Trần Nhân Tông nhìn đăm đăm vào chồng tấu sớ cao ngồn ngộn. Vị vua trẻ thở mạnh một hơi rồi quay sang Chiêu Minh vương Trần Quang Khải:
– Chú Ba, ta nghỉ lấy một chút. Mấy việc này chờ Khắc Chung đến xem ý ông ta thế nào...
Trần Quang Khải tuân mệnh vua. Họ tạm xếp lại mọi việc rồi lững thững ra ngoài. Thực bụng thì Chiêu Minh vương không muốn dừng việc lúc này. Tấu sớ còn nhiều quá, nếu không kịp đọc và phê duyệt thì e chậm mất. Nhưng "dục tốc bất đạt”. Một vị vua vừa mới tự nắm quyền lo việc nước phải mất thời gian làm quen tất cả chứ không như ông chú Thái sư đã bao nhiêu năm lo quản việc trong triều ngoài nội. Có nhiều việc, nếu như trước đây, Thượng hoàng Thánh Tông để cho Trần Quang Khải tùy ý xử đoán. Thượng hoàng đã thực lòng tin tưởng em trai. Giờ thì việc nào Quan gia Nhân Tông cũng hỏi. Đôi lúc, Chiêu Minh vương cảm thấy thoáng chút gò bó và thậm chí hơi phật lòng. Cái phật lòng của người đã quá quen việc và quen được tin tưởng. Nhưng cũng không khác được. Tĩnh tâm mà suy, Quan gia cần phải hỏi, phải ngẫm, phải suy xét để mà hiểu cho thấu đáo mọi việc. Có thấu đáo thì mới đặt được lòng tin.
Trần Quang Khải cũng còn chưa quen một chuyện nữa. Những ông việc mà trước đây chỉ cần tâu lên Thượng hoàng là xong thì nay, Quan gia lại đem ra hỏi ý Đỗ Khắc Chung. Chiêu Minh vương nghĩ mãi mà vẫn chưa hiểu hết con người ấy. Khi giặc đang mạnh, anh ta chẳng biết sợ là gì, dám tình nguyện sang trại Ô Mã Nhi để giả cách cầu hòa. Khắc Chung nhơn nhơn đối đáp với Ô Mã Nhi khiến viên chiến tướng đột nhiên sinh lòng nể phục, không những không giết mà còn tặng quà và cho về. Việc cầu hòa đương nhiên chẳng thành, nhưng anh ta trở thành một người rất được hai vua coi trọng. Tới khi giặc lui, Khắc Chung được nhận chức hành khiển. Lối ăn nói sống sượng của ông ta làm không quan viên và các vương hầu bực bội hay hậm hực nhưng chẳng ai dám nói. So với các vị hành khiển khác, Đỗ Khắc Chung tỏ ra ghê gớm hơn nhiều. Chẳng gì thì ông ta cũng là người dám cả gan vào trại giặc, trong khi những người quanh hai vua lúc ấy còn đương rúm ró lo thân. Dẫu vẫn đôi ba phần vì nể Đức ông Chiêu Minh nhưng cũng có lúc hành khiển họ Đỗ làm Trần Quang Khải nổi giận. Nói là giận nhưng Trần Quang Khải vẫn phải giữ ý, không thể hiện trước mặt Quan gia. Nếu bất cứ ai giúp việc Quan gia mà cứ hơi trái ý ông chú Thái sư lại đều bị hạch tội hay quở mắng thì còn ai dám giúp Quan gia nữa. Phải nói thế này, Khắc Chung rất biết đón ý Quan gia. Ông ta thừa hiểu Nhân Tông đã thực sự muốn nắm lấy quyền và xây dựng triều đình của riêng mình chứ không phải một triều đình toàn những vị vương gia thúc bá oai hơn cả nhà vua. Khắc Chung nghe ngóng hướng gió trong triều và cúc cung tận tụy phù trợ Quan gia. Ông ta nhận thấy ngay Thái sư Chiêu Minh vương cũng phải dần nhún nhường trước uy vũ của vị vua đã trưởng thành qua chinh chiến. Cho nên hôm Quan gia lẳng lặng ra khỏi cung, chỉ cho vệ úy quân Thần Sách Hoàng Đỗ theo hầu, đúng lẽ Hoàng Đỗ sẽ phải phạt, nhưng Trần Quang Khải cũng chỉ quở mấy lời.
Nhân Tông đứng trên bậc thềm cung Quan Triều đang dựng lại, hỏi Trần Quang Khải:
– Chú Ba, sau hồi Nguyễn Phong việc nước có nhiều rối ren không ạ?
Câu hỏi kéo Trần Quang Khải ra khỏi những suy nghĩ luẩn quẩn. Ông nheo mắt nhìn vị vua hàng cháu:
– Hồi đó, thần cũng mới mười bảy tuổi. Việc nước ra sao là ở Đức ông Thái sư Trần Thủ Độ, thần đâu đã được dự bàn. Chỉ nhớ năm đó giặc tuy đã rút nhưng sứ Nguyên vẫn vào ra khệnh khạng, hoạnh họe đủ điều.
