Chúng tôi muốn giới thiệu anh chàng Tường, chứ không phải con lạc đà, bởi vì "lạc đà" chỉ là một cái biệt hiệu. Vậy chúng tôi nói về anh chàng Tường trước, rồi nhân tiện sẽ nói qua mối liên quan giữa con lạc đà và anh ta. Như vậy cũng được.
Phu xe Bắc Bình[*] có nhiều hạng: những anh trai trẻ, khỏe mạnh, nhanh chân thì thuê loại xe đẹp, kéo "cả ngày", muốn làm muốn nghỉ lúc nào cũng được, tự do tùy thích; lấy xe xong, đến đỗ sẵn ở bến xe hoặc trước cổng các nhà, chỉ chờ các ông khách cần đi nhanh; gặp may, loáng một cái, kiếm được một hai đồng; chẳng may, có khi toi cả ngày, đến "thuế xe" cũng không có, nhưng cóc cần. Các anh chàng thuộc hạng này đại khái chỉ mong mỏi hai điều: hoặc kéo xe tháng, hoặc tậu một chiếc xe riêng, có xe riêng thì kéo tháng hay kéo vặt cũng chẳng sao, đằng nào cũng là xe của mình.
[*]Chu thich: Từ Bắc Kinh
Những anh lớn tuổi hơn hạng nói trên, hoặc vì sức yếu chạy chậm, hoặc vì còn vợ còn con, không dám ngồi không cả ngày, phần đông thuê những chiếc xe hơi cũ, xe với người trông cũng khá sạch mắt, cho nên khi đòi tiền vẫn được giá. Hạng phu xe này, có khi kéo "cả ngày", có khi kéo "nửa ngày". Nếu kéo nửa ngày, thì vì còn có sức, nên bất kỳ mùa đông hay mùa hè, bao giờ họ cũng "kéo đêm", Ban đêm, tất nhiên phải nhanh mắt, nhanh chân hơn ban ngày, tất nhiên tiền kiếm được cũng khá hơn.
Những anh khoảng trên bốn mươi, hoặc dưới hai mươi, e khó mà lọt vào hai hạng trên. Xe họ cũ kỹ lại không dám "kéo đêm", nên phải ra xe sơm sớm, mong kéo từ sáng tinh mơ cho tới độ ba bốn giờ chiều, kiếm đủ "thuế xe" và cơm ăn. Xe cũ, chạy chậm, nên kéo nhiều đường đất mà tiền thì được ít. Đến các chợ bán rau, chở rau dưa hoa quả, đều là bọn họ cả. Ít tiền nhưng chẳng cần chạy nhanh!
Ở đây, hạng dưới hai chục tuổi, có anh làm nghề này từ năm mười một mười hai và rất ít anh quá hai mươi lại có thể trở thành hạng phu xe "sạch mắt", bởi vì khó nhọc từ tấm bé, họ khó lòng khỏe mạnh lên được. Có thể là họ kéo xe suốt đời, nhưng suốt đời chẳng bao giờ nổi đình nổi đám trong làng kéo xe. Hạng bốn mươi trở xuống, có người đã kéo đến chín mười năm rồi, gân cốt suy yếu khiến họ cam chịu tụt lại sau; dần dần họ biết sớm muộn rồi có phen cũng chết lăn quay giữa đường. Kiểu họ kéo xe, lối họ tùy cơ ứng biến mà đòi tiền, cái tài chạy tắt hay chạy vòng quanh của họ đủ cho họ nghĩ đến thời oanh liệt trước kia mà nở mũi tự phụ trước bọn đàn em. Nhưng chút hãnh diện đó không hề giảm bớt cái tương lai đen tối được; cũng chính vì thế mà sau khi lau mồ hôi họ vẫn thường khẽ thở dài. Có điều, so sánh với hạng phu trên bốn mươi, thì hầu như họ chưa lấy gì làm khổ lắm. Hạng sau này chắc trước kia không hề nghĩ rằng mình lại có duyên nợ với chiếc xe tay, đến lúc sống dở chết dở mới phải cầm lấy cái càng xe lên. Thầy phú-lít, bác loong-toong bị đuổi, người bán rong tiền lưng đã cạn, hoặc thợ thuyền bị thất nghiệp, đến bước không còn gì mà cầm, mà bán nữa, đành cắn răng, nuốt nước mắt, bước lên con đường này để đi đến cõi chết. Bọn họ thuở còn trai tráng có bao nhiêu sức lực đã đem bán sạch rồi, bây giờ phải đem những giọt máu và mồ hôi của tấm thân nuôi bằng ngô khoai[*] mà đổ xuống mặt đường. Sức tàn, lực kiệt, không thạo nghề, không bạn bè, ngay cả ở trong làng kéo xe họ cũng chẳng được ai coi ra gì. Họ kéo những chiếc xe tã nhất, săm lốp một ngày xì hơi không biết bao nhiêu lần, vừa kéo vừa xin lỗi khách, và được mươi mười lăm xu đã cho là bở lắm.
[*]Chu thich: Nguyên văn: oa oa đầu: bánh hấp bằng ngô, khoai, sắn.
Ngoài ra, do hoàn cảnh và sự hiểu biết, có một số phu xe lại đứng riêng ra thành một hạng. Những người sống ở khu Tây Uyển, Hải Điện tất nhiên chạy đường Tây Sơn, Yên Kinh, Thanh Hoa, tiện hơn; cũng như những người vùng ngoài cửa Vĩnh Định thì chạy đường Thanh Hà, Bắc Uyển; ở vùng ngoài cửa Vĩnh Định thì chạy đường Nam Uyển. Bọn họ đều chạy đường trường cả chứ không thích kéo vặt, bởi vì kéo "cuốc" nào ra "cuốc" ấy, không thèm góp nhặt dăm ba đồng xu. Nhưng họ cũng vẫn chưa được "oách" bằng mấy anh xe ở khu Đông Giao dân hạng. Những anh loại xe sang này chuyên kéo người ngoại quốc từ Đông Giao dân hạng[*] đến Ngọc Tuyền Sơn, Di Hòa Viên, hoặc Tây Sơn. "Oách" cũng chỉ là chuyện nhỏ thôi. Nguyên nhân khiến các anh em phu xe thường không dám đến tranh khách, chính là vì những tay làm ăn với người ngoại quốc đó có đôi chút hiểu biết khác người thường. Họ nói được tiếng ngoại quốc. Lính Anh, lính Pháp, thuê kéo đến Vạn Thị Sơn, Ứng Hòa Cung, "Tám ngõ lớn" họ đều hiểu cả. Họ có một lô tiếng ngoại quốc, không truyền cho ai. Lối chạy của họ cũng đặc biệt, cứ thủng thỉnh bước một, không nhanh mà cũng không chậm, đầu cúi xuống, không nhìn ngang nhìn ngửa, chạy sát vỉa hè, có vẻ mặc kệ đời và ta đây có sở trường riêng. Vì kéo cho người ngoại quốc nên họ không cần phải mang dấu, mà nhất loạt mặc áo cánh trắng tay, quần trắng hoặc đen, ống rất rộng, cổ chân đeo nịt; đi giày vải xanh má rộng đế dày, trông thật sạch sẽ, lanh lẹn, bảnh bao. Thấy kiểu ăn mặc đó, anh em các xe phu khác không bao giờ lại đến tranh khách hoặc chèn lên trước. Họ dường như thuộc vào một ngành nghề riêng biệt.
[*]Chu thich: Khu sứ quán ngoại quốc trước kia ở Bắc Kinh.
Có giới thiệu sơ qua như vậy rồi bây giờ nói đến vị trí của anh chàng Tường trong làng kéo xe, chúng tôi mới mong có thể nói rõ ràng chính xác như nói đến một cái đinh vít trong bộ máy.
Trước khi có duyên nợ với cái biệt hiệu "lạc đà" này, Tường là một anh phu xe sống khá tự do thoải mái, nghĩa là anh ta thuộc vào hạng trai trẻ khỏe mạnh và có xe riêng: xe của mình, muốn làm ăn ra sao tùy ý, thật là vào bậc nhất trong làng phu xe.
Được như thế quyết không phải là chuyện dễ. Một năm, hai năm, ít nhất cũng phải tới ba bốn năm, từng giọt từng giọt mồ hôi đổ xuống, chẳng biết đến hàng mấy mươi vạn giọt, dãi dầu sương gió, bóp mồm bóp miệng mới tậu được chiếc xe. Chiếc xe là kết quả và là sự bù đắp của mọi nỗi cực khổ, xoay xở của anh ta, cũng giống như tấm huy chương của người dũng sĩ trải qua hàng trăm trận. Khi còn phải thuê xe người khác, anh ta chạy từ sáng đến tối, từ đông sang tây, từ nam chí bắc, y như con quay bị người ta quất cho xoay tít. Anh ta không tự chủ nữa, nhưng trong khi quay tít thò lò như thế, mắt anh ta vẫn không hoa, lòng anh ta vẫn không rối. Anh ta luôn luôn mơ tưởng một chiếc xe, nhờ nó anh ta sẽ được tự do, độc lập, một chiếc xe của mình như chân tay mình vậy. Có xe riêng, sẽ không phải chịu ức với bọn chủ thầu nữa, mà cũng chẳng cần phải a dua bợ đỡ người này người nọ. Có sức khỏe, lại có xe riêng, hàng ngày mở mắt ra là có miếng ăn rồi.
Anh ta không sợ khổ và cũng chẳng có những thói hư tật xấu, vốn có thể tha thứ nhưng không nên bắt chước, của các anh em xe phu khác. Sáng ý và chịu khó, anh ta có thể làm cho điều mình mơ ước trở thành sự thực. Giả dụ hoàn cảnh khấm khá hơn, hoặc được học hành chút ít, nhất định anh ta chẳng rơi vào "làng xe kéo". Và dù làm gì, anh ta cũng chẳng bao giờ chịu bỏ lỡ thời cơ. Khốn thay, anh ta lại cứ phải kéo xe. Thôi thì đành vậy. Trong cái nghề này, anh ta vẫn có thể tỏ ra mình là người sáng ý và có tài, dường như ngay ở dưới địa ngục, anh ta vẫn có thể làm một con quỷ khôn. Lớn lên ở thôn quê, mồ côi cha mẹ và có mấy mẫu ruộng xấu cũng mất nốt, năm mười tám anh ta đã phải mò lên tỉnh kiếm ăn. Với sức khỏe và tính thật thà của một gã trai quê, phàm việc gì đổ mồ hôi mà có miếng ăn là hầu như anh ta đã làm qua cả. Nhưng không bao lâu, anh ta nhận thấy, kéo xe dễ kiếm ra tiền nhất. Làm việc lao lực khác, kiếm chác có hạn. Còn kéo xe, khéo xoay xở và gặp dịp thì chưa biết lúc nào, ở chỗ nào đó, sẽ vớ được những món bở, qua cả lòng mong ước. Tất nhiên, anh ta cũng biết những cơ hội đó chẳng phải tình cờ mà đến; xe và người đều phải lo tươm tất, ra trò đã. Có của tốt đem bán mới mong gặp khách biết mua của về. Nghĩ đi nghĩ lại, anh ta thấy mình có đủ điều kiện: anh ta đang độ khỏe mạnh, trai tráng, chỉ hiềm chưa kéo xe bao giờ, nên không dám kéo xe đẹp ngay. Nhưng đó không phải là một khó khăn không thể vượt qua được. Sức vóc của anh ta, chỉ cần tập khoảng mươi mười lăm hôm nhất định sẽ chạy ra trò, rồi sẽ thuê một chiếc xe mới, chưa biết chừng chẳng bao lâu có thể tìm ra chỗ kéo xe tháng; sau nữa chịu khó tằn tiện độ một hai năm, cứ cho là bốn năm đi, nhất định sẽ sắm nổi một chiếc xe, một chiếc xe thật oách! Nhìn vào sức lực đương trai của mình, anh ta cho chỉ là chuyện chóng hay chầy mà thôi. Đó là mục đích và là điều mong ước có thể đạt tới được, quyết không phải mơ tưởng hão huyền.
