Trước Vành Móng Ngựa

Lượt đọc: 14224 | 5 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần II

CHAI NƯỚC HOA

Lê Bảo Ngọc mang một cái tên quý giá vô ngần mà không có được một đồng trinh Bảo Đại trong túi. Mũi tẹt, mồm xếch, da đen như củ súng, Bảo Ngọc không có gì là vẻ một hòn ngọc quý: Người nào đã đặt cho y cái tên diễm lệ kia chỉ là một nhà khôi hài.

Bảo Ngọc phải ra trước vành móng ngựa vì hai tội: ăn cắp và du đãng. Không tiền, không cửa, không nhà, không nơi trú ẩn, từ tội du đãng đến tội ăn cắp chỉ có một bước con. Bảo Ngọc đã bước qua bước ấy.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh làm nghề gì?

Nhanh nhẹn như con cắt, một đức tính của quân móc túi, Bảo Ngọc vừa cong ngón tay trỏ ra hiệu mổ cò, vừa trả lời gọn ghẽ:

BẢO NGỌC - Cò quay... Tôi làm nghề cò quay.

ÔNG CHÁNH ÁN - Cò quay! Anh lại thú ra một tội nữa: tội gá bạc. May cho anh mà ông biện lý không buộc cho anh tội ấy. Ngoài cò quay, anh làm nghề gì lương thiện để kiếm ăn?

BẢO NGỌC - Bẩm, trước con đi ở...

ÔNG CHÁNH ÁN - Trước là bao giờ? ở với ai?

BẢO NGỌC - Bẩm ba năm về trước.

Cử tọa cười, ông chánh án cũng cười.

- Không nói chuyện đời xưa. Lúc bị bắt, anh làm gì?

- Bẩm, làm cò quay.

Cái vòng luẩn quẩn khó lòng mà Bảo Ngọc ra khỏi được.

ÔNG CHÁNH ÁN - Còn tội ăn cắp chai nước hoa, anh có nhận nốt không?

BẢO NGỌC - Bẩm, con oan.

ÔNG CHÁNH ÁN - Oan, được. Gọi người làm chứng vào đây.

Người làm chứng ôn tồn kể lại câu chuyện.

Bán hàng ở hiệu Gô đa, một hôm anh ta trông thấy Bảo Ngọc vẩn vơ trước gian hàng nước hoa. Nhân lúc mọi người để ý nơi khác, Bảo Ngọc nhớn nhác nhìn chung quanh, rồi mở tủ lấy trộm một chai nước hoa Coty...

BẢO NGỌC (liến thoắng) - Con có cầm chai nước hoa thật, nhưng quả thực con không ăn cắp. Con thấy một bà đầm mở tủ lấy nước hoa ra xem, thì con cũng mở tủ lấy chai ấy ra ngắm chơi mà thôi.

ÔNG CHÁNH ÁN (không cười) - Ngắm chơi... anh oan thật. Giá thử anh thấy bà đầm kia thò tay vào ví tiền, thì chắc anh cũng nhấc sẽ cái ví của bà ta, mà lấy tiền ngắm chơi... Anh chỉ có một tội: là có cái tính hay bắt chước của đàn cừu...

BẢO NGỌC (ngơ ngác không hiểu) - Quả thật thế.

ÔNG CHÁNH ÁN (mỉm cười) - Giờ thì tôi cũng bắt chước người làm chứng đổ cho anh cái tội ăn cắp và phạt anh hai tháng tù.

Ôm mối hận, Bảo Ngọc lui ra trở về nhà pha để ngầm nghĩ về sự tai hại của tính hay bắt chước: Trong hai tháng, chắc Bảo Ngọc nhiều thì giờ ngắm chơi... ngắm chơi bát cơm hẩm với khúc cá mắm.

ĐÀO NGUYÊN

Bao nhiêu con mắt đều đổ dồn cả vào đầu Nguyễn Văn Lập: mặt to, tai lớn. Lập có vẻ đường hoàng bệ vệ đáng kính: ai dám bảo Lập là tên ma cô.

