ quái mà Nhân Huệ vương tặng ngày trước. Đỗ Niêm vốn tên là Trê, và món quà này hệt như hai chiếc râu trê cong vút vô cùng ngang ngạnh. Đỗ Niêm mài mãi, và trong lòng miên man nhớ những ngày còn trong đội quân mang lá cờ sáu chữ. Thế rồi, khi đứng lên và quay lại, Đỗ Niêm nhìn thấy từ trên một mỏm đá gần đó, Nhân Huệ vương đương ngồi trông xuống. Phía sau Đức ông là Hoàng Phủ Tín. Cả hai, đều như những khối đá im lìm. Đỗ Niêm vội vã vòng tay:
– Tiểu tướng vô ý, khiến Đức ông phải chờ...
Trần Khánh Dư đáp:
– Chớ nhầm, ta ngồi đây không có ý chờ ngươi. Ta và Tín cùng đi, chợt thấy ngươi mài câu liêm cũng hay. Bèn ngồi mà xem thôi! Ngồi xem mài câu liêm! Nghe qua thật là thong dong đến nhường nào.
Nhưng thế là đủ để kẻ vô tâm như Đỗ Niêm cũng hiểu, Nhân Huệ vương đang phải đối mặt với những suy tính thực khó khăn. Ô Mã Nhi trùng trình ngoài khơi không tiến, ắt là để chờ Trương Văn Hổ. Kẻ ở xa như các quan trong triều nghe tin Nhân Huệ vương cương quyết không đánh hẳn là đã tới tấp dâng sớ lên hai vua đòi thay tướng. Nhưng ngay trong quân Vân Đồn, cũng đã có những tướng đòi xuất trận. Họ bảo: "Nhìn thấy lũ giặc nghênh ngang ngoài bể như thách thức, nếu không ra đánh một trận cho chúng run sợ, thì thực là hổ nhục”.
Cân nhắc và suy tính khiến cho ông tướng trấn thủ Vân Đồn phải lang thang khắp đảo rồi ngồi cả buổi xem viên tướng trẻ mài câu liêm.
Đỗ Niêm chợt ngẩn ra nghe Trần Khánh Dư bảo Hoàng Phủ Tín:
– Nó mài xong thì hết trò rồi. Ta về...
Thế là không thèm nghe Đỗ Niêm bái chào, hai người lùi lại và chớp mắt khuất khỏi tầm nhìn của Đỗ Niêm.
○ ○ ○
Đức ông Nhân Huệ thăng trướng!
Đã lâu lắm Đức ông Phó Đô tướng quân trấn thủ Vân Đồn mới thăng trướng long trọng đến thế này.
Khi các tướng bước chân vào trướng, thảy đều run lạnh. Uy vũ của trướng hổ quả là ghê gớm. Dàn binh khí sáng quắc dựng hai bên. Nhưng trên hết, là vị chủ nhân ngang ngược bỗ bã của Vân Đồn thường ngày đã hoàn toàn đổi khác. Ngồi sau án là Nhân Huệ vương mặt lạnh băng, sát khí đủ khiến người ta khiếp vía.
Các tướng đều được ban ngồi, nhưng vừa ngồi vừa lo lắng nhìn nhau.
Im lặng một lúc lâu, Nhân Huệ vương mới cất lời:
– Chúng tướng nghe lệnh!
Các tướng dạ ran, thảy đều vội vã đứng dậy khom xuống mà chắp tay cúi đầu.
– Tất thảy quân sĩ, nghiêm cấm tụ tập bàn tán việc binh. Kẻ nào nghị luận nhảm làm rối lòng quân, chém không tha. Kẻ nào xúi giục đặt điều làm rối lòng quân, chém không tha. Kẻ nào liều lĩnh chưa có mệnh đã xông ra đánh, chém không tha!
Không nói thêm một tiếng, Nhân Huệ vương đứng dậy phất tay, rời trướng.
Trong trướng hổ, chỉ còn lại các tướng xanh mặt nhìn nhau. Bao lâu nay, họ mới chứng kiến khí thế bức người đến nghẹt thở của Đức ông Nhân Huệ.