Sức vóc của anh ta phát triển trước tuổi, mới độ hai mươi mà người rất cao to; tuy mình mẩy, tay chân chưa được năm tháng rèn luyện thành thục, nhưng trông đã ra người lớn rồi - một người lớn mà mặt mũi dáng dấp vẫn còn mang theo cái vẻ ngây thơ, nghịch ngợm của trẻ con. Nhìn bọn phu xe "bậc nhất", anh ta nghĩ cách sẽ thắt bụng cho thon để càng lộ rõ bộ ngực như phiến sắt và tấm lưng như cánh phản. Ngoái cổ lại nhìn đôi vai của mình, anh ta thấy sao nó rộng thế, oai thế. Thắt bụng cho thon, mặc cái quần ống trắng rộng vào, gấu quần sẽ dùng dây ruột gà buộc lại, để lòi đôi bàn chân "ngoại khổ" ra! Rõ ràng anh ta có thể trở thành một anh phu xe thuộc loại xuất sắc nhất. Như người ngớ ngẩn, anh ta cười một mình.
Người anh ta không có gì đặc biệt, chỉ cái vẻ mặt là khiến anh ta dễ được cảm tình. Đầu không to lắm, con mắt tròn, mũi nở, hai hàng lông mày rậm và ngắn, tóc bao giờ cũng cạo nhẵn thín, má không bệu, cổ to gần như bằng đầu, mặt lúc nào cũng hồng hào; nổi bật hơn cả là vết sẹo khá to nằm giữa gò má và tai bên phải - ngày bé, anh ta nằm ngủ dưới gốc cây, bị lừa ngoạm cho một miếng. Anh ta cũng chẳng chú ý lắm đến vẻ người của mình. Anh ta thích bộ mặt của anh ta; cũng y như anh ta thích cái thân hình của anh ta; tất cả đều rắn chắc như thế kia! Dường như anh ta cho mặt cũng như tay chân, chỉ cần rắn chắc là tốt rồi. Đúng thế, sau khi lên tỉnh, anh ta vẫn có thể đầu lộn ngược trồng cây chuối một lúc rõ lâu. Lúc làm như thế, anh ta cảm thấy mình giống như một thân cây trên dưới thẳng đuột, phẳng lì.
Quả anh ta giống một thân cây thật, vững chãi, lặng lẽ, nhưng tràn đầy sức sống. Anh có những ý định, tính toán riêng, nhưng không muốn nói với ai. Trong làng phu xe, những nỗi bực dọc khó khăn riêng lại là đầu đề câu chuyện chung của mọi người. Ở bến xe, quán nước, rạp tuồng, họ đem chuyện riêng ra mà kể lể, than thở, kêu ca. Những chuyện đó sau sẽ trở thành của chung, truyền từ đời này sang đời nọ, y như những bài dân ca. Tường vốn là người nhà quê, không được mồm mép như dân thành phố. Nếu như nhanh mồm nhanh miệng là một đức tính trời phú cho, thì anh ta vốn bẩm sinh không ưa nhiều lời, nên cũng chẳng muốn đua đòi cái tài bẻm mép của dân thành phố. Chuyện của anh ta, riêng mình anh ta biết, không bàn bạc với ai. Vì ít nói, nên anh ta chẳng có nhiều thì giờ để mà suy nghĩ. Dường như anh ta bao giờ cũng cứ nhìn vào cõi lòng mình. Một khi đã có chủ ý rồi, thì anh ta cứ theo con đường đã vạch sẵn trong óc. Nếu con đường đó không thông suốt thì hàng ngày liền, anh ta có thể cứ im lặng, chẳng nói chẳng rằng, cắn chặt răng lại, y như đang tự đay nghiến mình.
Anh ta quyết chí đi kéo xe, thế là đi kéo xe. Anh ta thuê một chiếc xe tàng, để luyện đôi chân đã. Ngày đầu tiên chẳng được đồng xu nào hết. Ngày hôm sau, làm ăn có khá hơn, nhưng lại phải nằm bẹp mất hai ngày, chân sưng như hai trái bầu, không sao nhấc nổi. Đau thế mà anh ta cũng gắng chịu. Anh ta biết đó là chuyện không thể tránh được; đã làm nghề kéo xe tất phải vượt qua cửa ải này, không vượt qua thì chẳng có gan đâu mà kéo.
Chân khỏi đau, anh ta đã dám chạy rồi. Điều đó làm cho anh ta sướng lắm, bởi vì những chuyện khác thì không có gì đáng lo nữa: tên phố anh ta thuộc làu, đôi khi có phải chạy vòng quanh tí chút, cũng chẳng sao, khỏe mạnh thì có ngại gì. Anh ta từng có kinh nghiệm đẩy, kéo, khiêng, gánh, nên kéo xe cũng chẳng lấy gì làm khó lắm. Huống hồ, anh ta có những chú ý riêng: cẩn thận nhiều vào, bớt cái trò tranh giành hơn thua đi, sẽ ít xảy ra tai nạn. Còn như chuyện đòi giá cả và tranh khách, thì vì mồm miệng chậm chạp, nên không địch nổi những tay lọc lõi. Biết rõ chỗ kém của mình, anh ta dứt khoát không hay đến "bến xe". Ở đâu không có xe, anh ta đỗ ở đó. Chỗ nắng, anh ta có thể đứng ung dung nói giá, có khi lại chẳng đòi bao nhiêu cả chỉ nói: "Xin cứ ngồi lên, rồi liệu đấy mà trả!". Trông anh ta có vẻ thật thà, mặt mũi lại sáng sủa dễ thương, dường như người ta chỉ có thể tin anh ta thôi, chứ không dám nghĩ cái anh chàng "ngốc nghếch gà tồ" này lại biết "chém đắt". Dù có nghi ngờ chăng nữa, cũng chỉ có thể cho anh ta là một gã nhà quê mới lên tỉnh, chắc không thuộc đường, nên không biết đòi bao nhiêu. Đến khi họ hỏi "biết đường à?", thì anh ta cười, có vẻ ngốc nghếch, mà lại có vẻ hóm hỉnh, khiến khách đi xe chẳng biết làm gì cho phải.
Độ ba tuần lễ sau, anh ta đã chạy dẻo chân rồi. Anh ta biết kiểu chạy của mình trông gọn mắt lắm. Kiểu chạy là bằng cứ chứng tỏ năng lực và tư cách của một anh phu xe. Chạy xoạc cẳng như hai cái nan quạt mở rộng, đúng là tay mới ở nhà quê lên. Chạy đầu chúi xuống, chân kéo lê trên mặt đất, chạy mà chẳng nhanh hơn đi, nhưng trông vẫn có vẻ đang chạy, thì đúng là những lão trên năm mươi rồi. Những người giàu kinh nghiệm, nhưng sức yếu này lại còn có một mánh khóe khác: ngực hóp vào, chân giơ thật cao, cứ mỗi bước đầu lại nhô ra phía trước một cái, trông có vẻ đang chạy cật lực nhưng thật ra chẳng nhanh hơn người khác chút nào. Bọn họ nhờ vào "kiểu làm ăn" đó mà giữ được uy tín. Tường cố nhiên không theo mấy kiểu ấy. Chân dài nên bước rộng, sức mạnh nên chạy êm, nhịp nhàng, xe không lắc, khách thấy yên trí, thoải mái. Khi bảo đỗ, mặc dù xe đang chạy rất nhanh, anh ta chỉ cần bước chùng hai bước nữa, thế là xe dừng lại ngay. Sức lực của anh ta hầu như không chế được tất cả các bộ phận của xe. Lưng hơi khom khom về phía trước, hai tay đỡ nhẹ càng xe, điệu bộ trông gọn gàng, chính xác, không ra vẻ vội vã nhưng lại chạy rất nhanh, nhanh mà không nguy hiểm. Ngay trong làng kéo xe tháng cũng ít người chạy được như thế.
Anh ta đổi một chiếc xe mới. Ngay từ hôm đổi xe, anh ta đã hỏi dò biết rằng, như chiếc xe anh ta đang thuê đây - díp êm, trục tốt, áo tơi cánh gà đủ, đèn trước, đèn sau, còi đồng cổ dài giá hơn trăm bạc. Nếu như nước sơn và bộ trục kém một chút, thì một trăm cũng mua được rồi. Tóm lại, chỉ cần có một trăm đồng là anh ta có thể tậu được một chiếc xe. Bỗng anh ta nghĩ, một ngày dành dụm một hào, thì một trăm đồng phải là một nghìn ngày. Một nghìn ngày! Nói dồn một nghìn ngày lại như thế, anh ta hầu như không tính ra được nó dài bao nhiêu. Nhưng chí anh ta đã quyết, một nghìn ngày chứ một vạn ngày, thế nào cũng phải mua bằng được một chiếc xe. Anh ta đã nghĩ kỹ rồi, bước đầu cần phải kéo xe tháng. Gặp ông chủ giao thiệp rộng, tiệc tùng nhiều, trung bình mỗi tháng độ mười bữa tiệc, là có thể kiếm vài ba đồng tiền cơm đãi phu xe. Thêm vào đó, mỗi tháng để dành độ tám chín hào, một đồng nữa, có thể được bốn hay năm đồng cũng nên, và thế là một năm góp được sáu chục? Như vậy hy vọng của anh ta không cao xa lắm nữa. Anh ta không hút thuốc, không uống rượu, không đánh bạc, không nghiện ngập say mê trò gì cả, lại không có gánh nặng vợ con, miễn chịu thắt lưng buộc bụng, thì chẳng việc gì không thành. Anh ta thề với mình: "Một năm rưỡi nữa, nhất định thằng Tường này phải mua cho được một chiếc xe! Xe mới, chứ không phải là xe chữa lại".
Thế rồi, anh ta kéo xe tháng thật. Có điều, thực tế không phải hoàn toàn giống như anh ta mong ước. Anh ta quả đã thắt lưng buộc bụng, nhưng một năm rưỡi trôi qua mà vẫn chưa được như nguyện. Kéo tháng thì đã kéo rồi, và đã kéo rất cẩn thận, nhưng không may, mọi việc trên đời này đâu phải chỉ có một chiều! Dù anh ta kéo rất cẩn thận, nhưng nhà chủ vẫn cứ không thuê nữa. Được độ hai ba tháng, có khi chín mười ngày, họ lại thôi, và anh ta lại tiếp tục đi kiếm chủ khác. Tất nhiên, anh ta vừa đi kiếm, vừa kéo lẻ. Đang cưỡi ngựa mà vẫn phải tìm ngựa, lòng anh ta không lúc nào thảnh thơi. Trong thời gian đó, anh ta lại thường gặp đen. Anh ta phải cố gắng phấn chấn lên, không riêng chỉ để kiếm lấy miếng ăn hàng ngày, mà còn phải tiếp tục dành dụm mua xe. Nhưng không phải cố gắng là mọi chuyện sẽ ổn cả. Nhấc càng xe lên, anh ta không thể chuyên tâm mà chạy, cứ như luôn luôn nghĩ gì ở đâu đâu ấy, càng nghĩ càng sợ hãi bực bội. Giá thử cứ như thế này mãi thì bao giờ mới có thể mua được xe? Tại sao lại như thế này? Chẳng lẽ mình lại là thằng không muốn khấm khá lên hay sao? Những lúc nghĩ ngợi lung tung như thế, anh ta quên mất cái tính cẩn thận thường ngày. Lốp xe đè vào mảnh sành, gai sắt, nổ bung, thế là đành phải nghỉ. Nguy hơn nữa, có khi đâm cả vào người đi đường, thậm chí có lần vì vội chèn lên trước mà văng mất nắp trục xe. Nếu như kéo tháng thì chẳng đời nào lại xảy ra những chuyện đen đủi ấy. Cứ gặp chuyện là anh ta buồn bực, thờ thẫn cả người. Xe hỏng, tất nhiên phải đền tiền, thế là như lửa đổ thêm dầu, anh ta lại càng nóng ruột. Sợ gặp phải những tai họa lớn hơn, có khi anh ta rầu rĩ nằm khoèo ngủ cả ngày ở nhà. Mở mắt ra thấy phí mất một ngày, anh ta lại hối, và tự giận mình. Còn nữa, trong thời kỳ này, càng lo, anh ta lại càng sống kham khổ, ăn uống chẳng ra gì. Anh ta tự cho mình là xương đồng da sắt, thế mà cũng vẫn ốm như thường. Ốm, anh ta tiếc không dám bỏ tiền ra mua thuốc, cứ nằm liều, rút cục, ốm ngày càng nặng, không những bỏ tiền ra mua thuốc mà lại còn phải nghỉ mấy ngày liền. Những khó khăn đó khiến anh ta càng phải cắn răng cố gắng, nhưng số tiền mua xe không phải vì thế mà tích góp được nhanh chóng hơn.