Nhưng sự thực hay trớ trêu; con người có vẻ đạo đức ấy bị lôi ra tòa vì làm cái nghề vô sỉ ấy. Ngập ngừng bước ra trước vành móng ngựa, Lập cúi gầm mặt xuống.

ÔNG BIỆN LÝ - Sao cúi mặt xuống thế kia? Ngửng đầu lên nào! Ngửng lên cho người ta biết mặt một nhà đạo đức...

Nghe câu khen mỉa, Lập càng cúi gầm mặt xuống như muốn tìm đường độn thổ.

ÔNG BIỆN LÝ - Thế nào? Anh cùng biết xấu hổ à?

LẬP - Bẩm, có.

ÔNG CHÁNH ÁN (mỉm cười) - Có... thế cố nghĩa là anh nhận tội...

LẬP - Bẩm không, con oan...

ÔNG CHÁNH ÁN - Oan thì việc gì mà phải xấu hổ.

Con người giàu tình cảm như thế mà không thành thi sĩ, cũng lạ thật! Con người biết liêm sỉ như thế, biết liêm sỉ đến nổi... Chỉ nghe thấy cũng ngại ngùng.

Ai dám bảo hắn làm nghề đi dắt gái cho người.

Không may cho Lập một gái trong đám giang hồ, lại cứ nằng nặc đổ tội cho Lập. Tên cô là Thị Đào. Tuy đôi má cô hết mơn mỏn như đào tơ, cô cùng chưa đên nỗi nạ dòng.

Người cô tròn và ngắn, cô giống quả đào về hình thể, nếu không giống về nhan sắc.

Trái lại với Lập, Đào không chút thẹn thò. Cô quay lại nhìn cử tọa, như muốn tìm ý trung nhân rồi ra vẻ lão luyện, cô kể lại rành mạch.

THỊ ĐÀO - Tôi làm cho chưởng Lở. Nhà tôi ở bên sông, một cái nhà bè sạch sẽ. Hằng ngày Lập đứng với tôi ở trên đê Yên Phụ... đợi khách. Được khách chúng tôi xuống thuyền. Lập chở chúng tôi về...

MỘT KHÁN GIẢ - Đào nguyên!

Thị Đào ngoảnh lại, đưa một cái liếc dao cau rồi thị nói tiếp:

THỊ ĐÀO - Hôm ấy, người khách chúng tôi chẳng may lại là một người mật thám... Lập bị bắt. Còn tôi, mấy hôm nay, tôi đã trở về chốn cũ, một cái nhà bè sạch sẽ...

Cô quay lại tươi cười nhìn cử tọa một lần nữa, như có ý trình diện với một số người có thể... tìm đến chỗ đào nguyên sạch sẽ của cô.

Còn Lập, tòa ban cho tám tháng tù. Lập lạnh lùng bước về nơi nhà đá lạnh lùng không thể so với nơi đào nguyên được.

DU ĐÃNG

Tòa án có con cưng, con ghét. Con cưng là những bị cáo nhân được người chú ý, từ ông chánh tòa nghiêm trang cho đến công chúng tới chứng kiến. Là vì bọn ấy có nhiều tiền thuê hai, ba ông thầy kiện vung tay khen ngợi, tán tụng hộ.

Con ghét của tòa án là một số người đông rách rưới, khốn nạn, chỉ được ông chánh tòa để ý đến năm phút đồng hồ là nhiều. Mà để ý đến như vậy thà đừng để ý đến còn hơn.

Họ ngồi thu hình ở căn phòng bên cạnh, nhẫn nại đợi cho đến lúc gần tan buổi tòa, là lúc người ta kéo họ ra hỏi qua loa cho xong chuyện.

- Anh bị buộc về tội du đãng?

- Bẩm con không du đãng, con là người làm ăn.

Một người vận quần áo nâu rách, vá nhiều chỗ, nét mặt răn reo như người đã ngoài năm mươi, tuy mới gần bốn chục tuổi.

- Anh làm gì?

- Bẩm, kéo xe bò.

- Chủ là ai?

- Bẩm, không có chủ, ai thuê thì làm thôi ạ.

- Anh không có tiền?

- Bẩm, kiếm không đủ ăn.

- Ba tháng một ngày nhà pha.