Bước chân ra khỏi trướng, Phạm Chính thở dài, bảo hai em:
– Đức ông đã quyết gánh vác một mình, nhất định không để lụy đến các tướng!
Phạm Thuần Dụng đáp:
– Chúng ta đi theo chủ tướng như vậy, thực không còn gì phải ân hận.
Phạm Quý cũng nói:
– Anh em ta mau về trại nhắc nhở quân sĩ luôn phải sẵn sàng chờ lệnh. Khi nào Đức ông truyền đánh, là phải ra sức đến cùng để báo đền ơn tri ngộ.
Vậy là Nhân Huệ vương đã quẳng ra sau lưng mọi nguy cơ bị gièm pha hay sàm tấu. Ông cũng không nhìn đến những kẻ nằng nặc đòi ra trận chỉ vì bị đoàn thuyền Ô Mã Nhi nhởn nhơ trêu ngươi. Đức ông đã nhất quyết chờ đợi không ra đánh và cũng nhất quyết một mình gánh vác tội vạ của sự lựa chọn ấy trước triều đình.
Các tướng về hết, Trần Khánh Dư truyền Hoàng Phủ Tín gảy cho ông nghe khúc Cao sơn lưu thủy. Tiếng đàn thập thững như kẻ đi lạc giữa chốn binh đao nhưng Đức ông Nhân Huệ lại rất ban khen và tán thưởng!
○ ○ ○
Hóa ra, Ô Mã Nhi cũng không phải là kẻ kiên nhẫn. Chờ mãi chưa thấy tăm dạng đoàn thuyền của Trương Văn Hổ, Ô Mã Nhi đứng ngồi chẳng yên. Và rồi, hắn quyết định không chờ nữa, lệnh cho chu sư căng buồm xuôi gió rầm rộ mà tiến. Ô Mã Nhi nói với các tướng rằng Trương Văn Hổ cũng đâu còn là con trẻ mà cú phải mỏi mòn chờ đợi để che chở. Họ Trương kia chẳng vẫn dương dương tự đắc rằng nhà hắn nối đời vô địch trên mặt biển đó sao!
Phàn Tiếp và các tướng đều khuyên Ô Mã Nhi đừng khinh suất quá. Nhưng gã dũng tướng Nguyên bảo cho các tướng hiểu rằng, thời gian chờ đợi đã hết. Vì thế, giờ thì gã dũng tướng đã từng chết hụt ở lần trước xâm lăng Đại Việt đang gầm lên truyền lệnh, bất kể đêm ngày nhằm thẳng hướng An Bang để bù cho những ngày chờ đợi và phải chịu đựng những chuyến phá phách lúc nửa đêm của thủy quân Đại Việt.
Thật lòng, Phàn Tiếp cảm thấy phấp phỏng không yên. Dù thế nào chăng nữa, đây là cả một cuộc chiến, chẳng lẽ Ô Mã Nhi lại quên câu "dục tốc bất đạt” ư? Nhưng hắn đành im. Vì lúc họ Phàn xin Ô Mã Nhi vừa tiến vừa nghe ngóng thì gã liền nổi giận: "Lúc ta dừng, ngươi khuyên ta chớ dừng. Giờ ta tiến, ngươi lại khuyên ta vừa tiến vừa dừng! Là cớ làm sao?”
