Chúng ta không biết tương lai sẽ như thế nào, nên không thể có một kế hoạch chính xác cho nó. Nhưng chúng ta có thể giữ cho tinh thần và thân thể của mình luôn khỏe mạnh và thanh cao, chúng ta có thể ấp ủ những suy nghĩ và lý tưởng tốt đẹp, và mơ những giấc mơ về mục đích cao thượng. Do vậy, chúng ta có thể quyết định được và biết được tính cách con người chúng ta sẽ bộc lộ ra sao khi lời kêu gọi hành động cao cả vang lên trong chúng ta, bất cứ lúc nào và ở đâu... Không ai bỗng nhiên trở nên khác biệt so với thói quen vốn có và những suy nghĩ mình đã từng ấp ủ.
- Joshua L. Chamberlain
Chỉ huy trưởng Trung đoàn 20th Maine của Liên quân miền Bắc. Người anh hùng của trận Gettysburg, nội chiến Hoa Kỳ.
R oger: Khi tôi lái xe lên khe núi tới Sundance, nơi chúng tôi tiến hành nhiều chương trình huấn luyện, tôi thường nhận thấy sự thay đổi diễn ra bên trong con người mình. Sự hối hả bận rộn nơi công sở với những đòi hỏi và sự lo lắng tan biến khi tôi cảm nhận được sự hùng vĩ của núi non và dòng sông, thấy sự hòa hợp của màu sắc và phong cảnh.
Tôi cảm thấy bản thân biết lắng nghe nhiều hơn. Có một sự tĩnh lặng ở đó, tôi có thể nghe rõ ràng hơn. Tôi trở nên thanh thản hơn khi để cho tiếng nói nội tâm cất lên.
Đây là khoảng thời gian quý giá nhất đối với tôi, vì tôi có thể chạm vào những điều mà thường ngày bị bỏ qua, nhưng nó phong phú hơn nhiều điều mà tôi ôm ấp hàng ngày. Tôi nhận ra mình đang kiểm nghiệm, suy ngẫm lại và tái cam kết.
Nhiều người trong chúng ta cảm thấy tâm hồn mình trở nên bình yên khi ở giữa cảnh thiên nhiên. Chúng ta cảm thấy thời gian như ngừng trôi, đồng thời cảm nhận được thực tại và sự vận hành tuyệt đối của quy luật tự nhiên. Chúng ta nhận thấy mình thật nhỏ bé và hầu như vô nghĩa nếu so với thiên nhiên. Chúng ta không thể thay đổi, cũng không thể kiểm soát thiên nhiên. Nhưng chính suy nghĩ này theo một cách nào đó lại làm chúng ta yên tâm. Yên tâm vì chúng ta cảm thấy mình là một bộ phận của một cái gì đó đáng quý trọng, và sự hiện diện của nó “ở ngoài kia” là không thể tranh cãi.
Trong thiên nhiên có sự cân bằng và hài hòa. Các mùa đến rồi lại đi một cách đều đặn. Cuộc sống cũng có chu kỳ, cho đi và nhận lại trong một tổng thể hài hòa đẹp đẽ. Ngay cả những hiện tượng gây tai họa bất ngờ như bão lụt, động đất cũng là bộ phận của sự hài hòa lớn hơn, là chu kỳ tự nhiên của sự phát triển và thay đổi. Thiên nhiên luôn luôn hòa hợp. Vẻ đẹp của thiên nhiên không ngừng lộ ra theo các quy luật của nó.
Thiên nhiên dạy chúng ta nhiều điều về sự bình yên. Nó nhắc nhở chúng ta rằng có những quy luật khách quan tồn tại và nắm quyền chi phối. Sự nhắc nhở đó làm chúng ta yên tâm rằng trong vũ trụ có một trật tự. Chúng ta không thể đặt ra quy luật riêng cho bản thân mình mà không gây ra hậu quả. Sự bình yên và chất lượng cuộc sống chỉ có thể có được khi chúng ta khám phá và liên kết với các quy luật cơ bản của cuộc sống.
Sự bình yên là gì?