Ông chánh án tòa ung dung luận tội, lương tâm không mảy may bứt rứt, vì theo luật, không có nghề nghiệp và không có tiền là phạm tội du đãng rồi... Tội du đãng, chung quy là cái tội nghèo.

- Anh làm nghề gi?

- Bẩm, con làm cu li.

- Cu li cho ai?

- Bẩm, cu li cho cai Đào, nhưng con thôi đã được một tháng nay.

- Thế một tháng nay làm gì?

- Bẩm, con đi tìm việc, không làm việc gì cả.

- Không làm gì cả? Ba tháng một ngày nhà pha.

Con mắt ngơ ngác như đi tìm công lý, một ông thần tòa, bị cáo nhân lảo đảo bước ra chắc lưỡi:

-     Chà! Càng đở lo gạo trong mấy tháng.

Kế chân, một người xanh xao bước vào vành móng ngựa:

- Anh làm nghề gi?

- Bẩm, làm nghề rửa nứa ở ngoài bãi.

- Rửa nứa không phải là một nghề. Ba tháng một ngày nhà pha.

Người ấy bước ra người khác thay vào.

- Làm nghề gì?

- Bẩm, không làm gì?

- Có tiền không?

- Bẩm, có sáu xu con vừa mới xin được.

- Thật là vô phúc. Phải giàu từ bảy xu trở lên mới không phải là du đãng.

- Sáu xu không đủ. Ba tháng một ngày nhà pha.

Rồi từ đó, tòa xử mỗi lúc một nhanh.

Những câu hỏi, viên thông ngôn dịch lại như cái máy. Và cũng như làm bằng máy những câu định tội.

-       Ba tháng một ngày nhà pha.

BỘ RÂU DÀI

Người nhỏ nhắn, yếu đuối trong chiếc áo the thâm, Nguyễn Thị Nam đứng nhu mì ở trước tòa: Thị bị thưa về tội đánh người bị thương. Trông bộ mặt chị choắt lại bằng hai ngón tay chéo, người ta chỉ thấy đôi mắt dữ tợn và cặp môi mỏng dính.

ÔNG CHÁNH ÁN - Chị có đánh người ta không?

Cất tiếng the thé như xé lụa, Thị Nam đáp:

- Bẩm, tôi có đánh “nó” đâu. Nó là tình nhân của tôi, một điều yêu tôi, hai điều yêu tôi; tôi ăn ở với một chú Khách được đứa con, Nó đòi nhận cả làm cho Nó. Đến bây giờ Nó có đứa khác, nên tình phụ tôi, đánh đập tôi.

Con người như rứa thì tệ thật. Ai cũng muốn nhìn Nó rõ mặt bạc tình lang của thị.

Bỗng một người Tây đen to lớn, lực lưỡng như hộ pháp, nặng nề bước vào: “Nó” đấy!

Bạc tình lang của Thị Nam quấn trên đầu chiếc khăn vành lớn như đội một đống vải; mặt như bằng đồng đen, điểm bộ râu dài và rậm che lấp cả mồm. Ông hộ pháp ấy đứng bên Thị Nam, Thị Nam trông bé tí như con chuột nhắt đứng bên con voi khổng lồ. Tuy vậy, chính con voi lại bị con chuột đánh: Đáng thương thay!

Sau một hồi “ả ra ả ra”, Singh - cái tên xinh xẻo của chú Tây đen - khai rằng:

- Tôi lấy Thị Nam được hai năm, nhưng vì Nó hư, nên tôi phải đuổi đi. Hôm ấy, tôi đi qua hàng cơm Thị Bôi, Nó ngồi trong cứ chửi rủa tôi mãi. Tôi hỏi Nó chửi ai, thì Nó túm lấy tôi Nó đánh, Nó cắn, hiện có giấy đốc tờ làm chứng. Nhưng không phải vì thế mà tôi kiện Nó, tôi kiện vì Nó nắm, rứt mất một ít râu của tôi. Mà râu của tôi, thì quý lắm.

THỊ NAM - Các ông trông bộ râu của hắn, vẫn rặm như rừng, giá rứt đi một nửa, cũng không ai trông thấy.