Tin giặc bắt đầu tiến được báo về. Trần Khánh Dư im lặng nhìn ra biển. Mặt sóng đang sôi trào. Ông nhớ về trận Mũi Ngọc. Đó chỉ là một trận thắng nhỏ. Tin báo tiệp cũng thêm phần làm nức lòng quân sĩ, nhưng chỉ vậy thôi. Thuần là một chút nức lòng. Phía trước mới là một trận đánh lớn, cuộc đối đầu thực sự. Bất giác, Trần Khánh Dư nhớ lại một câu mà người Tống thường hay nói: "Hiệp lộ tương phùng, dũng giả thắng”. Đối đầu, mạnh thì thắng. Lần này, ông sẽ dẫn thủy quân Đại Việt với những con thuyền nhỏ đối đầu với mấy trăm chiến thuyền lớn của Ô Mã Nhi. Và thật lòng, phải biết được ai là mạnh. Tướng giặc Ô Mã Nhi đã tung hoành khắp chốn, được phong danh hiệu Bạt đô (dũng tướng) của Nguyên triều. Thuyền giặc thì vừa nhiều vừa lớn. Biết đánh thế nào đây... Xưa nay, những trận thắng của tiền nhân nước Việt đều là thắng trên sông, chứ chưa có trận nào trên mặt biển rộng. Còn ông, sẽ lần đầu tiên, cầm thủy quân để đánh một trận lớn có thể ghi danh vào sử sách. Nhưng quả thật, Trần Khánh Dư không cảm thấy rằng trận này ông có thể đánh thắng. Điều ấy, ông đã nhận ra từ những ngày đầu tiên cho thủy quân luyện tập đối trận trên mặt biển.
Khi giặc trùng trình không tiến, ông nhất quyết không đánh. Quyết định ấy, không nhiều người hiểu, kể cả các tướng dưới quyền ông. Đánh vào một đội quân đang co cụm trên bộ rất khó, nhưng có thể dùng lửa hoặc vây lại mà tấn công. Còn đánh trên biển, lửa không dùng được. Đã thế, mang thuyền nhỏ ra ngoài khơi xa để mà vây lấy những hải thuyền lừng lững thì đúng là mang trứng chọi đá. Mọi thứ vũ khí đều khó phát huy sở trường trong thế trận mong manh ấy.
Giờ thì giặc đã tiến. Cả một đoàn thuyền lớn hùng hổ như thể con mãnh thú muốn nuốt chửng Đại Việt. Đã đến lúc phải đánh. Đây là thời điểm duy nhất có thể đánh được. Cần phải chọn đúng điểm yếu trong đội hình tiến quân của chúng mà đánh. Nhưng việc đó, thật là khó lắm thay.
Và, càng gần đến giờ bắt đầu trận đánh, ông càng thấy rõ cơ thắng của mình là quá đỗi mỏng manh, nếu không nói là gần như không có. Xung quanh ông, sóng biển vẫn thét gào đập vào núi đá. Ba tướng họ Phạm, Đỗ Niêm, Hoàng Phủ Tín vẫn đứng lặng im chờ đợi. Gió bấc thổi miên man...
Đêm lạnh. Trần Khánh Dư mang một vẻ trầm tư khi bước vào trướng hổ. Sáng mai giặc tới. Đánh thì quyết phải đánh mà ông tướng quân thủy vẫn thấy ngổn ngang trong lòng. Lần trước giặc sang, quân thủy chúng mới lập ra, trận nào đánh trên sông là chúng cũng gặp phải một phen khốn đốn. Thuyền giặc chỉ để chuyển quân, chứ không đánh trận được. Lần này đã khác. Chu sư của chúng hùng hổ tiến. Cánh quân mà Trần Khánh Dư giao cho đánh trận Mũi Ngọc chính là một đòn đánh thử của ông. Tin báo tiệp gửi về chỉ là cái cớ; trong mật thư kèm theo, viên tướng đánh trận đó đã viết thế này: "Tiểu tướng ra quân, may có chút thắng để không nhục mệnh, nhưng thực trong lòng vẫn hiểu, đoàn thuyền này quả không dễ đánh. Cúi xin vương gia cẩn trọng."