Nhân Tông ngần ngừ một chút rồi hỏi tiếp:
– Thưa chú, có phải việc Đức ông Hưng Đạo năm đó dẫu lập đại công vẫn không được dùng là ở chủ ý của Đức ông Thái sư?
Trần Quang Khải quay hẳn lại. Đôi mắt sắc của vị vương gia bao nhiêu năm ngồi ở ngôi vị Thượng tướng Thái sư lướt qua gương mặt hoàn toàn thanh thản của nhà vua trẻ:
– Có phải Quan gia muốn hỏi ta việc đó là ở ý Đức ông Thái sư hay là ở ý Thượng hoàng?
Nhân Tông đáp lại với một vẻ cương quyết của bậc đế vương: - Đúng, cháu cần biết chân tướng của việc ấy!
Trần Quang Khải cảm thấy câu hỏi này thực là khó đáp. Không phải là ông không biết rõ nội tình việc triều đình ban thưởng cho dũng tướng Trần Quốc Tuấn lập công to rồi lại cho về nghỉ ngơi ở thái ấp Vạn Kiếp. Nhưng Chiêu Minh vương nhận ra câu hỏi của Nhân Tông không chỉ hỏi về chân tướng của việc này. Nhà vua thực muốn hỏi đến sự đối đãi của anh em trong dòng tộc.
Suy nghĩ lúc lâu rồi Trần Quang Khải mới đáp bằng một giọng trịnh trọng đúng chức trách:
– Tâu Quan gia, dẫu có thế nào thì anh em trong họ Đông A cũng quyết không thể sa vào họa cốt nhục tương tàn. Ấy là nhờ phúc ấm tổ tông.
Rồi Trần Quang Khải nhắc lại cho Trần Nhân Tông nghe câu chuyện về dòng tộc Thành Cát Tư Hãn. Khi cha Thành Cát Tư Hãn là Dã Tốc Cai mắc mưu kẻ thù ở bộ lạc Tháp Tháp Nhi và bị giết, ông để lại sáu người con trai của hai bà vợ. Trong một lần đi bắt cá, chỉ vì tranh giành con cá mà thằng bé Thiết Mộc Chân đã có một trận đấu cung sống mái và cuối cùng bắn chết em khác mẹ là Biệt Cách Thiếp Nhi. Ân hận, Thiết Mộc Chân lớn lên với lời thề sẽ bao bọc cho các em. Nhưng từ đó, có một lời nguyền dài đeo đẳng dòng họ của vị Đại Hãn này. Đời nào cũng xảy ra chuyện anh em tương tàn.
Con cả Thành Cát Tư Hãn là Truật Xích sinh ra trong một tình cảnh éo le. Người Miệt Nhi Khất đột kích bắt cóc vợ cả của Thành Cát Tư Hãn là Bột Nhi Thiếp mang đi, mãi rồi Thành Cát Tư Hãn mới cứu được vợ. Khi về lại, Bột Nhi Thiếp đã có mang và chẳng ai biết đó là dòng máu của Thành Cát Tư Hãn hay dòng máu bộ lạc Miệt Nhi Khất. Bột Nhi Thiếp sinh ra Truật Xích, rồi đến Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài, Đà Lôi.
Chưa khi nào Sát Hợp Đài coi Truật Xích là anh cùng dòng máu. Sát Hợp Đài thường xuyên chèn ép, sỉ mắng Truật Xích. Oa Khoát Đài không trực tiếp tham gia tranh cãi nhưng luôn đứng về phía Sát Hợp Đài. Chỉ có Đà Lôi tỏ ra thông cảm với Truật Xích. Mâu thuẫn kéo dài khiến Thành Cát Tư Hãn mệt mỏi, còn Truật Xích thật sự tổn thương. Truật Xích chết trước Thành Cát Tư Hãn. Thật ra khi Truật Xích chết, Sát Hợp Đài gần như thuyết phục được Thành Cát Tư Hãn rằng Truật Xích mưu phản và vị Đại Hãn đã hơn sáu chục tuổi đang chuẩn bị cho quân trừng phạt Truật Xích. Cái chết và thân phận bi kịch của người con cả anh dũng đầy công trạng khiến Thành Cát Tư Hãn bất ngờ suy sụp và cũng chết vài năm sau đó. Ông ta truyền ngôi cho con thứ ba là Oa Khoát Đài chứ không truyền cho Sát Hợp Đài.
Oa Khoát Đài không tỏ thái độ, nhưng Sát Hợp Đài tự biết ý rút về đất phong, còn Đà Lôi vẫn trung thành ở lại giúp anh. Một ngày, Đà Lôi ở chỗ Oa Khoát Đài về thì gục ngã. Vợ Đà Lôi tin rằng chồng mình bị chính anh trai hạ độc nhưng vẫn đành nuốt hận mà giấu kín nghi ngờ ấy.
