Tiếp theo Mười Điều Tâm Niệm, đến tác phẩm Bùn Lầy Nước Đọng là tập nghị luận đặc biệt chú ý đến những vấn đề sinh hoạt của người dân quê, cả cuộc đời họ luẩn quẩn trong cảnh đói khổ, thối nát.
A. Kế hoạch về chính trị
Để chống lại với những sự thối nát của quan trường (sự lạm quyền, nạn hối lộ), Hoàng Đạo đề nghị biện pháp phân quyền cho hợp lý, trừng trị những nhân viên thối nát và giáo dục dân quê về phương diện pháp luật.
Để chống nạn trộm cướp làm cho dân quê luôn luôn sống trong tình trạng bất an, Hoàng Đạo đề nghị một tổ chức trị an chuyên nghiệp “có nhiệm vụ rõ ràng, có trách nhiệm hẳn hoi, hết sức tìm phương pháp ngăn ngừa những sự cướp bóc nơi thôn dã”.
Để chống óc xôi thịt, Hoàng Đạo đề nghị phá đình, bãi bỏ sự tôn ti, để mọi người được bình đẳng ngồi chiếu ngang nhau. Đình sẽ là một nhà họp sạch sẽ cao ráo, dân chúng thường lui tới để bàn luận về việc làng, mưu những ích lợi chung.
Hoàng Đạo đòi ban bố những quyền tự do dân chính. Theo ông muốn nâng cao trình độ của dân quê không gì bằng bảo đảm cho họ những quyền tự do, dân chủ.
B. Kế hoạch về kinh tế
Muốn cho nền hành chính và chính trị được vững vàng, điều quan hệ là phải đặt nó trên một căn bản kinh tế vững chắc.
Hoàng Đạo công kích chế độ thuế má nặng nề của thực dân bóc lột một cách dã man người dân quê.
Hoàng Đạo công kích chính sách của thực dân cố tâm dìm các công nghệ Việt Nam, cấm nhân dân nấu rượu, nhưng lại bắt mọi người uống rượu của hãng Fontaine, đồng thời lại cho phép tự do hút thuốc phiện để cho sinh lực dân trí bị hao mòn.
Hoàng Đạo tố cáo sự đồi bại, sự bất công trong việc quản cấp công điền, sự nguy hại của chế độ đồn điền mà quyền chiếm hữu chỉ ban bố cho người Pháp hoặc một vài người Việt có công lớn với Chính phủ Pháp.
Sau cùng Hoàng Đạo tố cáo nạn cho vay nặng lãi ở thôn quê của bọn trọc phú. Có khi họ ăn lãi đến 20% nếu con nợ cần tiền.
Để đối phó với những khuyết điểm trên, Hoàng Đạo đã đưa ra những ý kiến rất cụ thể về những vấn đề chỉnh đốn thuế vụ, nâng cao tiểu công nghệ địa phương, bênh vực quyền lợi của công nhân tại các đồn điền, tiêu diệt nạn cho vay nặng lãi bằng cách nới rộng và bình dân hóa những nông phố ngân hàng. Thành lập nhiều nông đoàn để tương trợ lân nhau, giáo dục dân quê.
Có áp dụng được những điều tối thiểu như vậy mới bảo đảm được đời sống ấm no, hạnh phúc cho dân quê.
B. Kế hoạch về giáo dục
Nều giáo dục ở thôn quê cần phải được triệt để phổ thông, Hoàng Đạo đề nghị một chương trình giáo dục đại cương gồm hai điểm căn yếu:
1. Phổ biến pháp luật:
Để người dân quê ý thức được quyền lợi, ý thức được nhiệm vụ của họ.
2. Truyền bá tinh thần khoa học:
Phổ biến những điều thường thức về vệ sinh, về y khoa, luyện cho người dân bộ óc tối thiểu về khoa học, để họ sống một cách lành mạnh.
Tổng luận về Bùn Lầy Nước Đọng
Ở đây chúng ta thấy Hoàng Đạo thiết tha với thân phận đám dân quê nghèo đói dốt nát biết là chừng nào. Những vấn đề ông nêu lên, những giải pháp ông đề ra rất sát với thực tế.
Đọc Bùn lầy nước đọng ta còn thấy rùng mình về thái độ đàn áp ngu dân của lũ thực dân cướp nước và càng đem lòng cảm phục tâm tình cao thượng ưu thời mẫn thế của Hoàng Đạo.