SINGH (quay lại Thị Nam lườm một cái dài).

ÔNG CHÁNH ÁN - Nhưng rồi râu lại mọc, can gì?

SINGH (thảm thiết) - Lâu lắm, nhất là về mùa thu, râu mọc rất chậm.

ÔNG CHÁNH ÁN (mỉm cười) - Anh to lớn thế kia lại chịu để cho người đàn bà nhỏ yếu rứt mất chòm râu quý mà chịu đứng im à?

Câu hỏi ấy làm Singh phải chịu đứng im lần thứ hai... ông tượng đồng đen nước Tây Trúc chắc lúc bị Thị Nam đánh đã nghĩ rằng ở Ấn Độ có câu tục ngữ: “Không nên đánh một người đàn bà, dầu bằng cánh hoa cũng vậy’’.

Nhưng ông chánh tòa không phải là người Ấn Độ, nên đánh sẽ Thị Nam bằng một cánh hoa: cánh hoa ấy là mười sáu quan tiền phạt.

LÁNG GIỀNG

Bỗng mọi người đều chú ý. Chú ý đến ông nghị Balăngxoa đương hoa chân hoa tay ở trước vành móng ngựa, cả tiếng thốt ra những câu nửa Tây, nửa ta:

-      Ta là un bon voi sin (một người láng giềng tốt).

Nghe nói, người làm chứng (tức là người đi thưa), một ông Tây béo múp đứng bên cạnh bĩu môi tỏ vẻ hoài nghi:

-      Một người láng giềng tốt! ông chỉ nói khôi hài.

ÔNG CHÁNH ÁN - Ông không có quyền nói với người bị cáo, ông chỉ có quyền nói với tòa.

ÔNG TÂY (buồn rầu) - Xin tòa lượng xét. Tôi đi tìm một người láng giềng tốt đã ba năm nay. Lần đầu, tôi gặp một ông tham tá An Nam, ông ta hiền lành, nhưng có một đàn con và một bà vợ lắm mồm. Hễ tôi chợp mắt đi, là bà ta lên tiếng the thé nhắc cho tôi biết rằng mười hai giờ trưa là giờ để nói cho hả hơi. Lũ con bà luôn luôn nhắc tôi rằng không nên ngủ, chỉ nên nô đùa. Nhưng khốn một nổi, tôi không phải là trẻ con. Tôi đành giã từ ông tham hiền lành, đi tìm một người láng giềng tốt khác. Tôi bèn gặp một ông làm bánh tây, nên cứ độ một giờ đêm là tôi phải trở dậy cùng ông để đốt lò bánh. Duy tôi không được chia lãi với ông. Tôi lại phải dời đi nơi khác. Tôi gặp ông nghị này, được hai điều: điều thứ nhất, ông diễn thuyết cả ngày; điều thứ hai, những con ễnh ương (crapauds bumes) ông nuôi, chúng Nó cùng diễn thuyết, nhưng cả đêm.

ÔNG NGHỊ - Ểnh ương! Ông bảo tôi nuôi ểnh ương!

ÔNG TÂY - Phải, ểnh ương! Và ông nuôi toàn giống vật quái gở: công, gà gô, vẹt... cái bể nước đựng hòn đá rêu của ông chẳng để nuôi ểnh ương là gì? Đêm Nó cứ lên tiếng một: Coọc...! Nghe não ruột thê thảm lắm.

ÔNG NGHỊ - Bể cạn của tôi chỉ nuôi cá vàng. Hay cá vàng bên nước ông gọi là ễnh ương chăng? Nếu thế thì chỉ bên nước ông Nó mới kêu, ở bên nước tôi, Nó chỉ biết lượn.

ÔNG CHÁNH ÁN - Cá vàng là cá vàng, ễnh ương là ễnh ương, nhầm thế nào được. Còn việc gà của ông gáy buổi trưa, ông có nhận không?

ÔNG NGHỊ - Cái ấy có. Nhưng Nó muốn gáy, thì có biết đâu trước mà bịt mỏ Nó lại.

ÔNG CHÁNH ÁN - Không biết. Gà của ông gáy, ông chỉ chịu trách nhiệm, ông phải cấm Nó gáy trong những giờ cấm các tiếng động...