Sự bình yên chúng ta đang nói tới có ý nghĩa lớn hơn là tình trạng không có chiến tranh. Nó không phải là sự rút lui vào thế giới hoang dã để tránh sự phức tạp và rắc rối trong cuộc sống hàng ngày. Sự bình yên chúng ta đang nói tới là biểu hiện của cuộc sống nội tâm của chúng ta. Đó là sống trong niềm vui sướng. Nó được hình thành ở ngay giữa cuộc sống, chứ không phải rút lui khỏi cuộc sống.
Quan điểm thành tựu cá nhân thường cho rằng sự bình yên và hạnh phúc bắt nguồn từ các thứ như là:
• Có nhiều tiền trong ngân hàng
• Có sự kiểm soát
• Được công nhận và có danh tiếng
• Sở hữu ngôi nhà mới, chiếc xe đẹp, hay những của cải vật chất khác
• Có địa vị xã hội cao
Trọng tâm của nó về cơ bản là làm thế nào kiếm được những thứ này nhanh hơn và nhiều hơn. Nhưng kết quả thì sao? Có phải đó là sự bình yên? Nó có được xây dựng trên cơ sở những giá trị tồn tại lâu dài?
Hãy dành một phút để suy nghĩ về chính cuộc sống của bạn. “Sự bình yên” có ý nghĩa gì đối với bạn? Nó bắt nguồn từ đâu? Bạn có hài lòng với khối lượng và chất lượng của sự bình yên trong cuộc sống của bạn?
Những nguyên tắc và quy trình chúng tôi đã trình bày trong cuốn sách này tạo ra những mô thức khác biệt được dựa trên các nguyên tắc “chính Bắc”, các mục đích, và các cách nhìn giúp xây dựng cuộc sống hạnh phúc và bình yên. Trong việc nuôi dưỡng những mô thức và nguyên tắc của thế hệ quản trị thời gian thứ tư, chúng ta có thể nhận thấy tất cả những điểm mạnh của cả ba thế hệ quản trị thời gian trước đều được duy trì và nâng cao – còn điểm yếu của chúng được loại bỏ. Bảng tóm tắt trên các trang 444 và 445 khái quát và minh họa sự khác biệt nói trên.
Sự bình yên về cơ bản là một kết quả của việc ưu tiên cho điều quan trọng nhất. Làm chỗ dựa cho “Những điều quan trọng nhất” là bốn nhu cầu cơ bản và các năng lực – sống, yêu thương, học tập, để lại di sản. Ưu tiên cho điều quan trọng nhất là kết quả của việc sử dụng bốn khả năng thiên phú của chúng ta – sự tự nhận thức, lương tâm, ý chí độc lập và trí tưởng tượng sáng tạo – để thỏa mãn các nhu cầu và năng lực của chúng ta theo cách dựa vào nguyên tắc.
Khi chúng ta liên kết các mô thức và các quy trình của thế hệ thứ tư vào cuộc sống, chúng ta sẽ tìm thấy một sự bình yên khác biệt:
• Sự bình yên trong năng lực của chúng ta để sống, yêu thương, học tập và để lại di sản.
• Sự bình yên trong phát triển những khả năng thiên phú của con người cho chúng ta sức mạnh về tính cách và năng lực vào thời khắc quyết định.
• Sự bình yên trong các vai trò hợp tác thay vì cạnh tranh, khi chúng trở thành một phần của sự hiệp lực, của một tổng thể sống.
• Sự bình yên trong học tập để lắng nghe và sống theo lương tâm.
Trên thế gian có những nguyên tắc, còn trong con người có lương tâm. Hai yếu tố này là nguồn sức mạnh tạo ra mọi sự thay đổi. Chúng tác động đến suy nghĩ và cách chúng ta nhìn nhận thế giới xung quanh. Chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của việc dừng lại suy nghĩ trong khoảng trống giữa tác nhân và phản ứng để có thể lắng nghe lương tâm và sử dụng năng lực của con tim để đưa ra những lựa chọn “tốt nhất”. Chúng ta nhận thấy có những mục đích cao quý hơn mục đích cá nhân theo đó chúng ta có thể tập trung sức lực và lòng đam mê với niềm tin chúng ta có thể tạo ra kết quả một cuộc sống có chất lượng. Chúng ta nhìn thế giới như một nơi chứa đầy những giải pháp theo phương án thứ ba. Chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của việc tạo ra các hệ thống liên kết sao cho việc tổ chức và lập kế hoạch cho cuộc sống củng cố thêm các thói quen của con tim nhằm đem lại sự bình yên.