CON ĐƯỜNG SÁNG
Con Đường Sáng là tiểu thuyết luận đề của Hoàng Đạo. Trong tác phẩm này ông muốn miêu tả một thanh niên nhà giàu, có học bơ vơ trước ngã ba thời đại vì không biết mình đi đâu, nên chỉ còn biết lấy sự chơi bời trác táng làm mục đích. Nhưng trước cuộc sống lầm than của đám dân quê, Duy cảm thông và dần dần giác ngộ, chàng trở về đồn điền cùng với người yêu là Thơ, bắt đầu xây dựng hạnh phúc mình trong sự hy sinh làm việc để nâng cao đời sống của đám người nghèo khổ.
Trong tác phẩm này, lời văn của ông tuy vẫn có phần trong sáng, gợi hình gợi cảm nhưng cách bố trí những tình tiết câu chuyện không được uyển chuyển và hấp dẫn như tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh.
TRƯỚC VÀNH MÓNG NGỰA
Hoàng Đạo tỏ thái độ nhiệt thành trong việc cải tạo thôn quê ở hai tập lý thuyết Mười Điều Tâm Niệm, Bùn Lầy Nước Đọng và ở tiểu thuyết luận đề Con Đường Sáng nhưng về phương diện nghệ thuật sáng tác thì ông thành công hơn cả ở tập Trước Vành Móng Ngựa. Có thể nói đây là một thứ vui cười ở tòa án xếp thành những vở kịch nhỏ rất linh động.
Nhân vật thường xuyên là:
- Ông Chánh Ân: khi vui tính, khi hắc búa
- Thông ngôn: cũng vậy
- Ông Biện lý: thường thường vui tính, ưa khôi hài
- Các bị cáo: có tính cách quốc tế: Việt, Tây đen, Tây trắng,
Tàu; có đủ các hạng người: công chức, ăn cắp, ông Nghị, ông Đồ và những người dân quê nghèo đói, khi thì láu lỉnh, khi thì ngớ ngẩn
Ở tác phẩm này Hoàng Đạo đã chứng tỏ ông có con mắt nhận xét thật tinh tế.
Ông miêu tả những cử chỉ ngôn ngữ hoặc láu lỉnh hoặc ngây thơ dớ dẩn đến tức cười của lũ người phạm pháp bị ra trước vành móng ngựa và chính ở nơi này ẩn dưới những nụ cười thông minh đó, ông đã lần lượt phô bày những mâu thuân đến rơi lệ của một chế độ pháp trị, vô nhân dưới thời thực dân.
*
Bài Chỉ Vì Con Chó Săn dưới đây, tác giả đã khéo tả cho ta thấy hình ảnh một tiểu nhân cậy thế hầu ông đội Tây và hình ảnh “nhỏ mọn” của một ông phú lít An Nam:
Chỉ vì con chó săn
Bùi Độ Diễm, có bộ mặt gân guốc bướng bỉnh của một anh bếp hầu một viên đội Tây, phải buộc vào tội thóa mạ viên chức nhà nước lúc đương hành sự.
Chắc Diễm thường được trông “quan” đội - mà Diễm được cái hân hạnh làm bếp - ra uy hống hách với bọn lính ở dưới quyên “quan”, nên Diêm coi thường bọn “phu lít” mà Diễm nhầm là lính tập.
Sự nhầm lẫn ấy đưa Diễm ra trước Tòa.
- Bẩm con không dám đánh ông ấy ạ.
ÔNG CHÁNH ÁN: - Thế sao áo người ta lại rách?
BÙI ĐỘ DIẼM: - Bẩm tại ông ấy ngã xe đạp. Thấy xe đạp con không có đèn, ông ấy đuổi con, chặn đường thế nào mà húc ngay phải vệ đường ngã sóng soài ra. Nêu con không đến đỡ dậy, thì ông ấy bắt thế nào được con.
ÔNG BIỆN LÝ: - À, ra làm ân nên oán đấy.
VŨ VĂN TƯ: - Người nhỏ và gầy, co ro trong chiếc áo bành tô rộng, để ý lắm mới trông thấy bộ mặt hốc hác, có vẻ khó khăn. Giả thử đem để bên một viên đội xếp, bên Anh hay bên Mỹ thì vị tất đã cao quá đầu gối họ. Trông bộ dạng viên phu lít Tư, người ta mới hiểu cái thái độ quật cường của Diêm.
- Hôm ấy tôi “xe vít” ở phố “Dô lăng”, tôi thấy “oong anh đi dên” “lúy” đi xe đạp không có “lúy me”.
VIÊN THÔNG NGÔN: - Biết tiếng Tây thì có nói tiếng Tây bằng không thì nói tiếng ta, chớ đừng bắt chước ông nghị “phút, a lapoóc” như thế (cử tọa cười).
