Trước Vành Móng Ngựa

Lượt đọc: 14226 | 5 Đánh giá: 7,2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần III

MAY CHO LŨ ĂN MÀY

Phiên tòa ngày hôm nay như để dành riêng cho các thầy đội “phú lít’’ bị đánh hoặc bị chửi vì nghĩa vụ. Nhưng chưa đến nỗi như quân Á cự nhau với quân Ý ở miền Đông Phi, bị chết vì nghĩa vụ.

Hoàng Quang Phúc là một trong đám người để mích lòng các thầy đội “phú lít’’. Phúc là một người tài xế cũng như trăm nghìn người tài xế khác, bộ dạng mạnh bạo, nét mặt gân guốc dưới chiếc mũ cát két màu vàng bẩn.

PHÚC - Hôm ấy tôi chạy xe ở Phố Mới. Bỗng thấy một người đi nghênh ngang giữa đường, bóp còi thế nào cũng không chạy (tủm tỉm cười). Tôi biết đâu rằng làm đội xếp lại có cái quyền đặc biệt ấy.

Thầy đội Chiếu làm chứng, bước ra nói:

- Nhưng tôi có đi giữa đường đâu. Tôi đi bắt ăn mày điệu về đến đấy thì tên Phúc bóp còi. Tôi tránh ngay, nhưng hắn cứ sừng sộ.

PHÚC - Tránh thì tôi còn sừng sộ làm cóc gì. Tôi bảo, lại còn xoen xoét cãi rằng chết cùng không cần.

TRẠNG SƯ (của Phúc) - Quan tòa nên cho thầy đội Chiếu đầu quân bên Đông Phi thôi. Nhưng thầy ấy thích chết thì thiếu gì cách: nhảy xuống hồ Hoàn Kiếm chẳng hạn. Như vậy sẽ không liên lụy đến người khác. Thầy ấy thích chết, nhưng Phúc lại không vì cái chết của thầy ấy mà ngồi nhà pha chơi. Vậy là lỡi ở thầy ấy, tòa tha cho Phúc là phải lắm.

ÔNG CHÁNH ÁN (hỏi Chiếu) - Hôm đó anh có bận quần áo đội xếp không?

CHIẾU - Bẩm không, con ăn mặc thường phục vì sợ ăn mày trông thấy nó lẩn.

Kết quả: Lũ ăn mày nó cũng lẩn được trong khi thầy bị bác tài giày vò, mà bác tài cũng lẩn ra ngoài vòng tội lỗi; tòa tha bác vì không đủ chứng cớ.

Bác bước ra ung dung; thầy Chiếu nhìn theo bằng con mắt giận dữ như muốn bảo nhỏ: lần sau mắc vào tay ông thì phải biết...

Một người khác để mích lòng các thầy đội là Nguyễn Văn Xa. Hôm ấy Xa đứng ở chợ hàng hóa phố Tràng Tiền, thấy có người muốn lên xe, bèn gọi cu ly xe lại. Tấm lòng thương người ấy làm mếch lòng thầy đội “phú lít’’ Trọng. Thầy mắng, y bèn bảo thầy là chó săn... Vì thế, nên y được cái hân hạnh ra trước tòa.

ÔNG CHÁNH ÁN (hỏi Trọng) - Anh mặc quần áo đội xếp chứ?

TRỌNG - Vâng.

Còn nói gì nữa: Xa có lỗi rồi. Nhưng tòa cảm vì Xa thương người, nên thương anh ta mà chỉ phạt có 3 quan tiền Tây.

Xa bước ra, ung dung, thầy “phú lít” Trọng cũng bước ra, ung dung, ý giả hai người đều tự cho là làm đủ nghĩa vụ cả.

ANH HÙNG MẠT LỘ

Nguyễn Xuân Bi là một nhà nho, cứ trông ông ta cùng đủ biết. Từ cái áo the sờn vai xúng xính, cái khăn lượt chững chạc cho đến dáng diệu, ngôn ngữ, ông đều để lộ vẻ nhà nho, nhà nho lúc quẫn.

ÔNG CHÁNH ÁN - Thế nào, anh có nhận tội không?

BI - Bẩm, chúng tôi làm gì nên tội?

ÔNG CHÁNH ÁN - Không có tội sao lại ra đây?

BI - Bẩm, không biết. Chúng tôi chỉ biết theo lễ nghi của cổ nhân dạy bảo lũ trẻ... học đạo thánh hiền.

ÔNG CHÁNH ÁN (đắc thế) Chính thế, anh dạy học không có giấy phép. Anh muốn dạy đạo thì dạy, nhưng phải có giấy phép nhà nước cho.

BI - Bẩm, vài đứa học trò nửa người nửa ngợm, làm gì mà phải phép với tắc!

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh dạy mấy đứa ?

BI - Bẩm, sáu đứa.

ÔNG CHÁNH ÁN (lại đắc thế) - Sáu đứa thì còn nói gì nữa. Lệ chỉ có năm đứa học trò mới không phải xin phép.