Rồi Oa Khoát Đài chết, truyền ngôi cho con là Quý Do. Quý Do yểu mệnh chết sớm. Con trưởng Đà Lôi là Mông Kha liền xuất kỳ bất ý giành lấy ngôi Đại Hãn. Không hề rút ra bài học từ những cuộc huynh đệ tương tàn mà chính bố mình là nạn nhân, Mông Kha quay ra dò xét và cho rằng người em thứ hai Hốt Tất Liệt có dị tâm. Nhưng do tỉnh táo nên Hốt Tất Liệt vẫn thoát khỏi sự nghi ngờ của người anh ruột.
Mông Kha chết khi công thành Điếu Ngư. Hốt Tất Liệt nhân cơ đó liền kết minh với Bạt Đô là con trai Truật Xích, giành lấy ngôi Đại Hãn. Và tiếp ngay sau khi lên ngôi, Hốt Tất Liệt lại đánh nhau triền miên suốt bao năm với người em ruột A Lý Bất Ca...
Nhân Tông thoáng nghĩ "Vậy là khối đại thống của họ Đông A vẫn còn vững, nhờ phúc ấm tổ tông mà trong họ chưa đến mức phải đánh giết nhau vì ngôi đại bảo”.
Đúng lúc ấy Trần Quang Khải trầm giọng nói với Nhân Tông:
– Việc anh Hưng Đạo là một câu chuyện dài, và liên quan đến nhiều người: Đức ông Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ, cha cháu, Trung Thành vương... và cả ta nữa. Hồi Ả Trần chưa phản, cháu chẳng thấy hắn cũng thường xuyên gièm pha anh Hưng Đạo đấy ư?
Dường như vẫn chưa thực sự bằng lòng với câu trả lời của Trần Quang Khải, Nhân Tông lại hỏi tiếp:
– Vậy là quả thực nếu ngày ấy giặc Nguyên không sang, Đức ông Hưng Đạo sẽ mãi mãi lạc trong lãng quên giữa những ruộng rau vườn thuốc nơi Vạn Kiếp?
Câu hỏi này dồn người trả lời vào thế bí. Vì những gì bên trong câu hỏi đó hầu như là sự thật. Hơn hai chục năm Hưng Đạo vương ngồi nhàn ở Vạn Kiếp. Ngay cả thệ hội ở đền Đồng Cổ, dù là Trưởng họ, nhưng Đức ông Hưng Đạo chưa từng được mời đứng ngôi chủ tế. Các con ông, trừ Hưng Nhượng vương phiêu bạt giang hồ, đều quanh quẩn ở Vạn Kiếp giúp cha trồng cây thuốc và đọc sách. Rồi người Nguyên lại động binh. Thượng hoàng Thánh Tông và Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đã ngồi bàn luận không biết bao nhiêu đêm trước khi quyết ý mời Đức ông Hưng Đạo về kinh nhận lấy trách nhiệm thống lĩnh đại quân. Những vương hầu hơn bốn chục tuổi khi ấy đều có chút e dè. Chỉ có cánh trẻ, từ Quan gia Nhân Tông tới Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Tá Thiên vương Trần Đức Việp em trai Quan gia... là lập tức ủng hộ. Khi ấy, Trần Quang Khải vừa ngạc nhiên trước sự hào hứng vương, vừa giật mình trước phản ứng gay gắt của Chiêu Quốc vương. Trần Ích Tắc nói thẳng: "Trao quyền Tiết chế của Chiêu chư quân cho chi Vạn Kiếp chẳng khác gì dâng ngôi báu vào tay họ”. Lúc ấy, những người nghĩ như Ích Tắc không ít. Mà sau này, trong những ngày theo phò hai vua long đong chạy giặc, cây gậy chống chạm trúc đầu bịt đồng nhọn của Hưng Đạo vương cũng bị dòm ngó nghi ngờ tới mức Trần Quốc Tuấn phải tháo bỏ đầu nhọn vứt đi để tránh tiếng...
Thật lòng, Trần Quang Khải chưa bao giờ nghĩ tới những điều xấu như thế. Ông hiểu Hưng Đạo vương là bậc chí nhân. Chỉ có một điều ông chưa bao giờ nói cùng ai, ông tin rằng mình cũng sẽ làm tốt chẳng kém gì Hưng Đạo vương khi nhận lấy gánh nặng Tiết chế. Ông tin rằng mình đủ tài điều binh khiển tướng chống chọi với lũ giặc Nguyên Mông. Ông tin vào tài trí của mình. Nhưng có những điều Trần Quang Khải thấy mình không bằng Trần Quốc Tuấn. Thứ nhất, Đức ông Hưng Đạo đã từng đánh giặc thời Nguyên Phong và lập đại công. Hồi đó, khi Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ quả quyết giao quyền chỉ huy trận Đông Bộ Đầu cho Trần Quốc Tuấn, cả họ Đông A ngỡ ngàng. Ai cũng biết, chủ trương không trao quyền cho chi Vạn Kiếp sau những chuyện dính líu đến An Sinh vương Trần Liễu là của Trần Thủ Độ. Vậy mà Hưng Đạo vương, mới chưa đến ba chục tuổi, được "tiết chế mọi việc quân” cho trận đánh có ý nghĩa đập tan mọi ý chí của giặc. Trận đó, cả Thái Tông và Thái sư Trần Thủ Độ đều tham gia cầm quân theo lệnh điều động của Trần Quốc Tuấn. Thái tử Hoảng, tức Thượng hoàng Thánh Tông, khi ấy mới mười tám tuổi cũng cầm gươm lên ngựa. Đông Bộ Đầu là một đại thắng. Tàn binh giặc hoảng hồn chạy về, quên cả cướp bóc. Hưng Đạo vương được triều đình ban thưởng công đầu. Và rồi, như ai cũng biết, Đức ông "được” về ngồi nhàn ở thái ấp Vạn Kiếp cho tới khi giặc lại sang.