ÔNG NGHỊ - Nhưng Nó không nghe tôi...

ÔNG CHÁNH ÁN - Nó không nghe ông à? Thì ông có hai cách: một là làm thịt Nó đi (cách này giản tiện hơn), hai là trả ba quan tiền phạt như hôm nay. Còn ễnh ương kêu, không đủ chứng cớ, tòa tha.

Ông nghị hằn học ra về, thề không nuôi gà nữa. Ông Tây làm chứng cũng hằn học ra về, đi qua cửa ông nghị để nghe tiếng ễnh ương kêu. Lúc đến hàng giậu, ông nhìn vào bể cá vàng. Bỗng có tiếng từ trên cao xuống: Coọc...! Nghe rất thê thảm não ruột. Ông Tây ngước mắt nhìn lên mái nhà: Con ễnh ương của ông là... một con công.

KHẢI HOÀN MÔN

- Tên cái gì?

- Chốc nữa tôi sẽ nói.

Câu trả lời đem sự ngạc nhiên tới giữa tòa. Ông chánh án quắc mắt nhìn xuống, viên thông ngôn cả tiếng lấn mắng tát vào mặt bị cáo nhân, một người mảnh khảnh trong chiếc áo the tàng, có bộ râu dê với hai con mắt tuyền lòng trắng.

-  Chốc với lát gì? Nói ngay!

Điềm đạm, người bị cáo, nhìn viên thông ngôn, rồi nhìn ông chánh tòa, rồi lại nhìn lên trần một lúc lâu mới buông câu trả lời ngô nghê.

- Ừ thì nói: tên là Tích, Nguyễn Văn Tích, làm nghề phù thủy, bị tù.

- Anh có đánh đội xếp không?

Tích lắc đầu một cách thiểu não, không nói gì.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh chối, nhưng chứng cớ còn đây, tôi nhắc lại cho anh nghe. Hôm ấy là hôm khánh thành hội chợ Hà Đông. Một người đội xếp Tây dẹp đường cho ô tô chạy; ai nấy đều nghe lời, duy có anh cứ ngồi lì ở dưới cái khải hoàn môn... người ta nói ngon ngọt thế nào cũng không đi.

NGUYỄN VĂN TÍCH (nhăn mặt) - Ngon ngọt!

Rồi anh giơ tay lên xoa má một lúc mới nói tiếp:

-  Tôi ngồi mua lụa.

ÔNG BIỆN LÝ (mỉm cười) - Lụa nào ở dưới cái khải hoàn môn mà mua. Chẳng qua anh tưởng ngồi dưới nó sẽ được người ta rước sách nên không chịu rời chứ gì!

Tích mỉm cười, nhưng không biết là cái mỉm cười ngây ngô thành thực của người mất trí khôn hay cái mỉm cười tinh ranh của nhà hài hước.

ÔNG CHÁNH ÁN - Người đội xếp Tây đuổi anh, anh không đi, lại sừng sộ với người ta, lấy ô đập người ta sứt cả trán, lại đấm đá người ta nữa. Hỏi anh, anh chỉ cười mà bảo: “Tao không nói, rồi sau ta mới nói cho mà biết”. Bây giờ đến lúc anh nói rồi, thì anh nói đi.

Thấy Tích chỉ mỉm cười, ông chánh án nổi giận:

-  Anh giả vờ điên. Được!

Bỗng có một người đàn bà nhà quê bước ra trước vành móng ngựa, trông ông chánh án mà khấn vái sì sụp.

- Chị muốn gì?

- Bẩm tôi là vợ Tích. Bẩm chồng tôi điên.

- Điên thật à?

- Bẩm hơi điên thôi ạ... Từ ngày chồng tôi đâm ra nhảy đồng, hầu bóng, cứ nói lảm nhảm suốt ngày, lúc nào cũng lẩm bẩm thần thánh, ma quỷ và những sự nhảm nhí khác.

Thị báng bổ thần thánh mà không biết. Có lẽ vì thế nên thánh giận, xui ông chánh án phạt chồng chị mười tháng nhà pha, tuy ông chánh án không biết thánh là ai.