BI - Bẩm năm với sáu thì khác nhau cái gì? Thật chúng tôi không hiểu.

ÔNG CHÁNH ÁN (mỉm cười) - Tôi cũng không hiểu. Nhưng luật pháp là luật pháp, Dua lex, sed lex.

Một ông Tây nói tiếng La tinh cho một người An Nam thông chữ Tầu nghe, thì còn hiểu nhau sao được.

ÔNG Bi chỉ lấy cái mỉm cười ngây ngô đáp lại ông chánh án.

ÔNG CHÁNH ÁN (tuyên án) - Chiếu theo nghị định ngày 14 tháng 5 năm 1924 phạt Nguyễn Xuân Bi trăm quan tiền Tây. Còn bút, nghiên, giấy, mực bắt được, tòa tịch biên. Mà từ rày, không được dạy học như thế nữa nghe!

BI (não nùng) - Vậy đạo thánh hiền, chúng tôi cũng không được dạy à?

ÔNG THÔNG NGÔN - Tòa tuyên án rồi, thôi đi ra.

Bi lặng lẽ đi ra, trên mặt hiện vẻ thất vọng chán nản và nhẫn nại. Bi ngửa mặt lên trời, tắc lưỡi thở dài ý chừng y tự nhắc đến câu: “Ta hồ, Ngô đạo suy nghĩ’’ của đức Khổng khi xưa.

Trông Bi lúc bây giờ có vẻ bi thương ảo não như cái biểu hiện của một thời đại tàn tạ, điêu linh.

TÁM NGƯỜI MỘT HỘI RƯỠI

Họ ngồi xếp thành một dãy dài. Tám người đều có vẻ mệt nhọc, con mắt lim dim hay lờ đờ, quần áo thì lôi thôi, lếch thếch: rõ ra một lủ con bạc sau một cuộc đen đỏ kéo suốt đêm.

ÔNG CHÁNH ÁN - Nguyễn Thị Tý!

Một người đàn bà trạc tứ tuần, to, béo như một bà án, bà phủ, hay nói đúng hơn, như một bà me Tây già, đương ngái ngủ, vội làm xong cái ngáp dở rồi đứng dậy.

ÔNG CHÁNH ÁN - Chị có gá bạc không?

THỊ TÝ - Bẩm, con không gá. Chị em đến chơi, giở tổ tôm ra tiêu khiển đấy thôi ạ.

ÔNG CHÁNH ÁN - Chị không gá, sao ở sở mật thám chị lại nhận...

THỊ TÝ - Bẩm, lạy ba tòa quan lớn, họ đánh con, họ bắt con khai như thế. Bất đắc dĩ con phải nhận.

Thế mà con người ấy nỡ ăn ở lật lọng, vô ân bội nghĩa... Theo lời mụ. dễ thường chỉ có mụ là người lương thiện...

Nhưng cũng may cho Thị Yến, có tình nhân của chị là Thái đến xin tòa rộng lượng và bằng lòng xin đền mụ Hợp số tiền năm trăm bạc thị đòi.

Chàng Thúc Sinh tân thời ấy nhận Thị Yến là người đảm đang, vì gia biến nên phải đem mình vào nơi lửa hồng, đáng để cho khách hồng quần thử soi...

Nhưng ông chánh án, tiếc thay, lại không phải là khách hồng quần, nên đang tay đập cành mẫu dơn..., bắt Thị Yến phải bồi thường cho Thị Hợp 100 đồng và chịu một tháng tù. Ý chừng ông chưa đọc truyện Kiều, nên nỡ để:

... Gương mờ nước thủy, mai gầy vóc xương.

Mà cũng tại Thị Yến không biết làm thơ để xiêu lòng người mặt sắt, cho nên đành trăng tủi hoa sầu, trở về chốn nhà pha lạnh lẽo... Đợi ngày cùng chàng Thái (không phải chàng Thúc) huệ lan sực nức một nhà...

Duy chỉ có mụ Hợp là vui vẻ, cười cười nói nói vì... vốn liếng chưa đến nỗi đi đời nhà ma.

THÊ TRÓC TỬ PHỌC

Hai người dân nghèo khổ, ngây ngô, đứng rụt rè, sợ hãi ở trước tòa. Hai người cùng làm nghề đốn củi, cùng mặc chiếc áo nâu đã bạc, cùng quấn khăn tai chó... cùng bị buộc vào tội nấu rượu lậu.

Hai người cùng kêu oan.

ÔNG CIIÁNH ÁN - Oan thì tòa thương, nhưng việc nhà đoan, tòa phải phạt. Các anh có nấu rượu lậu không?

- Bẩm không.

- Nhà đoan tìm thấy ở Cẩm Sơn, dưới chân núi Lả Mãi, các đồ nấu rượu và hai mươi ki lô bã. Các anh có phải là chủ cái đất ấy không?

- Bẩm không.

- Thế các anh có biết lính đoan thấy những tang chứng ấy ở đâu không?

- Bẩm không.

