Lẽ ra bố mẹ tôi phải sinh sống ở New York, nơi hai người gặp gỡ, xây dựng gia đình và là nơi họ sinh ra tôi. Thay vào đó, họ quay trở về Ailen khi tôi lên bốn, em trai Malachy của tôi lên ba cùng cặp song sinh Oliver và Eugene, và suýt nữa là cả Margaret, nếu cô em út tội nghiệp của tôi không bị bệnh mà mất.
Mỗi khi nhìn lại tuổi thơ của mình, tôi tự hỏi tại sao tôi lại có thể sống được tới ngày nay. Có lẽ chắc hẳn do thời thơ ấu khốn cùng của chúng tôi: hiếm khi tôi có được cảm giác hạnh phúc trong suốt cái tuổi thơ đằng đẵng của mình. Nhưng tệ hơn cả một tuổi thơ khốn cùng thông thường, đó là tuổi thơ của một đứa trẻ Ailen, và điều tệ hại ở đây chính là cái tuổi thơ cùng quẫn của đứa trẻ Ailen theo đạo Thiên Chúa.
Ở đâu cũng có những người luôn khoác lác và ca cẩm về những nỗi bất hạnh của mình trong những năm tuổi trẻ, nhưng có lẽ không có nỗi bất hạnh nào lại có thể so sánh nổi với nỗi bất hạnh của người Ailen: nghèo đói; một ông bố nát rượu ươn hèn và lắm điều; một bà mẹ sùng đạo nhưng luôn miệng than van; những thầy tu khoác cái vẻ ngoài đạo đức; những giáo viên hách dịch hay ức hiếp; ngôn ngữ tiếng Anh và những thứ kinh khủng mà người ta nhồi nhét cho chúng tôi với cái gọi là truyền thống tám trăm năm lịch sử.
Nhưng hơn cả những cái đó, chúng tôi luôn sống trong tình trạng ẩm ướt.
Ở ngoài khơi kia, Đại Tây Đương không ngừng tung vào bờ những cơn mưa lớn, chậm rãi kéo lên sông Shannon và dường như định cư vĩnh viễn ở Limerick. Những cơn mưa khiến thành phố ướt dầm dề từ ngày Lễ Thánh đầu năm cho tới tận đêm Giao thừa. Nó gây ra những chứng bệnh kinh niên cho người dân vùng này như ho khan, viêm phổi, hen suyễn hay tệ hơn nữa là bệnh lao. Nó biến những cái mũi thành cái đài phun nước, phổi thành những cái túi xốp chứa vi khuẩn. Nó như trêu ngươi tất cả các phương pháp điều trị bệnh thông thường, để chặn những cơn chảy nước mũi, anh phải luộc hành với sữa và trộn cùng hạt tiêu; còn nếu muốn chữa khỏi chứng sung huyết, anh phải nhào bột mì luộc với cây tầm ma, bọc nó vào trong miếng giẻ rồi lăn qua lăn lại trên ngực.
Từ tháng Mười cho tới tháng Tư, những bức tường của Limerich luôn sũng nước. Áo quần chẳng có cơ hội để khô: áo khoác bằng vải tuýt hay sợi len luôn là nơi cất giữ những vật ngoài ý muốn, đôi lúc có thể là chỗ nảy mầm của một loài thực vật bí ẩn nào đó. Trong các tiệm rượu, người ta hít đẫy hơi nước bốc lên ngùn ngụt từ những bộ quần áo ẩm ướt khoác trên những cơ thể cũng không kém phần ướt át, hòa với khói thuốc lá và xì gà, tất cả được trộn với mùi vị của những cốc bia đen hoặc whisky để rồi được quyện thêm cái hương thơm phảng phất của nước tiểu ngoài cửa, nơi mà có không ít gã đã mửa ra hầu hết số tiền công kiếm được trong tuần của mình.
Những cơn mưa đã khiến chúng tôi hướng cả tới nhà thờ - nơi trú ẩn của mọi người bởi nó là chỗ duy nhất trong thành phố còn khô ráo. Trong những buổi lễ Mixa, lễ Giáng phúc hay những buổi cầu nguyện đặc biệt, chúng tôi thường túm tụm thành một đống lộn xộn và ẩm ướt, gà gật trong tiếng giảng kinh đều đều của linh mục. Trong khi đó, hơi nước cứ thản nhiên bốc lên từ cơ thể của mọi người và được trộn lẫn với hương thơm của hương hoa và nến.
Limerick đã nổi lên như một thành phố có những công dân mộ đạo nhất Ailen, nhưng chỉ có chúng tôi mới biết rõ, nguyên nhân sâu xa chính là những cơn mưa.
*
Malachy McCount, cha tôi sinh ra trong một trang trại ở Toome, tỉnh Antrim. Cũng giống như ông nội tôi, ông lớn lên một cách hoang dã, với cái thứ tiếng Anh chẳng giống ai, và rất có thể ông cũng gặp vấn đề tương tự với tiếng Ailen của mình. Ông đã tham gia Quân đội Cộng hòa Ailen cũ (IRA), trải qua một số trận chiến sống còn, nhận mấy vết thương trên người và cuối cùng là đào ngũ để rồi bị quân đội treo giải thưởng chính cái đầu của mình.
Khi còn là một đứa trẻ, tôi thường hay ngắm ông: một người đàn ông tóc thưa, răng rụng gần hết. Tôi tự đặt cho mình một câu hỏi mà hồi đó không thể nào lý giải nổi: ai lại trả tiền cho một cái đầu như thế kia chứ?
Năm mười ba tuổi, bà nội cho tôi biết một bí mật: “Khi người cha đáng thương của cháu còn nhỏ, bố cháu đã bị ngã đập đầu xuống đất. Đó là một tai nạn, sau cú ngã đó, bố cháu không bao giờ còn được nhanh nhẹn như trước nữa, cháu phải nhớ rằng những người bị ngã đập đầu thường hay bị những biến chứng ít nhiều có ảnh hưởng đến đầu óc”.
Sau khi lệnh truy sát ông được ban hành rộng rãi, bố tôi buộc phải bí mật trốn khỏi Ailen trên một chiếc tàu thủy chở hàng từ Galway. Ở New York, khi luật Cấm nấu và bán rượu lên đến cao trào, ông cho rằng mình đã chết và bị đày xuống địa ngục bởi những tội lỗi của mình. Nhưng không lâu sau đó, khi phát hiện ra một số nơi bán rượu lậu, ông lại lập tức cảm thấy hoan hỉ.
Sau những năm tháng lang thang và say sưa ở Mỹ cũng như ở Anh, ông chợt cảm thấy mong mỏi những giây phút thanh bình cho những năm xuống dốc của cuộc đời. Ông quay trở lại Belfast, nơi mà ông cho rằng sẽ được yên ổn. Ông nói, suốt ngày các thiếu phụ ở thị trấn Anderson cứ vây lấy ông, họ đã tìm cách quyến rũ ông bởi sự duyên dáng và khéo léo của mình. Nhưng ông đã xua bọn họ đi bằng hết và chỉ ngồi nhấm nháp trà một mình. Ông không còn hút thuốc và chạm môi vào bất kỳ thứ nước có cồn nào, vậy ông sống bằng cái gì? Đó chính là thời gian ông ra đi trong bệnh viện Chiến thắng của Hoàng gia.
Mẹ tôi, Angela Sheehan, là một người thuộc lớp người trước. Sinh trưởng trong một khu ổ chuột cùng với bà ngoại, hai anh trai, Thomas và Patrick, và chị gái, bác Agnes. Mẹ tôi chưa một lần nhìn thấy mặt cha mình, người đã chạy sang Úc chỉ vài tuần trước khi mẹ ra đời.
Sau một đêm uống đẫy bia đen trong một quầy ba nhỏ ở Limerick, ông tôi bước chuệnh choạng xuống con hẻm nhỏ và nghêu ngao bài hát “tủ” của mình:
Thằng nào đã ném quần vào món xúp cá
của bà Murphy?
Không ai mở mồm
và hắn nói đó là tên khuân vác
Lại cái trò bịp bợm của bọn Ailen,
rồi mình sẽ nện cho tên Mick
Thằng nào đã ném quần vào món xúp cá
của Murphy.
Ông cảm thấy dường như mình còn hoàn toàn tỉnh táo và muốn chơi một lúc với cậu con cưng Patrick, lúc này bác được một tuổi. Ôi, cục cưng nhỏ bé của ta. Bác Patrick cũng rất quấn ông tôi. Bác cứ cười sằng sặc mỗi khi ông tung bác lên cao. Lên nào, xuống nào, Paddy cưng của bố, lên nào, xuống nào, lên nào... trò chơi diễn ra trong bóng tối, rất tối. Chúa ơi, ông đã đỡ hụt Patrick khi bác rơi xuống. Bác Patrick đáng thương lần này phải tiếp đất bằng đầu, rầm một cái, bác kêu lên được mấy tiếng rồi im bặt. Bà tôi nặng nề bò khỏi giường một cách khó nhọc, khó nhọc là bởi mẹ tôi đang trong bụng bà. Bà chỉ còn đủ sức nâng bác lên khỏi sàn nhà rồi ôm lấy bác mà rên rỉ, khóc lóc. Một hồi bà quay về phía ông: “Cút ngay khỏi đây. Cút. Nếu tôi còn thấy ông đứng đây thêm một phút nào nữa, tôi sẽ chẳng tiếc nuối gì mà không cho ông một rìu, cút ngay cái lão nghiện ngập mất trí kia. Thề có Chúa, tôi phải treo cổ ông lên mới được. Cút ngay”.
Ông tôi vẫn đứng hiên ngang như một người đàn ông thực thụ. Ông vẫn chưa chịu đi mà còn lè nhè chống chế: “Nhà tao, tao ở, tao có quyền..”.
Bà nhảy xổ vào ông như một cơn lốc với đứa trẻ bị thương trên tay trong một cơn phẫn nộ khủng khiếp. Phải tới lúc đó, ông ngoại dường như mới ý thức được cái gì sắp xảy đến với mình, thế là ông nhảy một bước từ trong nhà xuống con hẻm nhỏ rồi cắm đầu chạy, chạy riết, ông chỉ dừng lại khi tới được Melbourne, một thành phố ở tận nước Úc.
Pat nhỏ bé, ông bác tôi từ đó không bao giờ còn được như trước nữa. Bác Pat lớn lên với một dị tật ở đầu, một bên chân của bác như thể đang đi trên một con đường, và những bộ phận còn lại trên cơ thể thì đi trên con đường bên cạnh. Bác chưa từng được học để đọc và viết nhưng Chúa lại có cách khác để bù đắp cho bác. Được tám tuổi, bác tôi bắt đầu bán báo và có thể đếm tiền nhanh hơn cả Bộ trưởng Bộ Tài chính. Không ai biết từ đâu mà bác tôi lại có cái tên Ab Sheehan, Ab có nghĩa là cha tu viện trưởng, nhưng cả Limerick đều yêu mến bác.
Mẹ tôi gặp rắc rối ngay từ cái đêm có mặt trên cõi đời này. Bà ngoại nằm trên giường hổn hển, đau đớn khi trở dạ, bà chỉ biết cầu Thánh Gerard Majella, thần hộ mệnh của những bà mẹ sắp sinh nở. Cạnh bà là y tá O’ Halloran, bà đỡ của Limerick. Dường như toàn bộ váy sống diêm dúa của bà đều được vén lên hết cỡ. Sở dĩ như vậy bởi đêm đó chính là đêm Giao thừa và bà O’ Halloran lo lắng cho đứa trẻ trong bụng bà ngoại, chính vì thế mà bà bỏ dở bữa tiệc mừng năm mới để đến giúp bà tôi. O’ Halloran nói với bà: “Bà có rặn được không, có được không? Lạy Chúa, lạy Đức mẹ và lạy cả Thánh Joseph linh thiêng nữa. Nếu các Người không nhanh chóng giúp đứa trẻ ra đời trước năm mới thì đi toi bộ váy mới của tôi mất thôi! Thôi, bỏ qua Thánh Gerard Majella. Đàn ông thì làm được gì cho một người phụ nữ vào đêm Giao thừa như thế này, nhất là khi ông ta là Thánh cơ chứ? Thánh Gerard Majella cái con khỉ”.
Bà tôi thôi không cầu nguyện Thánh Gerard Mejella nữa mà chuyển sang Thánh Ann, vị này hộ mệnh cho những ca sinh khó. Nhưng đứa trẻ vẫn chưa chịu ra. Hộ lý O’ Halloran nói với bà tôi: “Bà thử cầu Thánh Jude xem, vị này chỉ dành cho những ca nan y thôi”.
- Thánh Jude, thiên thần của những ca thập tử nhất sinh, xin Người hãy giúp con, con tuyệt vọng quá rồi. - Bà gào lên và cái đầu trẻ con đã lấp ló, chỉ có cái đầu, đó là mẹ tôi. Đúng lúc đó đồng hồ điểm mười hai tiếng, thời khắc Giao thừa, sang một năm mới. Cả thành phố Limerick chìm ngập trong tiếng reo hò, tiếng chuông, tiếng nhạc, tiếng còi tầm, tiếng mọi người gọi nhau và hò hát vang rền. Chúc mừng năm mới. Những điều không may mắn của năm cũ đều bị bỏ lại sau lưng, những hồi chuông nhà thờ được gióng lên trong tiếng cầu kinh Đức Bà.
Trong lúc đó y tá O’ Halloran đang khóc lóc vì tiếc cho bộ váy áo diêm dúa đón mừng năm mới đã bị phí hoài bên cạnh một bà đẻ. Đứa trẻ vẫn trong bụng mẹ nó còn mình thì vẫn trong bộ đồ lộng lẫy dường này. Mày có ra không, ranh con, có ra không? Trong một nỗ lực tuyệt vọng, bà tôi dùng toàn bộ sức lực của mình để rặn thật mạnh, vậy là thế giới này có thêm một đứa trẻ, một bé gái đáng yêu với vài lọn tóc đen loăn xoăn và đôi mắt xanh buồn thẳm.
- A, Chúa chứng giám, - y tá O’ Halloran thốt lên, - con bé này sinh ra trong hai năm, cái đầu của nó ra trước vào năm cũ và cái mông nó phải đợi tới năm sau mới chịu ra hay đại loại như thế. Bà sẽ phải khai sinh cho nó cẩn thận đấy, mẹ nó ạ, để xem nó sinh vào năm nào còn bây giờ tôi phải để dành bộ váy này tới Tết sang năm vậy.
Và đứa trẻ được đặt tên là Angela bởi nó sinh vào đúng lúc Giao thừa, khi cả thành phố đang gióng lên những hồi chuông cầu kinh Đức Bà mang tên Angelus và còn bởi một nhẽ: dẫu sao nó cũng là một thiên thần bé bỏng đáng yêu.
Yêu mẹ từ thuở còn thơ
Dẫu tháng năm có khiến bà mệt mỏi
Bởi con sẽ sống trong tình yêu của mẹ
Cho tới một ngày mẹ dưới lớp đất kia
Cô bé Angela bắt đầu tập đọc, tập viết và làm tính ở trường Thánh Vincent de Paul, lên chín tuổi cô đã kết thúc mọi việc học hành. Cô bắt đầu phải kiếm tiền với công việc của người giúp việc, một người hầu gái với nhiệm vụ đội một chiếc mũ trắng đứng ở cửa đón khách. Nhưng Angela đã không thể nhún người theo đúng cách mà người ta yêu cầu. Mẹ cô bực lắm, mắng mỏ: “Mày không tập được cái thói quen đấy hay sao? Đúng là đồ vô dụng. Tại sao mày không sang Mỹ cho tao nhờ, ở đấy mới có chỗ cho cái loại vô dụng như thế? Tao cho mày tiền tàu đấy”.