Trần Khánh Dư không để ý gì đến vẻ mặt của chúng tướng xung quanh. Ông nhắm mắt lại cố hình dung những suy nghĩ của Hoài Văn vương Trần Quốc Toản trước khi bước vào trận đánh quyết tử bên bờ Như Nguyệt. Viên tướng trẻ ấy đã nghĩ như thế nào nhỉ, khi biết rằng mình sẽ bước vào trận đánh mà chắc chắn khó có thể quay về. Liệu Quốc Toản có thanh thản thật không? Có băn khoăn mẹ già vắng người trông nom không? Có hiểu rằng ra đi như thế nghĩa là để lại bao nhiêu tiếc nhớ trong lòng những người lính của đội quân trẻ tuổi ấy không? Và nhất là, liệu trước khi vào trận, Trần Quốc Toản có thấu hiểu được nỗi lòng của Thoan, cô đội trưởng dân binh lộ Khoái hay không?...
Trần Khánh Dư nghĩ, nghĩ mãi. Có lẽ là Quốc Toản hiểu, hiểu hết... Hiểu và thanh thản đi vào trận đánh. Phải đánh, để những người mẹ già khác sau này không lo mất con vì giặc giã chiến chinh. Phải đánh, để những người con gái khác sau này không lo mất người thương trên chốn sa trường.
Phải đánh.
Đánh thế nào để giữ yên lành cho mai hậu, chứ không phải đánh để tỏ chí nam nhi.
Đánh thế nào để tổn thất ít nhất, giữ lấy quân mà còn đánh tiếp.
Đột nhiên, Nhân Huệ vương mở mắt nhìn chúng tướng và cất giọng vang trướng hổ:
– Chúng tướng nghe lệnh.
Lệnh đã ban. Chúng tướng nghe lệnh mà ngơ ngẩn vâng theo. Cứ như phân phó của Nhân Huệ vương, Đức ông và Đỗ Niêm sẽ dẫn một cánh quân nhỏ đánh từ phía nam lại, cản đường giặc. Còn Phạm Chính và Phạm Thuần Dụng chờ giặc đi qua mới đánh thẳng vào hậu quân. Phạm Quý cùng quân cung nỏ cưỡi thuyền nhẹ mang tên có chất dẫn cháy đánh vào bên sườn giặc. Hạn trong vòng một canh giờ, dù thắng dù thua các tướng cũng đều phải trông cờ lệnh, bảo rút là phải rút.
Các tướng nhìn nhau. Đánh thế này thì nghĩa là đành để chu sư giặc qua ư? Mấy ngày nay, tinh thần tử chiến của quân sĩ đã bốc lên ngùn ngụt, quyết một phen sống mái với giặc. Giờ để chúng qua, nghĩa là lại thêm một cánh quân giặc tràn vào giày xéo nước Nam. Đánh thế này, chẳng là phải tội với Thượng hoàng và Quan gia, phải tội với non sông gấm vóc ư?
Nghĩ vụng vậy thôi. Nhìn vẻ mặt lạnh lùng và đôi mắt trừng trừng sáng quắc như áp chế của Đức ông Phó Đô tướng, không một tướng nào dám cất lời hỏi han. Họ chỉ im lặng thở dài, vái chào Nhân Huệ vương rồi quay về trại, truyền quân sĩ lên thuyền chuẩn bị, quá nửa đêm là nhất loạt ra khơi.
Trần Khánh Dư bảo Hoàng Phủ Tín đi nghỉ, để ông được ngồi một mình. Rồi ông sai Thị Thảo tắt bớt đèn nến và cũng lui đi. Vị tướng nhìn đăm đắm ra màn đêm. Trong trướng hổ chỉ còn lại mình ông. Thanh kiếm lệnh trước mặt ông nằm im lặng lẽ. Ông Phó Đô tướng quân uống nốt chén rượu rồi đứng dậy đi ra trước cửa trông lên trời đêm thăm thẳm vần vũ mây đen. Với thanh kiếm lệnh này, ông đã từng đánh nhiều trận thắng. Và khi trời sáng, ông sẽ vung kiếm lệnh lên, đánh một trận thua!
Suốt phần còn lại của đêm, Đỗ Niêm loay hoay hết ra lại vào. Anh chàng nhận mệnh của Đức ông, giấu hết những chiếc thuyền mũi bọc đồng không mang ra dùng. Chẳng nhẽ chịu nhịn suốt những ngày qua mà nay còn phải nhịn tiếp ư? Nhẽ nào không mang đội thuyền chiến dũng mãnh nhất ra đánh cho tiêu hao bớt giặc trước khi chúng tràn lên bờ và kéo về hội quân với Thoát Hoan?
