TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

Lượt đọc: 3199 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- IX - KHÁI HƯNG (1896 - 1947)

Khái Hưng tên thật Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương, con cụ Tuần phủ Trần Mỹ, rể cụ Tổng dốc Lê Văn Đính. Ông con người anh cả là Trần Xuân và hai em giai là Trần Tự và Trần Tiêu. Ông theo học ở Albert-Sarraut, đỗ Tú tài ban Cổ điển rồi ra dạy học ở trường Thăng Long, tính tình khoáng đạt vui vẻ.

.

Năm 1930, Trần Khánh Giư bắt đầu viết cho tờ báo của Chu Mậu, viết những bài xã thuyết hoặc truyện vui hàng tuần. Năm 1931, ông gặp Nguyễn Tường Tam ở trường Thăng Long, cả hai bàn cách sáng lập một tờ báo có chủ trương rõ rệt.

Ngày 22 tháng 9 năm 1932 tờ Phong Hóa đổi mới ra đời. Khái Hưng bắt đầu viết tiểu thuyết. Hồn Bướm Mơ Tiên (1933) là tác phẩm đầu tay của ông. Cho tới năm 1940 ông đã viết được nhiều tác phẩm.

Giai đoạn 1940 - 1945 giai đoạn đấu tranh chính trị, ông bị Pháp bắt giam năm 1941 ở lao xá Vụ Bản.

Sau vụ đảo chính Nhật, Ngày Nay kỷ nguyên mới ra đời (1945) ông viết Xiềng Xích tập truyện dài kể cuộc đời chốn lao tù, bị tra tấn dã man của chiến sĩ cách mạng. Khi Việt Minh nắm chính quyền. Nhất Linh ở Tàu về, ông viết báo Việt Nam của Quốc Dân Đảng. Theo tài liệu của ông Tú Gầy, đăng trong Tâm Tình số 1 thì khi cuộc kháng chiến bùng nổ, ông về quê ngoại ở làng Dịch Diệp, huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định, rôi bị công an Việt Minh bắt giam tại “Cải hối thất chính trị phạm Liên khu III” ở Lạc Quần (Trực Ninh). Ông bị chúng thủ tiêu ở bến đò Cựa Gà thuộc Phủ Xuân Trường vào năm 1947. Chúng hành quyết ông bằng hai phát súng lục cho xác vào bao tải rồi đẩy xuống sông cho mất tích. Tác phẩm của ông đại loại có thể tạm xếp như sau:

A. Tiểu thuyết dài:

1.    Tiểu thuyết lý tưởng:

a.    Hồn Bướm Mơ Tiên (ái tình lý tưởng nhuộm màu tôn giáo)

b.    Nửa Chừng Xuân (ái tình lý tưởng nhuộm màu nhân tính)

c.    Trống Mái (ái tình lý tưởng về cái đẹp của thể chất, tỷ như pho tượng đẹp)

2.    Tiểu thuyết có tính cách lãng mạn tiểu tư sản (Loại này cũng là biến thể của loại trên, chỉ thiếu tính cách lý tưởng):

-    Những Ngày Vui

-    Đẹp

-    Thanh Đức (Băn khoăn)

2.    Tiểu thuyết phong tục:

-    Thoát Ly

-    Thừa Tự

-    Gia Đình

3.    Tiểu thuyết tâm lý:

-    Hạnh

4.    Tiểu thuyết dã sử:

-    Tiểu Sơn Tráng Sĩ

B.    Kịch

-    Tục Lụy

-    Đồng Bệnh

C.    Những tập truyện ngắn:

-    Dọc Đường Gió Bụi

-    Tiếng Suối Reo

-    Đợi Chờ

-    Đồng Xu

D.    Truyện loại sách hồng:

-    Ông Đồ Bể

-    Cóc tía

-    Đạo Sĩ..

Dưới đây là những ý kiến của chúng tôi về riêng ba truyện được xếp loại là tiểu thuyết lý tưởng.

HỒN BƯỚM MƠ TIÊN

A. Lược truyện

Ngọc sinh viên trường Cao đẳng Canh Nông, một thanh niên thông minh, lạc quan, giàu tình cảm từ Hà Nội về nghỉ hè với bác là sư cụ chùa Long Giáng. Tới đây Ngọc gặp chú tiểu Lan mà chàng nghi là gái. Sau bao ngày quan sát, dò xét, mối nghi ngờ của Ngọc càng sâu đậm hơn. Rồi một hôm, sư cụ chùa Long Giáng sai Lan mang bánh và chè sang tạ sư ông bên chùa Long Vân, Ngọc cũng xin phép đi theo chú Lan. Vì trời mưa, Ngọc và Lan phải ngủ lại chùa Long Vân. Ngọc muốn ép Lan cùng ngủ với mình, đôi bên người lôi đi kẻ kéo lại, áo dài áo ngắn của Lan đều tuột cúc. Ngọc bỗng kêu rú lên một tiếng buông tay Lan ra. Chàng thoáng thấy ngực Lan quấn vải nâu.