Không phải câu hỏi này khó tới mức Trần Quang Khải không trả lời được. Một vị Thái sư đầu triều mà có mỗi một câu hỏi của nhà vua đã ấp úng thì còn làm nổi việc gì nữa. Nhưng Trần Quang Khải chưa vội trả lời ngay. Ông muốn chọn một câu thật khéo, sao cho nó không chỉ là lời đáp mà còn là một bài học nho nhỏ cho vị vua đang trị nước khi vẫn còn đang phải học thuật trị nước. Sau cùng, Trần Quang Khải đáp:
– Tâu Quan gia, việc không trao binh quyền cho Hưng Đạo vương là ở quyết ý của Thống quốc Thái sư. Khi đó, chính Thượng hoàng Thánh Tông ta còn đương là Thái tử có hỏi Đức ông Thái sư, Đức ông đáp: "Quốc Tuấn là bậc kỳ tài, là báu nước. Không phải bậc nhân chúa, không phải người có đức lớn và lòng bao dung lồng lộng, không thể dùng được Quốc Tuấn, cũng không dung được Quốc Tuấn. Nay ta hãy cất bậc kỳ tài đó đi để chờ nhân chúa”... Sau này, khi đã lên ngôi đại bảo, Thượng hoàng Thánh Tông cũng có đôi lần muốn dùng Đức ông Hưng Đạo. Nhưng Thượng hoàng cũng nói: "Việc lớn thì chưa có, việc nhỏ lại chẳng xứng với Hưng Đạo vương”...
Câu chuyện lẽ ra còn kéo dài không biết tới đâu thì một viên nội sai cung Quan Triều rón rén tâu lên: Hành khiển Đỗ Khắc Chung đã có mặt theo lệnh vua đòi. Nhân Tông và Trần Quang Khải lại phải quay về với chồng sớ tấu cao nghễu nghện.
Tấu sớ đã duyệt xong, Đỗ Khắc Chung cũng đã cáo từ ra về, chỉ còn Trần Nhân Tông và Trần Quang Khải ngồi lại. Cả vị vua trẻ và ông Thượng tướng Thái sư đều đã thấm mệt. Những việc vừa xong đúng là cần ý của Đỗ Khắc Chung, một viên hành khiển lẽ ra đã được đứng trong nội tộc Trần. Sau khi giặc tan, Quan gia muốn ban quốc tính cho Đỗ Khắc Chung nhưng Thượng hoàng và Thái sư Chiêu Minh vương đều không đồng ý. Quan gia đành phải an ủi Khắc Chung chờ đợi. Hiểu được cảm giác canh cánh của Quan gia, Đỗ Khắc Chung tha hồ tự tung tự tác. Vừa xong, ông ta thực đã khiến cho Quan gia và Thái sư sững người vì một lối nghĩ ngang ngược. Chỉ có điều, Khắc Chung không sai. Phủ Tông Chính dâng sớ xin sớm làm Hội thề Đồng Cổ và luôn tiện tổ chức tiệc rượu mo nang cho lòng người được thảnh thơi. Khắc Chung cương quyết phản đối tiệc rượu mo nang. Ông ta tâu lên Quan gia:
– Tiệc rượu mo nang chẳng làm lòng người thảnh thơi mà có khi còn gây vạ!
Rõ ràng là viên hành khiển nói đúng. Những chuyện lộn xộn năm nào cũng xảy ra sau mấy cái mo nang. Nhưng tất cả vương hầu trong họ đều mong đến ngày ấy. Và đó là cái lệ của dòng họ Trần. Bỏ tiệc rượu mo nang sẽ làm bao nhiêu người thất vọng...
Để cho lời nói của mình thêm thuyết phục, Đỗ Khắc Chung nhấn mạnh:
– Tâu Quan gia, nay giặc vừa tan, nước đang hồi dựng lại, muôn dân đang chờ hoàng ân ban xuống mà ta vội mở tiệc rượu mo nang thì e không hợp lòng người.
Những lời ấy, nghe thì thực là trung quân ái quốc, theo đúng phép "trung ngôn nghịch nhĩ [32] ”. Nhân Tông gật gù, còn Trần Quang Khải thì cũng không có cớ mà bác đi được. Nhưng thật lòng, Đức ông Thái sư cứ thấy có chút gì gợn gợn. Ông cảm thấy kẻ này nói hay quá, hay tới mức đáng ngờ... Nhưng gợn thì gợn, ông cũng đâu có cách nào mà bác những lời hay tới mức đáng ngờ đó được!