Angela tới New York vào đúng lễ Tạ Ơn trong năm xảy ra cuộc Đại Suy thoái. Cô gặp Malachy trong bữa tiệc do hai vợ chồng Dan MacAdorey và Minnie ở đại lộ Classon thành phố Brooklyn tổ chức. Malachy thích Angela và cô cũng mến anh. Anh trông giống một kẻ vô lại, cũng bởi anh mới ra khỏi xà lim sau ba tháng bị giam vì tội cướp xe tải. Anh ta cùng với người bạn Jonh McErlaine đã tin vào những gì nghe được trong quán rượu lậu, rằng chiếc xe tải được lèn chặt lên tận nóc bởi những thùng thịt lợn và đậu. Cả hai chẳng ai biết lái xe, chỉ tới khi cảnh sát trông thấy chiếc xe tròng trành, lắc lư như chính những gã say đang điều khiển nó trên đại lộ Myrtle, họ mới kèm vào lề đường. Khi cảnh sát lục soát chiếc xe, họ mới tự hỏi không biết mấy cái gã kia có điên hay không lại đi cướp lấy một chiếc xe chở toàn cúc áo chứ không phải là thịt lợn và đậu như thế.
Thoạt tiên, khi Angela trông thấy một gã với vẻ ngoài vô lại như Malachy, hai gối cô tưởng như run lên vì sợ hãi. Ngược lại, Malachy chẳng việc gì phải sợ nhưng sau ba tháng ngồi xà-lim, nay được bước ra ngoài cũng khiến anh ta lập cập không vững.
Cơn run gối kia vô tình lôi hai người về cùng một phía và chẳng bao lâu họ đã dựa hẳn vào tường trên hai đôi chân lập cập, căng thẳng nhưng hai con tim lại dạt dào xúc cảm.
Dẫu sao hai gối run rẩy lại khiến Angela rơi vào tình trạng hưng phấn, và dĩ nhiên, họ phải tìm cách che đậy cảm xúc của mình bằng cách nói với nhau vài ba câu chuyện bâng quơ. Angela có một vài người anh em họ, mấy người chị em của MacNamara, đó là Delia và Philomena. Cả hai người đều đã lập gia đình với Jimmy Fortune ở hạt Mayo và Tommy Flynn ở ngay thành phố Brooklyn này.
Delia và Philomena là hai phụ nữ có vóc người đẫy đà, lắm lời và có phần hung tợn. Khi họ sóng bước bên nhau trên các con lộ ở Brooklyn, bất kỳ một sinh vật nào nhỏ bé hơn cũng phải nép sang một bên, sự e sợ thể hiện rõ trên từng nét mặt. Hai chị em luôn biết thế nào là đúng và thế nào là sai, hơn nữa, bất kỳ một điều gì đáng ngờ cũng sẽ nhanh chóng bị đập tan bởi Thánh thần, Giáo hội, Tín đồ tôn giáo và Tòa thánh. Họ biết Angela là một thiếu nữ chưa chồng, một người như vậy không có quyền hưởng thụ cái trạng thái hưng phấn kia, và họ quyết định phải can thiệp.
Hai chị em họ lừng lững bước đi, tay dắt theo hai ông chồng là Jimmy và Tommy. Mấy người tới một quán rượu lậu nằm trên đại lộ Atlantic, nơi họ có thể kiếm được Malachy vào ngày thứ Sáu, cái ngày mà anh được thanh toán tiền công tuần trong trường hợp tìm được việc. Joey Cacciamani, người gác cửa không muốn cho hai chị em vào nhưng Philomena đã nói với anh ta, nếu anh còn muốn mũi nằm trên mặt và cánh cửa còn treo trên bản lề thì nên biết điều mở cửa ra và đứng tránh sang một bên để họ thực hiện nhiệm vụ của Chúa. Joey thốt lên: “Được rồi, được rồi, các người Ailen đáng ghét. Chúa ơi! Phiền phức quá”.
Trong khi đó, Malachy đang gà gật cạnh ly rượu phía bên kia quầy bar, nét mặt đang chuyển sang tái xanh nhưng vẫn cố nở một nụ cười dọn đường đối với hai chị em phổi bò này và không quên mời họ một ly. Hai người ghi nhận nụ cười của Malachy nhưng nhổ toẹt vào lời mời của anh. Delia bắt đầu: “Chúng tao chưa rõ mày đến từ tầng lớp nào ở miền Bắc Ailen”.
Philomena tiếp lời: “Người ta nói rằng trong gia đình mày hình như có một tín đồ của giáo hội Scotland, mày nói xem đã làm những gì với cô em họ của chúng tao”.
Jimmy không giấu nổi nỗi tò mò: “Ơ kìa, thế nhà nó có người theo đạo Scotland thì nó có lỗi à?”
- Câm ngay, - Delia không nén nổi sự bực mình.
- Những gì mày làm với cô em đáng thương và kém phần may mắn của chúng tao là một sự sỉ nhục đối với dân tộc Ailen mày hiểu chứ? Lẽ ra mày phải biết lấy làm xấu hổ mới phải. - Tommy quyết định phải tham gia vụ này.
- Ờ,... ờ... tôi, tôi... - Malachy ấp úng.
- Ai cho phép mày nói, - Philomena hoạnh họe, - Mày đã làm quá đủ những chuyện bậy bạ rồi, câm ngay.
- Và trong lúc mày câm mõm, chúng tao muốn được trông thấy mày làm điều phải với cô em họ Angela Sheehan đáng thương của chúng tao. - Delia thêm vào.
- Ơ, vâng, quả thực... quả thực... thì đâu sẽ vào đó thôi ạ. Tôi rất hân hạnh nếu được mời mọi người uống một chút trong lúc chúng ta nói chuyện. - Malachy e dè đề nghị.
- Gọi đồ uống, - Tommy dõng dạc, - và tao sẽ tưới đẫm cái con lừa này.
- Mày đã dính lấy cô em tao kể từ khi nó vừa bước chân xuống tàu. Ở Limerick chúng ta là những người có đạo đức, mày biết đấy, đạo đức. Chúng tao không phải là bọn thỏ mồi ở Antrim, cái nơi đầy những tên tín đồ Scotland như mày. - Philomena bắt đầu triết lý.
- Nhưng trông hắn không giống tụi Scotland lắm thì phải - Jimmy thẽ thọt.
- Đã bảo là câm ngay kia mà - Delia dường như không thể kiềm chế được hơn nữa.
- Còn một điều nữa mà chúng ta để ý thấy, - Philomena nhận xét, - đó là mày có một kiểu gì đó rất kỳ quái.
Malachy mỉm cười: - Tôi như vậy sao?
- Đúng thế, tao nghĩ đây chính là điều đầu tiên chúng tao phát hiện ra ở mày, cái kiểu kỳ quái ấy, nó khiến tao thấy khó chịu lắm. - Delia chêm vào.
- Đấy, mọi người có thấy nó cười có vẻ rất Scotland không? - Philomena quả quyết.
- Ôi trời, đấy là do tôi đang bị đau răng thôi mà, - Malachy thanh minh.
- Không răng hay có răng, kỳ quái hay bình thường, mày cũng phải lấy con bé làm vợ, - Tommy đi thẳng vào vấn đề, - đừng có tính đến chuyện chuồn.
- Ôi Chúa ơi, các người biết đấy, tôi chưa có ý định lấy vợ. Thất nghiệp thì lấy đâu ra tiền để mà... - Malachy phân trần.
- Cưới là việc không thể tránh khỏi, - Delia kết luận.
- Đừng có tính đến chuyện chuồn, - Jimmy tỏ vẻ hăm dọa.
- Có im đi không, - Delia hét lên.
*
Malachy dõi theo mấy người khi họ kéo đi. “Sao tao lại khốn nạn thế kia chứ!”, anh nhăn nhó quay sang Joey Cacciamani.
-Mày tiêu đời rồi, khi thấy mấy mụ giặc cái ấy, tao biết thể nào cũng có chuyện cho mà xem! - Joey tỏ vẻ hiểu biết.
Malachy ngẫm nghĩ về hoàn cảnh của mình. Anh còn vài đôla sót lại trong túi, thu nhập từ công việc cuối cùng, hình như anh còn một ông bác ở San Francisco hay ở một quận nào đó của California. Liệu anh có nên tránh xa cái nơi này không nhỉ, phải chăng nên tránh càng xa hai mợ phổi bò cùng với hai gã chồng hung tợn kia càng tốt? Quả thật, anh nên ra đi, phải làm gì đấy kỷ niệm sự ra đi này chứ nhỉ? Joey rót đầy một cốc rồi tu ừng ực khiến cổ họng Malachy nóng ran. Đúng là đồ Ailen! Anh nói với Joey rằng những chuyện về tín đồ Scotland chỉ là bịa đặt. Joey nhún vai tỏ vẻ vô can: “Tôi không biết, tôi chỉ biết rót rượu thôi”. Thế cũng tốt, còn hơn là chẳng có gì đổ vào mồm, Malachy gọi thêm một cốc rồi quay sang hai gã người Ý bảnh bao ngồi kế: “Hai ông cần gì không, đang nói chuyện gì thế?”
*
Anh tỉnh dậy trên băng ghế của ga tàu hỏa Long Island khi một viên cảnh sát gõ nhẹ lên đôi ủng bằng chiếc gậy tuần đêm. Không một xu dính túi, mấy chị em nhà McNamara sẽ nuốt sống anh ở Brooklyn mất.
Đó là một ngày tháng Ba xầm xì, đã bốn tháng kể từ cái hôm “run gối” ấy, một bữa tiệc nhỏ được tổ chức tại nhà thờ thánh Joseph để chứng kiến lễ cưới của Malachy với Angela. Họ có con đầu lòng vào tháng Tám. Vào một ngày tháng Mười Một, nhân một dịp say bí tỉ, Malachy nhận ra rằng đã đến lúc phải khai sinh cho đứa trẻ. Anh cho rằng có lẽ mình sẽ gọi đứa trẻ là Malachy, giống như bố nó, nhưng do cách phát âm của người Ailen cộng với cái giọng say sưa lè nhè mà viên thư ký khi buông bút xuống khai tên cho đứa trẻ chỉ viết đơn giản có mấy chữ Male.
Không cần phải đợi đến tận tháng Mười Hai họ mới đem Male đến Nhà thờ thánh Paul để làm lễ rửa tội và đặt tên thánh Francis theo họ của ông nội bé và của thánh Assisi đáng kính. Angela muốn đặt tên lót cho con là Munchin, ngay sau tên của thánh đỡ đầu vùng Limerick nhưng Malachy thề rằng chỉ có bước qua xác anh mới có thể đem một cái tên nào đó của Limerick ra mà đặt cho bất kỳ đứa con trai nào của mình. Nhưng đứa trẻ không thể sống cả đời với một cái họ. Việc thêm cho thằng bé tên đệm là một việc mà người Mỹ cho là điềm gở, bởi vậy không cần thiết phải có tên thứ hai làm gì nhất là nó đã được làm lễ rửa tội theo phép của Thánh Assisi.
Lễ rửa tội của thằng bé đã không diễn ra theo kế hoạch do việc chậm trễ khi chỉ định ai làm cha đỡ đầu. John McErlaine đã say bí tỉ trong một quán rượu lậu thay vì phải có mặt và làm lễ để trở thành cha đỡ đầu cho đứa trẻ. Philomena quay sang chồng: “Tommy, đến nước này thì anh phải làm cha đỡ đầu cho thằng bé thôi. Linh hồn đứa trẻ đang gặp nguy hiểm anh có thấy không?”. Tommy cúi gằm mặt càu nhàu: “Thôi được rồi. Tôi sẽ làm bố đỡ đầu cho nó nhưng tôi không chịu trách nhiệm nếu như cái thằng ranh này lớn lên lại giống hệt thằng bố nó và tiếp tục gieo rắc tội lỗi và hễ sểnh ra một tí là y như rằng lại chuồn tới quán rượu lậu của lão Jonh McErlaine đâu nhé”. Vị linh mục gật đầu vẻ đồng tình: “Ta đồng ý với con, Tom à. Con quả là một người đứng đắn, một người đàng hoàng thì không bao giờ bước chân vào những quán rượu lậu cả”. Trong khi đó thì Malachy, cha của đứa trẻ vừa trở về từ một quán rượu lậu cảm thấy như mình bị lăng nhục và chỉ chực cất lời tranh cãi với vị linh mục đáng kính, nhưng quả thực đó là hành động báng bổ thánh thần ghê gớm nhất mà không một ai nên làm. Bỏ cái áo linh mục xuống thì chưa chắc ai đã hơn ai đâu nhé. Hai người đàn bà to lớn cùng với những gã chồng dữ tợn đã kịp giữ anh chàng hăng tiết lại. Người mẹ trẻ Angela do bị kích động đột ngột nên không còn nhớ mình đang ôm đứa bé trên tay và kết quả là thằng bé rơi thẳng vào bình đựng nước thánh, thật không may, việc đắm chìm trong nước phép như vậy lại là một nghi lễ của đạo Tin lành. Một lễ sinh giúp việc cho linh mục nhanh tay lôi thằng bé lên khỏi bình nước và trả lại nó cho Angela, người mẹ vụng về tội nghiệp ngay lập tức vồ lấy thằng bé ướt rượt rồi òa khóc. Trong khi đó vị linh mục khả kính lại cười phá lên và nói: “Ta chưa từng chứng kiến một chuyện nào thú vị như thế này, hê hê, thằng nhỏ này đã làm theo phép rửa tội của người lớn rồi còn gì, thế thì nó cần gì đến ta nữa, hê hê...”. Điều này càng khiến Malachy sôi máu, anh chỉ muốn nuốt chửng vị linh mục vì cái tội dám coi thằng bé như một tín đồ của đạo Tin lành. Vị linh mục phải trấn an: “Trật tự, nên nhớ anh đang đứng trong nhà thờ”. Ngay lập tức Malachy đốp lại: “Nhà thờ cái mông tao”, và thế là anh chàng bị quẳng ra ngoài phố vì không ai được phép nhắc tới mông đít trong nhà thờ.
Sau lễ rửa tội, Philomena nói rằng cô có trà, bánh ngọt và đùi lợn muối ở nhà. Malachy hỏi lại: “Trà à?” “Ừ, trà. Nếu chú muốn thì có thể gọi nó là whisky cũng được”. Anh nói trà rất tuyệt nhưng trước hết anh có chuyện muốn giải quyết với Jonh McErlaine đã, cái gã thiếu đứng đắn ấy đã không chịu thực hiện trách nhiệm của mình như một người được chỉ định làm cha đỡ đầu của thằng bé. Angela tỏ ra quá hiểu ông chồng mình: “Anh lại kiếm cớ thoái thác để chuồn đến quán rượu lậu chứ gì?” “Thề có Chúa chứng giám, anh chỉ coi rượu là thứ vớ vẩn nhất trên đời này”. Malachy trả lời. Angela bắt đầu sụt sịt khóc: “Hôm nay là ngày gì nào? Ngày con trai anh làm lễ rửa tội thế mà cứ cắm đầu vào mấy cái quán rượu lậu ấy”. Delia lầm bầm chửi rủa: “Chú là thứ loại ghê tởm nhất mà tôi từng thấy, đã thế chú còn trông đợi cái gì ở Bắc Ailen kia chứ?”
Malachy nhìn hết người này đến người khác, hai chân cọ vào nhau, kéo vành mũ sụp xuống tận mắt, thọc hai tay sâu vào túi quần rồi lè nhè: “A...ừ...ờ thì...”. Vẫn cái cách mà mấy gã nát rượu vẫn thể hiện ở hạt Antrim: hối hả và vội vã chạy băng qua phố Court để lao vào mấy quán rượu lậu trên đại lộ Atlantic, nơi anh vẫn đinh ninh rằng bọn họ sẽ chúc mừng lễ rửa tội của con trai anh bằng một chầu rượu miễn phí.
Tại nhà của Philomena, trong khi các anh chị ăn uống say sưa thì Angela ngồi lủi thủi một góc, vừa cho con bú vừa thút thít khóc. Philomena đang đầy một mồm toàn bánh mì và thịt lợn muối vẫn không quên quay sang Angela quát tháo: “Mày ngu chưa em, vội vội vàng vàng tới nước Mỹ để rồi dính chặt lấy cái thằng mất trí ấy. Có lẽ mày ở vậy thì tốt hơn, đem thằng bé kia cho ai muốn nhận con nuôi, thế là mày lại trở thành một thiếu nữ tự do”. Angela càng khóc to hơn, tới lúc đó Delia thấy mình không thể ngồi yên được nữa: “Thôi nào, Angela, có thôi đi không. Còn định ăn vạ ai nữa ư, không phải tại mày cả hay sao. Thằng chồng của mày nom cũng chẳng ra dáng một người theo đạo Thiên Chúa cho lắm, người không ra người, ngợm chẳng ra ngợm. Tôi đã bảo là... là... Malachy có cái kiểu của bọn tín đồ Scotland rồi mà lị. Có im ngay đi không Jimmy.