VŨ VĂN TƯ: - Vâng (chỉ vào Diễm). Tên này đi xe đạp không có đèn, tôi bắt mang về bóp, rồi nó đưa tôi về nhà nó ở phố Sinh Từ, về đến đấy nó chạy thẳng vào nhà, cho vợ ra “xin” tôi. Tôi không nghe, nó bèn ra sừng sộ, đấm tôi hai cái vào ngực, vỡ cả đồng hồ, gẫy cả bút chì, rồi nó giật cuốn sổ tay của tôi lủi vào nhà mất.
Tư phanh áo bành tô, chỉ vào chỗ áo rách, lấy cái bút chì gãy và lấy cái đồng hồ quả quýt vỡ mặt kính để lên tay:
- Đây, quan xem. Tang chứng còn rành rành ra đây.
ÔNG BIỆN LÝ: Đồng hồ và bút chì của anh bị thương, còn anh có bị thương không?
VŨ VĂN TƯ: - Bẩm không việc gì. Duy nó bảo con là đồ chó săn, nên con xin quan tòa làm tội nó.
BÙI ĐỘ DIỄM: - Bẩm quan thực con oan. Con không bảo ông ấy là chó săn. Còn cuốn sổ tay, ông ấy đánh rớt xuống đất, vợ con nó nhặt được đem giả, thế là chúng con tử tế lắm rồi.
ÔNG CHÁNH ÁN: - Dễ thường anh đợi người ta cảm ơn nữa chắc? Anh còn điều gì nói nữa không?
BÙI ĐỘ DIỄM (ngập ngừng): - Bẩm... quan đội con thường bảo ở bên Pháp, phu lít, mật thám lại thích cho người ta gọi là chó săn tốt, phanh ly-mê (fin limier) (cử tọa cười).
ÔNG CHÁNH ÁN: - Đây không phải ở bên Pháp. Bốn mươi quan tiền phạt.
Lần sau, trước khi dùng chữ dịch, chắc Diễm phải nhớ rằng mình ở bên An Nam.
*
Bài Hai Nghìn Quan Tiền Tây dưới đây rất linh động ở cách đối thoại, rất cảm động ở những nhận xét tỉ mỉ về những người dân cùng khổ và nhẫn nại ở chốn bùn lầy nước đọng. Tất cả cái phi lý, lạnh lùng của công lý thực dân thể hiện trong bài này. Tình cảnh người dân Việt thật đáng thương và càng đáng thương ở thái độ nhẫn nại của họ. Không khí dí dỏm, ngộ nghĩnh, đùa cợt vụt biến. Chúng ta đi vào một thể giới của căm uất bi phẫn. Quan tòa, thông ngôn ở đây cùng đáng ghét.
*
Hai nghìn quan tiền Tây
Không có gì buồn và chán nản bằng một phiên tòa xử “tù rượu”, nghĩa là những người bị cáo về tội buôn rượu lậu. Cũng không có gì làm cho ta nghĩ ngợi bâng khuâng hơn.
Một dãy người khốn khó, ốm yếu, áo nâu tã, váy đụp, không dám ngồi hẳn lên chiếc ghế dài để riêng cho tội nhân, sợ làm bẩn mất ghế của nhà nước, một dãy người hốc hác, hôi hám như những tang chứng hoạt động của sự lam lũ, nheo nhóc ở nơi bùn lầy nước đọng, trông tưởng như một lũ ma đi hiện hồn lẻn trách thầm cái phú quý của những người khác.
Mày có nấu rượu lậu không?
- Bẩm có.
ÔNG CHÁNH ÁN: - Phạt hai nghìn quan tiền Tây.
Sự thất vọng và tính nhẫn nại đều hiện cùng một lúc lên nét mặt gày gò, xanh xao của một người nông phu rét run trong manh áo mỏng sờn vai, vá nhiều chỗ. Anh ta đã rời vòng móng ngựa còn quay cổ lại như muốn nài điều gì, nhưng có lẽ biết rằng cũng vô ích nên lại bước chân đi.
- Mày có cơm rượu lậu không?
- Bẩm, con không nấu rượu lậu...
- Nhưng người ta bắt được bã rượu ở nhà mày.
- Bẩm có
ÔNG CHÁNH ÁN: - Hai nghìn quan tiền phạt.
Bị cáo nhăn, một bà lão già kêu van:
- Bẩm, con già nua... quan thương cho...
VIÊN THÔNG NGÔN: - Già nua mặc kệ, về việc đó, không ai thương xót đâu. Ra!