Quan gia Nhân Tông ngồi thẳng lên, phán:
– Vậy Khắc Chung thảo dụ gửi cho phủ Tông Chính. Thệ hội cứ theo phép mà làm. Còn tiệc rượu mo nang...
Trần Quang Khải hơi giật mình trước câu bỏ lửng của nhà vua. Ông tưởng với vẻ gật gù vừa rồi, chắc chắn Nhân Tông sẽ gạt bỏ tiệc rượu mo nang theo ý Đỗ Khắc Chung.
Nhân Tông dừng lại một chút rồi phán tiếp:
– Trẫm xin ý chỉ của Thượng hoàng rồi sẽ quyết.
Việc coi như xong, nhưng khi xét những sớ tấu khác, Trần Quang Khải vẫn đôi lúc ngắm Nhân Tông và suy nghĩ về người cháu đang ngồi trên ngôi vua. Nhân Tông còn trẻ, nhưng việc xử đoán vừa rồi quả là chín chắn. Chuyện tiệc rượu mo nang không lớn nhưng cũng chẳng nhỏ. Một quyết định vội vàng trong lúc vừa rồi có thể trở thành nỗi đau của viên hành khiển mới nhận việc đang lúc bốc đồng, cũng có thể làm chạnh lòng ông chú đã gách vác chức Thái sư đầu triều bao nhiêu năm... Việc triều chính, Nhân Tông đang từng bước giành lấy; nhưng việc nội tộc Đông A, vẫn cần phải thỉnh ý Thượng hoàng và những vị vương đứng đầu các chi.
Nhân Tông nhìn chú:
– Chú Ba ở lại dùng bữa rồi chiều ta sang cung Thánh Từ luôn hay chú về phủ?
Trần Quang Khải dứt ra khỏi suy nghĩ, ông đang ngần ngừ chưa đáp thì chợt nội thị cung Thánh Từ vào báo:
– Thượng hoàng dặn Quan gia và Đức ông Chiêu Minh xét xong sớ tấu thì sang thẳng cung Thánh Từ.
Vậy là Thượng hoàng đã triệu cả em ruột và con trai trưởng để bàn việc. Sự đã cấp bách quá rồi!
Nhân Tông và Trần Quang Khải cùng sai lấy ngựa. Đây chẳng phải lúc mà dềnh dang ngồi kiệu. Hai chú cháu sóng ngựa tới thẳng cung Thánh Từ. Cung Thánh Từ vốn nhỏ, sau khi bị giặc đốt nay mới đang dựng lại nên trông càng nhỏ hơn giữa bầu trời xám xịt. Mưa xuân giăng giăng. Không khí ẩm ướt đến phát sợ. Gió từ phương bắc vẫn thổi. Thổi miên man.
Buổi bàn việc trong cung Thánh Từ loanh quanh suốt từ cuối giờ Ngọ qua giờ Dậu mới có vẻ ngã ngũ. Bản tấu của Hưng Đạo vương, của Tĩnh Quốc đại vương, của Nhân Huệ vương lần lượt được Thánh Tông, Nhân Tông và Chiêu Minh vương xem đi xem lại đến mức gần như thuộc lòng. Ba con người đang cầm giữ vận nước và sinh mệnh của con dân Đại Việt trăn trở không thôi. Giặc đang liên tục tung đòn li gián như đã từng làm khi hạ nhà Nam Tống. Phải làm sao để nhận cho rõ chân giả, làm sao để không nghi oan người tốt, nhưng quyết không dễ dàng buông lỏng hoàng thất như lần giặc vừa sang.
Thánh Tông nghiêm giọng phán:
– Lần vừa rồi, lũ Ả Trần, Mai Kiện hàng giặc khiến em Chiêu Văn suýt sa vào tay Nạp Tốc Lạt Đinh. Nếu em Sáu non tay cầm quân, e rằng thế cuộc đội bên đã biến sang hướng khác.
Nhân Tông hơi vặn người, đáp:
– Tâu Phụ hoàng, thưa Hoàng thúc, quả tình là trong việc đó, chi Tức Mạc ta không khỏi mang lấy phần trách nhiệm chính. Đám phản vương kia thực là những vai quan trọng trong chi Tức Mạc, ai cũng thấy thái độ lừng chừng của bọn đó, nhưng vẫn cho chúng cầm đến cả một cánh quân. E rằng...
Câu nói buông lửng của vị vua trẻ khiến cả Thánh Tông và Đức ông Chiêu Minh cùng đáp.
Thánh Tông chỉ hỏi:
– E có người đã biết?
Còn Trần Quang Khải thì ráo riết hơn, Đức ông hỏi:
– Quan gia e rằng Đức ông Hưng Đạo đã biết?