Philomena bắt đầu giảng giải: “Nếu chị là mày, chị sẽ không có với nó thêm một đứa nào nữa. Nó chẳng có việc, rồi lại cứ luẩn quẩn mãi bên chai rượu như thế. Không có thêm đứa nào nữa đâu nhé, Angela. Mày có nghe chị nói không đấy hả?”.
- Philomena đang nói với mày đấy.
*
Một năm sau, họ lại có với nhau thêm một đứa con. Angela gọi thằng nhỏ là Malachy, theo tên cha nó và đặt cho nó cái tên đệm là Gerard, theo tên bác nó.
Mấy chị em nhà McNamara bảo nhau: Angela thật chẳng có tích sự gì, chỉ được mỗi cái đẻ khéo và họ chẳng muốn giúp cô nữa, cho tới lúc cô trở lại minh mẫn như thuở trước.
Mấy ông chồng cũng hoàn toàn tán đồng với ý kiến đó của họ.
Tôi đang ở ngoài sân chơi trên đại lộ Classon ở Brooklyn với cậu em trai Malachy. Nó lên hai còn tôi lên ba. Hai đứa đang chơi bập bênh.
Lên, xuống, lên, xuống.
Malachy đứng lên khỏi bập bênh.
Tôi rơi phịch xuống đất.
Malachy leo lên bập bênh đúng lúc nó đang trên đà xuống. Thằng bé hét toáng lên. Nó cho tay vào mồm và tôi nhìn thấy máu.
Ôi, Chúa ơi. Chảy máu là tệ lắm. Mẹ sẽ giết tôi mất.
Và đây, bà đã xuất hiện, tìm cách chạy băng qua sân chơi đến với Malachy. Cái bụng to của mẹ không cho phép bà chạy nhanh.
Bà quát lên: “Mày làm cái gì thế? Mày làm gì thằng bé thế kia?”.
Tôi không biết trả lời mẹ thế nào. Tôi không biết mình đã làm gì.
Bà kéo tai tôi rồi nói: “Về nhà. Lên giường nằm ngay lập tức”.
Đi ngủ? Vào giữa ban ngày thê này sao?
Mẹ đẩy tôi về phía cổng sân chơi. “Đi”.
Bà quắp Malachy lên eo rồi khó nhọc bước về nhà.
*
Chú MacAdorey, bạn của cha tôi không sống cùng khu nhà với chúng tôi. Chú đứng cạnh vợ mình, cô Minnie bên mép vỉa hè, họ chăm chú quan sát con chó đang nằm dưới lòng cống. Đầu con chó bết những máu là máu. Mà nó cũng giống với màu máu chảy ra từ khóe miệng của Malachy.
Malachy có máu chó và chó lại có máu của Malachy.
Tôi kéo tay chú MacAdorey và nói với chú rằng Malachy cũng có máu giống như con chó.
-Ồ, đúng rồi. Đúng như thế đấy Francis ạ. Cả mèo cũng như thế, và người Eskimos cũng vậy. Đều có máu như thê đấy - Chú giải thích cho tôi.
Minnie nói: “Thôi đi Dan. Đùng có làm cho chàng trai của chúng ta thêm lầm lẫn như thế”. Cô cho tôi hay con chó đáng thương của chúng tỏi đã bị ô tô chẹt và nó đã bò từ giữa phố về trước cửa nhà trước khi chết. “Nó cũng muốn về nhà đấy cháu ạ, con vật mới đáng thương làm sao”.
Chú MacAdorey nói: “Cháu nên về nhà đi Francis. Chú không biết cháu vừa làm gì với em, nhưng chú thấy mẹ cháu bế nó đến bệnh việc rồi. về nhà đi con trai”.
- Liệu Malachy có chết giống con chó của chú không hả chú MacAdorey?
Minnie hốt hoảng: “Nó cắn vào lưỡi. Nhưng em cháu không chết đâu”.
-Thế con chó có chết không?
-Nó chết rồi đấy thôi, Francis à.
*
Căn hộ của chúng tôi chẳng còn một ai, tôi đang đứng giữa hai phòng, phòng ngủ và bếp. Cha tôi vẫn như mọi ngày: lang thang xuống đường đi khắp nơi tìm việc còn mẹ thì đang ở bệnh viện với Malachy. Tôi ao ước có cái gì đó bỏ vào mồm nhưng chẳng còn gì trong tủ đá ngoại trừ mấy cái lá bắp cải nổi lềnh bềnh trên đống đá đang tan. Cha tôi nói không bao giờ được ăn những thứ đã nổi trên mặt nước bởi rất có thể chúng đang thối rữa bên trong. Tôi nằm trên giường bố mẹ và cảm thấy hơi buồn ngủ, khi mẹ lay tôi dậy thì trời đã gần tối. “Em trai con đã ngủ được một lúc rồi. Suýt nữa thì nó cắn đứt cả lưỡi ra ngoài đấy. Con sang phòng khác đi”.
Cha đang loanh quanh trong bếp và nhấm nháp trà đen đựng trong cái ca men trắng của ông. Cha đặt tôi ngồi lên lòng ông.
Cha, cha kể cho con chuyện về Coo Coo đi. Cuchulain làm. Con nói lại theo cha xem nào, Coo- hoo-lin. Cha sẽ kể con nghe câu chuyện chừng nào con nói đúng cái tên của nó. Coo-hoo-lin. Tôi đã nói được đúng và cha kể cho tôi nghe câu chuyện về Cuchulain, người từng có một cái tên khác hồi còn nhỏ: Setanta. Thuở nhỏ, ông sống ở hạt Antrim, một vùng đất thuộc Ailen nơi David từng sống. Setana có một cái gậy và một quả bóng. Một ngày kia, khi ông đang chơi bóng thì quả bóng lăn vào trúng miệng con chó của Culain làm cho nó nghẹn thở. “Hmm”, Culain rất giận dữ, “Tôi làm được gì bây giờ khi không có chó để giữ nhà và vợ cùng với mười đứa con nhỏ cũng như vô số lợn, gà và cừu của tôi?”.
Setana quả quyết: “Cháu xin lỗi. Cháu sẽ trông nhà cho bác với cây gậy và quả bóng này và cháu sẽ đổi tên thành Cuchulain, Chó săn của Culain. Và cậu bé đã làm như vậy đấy. Cậu canh nhà và cả những vùng xung quanh rồi sau đó trở thành một vị anh hùng vĩ đại, với tên gọi Chó săn của vùng Ulster. Cha nói ông ấy đã trở thành một anh hùng còn vĩ đại hơn cả Hercules hay Achilles, những vị anh hùng mà người Hy Lạp suốt ngày đem ra để khoe khoang, ông còn có thể nhận lời thách đấu cả với vua Authur...
Đó là câu chuyện của tôi. Cha không thể mang câu chuyên đó ra kể cho Malachy hay bất kỳ đứa trẻ nào khác dưới nhà.
Ông kết thúc câu chuyện của mình rồi cho tôi nhấp một ngụm trà. Sao mà đắng thế, nhưng dẫu sao tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc khi được ngồi ở đó, trong lòng ông.
*
Trong những ngày tiếp theo, lưỡi của Malachy sưng phồng khiến nó rất khó khăn mỗi lúc định nói và dường như nó cũng chẳng có ý định nói chuyện với ai. Nhưng ngay cả khi Malachy gặp phải sự cố đó thì cũng chẳng ai có thời gian để mắt đến nó bởi gia đình chúng tôi đã có thêm hai thành viên mới được thiên thần mang đến vào lúc nửa đêm. Hàng xóm của chúng tôi đều nói: “Ôi, a... chúng đúng là hai đứa trẻ đáng yêu, cứ nhìn vào đôi mắt to của chúng mà xem”.
Malachy đứng ở giữa phòng, nhìn lên khắp lượt mọi người, chỉ vào lưỡi của mình và nói: “Úc... Úc”. Lúc đó, mấy người hàng xóm lại nói: “Con không thấy chúng ta đang ngắm nhìn hai đứa em mới sinh của con hay sao?” Cậu em tôi cảm thấy tủi thân và khóc váng lên cho tới khi bố phải nựng nó. “Ngậm miệng lại và thu lưỡi vào nào con trai, con ra ngoài sân chơi với Frankie đi. Đi nào”.
Ngoài sân chơi, tôi kể cho Malachy về chuyện con chó chết trên đường bởi có ai đó đã đá quả bóng vào mồm nó như thế nào. Malachy lắc đầu quầy quậy: “Không... úc... phải bóng. Ô tô... úc... đâm con chó đấy chứ”. Nó lại tiếp tục khóc bởi cái lưỡi đau khiến nó nói năng rất khó khăn và thật khủng khiếp nếu như ai đó không nói được ra những gì mình muốn. Nó không cho tôi đẩy cái xích đu nữa. Nó nói: “Anh... úc... đã suýt giết em trên cái... úc... bập bênh”. Và thế là ngay lập tức Freddie Leibowitz đẩy giúp nó, điều đó khiến thằng bé rất vui sướng và yên tâm. Nó lại cười như nắc nẻ mỗi khi chiếc đu bay tít lên cao. So với chúng tôi, Freddie lớn hơn hẳn, nó đã lên bảy. Khi tôi nhờ Freddie đẩy hộ, nó từ chối và nói: “Cậu đã suýt giết chết em trai mình rồi còn gì”.
Tôi cố gắng tự đánh đu một mình nhưng tất cả những gì tôi có thể làm là khiến cho nó xích ra đằng sau và nhô lên phía trên tí xíu. Nhưng điều khiến tôi bực hơn cả là việc Freddie và Malachy nhăn nhở cười trước cái điệu bộ lóng ngóng mà tôi vẫn không thể khiến chiếc xích đu chuyển động như ý. Giờ thì chúng quả là một đôi bạn thân, Freddie, bảy tuổi, Malachy, hai tuổi. Chúng cứ cười như vậy mỗi ngày và dần dần lưỡi của Malachy cũng bình phục trở lại sau những điệu cười như vậy.
Khi nó cười, bạn có thể trông thấy những chiếc răng của nó xinh xắn, nhỏ nhắn và trắng đến nhường nào, và bạn cũng sẽ thấy được cặp mắt nó tỏa sáng rạng ngời. Nó có cặp mất xanh giống mẹ. Tóc nó màu vàng và hai má lúc nào cũng ửng hồng. Tôi có đôi mắt nâu giống bố. Tóc tôi màu đen còn hai má, khi soi gương tôi chỉ thấy màu trắng. Mẹ tôi nói với bà Leibowitz ở dưới nhà rằng Malachy là thằng bé hạnh phúc nhất trên thế gian. Rồi mẹ lại nói với bà Leibowitz ở dưới nhà rằng Frankie có cái kiểu kì dị giống như bố nó. Tôi tự hỏi không biết cái kiểu kì dị ấy là cái gì nhưng tôi không thể hỏi ai lúc đó bởi trên thực tế tôi không được phép nghe trộm người lớn nói chuyện.
Tôi ước ao có thể bay được lên tận trên trời, chạm tới những đám mây. Có lẽ tôi sẽ bay khắp thế giới và không phải nghe tiếng khóc của mấy thằng em, Oliver và Eugene, chúng cứ chờ đến nửa đêm mới khóc oe oe. Mẹ bảo rằng chúng luôn bị đói. Chính mẹ cũng hay khóc vào lúc nửa đêm. Mẹ bảo mẹ đã kiệt sức vì cứ phải cho hết đứa này đến đứa khác bú, bốn đứa con trai là quá sức chịu đựng của mẹ. Bà ước ao có được một bé gái xinh xắn cho mình. Bà sẽ làm mọi thứ để đứa bé được hạnh phúc.
Tôi chơi ngoài sân với Malachy. Tôi lên bốn còn nó lên ba. Nó đã để tôi đẩy chiếc đu hộ nó bởi nó cũng chẳng hơn gì tôi trong việc tự đánh đu trong khi đó Freddie Leibowitz thì đang học ở trường. Chúng tôi phải chơi ngoài sân vì hai đứa em sinh đôi của tôi đang ngủ và mẹ nói mẹ đã mệt lử: “Ra ngoài kia chơi đi các con, cho mẹ nghỉ một lúc”. Như mọi ngày, bố vẫn ra ngoài tìm việc và đôi khi ông về nhà với mùi whisky nồng nặc, hát tất cả những bài hát có liên quan đến việc giải phóng Ailen. Mẹ trở nên cáu bẳn và gắt: “Cái tiếng Ailen giời đánh”. Bố cãi rằng đấy là một thứ ngôn ngữ tuyệt vời và nên dùng trước mặt bọn trẻ nhưng mẹ nói bà không quan tâm đến ngôn ngữ, thực phẩm trên bàn ăn là những gì bà quan tâm, chứ không phải là việc giải phóng Ailen chết tiệt của bố. Mẹ rên rỉ rằng cái ngày mà nước Mỹ bỏ luật cấm rượu lậu thật là một ngày đen tối vì bố có thể đến lượn khắp các quán bar, phòng trà, xin được quét dọn hay khuân đổ để đổi lấy một ly whisky hoặc một vại bia tươi. Thỉnh thoảng ông đem về nhà một ít thức ăn để dành từ buổi trưa như bánh mì đen, thịt bò muối hoặc dưa chua. Ông đặt đồ ăn lên bàn rồi nhâm nhi trà. Ông bảo bây giờ mà ăn nhiều thì cũng nguy hại đến sức khỏe, nhưng quả là không biết lấy đâu ra đồ ăn để mà có cảm giác thèm muốn. Mẹ nói bọn trẻ lúc nào chả thèm ăn vì quá nửa thời gian tổn tại, chúng phải sống trong cảm giác đói khát.
Khi bố tôi tìm được việc làm, mẹ rất phấn khởi và hát:
Ai chẳng biết em khao khát nụ hôn anh,
Yêu là thế và chẳng cần suy tính
Phải vậy chăng khi anh là duy nhất
Đến bên em và hãy yêu em...
Vào cái ngày bố mang về những đồng lương đầu tiên, mẹ tôi vô cùng sung sướng bởi mẹ có thể trả tiền cho ông chủ cửa hàng tạp phẩm đáng mến người Ý và bà có thể một lần được ngẩng cao đầu, cũng chẳng có gì tệ hơn trên thế gian này khi suốt ngày phải nợ nần hay hàm ơn ai đó. Mẹ lau dọn bếp núc, đánh rửa ấm chén, bát đĩa, chải những mảnh vụn bánh mì và những mẩu thức ăn thừa còn vương trên mặt bàn, dọn sạch tủ đá và mua một tảng đá tươi từ một cửa hàng của người Ý. Mẹ mua giấy vệ sinh cho chúng tôi mang xuống phòng vệ sinh dưới nhà. Mẹ nói: “Như thế tốt hơn nhiều là để chúng mày mang tờ Daily News ra mà bôi cho đít đen bóng lên”. Mẹ nấu nước sôi trên bếp lò rồi lại cắm mặt vào cái chậu sắt tây lớn để giặt quần áo cho bọn tôi, tã lót cho hai đứa bé, hai cái khăn trải giường và ba cái khăn tắm của cả nhà. Bà treo chúng lên dây phơi quần áo phía sau căn hộ, mấy đứa chúng tôi có thể ngắm đống quần áo nhảy múa trong nắng và gió. Mẹ nói, không nên để cho hàng xóm biết nhà mình có những đồ gì khi mang ra phơi phóng, nhưng quả thực không có gì tốt cho quần áo hơn là được phơi nắng.