Ra họ không biết gì cả. Lính đoan về làng khám rượu, tìm thấy các tang vật, rồi hỏi lý trưởng, Lý trưởng nói là của hai tên Lê Tư và Phạm Lệ: thế là Lê Tư và Phạm Lệ bị bắt.

NGƯỜI THAY MẶT NHÀ ĐOAN - Bẩm hai người này đã thú nhận có nấu rượu trước mặt viên chức nhà đoan và lý trưởng làng Cẩm Sơn.

LÊ TƯ và PHẠM LỆ (tranh nhau nói) - Bẩm, anh lý trưởng chúng con bảo cứ nhận.

À, ra vậy! ông chánh án mỉm cười, phán:

-     Tôi biết, hai người này chỉ là kẻ chịu đòn thay cho dân làng Cẩm Sơn. Tết đến nơi phải có rượu để cúng tế, làng họ phải nấu. Nhà đoan bắt được, thì hương chức gặp người nào bảo người ấy chịu. Không may cho Lê Tư và Phạm Lệ lại ở nhà nên mới phải hy sinh.

ÔNG BIỆN LÝ - Vâng, chính vậy. Nhưng nếu họ gặp người khác thì lại không may cho người khác.

ÔNG CHÁNH ÁN - Bắt thì bắt, nhưng làm gì những hai người. Tưởng một người cũng đủ chán.

ÔNG BIỆN LÝ - Ý chừng hương chức họ muốn tâng công. Một người là đủ hai người lại đủ hơn...

ÔNG CHÁNH ÁN - Nhưng tòa không phải là mấy ông làng: Hai người là thừa.

ÔNG BIỆN LÝ (mỉm cười) - Đành vậy. Song biết chọn người nào? Sự khó khăn là ở đấy.

ÔNG CHÁNH ÁN (hỏi) - Trong hai người gia đình ai nặng hơn?

Lê Tư và Phạm Lệ ngơ ngác nhìn, không hiểu.

VIÊN THÔNG NGÔN (quát) - Kìa, trả lời đi chứ: Phạm Lệ có vợ chưa?

PHẠM LỆ (ngập ngừng) - Bẩm chưa.

- Còn Lê Tư?

- Có vợ hai con rồi ạ.

ÔNG CHÁNH ÁN - Được, tòa phạt Phạm Lệ 500 quan và tha cho Lê Tư, với vợ con.

ÔNG BIỆN LÝ (nhìn Lê Tư cười) - Anh về thì nhớ cám ơn vợ anh nhé?

Còn Phạm Lệ thì không thê tróc tử phọc nên đành để cho nhà pha có trọc phọc mấy tháng xuân vậy.

NỤ CƯỜI THÂM

Một người gầy gò, xanh xao, gió thổi một cái thì ngã; một người má híp môi thâm, hai con mắt lờ đờ như nhìn vào một cõi mộng nào; một người quần áo bẩn thỉu, móng tay cáu ghét, đầu tóc bơ phờ, một người nghiện.

-    Sao? Người ta bắt được một ngao thuốc phiện trong nhà anh, có phải không?

Sau một cái ngáp, Nguyễn Văn Phiên trả lời đủng đỉnh như ngồi vê sái:

- Bẩm có.

- Anh không biết đó là đồ quốc cấm à?

Đối với câu hỏi ấy, Phiên mỉm một nụ cười thâm.

-     Bẩm chúng tôi nghiện.

ÔNG CHÁNH ÁN (cũng mỉm cười) - Bẩm chúng tôi biết rồi. Nhưng anh nghiện thì có liên can gì đến việc anh oa tàng đồ quốc cấm?

Nụ cười của Phiên càng rõ rệt. Cặp mắt càng lờ đờ. Người ta bảo những lúc ấy tinh thần của người nghiện càng sáng suốt.

PHIẾN - Chúng tôi nghiện. Chúng tôi có muốn hút thuốc phiện lậu làm gì. Thuốc ngang nhạt bằng sao được thuốc ty. Chúng tôi muốn hút thuốc ty lắm. Chúng tôi mất tiền mua thuốc ty cũng đã lắm: Cả sản nghiệp tôi chui vào đấy rồi. Chúng tôi trung thành với công quỹ của chính phủ đến thế, còn gì nữa. Nhưng đến nay chúng tôi hết tiền. Hết tiền mà không hết được cơn nghiện, nên chúng tôi dành bóp bụng mua thuốc ngang hút, chứ chúng tôi mua đồ quốc cấm về làm gì! Nếu bây giờ nhà nước cho chúng tôi hộp thuốc ty hút, thì khi nào chúng tôi làm điều phi pháp ấy.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh nói dễ nghe nhỉ! Nhà nước làm gì có tiền vứt đi. Ai bảo anh hút?

PHIÊN (vẫn nụ cười thâm) - Nhà nước có cấm hút đâu. Nếu nhà nước cấm hút, thì tôi đã không phải ra đây, người tôi không đến nỗi thế này, mà sản nghiệp tôi không đến nỗi hết.