Ưu tiên cho điều quan trọng nhất nuôi dưỡng sự bình yên
Các nguyên tắc và quy trình chúng tôi trình bày trong cuốn sách này nuôi dưỡng sự bình yên trong cả bốn chiều kích của cuộc sống – sự bình yên của lương tâm, trí óc, các mối quan hệ... thậm chí cả thân thể. Viễn cảnh đem lại mục đích và ý nghĩa cho cuộc sống. Các vai trò trở thành các con đường hiệp lực để cống hiến. Các mục tiêu trở thành sự thành tựu được thúc đẩy bởi lương tâm, có mục đích và được liên kết lại. Tầm nhìn hàng tuần là chiếc cầu nối liền sứ mệnh và thời khắc trong một chu kỳ tăng trưởng. Rèn giũa bản thân là sự đổi mới hàng ngày và hàng tuần. Từng thời khắc lựa chọn trở thành khoảng thời gian chúng ta sử dụng khả năng thiên phú của con người để hành động với sự chính trực.
Viễn cảnh chung và thỏa thuận bổn phận giúp chúng ta nhìn người khác dưới góc độ các cơ hội chứ không phải những rắc rối. Chúng ta nhìn nhận con người khác với sự vật. Họ không đơn thuần chỉ là “người được ủy quyền”. Họ cũng là con người biết sống và suy nghĩ như chúng ta, họ cũng có khoảng trống giữa tác nhân và phản ứng, những khả năng thiên phú và năng lực để hiệp lực với chúng ta nhằm cùng nhau tạo ra những điều quan trọng nhất vượt xa những điều chúng ta làm một cách riêng lẻ.
Những nguyên tắc và quy trình này làm thay đổi kỳ vọng của nhiều người về thời gian và chất lượng cuộc sống. Đây là điều quan trọng đối với sự bình yên, vì sự bất an phần lớn là do kỳ vọng không được đáp ứng – chúng ta mong đợi điều gì đó xảy ra, hay cho kết quả theo ý muốn của mình nhưng điều đó đã không xảy ra. Do đó chúng ta thất vọng, bực tức.
Gốc rễ của vấn đề là ở chỗ nhiều kỳ vọng của chúng ta bắt nguồn từ khuôn mẫu dạy dỗ, đạo đức nhân cách, hay tấm gương xã hội chứ không phải từ các nguyên tắc “chính Bắc”. Đó là những mô thức khiếm khuyết. Chúng không dựa trên cơ sở các quy luật cơ bản của cuộc sống.
Nhiều người trong chúng ta kỳ vọng – một cách có ý thức hay do bản năng – rằng có thể chỉ trải qua một ngày là làm được những điều đã có trong kế hoạch. Do đó, khi có những thách thức bất ngờ xuất hiện, chúng ta bực tức, khổ sở vì không thể hoàn thành kế hoạch đã định. Khi có ai đó đòi hỏi những điều mà chúng ta không dự tính trước, chúng ta cảm thấy bực bội. Chúng ta có xu hướng nhìn nhận người khác như những vật cản, làm gián đoạn kế hoạch của chúng ta. Chúng ta coi sự thay đổi như kẻ thù của mình. Chúng ta nghĩ rằng sự bình yên và hạnh phúc của chúng ta phụ thuộc vào việc chúng ta có hoàn thành hết công việc trong mỗi ngày hay không.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi kỳ vọng thay đổi – khi chúng ta nhìn mỗi ngày như một cuộc phiêu lưu mới lý thú theo bản đồ hành trình của chúng ta, với cái la bàn giúp chúng ta định hướng trên địa hình xa lạ... khi chúng ta nhìn các vấn đề gặp phải như những cơ hội để giúp đỡ người khác... khi chúng ta mong đợi có những tình huống thử thách những ưu tiên của chúng ta, với niềm tin cái la bàn sẽ giúp chúng ta hướng tới điều “tốt nhất”. Điều gì sẽ xảy ra khi sự bình yên và hạnh phúc của chúng ta là kết quả của việc mỗi tối đi ngủ với nhận thức rằng chúng ta đã lựa chọn ưu tiên cho điều quan trọng nhất trong suốt ngày đó? Liệu kỳ vọng đó có tạo ra sự khác biệt trong cách thức chúng ta tương tác với những thực tại trong ngày?