Khi bố mang về nhà những đồng lương đầu tiên vào tối thứ Sáu chúng tôi đều biết cuối tuần này sẽ là một thiên đường với cả nhà. Vào tối thứ Bảy mẹ sẽ đun nước sôi trên lò sưởi rồi nhúng cả mấy đứa vào cái chậu sắt lớn mà kỳ cọ, rồi bố sẽ lau khô từng đứa. Malachy sẽ chạy vòng quanh phòng và cả nhà sẽ nhìn thấy mông đít của nó. Bố sẽ cảm thấy rất ngỡ ngàng rồi tất cả chúng tôi đều phá lên cười. Mẹ sẽ làm cacao nóng rồi chúng tôi sẽ ngồi quanh bố để nghe ông kể những câu chuyên của mình. Tất cả những gì chúng tôi phải làm là phải đoán ra một người, ông McAdorey hay ông Leibowitz dưới nhà, bố sẽ cùng hai người đó chèo thuyền ngược dòng trên những con sông ở Brazil chạy trốn khỏi sự truy đuổi của người da đỏ có cái mũi xanh và những bả vai rám nắng. Vào những tối như vậy, chúng tôi có thể ngủ quên trong những câu chuyện của bố và biết rằng sáng mai sẽ thức dậy với một bữa sáng có trứng, cà chua rán, bánh mì nướng, trà với rất nhiều đường và sữa còn vào buổi tối, chúng tôi sẽ có bữa tối thật thịnh soạn với khoai tây nghiền, đậu bắp và đùi lợn muối nhưng tuyệt hơn cả là bánh xốp kem mẹ làm có rất nhiều hoa quả trộn với trứng sữa nóng phủ trên một cái bánh ngọt ngập dưới lớp rượu nâu.
Khi bố mang về những đồng lương đầu tiên trong thời tiết thật dễ chịu, mẹ sẽ dẫn chúng tôi xuống sân chơi. Mẹ ngồi trên chiếc ghế băng và nói chuyện với cô hàng xóm Minnie MacAdorey. Mẹ kể cho Minnie những câu chuyện đặc sắc về Limerick còn Minnie sẽ kể cho mẹ nghe những câu chuyện đặc sắc về Belfast rồi họ cùng cười phá lên bởi cả hai đều là những người Ailen hài hước, một ở miền Bắc, một ở miền Nam. Sau đó họ sẽ dạy cho nhau những bài hát buồn và Malachy cùng với tôi sẽ rời khỏi xích đu hoặc bập bênh để đến bên họ, cùng ngồi trên ghế băng và hát.
Những anh lính một đêm trong trại
Kể cho nhau về những người tình
Mọi người đều vui trừ một chàng trai trẻ
Anh gục đầu buồn bã cô đơn
Hãy vui lên cùng chúng tôi, người bạn nói
Ở nơi xa có kẻ đợi chờ anh
Nhưng Net vẫn thở dài buồn bã
Tôi đang nhớ thương một lúc hai người
Mỗi người đều như mẹ đối với tôi
Sự chia lìa dường như là không thể
Bởi một người là mẹ đẻ của tôi
Chúa sẽ phù hộ bà, người mẹ lính
Còn người kia - cô bạn gái đáng thương.
Malachy và tôi hát bài hát đó khiến cho mẹ và Minnie cười đến chảy cả nước mắt, nhất là lúc Malachy cúi thật thấp và đưa hai tay về phía mẹ mỗi khi hát xong. Dan Macdorey trên đường đi làm về ngang qua sân chơi, chứng kiến cảnh tượng trên đã phải thốt ra: “Rudy Vallee lẽ ra phải lo lắng vì đã có đối thủ trên sân khấu nhạc kịch của mình”.
Khi chúng tôi về nhà, mẹ pha trà và làm bánh mì phết mứt hoặc khoai tây nghiền với bơ muối. Bố vẫn ngồi đó uống trà mà chẳng ăn gì. Mẹ nói: “Có Chúa làm chứng, sao anh có thể làm việc cả ngày mà chẳng chịu ăn uống gì là thế nào?” Bố bảo rằng trà cũng đã đủ đối với bố. Mẹ tỏ vẻ không bằng lòng: “Anh đang hủy hoại sức khỏe của mình đấy”. Thế rồi bố lại nói với mẹ rằng thức ăn có thể gây những phản ứng không tốt cho cơ thể. Bố vẫn chỉ uống trà và kể cho chúng tôi những câu chuyện của ông và dậy chúng tôi nhận mặt chữ trên những trang của tờ Daily News. Những lúc không như vậy, ông hay ngồi hút thuốc, nhìn chằm chằm vào tường, lẩm nhẩm một giai điệu Ailen.
Khi bố làm việc được đến tuần thứ ba thì ông không mang lương về nhà nữa. Vào tối thứ Sáu hôm ấy, chúng tôi ngồi đợi ông còn mẹ thì cho bọn tôi ít bánh mì và trà để chống đói. Màn đêm đã buông xuống và thành phố đã lên đèn dọc theo đại lộ Classon. Những người đàn ông đi làm ở những gia đình khác đã về nhà cả, và dĩ nhiên họ mang theo nhiều trứng cho bữa tối bởi vào thời đó, không thể mua được thịt vào ngày thứ Sáu. Bạn có thể nghe thấy các gia đình ở tầng trên và tầng dưới đang sinh hoạt rất rộn ràng, và bạn cũng có thể nghe thấy tiếng hát của Bing Crosby trên radio: “... người anh em thân mến, liệu chúng ta có thể chia sẻ cùng nhau...?”.
Malachy và tôi mải nghịch với hai đứa em. Chúng tôi biết mẹ sẽ không hát bài hát: “Ai cũng biết em khao khát nụ hôn anh” nữa. Mẹ ngồi bên chiếc bàn kê trong bếp và tự nói chuyện một mình: “Biết làm sao bây giờ?” cho tới khi tân khuya. Đến lúc đó bố mới xuất hiện trên bậc thang và hát nhạc của Roddy McCorley. Bố đẩy cửa vào nhà rồi gọi mấy đứa chúng tôi: “Quân đội của ta đâu cả rồi? Bốn chiến binh của ta đâu, ra đây!”.
Mẹ mệt mỏi nói với bố: “Để cho bọn trẻ được yên. Chúng lên giường với những cái bụng đói chỉ vì anh đã nốc đầy whisky chết tiệt vào bụng đấy”.
Bố như không nghe thấy cứ tiến thẳng đến cửa buồng ngủ. “Dậy, các chàng trai, dậy mau. Một hào cho bất kỳ ai hứa sẽ chết vì Ailen.
Sáu thẳm trong rừng Canada tôi gặp
Một đảo quốc hùng cường tươi sáng
Vinh quang thay mỗi bước chân qua
Trái tim hòa nhịp cùng lý trí.
Dậy, các chàng trai, dậy ngay. Francis, Malachy, Oliver, Eugene. Các Hiệp sĩ Đỏ, Các chiến sĩ của tổ chức Fenian, Quân đội Cộng hòa Ailen. Dậy, dậy.
Mẹ vẫn ngồi trong bếp, tóc mẹ bết lại trên gương mặt đẫm nước mắt. Bà khóc lóc: “Anh không để chúng yên được hay sao? Chúa nhân từ, Đức mẹ Mary và thánh Joseph! Anh về nhà không một xu dính túi rồi hành hạ lũ trẻ như thế sao?”.
Mẹ tiến về phía chúng tôi: “Quay lại, lên giường đi ngủ đi các con”.
Tôi muốn chúng phải dậy! - Bố quát lên, - Tôi muốn chúng phải sẩn sàng cho cái ngày Ailen được giải phóng để trở về với biển. Đừng có bước qua tôi, nếu không hôm nay sẽ là ngày đáng tiếc của anh trong căn nhà này đấy - mẹ quả quyết chặn bố lại. Ông kéo sụp mũ xuống che mặt rồi bắt đầu khóc: “Ôi, mẹ tội nghiệp của con. Tội nghiệp Ailen. Úc, chúng ta phải làm gì bây giờ?”.
Mẹ nói với bố: “Anh đúng là một tên đốn mạt vô lương tâm”, rồi bà quay sang chúng tôi nhẹ nhàng: “Về giường đi các con”.
Vào buổi sáng của ngày thứ Sáu, sau một tháng kể từ khi bố đi làm, mẹ hỏi liệu tối nay ông có về nhà và mang theo tiền lương của mình không hay lại lang thang uống đủ các thứ vào người? Ông nhìn chúng tôi rồi quay sang mẹ lắc đầu như thể muốn nói: “Ôi trời, cô không nên nói những chuyện như thế này trước mật bọn trẻ”.
Mẹ vẫn chưa chịu thôi, vẫn tiếp tục hỏi bố: “Em đang hỏi anh, liệu tối nay anh có về nhà để chúng ta có cái gì đó bỏ vào bụng bọn trẻ không hay anh lại đi tới nửa đêm mới thèm mò về không một xu dính túi và cứ lải nhải mấy cái bài của Kevin Barry?”.
Bố vớ lấy mũ chụp lên đầu, sục hai tay vào túi quần, thở dài buồn bã nhìn lên trần nhà: “Tôi đã nói rồi. Tôi sẽ về”.
Sáng hôm ấy, mẹ mặc quần áo cho mấy đứa tụi tôi. Bà đặt hai đứa em sinh đôi của tôi vào xe đẩy và tất cả chúng tôi kéo qua nhũng dãy phố dài bất tận của Brooklyn. Thỉnh thoảng, mẹ lại cho Malachy ngồi lên xe đẩy khi nó đã mỏi nhừ vì cứ phải chạy loi choi bên mẹ. Bà nói với tôi rằng tôi đã quá lớn để có thể cùng ngồi với các em trên chiếc xe nôi đó. Tôi rất muốn nói với mẹ rằng cứ phải chạy theo mẹ như thế chắc tôi sẽ bị đau chân mất, nhưng suốt quãng đường không hề thấy bà hát một câu nào, tôi chắc mẩm ngày hôm nay không phải dành cho việc than phiền về những vết thương của tôi.
Chúng tôi dừng lại trước một cánh cổng lớn, ở đó có một người đứng trong một cái hộp với bốn phía đều có cửa sổ. Mẹ nói chuyện với người đàn ông đó. Bà nói muốn được vào bên trong, đến nơi người ta phát lương cho công nhân và nếu có thể mẹ sẽ lĩnh trước một phần lương của bố, như vậy ông sẽ không tiêu hết tiền trong những quán bar. Người đàn ông lắc đầu: “Tôi rất tiếc, thưa bà, nhưng nếu tôi để bà vào trong đó thì có tới một nửa số phụ nữ của Brooklyn sẽ ập vào đây mất. Bà biết đấy, hầu hết đàn ông ở đây đều có vấn đề với rượu nhưng chúng tôi cũng không thể can thiệp được gì khi họ đến đây làm trong tình trạng tỉnh táo cả”.
Chúng tôi đứng đợi phía bên kia đường. Mẹ để mấy đứa ngồi cả trên vỉa hè, dựa lưng vào tường. Mẹ đưa cho hai đứa trẻ mấy cái bình sữa nhưng trong đó chỉ có nước đường. Còn tôi và Malachy vẫn phải đợi cho đến khi mẹ lấy được tiền lương của bố để mua bánh mì, trà và trứng ở cửa hàng của người Ý.
Vào lúc năm rưỡi chiều, người ta thổi còi hết giờ, tôi thấy những người công nhân mặc bộ đồ bảo hộ, đội mũ lưỡi trai đổ xô ra cổng, mặt mũi tay chân họ đen nhẻm dầu mỡ. Mẹ nói chúng tôi phải nhìn thật kỹ xem có thấy bố không bởi đứng từ bên này đường bà khó có thể nhìn rõ được, mắt của mẹ thật tệ. Có hàng tá người đổ ra đường, rồi đến từng nhóm, lác đác vài người và cuối cùng chẳng còn ai. Mẹ bật khóc, tại sao chúng ta không trông thấy bố nhỉ, hay là mù hết cả?
Mẹ quay trở về chỗ cái người đàn ông đứng trong hộp: “Ông có chắc rằng không còn ai bên trong nữa không?”.
- Không đâu, thưa bà. Họ đã về cả rồi. Tôi không biết thế nào bà lại không tìm thấy ông nhà - ông ta trả lời.
Chúng tôi lại kéo nhau về trên những dãy phố dài ở Brooklyn. Hai đứa em tôi ôm chặt những cái bình của chúng và bắt đầu khóc vì chúng muốn có nước đường nữa. Malachy bảo rằng nó đói lắm rồi, mẹ phải dỗ nó gắng đợi thêm chút nữa, cho tới lúc chúng tôi gặp được bố để lấy tiền và cả nhà sẽ có một bữa tối thật tươm. Mẹ sẽ tới gian hàng của người Ý để mua trứng và nướng bánh mì trên lửa bếp lò để chúng tôi phết mứt lên trên. Ôi, nhất định chúng tôi sẽ làm thế, rồi tất cả sẽ dễ thương và không khí gia đình lại ấm cúng trở lại.
Màn đêm đã buông xuống đại lộ Atlantic và tất cả các quán bar xung quanh ga xe lửa Long Island đều tỏa sáng, nhộn nhạo. Chúng tôi đi hết quán này sang quán khác để tìm cha. Mẹ để mấy đứa đứng ngoài với chiếc xe nôi rồi lầm lũi vào từng quán tìm hoặc cử tôi vào. Trong đó thật ồn ào và chật ních, toàn là đàn ông và mùi của họ khiến tôi nhớ tới cha mỗi khi ông về nhà nồng nặc mùi whisky.
Người đàn ông đứng sau quầy bar trông thấy tôi và hỏi: “Hây nhóc, muốn gì? Cháu biết là trẻ con không được phép vào những chỗ như thế này đúng không?”.
Cháu đi tìm bố. Có bố cháu trong này không ạ? Ờ, khoan, để xem bố cháu trông thế nào đã? Thế bố cháu là ai? Bố cháu tên là Malachy, ông ấy hay hát Kevin Barry. Malarkey à? Không! Malachy mới đúng. Malachy? Và ông ấy hát Kevin Barry? Người đàn ông gọi to cho những người trong bar nghe thấy: “Này các anh, có ai trong số các anh biết Malachy hay hát Kevin Barry không?”.
Mọi người đều lắc đầu. Một ai đó nói ông ấy biết một gã tên là Michael hát Kevin Barry nhưng hắn đã chết trong lúc say bởi những di chứng của chiến tranh.
Người phục vụ bên quầy rượu quay sang tôi: “Thề có Chúa, Pete, tôi có bảo anh phải kể tôi nghe lịch sử chiến tranh đâu? Còn bây giờ, cháu thấy đấy, chúng tôi không cho phép mọi người hát hò ở đây. Sẽ gặp rắc rối to đấy. Đặc biệt là người Ailen. Cứ thử hát mà xem, lại chẳng ăn ngay một đấm ấy chứ. Hơn nữa, tôi chưa từng biết ai tên là Malachy. Giờ thì rõ rồi, không có Malachy ở đây”
Người đàn ông có tên là Pete đẩy cốc của ông ta về phía tôi. Đây, cậu bé, nhấp một ngụm xem nào. Nhưng người phục vụ đã phản ứng ngay: “Anh làm gì thế Pete? Dụ một đứa trẻ uống rượu à? Thử lại tôi xem nào, tôi chẳng ra ngoài đó đá vỡ cái mông anh ra cho coi”.
Mẹ đã cố gắng vào tất cả các quán bar quanh khu nhà ga để tìm bố trước khi bà hoàn toàn từ bỏ ý định. Mẹ đứng dựa lưng vào tường và khóc: “Chúa ơi, còn cả một quãng đường dài chúng con phải đi để về được đại lộ Classon và còn đây, bốn đứa bé đói khát khổ sở của con”. Bà đưa tôi trở lại cái quán bar lúc nãy mà Pete mời tôi một hớp rượu để hỏi xem liệu người phục vụ có cho chúng tôi xin một ít nước và may chăng một chút đường đổ vào mấy cái bình cho tụi trẻ bú hay không. Ông ta nói với tôi rằng trẻ con thì phải uống sữa chứ không phải là nước như thế này. Tôi nói với ông, mẹ không có tiền để mua sữa cho các em. Người phục vụ đổ hết chỗ nước đường còn lại trong mấy cái bình rồi đổ đầy sữa vào đó cho tôi. Ông tỏ vẻ quan tâm và bảo tôi về nhắn với mẹ rằng sữa rất tốt cho răng và xương của bọn trẻ: “Cho trẻ con uống nước với đường như thế này thì thể nào chúng cũng bị còi xương mất thôi, về nói với mẹ cháu như thế”.
Mẹ tỏ ra thật mãn nguyện với hai bình sữa. Bà nói bà biết tất cả những điều về răng và sữa, và cả bệnh còi xương nữa nhưng đã đi ăn mày thì đâu có quyền kén chọn.