ÔNG CHÁNH ÁN (cả cười) - Nghĩa là theo anh, tội chung quy ở nhà nước cả. Anh khéo ngụy biện quá. Nghe lời anh thì lát nửa, anh có lẽ hóa ra một ông thánh sống. Anh hút, anh nghiện, không phải là vì anh chơi bời, mà chính vì anh muốn hy sinh sức khỏe anh, tài sản anh cho nhà nước. Người ta còn đợi gì mà không đúc tượng đồng cho anh?

PHIÊN (nụ cười càng thâm) - Đúc tượng đồng cho tôi thì tôi không dám mong, tôi chỉ mong tòa nghĩ lại cho tôi nhờ. Tôi đâu là người hút sách, nghiện ngập, nhưng sự hút, sự nghiện đó có lợi cho nhà nước. Tiền tôi mua thuốc là tiền vào công quỹ.

ÔNG CHÁNH ÁN - Biết mà? Anh có công với nhà nước. Nhưng anh không có công với tôi. Vậy anh rầu lòng nhận hai tháng tù và 500 quan tiền phạt vậy.

Nghe lời định tội, nụ cười thâm cúa Phiên bổng ngừng lại. Phiên hậm hực bước ra, hai con mắt vô hạn lờ đờ... Nhưng không rõ vì anh ta quá giận nhà nước bạc đãi một người bầy tôi trung thành hay vì anh ta đã đến cơn nghiện.

GẶP GỠ

ĐÀO VĂN TÍNH bị buộc vào tội ăn cắp đương ngồi xổm, nhìn qua cửa kính, theo đám mây trắng tự do trôi trên vòm trời, bỗng bị người sen đầm lác một cái mạnh, xách lên dúi vào phòng luận tội.

-      Đào Văn Tính! Có ăn cắp không?

Nhìn ông chánh án bằng con mắt oán hận - Tính trả lời sẳng:

-      Không? Tôi oan.

ÔNG CHÁNH ÁN - Ngựa về chuồng cũ còn kêu oan nỗi gì! Anh có tiền án rồi, phải không?

Tức tối, Tính đáp:

-     Có! Ba tháng về tội ăn cắp.

Cử tọa cười, ông chánh án cười. Nhưng không rỏ cười Tính thực thà thú tiền án, hay cười Tính điêu ngoa đã có tiền án mà còn kêu oan. Còn Tính cứ khăng khăng một mực:

-      Bận này tôi oan.

Nhưng người làm chứng lại không cho là oan. Người làm chứng là một cô béo trục béo tròn, thân thể nứt căng ra trong chiếc áo trắng kiểu tân thời mặc chẽn, cổ quấn chiếc khăn san lụa màu lá mạ: Chiếc khăn như ngạc nhiên không hiểu làm sao lại quấn cái cổ nục nạc và đen đủi của cô kia.

Cô giơ tay lên thề:

-      Tôi xin nói thật. Tên tôi là Nguyễn Thị Tròn.

Cử tọa cười. Đến Tính cũng phải nhếch mép. Duy cô Tròn vẫn trịnh trọng nói:

-     Hôm ấy, tôi đứng trên gác, chợt nhìn thấy ở đầu phố, cách nhà tôi hai bước, trên cổ một ả giang hồ đứng tán với tên này, chiếc khăn san của tôi mất hai hôm trước.

Vừa nói, cô vừa chỉ lên chiếc khăn lá mạ quấn trên cổ, rồi từ đấy, cô nắm lấy nó không rời ra nữa, hình như sợ nó lại bay mất.

ÔNG CHÁNH ÁN (hỏi Tính) - Đó, anh còn chối nữa thôi?

Tính lắc đầu, buồn rầu đáp:

-     Bẩm thật con oan. Con vừa mới ở nhà pha ra được mấy hôm, đương hóng mát ở phố Hàng Mắm thì bỗng... con thấy Thị Hiền, nhân tình củ của con. Mừng mừng, tủi tủi, hàn huyên kể lể. Thị Hiền vẫn cái áo sờn vai đã cũ với chiếc giầy rách mép, duy thêm chiếc khăn san phấp phới, còn mới tinh. Ngạc nhiên, con khen, “Cái khăn đẹp nhỉ?” Liếc mắt, Thị Hiền trả lời: “Cũng khá”. Câu chuyện mới đến đấy thì bổng đùng đùng cô béo tròn này chạy lại, hùng hổ rút phăng chiếc khăn san mà cô nhận là của cô, rồi tóm lấy con mà kêu đội sếp. Người ta xúm đông lại xem. Thị Hiền lẩn đi lúc nào không rõ. Chỉ còn con ngơ ngác, ức tắc không biết nói làm sao được.

ÔNG CHÁNH ÁN - Vậy hóa ra vì cuộc gặp gỡ tình cờ...

TÍNH - Bẩm, gặp gái ạ. Bẩm, con vừa ở ngõ ra gặp ngay gái, nên bây giờ mới phải...

ÔNG CHÁNH ÁN - Trở lại chuồng cũ.

Rồi ông mỉm cười, và như muốn tỏ cho Tính biết rằng ra ngõ gặp gái không phải là một điềm xấu, ông tuyên án tha bổng.