Thị Thảo cũng không thể nào ngủ nổi. Trông nét mặt của Đức ông Nhân Huệ, cô chợt có một dự cảm không lành. Thị Thảo luống cuống chẳng biết làm gì. Những món ngon mà cô nấu, Đức ông không động đũa. Trà thơm pha dâng lên, Đức ông cũng không uống mà chỉ nhấp rượu suông. Thị Thảo lẳng lặng ra trước sân, chắp hai tay vái trời vái biển.
Trời thăm thẳm trên cao.
Và biển cũng thăm thẳm ngoài xa...
KHÚC VÔ THANH CỦA THỊ THẢO
Suốt bao đêm nay, Đức ông đều trằn trọc. Ta biết, Đức ông đang phải cân nhắc quá nhiều lợi hại trong những trận đánh sắp tới. Ta chỉ tiếc mình là phận nữ nhi, chẳng thể làm được gì để báo đáp công ơn trời bể của Đức ông.
Ngần ấy năm đi theo Đức ông, ta thực sự hiểu Người. Mặc cho thiên hạ có chê bai mai mỉa đến đâu, ta cũng vẫn luôn nghĩ rằng Đức ông là người có nhân có nghĩa.
Chỉ là, Đức ông luôn ẩn giấu những đức tính và che phủ bên ngoài bằng vẻ "coi trời bằng vung” và những lời vẫn bị đám nho sĩ gọi là "tham bỉ”.
Ngần ấy năm đi theo Đức ông, ta thấm thía nỗi cô độc trong lòng Người. Đức ông đã từng chạnh lòng với ta, và ướm hỏi ta về làm thiếp. Ta đã không nhận lời, dẫu đêm đó ta khóc suốt cho tới sáng. Gối ta đẫm ướt. Nhưng tới sáng, ta lại phải gạt nước mắt rồi cố tỏ ra tỉnh táo để lên hầu Đức ông.
Ta biết, trong lòng Đức ông chỉ mãi mãi có một người. Đó là người hiểu được và chia sẻ được bao nhiêu ngổn ngang trăn trở của Đức ông. Đó cũng là người đã một lần thoáng đi ngang qua cuộc đời Đức ông, để rồi sau này nếu có gặp lại cũng chỉ là trông nhau từ xa với nỗi niềm ngang trái. Cuộc dan díu của họ, chẳng mấy người hiểu thấu. Với kẻ ngoài cuộc, đó là mối tình vụng trộm giữa một vương phi bất hạnh vì lấy phải ông chồng vô vị, và một vương gia ngang ngược sẵn sàng làm ngược lại mọi cấm đoán trên đời.
Ta đã tưởng lòng mình, sẽ chỉ mãi mãi dành riêng để biết ơn một người. Nhưng rồi, một người khác lại bước vào đời ta và bắt ta chịu ơn cứu mạng. Ánh mắt của người ấy, làm ta xao lòng. Cử chỉ và những lời hỏi han ấm áp của người ấy, làm ta nhớ nhung. Một đứa con gái như ta, sao có thể quên nổi người đã dùng thân mình che cho ta khỏi mũi tên cướp mạng.
Ta phải nhiều lần lánh đi không dám gặp lại người ấy. Nhưng làm sao mà lánh cho hết. Liệu rồi sau này tái ngộ, biết nói gì đây. Cũng có lúc ta cầu cho người ấy quên hẳn ta, để ta một lòng trọn đời báo ơn Đức ông. Nhưng nếu như thế, lòng ta cũng đau đớn lắm.
Giờ này, không biết người ấy đang ở đâu. Chiến trận thật mênh mông và khắc nghiệt. Cầu xin Trời Biển phù hộ cho Đức ông và cả người ấy an bình đi qua cuộc chiến này.
Cầu cho Đức ông thắng trận ngày mai...