Khi chúng tôi về đến đại lộ Classon, mẹ đi thẳng tới quầy tạp phẩm của ông người Ý. Bà nói với người bán hàng rằng chổng bà sẽ về muộn tối nay, có lẽ ông ấy đang làm thêm giờ, và liệu rằng bà có thể giật nóng vài món và chắc chắn sáng mai sẽ quay trở lại để trả tiền.
Ông người Ý rất nhã nhặn: “Ồ, thưa bà, chẳng sớm thì muộn lúc nào bà cũng thanh toán tiền hàng cho tôi, bà cứ lấy bất cứ thứ gì bà cần trong cửa hàng này”.
Mẹ mừng rỡ thốt lên: “Vâng, vậy may quá. Tôi cũng không cần nhiều đâu, phiền ông quá”.
- Cứ nhặt bất cứ thứ gì bà cần, thưa bà, bởi tôi biết bà là một phụ nữ lương thiện đáng mến. A, hình như bà còn dắt theo cả bầy trẻ đáng yêu của mình ra đây thì phải?
Vậy là chúng tôi có trứng, bánh mì nướng và mứt. Bởi cả nhà đều kiệt sức sau chuyến đi bộ xuôi ngược trên những con phố của Brooklyn nên chúng tôi chỉ đủ sức nhai trệu trạo vài miếng. Hai đứa nhỏ sau khi ăn đã lăn ra ngủ, mẹ đặt chúng lên giường và thay tã cho tụi trẻ. Mẹ bảo tôi xuống nhà giặt đống tã bẩn của chúng dưới phòng vệ sinh, sau đó phải phơi lên để ngày mai các em tôi có tã khô dùng. Malachy giúp mẹ lau sạch mông cho hai đứa em mặc dù bản thân nó đã buồn ngủ díp cả mắt.
Tôi bò lên giường nằm với Malachy và hai thằng em sinh đôi. Ngó ra ngoài, tôi vẫn thấy mẹ ngồi ở cái bàn kê trong bếp. Bà ngồi đó hút thuốc, uống trà và khóc. Tôi muốn nhỏm dậy và nói với mẹ rằng tôi sẽ lớn thật nhanh để rồi có thể làm việc được trong khu nhà có cái cổng lớn sáng nay và tôi sẽ về nhà vào những tối thứ Sáu với tiền lương để bà có thể mua được trứng, bánh mì nướng và mứt. Và rồi mẹ lại có thể vui vẻ hát bài hát: Ai cũng biết em khao khát nụ hôn anh.
Bố mất việc vào tuần tiếp theo. Ông về nhà vào tối thứ Sáu, quẳng lương lên bàn và nói với mẹ: “Giờ cô đã thỏa mãn chưa? Cô quanh quẩn ngoài cổng, phàn nàn buộc tội
tôi để rồi họ cho tôi thôi việc. Họ đang cần một cái cớ và chính cô là người đã giúp họ đuổi cổ tôi”
Ông lấy ra một vài đôla trong số lương của mình rồi bỏ ra ngoài. Bố tôi mò về vào lúc nửa đêm, hò hét và hát váng nhà. Hai đứa trẻ khóc toáng lên khiến mẹ phải dỗ mãi, nhưng chính bà cũng khóc mãi không nguôi.
Chúng tôi chơi hàng giờ liền ngoài sân trong khi hai đứa em tôi ngủ, mẹ thì dường như kiệt sức còn bố vẫn hay về nhà với mùi whisky, than rên những bài hát về cái ngày thứ Hai mà Kevin Barry hay Roddy McCorley bị xử tử.
Bố cứ đi đều bước quanh cái bàn ăn mỗi khi cao giọng hát. Chứng kiến cảnh đó, mẹ lại bật khóc rồi hai đứa em tôi lại cùng tru lên theo mẹ. Mẹ bảo chúng tôi: “Ra ngoài đi Frankie, ra ngoài đi Malachy. Các con không nên ở gần bố những lúc như thế này. Các con cứ chơi ngoan dưới sân”.
Chúng tôi không ngại phải xuống sân chơi, ở đó, mấy đứa có thể chơi với từng đống lá khô được vun lại trong sân hay cũng có thể giúp nhau đẩy chiếc xích đu. Nhưng sau đó, mùa đông đã ập đến đại lộ Classon và chiếc xích đu cũng bị chết cóng, nó thậm chí chẳng thèm nhúc nhích. Minnie MacAdorey nói: “Chúa phù hộ cho nhũng đứa trẻ đáng thương của tôi. Cả mấy đứa không có đến một chiếc bao tay”. Điều này khiến tôi bật cười bởi tôi biết rõ Malachy và tôi có tất cả bốn cái tay, thật ngu xuẩn nếu chỉ có một cái, chẳng biết cô ấy định làm gì với nó. Malachy không biết vì sao tôi cười: Nó chẳng biết gì mãi cho tới khi lên bốn, lên năm.
Minnie mang cho chúng tôi ít trà và cháo đặc với một chút mứt. Chú MacAdorey ngồi trong chiếc ghế bành cùng cô con gái mới sinh của họ - Maisie. Tay chú cầm bình sữa và khẽ hát:
Vỗ tay nào, vỗ tay nào
Cho tới khi cha về đến cửa
Với một chú sóc con trong túi
Bởi Maisie của bố có một mình
Vỗ tay nào, vỗ tay nào
Cho tới khi cha về đến cửa
Bởi bố Maisie có tiền trong túi
Còn mẹ em lại chẳng có gì.
Malachy cố hát lại bài hát này nhưng tôi bảo nó thôi ngay, đấy là bài hát của Maisie. Thằng bé bắt đầu khóc thì Mannie nói: “Thôi nào, thôi nào cậu bé. Cháu có thể hát bài hát này mà. Nó dành cho tất cả trẻ con”. Chú MacAdorey nhìn Malachy mỉm cười còn tôi thì tự hỏi cái thế giới kiểu quái gì mà cứ hễ muốn là hát luôn bài hát của người khác như thế.
Minnie nói: “Đừng có gắt gỏng thế Frankie, nó khiến mặt cháu nom khó coi lắm. Mà thề có Chúa, bình thường nom đã khó coi lắm rồi đấy nhé. Một ngày kia cháu sẽ có em gái và cháu cũng sẽ hát bài hát đó cho em cháu, ơ, chắc chắn cháu sẽ có em gái đấy”.
Minnie đã nói đúng và mẹ đã thỏa nguyện được ao ước của mình. Chẳng bao lâu sau chúng tôi có thêm em gái, họ gọi nó là Margaret. cả nhà đều yêu quí Margaret. Cô bé có mái tóc loăn xoăn đen lánh và cặp mắt xanh thẳm của mẹ. Nó cứ vỗ vỗ hai bàn tay nhỏ xíu rồi kêu líu ríu như lũ chim non vẫn đậu trên những hàng cây dọc theo đại lộ Classon. Minnie nói cái ngày mà cô bé được sinh ra đúng là một ngày hội trên thiên đường. Bà Leibowitz lại nói thế giới này chưa tùng được chiêm ngưỡng đôi mắt đẹp, nụ cười dễ thương và niềm hạnh phúc nào ngọt ngào đến thế. “Con bé khiến tôi cảm thấy rộn ràng chỉ muốn nhảy lên một điệu”, bà nói.
Khi cha về nhà sau một ngày dài tìm việc, ông ôm Margaret trong tay và hát cho cô bé nghe. Bố cứ đi vòng quanh bếp với con bé rồi lại nói chuyện với nó. Bố nói cho nó hay nó đáng yêu biết nhường nào với những lọn tóc đen óng và đôi mắt xanh thẳm của mẹ. Bố nói với nó bố sẽ đưa con bé về Ailen và họ sẽ cùng đi dạo trong thung lũng Antrim, cùng bơi dưới vịnh Neagh. Và rằng bố sẽ nhanh chóng có việc, rất nhanh, để con gái cưng của bố được diện những bộ váy xinh đẹp, được đi những đôi giầy có khóa bằng bạc và có nhiều sữa để uống.
Bố hát càng nhiều thì Margaret càng ít khóc và thậm chí khi một ngày sắp trôi qua, con bé lại bắt đầu cười rất vui. Mẹ nói: “Xem cái kiểu ông ấy nhảy với con bé trong vòng tay kìa”, và mẹ cười rũ ra khiến chúng tôi cũng cười theo.
Mỗi khi hai đứa em sinh đôi của tôi khóc lúc chúng còn nhỏ xíu thì bố mẹ tôi lại “suỵt” để chúng nín và có thể tiếp tục ngủ. Nhưng khi Margaret khóc, tôi có cảm giác như một nỗi cô đơn khủng khiếp trào dâng trong không gian, bố tỏ ra rất lo cho con bé, bế nó lên tay rồi nhảy một điệu nhẹ nhàng xoay quanh chiếc bàn, hát cho nó nghe, làm những tiếng động giống như mẹ tôi vẫn làm để dỗ nó. Khi bố lướt ngang qua cửa sổ, nơi mà ánh đèn đường hắt vào, tôi trông thấy nước mắt lăn trên má ông, và thật lạ bởi ông chưa khóc vì ai bao giờ, chỉ trừ những lúc ông say rượu và hát các bài hát về Kevin Barry hay về Roddy McColey. Giờ tôi lại thấy bố khóc vì Margaret nhưng không hề có mùi rượu trên người ông.
Mẹ nói với Minnie MacAdorey: “Cứ mỗi khi chơi với con bé, bố nó cứ như đang sống ở thiên đường vậy. Anh ấy thậm chí không đụng đến một giọt rượu nào kể từ khi có nó. Lẽ ra chị phải có một đứa con gái từ lâu mới phải”.
Minnie nhận xét: “Ôi a, chúng mới đáng yêu có phải không chị? Đã đành mấy cậu nhóc này quan trọng rồi nhưng quả thật em thấy chị cần có một cô bé dễ thương cho riêng mình như thế này kia”.
Mẹ cười lớn: “Cho riêng chị á Minnie? Có Chúa trên trời làm chứng, nếu chị không cho nó bú thì chị chẳng có lý do gì để đến bên con bé vì bố nó cứ kè kè ôm chặt lấy con bé từ sáng đến tối rồi lại đến sáng hôm sau ấy chứ”.
Minnie cũng phải bật cười: “Ôi trời, thế hả chị? Thế cũng hay chứ sao, cũng vậy cả mà. Bố nó cứ như bị bỏ bùa ý chị nhỉ. Một con bé dễ thương như thế thì ai chẳng thích”.
Ai cũng thích.
Hai đứa em sinh đôi của tôi đã chập chững đứng được và đang tập đi, hai thằng hết vấp rồi lại ngã khiến mẹ tôi chẳng được yên. Mông của hai thằng mới khiếp, lúc nào cũng ướt nhẹp, không ị đùn thì đái dầm. Chúng cứ vớ được cái gì là đút tuột vào mồm, chẳng kể bẩn sạch, một mẩu giấy, một nhúm lông gà, dây giày... để rồi luôn kêu đau bụng. Mẹ bảo lũ chúng tôi khiến mẹ sắp phát điên đến nơi rồi. Mẹ mặc quần áo cho hai đứa, đặt chúng vào xe đẩy còn tôi và Malachy mang chúng xuống sân chơi. Mùa đông đã qua, những chồi non đã trổ trên hàng cây dọc theo đại lộ Classon.
Chúng tôi đẩy chiếc xe nôi của bọn trẻ chạy đua với nhau trong sân chơi, hai chú nhóc cười như nắc nẻ, miệng không ngớt kêu: “goo-goo” cho tới khi chúng thấy đói và bắt đầu khóc. Mẹ đã chuẩn bị sẵn hai bình đựng nước đường bỏ trên xe đẩy, nhưng chúng chỉ dỗ được hai thằng trong một lát, cho tới khi chúng thấy đói trở lại và bắt đầu khóc thì quả tình tôi chẳng biết làm thế nào. Bởi các em tôi còn quá nhỏ, tôi ước sao có thể cho chúng tất cả các loại thức ăn để chúng có thể vui vẻ cười và kêu những tiếng kêu của trẻ nhỏ. Chúng thích ăn những đồ mềm mà mẹ vẫn làm từ thịt lợn, bánh mì nhúng nước đường và sữa. Mẹ gọi đấy là món bánh mì hạnh phúc.
Nếu tôi đem hai đứa em về lúc này thể nào cũng bị mẹ la vì cái tội không cho mẹ yên hoặc đánh thức Margaret dậy. Chúng tôi phải ở dưới sân cho tới khi mẹ thò cổ ra ngoài cửa sổ và gọi mấy đứa lên. Tôi cố làm bộ mặt cười để chọc vui cho hai thằng em thôi khóc. Tôi lấy một mảnh giấy đặt trên đầu và để nó rơi lả tả cũng khiến chúng cười được một lúc. Trao chiếc xe nôi cho Malachy, tôi quay sang chơi đu với Freddie Leibowitz. Trong khi đó Malachy đang cố kể cho Freddie câu chuyện về Setanta trở thành Cuchulain. Tôi bảo nó phải dừng ngay vì đó là câu chuyện của tôi. Nhưng Malachy vẫn thao thao bất tuyệt. Tôi đẩy nó một cái thế là thằng bé khóc váng lên: “Oa, oa, oa, em sẽ mách mẹ cho coi”. Freddie đẩy thật mạnh khiến tôi tối sầm mặt mũi, vậy là tôi nổi điên lên, xông vào nó với nắm đấm, đầu gối và khuỷu tay cho tới khi nó gào lên: “Hey, hey, dừng lại. Thôi đi, tao không chịu được nữa rồi. Có phải tại tao đâu”. Nhưng tôi không chịu dừng vì nếu thế, Malachy lại cứ đem chuyện của tôi đi kể cho cái thằng này. Freddie đẩy tôi ra rồi chạy mất dạng, vừa chạy vừa gào toáng lên: “Frankie giết con. Frankie giết con”. Tôi chẳng biết làm gì bởi tôi chưa từng có ý định giết ai bao giờ. Còn Malachy của tôi thì ngồi trên xích đu mếu máo: “Đừng giết em Frankie nhé”. Nom nó thật tội nghiệp, tôi chạy lại ôm lấy em rồi giúp nó bước xuống đất. Malachy ôm chặt tôi nức nở: “Em sẽ không kể chuyện của anh nữa đâu. Em sẽ không kể cho Freddie về Coo, Coo nữa, úc, úc”. Tôi buồn cười quá nhưng không thể cười được vì hai thằng em trong xe nôi lại khóc váng. Trên sân chơi, trời đã xâm xẩm tối. Đến lúc này thì tôi chịu vì có làm mặt cười hay để giấy rơi trên đầu cũng vô ích bởi bọn trẻ còn nhìn thấy gì khi trời tối thế này?
Cửa hàng thực phẩm của ông người Ý nằm ở phía bên kia con phố, đứng ở đây tôi có thể trông thấy chuối, táo và cam ông ta bày trên sạp. Tôi biết đứa em tôi rất thích ăn chuối. Malachy cũng thích chuối và tôi cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng phải có tiền mới mua được chuối, ông bán hàng sẽ không biết được nếu tôi lỉnh vào lấy trộm vài quả chuối, đặc biệt là bố mẹ tôi càng không biết, khi mà họ đã sẩn nợ cửa hàng đó tiền thực phẩm.
Mẹ liên tục dặn tôi rằng không bao giờ được rời khỏi sân chơi, không bao giờ, trừ khi chúng tôi về nhà. Nhưng tôi phải làm gì đây với hai thằng em trong xe nôi cứ khóc oe oe vì đói thế này? Tôi bảo Malachy tôi đi đằng này một lát và sẽ về ngay với các em. Khi biết chắc không có ai trông thấy, tôi chụp vội một nải chuối được bày phía ngoài cửa hàng thực phẩm rồi chạy xuống đại lộ Myrtle, cách xa sân chơi, len lỏi giữa các khối nhà, tới một khu nhà hoang, ở đó có một cái hốc trong hàng rào. Chúng tôi đẩy chiếc xe nôi vào góc tối rồi bóc chuối cho hai đứa em. Có năm quả cả thảy, hai đứa tôi cho bọn trẻ ăn trong bóng tối. Hai thằng bé ăn một cách vụng về khiến chuối dính nhoe nhoét đầy mặt, tóc và cả quần áo của chúng. Lúc này tôi mới giật mình vì thể nào cũng bị hỏi. Mẹ sẽ hỏi chúng tôi tại sao trên áo các em tôi lại giây đầy chuối như thế, và chúng tôi lấy chuối ở đâu ra? Tôi không thể nói với mẹ câu chuyện về cửa hàng tạp phẩm bên đường. Tôi sẽ phải trả lời... có một người!