Lan sợ hãi bỏ trốn. Ngọc chạy theo xin lỗi. Ngọc tỏ tình yêu với Lan và nguyện sẽ vì nàng hy sinh hết thảy, kể cả ái tình tuyệt vọng của chàng. Thái độ quân tử của Ngọc làm Lan rất đỗi cảm phục, Ngọc bỏ chùa về Hà Nội. Một chiều chủ nhật, Ngọc từ Hà Nội đạp xe lên Bắc Ninh thăm Lan (mấy lần trước chàng chỉ đạp xe đến chân đồi chùa Long Giáng rồi quay trở lại). Ngọc hứa là suốt đời yêu Lan bằng tình yêu lý tưởng và xin phép Lan mỗi lần nghỉ học được lên chùa gặp Lan rồi quay trở về:

Tôi xin thề với Lan rằng tôi giữ được mãi như thế. Tôi xin viện Phật Tổ thề với Lan rằng suốt một đời tôi, tôi sẽ trung thành thờ ở trong tâm trí cái linh hồn dịu dàng của Lan.

Gia đình? Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ mà tiểu gia đình của tôi là... hai linh hồn của đôi ta, ẩn núp dưới long từ bi Phật Tổ.

Yêu là một luật chung của vạn vật mà là bản tính của Phật giáo. Ta yêu nhau, ta yêu nhau trong linh hồn, trong lý tưởng, Phật Tổ cũng chẳng cấm đoán đôi ta yêu nhau như thế”.

Và đôi tình nhân đã biết đồng hóa tình yêu vào tình yêu tôn giáo đó, từ biệt nhau trong một cảnh chiều tịch mịch đầy lá rụng.

“Ngọc từ giã Lan, dắt xe đạp xuống đồi. Bấy giờ sắc trời dìu dịu, vạn vật như theo tiếng chuông chiều thong thả sắp rơi vào quãng êm đềm tịch mịch. Lan đứng chắp tay tụng niệm, con mắt lờ đờ nhìn xuống con đường đất quanh co lượn khúc dưới chân đồi.

Gió chiều hiu hiu

Lá rụng!”

B. Phê bình

Trong truyện Atala của Chateaubriand, Atala yêu Chactas nhưng vì trót hứa với mẹ nàng sẽ đi tu, nàng chết vì tình yêu ấy. Ở Hồn Bướm Mơ Tiên ta cũng thấy Lan nhắc đến lời hứa với mẹ. Điều này chúng ta thấy phi lý. Vào bất cứ thời đại nào, người mẹ Việt Nam có thể buộc con phải hứa sẽ thành chiến sĩ cách mạng chứ không bao giờ buộc con phải thề đi tu thành “ni cô” như vậy.

Chúng ta có thể như một số nhà phê bình (trong số có ông Vũ Ngọc Phan) nêu câu hỏi: trẻ như Ngọc, đẹp như Lan, lãng mạn như cả hai, con đường từ Hà Nội đến chùa Long Giáng lại không xa lắm, liệu Ngọc có giữ nổi lời hứa chăng? Nhưng dù sao chúng ta cũng phải công nhận là tác giả đã dừng lại ở chỗ đáng dừng, khiến câu chuyện tình ngạt ngào hương lý tưởng.

Cái thú của bản văn này chính là sự hiếu kỳ, ban đầu bị khích động ở trong lòng Ngọc rồi nó nhóm dần cảm tình của Ngọc đối với Lan. Và sự hiếu kỳ càng tăng, càng muốn điều tra ra tông tích chú tiểu Lan, Ngọc càng mắc vào bả tình mà không hay. Khi chàng biết được Lan là gái thì ý nghĩ về nàng đã chiếm cứ toàn thể tâm hồn Ngọc rồi.

Chúng tôi rất đồng ý với ông Trương Chính là với những tác phẩm sau, nghệ thuật của Khái Hưng đã điêu luyện lắm, nhưng Hồn Bướm Mơ Tiên vẫn giữ mãi hương vị êm dịu, ngào ngạt của những bông hoa đầu mùa. Chẳng khác gì “Lettre de mon moulin” của Alphonse Daudet so với những tác phẩm về sau của cùng tác giả.

Nửa chừng xuân

I. Lược truyện:

Truyện gồm ba phần:

PHẦN THỨ NHẮT

Mai từ quê nhà - Ninh Bắc - tới Hà Nội tìm em là Huy đương học năm thứ ba tại trường Bảo Hộ. Hai chị em đên nhà ông Phán Hai, ông bác họ nhưng bị ghẻ lạnh. Hôm sau Huy vào trường, Mai ra ga Hàng Cỏ để trở về quê. Nàng quyêt định chuyên này sẽ bán nhà để lây tiền cho em tiêp tục học. Trên chuyên xe lửa nàng gặp Lộc:

Thưa cô, cô có phải cô Mai, con cụ Tú Ninh Bắc không?

Mai ngước mắt lên rồi hỏi:

-    Thưa ông, sao ông biết tôi?

Chàng kia cười:

-    Thế ra cô quên tôi rồi, tôi là Lộc...

Mai vui mừng hỏi:

-    Cậu Lộc, con quan huyện Kim Anh?