550 KÍ LÔ

Thản nhiên trong bộ áo xanh, Nguyễn Đắc Phú có bộ mặt da nâu rắn rỏi của một người tài xế quen lái những ô tô hay om khách.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh bị buộc tội chở hàng nặng quá số đã định những 550 ki lô. Sao anh chở nhiều như vậy?

Đắc Phú tươi cười như ông chủ ô tô hàng lúc thấy xe của mình chật đến nóc, nhanh nhảu thưa:

- Bẩm không, chúng con chở có ít đồ hàng thôi ạ.

Không tin người cầm lái ô tô Phong hóa, ông chánh án gọi người làm chứng, một ông kiểm sát ở sở Hỏa xa.

ÔNG KIỂM SÁT - Tôi đã làm biên bản về vụ này. Xe ô tô hàng của Đắc Phú chở người chật như chất cá hộp, còn trên nóc xe thì rất nhiều bao gạo nặng, đấy là không kể những đồ đạc khác, ô tô mười sáu chỗ ngồi: chất tới hăm mốt người, trong số đó có một người trồi trên mui xe...

ĐẮC PHÚ (chế nhạo) - Ý giả đây là ông Bạnh (nghiêm trang). Ông nhầm, làm gì mà nhiều thế! Ông là người sở hỏa xa, nên đổ oan cho chúng tôi đó thôi.

ÔNG KIỂM SÁT (đọc)- Theo biên bản, ô tô hàng của Phú có quyền được chở 1.450 kí lô đồ hàng. Vậy mà hôm ấy xe chở:

5 người hành khách

mỗi người 50 kilô = 250 kilô

 5 bao gạo

mỗi bao 100 kilô = 500 kilô

4 tay nải đựng vải = 1200 kilô

 Quang, gánh, chĩnh Vại, gà, vịt và tinh tinh = 50 kilô

Tổng cộng: 2000 kilô

Xem đó thì biết Phú chở nặng quá 2000 - 1450 = 550 kilô đồ hàng.

ÔNG CHÁNH ÁN - Vậy ra ông tính cả những hành khách chở thừa?

ÔNG KIỂM SÁT (thật thà) - Vâng

TRẠNG SƯ CỦA PHÚ - Ông kiểm sát nghĩ đến hành khách một cách chu đáo lắm, ông cho là đồ hàng... Ý giả ông nghĩ đến hành khách đi xe lửa.

ÔNG KIỂM SÁT (mỉm cười) - Không, tôi nghĩ đến hành khách đi ô tô hàng.

ÔNG CHÁNH ÁN (nghĩ đến sự cạnh tranh của xe lửa và ô tô) - Hai ông nói nghe có lý cả. Nhưng dẫu sao, một người khách không thể coi như 50 kilô thịt được. Vậy tha Phú về cái tội chở đồ quá nặng, phạt Phú về tội chở hành khách quá số đã định mất 5 người 3 X 5 = 15 quan tiền tây.

Nghe đọc án, hành khách đi ô tô hàng xem chừng lấy làm bằng lòng lắm.

TÒA THA

Trên ghế bị cáo, hai người ngồi. Hai người đàn bà: Một người Khách, một người An Nam.

Một người sang trọng, áo cộc nhung, hoa tai Tàu, trâm lược rung rinh chiếu ánh vàng; một người cùng khổ, áo nâu bạc rách, vá, nét mặt nhăn nheo của hạng người cùng đinh không tuổi.

ÔNG CHÁNH ÁN - Thị Ban có nhận bán con không?

Người đàn bà áo nâu đứng dậy, vẻ sợ hãi không cùng, cất giọng run run.

THỊ BAN - Bẩm, đèn giời soi xét...

VIÊN THÔNG NGÔN (dằn từng tiếng) - Soi xét gì? Có bán con không?

THỊ RAN (rươm rướm nước mắt) - Bẩm có.

ÔNG CHÁNH ÁN - Tại làm sao chị lại bán?