Bà lão thở dài, nước mắt rung rung muốn khóc, cố van lơn:
- Bẩm, những hai nghìn, con nghèo khổ, con lấy đâu con giả?
VIÊN THÔNG NGÔN: - Tòa xử rồi. Không bằng lòng thì chống án. Đi! Đi ra!
Thấy bà lão trù trừ, viên thông ngôn quát:
- Đội xếp đâu? Lôi nó ra!
Người đội xếp sấn sổ lại, kéo bà lão ra ngoài, để đến phiên người khác.
Một người đàn bà, váy đụp, áo tứ thân rách, vừa đứng dậy vừa vạch yếm cho con bú.
- Mày có cơm rượu lậu không?
- Bẩm không.
- Nhưng người ta bắt được bã rượu ở nhà mày.
- Bẩm không ở ruộng con đấy ạ.
- Thế là đủ rồi.
- Bẩm ruộng con cách nhà con xa lắm. Người ta thù con, người ta bỏ vào đấy ạ,
- Có biết ai bỏ không?
- Bẩm không.
ÔNG CHÁNH ÁN: - Hai nghìn quan tiền phạt.
Rồi kết tiếp nhau, năm sáu chục người nhà quê ra chịu tội. Ông chánh án không lần nào phải nghĩ ngợi khi lên tiếng:
- Hai nghìn quan tiền phạt.
*
Sau cùng đến một người gù lưng ra van lạy:
- Bẩm, con tàn tật, tật...
- Tàn tật mặc anh, có cơm rượu lậu không?
- Bẩm có
- Anh đã bị án hai lần rồi. Sao lại còn phạm nữa?
- Bẩn con chỉ có nghề làm rượu. Con tàn tật bỏ nghề ấy thì con chết đói mất
- Không biết, Hai nghìn quan tiền phạt.
*
Bài Anh Hùng Mạt Lộ cho ta thấy cảnh nhà Nho suy tàn gặp cái phi lý của công lý cấm phổ biến giáo dục. Một bức tranh ghi được đầy đủ những nét điển hình của một nhà Nho hết thời, để cười ra nước mắt:
Anh hùng mạt lộ
Nguyễn Xuân Bi là một nhà Nho, cứ trông ông ta cũng đủ biết. Từ cái áo the sờn vai xúng xính, cái khăn lượt chững chạc cho đến dáng điệu, ngôn ngữ, ông đều để lộ vẻ nhà Nho lúc quẫn.
ÔNG CHÁNH ÁN: - Thế nào, anh có nhận tội không?
BI: - Bẩm, chúng tôi làm gì nên tội?
ÔNG CHÁNH ÁN: - Không có tội sao lại ra đây?
BI: - Bẩm không biết. Chúng tôi chỉ biết theo lễ nghi của cổ nhân dạy bảo lũ trẻ... học đạo thánh hiền.
ÔNG CHÁNH ÁN (đắc thế) - Chính thế. Anh dạy học không có giấy phép. Anh muốn dạy đạo thì dạy, nhưng phải có giấy phép nhà nước cho.
BI: - Bẩm, vài đứa học trò nửa người nửa ngợm, làm gì mà phải phép với tắc.
ÔNG CHÁNH ÁN: - Anh dạy mấy đứa?
BI: - Bẩm, sáu đứa.
ÔNG CHÁNH ÁN (lại đắc thế): - Sáu đứa thì còn nói gì nữa. Lệ chỉ có năm đưa học trò mới không phải xin phép.
BI: - Bẩm, năm với sáu thì khác nhau cái gì? Thật tình chúng tôi không hiểu.
ÔNG CHÁNH ÁN: (mỉm cười) - Tôi cũng không hiểu. Nhưng luật pháp là luật pháp. Duralex, sed lex.
Một ông Tây nói tiếng La tinh cho một người An Nam thông chữ Tàu nghe, thì còn hiểu nhau làm sao được.
Ông Bi chỉ lấy cái mỉm cười ngây ngô đáp lại ông Chánh án.
ÔNG CHÁNH ÁN (tuyên án) - Chiều theo Nghị định ngày 14 tháng 5 năm 1924, phạt Nguyễn Xuân Bi trăm quan tiền Tây. Còn bút nghiên, giấy, mực bắt được, tòa tịch biên. Mà từ rầy, không được dạy học như thế nữa, nghe!
BI (não nùng) - Vậy đạo thánh hiền, chúng tôi cũng không được dạy à?
ÔNG THÔNG NGÔN: - Tòa tuyên án rồi, thôi đi ra.