-    Vâng, chính tôi là Lộc, Nhưng thầy tôi không làm tri huyện nữa. Thầy tôi đã thăng đến án sát và mất rồi.

-    Khổ! Thế cậu bây giờ làm gì?

-    Tôi làm tham tá ở Hà Nội

Mai cười:

-    Chóng nhỉ! Mới ngày nào!

Lộc đỡ lời nói luôn:

-    Đã bảy tám năm nay rồi, cô còn bảo mới ngày nào.

Bảy năm về trước, quan huyện Kim Anh có mời cụ Tú Lãm đến dạy hai cô con gái học chữ Nho. Bấy giờ cụ Tú đã gặp lúc quẫn bách vì luôn mấy năm buôn gỗ bị thua lỗ, cái vốn dăm, sáu nghìn đã gần khánh kiệt, nên thấy người bạn xưa muốn tìm cách giúp đỡ thì nhận ngay.

Cụ Tú lúc đó góa vợ nên đưa cả con gái lên huyện cho tiện đường dạy dỗ, còn Huy thì Cụ đã cho trọ học ở nhà ông Phán Hai ở Hà Nội.

Trong hai năm, mỗi lần nghỉ lễ, hoặc nghỉ hè, Lộc về chơi nhà đều gặp Mai. Khi ấy Mai mới 11 tuổi mà Lộc thì đã lớn và theo học ở lớp ba trường Trung học Tây.

Lộc coi Mai như một người em nhỏ và yêu quý Mai lắm, mỗi lần ở Hà Nội về mua quà cho hai em thức gì thì mua cho Mai thức ấy.

Mai nhẩm ôn lại chuyện xưa, mủm mỉm cúi xuống nhìn guốc nói:

-    Thế ra ông là anh Lộc của em đấy?"”

Mai đã cảm động buột mồm nói ra câu quá thân mật. Chính với câu nói thân mật đó, tác giả đã sửa soạn cho chúng ta thấy cảm tình của hai người đới với nhau sẽ một ngày thêm nặng nề sau này.

Vẫn trên chuyến xe đó, khi rõ tình cảm của Mai, Lộc nhất định giúp Mai một số tiền là 20 đồng để phòng khi chưa bán được nhà thì hãy tiêu tạm. Mai cương quyết từ chối mà không xong.

Việc bán nhà cho Hàn Thanh quả không xong, Mai còn đang phân vân, thì vừa hay Lộc tìm đến nàng.

Thái độ trang nhã, cao thượng của Lộc đã làm Mai tin cẩn và cùng chàng lên Hà Nội. Lộc thuê một căn nhà ở phố Yên Phụ, bên hồ Trúc Bạch để hai chị em Mai ở, Huy tiếp tục việc học.

PHẦN THỨ HAI

Trong thời kỳ ba tháng đầu, Mai ở chung với em, không ngày nào Lộc không đến thăm, tình cảm mỗi ngày một nặng, chẳng bao lâu đã đổi ra tình yêu. Bà Án (mẹ Lộc) phản đối cuộc nhân duyên này vì bà đã hỏi con quan Tuần cho Lộc để cuộc nhân duyên được môn đăng hộ đối. Lộc nhờ một cụ già giả vờ làm mẹ đến tác thành cuộc hôn nhân giữa chàng và Mai. Câu chuyện vỡ lỡ, bà Án lập kế ly gián, gieo nghi ngờ vào đầu Lộc rồi trực tiếp đến gặp Mai, đuổi khéo nàng ra khỏi nhà mặc dầu khi đó nàng đã có mang.

Mai nhẫn nhục làm cô hàng quà. Huy bị ốm thập tử nhất sinh, may nhờ Diên mời đốc-tờ chữa giúp nên chẳng bao lâu Huy khỏi bệnh. (Diên là một gái giang hồ, em Diên là Trọng bạn học với Huy, Diên coi Huy như em, ông đốc-tờ là tình nhân của Diên).

Mặc dầu trải bao lầm than khổ cực, Mai vẫn đương đầu được mọi cám dỗ, nàng từ chối lời hỏi của ông Đốc Minh, từ chối tình yêu của họa sĩ Bạch Hải.

PHẦN THỨ BA

Năm năm qua. Ông Tham Lộc đã thành ông Huyện Lộc. Vợ chàng, con gái quan Tuần - bị hai lần hữu sanh vô dưỡng, tính tình trở nên gắt gỏng, đôi khi hỗn láo cả với mẹ chồng.

Trong khi đó Huy đã thành tài và được bổ đi dạy học ở Phú Thọ. Sống cùng với Huy là Mai, cháu Ái (con Mai) và ông Hanh, người lão bộc trung thành.

Vì một sự tình cờ gặp họa sĩ Bạch Hải mà Lộc hiểu rõ hết nỗi oan khổ của Mai. Bà Án lên tận Phú Thọ tìm Mai, những mong mang được cháu Ái về nhưng thất bại.

Lộc lên tìm Mai, gặp lại người cũ trên đồi, rồi qua một đêm hàn huyên bên lò sưởi, tình cảm của Mai từ giận hờn tủi cực chuyển dần sang tha thứ, thương yêu.