Chúng ta hãy thử xem xét một kỳ vọng khác. Một cách có ý thức hay do bản năng, nhiều người trong chúng ta kỳ vọng một cuộc sống không có thách thức. Do đó, mọi thách thức hay vấn đề sinh ra đều gây ra đau khổ, vì nó không đáp ứng kỳ vọng.
Nhưng kỳ vọng đó không dựa trên cơ sở thực tế. Sự đối kháng là một bộ phận tự nhiên của cuộc sống. Cũng như việc chúng ta phát triển các cơ bắp của thân thể bằng cách vượt qua sự đối kháng, như là nâng tạ, chúng ta cũng có thể phát triển các “cơ bắp” của tính cách bằng cách vượt qua những thách thức và nghịch cảnh. Như M. Scott Peck đã nhận xét trong cuốn sách “Những con đường ít người đi” (The Road Less Traveled):
“Cuộc sống khó khăn. Đó là chân lý, một chân lý vĩ đại. Nó là chân lý vĩ đại vì mỗi khi chúng ta nhận ra chân lý này, chúng ta lại vượt lên chính mình. Mỗi khi chúng ta biết cuộc sống khó khăn – thì nó không còn khó khăn đối với chúng ta nữa. Vì mỗi khi chúng ta chấp nhận điều đó, thì thực tế cuộc sống khó khăn không còn là vấn đề nữa.”
Nếu chúng ta kỳ vọng sẽ có thách thức, thì khi thách thức xảy đến, nó sẽ không gây ra sự bực bội hay lo sợ, đau khổ.
Ví dụ khác, nhiều người trong chúng ta kỳ vọng người khác đồng ý với mình, thực hiện những điều chúng ta cho là cần phải làm. Khi người khác không đồng ý với chúng ta, khi họ có thắc mắc hoặc quan ngại, khi họ không nhiệt tình ủng hộ quyết định của chúng ta hay đưa ra những ý kiến khác, chúng ta liền cảm thấy không hài lòng.
Vậy, sự khác biệt sẽ như thế nào khi chúng ta kỳ vọng người khác nhìn vấn đề khác với chúng ta, khi chúng ta coi trọng sự khác biệt, khi chúng ta mong đợi việc cùng nhau hiệp lực sử dụng khả năng thiên phú của con người để tìm ra các giải pháp theo phương án thứ ba?
Kỳ vọng không được đáp ứng sẽ gây ra sự bực bội, nhưng kỳ vọng lại do chúng ta kiểm soát. Chúng ta không nói đến việc hạ thấp kỳ vọng, mà nói đến việc đặt nó vào những thực tại của nguyên tắc “chính Bắc”. Một cách phổ biến để chúng ta loại bỏ sự bực bội gặp phải trong cuộc sống là xem xét lại những kỳ vọng của mình. Mỗi khi cảm thấy bực bội, chúng ta nên quay trở lại gốc rễ của vấn đề, bằng cách tự hỏi:
• Kỳ vọng nào mà mình đặt ra nhưng đã không được thực hiện?
• Kỳ vọng đó có đặt trên cơ sở nguyên tắc “chính Bắc”?
• Mình phải làm gì để thay đổi kỳ vọng?
• Mình rút ra bài học gì từ đây để có tác động đến những kỳ vọng trong tương lai?
Khi những kỳ vọng của chúng ta không dựa trên cơ sở các thực tại “chính Bắc”, chúng ta đã tự đặt mình vào tâm trạng bực bội và bất an.