Bi lặng lẽ đi ra, trên nét mặt hiện về thất vọng chán nản và nhẫn nại. Bi ngửa mặt lên trời tắc lưỡi thở dài: ý chừng y tự nhắc đến câu: “Ta hồ! ngô đạo suy- hĩ” của Đức Khổng khi xưa.
Trông Bi lúc bấy giờ có vẻ bi thương ảo não như cái biển hiệu của một thời đại tàn tạ, điêu linh.
*
Thỉnh thoảng tác giả cũng cho chúng ta gặp một sự phi lý ngộ nghĩnh và nhân đạo. Giá tất cả nhân loại đối với nhau phi lý như thái độ của ông Vĩnh Thái dưới đây thì cuộc đời dễ thở biết mấy.
Năm trăm bạc
Xúng xính trong chiếc áo the mới Nguyễn Văn Cầu, cu- li xe, thỉnh thoảng lại liếc nhìn ông Trần Văn Chương, đứng nhỏ xíu ở giữa ghế trạng sư, như anh ta sợ ông trạng sư biến mất thì không còn ai bảo vệ cho nữa vậy.
ÔNG CHÁNH ÁN: - Anh bị khép vào tội ăn cắp năm trăm bạc, có không?
NGUYỄN VĂN CẦU: - Bẩm, ăn cắp thì quả con không ăn cắp. Chỉ có cụ Vĩnh Thái bỏ quên trên xe con cái ví đựng năm trạc bạc, con đã trót lấy con tiền...
ÔNG CHÁNH ÁN (mỉm cười): - Lấy của người, cầm tiêu thế gọi là ăn cắp. Sao anh không đem số tiền bắt được trả lại ông cụ hay nộp trên sở cẩm?
NGUYỄN VĂN CẦU (thực thà) - Bẩm con nghèo.
Cử tọa cười, Ông Chánh án cũng cười. Duy Cầu ngơ ngác lấy làm lạ. Ý giả anh ta nghĩ làm cu-li xe kiết xác mà vớ được năm trăm bạc, bảo đem lên sở cẩm nộp, thì chẳng khác gì bảo ông Lý Toét đừng toét, bảo ông Bang Bạnh đừng bạnh, hay bảo ông Tôn Thất Bình đừng tán dương ai nữa vậy.
Ông cụ Vĩnh Thái là người mất tiền, có lẽ cùng đồng ý với bị cáo, vào khi người ta gọi vào làm chứng, một nụ cười bí mật nở ra sau bộ râu bạc phơ của ông cụ.
ÔNG CHÁNH ÁN: - Ông bỏ quên trên xe của bị cáo một cái ví?
ÔNG VĨNH THÁI: - Vâng
ÔNG CHÁNH ÁN: - Trong ví có năm trăm đồng bạc?
ÔNG VĨNH THÁI: - Bẩm không. Chỉ có năm đồng thôi.
ÔNG CHÁNH ÁN (ngạc nhiên): - Chỉ có năm đồng?
ÔNG TRẠNG SƯ TRẦN VĂN CHƯƠNG: - Vâng, chỉ có năm đồng.
Cụ Vĩnh Thái từ trước đến giờ vẫn chỉ nhận có thế. Cụ là một nhà giàu ở Hà Nội, năm trăm đồng bạc đối với cụ không là bao nhưng đối với Nguyễn Văn Cầu thì thật là to. Cụ nghĩ như vậy, nên thương Cầu nghèo không nhận mất năm trăm đồng mà Cầu lấy của cụ. Như vậy ý cụ đã định cho Cầu số tiền ấy, thiết tưởng tòa cũng lượng cho mà làm án nhẹ cho một người cu-li nghèo khổ. Còn tiền 495 đồng kia, cụ Vĩnh Thái đã không nhận thì là tiền vô chủ. Mà đã làm tiền vô chủ, thì người bắt được đem nộp ở Cẩm hết hạn một năm sẽ có quyền lấy về làm của mình. Vậy xin Tòa lên án cho Cầu cái quyền ấy. Ngoài cái quyền ấy tòa lại gia thêm cho Cầu bốn tháng nhà pha. Ở bốn tháng nhà pha rồi được lĩnh số tiền 495 đồng về tiêu, nên Cầu bước ra khỏi vành móng ngựa, còn được lũ bị cáo nhân ngồi trong tòa nhìn theo bằng con mắt thèm thuồng.
Chú thích:
[19] Phần này chúng tôi căn cứ theo ý kiến của ông Lê Hữu Mục trong quyển Luận đề về Hoàng Đạo của ông – Nhận Thức – Huế 1957