Nhưng tình xưa dù nặng, Mai vẫn vì hạnh phúc thanh danh của người yêu mà hy sinh ái tình của ngàng, dù nàng mới... nửa chừng xuân.

Tình yêu cao thượng của Mai, lòng hy sinh cao đẹp của Mai đã giác ngộ Lộc, đã mặc khải cho Lộc thấy một đường sống mới vị tha, đầy dũng cảm và hy sinh.

Đời anh từ nay sẽ không riêng của anh nữa, anh sẽ vì người khác mà sống, vì người khác mà anh sẽ bỏ cái đời an nhàn phú quý mà dấn than vào cuộc đời gió bụi...”

I. Phê bình tâm lý nhân vật

(Những dòng trích sau đây theo cuốn Nửa Chừng Xuân, Phượng Giang - 1953)

MAI

Nàng là vai chính duy nhất trong Nửa Chừng Xuân. Được hưởng nền giáo dục khoáng đạt của cha (cụ Tú Lãm) nàng giữ lòng biêt ơn, tha thứ và yêu thương rộng lớn, Chính vì vậy cả cuộc đời nàng là lịch sử cuộc đời hy sinh vì kẻ khác, hâu như không bao giờ nàng nghĩ đên mình.

Mai, một người chí giàu lòng hy sinh

Dưới đây là câu chuyện giữa Mai và Lộc trên xe hỏa:

“- Thưa ông lúc này là lúc phải liều. Thế nào em cũng phải để em Huy học đến nơi đến chốn, mà muốn được thế chỉ còn một cách là bán nhà.... Vả nếu ông lo ngại cho em thân gái thì ở đâu mà không lo ngại. Ở nhà quê đã chắc đấu tranh khỏi bọn cường hào hà hiếp? Dau sao em vẫn nhớ lời nguyện vọng cuối cùng của thây em: là để em Huy học thành tài và trở nên người hữu dụng.

Lộc mỉm cười:

-    Nhưng còn cô?

Mai ngơ ngác:

-    Em không hiểu.

-    Tôi hỏi còn cô thì trở nên gì? Từ nãy đến giờ tôi chưa hề thấy cô tưởng đến cô.

-    Tôi ấy à?

Mai hơi lấy làm lạ, Vì thực ra cũng không mấy khi cô tự nghĩ đến cô...” (tr.34)

Lời Mai nói với bà Án:

“.. Trong lúc quẫn bách, con đã toan lấy một ông Hà cự phú, không phải là để tìm chỗ nương thân, vì con xin thú thực, con không hề tưởng đến thần con, nhưng chỉ cốt giữ được lời hứa với cha con lúc lâm chung: là thay cha nuôi em ăn học thành tài và trở nên người hữu dụng” (tr.130).

*

Mai, một người tình giàu lòng hy sinh và chung thủy

Trước hết, Mai yêu Lộc không phải vì Lộc giàu sang mà vì cái đẹp tầm hồn của Lộc:

“Thực vậy, từ ngày nàng gặp Lộc đến nay, trái tim nàng đã nhiều lần hồi hộp vì những tính tình cao thượng, những cách hành vi quân tử của chàng. Nàng chỉ mong có dịp báo đáp ơn sâu...” (tr.80)

Và trong khi nghe lời trần tình thành thực của Lộc ngỏ ý muốn lấy Mai làm vợ, đây ý nghĩ thầm của Mai:

Thì ông không biết rằng cái thân này, cái linh hồn này đã là của ông rồi hay sao? Hà tất ông còn phải xin, phải van” (tr.81)

Tin ở chân giá trị tình yêu cao thượng, trong sạch của mình, Mai bất chấp lễ nghi. Đây là lời tác giả nói về Mai:

Kể ra chàng cứ thú thực với Mai rằng mẹ chàng không bằng lòng cho chàng kết hôn cùng Mai, nhưng ngoài Mai ra, chàng không thể yêu được một người nào khác thì có lẽ Mai cũng vì nàng mà hy sinh hết trinh tiết cùng danh dự, hy sinh cả cái đời thanh niên” (tr.80)

Là người tình chung thủy, Mai vượt mọi cám dỗ, ngay cả trong hoàn cảnh đen tối nhất (cự tuyệt ông Đốc Minh, tránh họa sĩ Bạch Hải). Tình yêu của nàng với Lộc sâu xa đến nỗi sau năm năm xa cách, giận hờn mà khi thoáng thấy màu giấy viết thơ biết ngay là thơ của Lộc:

Huy toan nói dối là bức thơ của bạn. Song hình như đọc được tư tưởng của em và muốn tránh cho em một sự nói dối vô ích. Mai cười gượng:

-    Anh ấy vẫn dùng thứ giấy viết thơ ngày xưa nhỉ?"” (tr.192)

Cái linh động ở nhân vật Mai còn có ở chỗ nàng rất “người”. Nàng có giận hờn tủi hổ về cách ăn ở tệ bạc của Lộc, cùng thái độ tàn nhẫn của bà Án nhưng rồi sau đó lại xúc động từ tâm.