Hai yếu tố cơ bản nhất: Sự cống hiến và lương tâm
Trong tất cả những nguyên tắc và quy trình chúng ta đã đề cập, có hai yếu tố quan trọng nhất đối với sự bình yên là sự cống hiến (để lại di sản) và lương tâm. Trong khi cả bốn nhu cầu cơ bản đều quan trọng, thì nhu cầu cống hiến đem lại ý nghĩa và sức mạnh cho các nhu cầu còn lại. Trong khi cả bốn khả năng thiên phú đều quan trọng, thì lương tâm đem lại ý nghĩa và sức mạnh cho các khả năng thiên phú còn lại. Sự cống hiến và lương tâm kết hợp lại giúp chúng ta nhận ra đâu là đích đến và làm cách nào để đến được cái đích đó.
Sự cống hiến
Gần đây, Trung tâm Lãnh đạo Covey có tham gia với đài PBS xây dựng chương trình kịch video do chúng tôi quay tại nước Anh. Nhân vật trung tâm trong câu chuyện nổi tiếng này là một người Anh, người đã vượt qua quãng đời tuổi trẻ sống bụi đời trên đường phố để trở thành nhà văn thành đạt với ngôi nhà sang trọng và một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, vào thời gian câu chuyện xảy ra, ông đã đến giai đoạn “bế tắc của nhà văn”. Trong một thời gian dài, ông không có cảm hứng sáng tác, sự sáng tạo của ông dường như biến mất. Ông lâm vào cảnh nợ nần chồng chất và đang phải chịu sức ép lớn từ nhà xuất bản. Càng ngày ông càng thấy bi đát với nỗi lo sợ rằng con cái ông sau này cũng sẽ sống cuộc đời lang thang trên đường phố giống như ông xưa kia.
Ông bị mất tinh thần, không thể ngủ được và đi lang thang trên các đường phố Luân Đôn vào ban đêm. Rồi ông nhìn thấy những cảnh nghèo khổ, sự ngược đãi tàn nhẫn đối với trẻ em làm việc trong các nhà máy, những bậc cha mẹ lăn lộn kiếm sống để gia đình có cái ăn qua ngày. Dần dần, ông được thức tỉnh bằng hiện thực cuộc sống mà ông chứng kiến: những hệ quả của tính ích kỷ, lòng tham lam và sự vô nhân đạo của những kẻ lợi dụng khó khăn của người khác. Điều đó làm xúc động con tim, và ý tưởng bắt đầu nảy nở trong đầu của ông. Ông có thể làm điều gì đó để tạo ra sự khác biệt!
Ông quay trở lại viết sách với một sức mạnh và lòng nhiệt tình hơn bao giờ hết. Khát vọng cống hiến làm ông say mê, nó cuốn hút tâm trí ông. Ông không còn cảm thấy thiếu tự tin và mất tinh thần nữa. Ông không còn quan tâm về tình hình tài chính của mình mà chỉ muốn viết ra câu chuyện này, in thành sách với giá rẻ để câu chuyện đến được với càng nhiều người càng tốt. Điều đó làm cả cuộc đời của ông thay đổi.
Do vậy mà thế giới thay đổi. Cuốn sách đó chính là Christmas Carol (Ca khúc Giáng sinh), một kiệt tác của Charles Dickens. Tác phẩm này đã làm rạng rỡ cuộc sống của hàng triệu người trên khắp thế giới. Khát vọng của Charles Dickens đã biến thành một di sản của niềm hy vọng, sự ấm áp và âu yếm của tình người.
Hầu hết những kết cục của mô thức thành tựu cá nhân, chỉ biết của mình và cho mình, là sự trống rỗng. Thiếu mục đích cao đẹp, chúng chỉ là ảo tưởng. Chúng chỉ đem lại sự thỏa mãn nhất thời như vị ngọt của viên kẹo.
Chỉ khi nào chúng ta tập trung cho việc cống hiến nhiều hơn hưởng thụ, chúng ta mới có thể có được sự bình yên trong mọi mặt của cuộc sống. Chính trong khi để lại di sản, chúng ta mới tìm thấy ý nghĩa của các nhu cầu sống, yêu thương và học tập.
Lương tâm
Phần lớn nội dung của thế hệ quản trị thứ ba có đề cập đến một số kết hợp giữa sự tự nhận thức, ý chí độc lập và trí tưởng tượng sáng tạo. Nhưng nếu thiếu lương tâm thì không thể có sự bình yên.