Ba năm ròng rã, anh ta dành dụm đủ một trăm đồng!
Anh ta không thể chờ đợi được nữa. Vốn định tâm mua một chiếc xe thật hoàn toàn, thật mới và thật vừa ý, nhưng bây giờ chỉ có thể bằng vào một trăm đồng ấy mà mua thôi. Không thể nấn ná được nữa. Nhỡ có việc gì xảy ra lại hụt đi mất mấy đồng thì sao? Vừa may có chiếc xe mới đóng xong (có người đặt nhưng không có tiền lấy), đại khái cũng xấp xỉ như chiếc xe anh ta mong ước. Chiếc xe này vốn đáng giá những hơn trăm, nhưng vì có số tiền đặt cọc bỏ lại, nên hiệu xe bằng lòng bớt cho một ít. Tường, mặt đỏ gay, tay run run, xỉa chín mươi sáu đồng bạc ra
- Tôi lấy chiếc này!
Chủ hiệu xe định nài chẵn một trăm, nói đi nói lại mãi, kéo xe ra rồi lại kéo xe vào, giương mui lên rồi lại cụp mui xuống, bóp còi inh ỏi[*] mỗi động tác kèm theo hàng tràng lời tán tụng. Cuối cùng, ông ta đưa chân đá vào vành xe mấy cái, nói:
[*]Chu thich: Xe tay ở Bắc Bình không có chuông, thay vào đó là cái còi, miệng loe, phía sau là một quả cầu cao su, bóp quả cầu, còi kêu toe toe (ND).
- Đấy nghe này! Cứ boong boong y như tiếng chuông ấy! Kéo cho đến lúc xe hỏng, đũa có chiếc nào oằn cứ việc mang lại đây quẳng vào mặt tôi! Đúng một trăm, thiếu một xu cũng không được!
Tường lại đếm lại tiền:
- Tôi lấy chiếc này! Chín mươi sáu đồng đấy!
Chủ hiệu biết gặp phải người riết róng, đưa mắt nhìn số tiền, rồi lại nhìn anh ta, thở dài:
- Thôi, để lấy chỗ đi lại, bán cho anh đấy! Bảo đảm sáu tháng: trừ phi làm vỡ thùng xe, còn thì hỏng tôi xin chữa, không tính tiền. Giấy bảo đảm đây, cầm lấy!
Tay Tường lại càng run tợn. Anh ta cầm lấy giấy bảo đảm, kéo xe ra, dường như muốn khóc. Kéo đến một chỗ vắng, anh ta ngắm nghía thật kỹ chiếc xe của mình, thử soi vào mặt gỗ sơn! Càng ngắm càng thấy thích. Những chỗ không thật vừa ý cũng có thể bỏ qua, bởi vì đây là xe của mình! Ngắm một lúc, như thế cũng tựa như được nghỉ ngơi rồi, anh ta ngồi xuống cái đệm chân mới đan hình mắt cáo để thoát nước, nhìn cái còi bằng đồng sáng choang mắc ở càng xe. Bỗng anh ta sực nhớ, năm nay anh ta hăm hai tuổi. Bố mẹ mất sớm, nên anh ta cũng quên cả ngày sinh tháng đẻ. Từ dạo lên tỉnh đến nay, anh ta chưa ăn mừng sinh nhật lần nào. Được rồi! Hôm nay mua được xe mới, kể như là sinh nhật vậy. Sinh nhật của người mà cũng là sinh nhật của xe, càng dễ nhớ. Vả lại, xe là xương máu của mình, thì cũng không vì lý gì lại không thể coi xe như người.
Nên ăn mừng ngày "song thọ" này như thế nào đây? Tường đã có chủ định rồi: món khách đầu tiên phải là người cho sang, tuyệt đối không kéo đàn bà. Tốt nhất là kéo đến cửa Tiền, thứ đến là chợ Đông An. Kéo đến nơi, sẽ vào một quán cơm tươm nhất, đánh một bữa, bánh rán nóng cặp chả cừu nướng chẳng hạn. Ăn xong, gặp món nào bở thì kéo nữa, không thì cho xe về nghỉ. Thế là ăn mừng sinh nhật rồi!
Từ ngày có xe, cuộc sống của anh ta ngày một khấm khá hơn. Kéo tháng cũng thế, mà kéo vặt cũng thế, hàng ngày anh ta chẳng phải lo đến cái món "thuế xe" nữa. Kéo được bao nhiêu là của mình tất. Lòng thảnh thơi, đối với mọi người anh ta càng hòa nhã, việc làm ăn cũng vừa thấy vừa ý. Kéo được nửa năm, anh ta lại có ước vọng to hơn: cứ thế này, làm độ hai năm, nhiều nhất là hai năm, anh ta lại có thể mua được một chiếc nữa. Một chiếc, rồi hai chiếc... Anh ta cũng sẽ mở một hiệu cho thuê xe.
Nhưng hy vọng phần lớn chẳng mấy khi thực hiện được. Anh chàng Tường cũng chẳng phải là một ngoại lệ.
2
Phấn khởi sinh ra mạnh bạo; từ khi có xe riêng, anh chàng Tường chạy càng nhanh hơn. Xe của mình tất nhiên thận trọng rồi, nhưng nhìn con người mình, lại nhìn xe mình, nếu không chạy thì anh ta thấy nó thế nào ấy.
Từ dạo lên tỉnh, anh ta đã cao hơn trước trên một tấc. Bản thân anh ta cảm thấy rằng còn phải cao thêm nữa. Phải, da thịt đã sắt lại, dáng người đã cứng cáp hơn, và trên mép lại đã có một hàng ria lơ thơ rồi, thế mà anh ta vẫn cho rằng còn phải cao thêm một chút mới phải.
Mỗi khi qua một cái cửa con hoặc một cái cổng đầu phố làm phải cúi khom xuống mới lọt, tuy không nói gì nhưng anh ta vui thầm trong bụng, bởi vì anh ta thấy mình đã cao rồi, mà vẫn còn đang cao thêm, hầu như đã là người lớn, mà vẫn là trẻ con, rất thích.
Người cao to như thế, lại kéo cái xe đẹp như thế, xe thì xe riêng, díp nhún lên nhún xuống êm ru, đến cả càng xe cũng nhè nhẹ rung lên; hòm xe bóng lộn, đệm trắng tinh, còi kêu to thế, mà không chạy nhanh hơn thì sao xứng với con người mình, sao xứng với xe? Cái đó chẳng phải là hư danh, mà tựa hồ như là trách nhiệm. Không chạy nhanh, chạy như bay thì không phát huy đầy đủ sức mạnh của mình và cái tốt đẹp của xe. Chiếc xe đó quả cũng đáng yêu thật, kéo được chừng nửa năm, dường như bộ phận nào cũng có tri giác và tình cảm. Khi Tường còng lưng lại, co chân lên hoặc vươn thẳng người ra, nó liền hưởng ứng ngay, giúp anh ta đúng như ý muốn. Giữa anh ta và nó không hề có chút gì cách biệt. Qua những quãng đường phẳng phiu, vắng người, anh ta có thể cầm càng một tay thôi, bánh cao su lăn nhẹ trên đường, kêu vo vo, y như có cơn gió thoảng đẩy anh ta chạy tới vừa nhanh vừa vững. Đến nơi quần áo có thể vắt ra mồ hôi, như vừa vớt trong chậu nước ra. Anh ta thấy mệt mỏi, nhưng lại vui sướng lắm, một thứ mệt mỏi đáng tự hào, như vừa cưỡi một con ngựa hay vượt mấy chục dặm đường vậy.
Nếu mạnh bạo không phải là cẩu thả thì khi Tường mạnh bạo chạy như vậy, anh ta không thể cẩu thả một chút nào. Không chạy nhanh khách không vừa ý, chạy nhanh mà lại đâm hỏng xe thì mình lại khổ tâm. Xe là bản mệnh của anh ta, anh ta biết nên cẩn thận như thế nào rồi. Vừa cẩn thận vừa mạnh bạo, anh ta càng ngày càng tin ở mình, anh ta tin chắc rằng mình và xe đều bằng sắt cả.
Vì thế, không những anh ta dám mạnh bạo chạy, mà lại không bao giờ phải suy tính đến chuyện nên ra xe vào lúc nào. Anh ta thấy cái nghề đem sức ra kéo xe để giành giật miếng cơm là một nghề có khí phách bậc nhất ở gầm trời này. Anh ta muốn ra xe lúc nào thì ra, không ai ngăn được. Những lời đồn đại bên ngoài, anh ta không hề để ý nghe, nào là khu Tây Uyển có lính kéo đến, nào là vùng Trường Tân Điếm lại đánh nhau, nào là bên ngoài cửa Tây Trực lại bắt phu, nào là cửa Tề Hóa đã đóng lâu rồi, anh ta đều mặc kệ. Lẽ tất nhiên, phố xá đóng cửa, cảnh sát và bảo an vũ trang đầy đường; không muốn cố chuốc lấy phiền não, anh ta cũng vội vàng cho xe về như những người khác. Có điều anh ta vẫn không tin những lời đồn đại. Anh ta biết nên cẩn thận như thế nào rồi, nhất là vì xe là xe riêng, nhưng dù sao anh ta cũng vẫn là người nhà quê, không như người thành phố, thấy gió là biết sẽ mưa. Với lại thân hình anh ta cho phép anh ta tin tưởng rằng, giá thử chẳng may "gặp chuyện" thì thế nào cũng có cách, không đến nỗi thua thiệt nhiều. Anh ta không phải là người dễ bắt nạt, vóc người cao lớn thế kia, vai rộng thế kia cơ mà!
Hằng năm, tin chiến trận và những lời đồn đại hầu như cùng đến với lúa mạch mùa xuân. Bông lúa mạch và lưỡi lê có thể coi như tượng trưng cho niềm hy vọng và nỗi lo sợ của người phương Bắc. Anh chàng Tường mua xe mới vừa được nửa năm, thì đúng vào lúc lúa mạch cần mưa xuân. Mưa xuân không nhất thiết chiều theo lòng mong ước của người ta mà rơi xuống, nhưng chiến tranh thì không kể có ai mong đợi hay không, vẫn cứ kéo đến như thường. Đồn đại cũng vậy, mà chuyện thật cũng vậy, Tường hầu như đã quên rằng mình đã từng làm công việc nhà nông; anh ta không quan tâm gì lắm đến chuyện chiến tranh sẽ tàn phá ruộng đồng, cũng chẳng chú ý đến chuyện có mưa hay không có mưa. Anh ta chỉ quan tâm đến chiếc xe của anh ta. Chiếc xe của anh ta có thế sản xuất ra được bánh nướng và các thức ăn khác. Nó là một mảnh ruộng vạn năng, một mảnh ruộng sống quý báu, ngoan ngoãn đi theo anh ta. Vì thiếu mưa, vì tin tức chiến sự, lương thực đều tăng giá, chuyện ấy thì Tường biết. Nhưng, cũng như những người khác trong thành phố, anh ta chỉ biết kêu ca lương thực đắt, mà chẳng có chú ý gì cả. Lương thực đắt, ừ thì cứ đắt đi, nào ai có cách gì làm cho nó rẻ được? Thái độ đó làm cho anh ta chỉ nghĩ đến cuộc sống của mình, mặc kệ mọi hoạn nạn tai ương.