Khi bà Án lên Phú Thọ tìm nàng, bà đã hai lần bị Mai mỉa mát. Lần thứ nhất khi hai người mới chạm trán nhau:

Kìa chào mợ! Mợ đi chợ về?

Mai chắp tay đáp lễ rồi ngây người đứng im.

Bà Án cười vui vẻ hỏi:

-    Mợ quên tôi rồi?

Mai cũng cười chua chát trả lời:

-    Bẩm cụ bao giờ con quên được cụ...” (tr.231)

Lầ thứ hai khi Mai mời bà Án ăn cơm:

Huy bảo chị:

-    Ây em đã hết sức mời cụ nhưng cụ từ chối.

Mai mỉm cười:

-    Hay cụ chê nhà chúng cháu nghèo, cụ khinh chúng cháu là con nhà hạ tiện”” (tr.232)

Nàng cũng chỉ nói vậy cho vợi bớt nỗi sầu uất chứa chất trong lòng, còn thái độ thường xuyên của nàng tuy cương quyết đấy nhưng lễ độ, nhân ái.

Rất giàu tình cảm nhưng lý trí sáng suốt, nàng biết nhìn xa trông rộng, khuyên Lộc đừng tìm cách nối lại duyên xưa với nàng mà nên trở về với trách nhiệm nặng nề của chàng.

Tình cảm và lý trí quân bình như vậy, tâm hồn rộng rãi giàu tình thương, giàu hy sinh như vậy, Mai thực sự là một người đàn bà hiếm có, cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nàng ý thức được rõ rệt giá trị của nàng:

“Lộc ngắt:

-    Thế còn em? Em không phó thác vào anh sao?

Mai mỉm cười:

-    Không, em khác. Ở đời có phải ai ai cũng hy sinh được đâu?” (tr.258)

Điểm phi lý trong vai Mai và cũng là điểm phi lý của câu chuyện là:

-    Mai đã từng gặp bà Án ở huyện Đông Anh khi ông Tú dạy học ở đấy, vậy mà nàng đã quên mặt bà Án đến nỗi Lộc có thể nhờ một người đàn bà khác giả làm mẹ mà ngay lúc đó Mai không một chút nghi ngờ.

-    Suốt trong thời gian đã là vợ Lộc, ở ngay Hà Nội, việc con dâu đi lại thăm mẹ chồng là một việc tất yếu phải có, mà tuyệt nhiên ta không thấy Mai làm truyện đó.

LỘC:

Nếu tâm lý vai Mai được tác giả dựng chặt chẽ bao nhiêu thì vai Lộc lỏng lẻo bấy nhiêu. Tâm lý Lộc biến chuyển theo ba đợt tương ứng với ba phần của câu chuyện.

Đợt một:

Trong phần thứ nhất câu chuyện, Lộc xuất hiện như một Kim Trọng hào hoa phong nhã, tư tưởng phóng khoáng, hành vi vô tư lợi. Việc chàng tìm đến Ninh Bắc gặp Mai rất đúng tâm lý chàng trai bắt đầu yêu.

Đợt hai:

Trong phần thứ hai câu chuyện Lộc nhờ một bà cụ giả làm mẹ để xin hỏi cưới Mai cho chàng. Thế là tiểu gia đình này gồm: Lộc, Mai và Huy. Nhưng sang phần này Lộc biến thành một người đàn ông nhu nhược, ích kỷ bản tính, ghen một cách mù quáng.

Nhân danh chữ hiếu, chàng nép mình chịu khuất phục quan niệm cũ của mẹ:

Bà Án xỉa vào mặt con:

À mày dở văn minh ra với tao à? Tự do kết hôn à? Mày không bằng lòng nhưng tao bằng lòng. Mày phải biết lấy vợ gả chồng phải tìm chỗ môn đăng hộ đối, chứ mày định bắt tao thông gia với bọn nhà quê à? Với bọn cùng đinh à? Mày làm mất thể diện tao, mất danh giá tổ tiên, mà là một thằng con bất hiếu. Nghe chưa?

Lộc thấy mẹ giận dữ quát tháo, liền cúi đầu tạ lỗi và xin cam đoan vâng lời mẹ dạy. Xưa nay Lộc vẫn là người con có hiếu” (tr.69)

Nghi Mai có ngoại tình, chàng đã mắc mưu mẹ một cách quá ngây thơ (vì cái thơ nặc danh ký tên NG.Y).

Đọc xong chương “Mẹ con”, chúng ta phải đi đến kết luận rằng: Cái thẳng thắn và trong sáng của tâm hồn Mai biểu lộ rõ ràng hồn nhiên như thế mà Lộc vẫn còn nghi ngờ, chàng thực là một người hết sức tầm thường. Đã đành một người sáng suốt có thể trở thành u tối, một người quảng đại có thể trở thành thiển cận hẹp hòi, nhưng sự biến chuyển tâm lý đó phải được giải thích bằng những sự kiện.

Vai Lộc của Khái Hưng sụp đổ chính vì không có sự giải thích đó. Lộc ở phần I với Lộc ở phần II như hai nhân vật khác biệt hẳn.