Đúng rồi, tôi sẽ nói có một người.
Và điều kỳ diệu đã xảy ra. Có một ông đứng ở cổng sân chơi, o, Chúa ơi, cái ông người Ý. Ông ấy gọi tôi: “Hey, cậu cả, lại đây với bác, lại đây”.
Tôi sẽ đến chỗ ông ta.
Tụi nhỏ đang kêu khóc là em cháu hả? Vâng ạ. Tốt. Cháu cầm lấy túi hoa quả này cho chúng đi. Nếu bác không cho các cháu thì cũng phải bỏ đi thôi. Đúng không? ơ, được đấy, tốt lắm, cầm lấy đi cháu. Bác có rất nhiều táo, cam và chuối ở đây. Có vẻ như các cháu thích chuối thì phải. Bác nghĩ các cháu thích nhất là chuối đấy. Ừ, đúng rồi, cầm lấy đi cháu. Các cháu có một bà mẹ tuyệt vời đấy. Còn bố các cháu ư? Bác biết ông ấy, hình như ông ấy gặp vấn đề phải không? Mấy chuyên cố hữu của người Ailen ý mà. Cháu cho các em ăn chuối đi. Đừng để chúng khóc như thế nữa cháu à. Từ bên này phố, bác đã nghe văng vẳng tiếng chúng khóc rồi đấy. Cháu cảm ơn ngài. Thôi nào, cái thằng bé này khách sáo thế? Cháu học ở đâu phép lịch sự như vậy? Dạ thưa ngài, bố cháu vẫn dạy bọn cháu phải nói cám ơn ạ. Bố các cháu à? 0, tốt đấy. Bố đang ngồi chăm chú xem báo bên bàn ăn. Ông bảo tổng thống Roosevelt là một người tuyệt vời và chẳng bao lâu nữa cả nước Mỹ sẽ giải quyết được nạn thất nghiệp. Mẹ ngồi phía bên kia bàn, đang cho Margaret bú bình. Bà có một cái nhìn dò xét khiến tôi cảm thấy sợ.
Con lấy đâu ra hoa quả cho các em ăn như thế? Ông ấy cho con. Ông nào? Cái ông người Ý bán hàng bên kia đường đấy mẹ. Có phải mày ăn trộm của người ta không? Malachy chen vào: “Ông người Y đấy mẹ ạ. Ông ấy đã cho Frankie một túi chuối thật mà”.
Thế mày đã làm gì với Freddie Leibowitz? Mẹ nó vừa ở nhà mình đấy. Bà ấy là một người đáng mến. Mẹ không biết nhà mình sẽ ra sao nếu không có sự giúp đỡ của bà ấy và Minnie MacAdorey đâu. Còn mày sao lại bắt nạt Freddie đáng thương thế hả? Malachy nhảy choi choi: “Anh không làm thế đâu mẹ. Anh không làm gì đâu mẹ. Frankie đâu có định giết Freddie. Không định giết cả con nữa”.
Bố chậm rãi lên tiếng: “Trật tự nào Malachy. Con lại đây với bố”, thế rồi ông nhấc thằng bé vào lòng.
Mẹ quát tôi: “Xuống nhà mà xin lỗi Freddie ngay cho tôi nhờ”.
Nhưng bố lại bảo: “Con có thật sự muốn nói lời xin lỗi với Freddie không hả Frankie?”.
Không ạ. Bố mẹ tôi nhìn nhau lạ lẫm. Bố phân trần: “Freddie là một cậu bé ngoan. Nó có làm gì con đâu, thậm chí còn đẩy xích đu cho em con chơi dưới sân là gì. Có đúng không con?
Úc, nhưng bố bảo cho mày biết nhé. Frankie nó không quan tâm đến truyện Cuchulain đâu. Nó có câu chuyện của nó. Hàng trăm truyện chẳng hết ý chứ. Nó là người Do Thái, con hiểu chứ? Do Thái gì cơ ạ? Bố phá lên cười: “Do Thái là... là người Do Thái. Họ có những câu chuyện của họ. Họ chẳng cần Cuchulain của con đâu. Họ có Moses, có Samson”.
Samson là gì hả bố? Nếu con xuống dưới nhà dàn hòa với Freddie, bố sẽ kể cho con câu chuyện về Samson. Con có thể xin lỗi Freddie và hứa với cậu ấy rằng con không bao giờ xử sự như thế nữa. Thậm chí con có thể hỏi Freddie câu chuyện về Samson. Con sẽ có những gì con muốn chừng nào xuống xin lỗi Freddie. Thế đã được chưa nào? Em bé bắt đầu ọ oẹ khóc trên tay mẹ tôi. Ngay lập tức bố chồm dậy khiến Malachy lăn lông lốc dưới sàn nhà: “Con bé có sao không em?”. Mẹ thản nhiên bảo bố: “Tất nhiên là ổn cả. Nó đang bú, trẻ con mà lị. Chúa ơi, nhìn anh kìa, cứ như thể sắp phát khùng lên ý!”
Họ lại tiếp tục tranh cãi nhau về Margaret và thế là chuyện của tôi bị bỏ quên. Tôi chẳng quan tâm. Tôi chạy xuống nhà để hỏi Freddie về Samson, để xem Samson có hay bằng Cuchulain của tôi không, để xem có thực Freddie có chuyện thật không hay nó chỉ tìm cách ăn cắp chuyện Cuchulain. Malachy muốn đi theo tôi bởi lúc này bố đang đứng nên nó không còn ngồi trong lòng bố được nữa.
Bác Leibowitz vui vẻ đón chúng tôi: “Ồ, Frankie, Frankie, vào đi cháu. A, Malachy xinh xắn cũng xuống chơi đấy hả. Nào, cháu cho bác hay xem cháu đã làm gì Freddie. Nó ngoan lắm cháu có biết không. Nó chỉ biết đọc sách, nghe đài với bố, nó còn chơi xích đu với em cháu. Thế sao cháu lại định giết nó? Freddie ơi là Freddie! Còn cả bà mẹ đáng thương và em gái ốm yếu của cháu nữa chứ”.
Em cháu có ốm đâu thưa bác Leibowitz. Cô bé đang ốm đấy cháu ạ. Zat là một đứa bé không được cứng cáp lắm. Bác biết những đứa trẻ ốm là thế nào mà. Bác làm trong bệnh viện cháu hiểu không? Đừng nói với bác là cháu biết hơn bác nhé Frankie. Vào đi, vào đi các cháu. Freddie, Freddie, Frankie đây này. Ra đây con. Frankie sẽ không giết con đâu mà sợ. Nào, Malachy bé nhỏ của bác vào đây cháu. Thằng bé có cái tên đẹp ghê! Bánh ngọt nhé các cháu? A, mỗi đứa một cốc sữa nghe. Hai thằng gầy quá, người Ailen không ăn uống gì hay sao? Chúng tôi ngồi chung một bàn với Freddie, ăn bánh và uống sữa. Bác trai ngồi đọc báo và nghe đài trên chiếc ghế bành. Thỉnh thoảng, bác quay sang nói chuyện với vợ nhưng tôi chẳng hiểu họ nói gì với nhau bởi họ nói với nhau bằng một thứ ngôn ngữ rất lạ. Hình như Freddie hiểu.
Bác gái nhìn tôi và Malachy lắc đầu buồn bã: “Ôi, gầy quá”. Bác cứ lặp đi lặp lại từ “ôi” khiến Malachy buồn cười và cũng nói “ôi”. Thế là cả nhà cùng cười phá lên và bác Leibowitz lại nói những cáu mà chúng tôi có thể hiểu được: “Khi người Ailen nói ôi, có nghĩa là họ đang cười đấy”. Bác gái cười nhiều đến nỗi người bác cứ nghiêng ngả, một lúc sau bác phải ôm chặt lấy bụng. Còn Malachy cứ liên tục nói “ôi” vì nó biết mọi người sẽ cười. Tôi cũng nói “ôi” nhưng chẳng ai cười cả và tôi biết từ “ôi” đã thuộc về Malachy cũng giống như Cuchulain thuộc về tôi. Như vậy Malachy đã có “ôi”!
Bác Leibowitz ạ, bố cháu bảo Freddie có chuyện hay lắm. -Ôi! Sam, Sam. - Malachy thêm vào. Mọi người lại nghiêng ngả cười trừ có tôi bởi tôi không nhớ tiếp theo Sam là gì. Freddie vừa trệu trạo nhai bánh vừa nói: “Samson”. Ngay lập tức mẹ nó nhắc: “Con đừng bao giờ nói chuyện trong lúc đang nhai đầy chuột như thế”. Tôi cười phá lên bởi bà nói chệch âm tiếng Anh, đáng lẽ phải nói từ miệng thì bà lại nói thành chuột 1. Malachy cũng cười bởi nó thấy tôi cười. Hai vợ chồng bác nhìn nhau rồi cười. Freddie nói: “Không phải Samson đâu. Chuyện tớ thích là David và người khổng lồ Goliat cơ. David đã giết chết người khổng lồ bằng súng cao su với một viên đá bắn trúng đầu hắn. Rơi cả óc xuống đất đấy nhé”.
-Khiếp thật, rơi đầy cả dưới đất - bác Leibowitz thêm vào.
-Vâng, đúng đấy ba ạ.
“Ba” là cách mà Freddie gọi cha nó, còn tôi gọi cha tôi là “Bố”.
Tiếng thì thầm của mẹ khiến tôi tỉnh giấc. Hình như có chuyện gì xảy ra với em gái tôi. Lúc đó còn rất sớm và dường như trời còn chưa kịp sáng nhưng tôi đã thấy bố đứng bên cửa sổ cùng với Margaret trên tay. Ông đang nhẹ nhàng nựng con bé và khẽ hát, “úc”.
Mẹ nói khẽ nhưng giọng có vẻ bất an: “Con bé có sao không anh? Có phải nó bị ốm không anh?”.
- Ức! - nó nằm im trên tay bố, hình như người nó có vẻ hơi lạnh.
Mẹ đã ra khỏi giường và bế nó thay bố. Họ định mang em tới bác sĩ. Hình như bố mẹ tôi chỉ còn trông chờ vào lòng nhân từ của Chúa. Tôi thấy bố bỏ vội áo vào trong quần, không áo khoác, không giày, không tất trong cái ngày lạnh giá ấy.
Còn bọn tôi thì đợi trong phòng, hai cậu em sinh đôi vẫn ngủ ngon lành phía cuối giường, Malachy thì đang ngọ nguậy cạnh tôi: “Frankie, em muốn uống nước”. Mẹ đang cuống cuồng bên giường mình: “Ôi, Margaret, Margaret bé bỏng của mẹ. Con yêu, hãy mở đôi mắt xanh xinh đẹp ra nhìn mẹ đi nào. Thiên thần bé bỏng của mẹ”.
Tôi rót đầy một cốc nước cho tôi và Malachy. Mẹ tôi trông thấy lại rền rĩ: “Con lấy nước cho con và em đấy ư? Ôi trời ơi, nước đấy phải không? Chẳng có gì cho em gái các con đây này. Ôi, đứa em gái bé bỏng tội nghiệp của các con. Các con có bao giờ hỏi xem nó có miệng hay không? Có tự hỏi xem nó có cần một giọt nước hay không? o, không đâu. Thôi, đi mà uống nước của chúng mày đi, cứ như thể chẳng có gì xảy ra vậy. Lại một ngày như bao ngày của hai đứa chúng mày bắt đầu? Và hai đứa trẻ sinh đôi kia vẫn cứ ngủ như thể chúng không thèm quan tâm đến cô em gái bé bỏng, đáng thương của chúng đang ốm trên tay mẹ nó đây này. Nó nằm ốm yếu trên tay mẹ đây này, các con có thấy không? Ôi, Chúa Jesus nhân từ ôi”.
Tại sao mẹ lại nói như thế nhỉ? Mẹ nói cứ như thể hôm nay không còn là mẹ của tôi nữa. Tôi muốn có bố ở đây, bố đâu rồi?
Tôi quay trở về giường và bắt đầu khóc. Malachy hỏi: “Sao anh lại khóc? Sao anh khóc?”. Tôi khóc cho đến khi mẹ quay sang tôi lần nữa: “Em gái mày đau ốm nằm đây mà cứ ngồi đấy rên rỉ như thế sao? Nếu để mẹ phải sang bên giường thì mày đúng là có lý do để phải khóc đấy”.
Bố đã dẫn bác sĩ về. Người bố có mùi whisky. Bác sĩ bắt đầu khám cho em tôi: ông tìm cách lay cho nó tỉnh; kéo mí mắt con bé lên; sờ nắn cổ; tay và chân của nó. Thế rồi ông ngẩng đầu lên và buồn bã lắc đầu: “Tôi rất tiếc, cô bé đã chết rồi, thưa ông bà”. Mẹ bò đến cạnh em, ôm chặt lấy nó rồi quay vào tường. Ông bác sĩ muốn biết xem liệu có phải đã có tai nạn gì đó xảy ra với em tôi không, có ai đánh rơi nó xuống đất hay có phải tụi tôi đã đùa hơi quá với nó không?
Cha tôi lắc đầu một cách vô hồn. Bác sĩ nói ông sẽ mang con bé đi để khám pháp y và bố phải ký vào một tờ giấy. Mẹ tôi van nài ông xin được ôm con bé thêm một vài phút nữa nhưng bác sĩ nói ông không có thời gian để ở đây cả ngày. Khi bố đến gần mẹ để bế Margaret, mẹ tôi đã chống lại như điên dại. Trông bà khi đó thật hoang dã, những lọn tóc đen của bà rủ xuống trán, khuôn mặt mẹ tôi ướt đầm mồ hôi, đôi mắt bà mở trừng trừng, lấp lánh những giọt nước mắt. Mẹ cứ lắc đầu liên tục và không ngừng gào thét: “Ôi, Chúa ơi, không!” cho đến khi bố lấy được Margaret khỏi tay bà. Bác sĩ gói Margaret trong một chiếc chăn kín mít còn mẹ tôi thì khóc rất to: “Oi Chúa ơi, ông làm con bé chết ngạt mất. Lạy Chúa, lạy Đức mẹ và Thánh Josep, xin người cứu con”. Sau khi ông bác sĩ ra khỏi nhà, mẹ chỉ quay vào tường, không cử động, không thốt ra một lời. Hai đứa em sinh đôi của tôi đã thức giấc, chúng bắt đầu khóc vì đói, nhưng bố vẫn đứng bất động giữa nhà, ngửa cổ nhìn lên trần, sắc mặt bố trắng bệch, ông cứ lấy tay đấm vào đùi mình. Thế rồi bố đến giường chúng tôi, đặt tay lên đầu tôi. Tôi thấy rõ tay bố run rẩy như thế nào: “Francis, bố ra ngoài hút điếu thuốc đây”.
Cả ngày, mẹ chỉ nằm im bất động trên giường, Malachy và tôi lại đổ đầy nước đường vào mấy cái bình mút. Chúng tôi tìm thấy một mẩu bánh mì cũ và hai khúc lạp xường trong bếp. Bọn tôi không thể uống trà bởi sữa đã lên men chua trong tủ đá, khi đá đang tan và ai cũng biết rằng không thể uống trà mà không có sữa, trừ khi bố cao hứng cho một tợp trong lúc ông đang kể cho bạn nghe câu chuyện về Cuchulain.