Nhân Tông đáp:
– Đỗ Khắc Chung đã từng nhận xét về chuyện đó. Anh ta bảo trong cách bày trận đã thấy rõ Quốc công không tin quân Đà Giang và Tam Đái Giang sẽ tham chiến. Kể cả việc để Minh tự Hoàng Mãnh trong cánh quân Đà Giang cũng được tính trước. Hoàng Mãnh là anh em đồng nhũ với Đức ông Hoàng Sáu. Và quả thật, hồi đó trong nhà thì dường như Chiêu Quốc vương chỉ có chút tình với chú Chiêu Văn. Khắc Chung quả quyết, nếu hồi đó viên tướng dẫn đường mà không phải là Hoàng Mãnh thì đã bị Ả Trần sai Đô Trâu hạ sát ngay chứ không trói lại đâu.
Chiêu Minh vương bảo:
– Kẻ này xem ra cũng là phường khoác lác. Hắn nói cứ như hắn giỏi ngang với Đức ông Tiết chế chư quân!
Nhân Tông liền trả lời:
– Đây là khi việc đã xong mà ngẫm lại thôi. Chứ Khắc Chung làm sao mà hiểu thấu được phép dụng binh như thần của Quốc công ta...
Thánh Tông gật đầu, quay về câu chuyện đang dở dang:
– Phải, lúc đó nếu Đức ông Hưng Đạo có biết cũng sẽ không nói mà chỉ làm sao để ngừa hậu họa. Nếu nói sớm, kẻ kia chưa vội phản, có khi còn bày kế khác để giá họa cho Quốc công. Thử nghĩ lại xem, ta cũng vài phen mềm lòng vì nghe lời hắn.
Ấy là những dằn vặt trong lòng của Thượng hoàng giờ mới thốt lên thành lời. Không thể chối rằng những câu xúc xiểm của Ích Tắc từng làm Thượng hoàng trăn trở và nghi ngại. Mâu thuẫn giữa hai chi Trưởng - Thứ cũng đã kéo dài nhiều năm; mà quả thực giao hết quân quyền vào tay một người kiệt hiệt như Hưng Đạo vương, Thượng hoàng làm gì chẳng đắn đo. Rồi lại đến việc nghe lời Ích Tắc mà dâng An Tư công chúa tài sắc vô song cho Thoát Hoan cũng làm Thánh Tông giằng xé không nguôi. Nhưng, vua đã nói ra lời nhận lỗi, thì kẻ làm thần tử cũng không được lấy thế làm mừng. Chiêu Minh vương quay sang Thánh Tông:
– Tâu Thượng hoàng, thần đệ vừa nhắc để Quan gia nhớ câu chuyện huynh đệ tương tàn trong dòng giống Thành Cát Tư Hãn. Thánh Tông hỏi:
– Vậy Quan gia thấy thế nào?
Nhân Tông đáp:
– Tâu Phụ hoàng, con vẫn nghĩ rằng mối đại thống của họ Đông A chẳng phải sớm chiều là có, không giữ được thì vận nước hỏng mất.
Thánh Tông hỏi Trần Quang Khải:
– Em Ba xem ý của Đức ông Hưng Đạo về chuyện Nhân Huệ vương ra sao?
Câu hỏi này thực là hỏi đúng người. Đức ông Chiêu Minh phải nghĩ một chút rồi mới đáp:
– Em tin vào sự xét đoán và lối nhìn người của anh Hưng Đạo! Thánh Tông có vẻ đẹp lòng với câu trả lời ấy. Thượng hoàng cầm lại bản tấu của Đức ông Hưng Đạo đọc thêm lượt nữa, vừa đọc vừa gật gù:
– Thực là xác đáng. Giặc càng cố tìm cách hại Nhân Huệ vương, ta càng phải tin giặc sẽ sang bằng đường biển. Chúng quá hiểu ông Phó Đô tướng là tướng mặt biển giỏi nhất của ta. Chắc hẳn chúng sẽ không theo lối Hoan Diễn nữa. Xem ra lần này anh Tĩnh Quốc được ngồi nhàn thật rồi.
Bất chợt, như sực nhớ ra, Nhân Tông vội nói:
– Thưa cha và chú, Đỗ Khắc Chung có kể rằng dân trong thành đang đồn ầm lên chuyện Đức ông Tĩnh Quốc nhận được thư dụ hàng của Ả Trần. Có kẻ còn đọc vanh vách từng đoạn trong đó. Lính cấm vệ đã bắt được vài đứa, nọc ra đánh thì chúng nó nói được thuê học thuộc và đi kể truyền miệng.
Câu chuyện xem ra đã chệch sang hướng khác. Dù không thích, Trần Quang Khải cũng phải thấy rõ rằng Đỗ Khắc Chung là một viên hành khiển được việc. Anh ta có cách nhìn khác người và khá nhạy bén.
Nhân Tông tiếp tục:
– Khắc Chung có tâu xin giảm bớt quân binh trong tay Đức ông Tĩnh Quốc!
Thượng hoàng giật mình:
– Thế sao nên, chẳng phải năm ngoái không nhờ Đức ông Tĩnh Quốc mà ta còn giữ được chục vạn quân đó ư [33] ?