Người thành phố, nếu như đối với mọi việc họ chẳng có cách gì giải quyết cả, thì họ lại có cái tài phao tin đồn nhảm có khi hoàn toàn bịa ra mà nói, có khi một kháo thành mười cốt để tỏ ra họ không phải ngu ngốc và không phải không có việc làm. Họ giống như những con cá nhỏ, lúc rỗi rãi lại ngoi lên mặt nước, nhả vài cái bong bóng hoàn toàn vô dụng, cũng lấy làm đắc ý lắm. Trong những lời đồn đại lý thú nhất là những lời đồn đại về chuyện đánh nhau. Những lời đồn đại khác thường thường trước sau vẫn chi là lời đồn đại, cũng giống như nói chuyện yêu tinh, không thể cứ nói mãi mà thấy thật. Còn những lời đồn đại về chiến sự, chính vì căn bản không có tin chính xác, nên rút cục "cắm gậy thấy bóng" ngay, về tiểu tiết so với thực tế, có thể sai nhiều, nhưng về chuyện có đánh nhau hay không, mười phần đúng tám chín. "Sắp đánh nhau rồi!". Câu nói đó vừa ra khỏi cửa miệng, thì sớm muộn thế nào cũng sẽ có đánh nhau; còn như ai đánh ai, đánh như thế nào thì mỗi người một phách. Tường không phải là không biết như thế. Có điều những người làm việc nặng - kéo xe cũng trong số đó - họ tuy không hoan nghênh chiến tranh, nhưng gặp phải chiến tranh, chưa chắc đã là rủi ro. Mỗi lần chiến tranh lan đến, hoảng nhất là những kẻ giàu sang. Vừa nghe phong thanh tình hình không ổn là họ vội vàng tính chuyện lánh nạn. Đồng tiền xui họ đến nhanh, mà chạy cũng nhanh. Bản thân họ thì không chạy được, vì tiền bám vào chân quá nặng. Họ phải thuê rất nhiều người làm chân; hòm xiểng phải có người khiêng, già trẻ gái trai phải có xe kéo; những lúc ấy chân và tay của các anh em chuyên bán sức chân sức tay nhất loạt trở nên cao giá.
- Cửa Tiền, ga Đông!
- Đâu cơ?
- Ga... Đông?...
- À... Xin đúng một đồng tư! Không phải mặc cả. Thời buổi loạn lạc này!
Giữa tình hình như thế. Tường kéo xe ra khỏi thành. Người ta đồn đại đã mười ngày nay rồi, các thứ đều đã lên giá, nhưng chiến sự tựa hồ vẫn còn ở xa lắm, không thể trong chốc lát mà đánh tới Bắc Bình được. Tường vẫn kéo xe như thường, không vì lời đồn đại mà lười biếng. Một hôm, kéo đến Tây Thành, anh ta biết được đôi chút binh tình. Ở đường chùa Hộ quốc và đường phố Mới, không một ai gọi xe đi "Tây Uyển" "Thanh Hoa" cả! Anh ta lượn đi lượn lại một hồi ở đường phố Mới, nghe nói, xe không dám ra khỏi thành, ngoài cửa Tây Trực đang bắt xe; xe lớn, xe nhỏ, xe lừa, xe tay, bắt tất. Anh ta định uống một bát nước chè rồi kéo xe về phía nam mà đỗ. Bến xe vắng tanh, tỏ ra rằng nguy đến nơi. Anh ta tuy khá gan dạ, nhưng cũng chẳng nên tìm đi vào con đường chết. Giữa lúc đó thì ở phía nam có hai chiếc xe chạy tới, người ngồi trên xe giống như là học sinh; anh phu xe vừa chạy vừa gọi:
- Này, có đi Thanh Hoa không?
Mấy chiếc xe đỗ ở bến không cái nào lên tiếng. Người thì nhìn hai chiếc xe kia, cười nhạt, người thì ngậm điếu, ngồi yên, chẳng buồn ngẩng đầu lên nữa. Hai chiếc xe kia vẫn cứ gào:
- Câm cả rồi à? Đi Thanh Hoa không?
- Hai đồng thì đi!
Một anh xe trẻ tuổi, đầu húi trọc, người thấp, thấy không ai trả lời, liền nói một câu như để pha trò.
Hai chiếc xe kia liền đỗ lại:
- Kéo lại đây! Gọi cái nữa!
Anh ta ngớ người ra, dường như vẫn không biết xử trí ra sao. Những người kia vẫn ngồi yên. Tường thấy thế, biết ra khỏi thành nhất định nguy hiểm, nếu không thì hai đồng từ đây đến Thanh Hoa bình thường chỉ độ hai ba hào sao lại không có người tranh lấy? Anh ta cũng chẳng muốn kéo. Nhưng cái anh chàng đầu trọc kia dường như đã có ý định, nếu ai cùng anh ta chạy cuốc này thì anh ta sẽ chạy ngay. Anh ta nhìn Tường chằm chằm:
- Thế nào, ông hộ pháp?
Hai tiếng "hộ pháp" làm Tường bật cười. Đó là một lời khen. Anh ta nghĩ thầm trong bụng: "Mình đã được khen thì cũng phải lấy lòng anh chàng đầu trọc bé người mà to gan kia mới đúng. Huống chi, hai đồng bạc, là hai đồng bạc, không phải chuyện ngày nào cũng gặp. Còn nguy hiểm ư? Lẽ nào lại vừa khéo đến thế? Huống hồ, hai hôm trước, có người nói Thiên Đàn đầy lính, thế mà anh ta thấy tận mắt chẳng có một mống nào hết". Nghĩ thế, anh ta liền kéo xe tới.
Đến cửa Tây Trực, nhìn trong cổng thành hầu như chẳng có ai qua lại, Tường hơi rợn. Anh chàng trọc kia cũng thấy không ổn, nhưng vẫn cười nói:
- Cứ việc kéo đi, anh bạn! Tai họa thì tránh cũng chẳng được nào, ăn thua là ở cả lúc này đây!
Tường thì biết không xuôi rồi, nhưng sống lăn lóc ở giữa phố phường này mấy năm nay, không thể giở thói bà già, nói rồi bỏ đó được.
Qua cửa Tây Trực, quả thật không gặp một chiếc xe nào cả. Tường cúi đầu chạy không dám nhìn hai bên đường nữa. Tim anh ta dường như thúc vào lồng ngực. Đến cầu Cao Lượng, anh ta đưa mắt nhìn bốn xung quanh. Không thấy một tên lính nào, anh ta mới hơi yên trí. Hai đồng rút cục vẫn là hai đồng, anh ta tính toán, không có gan một chút thì làm gì vớ được món bở như thế. Bình thường, anh ta không hay nói, nhưng lúc này lại muốn nói với anh trọc kia vài câu. Phố xá im lặng đến phát sợ:
- Rẽ vào đường đất nhé! Đường cái...
Anh chàng trọc kia đã đoán được ý anh ta:
- Ừ, phải đấy, rẽ được vào đường tắt thế là ăn chắc rồi!
Nhưng, chưa rẽ được vào đường tắt thì Tường và anh chàng đầu trọc kia, cả xe lẫn người, bị khoảng mười tên lính tóm cổ lôi đi!
Tuy đã gần hết tiết dâng hương ở miếu Khai núi Diệu Phong rồi, nhưng đêm, đắp một tấm chăn đơn vẫn không chịu được. Trên thân Tường không có gì vướng víu, ngoài chiếc áo lính mỏng màu tro, và chiếc quần lính màu xanh, nồng nặc mùi mồ hôi từ khi anh ta chưa mặc, vốn dĩ đã thế rồi. Nhìn bộ quần áo rách rưới đó, anh ta nhớ đến chiếc áo cánh trắng mặc hồi xưa; so với bộ quần áo xanh lè này thì nó sạch sẽ và sang trọng biết mấy! Đúng thế, trên đời có rất nhiều cái sang trọng hơn màu xanh lè kia nhiều, nhưng Tường cũng biết, thân anh ta khó khăn lắm mới được bảnh bao sạch sẽ như thế. Ngửi mùi hôi rình trên người, anh ta thấy rõ đời sống lăn lộn và những thành công xưa kia thực vô cùng vẻ vang; vẻ vang một, anh ta thấy vẻ vang mười. Càng nghĩ đến những ngày qua, anh ta càng giận bọn lính kia. Áo quần, giày mũ của anh ta, xe của anh ta, thậm chí cái thắt lưng vải, bị chúng cướp sạch, chỉ để lại cho anh ta đầy người thương tích tím bầm; và hai bàn chân phỏng rộp! Có điều áo quần thì cũng chẳng đáng kể gì, thương tích trên người chẳng bao lâu rồi cũng khỏi, nhưng còn xe của anh ta, chiếc xe phải đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt hàng mấy năm liền mới sắm được thì mất đứt rồi! Từ lúc kéo vào trại lính, thế là không thấy tăm hơi đâu nữa. Bao nhiêu nỗi đau khổ nhọc nhằn trong chớp mắt anh ta có thể quên đi được, nhưng không tài nào quên chiếc xe ấy!
Khổ cực, anh ta không sợ, nhưng sắm cho ra chiếc xe nữa, không phải là chuyện nói là làm được ngay. ít nhất cũng phải mấy năm! Thành công xưa kia thế là đi đứt. Anh ta phải ra sức làm lại từ đầu! Anh ta khóc! Không những anh ta căm thù bọn lính kia, mà còn căm thù tất cả mọi cái trên đời. Vì lẽ gì lại ức hiếp người ta đến nông nỗi này? Vì lẽ gì? Anh ta gào nên. "Ừ, vì lẽ gì?"
Gào lên như thế, tuy có hả được phần nào, nhưng anh ta liền nghĩ đến nguy hiểm. Thôi thì đành mặc kệ những cái khác đấy, hãy thoát lấy thân đã!
Anh ta đang ở đâu đây? Bản thân anh ta cũng chẳng trả lời cho đúng được. Mấy ngày nay, anh ta chạy theo bọn lính, mồ hôi chảy từ đầu đến gót chân. Khi đi thì phải khiêng phải kéo, hoặc đẩy các đồ vật của chúng nó; khi dừng lại thì phải gánh nước, nấu cơm, cho lừa ngựa ăn. Suốt ngày, từ sáng đến tối, anh ta phải dồn hết sức lực ra chân tay, còn bụng thì trống rỗng. Đêm đến, vừa đặt lưng xuống đất là ngủ thiếp đi như chết, và dù không bao giờ mở mắt ra nữa, cũng chưa chắc đã là chuyện không may.
Lúc đầu, anh ta nhớ tựa hồ bọn lính rút lui về phía núi Diệu Phong. Đến lớp núi sau, anh ta chỉ lo leo núi, và thấp thỏm chưa biết lúc nào trượt chân ngã lăn xuống khe, xương thịt để cho diều tha quạ mổ, nên chẳng còn để ý gì đến cái khác nữa. Loanh quanh trong núi bao nhiêu ngày, bỗng một hôm thấy đường núi thưa đi. Khi mặt trời xuống sau lưng anh ta, thì anh ta trông thấy đồng bằng ở đằng xa. Tiếng kèn cơm chiều gọi lính và phu quay về trại; có mấy tên vác ngang súng, dắt theo mấy con lạc đà.