Đợt ba:

Khi gặp họa sĩ Bạch Hải, được họa sĩ cho biết hết nỗi oan tình của Mai. Lộc hối hận, rồi viết thơ cho Huy. rồi bà Án lên Phú Thọ gặp Mai. rồi Lộc gặp Mai trên đồi. Lộc xuất hiện phần thứ ba này không những nho nhã đáng mến như phần thứ nhất, mà còn đáng thương nữa, vì cảnh chàng bị dày vò bởi hối hận.

Chợt tự nhiên tới đoạn cuối chương sau cùng, tình yêu cao cả của Mai đã giác ngộ, Lộc tìm thấy con đường lý tưởng phải đi:

Lộc mắt lim dim cố tìm chân lý trong những ý tưởng phức tạp của Mai.

Trong đầu bỗng hiện ra hình ảnh một chàng thanh niên cứng cáp, quả quyết, theo đuổi việc xã hội, những việc mà tất phải đem hết nghị lực tài trí ra mới làm nổi..''” (N.C.X. tr.279)

Sau đó Lộc nói với Mai:

“. Đời anh từ nay sẽ không riêng của anh nữa, anh sẽ vì người khác mà sống, vì người khác, anh sẽ bỏ cái đời an nhàn, phú quý mà dấn thằn vào một cuộc đời gió bụi."” (N.C.X.tr.280).

Sự biến chuyển tâm lý của Lộc ở đây cũng phi lý như ở phần hai. Ây là không kể hình ảnh ‘ dấn thân vào cuộc đời gió bụi.”” hoặc “. trong khi ấy tại một nơi hẻo lánh, một thiếu phụ yêu chàng, đương mong mỏi ở sự hành động của chàng, đương đếm từng bước chàng đặt trên đường đời.”” (N.C.X. tr.297) đều là những hình ảnh sáo rỗng, lãng mạn một cách rẻ tiền.

Một người nhu nhược như Lộc liệu có thể nhất đán trở thành một chiến sĩ của hỷ xả như vậy? Một người sống thuần về tình cảm như Lộc liệu có thể nhất đán cương quyết xa Mai mãi? Nhận xét của Vũ Ngọc Phan không phải là không có lý: Ông Vũ đã lý luận về đoạn này như sau:

“Lần đầu Lộc gặp Mai xin nàng tha lỗi, Mai còn tỏ vẻ lãnh đạm, nhưng đã để cho Lộc cầm tay, lần thứ hai, Lộc trở về nhà Mai, Mai đã có thể ngồi suốt đêm để kể nỗi lòng với Lộc; vậy nếu Lộc cứ lên Phú Thọ, luôn luôn đã có đứa con trai là thằng Ái bắc cầu cho đôi bên, cặp vợ chồng ấy có thể nào xa nhau mãi được? Sự tái hợp chỉ là một sự rất thường”.

Tóm lại Khái Hưng đã thất bại khi dựng vai Lộc và sự đổ vỡ của vai này đã làm suy giảm khá nhiều giá trị tư tưởng của tác phẩm.

HUY:

Tuy là vai phụ nhưng Huy cũng nêu được tấm gương lớn về đức tính khẳng khái, thẳng thắn. Điều đáng quý ở Huy là trong cảnh túng quẫn vẫn không thèm nhờ vả ai, cắn răng chịu đựng, nhưng lúc thắng thế chàng lại đầy lòng tha thứ. Thái độ điềm tĩnh, lễ phép khi chàng tiếp bà Án ở Phú Thọ, thái độ nhân đạo của chàng đối với Lộc ở chương “Trên đồi” chứng tỏ chàng thật xứng đáng là em Mai.

BÀ ÁN:

Bà là người đại diện cho phái cũ nệ cổ, nên bà quá chú trọng đến việc môn đăng hộ đối và nhất quyết liệt Mai vào hạng liễu ngõ hoa tường. Bà yên trí Mai sắp sửa làm hại đời con bà như con diều hâu định ăn thịt con gà con. Bà rất mực thương con nhưng nghiệm và cương quyết. (Bà thương con theo quan niệm của bà).

“Thế thì mày giỏi thật... Mày dối tao, mày đánh lừa tao...

Giời ơi! Đẹp mặt! Ông tham con quan Án mà làm những việc khốn nạn như thế. Nếu bên quan Tuần mà biết chuyện này thì mày bảo sao? Thì tao còn mặt mũi nào hở thằng kia?

A! Thằng này giỏi thật, vượt quyền cha mẹ. Không còn biết ngũ luân ngũ thường là gì nữa...” (tr.107)

Trong chương “Hội kiến” bà Án đã rất tàn nhẫn với Mai, buộc nàng phải dứt tình với Lộc cũng chỉ để bảo vệ hạnh phúc cho con bà. Sau này bà lên Phú Thọ tìm Mai để xin cháu Ái về, bà đã phải rất mực nhún nhường và có nhiều câu nói thành thực khiến ta cảm động. (Chương “Cháu Ái”)

Khi đọc hết cuốn truyện, ta thấy chỉ tại quan điểm mới cũng khác nhau chứ thực tình bà Án không hẳn hoàn toàn đáng ghét.