THỊ BAN (kể lể) - Bẩm, con nghèo. Chồng làm cu li, con lại đông. Thật quả kiếm bữa ăn không đủ. Con cũng nghĩ: thôi thì đồng rau, đồng cháo, mẹ con chịu khổ với nhau. Nhưng không thể được: để nó ở nhà thì mẹ con đến chết đói hết. Thà bán Nó đi cho người ta, may Nó được ấm no hơn.

ÔNG CHÁNH ÁN - Nhưng chị không có phép bán con. Chị đẻ ra Nó chị phải nuôi.

THỊ BAN (sụt sùi) - Bẩm, đèn giời soi xét... Sinh con ai nở sinh lòng.

ÔNG CHÁNH ÁN - Thế còn chị Khách kia, chị có mua đứa con gái ấy không?

Chu Thị ung dung đứng dậy, quay bộ má bánh đúc lại, ngước đôi mắt một mí lên nhìn ông chánh án, the thé:

- Dạ, có ạ.

ÔNG CHÁNH ÁN - Chị định đem đứa bé về Tàu, bán cho người ta, vì chị thấy Nó xinh. Lúc mật thám đến bắt, chị đã cho Nó ăn mặc theo lối Khách phải không?

CHU THỊ (the thé) - Dạ, có ạ.

Cử tọa nhìn Chu Thị bằng cặp mắt khinh bĩ, giận dữ.

ÔNG CHÁNH ÁN - Thị Ban, bán con, chiếu theo luật hình An Nam, điều thứ 344, phạt một tháng nhà pha, cho hưởng án treo. Còn Chu Thị... Chu Thị là người Khách, trước kia theo luật An Nam, nên mới bị đòi hỏi. Nhưng từ ngày ký hòa ước Pháp - Hoa; nghĩa là được mấy tháng nay, người Khách không theo luật An Nam nữa, mà theo luật Tây. Hình luật Tây không phạt kẻ mua hay bán người. Tòa tha.

Chu Thị vắt vẻo ra về, sung sướng như... người Khách sau ngày ký hòa ước Pháp - Hoa; Thị Ban nhìn theo con mắt thèm thuồng như muốn đổi lốt làm người Tàu quách.

BÁN CHIM

Trần Văn Hỉ đứng co ro ở trước tòa. Người gầy như cái que củi, mặt choắt bằng hai ngón tay chéo. Hỉ không phải là người được luôn luôn ăn thịt chim. Than ôi, chính vì thịt chim mà Hỉ lạc loài vào đây...

ÔNG CHÁNH ÁN - Có bán chim không? Nói thật mau.

TRẦN VĂN HỈ (Giơ tay lên) - Con xin nói thật.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh là tội nhân, không được thề.

TRẦN VĂN HỈ (Lý luận) - Bẩm thế con phải nói dối ạ?

ÔNG CHÁNH ÁN (cười) - Anh phải nói thật. Nhưng anh không được thề nói thật.

Nghe lời giảng của ông chánh án, Trần Văn Hỉ ngơ ngác... như chim chích vào rừng pháp luật. Y đứng há mồm nhìn sững ông chánh án như chim bị rắn thôi miên.

ÔNG CHÁNH ÁN (gắt) - Thế nào, có bán chim không?

TRẦN VĂN HỈ (ngập ngừng) - Bẩm, con làm nghề bán chim.

ÔNG CHÁNH ÁN - Hôm rằm tây người ta bắt được anh mang mười con giẽ gà, trông thấy đội xếp lủi như con cun cút...

TRẦN VĂN HỈ - Bẩm, con không lủi. Con đem bán cho ông đội xếp đây ạ.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh không biết mang chim muông là cấm à?

TRẦN VĂN HỈ (thật thà) - Bẩm cấm mang chim thì con còn bán chim làm sao được?

ÔNG CHÁNH ÁN - Theo luật, anh chỉ có quyền mang bán những con chim bắn được thôi. Mấy con giẽ gà anh mang Nó sống cả, chắc là đánh bẫy được. Đánh bẩy cấm, mà mang chim sống cùng cấm.

TRẦN VĂN HỈ (thảm thiết) - Bẩm thế thì con còn làm nghề bán chim sao được, đến chết đói mất.

ÔNG THÔNG NGÔN (nhân đức) - Đem chim ra ngoài thành phố Hà Nội mà bán.