Lạc đà! Lòng Tường rung động lên. Anh ta bỗng suy nghĩ được, y như người lạc đường tìm được dấu vết gì quen thuộc, trong phút chốc nhớ ra tất cả. Lạc đà không leo được núi, nhất định anh ta đã đến đồng bằng rồi. Theo chỗ anh ta biết, thì cả vùng Tây Bắc Bình, như Bát Lý Trang, Hoàng Thôn, Bắc Tân An, Ma Thạch Khẩu, Ngũ Lý Đồn, Tam Gia Điếm đều nuôi lạc đà. Chẳng lẽ quanh đi quẩn lại, lại về Ma Thạch Khẩu ư? Đó là chiến lược gì? - giá thử bọn lính chỉ biết chạy và ăn cướp kia cũng có chiến lược - thì Tường không biết, nhưng anh ta biết rõ rằng, nếu quả thật đây là Ma Thạch Khẩu thì bọn lính này tất không ra khỏi núi được, nên định xuống chân núi để tìm đường sống. Ma Thạch Khẩu là một địa điểm tốt, đi về phía Đông Bắc có thể đến Tây Sơn; đi về phía Nam có thể đến Trường Tân Diêm hoặc Phong Đài; ra khỏi cửa khẩu đi thẳng về phía Tây, cũng là một lối thoát. Anh ta tính toán hộ cho chúng nó như thế, và trong bụng cũng tự vạch ra cho mình một con đường: đã đến lúc bỏ trốn rồi đây. Vạn nhất chúng nó lại quay về vùng núi non quanh co kia thì dù có thoát khỏi tay chúng nó cũng không khỏi chết đói. Muốn trốn, phải nhân cơ hội này. Anh ta tin rằng, từ đây mà chạy thì một bước có thể chạy về Hải Điện! Tuy khoảng giữa còn bao nhiêu đường đất, nhưng anh ta đã thông thuộc cả. Nhắm mắt lại, anh ta liền có cả một bản đồ: đây là Ma Thạch Khẩu, trời ơi, nhất định đây phải là Ma Thạch Khẩu rồi! Anh ta sẽ rẽ lên phía Đông Bắc, qua núi Kim Đỉnh, lăng Lễ vương, thế là đến Bát Đại Xứ; từ Tứ Bình Đài chạy thẳng về phía Đông qua Hạnh Tử Khẩu, liền đến Nam Tân Trang. Để khỏi lộ, tốt nhất cứ men theo núi từ Bắc Tân Trang đi thẳng lên phía Bắc, qua Ngụy Gia Thôn, lại lên phía Bắc, qua bãi Nam Hà; cứ đi mãi lên phía Bắc, đến Hồng Sơn Đầu, phủ Kiệt Vương, Tĩnh Nghi Viên rồi! Đến được Tĩnh Nghi Viên thì nhắm mắt cũng có thể lần về được Hải Điện! Tim anh ta như muốn nhảy khỏi lổng ngực! Mấy hôm nay, máu trong người dường như ra cả tứ chi, lúc này dường như lại dồn cả về tim, tim nóng bỏng mà tứ chi lại lạnh đi; lòng hy vọng làm anh ta run lên.
Cho mãi đến tận nửa đêm, anh ta vẫn không sao nhắm mắt được. Hy vọng làm anh ta vui sướng, lo sợ làm anh ta kinh hoàng. Anh ta muốn ngủ nhưng không ngủ được. Trên nệm cỏ khô, tay chân anh ta như rã rời. Không một tiếng động, chỉ còn sao trên trời nhấp nháy theo nhịp đập của trái tim. Lạc đà bỗng kêu lên mấy tiếng buồn bã, cách anh ta không xa. Anh ta thích tiếng kêu đó, như giữa ban đêm bỗng nghe tiếng gà gáy khiến người ta vừa buồn vừa vui.
Phía xa có tiếng đại bác, xa lắm, nhưng rõ ràng là tiếng đại bác. Anh ta không dám động đậy. Nhưng tức thì trại lính bỗng nhốn nháo lên. Anh ta nín thở, thời cơ đã đến! Anh ta biết chắc, bọn lính lại phải rút lui, và nhất định sẽ đi vào núi. Kinh nghiệm mấy ngày qua cho anh ta biết, phương pháp tác chiến của bọn lính này chẳng khác gì ong mắc kẹt trong nhà, bạ đâu đâm đầu vào đó. Có tiếng đại bác, nhất định bọn chúng lại bỏ chạy. Vậy thì, phải cẩn thận một tí mới được. Anh ta nín thở, bò chầm chậm, tìm mấy con lạc đà kia. Anh ta biết lạc đà cũng chẳng giúp gì cho anh ta đâu, nhưng anh ta với chúng cùng bị cầm tù, thì dường như cũng nên thương nhau mới phải. Trại lính lại càng nhốn nháo. Anh ta đã đến gần mấy con lạc đà kia rồi - trông giống như mấy cái gò đất nhô lên trong đêm tối. Ngoài tiếng thở phì phò, không có động tĩnh gì, dường như thiên hạ thái bình lắm. Điều đó khiến anh ta bạo dạn lên. Anh ta nằm phục xuống bên cạnh lạc đà, y như lính nằm phục sau những bao tải đựng cát. Anh ta vụt nghĩ ra rằng: tiếng đại bác từ phía Nam vọng tới, dù không phải thực tâm muốn choảng nhau, ít nhất cũng cảnh cáo cho biết: "Đường này không đi được!". Thế thì, bọn lính này nhất định phải rúc vào núi. Nếu phải leo núi thật, chúng không thể dắt lạc đà theo. Như vậy, số phận mấy con lạc đà này cũng chính là số phận anh ta. Nếu chúng không bỏ mấy con vật này lại, thế là anh ta hỏng việc. Chúng quên đi thế là anh ta thoát. Anh ta áp tai sát đất, lắng nghe có tiếng chân hay không, trống ngực đập liên hồi.
Chẳng hiểu anh ta chờ bao lâu, rút cục không có tên lính nào đến dắt lạc đà đi cả. Anh ta mạnh dạn ngồi dậy, nhìn qua khe trống giữa hai cái bướu lạc đà, chẳng thấy gì hết, xung quanh tối mò! Chuồn thôi! Chuồn! Muốn ra sao thì ra!
3
Đã chạy được hai ba chục bước rồi, Tường lại không muốn chạy nữa. Anh ta tiếc mấy con lạc đà kia. Gia tài của anh ta trên thế gian này hiện nay chỉ còn cái thân xác mà thôi. Dù chỉ là một đoạn thừng, anh ta cũng vui lòng nhặt lấy, không dùng được việc gì, thì cũng có thể an ủi cho anh ta phần nào, ít nhất trong tay cũng còn có được một đoạn thừng, không đến nỗi hoàn toàn tay trắng. Đành rằng phải chạy trốn, nhưng trần như nhộng, thì trốn làm gì? Anh ta nhất định phải kéo theo mấy con lạc đà kia. Tuy chưa nghĩ ra lạc đà sẽ được việc gì, nhưng dù sao cũng gọi là có, và cũng không phải là nhỏ mọn.
Anh ta lôi lạc đà đứng lên. Anh ta không thạo cách điều khiển chúng, nhưng anh ta không sợ, vì vốn người thôn quê nên anh ta dám đến gần các loại súc vật. Mấy con lạc đà chậm rãi đứng lên. Anh ta cũng chẳng nghĩ đến chuyện xem chúng nó có bị buộc lại với nhau hay không. Thấy dắt được, thế là anh ta liền rảo bước, không biết dắt một con hay cả bầy.
Vừa bước anh ta đã hối ngay, lạc đà phía trong cửa ải thường quen chở nặng nên đi chậm. Không những chậm mà còn thận trọng dò từng bước một. Lạc đà sợ trơn, một vũng nước, một vũng bùn, đều có thể làm chúng nó gãy chân hoặc trật bánh chè. Giá trị của lạc đà là ở bốn cái chân; chân gẫy thì hỏng hết! Mà Tường lại muốn thoát thân!
Nhưng anh ta không muốn bỏ chúng lại. Thôi thì muốn sự nhờ trời, mấy con lạc đà kia không mất tiền mua lẽ nào lại bỏ!
Vì kéo xe quen, Tường phân biệt phương hướng khá lắm. Tuy vậy, lòng anh lúc này hơi bối rối. Khi tìm được lạc đà, tâm trí anh ta hầu như đế cả vào chúng nó; đến khi lôi được chúng nó đứng lên, thì anh ta không còn biết đâu vào đâu nữa. Trời thì tối đen, bụng thì lo cuống cuồng, dù có biết nhìn sao đế tìm hướng, anh ta cũng chẳng thể ung dung mà nhìn. Theo con mắt anh ta, thì sao dường như còn luống cuống hơn cả anh ta nữa kia, cứ ngôi nọ va vào ngôi kia, ngôi kia va vào ngôi nọ, rối lên giữa bầu trời đen kịt. Tường không dám nhìn lên cứ cúi đầu tiến về phía trước, lòng lo sợ mà chân lại không dám bước nhanh. Anh ta nghĩ thế này: đã dắt lạc đà thì phải đi theo đường lớn, không thể cứ men theo sườn núi được. Từ Ma Thạch Khẩu - nếu như đây là Ma Thạch Khẩu - đến Hoàng Thôn là đường thẳng. Đó là đường cái cho lạc đà, và lại không phải đi vòng quanh. Đối với một anh phu xe, "đường không vòng quanh" có một giá trị rất lớn. Có điều, trên con đường này không có chỗ nào khuất cả. Nhỡ lại gặp lính thì sao? Dù không gặp đại binh, thì bộ quần áo lính rách mướp trên người, bùn đất trên mặt, với cái bộ tóc lù xù kia, liệu có thể làm cho người ta tin mình dong lạc đà được không? Không giống! Hoàn toàn không giống một anh dong lạc đà, nhưng lại rất giống một tên lính đào ngũ! Lính đào ngũ, quan trên tóm được là chuyện vặt thôi, nhưng dân làng tóm được, ít nhất cũng bị chôn sống! Nghĩ tới đó, anh ta run lên. Phía sau lưng, móng lạc đà khẽ gõ xuống mặt đường bỗng làm anh ta giật mình hoảng sợ. Muốn chạy thoát lấy thân thì phải quẳng mấy của nợ này lại, nhưng rút cục tay anh ta vẫn không chịu rời sợi thừng xỏ mũi lạc đà. Thôi thì cứ đi vậy, đến đâu hay đấy, gặp gì sẽ liệu sau. Sống thì thế là vớ được mấy con lạc đà! Chết thì đành với số phận!
Anh ta cởi chiếc áo lính, xé phứt cái cổ đi. Cả đôi khuy đồng còn chắc kia cũng dứt ra, quang vào bóng tối, chẳng nghe lấy một tiếng động. Sau đó, anh ta vắt chiếc áo không cổ không khuy đó lên người, hai ống tay buộc lại trước ngực, trông y như người đeo ba-lô. Anh ta cho như vậy sẽ làm người ta đỡ nghi là lính bại trận. Quần cũng xắn cao lên. Anh ta biết như thế chưa phải hoàn toàn giống người dong lạc đà, nhưng ít nhất cũng không phải hoàn toàn giống lính đào ngũ. Lại thêm bùn đầy mặt, mồ hôi đầy áo, đại khái cũng gần giống: "anh bán than". Anh ta suy nghĩ rất chậm, nhưng rất chu đáo, và nghĩ ra được thì liền làm ngay. Đêm khuya tối tăm, chẳng ai thấy anh ta: anh ta vốn không phải làm như vậy ngay, nhưng anh ta không thể chờ đợi được. Anh ta không biết giờ giấc, có thể bỗng chốc trời sáng rõ. Đã không men theo đường núi thì ban ngày sẽ chẳng có chỗ nào mà ẩn nấp. Nếu ban ngày ban mặt mà cứ phải đi thì nên làm cho người ta tin mình là người bán than. Nghĩ thế, anh ta liền làm thế. Anh ta hoi mừng thầm trong bụng, dường như nguy hiểm đã qua, mà trước mắt là Bắc Bình rồi. Anh ta cần phải đi thật nhanh và yên ổn đến thành phố, bởi vì trong người không có lấy một đồng xu, không có lấy ít lương khô, chần chừ sao được. Nghĩ đến đó, anh ta định cưỡi lên lạc đà cho đõ mệt, như thế có thể chịu đói lâu hơn. Nhưng rồi lại không dám cưỡi, dù cho có dễ cưỡi, trước hết cũng bảo nó quỳ xuống mới trèo lên được. Thì giờ quý báu, không thể vẽ chuyện thêm phiền. Huống hồ, ngồi trên cao thì lại không trông rõ phía dưới chân, nếu lạc đà trượt ngã thi anh ta cũng lăn theo nốt. Không, cứ thế này thôi!