Các vai phụ khác cũng đều rất thành công.

ÔNG HẠNH:

Người lão bộc trung thành, thực thà, chất phác một hình ảnh Việt Nam thuần túy và cổ sơ giữa một xã hội đã pha nhiều cái mới do ảnh hưởng Tây phương.

HÀN THANH:

Nhân vật điển hình, cường hào trọc phú.

DIÊN:

Cô gái giang hồ có hảo tâm, không muốn bạn (Mai) cũng sa ngã như mình.

CỤ TÚ LÃM:

Chúng ta không thể quên hình bóng một vai phụ khá quan trọng là cụ Tú Lãm, cha Mai và Huy. Mặc dầu cụ Tú không thực sự xuất hiện trong chuyện, bởi một lẽ giản dị là cụ đã mất, nhưng Mai và Huy (nhất là Mai) là hồi quang trung thành của nền giáo dục của cụ, nên ta không thể không nhắc đến cụ.

Cụ đã xuất hiện gián tiếp qua những hồi ức của Huy, của Mai hoặc lời giới thiệu của tác giả.

Một mẩu đời dĩ vãng chạy qua trí nhớ Huy: những lời giối giăng của cha nói với Mai:

“Lẽ tất nhiên, ai cũng phải chết. Các con không nên buồn. Lúc nào cũng phải vui thì mới đủ can đảm, nghị lực mà sống ở đời. Hai con nên theo gương cha. Cha vui đến giờ cuối cùng. Cha hy vọng thế nào các con cũng làm vẻ vang cho cha, cho linh hồn cha ở nơi chín suối. Cha hy vọng rằng thế nào em Huy cũng học thành tài và trở nên một người hữu dụng cho xã hội. Cha mất đi chẳng còn của cải gì để lại cho hai con. Cha chỉ có ba thứ gia bảo này ông cha để lại cho cha, nay cha truyền cho hai con mà thôi. Là giữ lòng vui, giữ linh hồn trong sạch, và đem hết nghị lực ra làm việc’” (tr.12).

Lời giáo huấn của cha mà Mai hằng nhớ:

Những khi nàng tưởng tượng tới cha thì lại nhớ đến lời phụ huấn: Ở đời không có sự gì xấu hơn sự quên ơn. Cừu nhân ta không sợ bằng ân nhân. Ta chỉ lo sẽ xảy ra sự khiến ta không trả được ơn, chứ đối với kẻ thù thì không có thứ khí giới nào mạnh bằng lòng hữu ái. Lòng hữu ái ấy, nếu ta đem ra đối đãi với ân thì chẳng hóa ra ta đặt ân nhân ta ngang hàng với kẻ địch của ta ư?” (tr.80)

Vậy Mai biết nhớ ơn, hay tha thứ, có lòng yêu thương rộng lớn chính là nhờ giáo dục của cụ Tú, một nền giáo dục phóng khoáng, lãng mạn như lời tác giả công nhận . Chúng ta đã thấy một trong những động cơ chính thức thúc đẩy Mai yêu Lộc là lòng biết ơn:

Thực vậy, từ ngày nàng gặp Lộc đến nay, trái tim nàng đã nhiều lần hồi hộp vì những tính tình cao thượng, những hành vi quân tử của chàng. Nàng chỉ mong có dịp báo đáp ơn sâu" (tr.80)

Nàng những mong báo đáp ơn dầy đó một cách xứng đáng, một cách phi thường:

“Nhưng người ấy là Lộc mà Mai kính yêu, thì dẫu có xin nàng hết cả những đặc quyền, đặc ân nàng cũng chẳng từ chối'’” (tr.81)

Và khi Lộc đã thú thực cùng Mai vì chữ Hiếu mà chàng không dám đường hoàng cùng nhau chung hưởng hạnh phúc, Mai đã thốt ra câu nói lột được hết tinh thần phóng khoáng lãng mạn của nền giáo dục của cụ Tú:

Em chỉ tiếc rằng ngoài những tư tưởng Nho giáo, thầy em lại dạy em biết yêu người ở ngoài vòng lễ nghi”” (tr.103)

Vậy cụ Tú cũng là môn đồ Khổng học nhưng tri thức, tư tưởng cụ đã vượt hẳn ra ngoài vòng kiềm tỏa của Nho giáo. Cụ cũng là nhân vật lý tưởng tiền phong dung hòa giữa cũ và mới. Vì đâu mà cụ Tú có được thái độ phóng khoáng và lãng mạn cấp tiến đến thế? Cụ có hoạt động trong Đông Kinh Nghĩa Thục? Cụ có từng xuất dương (sang Tàu hay sang Nhật chẳng hạn) và do đó có dịp tiếp thụ trào lưu tư tưởng mới?