Hai đứa bé đã bắt đầu kêu đói. Nhưng tôi biết, chúng tôi không có nước đường cho chúng uống cả ngày như thế. Tôi đun sữa ôi trong cái xoong nhỏ, xé mẩu bánh mì mốc còn lại bỏ vào đó rồi cố gắng đổ ra tách cho chúng uống, theo cái kiểu mà mẹ gọi là bánh mì hạnh phúc. Chúng làm bộ không thèm ăn, chạy về giường mẹ và kêu khóc. Nhưng mẹ vẫn quay mặt vào tường, thế là hai đứa lại chạy về chỗ tôi, miệng vẫn không thôi gào khóc. Chúng không chịu ăn cái món đó, cho tới khi tôi khử cái mùi thiu bằng cách cho đường vào. Giờ thì chúng ăn một cách ngon lành và bôi bánh nhoe nhoét đầy mặt. Malachy cũng muốn ăn một ít và nếu như nó ăn được thì tôi cũng phải được ăn. Tất cả chúng tôi ngồi bệt dưới sàn ăn món bánh mì và nhai trệu trạo khúc lạp xường nguội ngắt rồi cùng uống nước mẹ tôi đổ vào chai sữa đặt trong tủ đá.
Sau khi mấy đứa ăn uống xong, chúng tôi phải xuống phòng vệ sinh dưới nhà nhưng không vào được trong vì bác Leibowitz đang rặn ị và hát rất to trong đó. Bác bảo chúng tôi: “Mấy cậu nhỏ đợi bác một tí nhé. Không mất đến hai giây đâu”. Malachy vỗ tay và nhảy vòng vòng, vừa nhảy vừa hát. “Đợi bác một chút nào, các cháu yêu của ta”. Thế rồi bác mở cửa phòng vệ sinh bước ra: “Trông nó kìa, cứ như thể một nghệ sĩ thực thụ ý. À, mẹ các cháu thế nào rồi?”.
-Mẹ cháu vẫn nằm trên giường bác Leibowitz ạ. Bác sĩ đã đem Margaret đi rồi còn bố cháu thì ra ngoài hút thuốc.
-Ô, Frankie, Frankie, thấy chưa nào. Bác đã nói em cháu bị ốm có đúng không?
Malachy cứ nhấp nhổm không yên, nó túm chặt lấy quần rồi hét: “Buồn tè quá, buồn tè quá!”.
-Ừ, các cháu đi tè đi rồi chúng ta lên xem mẹ các cháu ra sao rồi.
Sau khi chúng tôi tè xong, bác Leibowitz theo mấy đứa lên thăm mẹ. “Ôi, bà McCount. Ôi, em gái ngoan. Nhìn bọn trẻ mà xem. Cô thử xem hai đứa sinh đôi của cô xem nào. Sao chúng nó lại cởi truồng thế này. McCount này, xảy ra chuyện gì thế? Con bé ốm có phải không? Nói với tôi một câu xem nào. Cô em đáng thương của tôi. Quay mật lại tôi xem nào. Cô thử nói tôi nghe. Sao lại ra nông nỗi này. Nói đi cô McCourt”.
Bác giúp mẹ tôi ngồi dựa lưng vào tường. Nom mẹ như bé hẳn đi. Bác Leibowitz nói bác sẽ mang lên ít xúp và bảo tôi lấy ít nước để rửa mặt cho mẹ. Nhúng chiếc khăn mặt vào nước lạnh rồi xoa nhẹ lên trán mẹ. Mẹ ấp chặt bàn tay tôi vào má mình: “Ôi, Chúa ôi, Frankie. Chúa ôi”. Mẹ cứ giữ chặt tay tôi như thế khiến tôi sợ quá bởi tôi chưa từng chứng kiến bà như vậy bao giờ. Bà gọi “Frankie” chỉ bởi vì bà đang cầm tay tôi nhưng thật sự tâm trí bà đang nghĩ đến Margaret chứ không phải tôi. “Em gái bé bỏng của con đã chết rồi, Frankie ạ, nó chết rồi. Thế bố con đâu?” Bà buông tay tôi xuống: “Mẹ hỏi bố con đâu? Chắc lại đang đi uống, ông ấy chỉ có thế thôi, cứ có tiền là uống rượu, có tiền là uống rượu”. Bà ngả người ra sau, đầu đụng vào tường và hét lên: “Nó đâu? Nó đâu rồi? Con bé con của tôi đâu rồi? Ôi lạy Chúa, lạy Đức mẹ và Thánh Joseph, xin Người cứu vớt con đêm nay. Con sẽ phát điên mất thôi, con điên thật rồi”.
Bác Leibowitz sáp tới bên mẹ: “Có chuyện gì thế? Con bé con đâu? Nó đâu rồi em?”.
-Chết rồi, nó chết rồi bà Leibowitz ơi! - Mẹ hét lên - Nó đập đầu ra đằng sau. Lúc nửa đêm ấy, trong xe nôi của nó bà Leibowitz ạ. Lẽ ra tôi phải trông nó cẩn thận mới phải chứ. Chỉ có bảy tuần ngắn ngủi nó tồn tại trên thế giới này rồi lại vội vã ra đi cô đơn trong đêm như thế. Con bé cô đơn quá bà Leibowitz ơi.
Bác Leibowitz ôm chặt mẹ trong tay vỗ về: “Nín đi nào, nín đi. Bọn trẻ là như thế đấy. Chuyện chẳng lành xảy ra thì cứ xem như nó sớm được về với Chúa thôi”.
- Trong cái xe nôi ý bà Leibowitz ạ. Nếu tôi bế nó lên ngay thì đâu có đến nỗi, chắc chắn nó không phải chết đúng không bà? Chúa cần gì đến bọn trẻ con bé như thế đâu. Tôi không biết Chúa định làm gì với đứa trẻ mới sinh như thế kia chứ?
-Tôi không rõ. Tôi không biết gì về Chúa cả. Cô uống một chút xúp đi. Xúp ngon đấy. Cô uống đi cho lại sức. Lấy cho bác cái bát, bác lấy xúp cho.
-Bát là cái gì hả bác Leibowitz?
- Ô Frankie. Cháu không biết bát để làm gì à? Để bác lấy xúp, cậu bé ạ. Thế cháu không có bát à? Thế lấy mấy cái tách ra đây cũng được. Bác sẽ pha xúp đậu Hà lan với xúp đậu lăng. Không có giămbông đâu. Bác biết người Ailen thích ăn giămbông. Không có giămbông Frankie ạ. Nào uống đi cô, uống chút xúp đi nào.
Bác dùng thìa bón xúp cho mẹ, lau những giọt chảy xuống cằm. Trong khi đó, tôi và Malachy ngồi húp bằng ca dưới sàn nhà. Chúng tôi bón xúp cho hai đứa em. Xúp của bác thật thơm ngon và nóng hổi. Mẹ tôi không bao giờ nấu xúp như vậy và tôi tự hỏi liệu có dịp nào bác Leibowitz biến thành mẹ tôi. Freddie sẽ biến thành tôi và sẽ có bố mẹ tôi nữa, nó cũng sẽ có các em là Malachy và hai đứa sinh đôi. Nó không thể có Margaret được bởi con bé đã bị mang đi rồi, giống con chó trên phô dạo nọ, cũng bị người ta mang đi. Tôi không hiểu sao người ta lại mang con bé đi. Mẹ vừa nói nó đã chết trong chiếc xe nôi, thế thì chẳng khác gì bị xe cán, bởi cũng đều bị mang đi cả.
Tôi ước sao Margaret bé bỏng cũng ở đây để thưởng thức món xúp như chúng tôi. Tôi có thể dùng thìa bón cho nó theo cách mà bác Leibowitz đang bón cho mẹ, nếu bình thường thì mẹ đã cười trêu bố theo cái kiểu mà hai người vẫn đùa nhau. Lẽ ra mẹ không nên khóc nữa và cũng không nên nằm bẹp trên giường tối ngày như vậy. Lẽ ra bố phải kể cho tôi nghe chuyện Cuchulain và tôi cũng không nên muốn bác Leibowitz biến thành mẹ tôi như thế. Bác Leibowitz tốt thật đấy nhưng tôi vẫn thích bố kể tôi nghe những mẩu chuyện về Cuchulain hơn còn Margaret thì kêu chiêm chiếp và mẹ tôi thì cười lớn khi thấy bố nhảy quanh nhà.
Minnie MacAdorey cũng sang giúp. “Đức mẹ đồng trinh, bà Leibowitz có thấy hai thằng bé sinh đôi kia đang bốc mùi tới tận thiên đường không?”.
Tôi không biết gì về Đức mẹ, Minnie ạ, nhưng phải tắm cho hai thằng này thôi. Chúng cần phải thay tã sạch. Frankie, tã sạch ở đâu hả cháu? Cháu không biết. Minnie than thở: “Chúng được quấn giẻ rách thay vì phải quấn tã. Để tôi sang bên nhà Maise lấy một ít vậy. Frankie, cháu gỡ cái đống giẻ này ra cho cô rồi vứt luôn đi nhé”.
Malachy tháo đống giẻ trên người Oliver còn tôi thì vật lộn với đống giẻ trên người Eugene. Cái ghim cài bị kẹt, khi thằng bé ngọ nguậy thì nó lại lùng thùng và đâm vào hông nó, thằng bé gào toáng lên đòi mẹ. Nhưng Minnie đã quay lại với một cái khăn tắm lớn, một cục xà phòng và nước nóng. Tôi giúp cô rửa những mảng cứt khô trên mông chúng và rắc phấn rôm lên làn da khô của bọn trẻ. Sau khi tắm cho chúng xong, cô ngắm hai thằng rồi ngạc nhiên thốt lên: “Hai đứa trông đáng yêu quá”. Cô xuống nhà rồi bê lên cho chúng tôi một nồi khoai tây nghiền. Trong đó có rất nhiều muối và bơ. Đổ ăn ngon quá khiến tôi lại bắt đầu mơ mộng xem có khả năng nào Minnie trở thành mẹ tôi, đến lúc đó tôi có thể được ăn như thế này suốt ngày. Và nếu như cùng một lúc tôi có bác Leibowitz và cô Minnie làm mẹ thì tôi sẽ có vô số xúp và khoai tây để ăn.
Minnie và bác Leibowitz ngồi bên bàn ăn. Bác Leibowitz nói cần phải làm một cái gì đấy, bọn trẻ cứ thả ra như thế này thì hỏng hết, không hiểu bố chúng nó đâu cơ chứ? Tôi nghe thấy Minnie bảo bố tôi ra ngoài uống rượu. Bác Leibowitz bảo như thế thì kinh khủng lắm, bác biết người Ailen uống rượu khủng khiếp đến mức nào rồi. Minnie nói Dan chồng cô không bao giờ uống rượu, chẳng bao giờ để ý đến bọn đàn bà con gái ngoài đường. Dan còn nói từ lúc con bé chết, người cha tội nghiệp, Malachy McCourt trở nên mất hổn, cứ tha thẩn dưới đại lộ Flatbush và đại lộ Atlantic, và rằng các quán rượu quanh khu ga xe lửa Long Island luôn quẳng ông ấy ra ngoài đường. Nếu không phải vì cái chết của con gái thì cảnh sát đã nhét ông ấy vào xà lim từ lâu rồi.
Minnie tỏ ra không hài lòng: “ơ đây có đến bốn đứa trẻ ngoan ngoãn, đẹp đẽ là thế, nhưng chừng đó dường như không thỏa mãn được anh ta. Quả thực con nhỏ bé bỏng ấy đã mang đến một điều gì đó thực sự kỳ diệu. Chị biết không, anh ấy không hề đụng đến một giọt rượu kể từ khi nó ra đời”.
Bác Leibowitz muốn biết mấy bà chị họ của mẹ đang ở đâu, những người đàn bà cao lớn cùng với mấy tay chồng lầm lì của họ. Minnie sẽ đi tìm và cho họ biết mấy đứa cháu họ đang bị bỏ bê, lêu lổng và đủ mọi thứ khác.
Hai hôm sau, bố mới trở về nhà sau khi ra ngoài tìm thuốc hút. Quãng độ nửa đêm, nhưng ông kéo tôi và Malachy ra khỏi giường. Người ông còn nặng mùi rượu. Ông bắt hai chúng tôi phải đứng nghiêm trong bếp. Chúng tôi là lính. Ông bảo chúng tôi phải thề rằng sẽ chết vì nền độc lập của Ailen.
Chúng con xin thề, xin thề.
Và rồi cả mấy người cùng nghêu ngao bài hát về Kevin Barry.
Có tiếng gõ cửa: Chú McAdorey. “Ôi, Malachy ôi, vì Chúa, ông biết bây giờ mới ba giờ sáng chứ? Ông đang đánh thức cả khu vì tiếng hát của mình đấy”.
- Ô, Dan đấy à? Tôi chỉ dạy bọn trẻ biết hy sinh vì Ailen thôi.
Ông có thể dạy bọn chúng hy sinh cho Ailen vào ban ngày được không hả Malachy? Cái này khó đây, chúng tôi phải khấn trương lắm mới kịp. Tôi biết, Malachy, nhưng chúng chỉ là trẻ con. Còn thơ dại lắm. Xin ông hãy làm gương cho tụi trẻ mà đi về giường đi. Lên giường hả Dan? Tôi biết làm gì trên giường bây giờ? Cái khuôn mặt bé bỏng của con gái tôi cứ ngày đêm hiển hiện ra đấy, ôi, những lọn tóc đen bóng mượt của nó, còn cả đôi mắt xanh xinh đẹp của nó nữa chứ, đấy, kia kìa. Ôi, lạy Chúa, Dan ơi, tôi làm gì được bây giờ? Phải chăng nghèo đói đã cướp đi đứa con tội nghiệp của tôi hả Dan? -Ông biết là không phải vậy rồi. Mẹ nó vẫn cho nó bú đấy chứ. Chúa đã mang đứa bé đi. Người có những lý do của mình.
-Một bài nữa thôi Dan ạ, rồi chúng tôi sẽ đi ngủ.
- Chúc ngủ ngon nhé, Malachy.
- Thôi nào, các chàng trai. Hát tiếp.
- Các con nguyện sẽ chết vì Ailen chứ?
- Vâng, chúng con sẽ chết, thưa bố. Em trai tội nghiệp của tôi đã đứng gục mặt vào chân bàn và ngủ ngon lành. Bố nhấc nó lên, lảo đảo bước qua căn phòng, đặt em xuống nằm cạnh mẹ. Tôi cũng leo lên giường và bò cũng vậy, chỉ có điều bố để nguyên quần áo như thế, nằm xuống bên tôi. Tôi hy vọng ông sẽ choàng tay ôm tôi nhưng ông vẫn cứ nằm đó mà miệng thì hát những bài hát về Roddy McColey và kể lể về Margaret: “Ôi, con gái bé bỏng của bố, con gái yêu tóc xoăn của bố, mắt con xanh quá. Lẽ ra con phải được mặc đồ nhung lụa và bố sẽ đưa con đến vịnh Neagh”. Cứ như vậy cho đến khi ánh dương le lói ngoài cửa sổ còn tôi ngủ thiếp lúc nào không hay.
Đêm đó, Cuchulain đã đến trong giấc mơ của tôi. Có một con chim xanh rất lớn đậu trên vai ông, nó cứ hát líu lo những bài hát về Kevin Barry và Roddy McColey. Tôi không thích con chim đó bởi khi nó hát, mỏ nó cứ nhỏ ra những giọt máu đỏ tanh nồng. Cuchulain cầm một ngọn giáo trên tay, nó nặng tới mức chỉ có mình ông mới đủ sức phi lên không. Tay kia ông cầm một quả chuối và chim ăn, con chim vừa ăn vừa kêu quang quác, vừa rỏ máu lên người ông. Tôi tự hỏi mình không hiểu tại sao Cuchulain lại có thể có một con chim như thế. Nếu như hai thằng em sinh đôi của tôi nhỏ máu lên tôi khi tôi cho chúng ăn chuối, rất có thể tôi sẽ nện vào đầu chúng cho chừa cái thói ấy đi.
Buổi sáng thức dậy, tôi lại gần bố khi thấy ông ngồi bên chiếc bàn ăn để kể cho ông về giấc mơ của mình. Ông cho tôi hay ngày xưa ở Ailen không hề có chuối, và giả sử là có đi chăng nữa thì Cuchulain cũng không bao giờ cho con chim đó ăn như vậy.