Đại khái anh ta cảm thấy đang đi theo đường cái. Đi về hướng nào, qua những chỗ nào, đều mù tịt. Đêm đã khuya. Mấy ngày nay mệt nhọc, khi bỏ trốn lại sợ hãi, cả tâm thần lẫn thể xác anh ta đều cảm thấy khó chịu. Đi được một thôi đường, bước chân cứ chầm chậm đều đều. Dần dần anh ta thấy buồn ngủ. Trời vẫn tối đen. Sương xuống lạnh và ẩm. Anh ta cứ thấy mơ mơ màng màng. Căng mắt ra mà nhìn mặt đường, thấy dường như chỗ nào cũng gồ ghề mấp mô, nhưng đặt chân xuống thì lại thấy bằng phẳng. Cẩn thận thế mà lại bị đánh lừa, anh ta càng không yên lòng, hầu như có phần bực bội. Dứt khoát không nhìn đường nữa, mà cứ nhìn thẳng, lây chân dò mà đi cũng được. Xung quanh chả trông thấy gì cả, dường như bóng tối của cả thế gian đang chờ đón anh ta, anh ta từ bóng tối đi ra, rồi lại trở vào trong bóng tối. Phía sau là mấy con lạc đà câm lặng như hến.
Dần dần anh ta đã quen với bóng tối, trong lòng cũng đã yên tĩnh, và mắt thì cứ díp lại. Chẳng hiểu là đang bước hay đã đứng dừng lại rồi, anh ta cứ thấy chập chờn, y như mặt bể đen ngòm đang nhấp nhô gợn sóng. Tâm thần anh ta cùng với bóng đen hòa thành một khối, cùng mơ mơ màng màng, cùng chập chà chập chờn, cùng bồn chồn hốt hoảng. Bỗng anh ta sực tỉnh, dường như nhớ ra chuyện gì, mà cũng dường như có nghe thấy tiếng động gì đó, không nói rõ ra được, và anh ta lại căng mắt ra. Rõ ràng anh ta vẫn đang bước. Anh ta quên mất lúc nãy vừa nghĩ tới cái gì. Xung quanh vẫn yên lặng như tờ. Trống ngực đổ dồn một hổi, dần dần lặng xuống. Anh ta tự nhủ không nên nhắm mắt lại nữa, và cũng đừng nên nghĩ vớ vẩn, việc quan trọng nhất là vào được thành phố. Nhưng óc không nghĩ ngợi gì thì mắt dễ díp lại. Anh ta cần phải nghĩ đến một chuyện gì đó, để tỉnh ngủ. Anh ta biết rằng, nếu nằm lăn ra đây, thì có thể đánh một giấc ba ngày liền. Nghĩ gì bây giờ nhỉ? Đầu óc anh ta hơi choáng váng, người nhơm nhớp khó chịu, tóc ngứa ngáy, chân đau, miệng khô. Anh ta không nghĩ được gì khác, chỉ thương cho thân mình.
Nhưng ngay đến chuyện của bản thân anh ta, anh ta cũng không thể suy nghĩ cho kỹ càng. Đầu óc anh ta choáng váng và trống rỗng, dường như vừa nghĩ tới mình, thì lại quên ngay mình, y như cây nến sắp tắt, không chiếu sáng được bản thân nó. Lại thêm bốn xung quanh tối mò mò, khiến anh ta cảm thấy như anh ta đang vật vờ trong một bầu không khí đen ngòm, tuy biết mình vẫn còn sống, vẫn còn bước tới, nhưng không có cái gì chứng tỏ rằng mình vẫn đang đi, y như người trôi nổi một mình giữa biển khơi, không dám tin ở mình. Anh ta chưa từng lo buồn, nghi ngờ và cô quạnh đến như thế này bao giờ. Thường ngày, anh ta không thích đàn đúm bạn bè, nhưng một mình đứng dưới ánh nắng mặt trời, được mặt trời chiếu rọi khắp tứ chi, nhìn thấy vật này vật kia hiện ra trước mắt, anh ta cũng không đến nỗi sợ hãi. Bây giờ đây, tuy anh ta chưa cảm thấy sợ, nhưng cái cảm giác không xác định được gì cả khiến anh ta không thể chịu được. Giá thử mấy con lạc đà kia cũng láu lỉnh như lừa ngựa thì có lẽ anh ta phải tập trung tinh thần mà chú ý tới chúng nó. Nhưng lạc đà thì lại hiền lành như thế kia, lành đến nỗi khiến anh ta phải sốt ruột. Trong lúc tâm thần hốt hoảng, anh ta bỗng đâm ra nghi ngờ không hiểu chúng nó còn ở phía sau mình nữa hay không. Anh ta giật mình đánh thót một cái. Dường như anh ta tin rằng mấy con vật to lớn đó có thể nhẹ nhàng lẻn vào đường rẽ nào đó tôi mò mò, mà anh ta không biết gì hết, y như người lôi một tảng nước đá, dần dần tan biến đi đâu mất cả.
Chẳng hiểu anh ta ngồi xuống lúc nào. Dù cho lúc đó anh ta có chết đi vẫn còn tri giác, anh ta cũng không thể biết được mình đã ngồi xuống như thế nào, và vì sao lại ngồi xuống. Ngồi độ năm phút, cũng có thể là một tiếng đồng hồ, anh ta chẳng biết nữa. Anh ta cũng không biết mình ngồi xuống rồi mới ngủ hay là ngủ rồi mới ngồi. Có lẽ anh ta ngủ rồi mới ngồi, bởi vì anh ta đã mệt mỏi đến mức có thể đứng mà ngủ thiếp đi được.
Anh ta bỗng sực tình. Không phải ngủ no mắt rồi tự nhiên tỉnh dậy, mà là giật mình tình dậy, y như từ thế giới này nhảy sang thế giới khác, chỉ trong chớp mắt.
Anh ta thấy vẫn tối om, nhưng đã nghe rất rõ có tiếng gà gáy, rõ lắm như có một vật gì cứng vạch vào óc. Anh ta tỉnh hẳn. Lạc đà đâu rồi? Anh ta chẳng còn nghĩ đến chuyện gì khác nữa. Dây thừng vẫn trong tay, lạc đà vẫn ở cạnh anh ta, thế là anh ta yên tâm. Anh ta không buồn đứng dậy. Người mỏi nhừ, nhưng cũng không dám ngủ nữa. Anh ta cần phải suy tính, suy tính cho kỹ càng, tìm ra một cách gì đó thật hay. Giữa lúc đó anh ta nghĩ đến cái xe của anh ta, và anh ta kêu lên: "Trông mong vào đâu bây giờ?".
"Trông mong vào đâu bây giờ?" - Kêu suông như thế chẳng ăn thua gì! Anh ta đi lại, sờ vào mấy con lạc đà kia, cho đến bây giờ, anh ta vẫn chưa biết anh ta lôi đi được mấy con. Sờ ra rồi, tất cả là ba con. Anh ta chẳng biết như thế nhiều quá hay là ít quá. Ý nghĩ của anh ta tập trung vào ba con lạc đà đó, tuy chưa dứt khoát là sẽ làm ăn ra sao, nhưng anh ta lờ mờ cảm thấy rằng, tương lai của anh ta trông chờ vào cả ba con vật này.
"Sao không đem bán quách đi, mua một cái xe khác?" Anh ta như muốn nhảy lên! Nhưng anh ta vẫn không nhúc nhích, tuồng như có vẻ xấu hổ vì từ nãy không sao nghĩ ra được con đường thoát hết sức dễ dàng, hết sức tiện lợi đó. Nỗi vui mừng át sự xấu hổ. Chí anh ta đã quyết. Vừa rồi chẳng phải nghe thấy tiếng gà gáy đó sao. Dù gà có khi một hai giờ đêm đã gáy, nhưng như vậy cũng chẳng mấy chốc nữa mà trời sáng. Đã có gà gáy tức là có xóm làng. Chưa biết chừng, đó là Bắc Tân An cũng nên. Ở đó có nuôi lạc đà, anh ta phải đến đó cho mau, vào lúc trời vừa sáng, bán được mấy con lạc đà đi là có thể vào thành phố mua luôn một chiếc xe. Loạn lạc thế này, xe tất phải rẻ. Anh ta chỉ nghĩ đến chuyện mua xe, dường như bán lạc đà là chuyện chẳng khó khăn chút nào cả.
Nghĩ đến mối quan hệ giữa lạc đà và mấy chiếc xe tay, anh ta thấy phấn chấn lên, khắp người dường như chả có chỗ nào đau đớn khó chịu cả. Giá thử anh ta nghĩ đem bán ba con lạc đà đó, có thể mua được một trăm mẫu ruộng, hoặc có thể mua được mấy hạt trân châu, thì anh ta cũng chẳng sướng đến thế. Anh ta đứng phắt dậy, kéo lạc đà đi. Anh ta không hiểu hiện nay giá lạc đà thế nào, chỉ nghe nói ngày xưa, cái thời chưa có xe lửa, một con lạc đà giá những năm mươi lượng bạc, bởi vì lạc đà khỏe, mà ăn lại đỡ tốn hơn lừa ngựa. Anh ta không mong bán được một trăm rưỡi lạng, chỉ mong được tám chín chục một trăm, vừa đủ mua chiếc xe thôi.
Càng đi trời càng sáng. Phải, ánh sáng ở phía trước, đúng là anh ta đang đi về hướng Đông. Dù nhầm đường, nhưng hướng thì không nhầm. Núi ở phía Tây, thành phố ờ phía Đông, anh ta biết rõ lắm. Bốn xung quanh, từ một vùng tối mò mò, dần dần đã thấy có chỗ tối chỗ sáng; tuy chưa phân biệt được màu sắc, nhưng đã thấy hình thù ruộng đồng cây cối phía xa chìm trong màu xám mênh mông. Sao thưa dần, trời phủ một lớp mây, mà lại cũng giống như một lớp sương, trông còn mờ mờ, nhưng so với lúc nãy thì cao hơn nhiều rồi. Hình như anh chàng Tường đã dám ngẩng đầu lên. Anh ta đã bắt đầu ngửi thấy mùi cỏ hai bên đường, và cũng đã nghe thấy mấy tiếng chim hót. Vì đã nhìn thấy hình bóng lờ mờ của các vật thể, tai mắt mồm mũi của anh ta dường như đều đã khôi phục được tác dụng vốn có của nó. Anh ta cũng đã thấy được mọi cái ở trên người anh ta, tuy rách rưới lôi thôi, nhưng vẫn có thể tin được rằng quả thực mình vẫn còn sống, y như sau cơn ác mộng, chợt tỉnh dậy, cảm thấy cuộc sống thật đáng quý. Nhìn người mình rồi, anh ta lại quay đầu nhìn mấy con lạc đà. Anh ta thấy chúng nó cũng lôi thôi lếch thếch như anh ta, nhưng cũng đáng yêu như anh ta. Bây giờ là lúc súc vật rụng lông, trên mình lạc đà cũng đã lòi ra những đám da màu nâu nâu, rải rác mới có vài túm lông dài lơ thơ, mềm nhũn, chưa biết rụng lúc nào. Trông chúng nó giống như mấy tên ăn mày khổng lồ trong loài thú. Đáng thương nhất là cái cổ dài và trụi kia, dài ngoằng, trơ trụi, cong cong, đần độn, vươn mãi ra phía trước, y như những con rồng gầy gò bất đắc chí. Nhưng Tường không hề ghét bỏ chúng nó. Mặc dù chúng nó nhếch nhác thế nào chăng nữa, thì chúng nó vẫn là những con vật sống. Anh ta tự cho mình là người may mắn nhất trên đời, trời cho anh ta ba con vật quý báu đủ để đổi lấy một chiếc xe, đó chẳng phải là việc ngày nào cũng gặp. Anh ta không nhịn được, bật cười lên.