Không thấy tác giả nói rõ. Thoáng những mẩu hồi ức chúng ta chỉ biết cụ Tú đã có một thời buôn gỗ và là bạn cũ của cha Lộc:

Bảy năm về trước, quan huyện Đông Anh có mời cụ Tú Lãm đến dạy hai cô con gái học chữ nho. Bấy giờ cụ Tú gặp lúc quẫn bách vì luôn mấy năm buôn gỗ bị thua lỗ, cái vốn dăm sáu nghìn đã gần khánh kiệt, nên thấy người bạn xưa muốn tìm cách giúp đỡ thì nhận lời ngay” (tr.29)

Ở đoạn Mai và Huy sắp bỏ nhà Lộc ra đi, tác giả có nhắc đến cụ Tú nhưng cũng không cho ta biết rõ gì hơn về dĩ vãng của Cụ:

Cho hay tính liều lĩnh, tính lãng mạn cũng là một tính di truyền ở nhà cụ Tú. Cụ khi xưa vì cái tính ấy mà mấy lần gia thế thăng trầm, rồi đến bị khánh kiệt gia sản. Mai với Huy cũng chỉ vì phẫn uất, vì tự do không chịu được một sự khinh mạn mà sắp liều sống đời phiêu lưu” (tr.141)

Mai là linh hồn của câu truyện, nền giáo dục của cụ Tú là linh hồn của Mai, vậy mà tác giả chỉ nói sơ sài về cụ Tú như vậy, kể cũng là một khiếm khuyết của câu truyện.

II.    Vài ý nghĩa về truyện Nửa Chừng Xuân

1. So sánh Mai trong Nửa Chừng Xuân với Loan trong Đoạn Tuyệt

Nếu đem so sánh hai cô gái cùng thời đại này chúng ta thấy:

A. về học thức:

Mai: Chỉ biết đọc biết viết đủ dùng và chịu đậm ảnh hưởng nền giáo dục Nho giáo - thứ Nho giáo phóng khoáng của cha.

Loan: Có một trình độ Tây học khá vững (nàng học đến năm thứ tư Trung học) và hoàn toàn đối lập với ý kiến gia đình.

B. về tính tình, thái độ:

Mai: Ý thức được hành động và trách nhiệm của mình. Dịu dàng, chừng mực, lý trí tình cảm quân bình.

Loan: Cũng ý thức được hành động và trách nhiệm cùa mình. Bướng bỉnh theo mới đến cùng. Lãng mạn quá trớn về hành động cũng như về tư tưởng. Bị suy động bởi tình cảm nhiều hơn.

Chính vì tính Mai như vậy nên tình tiết câu chuyện đời nàng chuyển biến hợp lý và nhịp nhàng. Ngược lại chính vì tâm lý Loan như vậy nên nàng bị bao vây bởi hoàn cảnh, tác giả phải cầu cứu đến sự bất ngờ đẫm máu làm lối thoát.

2. Xét về sửa đổi đoạn kết của tác giả về sau:

So sánh truyện đăng trên báo với truyện in thành sách, ta thấy chương cuối mà tác giả đặt tên là “Bên lò sưởi” là chương được thêm vào sau. Có lẽ tác giả thấy trong truyện Lộc đóng một vai thảm bại quá: thiếu tinh thần tranh đấu, thiếu đức thành thực, nhu nhược, đa nghi. Ở chương cuối cùng này tác giả cho thấy, nhờ ảnh hưởng tốt đẹp của tình yêu của Mai với lòng hy sinh cao thượng của nàng, nên Lộc tìm thấy cho mình một đường lối sống. Thiện chí của tác giả thực rõ ràng, nhưng chính vì thế mà vai Lộc vốn đã đổ vỡ lại càng đổ vỡ.

“Đổi lòng yêu gia đình ra lòng yêu nhân loại, đem hết nghị lực tài trí ra làm việc đời” nói thì dễ biết mấy, nhưng giả sử ông huyện Lộc thay đổi nếp sống bênh vực dân tất nhiên không khỏi bị thượng cấp, tay sai của thực dân và chính thực dân nghi kỵ, ở địa vị làm quan huyện của Lộc, với tính tình nhu nhược cố hữu của chàng, liệu chàng đứng vững trước đầu gió được bao lâu?

Hay chàng bỏ quan, xông pha mưa gió như Dũng, xa hẳn gia đình?

- Hoàn cảnh cũng như cá tính của Lộc đâu có như Dũng mà thoát ly như vậy được?

Thành thử tất cả cái thiện chí luân lý của tác giả ở chương cuối chỉ là một thứ hoa hữu sắc vô hương, làm mất tính cách nhất trí của tâm lý nhân vật và sự xây dựng cốt truyện vì vậy thành máy móc, gượng ép.

Theo ý chúng tôi nếu tác giả để nguyên như cũ, dừng lại ở chương Lộc Mai từ giã nhau ở trên đồi, độc giả sẽ ngậm ngùi biết mấy. Kết cục ra sao, để mặc mỗi độc giả tùy ước muốn chủ quan của mình mà tưởng tượng lấy.

Chú thích:

[20]  Ý tưởng ngộ nghĩnh ấy - ta cho là ngộ nghĩnh - chỉ là kết quả một nền giáo dục quá theo nhân đạo, quá theo lý tưởng của cụ Tú Lãm, một nền giáo dục có thể gọi là lãng mạn (N.C.X. tr 81)

« Lùi
Tiến »