MỘT HỘI MỘT THUYỀN

VŨ MÔN, người phì nộn, uy nghi như một quan lớn, vẻ mặt nghiêm trang như một bậc mệnh phụ và trung hậu như một nhà đạo đức, ra trước tòa xin làm tội Nguyễn Anh, người bạn đã phản mình.

- Bẩm quan tòa, tôi với hắn mở chung một ngôi hàng. Tôi giao tiền cho hắn lên Hòa Bình mua thổ sản trên ấy để đem về bán rồi lại cất hàng ở dưới này lên. Bẩm, tôi quá tin hắn ta, đưa cho ba trăm bạc, nhưng hắn đi thì thấy mà về thì không. Xin tòa xét cho mà phạt những quân phản bạn để người lương thiện làm ăn.

Lời nói của Vũ Môn trịnh trọng, đứng đắn như lời một ông biện lý buộc tội. Lại thêm vẻ mặt đăm đăm, càng khiến cho người ta tin, người ta trọng.

Trái lại, Nguyễn Anh mắt ti hí, tai chuột, mặt choắt và nhọn, thoạt trông ai cũng liệt vào hạng cờ gian bạc lận rồi.

ÔNG CHÁNH ÁN - Nguyễn Anh, anh có nhận tội không?

NGUYỄN ANH - Bẩm, con không lấy tiền của anh con ạ.

Cử tọa cười nhạt.

ÔNG CHÁNH ÁN - Còn oan gì nữa mà chối. Anh có buôn chung với Vũ Môn không?

NGUYỄN ANH - Bẩm có.

ÔNG CHÁNH ÁN - Ông Môn có đưa tiền cho anh không?

NGUYỄN ANH - Bẩm có.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh có tiêu số tiền ấy đi không?

NGUYỄN ANH - Bẩm có.

ÔNG CHÁNH ÁN (cười) - Thế là anh bội tín rồi, còn gì nữa.

NGUYỄN ANH - (mỉm cười) - Bẩm... bẩm số tiền ấy không phải của anh con.

ÔNG CHÁNH ÁN (ngạc nhiên) - Không phải của Môn, vậy của ai?

NGUYỄN ANH - Bẩm đó là số tiền anh con đi lừa của người ta.

Bao nhiêu con mắt đều đổ dồn lại con người có vẻ nghiêm trang đôn hậu.

NGUYỄN ANH (vẫn mỉm cười) - Bẩm, anh ta lừa của bà Bùi Thị Hai 500$ và đã bị tòa xử vắng mặt cách đây hai tháng... sáu tháng tù ạ.

Ai nấy ngơ ngác nhìn. Ông chánh án giương to hai con mắt rồi bỏ kính xuống, lấy khăn lau, ông biện lý dụi mắt.

Vũ Môn vẫn nghiêm trang, tuy nước da đổi từ màu hồng sang màu tro, giơ tay lên... Ai cũng tưởng ông ta khép Nguyễn Anh vào tội vu cáo nữa.

-       Bẩm... tôi xin... chống án.

Một tiếng cười, ông biện lý đứng lên:

- Xin tòa hoãn xử. Để tôi hỏi việc này đã.

Tòa vừa hoãn, một người sen đầm chạy lại giắt con người trung hậu vào phòng biện lý... để rồi đưa vào buôn chung với con người tai chuột trong nhà pha.

TÒA THƯƠNG

Thằng cu Ngốc mới có mười ba tuổi. Người xanh và gầy, chỉ có cái đầu lớn. Bộ mặt già, trên trán in những vết răn dài. Một nụ cười ngây ngô, ngớ ngẩn trên cặp môi nhợt. Trong cái bộ dạng ấy, người ta không biết Nó bao nhiêu tuổi nữa: lên mười, nếu lấy thân thể mà nói, ngoài hai mươi, nếu chỉ nhìn bộ mặt.

ÔNG CHÁNH ÁN - Mày mới tí tuổi dã ăn cắp rồi.

NGỐC (giọng nói run run) - Bẩm... không.

ÔNG CHÁNH ÁN - Không gì. Lần trước, mày bị giao cho nhà Trừng giới sáu tháng, phải không?

Ngốc há mồm, sợ hãi nhìn ông chánh án.

- Vâng, có ạ.

- Vậy mày còn chối gì nữa. Nói thật đi thì tòa thương. Lời khai của những người làm chứng còn sờ sờ ra đấy. Thị Hoan khai nó đương nô đùa với em nó, tay cầm chiếc vòng vàng thì mày đến giựt rồi chạy. Người “phú lít” phải đuổi theo bắt được mày tay còn cầm chiếc vòng. Chứng cớ rõ ràng, còn chối gì.

Ngốc mặt nhợt xám lại, đứng im giây phút, rồi lấp bấp.

- Bẩm... con... trót dại.

- Ừ, có thế chứ. Tại sao mày ăn cắp hử?

- Bẩm... người ta xui con.

- Người ta là ai?

- Bẩm... là anh ấy.