Trần Văn Hỉ lấy làm hỉ hả. Biết thế thì đừng đem giẽ vào Hà Nội cho xong: Nhưng chim đã chót sa lưới rồi.

Kết quả: Hai trăm quan tiền tây phạt, vị chi là một trăm hai mươi đồng bạc An Nam.

120 đồng bạc 10 con giẽ gà, mỗi con hơn 10 đồng, kể đắt thật; ông chánh án đi chợ mua chim có lẽ hớ.

Trần Văn Hỉ hết cả hỉ hả, lủi thủi đi ra, ủ rũ như diều hâu tháng chạp.

Còn mười con giẽ, tòa xung công... Xung công là thế nào? Là để cho nhà nước quay chúng hay là thả chúng ra? Không thấy tòa bàn đến.

Nhưng mấy ngày hôm sau, linh hồn mấy con chim đó về báo mộng cho Trần Văn Hỉ biết rằng:

“Chúng nó đã bị quay rồi".

LẠY CHỊ EM CHỪA

Hôm nay, ông lý ra tòa. Xin gọi tạm ông là Nguyễn Văn Bạnh, vì ông to béo chẳng kém gì ông bang Bạnh cả. Cũng mấy sợi râu lún phún ở mép ông ta đâm ra một cách ngay ngắn, đường hoàng... Nhưng ông ta lại vận chiếc quần nước suýt ống thấp, ông cao, với cái búi to củ hành Lý Toét. Mặt ông đỏ gay: Ý chừng ông đã nốc non nửa chai rượu để chấn định tinh thần.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh có đánh chị dâu anh không?

Cất tiếng khàn khàn như tiếng vịt đực, với cái giọng run run, Bạnh lắp bắp.

-    Bẩm... bẩm... có ạ.

Rồi như đã khai được ngòi, nước chảy thao thao bất tuyệt:

-    Nhưng xin quan đèn trời soi xét. Trước vong hồn mẹ tôi, cả nhà ai náy đều khóc khàn cả tiếng, nước mắt hầu cạn, mà anh cả tôi phó tổng Hào không chịu vào lễ. Trước cảnh ấy, tôi không đành lòng, đành vào tế trước anh tôi. Nhưng vừa ô hô vài tiếng, thì ô hô! Đã bị ngay một cái đẩy nên thân người quay mấy vòng. Thế là trong cơn tức giận, tôi có đánh - nhưng đánh một tí thôi ạ - xin quan đèn trời soi xét, quả thực con chỉ đánh có một tí thôi.

Khốn nhưng một ti, một tí thôi cũng đủ rồi. Thị Bầu, bà chị dâu ông lý, cùng đồng ý với pháp luật về điều ấy. Bà người nhỏ, nhưng đi đứng có vẻ quả quyết, ăn nói có vẻ đanh đá; phó tống Hào, chồng bà, rồi cũng có ngày lên chức chánh tổng mà thôi.

THỊ BẦU - Mẹ tôi chết, chồng tôi chưa kịp vào tế, mà em tôi đã dám vào trước, thưa ba tòa quan lớn, hỗn nhờn thế đấy. Tôi vào lôi Nó ra, Nó lại hành hung đánh tôi thâm tím cả mình mẩy... nhưng không phải vì thế mà tôi kiện Nó, tôi kiện Nó về cái tội dám cất quyền chồng tôi. Thật không còn gì là tôn ti trật tự, thật là bất hiếu bất mục...

Thị Bầu vừa nói vừa lườm Lý Bạnh. Trông bà ta lúc đó oai nghiêm, tưởng chừng như không còn phải là Thị Bầu nữa, mà là một dâng đại biểu cho sự tôn ti của nền luân lý cổ.

Bản án của tòa cũng là một sự phát biểu của sự tôn ti ấy: 15 ngày nhà pha án treo và ông Lý Bạnh phải lạy chị dâu trước tòa đế xin lỗi chị.

Đã khỏe tranh lễ trước thì nay được lễ ngay chị dâu, ông chánh tòa đã báo thù cho nền luân lý cổ một cách đích đáng vậy.

« Lùi
Tiến »