Nền trời xám đã thấy hơi hồng. Ruộng đồng và cây cối ở phía xa sẫm lại. Màu hồng dần dần hòa lẫn với màu xám, chỗ tím, chỗ đỏ tươi, nhưng phần lớn nền trời vẫn màu xám. Lại một lát nữa, trong màu hồng có thêm màu vàng thắm, màu nào cũng sáng. Tất cả mọi vật bỗng đều trở nên rõ nét. Sau đó, ráng ở phương Đông biến thành đỏ thẫm, và trên đỉnh đầu, nền trời trở sang màu xanh lam. Ráng đỏ tan dần, ánh vàng phát ra từng luồng, ngang là ráng, dọc là ánh sáng, dệt thành một tấm lưới nhện rực rỡ khổng lồ ở góc trời phía Đông Nam. Ruộng lúa, cây cỏ từ màu xanh tối trở sang màu xanh biếc, lóng lánh. Cành thông già lấp lánh ánh vàng, cánh chim bay lấp lánh ánh vàng, mọi vật đều tươi cười hớn hở. Nhìn làn ánh sáng thắm tươi đó, Tường muốn reo lên. Từ khi bị lính bắt đi, hầu như anh ta không hề được nhìn thấy bầu trời, bụng thì cứ nguyền rủa, đầu thì cứ cúi gằm xuống, quên cả ngày tháng, quên cả ông Trời. Bây giờ đây, anh ta tự do đi trên đường, càng đi càng thấy sáng. Ánh sáng chiếu sáng những hạt sương trên cỏ, chiếu sáng cả tóc tai anh ta, sưởi ấm lòng anh ta. Anh ta quên đi mọi nỗi khổ sở, hiểm nghèo, đau đớn; mặc cho thân hình anh ta lam lũ bẩn thỉu đến thế nào, ánh sáng và hơi ấm của mặt trời vẫn không từ bỏ anh ta. Anh ta đang sống trong một vũ trụ có ánh sáng và hơi ấm. Anh ta sung sướng muốn reo lên!
Nhìn bộ quần áo rách rưới trên người, lại nhìn ba con lạc đà trụi lông đứng phía sau, anh ta cười. Anh ta nghĩ bốn mạng, người và vật, nhếch nhác thế kia mà lại có thể vượt khỏi vòng nguy hiểm, có thể dấn bước trên đường dưới ánh mặt trời thì lạ thật. Anh ta cho rằng chẳng cần nghĩ ai phải trái, tất cả đều là ý Trời. Anh ta yên trí bước thong thả, đã có Trời phù hộ cho thì chẳng lo sợ gì nữa. Đi đến đâu rồi? Anh ta không muốn hỏi, mặc dù đã thấy có đàn ông và đàn bà ra đồng làm. Cứ đi, lạc đà không bán được ngay hình như cũng chẳng có gì quan trọng lắm. Hãy vào thành đã rồi sẽ tính. Anh ta khao khát được thấy thành phố. Tuy ở đó anh ta không có bố mẹ thân thích, cũng chẳng có gia tài sản nghiệp, nhưng rút cục nơi đó vẫn là nhà anh ta. Cả thành phố đó là nhà anh ta, về đến đó là anh ta có thể xoay xở được. Phía xa có một xóm, không phải là xóm nhỏ, rặng liễu ngoài trông giống như một hàng vệ binh, xanh mà cao, cúi đầu nhìn những gian nhà thấp bé. Trên nóc vờn bay vài làn khói. Tiếng chó sủa xa xa vẳng tới, nghe rất vui tai. Anh ta chạy thẳng tới, chẳng phải nghĩ là sẽ gặp chuyện gì hay ở đó, mà dường như chỉ để tỏ ra anh ta chẳng sợ gì cả. Anh ta là người tốt, lẽ dĩ nhiên chẳng sợ những người dân lành trong thôn xóm. Lúc này đây, ai nấy đểu đang sống dưới ánh nắng xán lạn và hòa bình. Nếu có thể được, anh ta sẽ xin một hớp nước; dù không xin được cũng chẳng sao. Anh ta đã không chết rấp ở trong núi thì bây giờ khát thêm chút nữa, có đáng kể vào đâu!
Bầy chó châu cả về phía anh ta mà sủa, anh ta không để ý; đàn bà trẻ con chăm chú nhìn anh ta, khiến anh ta đâm ra mất tự nhiên. Anh ta nghĩ, chắc mình phải là một người chăn dắt lạc đà kỳ quặc lắm, nếu không, sao mọi người lại ngẩn ra mà nhìn thế kia? Anh ta buồn lắm, lính tráng không coi anh ta là người, nay đến xóm làng, mọi người nhìn anh ta như nhìn một con quái vật! Anh ta chẳng biết xử trí ra sao. Vóc người anh ta, sức lực anh ta, xưa nay vẫn khiến anh ta kiêu hãnh và tự hào, nhưng những ngày vừa qua, vô duyên vô cớ mà anh ta phải chịu bao nhiêu nỗi uất ức khốn khổ. Nhìn lên một nóc nhà, anh ta lại thấy ánh nắng xán lạn, nhưng ánh nắng hầu như không còn đẹp như lúc nãy.
Trên con đường độc đạo trong xóm, phân lợn, phân ngựa và nước bẩn đọng lại thành từng vũng, mùi hôi thôi bốc lên. Sợ lạc đà trượt ngã, Tường muốn dừng nghỉ một lát. Phía bắc đường có một nhà khá giả, đằng sau là nhà ngói, cổng chỉ chắn bằng một hàng rào gỗ, không có cánh, mà cũng chẳng xây nóc. Tường thoáng nghĩ, nhà ngói, tất là nhà giàu; cổng không xây nóc, lại chỉ chắn bằng hàng rào, tất là nhà nuôi lạc đà! Hay lắm, nghi lại đây một lát, may ra có cơ bán được lạc đà đây!
"Sơ... sơ... sơ"...
Tường bảo lạc đà quỳ xuống, về các tiếng điều khiển lạc đà, anh ta chỉ biết mấy tiếng "sơ!" "sơ!" là bảo quỳ xuống. Anh ta dùng mấy tiếng đó một cách rất đắc ý, cốt tỏ cho người trong thôn biết anh ta cũng là một tay nhà nghề. Mấy con lạc đà quỳ xuống thật, và anh ta cũng đàng hoàng ngồi xuống dưới một cây liễu nhỏ. Mọi người nhìn anh ta, và anh ta cũng nhìn mọi người. Anh ta cho rằng, chỉ như vậy mới có thể làm cho người trong thôn bớt ngờ vực.
Ngồi một lát, thấy phía trong sân có một ông già đi ra, áo khoác vải xanh không gài cúc, mặt sáng sủa, trông biết ngay là một tay nhà giàu xứ quê. Tường đã nghĩ dứt khoát rồi, anh ta nói:
- Thưa cụ, có nước, xin cụ một bát!
- À!
Ông già xoa hai tay lấm vào ngực, nhìn Tường từ đầu đến chân rồi nhìn kỹ ba con lạc đà.
- Có đây! Ở đâu đến thế?
- Ớ phía tây kia, cụ ạ.
Tường không dám nói rõ, vì anh ta không biết đích xác.
- Bên phía tây có lính về kia mà!
Ông già nhìn chăm chăm vào cái quẩn lính của Tường.
- Cháu bị bọn chúng nó bắt, vừa trốn được ra đấy!
- Thế à! Lạc đà dắt qua cửa tây không can gì cả à?
- Bọn chúng nó rúc vào núi cả rồi, đường sá lại yên rồi, cụ ạ.
Ông già chậm rãi gật đầu:
- Ờ, anh chờ tí nhé, tôi vào lấy nước cho.
Tường cùng theo vào. Đến sân, anh ta trông thấy bốn con lạc đà.
- Hừ! Thành một đàn à? Ba mươi năm về trước, tôi đã từng có tới ba đàn kia! Bây giờ thời thế thay đổi rồi, ai nuôi nổi lạc đà được nữa!
Ông lão đứng thừ người ngắm bốn con vật kia, một lát, nói tiếp:
- Mấy hôm trước định cho chúng nó nhập bọn với mấy con của nhà bên hàng xóm đưa ra ngoài cửa khẩu để cho ăn cỏ non, nhưng phía đông có lính, phía tây cũng có lính, ai còn dám đi! Ngày hè thế này mà cứ để ở nhà, thật trông thấy mà xót ruột quá đi mất. Xem mấy con ruồi nhặng kìa! Mai kia nóng nực lên, lại còn muỗi nữa chứ, thật là cứ giương mắt lên mà nhìn những con vật khỏe mạnh thế kia phải chịu tội sống.
Ông già gật gù có vẻ cảm khái và buồn bực lắm.
- Cụ ạ, cụ lấy nốt ba con kia của cháu, nhập thành một đàn, cho nó đi ăn cỏ non cả thể. Loại vật này thích chạy nhảy, cả mùa hè để ở đây, ruồi muỗi đốt cũng đến chết dở.
Tường nói như van nài.
- Nhưng ai có tiền mà mua? Bây giờ đâu phải là lúc nuôi lạc đà!
- Cụ cứ lấy đi cụ ạ, cụ cho bao nhiêu cũng được. Bán rồi, cháu sẽ lên phố làm ăn.
Ông già lại chăm chú nhìn Tường một lượt nữa, thấy anh ta quả thật không phải trộm cướp, rồi quay lại nhìn mấy con vật đứng ngoài cửa, trong bụng có vẻ thích ba con lạc đà này lắm. Biết mua cũng chẳng ích gì, nhưng người thích sách thấy sách là muốn mua, người nuôi ngựa thấy ngựa là không rời ra nữa, người từng có ba đàn lạc đà cũng vậy thôi. Huống chi Tường lại nói là có thể bán rẻ. Người biết của thấy giá hời, thường quên không nghĩ mua về có ích gì không.
Ông già nói thực tình:
- Này anh này! Giá mà tôi có tiền thì tôi mua ngay đấy!
- Thôi cụ mua quách đi, gì mà không mua được!
Tường thành khẩn như thế, khiến ông già đâm khó xử.
- Nói thực tình, ba chục năm về trước thì mấy con này giá tới trăm rưỡi lạng; nhưng thời buổi này, loạn lạc, tôi... hay anh đến chỗ khác dạm xem sao!
- Cụ cho bao nhiêu cũng được thôi mà!
Tường không nghĩ ra được câu nào khác nữa. Anh ta biết ông cụ nói rất thực tình, nhưng anh ta không muốn chạy khắp nơi để hỏi bán - bán không được, có khi xảy ra chuyện gì lôi thôi cũng nên.
- Đây anh xem, hai ba chục đồng bạc, không nỡ mở miệng mà trả, nhưng xoay xở thêm cũng khó khăn lắm! Thời buổi này đành chịu!