ÔNG CHÁNH ÁN (gắt) - Anh nào?

Ngốc nhớn nhác nhìn xung quanh, rồi sẽ nói như sợ người bị tố giác nghe thấy:

-     Bẩm anh Hàng... Anh ấy bắt con đến giựt chiếc vòng của con bé.

ÔNG CHÁNH ÁN - Người ta xui mày, nhưng mày không nghe thì đã sao?

Ngốc nhìn ông chánh án, ý giả bảo ông ấy không phải ở địa vị mình nên không hiểu.

-      Bẩm, con không đi, anh ấy đánh... Con sợ lắm.

- Nó làm gì mà mày sợ nó?

- Bẩm, anh ấy cũng ở Tri Cụ ra.

- Nhưng lần trước mày ăn cắp thì ai xui mày?

- Bẩm, cũng anh ấy.

- Rồi anh ấy sẽ bị bắt. Còn mày, tòa thương tuổi còn trẻ đại, tha cho vì chưa đủ trí khôn, nhưng bắt đưa vào một nhà Trừng giới trong sáu tháng để cải ác vi thiện, nghe chưa?

Ngốc nghe tuyên án, đứng lặng đi. Mặt nhợt nhạt cắt không được một giọt máu, mắt nhìn ngơ ngác sợ sệt như thấy trước mặt những sự kinh khủng vô hình, chân tay run lẩy bẩy, hồi lâu mới thở ra:

-      Bẩm... tòa thương... xin phạt mấy tháng tù.

Ông chánh án ngạc nhiên nhìn Ngốc.

-     Bẩm... xin tòa thương, đừng bắt con lên Tri Cụ, con sợ lắm.

-  Việc gì mà sợ. Vả tòa dã xử rồi, không xứ lại được nữa.

Nhưng chưa hết lời, sen đầm đã nắm tay Ngốc kéo ra. Thành thử không rõ Ngốc sợ vì bị khổ cực hay bị bọn anh chị trên Tri Cụ áp bức theo bọn chúng làm những việc có thể bắt Ngốc trở lại Tri Cụ không biết bao nhiêu lần nữa.

QUAN THAM CHỤP ẢNH

Lê Minh trông vẻ mặt sáng sủa khôi ngô như một ông tham trẻ hay một ông hậu bố tri huyện, gọn gàng trong bộ quần áo tây trắng, Minh ung dung không có vẻ ấp úng của một sĩ phu đứng diễn thuyết trước mặt giám khảo.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh bị buộc vào tội đi lừa...

LÊ MINH (liến thoắng) - Tôi không đi lừa. Tôi xin thề...

ÔNG CHÁNH ÁN (mỉm cười) - Anh khôn khéo lắm. Nhưng không qua được lưới pháp luật. Anh nhờ một vài câu tiếng Tây thạo, nghiễm nhiên từ địa vị anh bồi nhảy lên địa vị ông tham. Nghĩa là anh tự ban cho anh chức tham tá sở Địa chính. Rồi nghiễm nhiên anh về các vùng thôn quê theo sau hai đứa đầy tớ, anh đem máy ngắm giả vờ đạc điền...

LÊ MINH - Bẩm...

ÔNG CHÁNH ÁN - Để tôi nói hết đã. Anh vào chơi cả ông huyện, anh về các làng bắt chức dịch phải cung phụng, ưu đãi anh. Anh hạch sách, anh ra oai như một ông quan; làng nào giàu có, anh lưu liên lại, đem máy nhè đình làng hay mồ mả người ta mà ngắm. Hỏi thì anh bảo trên tỉnh phái anh về ngắm hướng làm đường. Bọn nhà quê ngu dại tưởng thật, sợ hãi đem tiền đến lễ thánh...

LÊ MINH - Bẩm...

ÔNG CHÁNH ÁN - Bẩm gì? Tôi đã nói hết đâu. Nếu chỉ có vậy, thì có lẽ bây giờ anh hãy còn thong thả hại dân. Nhưng có cơm ăn, có tiền tiêu anh lại muốn có cả vợ đẹp nữa. Anh thấy ông chánh tổng Hào có cô con gái đẹp, anh muốn lấy, anh đến ở nhà cô... không may cho anh, ông chánh có người quen ở tỉnh, có phải như vậy không?

LÊ MINH - Bẩm, con đi chụp ảnh ạ. Máy ảnh của con đây.

Vừa nói, Minh vừa chỉ một cái máy chụp ảnh tàng, bẹp rúm ró, với ba cái chân, sơn long gần hết.

ÔNG CHÁNH ÁN - Anh chụp ảnh. Làm sao anh cứ nhè đình làng và mồ mả người ta mà ngắm?

LÊ MINH - Bẩm, con cho là phong cảnh đẹp. Còn cô con gái ông chánh Hào cô ấy muốn lấy con đấy chứ!