Hầu hết những ngày sau đó, mẹ chỉ nằm trên giường và quay mặt vào tường. Nếu bà có uống trà hay ăn một chút gì đó thì y như rằng lại nôn ra cái xô dưới gầm giường để rồi cứ đều đặn tôi lại đem cái xô đó xuống phòng vệ sinh dưới nhà mà cọ rửa. Bác Leibowitz vẫn mang cho mẹ tôi xúp và những chiếc bánh mì cứ xoắn lấy nhau. Mẹ tôi tìm cách xắt nó ra thành từng khúc nhưng bác cười và nói chỉ cần kéo ra là được. Malachy gọi nó là bánh mì kéo nhưng bác Leibowitz bảo không phải thế, phải gọi là “challah” rồi bác dạy chúng tôi cách phát âm. “Ôi, cái lũ Ailen các người. Các người có thể sống đến hết đời mà chẳng thể nào nói được từ challah như một người Mỹ”, bác tỏ vẻ thất vọng.
Minnie MacAdorey thì cho mẹ tôi khoai tây và bắp cải, đôi khi cô còn cho chúng tôi một ít thịt nữa. Cô vẫn hay an ủi mẹ: “Angela này, em biết bây giờ là giai đoạn khó khăn, nhưng người đàn ông đáng mến đó, ông Roosevelt ấy mà, ông ấy sẽ tìm được việc cho tất cả mọi người và chồng chị rồi sẽ đi làm thôi. Tội nghiệp anh ấy, lỗi là ở cuộc Đại Suy Thoái cơ chị ạ. Anh ấy cũng ngày đêm tìm việc rồi còn gì. Dan chổng em thì may mắn hơn, bốn năm sống trong thành phố mà không mắc vào rượu. Chồng em cũng lớn lên ở Toome như chồng chị nhỉ. Có người nghiện, có người không. Cái đồ Ailen bỏ đi. Thôi, đừng nghĩ nữa chị nhé, giờ chị cố ăn một chút. Cần phải săn sóc đến mình hơn nữa sau những mất mát như vừa rồi Angela ạ”.
Chú MacAcdorey cho bố hay ở WPA đang tuyển người. Thế rồi bố có việc làm ở đó và có tiền chi trả cho việc ăn uống của gia đình. Mẹ cũng ra khỏi giường để tắm rửa cho hai đứa em và lo chuyện bếp núc của cả nhà. Những lúc bố về nhà với mùi whisky và đương nhiên là không còn tiền thì mẹ lại la mắng ông một cách ghê gớm cho đến khi hai thằng nhỏ khóc inh ỏi, Malachy và tôi thì tự hiểu phải làm gì, chúng tôi chạy bắn xuống sân chơi. Vào những đêm như vậy, mẹ tôi lại lê về giường còn bố thì ngồi hát những bài hát buồn về Ailen. Tại sao bố không ôm mẹ và ru mẹ ngủ như ông từng làm với em gái đã mất của tôi? Tại sao ông không hát bài hát dành cho Magaret hay những bài hát để mẹ tôi thôi nhỏ lệ? Ông vẫn bắt Malachy và tôi ra khỏi giường, đứng nghiêm và thề thốt sẽ hy sinh vì Ailen. Vào đêm nọ, ông muốn hai thằng em sinh đôi của tôi cũng phải thề sẽ chết cho Ailen nhưng thật ra chúng chưa biết nói và thế là mẹ mắng bố: “Đồ tàn nhẫn, đồ con hoang; anh mất trí rồi, anh không để lũ trẻ yên được sao?”.
Bố vẫn nói sẽ cho chúng tôi vài xu để mua kem nếu chúng tôi thề sẽ chết vì Ailen. Hai thằng tôi đã thề không biết bao lần những chúng tôi chưa từng có một xu của bố.
Chúng tôi vẫn được bác Leibowitz cho xúp và cô Minnie MacAdorey cho khoai tây nghiền, họ còn dạy chúng tôi cách chăm sóc hai đứa sinh đôi: cách rửa đít cho chúng và làm thế nào để giặt cho sạch tã hay đúng hơn là đống giẻ rách sau khi chúng bĩnh ra đó. Bác Leibowitz gọi nó là tã còn Minnie thì gọi là bỉm nhưng gọi thế nào không quan trọng vì trước sau gì chúng cũng Ị đầy vào đó. Những lúc mẹ nằm trên giường còn bố ra ngoài tìm việc, chúng tôi có thể chơi thỏa sức cả ngày hôm đó. Anh em tôi sẽ mang hai đứa sinh đôi xuống dưới nhà chơi đánh đu cho đến khi chúng bắt đầu khóc lóc đòi ăn. Bác bán hàng người Y đứng bên kia phố gọi tôi: “Hey Frankie, lại đây bác bảo. Qua đường cẩn thận nhé. Hai chú nhóc kia lại đói rồi phải không?”. Thế là bác cho chúng tôi một chút phoma, giămbông, và cả chuối nữa. Nhưng tôi không thể nào nuốt nổi chuối bởi vẫn chưa quên hình ảnh con chim nhỏ máu xuống người Cuchulain.
Người bán hàng nói tên bác ta là Dimino, còn người phụ nữ đứng sau quầy kia là Angela, vợ bác. Tôi nói rằng đó là tên của mẹ tôi. Bác hỏi lại: “Không đùa đâu nhé, có thật mẹ cháu cũng tên là Angela không? Bác chưa từng nghe nói người Ailen cũng có cái tên Angela đâu. Này, Angela, mẹ thằnẹ bé cũng tên là Angela đấy”. Người phụ nữ cười và nói: “Ư, hay thật”
Bác Dimino hỏi thăm tôi về bố, mẹ và hỏi xem ai nấu nướng cho chúng tôi. Tôi nói với bác rằng chúng tôi vẫn có thức ăn từ bác Leibowitz và cô Minnie MacAdorey. Tôi còn kể cho bác nghe tất cả những chuyện lặt vặt khác có liên quan đến bỉm và tã, và cả cái cách mà bọn em tôi bĩnh ra tã thế nào khiến bác cứ lăn lộn mà cười. “Angela, em có nghe thằng bé nói gì không? ơn Chúa em là người Ý đấy, Angela ạ”. Bác nói với tôi: “Cháu này, bác sẽ nói chuyện với Leibowitz. Các cháu phải có họ hàng săn sóc mới phải chứ. Nếu cháu gặp cô Minnie MacAdorey, nói cô đến gặp bác nhé. Các cháu cứ thế này thì hỏng mất”.
Hai người phụ nữ cao lớn đứng trước cửa ra vào. Họ hỏi tôi: “Cháu là ai?”
-Cháu là Frank.
-Frank! Cháu mấy tuổi rồi?
-Bốn tuổi, sắp lên năm.
-Hình như cháu hơi bé so với tuổi thì phải, có đúng không?
-Cháu không biết.
-Mẹ cháu có đây không?
-Mẹ cháu đang trên giường.
-Nó làm cái gì trên giường vào giữa ban ngày thế không biết?
-Mẹ cháu ngủ.
-Thôi được rồi, để bác vào. Các bác phải nói chuyện với mẹ cháu.
Họ bước qua tôi vào trong phòng. “Lạy Chúa, đức mẹ Mary và cả Thánh Josep nữa, cái mùi ở đây mới khiếp làm sao. Lại còn lũ trẻ này ở đâu ra thế?”.
Malachy chạy về phía hai người phụ nữ to lớn với nụ cười trên môi. Khi nó cười, bạn có thể thấy được răng của nó trắng, thẳng và đẹp đến nhường nào, và bạn cũng sẽ thấy đôi mắt xanh của nó rực rỡ như mặt trời ra sao, và hai má nó đỏ hây hây cũng thật đáng yêu. Tất cả những điều đó khiến hai người phụ nữ to lớn mỉm cười, nó khiến tôi tự hỏi sao họ không cười trong lúc nói chuyện với tôi.
Malachy chẳng chút e dè: “Cháu là Malachy còn đây là Oliver và Eugene, chúng nó là anh em sinh đôi đấy, ở đằng kia là Frankie”.
Người phụ nữ với mái tóc nâu nói: “Xem kìa, cháu chẳng hể e thẹn chút nào phải không? Bác là chị em họ với mẹ cháu, tên bác là Philomena. Còn đây là Delia, cũng là chị họ của mẹ cháu đấy. Bác là vợ của bác Flynn còn bác ấy là vợ của bác Fortune, các cháu có thể gọi hai bác theo tên các bác trai cũng được”.
-Tốt lắm, tốt lắm - Philomena nói - hai thằng bé sinh đôi này sao lại trần truồng như thế? Chúng không có quần áo à?
-Dính cứt hết rồi ạ - Malachy trả lời.
Delia quát lên: “Xem nào, mồm như cái máy khâu ý. Đúng là cha nào con nấy, vẫn cái giống miền Bắc. Cháu không được nói từ đó nghe chưa? Nó bậy lắm, hư đấy. Nếu cứ nói năng thế thì cháu phải xuống địa ngục đấy”.
-Địa ngục là cái gì ạ? - Malachy tỏ vẻ thắc mắc.
-Rồi cháu sẽ sớm biết thôi - Delia bực bội.
Hai bà bác to lớn ngồi ở bàn ăn với bác Leibowitz và cô Minnie MacAdorey. Philomena lớn tiếng: “Thật khủng khiếp với những gì đã xảy ra với con bé của Angela. Mọi người đều biết chuyện nhưng các chị có nghe người ta đồn gì không? Về những gì họ làm với cái xác ấy. Chúng ta có thể nghi ngờ, chỉ là nghi ngờ thôi nhưng Tommy Flynn thì không. Tommy bảo với tôi rằng Malachy ở miền Bắc đã bán cái xác ấy để lấy tiền”. “Tiền ư?” Leibowitz cau mày. “Họ mua những cái xác ở mọi lứa tuổi để tiến hành phẫu thuật hay thí nghiệm gì đó. Nhưng khủng khiếp hơn là họ không trả lại và ngay cả khi họ trả lại thì cũng không thể chôn cất theo đúng thủ tục khi chúng đã trong tình trạng như vây”, Philomena tiếp tục.
-Ôi, kinh khủng quá - Leibowitz thốt lên - không một ông bố bà mẹ nào lại nỡ làm cái chuyện thất đức như thế cả.
-Thế mà có đấy, trong trường hợp hắn là một tên nát rượu chẳng hạn. Chúng nó còn bán cả xác mẹ chúng nó nữa ý chứ, nếu bọn chúng cần tiền uống rượu. Đến thế thì con bé con cũng chẳng đáng gì.
Bác Leibowitz lắc đầu và run rẩy trên ghế: “Ôi, ôi, ôi. Đáng thương thay cho đứa bé. Tội nghiệp mẹ nó. Tôi phải cảm ơn Chúa vì chồng tôi không nát, nát... cái gì ý nhỉ? A phải rồi, không nát rượu như cồ vừa nói ý. Đấy là tiếng Ailen phải không?”.
-Chồng tôi mà như thế, tôi phải nện cho hắn vỡ mặt ra ý chứ - Phinomena tỏ ra phẫn uất - Ả, hình như Jimmy nhà Delia cũng là một tay khát rượu thì phải. Cô thấy đấy, thứ Sáu nào hắn chẳng mò đến quán rượu.
-Chị không cần phải sỉ nhục Jimmy của tôi như thế - Delia có vẻ khó chịu - anh ấy vẫn làm việc và đều đặn đem lương về nhà.
-Cô nên để mắt đến hắn hơn, cái bọn nghiện thì không có cách gì kiềm chế được đâu. Rồi lại có thêm một thằng Malachy miền Bắc nữa thì mới ấm vào thân - Philomena cũng không vừa.
- Chị nói năng chó cẩn thận đấy. ít nhất thì Jimmy cũng là người Ailen, chứ không phải cái bọn Brooklyn như Tommy nhà chị - Delia phát cáu.
Thế rồi Philomena ngồi im bặt.
Minnie cũng có mặt ở đó. Cô đang bê đứa nhỏ trên tay. Hai bà bác to lớn nhận xét rằng đứa bé của cô thật dễ thương và sạch sẽ chứ không như cái lũ mọi trần truồng nhà Angela lem nhem, chạy nhảy khắp nhà như một lũ mất dạy. Philomena tỏ vẻ thắc mắc không biết Angela nhiễm cái thói sinh hoạt bẩn thỉu như thế này ở đâu ra bởi mẹ cô sống sạch sẽ có tiếng, sạch đến nỗi đồ ăn rớt xuống sàn nhà vẫn có thể nhặt lên ăn mà không sợ bẩn.
Tôi thì tự hỏi tại sao lại phải ăn tối dưới sàn nhà trong khi có bàn ghế đàng hoàng như vậy.
Delia nói cần phải làm một điều gì đó đối với Angela và mấy đứa trẻ của cô, bởi bọn trẻ đang trong tình trạng bị bỏ rơi, và thậm chí thật xấu hổ khi có họ hàng với cái lũ rách rưới này. Cần phải viết một bức thư cho mẹ của Angela. Philomena sẽ nhận trách nhiệm viết bởi từng có một giáo viên ở Limerick khen cô chữ tốt. Delia phải giải thích cho Leibowitz rằng chữ tốt có nghĩa là viết đẹp.
Thế là bác Leibowitz xuống nhà mượn chồng cái bút mực, tờ giấy và một cái phong bì. Bốn người đàn bà ngồi quanh bàn và viết một bức thư cho bà ngoại tôi:
Cô Margaret kính mến,
Cháu cầm bút trên tay viết bức thư này, mong rằng khi cô nhận được nó, cô vẫn được an lành. Tommy chồng cháu ở nơi xa vẫn mạnh khỏe và làm việc đều dặn, Delia và chồng là Jimmy ở nơi xa cũng mạnh khỏe và làm việc đều đặn và chúng cháu mong cô cũng mạnh khỏe. Cháu rất lấy làm tiếc phải báo cô rằng Angela không được khỏe từ khi dứa bé mất, con bé cố cái tên Margaret, được đặt theo tên của cô. Angela đã không còn được như trước, nó chỉ biết nằm dài trên giường và quay mặt vào tường. Để làm cho tình hình thêm tồi tệ, chúng cháu thấy dường như nó lại đang có thai và như vậy là thái quá. Ởcái thời điểm Angela vừa mất một đứa con thì nó lại thai nghén một đứa khác. Chúng cháu không hiểu làm sao nó lại như thế. Nó mới cưới có bốn năm, đã có năm đứa trẻ và một đứa khác sắp ra đời. Như vậy cô cũng thấy được việc lấy một gã miền Bắc là như thế nào, bởi như chúng cháu thấy, hắn không hề có khái niệm về giới hạn, và dường như hắn theo đạo Tin lành. Chồng nó ngày nào cũng đi làm nhưng chúng cháu biết, hắn chỉ giết thời gian trong các quán rượu để có dược vài ba đôla tiền quét dọn, khuân vác và rồi lại dùng toàn bộ số tiền đó vào rượu. Thật khủng khiếp thưa cô Margaret, tất cả chúng cháu đều cho rằng Angela và lũ trẻ nền trà vê quê nhà. Chúng cháu không có tiền mua vé bởi như cô biết, tình hình bên này khó khăn lắm, nhưng có lẽ cô sẽ có cách giải quyết. Chúng cháu chúc cô mạnh khỏe, ơn Chúa, ơn Đức mẹ.
Cháu gái yêu quý của cô
Philomena Flynn (là cháu MacNamara đấy ạ)
Và cháu gái cuối cùng nhưng không phải là bé nhất của cô
Delia Fortune (cũng là MacNamara đấy ạ, ha ha ha)
Bà ngoại Sheehan gửi tiền cho Philomena và Delia. Họ mua vé tàu cho chúng tôi từ Vincent de Paul, thuê một chiếc xe tải chở chúng tôi đến bến tàu ở Manhattan, cho chúng tôi lên tàu, nói tạm biệt và không quên thêm một câu “nhẹ nợ” rồi đi thẳng.
Chiếc tàu lùi dần khỏi cảng. Mẹ chỉ cho chúng tôi tượng Nữ thần Tự do và đảo Ellis, nơi mà hầu hết những người nhập cư đều phải tới. Mẹ dựa người về phía sau nôn mửa, lại thêm những cơn gió từ Đại Tây Dương thổi tới khiến nó bắn tung tóe lên người chúng tôi cũng như những người khác đang thưởng thức vẻ đẹp của biển. Mọi người chửi rủa rồi nháo nhào chạy. Mòng biển bay xáo xác khắp cảng còn mẹ thì gục xuống, xanh xao trên lan can tàu.