Stephen: Có một lần, khi đang làm việc tại một trường đại học, tôi có vinh dự được tiếp đón một nhà tâm lý học nổi tiếng và là cựu chủ tịch hiệp hội tâm lý quốc gia. Ông được coi là cha đẻ của “liệu pháp chính trực” (integrity therapy), một phương pháp điều trị tâm lý học dựa vào ý tưởng cho rằng sự bình yên của tâm hồn, niềm hạnh phúc đích thực và sự cân bằng trong cuộc sống là kết quả của một lối sống trung thực với lương tâm. Ông tin rằng lương tâm gắn với nhận thức phổ quát về cái đúng cái sai là đặc điểm chung của mọi nền văn hóa lâu đời, của các tôn giáo và các xã hội qua mọi thời đại.
Một buổi nghỉ trưa giữa hai buổi giảng bài, tôi lái xe đưa ông lên vùng núi cao để ngắm cảnh. Tôi nhân cơ hội này hỏi ông do đâu mà ông tin vào liệu pháp chính trực.
Ông trả lời: “Đó là điều rất riêng tư. Tôi từng bị mắc chứng hưng-trầm cảm (manic-depressive) và hầu như đời tôi là một chuỗi những thăng trầm. Sau một thời gian tư vấn cho một số người, tôi cảm thấy bị căng thẳng và rất dễ bị tổn thương. Tôi bị trầm cảm – đến mức suýt tự sát. Nhờ được đào tạo chuyên ngành tâm lý và nhờ kinh nghiệm nghề nghiệp nên tôi đủ nhận thức về điều đang diễn ra và biết rằng mình đang trở nên nguy hiểm. Khi đó, tôi đã tự giam mình trong phòng kín để ngăn ngừa hành động tự sát. Sau đó một vài tháng, tôi đi ra ngoài và trở lại làm việc. Thế rồi sau đó một hai năm, tôi lại trở bệnh, lại tự chữa bệnh cho mình và dần dần tiến hành nghiên cứu, viết sách”.
Ông nói tiếp: “Đến khi tôi làm chủ tịch của hiệp hội, tôi lại bị bệnh nặng, và suy sụp đến nỗi không thể đi họp và điều khiển văn phòng của mình. Lúc đó, tôi tự hỏi:“Liệu nguyên nhân có phải vì mình đã làm theo một khuôn mẫu sai lầm trong cuộc sống và trong nghề nghiệp?”. Từ sâu trong nội tâm, tôi biết rõ mình đã sống giả dối trong nhiều năm qua. Có một mảng tối trong cuộc đời mà tôi đã không chịu thú nhận.
Và tôi quyết định phải thoát ra khỏi tình cảnh này. Tôi cắt đứt quan hệ bồ bịch, trở lại quan hệ đằm thắm với vợ. Lần đầu tiên trong rất nhiều năm, tôi cảm thấy bình yên – sự bình yên khác hẳn với cảm giác trước đây mỗi khi tôi hết trầm cảm và trở lại làm việc. Đó là sự bình yên có chiều sâu trong tâm hồn, sự trung thực và thống nhất với bản thân – là sự chính trực.
Đó là lúc tôi bắt đầu nghiên cứu lý thuyết cho rằng có lẽ nhiều vấn đề con người gặp phải là hậu quả từ việc lương tâm bị xem nhẹ, bị từ chối, vi phạm, dẫn đến làm mất đi tính chính trực của cá nhân. Rồi tôi nghiên cứu sâu vào ý tưởng này. Tôi thuyết phục một số bác sĩ khác cùng tham gia với tôi, điều trị cho bệnh nhân theo phương pháp này. Từ những dữ liệu có được, tôi đã khẳng định và cho ra đời liệu pháp chính trực.”
Sự cởi mở và niềm tin sâu sắc của ông gây ấn tượng rất mạnh đối với tôi, cũng như với hàng trăm sinh viên tại hội trường vào ngày hôm sau.