Nhưng cô gái nhà quê kia, che sự thẹn thò e ấp dưới chiếc khăn mỏ quạ nhất định chối là không. Rồi lúc cô ngồi xuống, cúi mặt, má đỏ hồng, là lúc anh chánh Hào và một lũ lý dịch nhất định đổ riệt cho Minh cái tội giả danh tham tá sở địa chính để nã tiền. Người thì lo đút cho quan tham ba chục để ông đừng cắm đường vào mả tổ, người thì lo vi thiềng cho quan một hai chục, vì cái hân hạnh quan tới nhà chơi...

Rút cục, quan bị tòa phạt ba tháng tù. Nhà pha sẽ được quan tham cho cái hân hạnh ở ba tháng chơi và chụp ảnh những phong cảnh đẹp trong ấy.

SỬNG SỐT

NGUYỄN VĂN QUẾ đã can án bốn lần. Nét mặt khó khăn dử tợn: Hai nắm lông mày sâu róm lởm chởm như cái bụi rậm trên đôi con mắt sâu hoắm. Hình thù xấu xí, thô tục như một tên tướng cướp, thoạt trông không đáng để ai thương cả. Cho nên vừa thấy một ông biện lý đã cướp lời của ông chánh án mà quát hỏi:

- Anh là người can phạm đã nhiều lần. Hiện giờ, anh buộc vào tội du đãng và lạm dụng thẻ thuế thân của người khác. Vậy tôi khuyên anh nên thú thật đi là hơn...

- Bẩm, con thú thật... Con oan.

Rồi anh ta hàn huyên kể lể. Đã ba năm tu chí làm ăn, hàng ngày thuê xe của Lê Thâm,... một người đội phú lít. Còn chiếc thẻ thuế thân, lý trưởng đã đưa cho, vì anh ta không biết chữ nên vẫn yên trí là của mình...

Nói xong nhoẻn miệng cười một cách quá ư vô duyên: Ai còn tin được lời một phạm nhân có tiền án. Người ta chỉ tin người làm chứng. Người làm chứng thứ nhất là Lê Thâm, ông đội phú lít kiêm chủ hiệu xe.

- Anh có cho tên Quế thuê xe không

- Bẩm... không...

Thấy Thâm ngượng ngập trả lời, ông chánh án hỏi vặn lại:

- Thật không chứ?

- Bẩm... quả con không cho thuê. Vợ con nó cho thuê đấy ạ...

Ra ông đội đổ lỗi cho vợ. Ông chánh án cố nghiêm nét mặt nói:

- Có thế mà ở cẩm anh không nói ra, để đến nổi người ta bị giam. Vợ anh thì khác gì anh?

- Bẩm... bẩm...

Rồi Thâm im bặt. Thành ra không biết anh ta định bẩm gì mà vợ với chồng khác nhau những thế nào. Ý chừng anh ta cũng không biết nốt.

Người làm chứng thứ hai là ông lý Thanh, lý trưởng làng tên Quế. Mặt ông đỏ gay, giọng ông lè nhè: Ý chừng ông vừa mới đi tìm can đảm ở trong một hàng rượu nào.

-     Anh có phát thẻ thuế thân cho tên này không?

Nhìn Quế bằng con mắt lờ đờ, ông lý đáp:

- Bẩm có.

- Có phải cái thẻ này không?

ÔNG Lý cầm cái thẻ, lật đi lật lại hồi lâu, rồi nói:

-     Bẩm phải... bẩm không... bẩm con không nhớ ạ.

Ông chánh án gắt:

-    Anh liệu hồn, cái thẻ này của tên Mai, nhưng tên Mai không có tiền đóng thuế cho anh, anh giữ lại rồi anh bán cho tên Quế chớ gì?

Ông lý Thanh nhìn ông chánh án sửng sốt;

-     Sao quan lớn biết?

Câu hỏi làm cho cử tọa cười, làm cho ông lý bị mắng một trận... tỉnh người, và làm cho Nguyễn Văn Quế được tòa tha trắng án.

TỘI AI NẤY CHỊU

(Viết theo bài một bạn gửi đến)

Tay xách cái ô vá, cụ lý Bủi nhà tôi trông có vẻ An Nam đặc. Thỉnh thoảng, cụ đem chiếc móng tay dài lên gãi vành tai, rồi đem thọc vào nách như các cụ ở trong đình vậy. Ấy thế mà cụ bị ra tòa về tội đi chơi rong phố theo lối tây đặc: Là huýt chó đi theo.

ÔNG CHÁNH ÁN (hiền lành) - Ông dắt chó đi ngoài đường, Sở Cẩm phạt lại không nộp phạt là nghĩa làm sao?

CỤ LÝ - Bẩm, đèn trời soi xét, quả con oan.

ÔNG CHÁNH ÁN (cười chế nhạo) - Đèn trời soi rồi, không oan đâu

CỤ LÝ - Bẩm... ba tòa quan lớn... con ra tỉnh mua lọng cho làng, con chó nhà con nó đánh hơi nó theo. Con đuổi mãi nó cũng không về, con biết làm thế nào. Sau con nghĩ: Ừ, con chó khôn đấy, nó ra tỉnh cũng không sợ lạ, thì cứ để nó theo...