Nhân Tông vẫn chưa dứt mạch kể:
– Vâng, con cũng cho là thế. Nhưng Khắc Chung tâu rằng "giao binh quyền vào tay người đang ngả nghiêng thì cũng lại như việc Ích Tắc và Văn Lộng thôi”!
Trần Quang Khải nổi giận. Ông hừ mạnh và gằn giọng:
– Không thể so anh Tĩnh Quốc với mấy thằng phản chúa đó được.
Đoạn, Chiêu Minh vương quay qua Thánh Tông, vòng tay quả quyết:
– Thần đệ tin vào lòng trung của anh Tĩnh Quốc. Nếu Thượng hoàng và Quan gia không tin, xin hãy ngầm cho tra xét gấp, đừng để người ngay phải mang lấy tiếng oan.
Không khí trong cung Thánh Từ đột nhiên căng thẳng. Thánh Tông còn chưa biết nói sao thì nội thị vào bẩm: "Chiêu Văn vương tuần sát biên ải trở về, xin cầu kiến”. Thượng hoàng thở phào, truyền nội thị ra đón Chiêu Văn vương vào ngay. Ai chứ con người trẻ trung như ông Hoàng Sáu thì chắc chắn có thể làm cuộc bàn việc này hòa hoãn đi đôi chút. Dù sao, Trần Nhật Duật cũng là một vương gia thanh lịch tài hoa và có lối nói chuyện rất quyến người nức tiếng Tràng An!...
Trần Nhật Duật vào chầu với tâm trạng không vui. Trước Tết, ông vâng mệnh vua tuần sát các nơi xem đời sống của dân ra sao sau khi tan giặc. Giờ khi trở về, Trần Nhật Duật đã xếp sẵn đến cả chồng tấu sớ hặc tội một loạt quan lại các vùng ông vừa tới. Đám sâu đục khoét này nhân lúc nước đang dựng lại sau cơn binh lửa để tranh thủ kiếm chác, bòn rút. Điều đáng giận là không ít trong số đó vốn do các vương hầu trong tôn tộc bảo cử hay che đỡ. Những kẻ nào có thể bắt được ông đã bắt, đuổi được ông đã đuổi. Nhưng với một số kẻ, Trần Nhật Duật chỉ giận mình không có Thượng phương bảo kiếm chém trước tâu sau để diệt trừ ngay phường mọt dân hại nước. Ông đành lặng lẽ sai người thu thập bằng chứng để trở về xin ý chỉ hai vua. Đứng ở ngoài cung Thánh Từ chờ triệu kiến, Chiêu Văn vương lòng như lửa đốt. Cứ nghĩ tới thêm một ngày, một canh giờ, một khắc những kẻ tham ác còn nhởn nhơ ngoài kia, ông Hoàng Sáu không sao chịu nổi...
Vẻ nghiêm trọng trên nét mặt Trần Nhật Duật hiện rõ đến mức khi ông vừa bước vào, cả Thượng hoàng và Đức ông Chiêu Minh đều thốt lên:
– Giặc vừa tan mà việc các nơi đã rối đến thế ư?
Hai vua và Đức ông Chiêu Minh tạm xếp mọi việc để lắng nghe tấu trình của Trần Nhật Duật. Đức ông Chiêu Văn vâng mệnh vua tuần sát khắp vùng và đã tống ngục không ít tham quan, xử lại vài chục án oan. Có những nơi, quan lại vu cho dân thường tội "tư thông với giặc” để chiếm đoạt báu vật gia truyền hoặc cướp bắt vợ hay con gái người ta. Có nơi, dân bị lạm thu thuế tưởng đến mức kêu trời không thấu, may mà Chiêu Văn vương kịp xét đến.
Chiêu Minh vương hỏi:
– Vậy còn điều gì mà em có vẻ lo nghĩ vậy?
Trần Nhật Duật vừa buồn vừa giận trình với hai vua và Đức ông Thái sư Trần Quang Khải, không ít kẻ làm ra bao chuyện thương luân bại lý, nhưng việc xử trị phải xin ý chỉ hai vua. Nhân Tông chen vào:
– Chú Sáu đã nhận mệnh tuần sát, là Khâm sai của triều đình, việc gì mà chú Sáu phải chùn tay?
Trần Nhật Duật đáp:
– Tâu Thượng hoàng, tâu Quan gia, thưa anh Ba, những kẻ đó mới vừa được triều đình cất nhắc lúc giặc tan. Toàn là đám có công đánh giặc, hoặc được ấm lây nhờ công lớn của người thân...
À, thảo nào mà Trần Nhật Duật khó nghĩ và chưa xuống tay nghiêm trị. Cái tâm lý "có công thì phải được hưởng” đã khiến những kẻ vừa được triều đình ban ân trở nên ngông ngạo. Theo lý, làm bậy thì phải xử, nhưng xử sao cho khỏi động lòng người, để nếu giặc sang muôn người lại càng ra sức chống giặc mới là khó.
Thượng hoàng ban khen:
– Em Sáu xử đoán mọi việc thật kín nhẽ, nay hãy chờ ý của Quan gia và Thái sư ra sao?