Kinh nghiệm bản thân và công trình nghiên cứu của nhà tâm lý học này cho thấy rõ vai trò quan trọng của lương tâm đối với việc có được sự bình yên trong cuộc sống. Như cách nói của ông, đó là “một sự bình yên theo kiểu khác”. Rõ ràng, ông đã phát triển một số khả năng thiên phú của mình đến một mức rất cao. Nhìn rõ hoàn cảnh của mình đến mức tự giam mình trong phòng cho thấy khả năng tự nhận thức và ý chí độc lập rất nổi bật của ông. Sự công nhận công trình nghiên cứu của ông trong lĩnh vực này là bằng chứng cho thấy trí tưởng tượng sáng tạo của ông. Nhưng chỉ đến khi ông kết nối với lương tâm của mình ông mới tìm thấy sự bình yên mà ông muốn có.
Những kết quả hàng thập kỷ qua trong lĩnh vực tâm lý trị liệu đã chứng minh sự vô nghĩa của việc cố đạt được sự bình yên và chất lượng cuộc sống lâu dài mà không đề cập đến yếu tố cơ bản là lương tâm. Lương tâm là sự kết nối của chúng ta với hướng “chính Bắc” của nội tâm, với những nguyên tắc dẫn đến sự bình yên và chất lượng cuộc sống.
Hai trở ngại lớn nhất: sự nản chí và lòng kiêu hãnh
Hai trở ngại lớn nhất cho sự bình yên là sự nản chí và lòng kiêu hãnh.
Sự nản chí
Nản chí là thiếu ý chí – thiếu dũng khí. Sự nản chí tương phản với tất cả mọi điều chúng ta bàn đến. Nó xuất hiện do kết quả của việc xây dựng cuộc sống dựa trên ảo tưởng thay vì nguyên tắc, do hậu quả của việc leo lên chiếc thang bắc nhầm bức tường. Nó xuất hiện khi chúng ta mệt mỏi, thiếu sức sống, hay nợ nần, khi các mối quan hệ tan vỡ, khi chúng ta gặp bế tắc, khi chúng ta không tìm thấy ý nghĩa hoặc mục đích của cuộc sống. Nó xuất hiện khi chúng ta không có khát vọng, khi chúng ta sống mất thăng bằng, khi chúng ta không đạt được mục tiêu của mình. Nó xuất hiện khi chúng ta sa lầy trong hàng đống công việc khẩn cấp, cách nhìn thiển cận của kế hoạch hàng ngày, khi chúng ta không hành động chính trực vào thời khắc lựa chọn. Nó xuất hiện khi chúng ta có tư duy tranh giành và hẹp hòi, khi mối quan hệ tương tác thắng- thua phủ lên cuộc sống và môi trường sống với việc nói xấu sau lưng, dùng thủ đoạn và tư duy suy bì tị nạnh.
Nản chí giống như bị lạc trong rừng mà không có chiếc la bàn hay cái bản đồ chỉ đường. Đó là sự phát hiện ra rằng nhiều tấm bản đồ mà người ta đưa cho chúng ta lại chỉ dẫn chúng ta ngày càng đi xa khỏi nơi chúng ta muốn đến.
Ngược lại, sự dũng cảm xuất hiện do nhận ra sự tồn tại của các nguyên tắc, sự thỏa mãn các nhu cầu và năng lực một cách cân bằng, do có viễn cảnh rõ ràng, sự cân bằng giữa các vai trò, khả năng đặt ra và thực hiện được các mục tiêu có ý nghĩa, cách nhìn vượt ra khỏi thời khắc khẩn cấp, có tính cách và năng lực để hành động với sự chính trực vào thời khắc quyết định, tâm lý dồi dào để thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả và với tinh thần hiệp lực trong thực tại tương thuộc. Sự dũng cảm bắt nguồn từ con tim, và gắn bó với con tim để tạo ra hy vọng.
Bất kể chúng ta ở đâu, cách tốt nhất để xây dựng lòng dũng cảm là đặt ra mục tiêu và đạt được mục tiêu đó, đưa ra lời hứa và thực hiện lời hứa đó. Bất kể mục tiêu và lời hứa đó có nhỏ đến đâu, hành động này sẽ tạo ra niềm tin rằng chúng ta có khả năng hành động với sự chính trực vào thời khắc quyết định. Đó có thể chỉ là chuyện nhỏ như dậy sớm – “lý trí mạnh hơn nệm giường” – hay coi trọng dinh dưỡng hơn khẩu vị, dù chỉ là một ngày. Bởi khi chúng ta bắt đầu đưa ra và thực hiện lời hứa đối với bản thân và người khác, chúng ta đã có bước đi đầu tiên dẫn đến niềm tin, sự trưởng thành và bình yên.