ÔNG CHÁNH ÁN - Ấy thế! Ông dắt con chó của ông theo lại không có xích mà cũng không có rọ mõm, cho nên phạm luật, phạm luật vi cảnh, nghe chưa?

CỤ LÝ - Bẩm, con không biết vi cảnh ạ. Vả con có dắt nó đâu, tự nó theo đây ạ. Nó khôn lắm, xích nó làm gì, vả nó có cắn ai đâu, mà phải buộc mỏm nó lại.

ÔNG CHÁNH ÁN (cười) - Ấy thế mới bị phạt. Còn thẻ đâu.

CỤ LÝ (mở hầu bao lấy ra chiếc thẻ thuế thân) - Bẩm, đây ạ.

NGƯỜI THÔNG NGÔN - Thẻ chó kia!

CỤ LÝ (ngạc nhiên) - Ông nói giỡn. Chó làm gì có thẻ?

ÔNG CHÁNH ÁN (mỉm cười) - Có chứ. Ông dắt chó không có xích, năm quan, không có rọ mõm, năm quan, không có thẻ, năm quan, vị chi là bị phạt mười lăm quan tiền Tây cả thảy.

CỤ LÝ - Bẩm con oan. Thật là tội con chó. Quan lớn cứ cho người đánh chết nó đi, con không tiếc.

ÔNG CHÁNH ÁN - Thôi đi ra, tòa xử rồi.

CỤ LÝ (vừa đi vừa lẩm bẩm) - Rõ vận mình chó quá thật.

LUẬT NÀO

Hôm ấy, phiên tòa đông hơn mọi lần. Có lẽ vì bị cáo nhân là một người trong Hoàng phái. Vĩnh Dung, ví thử gặp bước may, thì cũng mũ cánh chuồn, cân đai bố tử, hống hách lắm. Nhưng, ở thời buổi nhố nhăng này Dung muốn làm anh chàng Don Quichotte nhỏ cũng không nên thân. Khổ mặt xương xương, trán cao, mắt sáng, nhưng cặp môi mỏng dính, Dung lặng yên đứng nghe ông chánh án kể tội.

ÔNG CHÁNH ÁN (nghiêm nghị) - Ông là người có học, phải biết đội xếp là những người nhà nước đứng giữ trật tự và thi hành luật nước. Vậy sao ông lại ngang tàng mắng, chửi người ta?

VĨNH DUNG - Chúng tôi oan, chúng tôi không đánh y. Chúng tôi không chửi y.

ÔNG CHÁNH ÁN - Thế ra y bịa, tại ở y cả.

VĨNH DUNG - Y nghe lầm, y hiểu lầm. Tôi thấy y bắt một người đi xe đạp không có đèn, rồi lăng mạ và tát họ, tôi can thiệp hỏi y theo luật nào mà đánh người ta, có thế thôi.

ÔNG CHÁNH ÁN (mỉm cười) - Chỉ có thế thôi? Thế thì có lẽ ông cũng trông lầm: Y không lăng mạ người ta, chính ống lăng mạ y, ông có làm đội xếp không?

VĨNH DUNG (ngơ ngác) - Không.

ÔNG CHÁNH ÁN - Thế thì ông để người ta làm việc của người ta, ông đi làm việc của ông. Lần trước, ông cũng đã lăng mạ người ta rồi.

VĨNH DUNG - Bẩm không. Lần trước, tôi thấy y đi xe đạp không có đèn, tôi có tò mò hỏi y xem luật nào cho phép đội xếp như y được đi xe đạp không đèn...

ÔNG CHÁNH ÁN - Ông tò mò... Sao ông không tò mò đi mua sách luật về mà xem? Ông không biết thì đi học, đội xếp có phải là giáo sư đâu. Ông nên biết: Ông thấy đội sếp làm việc phi pháp, như chửi, đánh người ta, thì ông chỉ có quyền viết thư lên Sở Cẩm hay cho ông biện lý mà thưa.

Vĩnh Dung nghe nói đứng ngây người ra.

Còn người làm chứng thầy đội xếp bị lăng mạ, cũng đứng ngây người ra mà nghe ông chánh án, mãi đến khi ông ấy hỏi mới vội vàng trả lời:

- Tôi bắt một người đi xe đạp không có đèn, ông này ở đâu chạy lại sừng sộ hỏi tôi luật nọ luật kia, bảo tôi ngu dốt... dọa đăng báo và bảo tôi là anh bê-xin.(imbécile = đồ ngu)

ÔNG CHÁNH ÁN (mỉm cười) - Mà anh chàng kia cũng không bao giờ đăng báo. Rồi tòa phạt Vĩnh Dung một tháng tù án treo.

Buồn rầu, Dung bước ra, quên không hỏi ông chánh án dựa vào luật nào mà phạt mình, và ông ấy theo luật nào mà ngối xử án.

Dẫu sao, Dung chắc cũng được một điều an ủi: Dọa người đội xếp đăng báo thì bây giờ câu chuyện đăng lên báo thật.

« Lùi
Tiến »