Việc nước càng ngày càng bề bộn, động đến góc nào cũng có việc, mà toàn việc tày đình. Hai vua và hai vị vương gia bàn bạc đến tận khuya vẫn chưa xong. Nội thị cung Thánh Từ bồn chồn đi lại bên ngoài ngóng ánh nến sáng mãi. Cả Nhân Tông và hai vương đều không biết, Thượng hoàng nhiễm phong hàn đã ốm mấy ngày nay. Ngự y dặn Thượng hoàng không nên lo nghĩ, nhưng việc nước thế này, làm sao không lo nghĩ được. Bị mấy ông thầy lang can nhiều quá, chiều nay trước buổi triệu kiến Quan gia và Chiêu Minh vương, Thượng hoàng truyền cấm của ngự y và dặn ai hé răng về chuyện bệnh tật sẽ bị cắt lưỡi. Trời lạnh quá, đám nội thị co ro đi đi lại lại bên ngoài. Mùa rét năm nay kéo thực dài, và cái rét mới nghiệt ngã làm sao!
○ ○ ○
Đúng lúc ấy, ở Đại Đô, vua Nguyên Hốt Tất Liệt cũng đang mệt mỏi ngồi thừ trong điện. Ông ta vừa ra lệnh cho lão tướng A Lý Hải Nha chuẩn bị kế sách "đánh An Nam”. Vậy là, sau khi ngắm đi ngắm lại trong số các công thần, Hốt Tất Liệt vẫn chọn viên tướng từng phù tá cho Thoát Hoan trong lần đánh Đại Việt lần trước, để gửi gắm đứa con trai cưng. A Lý Hải Nha sẽ lại phải giúp Thoát Hoan Nam chinh thêm một lần nữa. Không thể để cho cái nước Việt nhỏ bé kia nhởn nhơ thách thức thiên triều được. Hốt Tất Liệt thở dài, ông ta tiếc viên hàng tướng Lý Hằng. Lý Hằng đã chết vì sai lầm không thể tha thứ được của Thoát Hoan. Lần đánh Đại Việt vừa rồi, khi rút đến bờ Như Nguyệt, quân Nguyên đã phải mất ròng rã gần một ngày mới phá được thế trận "tựa lưng vào sông” của viên tướng trẻ Trần Quốc Toản. Thoát Hoan tin rằng đó là chốt chặn cuối cùng, và khi vượt được sông, gã thúc quân chạy thục mạng không cần phòng bị. Lý Hằng cố can nhưng không xong. Cả đội quân sa vào trận phục binh ở Vạn Kiếp và bị đánh cho tan nát. Từ đó về tới biên giới, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để tránh trận mưa tên độc. Lý Hằng không may mắn thế. Viên hàng tướng Tống có công tiêu diệt những nỗ lực cuối cùng của nhà Nam Tống đã bỏ mạng trên đất Đại Việt vì loạn tiễn. Nhưng đau nhất là toàn bộ đội quân gần như bị diệt hết, và chuyến này để chuẩn bị đánh Đại Việt, Nguyên triều lại phải dựng một đội quân mới hoàn toàn. Lần đó, khi Thoát Hoan trở về, Hốt Tất Liệt nổi giận mắng gã con cưng tại sao không nghe lời Lý Hằng. Thoát Hoan trả lời rằng, gã không thể tin một viên dũng tướng còn trẻ như Trần Quốc Toản lại cố tình bày trận tựa lưng vào sông để quyết chọn lấy cái chết. Thoát Hoan nghĩ rằng Trần Quốc Toản đang bày dở chốt chặn cuối cùng cản đường rút thì quân Nguyên đã đến nơi nên đành cố thủ bên bờ Như Nguyệt. Trận đánh diễn ra căng quá nên khi vượt được sông, Thoát Hoan như thấy trút bỏ mọi gánh nặng và gã trở nên mất cảnh giác...
Thế đấy, Hốt Tất Liệt chua chát nghĩ. Viên tướng cầm quân Đại Việt thực là bậc thầy về binh pháp. Trận đánh ở Như Nguyệt có thể mất một chiến tướng và có thể coi như thua nhưng toàn bộ thế thì hóa ra đại thắng. Hốt Tất Liệt tự nhủ, lần này ông ta sẽ nhắc A Lý Hải Nha phải tăng cường ước thúc Thoát Hoan. Gã cần cục phải rèn luyện và tích thêm kinh nghiệm nữa. Mỗi một vết thương trong đời chiến tướng sẽ là con đường dẫn đến một chiến công.
Hốt Tất Liệt đâu biết rằng, mùa rét năm nay thực chẳng tha kẻ nào. Khi quỳ lạy nhận chiếu thư, A Lý Hải Nha cũng đã nhiễm nặng phong hàn. Ai mà ngờ viên tướng từng xông pha trăm trận trong tuyết trắng lại có lúc nhiễm phong hàn. Sơn lam chướng khí phương Nam xem ra đã tàn phá sức khỏe và khả năng chịu đựng của viên tướng được Nguyên chúa kỳ vọng mất rồi...