Sự kiêu hãnh
Có một trở ngại còn lớn hơn, là mối đe dọa lớn nhất đối với nỗ lực phấn đấu dựa vào nguyên tắc trong cuộc sống. Đó là lòng kiêu hãnh. Mặc dù chúng ta thường dùng từ ngữ này để mô tả niềm vui sâu sắc hay sự thỏa mãn đối với điều gì hay con người nào đó – chúng ta có thể kiêu hãnh về một tác phẩm xuất sắc hay tự hào về thành tích nào đó của đứa con trai hay con gái – lòng kiêu hãnh cũng biểu thị một trong những mô thức tai hại nhất trong cuộc sống.
Chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được nghĩa tiêu cực của khái niệm này qua từ ngữ “đầy kiêu hãnh” (prideful). Một người đầy kiêu hãnh về cơ bản là người có bản chất hiếu thắng, luôn tìm cách nâng mình cao hơn người khác. Theo lời của C.S. Lewis:
“Niềm kiêu hãnh không hài lòng với những gì đã có, mà với việc luôn luôn có nhiều hơn người khác... Chính sự so sánh làm cho bạn cảm thấy kiêu hãnh; một niềm vui do thấy mình hơn người khác.”
Hãy xem xét tác động của sự kiêu hãnh trong việc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản và năng lực của chúng ta.
• Kiêu hãnh trong lối sống có nghĩa là người ta không cần quan tâm đến sự phù hợp giữa mức thu nhập và nhu cầu của mình, vì họ phải là người có thu nhập cao hơn người khác. Họ luôn luôn so sánh hình thức bên ngoài – đầu tóc, trang phục, hình thể của họ – với người khác.
• Kiêu hãnh trong yêu thương xuất hiện khi người ta đo lường giá trị của mình thông qua số lượng và uy tín của bạn bè mà họ nghĩ rằng họ có, hay qua sự ngợi ca mà họ nhận được từ người khác.
• Kiêu hãnh trong học tập thể hiện khi không dựa vào kiến thức thực sự mà căn cứ chủ yếu vào bằng cấp, vị thế.
• Kiêu hãnh trong để lại di sản khi không tìm thấy ý nghĩa của việc cống hiến, mà chỉ quan tâm đến việc có nhiều đóng góp hơn người khác và được người khác công nhận sự đóng góp đó.
Kiêu hãnh là loại ký sinh tình cảm tệ hại nhất. Nó làm cho người ta không có niềm vui trọn vẹn, sự mãn nguyện hay sự bình yên trong tâm hồn vì luôn có khả năng xuất hiện người khác đẹp hơn, hay giàu có hơn, có nhiều bạn bè hơn, có ngôi nhà lớn hơn, có xe hơi sang trọng hơn...
Kiêu hãnh gây tác hại âm ỉ vì nó làm vẩn đục ý nghĩa và mục đích sống. Nó làm mờ nhạt, xao nhãng, thậm chí phế truất lương tâm. Như C.S. Lewis nhận xét: “Kiêu hãnh là một căn bệnh ung thư tinh thần; nó nuốt chửng chính cái khả năng yêu thương, hay sự mãn nguyện, thậm chí cả lương tri”. Cuối cùng nó dẫn đến sự thù ghét, ganh tị và chiến tranh.
Những người nhiều kiêu hãnh tìm kiếm sự an toàn của mình ở sự so sánh nấc thang của mình cao hơn người khác chứ không phải xem xét chiếc thang của mình có bắc đúng bức tường hay không. Họ xem là điều hiển nhiên khi thấy người khác ở dưới nấc thang của họ. Phần thưởng, hay sự chú ý là dành cho người dẫn đầu... ngay cả khi dẫn đầu trong những điều sai trái.