Tường trong bụng hơi nản. Hai ba chục bạc? Còn lâu mới mua được xe! Nhưng một là, anh ta muốn bán ngay đi cho rồi, hai là, anh ta cũng không tin lại có thể may mắn gặp một người khách mua nữa.
- Cụ ạ, cụ cho bao nhiêu được bấy nhiêu.
- Thế nào? Xem anh không phải chuyên làm cái nghề này!
Tường liền nói thực.
- Ờ, thế ra anh đổi mạng lấy mấy con lạc đà này đấy ư?
Ông già có vẻ thương hại anh ta, mà cũng chẳng có vẻ yên tâm biết không phải của ăn cắp. Kể thì cũng chẳng khác gì của ăn cắp mấy, nhưng dù sao cũng còn có bọn lính nữa cơ mà. Sau cơn binh hỏa, chuyện gì cũng không thể cứ theo lẽ thường được.
- Thế này nhé! Tôi đưa anh ba mươi lăm đồng. Tôi nói đây không phải là giá hời thì tôi cứ là con chó, mà tôi đào đâu ra thêm được một đồng nữa thì tôi cũng là con chó! Tôi hơn sáu mươi tuổi đầu rồi, ờ, biết nói thế nào đây...
Tường đâm ra lúng túng, về chuyện tiền nong, anh ta xưa nay vốn riết róng lắm. Nhưng mấy ngày vừa qua sống với bọn lính tráng, nay bỗng được nghe mấy lời thành thật và có tình của ông lão, anh ta thấy không tiện cò kè nữa. Huống chi, cẩm chắc ba mươi lăm đồng trong tay còn vững hơn và hy vọng sẽ có hàng vạn đồng, mặc dù đổi mạng lấy ba mươi lăm đồng thì ít thật! Riêng chỉ nói ba con lạc đà to tướng còn sống kia cũng đã không thể, tuyệt đối không thể, chỉ đáng giá có ba mươi lăm đồng! Nhưng biết làm thế nào?
- Vâng, để cho cụ đấy! Cháu xin cụ một điều, cụ cho cháu một cái áo, và có gì ăn, cụ cho cháu xin một miếng.
- Cái đó thì được!
Tường uống một thôi nước lạnh, rồi cầm ba mươi lăm đồng bạc sáng loáng, hai ổ bánh, mặc cái áo cánh rách cài kín ngực. Anh ta chừng như muốn bước một bước lên tới phố.
4
Tường nằm lại ba ngày ở một cái quán nhỏ tại Hải Điện, lúc lên cơn nóng, lúc lên cơn rét, mê sảng, lợi rộp lên tím bầm lại, chỉ khát nước chứ không muốn ăn gì cả. Nhịn đói ba ngày, chân hỏa suy, người mềm nhũn như cái kẹo hồng. Có lẽ ba ngày đó, trong cơn mê, anh ta đã đem cái mối liên lạc giữa anh ta và ba con lạc đà nói ra để người ngoài nghe được, nên vừa tỉnh dậy anh ta đã trở thành Tường "lạc đà" rồi!
Từ ngày lên tình, anh ta đã bị gọi là "Tường", dường như anh ta không có họ;[*] nay, chữ "Tường" lại đệm thêm hai chữ "lạc đà", do đó mà càng không ai để ý xem anh ta họ gì. Có họ hay không có họ, anh ta cũng chẳng để ý. Có điều, ba con lạc đà bán được có mấy đồng bạc, mà lại rước thêm một cái tên hiệu, anh ta cảm thấy như thế là lỗ vốn.
[*]Chu thich: Theo tập quán Trung Quốc, người ta thường gọi họ. Chỉ có người nghèo hèn thì mới gọi tên không (ND).
Vừa gượng dậy được, anh ta đã định ra ngoài xem tình hình ra sao. Anh ta không ngờ chân mình lại yếu đến thế, ra đến cửa đã phải ngồi thụp xuống đất, ngồi một hồi rõ lâu, xây xẩm cả mặt mũi, trán toát mồ hôi lạnh. Gắng gượng một lúc nữa, anh ta mở mắt ra, bụng sôi ùng ục, thấy hơi đói. Anh ta hết sức chậm rãi đứng lên, tìm một gánh "vằn thắn" bán rong, mua một bát. Anh ta vẫn ngồi ở dưới đất húp một ngụm nước dùng, thấy lợm giọng, ngậm mãi trong miệng, cố nhắm mắt nuốt, không muốn húp thêm nữa. Nhưng một lát sau, nước dùng nóng cứ thế là trôi tuồn tuột vào bụng, anh ta ợ hai cái rõ to. Anh ta biết mình sống lại rồi.
Bụng đã hơi no, anh ta mới ngắm thân mình. Người gầy xọp đi, cái quần rách bẩn đến mức không thể nào bẩn hơn được nữa. Anh ta ngại cử động, nhưng lại muốn sạch sẽ gọn gàng ngay. Anh ta không muốn nhếch nhác bẩn thỉu như thế này mà vào phố. Có điều, muốn sạch sẽ gọn gàng thì phải mất tiền, phải húi tóc, thay quần áo, mua giày, bít tất, cái gì cũng tiền cả. Ba mươi lăm đồng nắm trong tay, không nên động đến một đồng nào, thế mà so với số tiền mua xe, cũng chưa thấm vào đâu! Nhưng anh ta thương cho cái thân anh ta. Tuy bị bọn lính bắt không bao lâu, nhưng bây giờ nghĩ lại, tất cả như trong một cơn ác mộng. Cơn ác mộng đó làm anh ta già hẳn đi, dường như bỗng chốc anh ta tăng lên hàng bao nhiêu tuổi. Nhìn chân tay to tướng của mình, anh ta biết rõ ràng là của mình, nhưng bỗng anh ta lại thấy như vớ được ở đâu ấy. Anh ta buồn lắm. Anh ta không dám nhớ lại những chuyện uất ức và nguy hiểm trước đây nữa. Tuy không nghĩ đến, nhưng chúng vẫn cứ hiện lên, cũng giống như những ngày u ám, tuy không ngẩng đầu nhìn trời, nhưng cũng biết trời đầy mây đen. Anh ta thấy con người anh ta đáng quý hết sức, không nên kham khổ quá. Anh ta đứng lên, biết mình còn yếu lắm, nhưng nóng ruột muốn đi sắm sửa ngay, dường như chi cắt tóc, thay quần áo, thế là khỏe liền.
Sắm sửa xong, tất cả chỉ mất có hai đồng hai hào. Một bộ quần áo vải thô, khổ hẹp và thưa, giá một đồng, đôi giày vải xanh, giá tám hào, bít tất sợi, giá một hào rưỡi, và một cái mũ cói, giá hai hào rưỡi. Bộ quần áo cũ cởi ra, đổi được hai bao diêm.
Cẩm hai bao diêm trong tay, anh ta theo con đường lớn, đi thẳng tới cửa Tây. Đi chưa được bao xa, đã thấy mệt mỏi rã rời. Nhưng anh ta nghiến chặt răng lại. Anh ta không thể đi xe. về mặt nào, đi xe cũng đều thấy không tiện cả: người nhà quê mà lại cho chín mười dặm đường là xa ư? Nói đùa đây chứ! Dù có ngã nhào xuống đây, không bò dậy được nữa, anh ta cũng sẽ cứ nằm như thế mà lăn vào thành, chứ quyết không chịu thua! Anh ta nghĩ, hôm nay nếu không vào tỉnh được, thế là đi đời thằng Tường! Anh ta nghĩ như vậy. Anh ta chi tin vào sức vóc mình, mặc kệ mọi bệnh tật!
Anh ta loạng choạng rảo bước. Đi khỏi Hài Điện chưa xa, anh ta thấy mắt toé đom đóm. Vịn vào cây liễu, anh ta định thần một hổi lâu. Trời đất quay cuồng rồi dần dẩn cũng đúng yên. Trái tim anh ta dường như từ một nơi rất xa quay trở về lồng ngực. Lau mổ hôi trên trán, anh ta lại rảo bước. Đã cắt tóc rồi, đã thay quần áo mới, giày mới rồi, anh ta cho rằng đối với bản thân mình, như vậy là chu đáo lắm; vậy thì cặp giò phải làm tròn trách nhiệm của nó chứ! Đi nào! Anh ta đi thẳng một mạch tới cửa ô. Nhìn người ngựa đi lại rộn rịp, nghe những tiếng ồn ào inh ỏi, ngửi cái mùi hôi, khô ráo, dẫm lên lớp bụi đường bẩn thỉu nhưng mềm mịn, Tường tưởng chừng như muốn nằm bò xuống mà hôn mảnh đất màu xám hôi hám, mảnh đất nảy sinh ra tiền bạc kia! Không có cha mẹ anh em, không có nhà cửa họ hàng, người bạn duy nhất của anh ta chính là cái thành phố cổ xưa này. Thành phố này đã cung cấp cho anh ta đủ thứ, dù cho ở đây có đói cũng dễ chịu hơn ở nhà quê nhiều. Ở đây có cái mà nhìn, có cái mà nghe, khắp nơi là ánh sáng, màu sắc, khắp nơi là âm thanh. Chỉ cần mình dốc sức ra, ở đây chẳng thiếu gì tiền, ở đây có đủ mọi thứ tốt đẹp, ăn không hết, mặc không hết. Ở đây dù đi ăn xin cũng còn xin được cá thịt, ở nhà quê thì chi bánh đúc ngô là hết. Vừa đến phía tây cầu Cao Lượng, anh ta liền ngồi xuống cạnh bờ sông, mấy giọt nước mắt nóng hổi trào ra.
Mặt trời đã ngả về tây. Hàng liễu già bên bờ sông nghiêng ngả, ngọn cây nhuốm vàng. Sông không có mấy tí nước, nhưng đầy rong, trông giống như cái đai bóng loáng, hẹp mà dài, màu xanh sẫm, bốc lên một mùi tanh tanh ẩm ướt. Lúa mạch ở bờ bắc đã trổ bông, trông thấp bé và khô, lá phủ một lớp bụi. Trong hồ sen ở phía nam sông, lá sen xanh, bé tí, yếu ớt lềnh bềnh trên mặt nước, xung quanh thỉnh thoảng nổi lên một ít bong bóng nước lăn tăn. Trên cầu, về phía đông, người và xe cộ qua lại, dưới bóng chiều trông có vẻ vội vàng, dường như tất cả đều cảm thấy bổn chồn lo lắng trước bóng hoàng hôn đang lấn tới. Tất cả những cảnh mắt thấy tai nghe đó đối với Tường đều thú vị đáng yêu vô cùng. Dường như chỉ có con sông nhỏ như thế mới xứng đáng gọi là sông; chỉ có cây, lúa, sen, cầu như thế kia mới đáng gọi là cây, là lúa, là sen, là cầu, bởi vì chúng là của đất Bắc Bình.
Ngồi ở đây, anh ta không cần phải vội nữa. Mọi cái trước mắt đều quen thuộc, đáng yêu. Hình như dù cho ngồi đây mà chết lịm đi, anh ta cũng rất vui lòng. Nghĩ một lúc rõ lâu, anh ta đến đầu cầu ăn một bát canh đậu: dấm, xì dầu, tương ớt, hành thái nhỏ, canh đậu trắng xóa, nóng sôi, bốc lên một mùi thơm ngào ngạt, thơm đến nỗi Tường phải nín thở. Anh ta bưng bát canh, nhìn những lát hành hoa xanh sẫm, tay cứ run run. Húp một miếng, đậu vào tới đâu, nóng ran tới đó. Anh ta lại múc thêm hai thìa nhỏ tương ớt nữa. Ăn hết một bát, mồ hôi vã ra ướt cả cạp quần. Anh ta nheo mắt lại, đưa bát:
- Cho bát nữa đây!
Anh ta đứng lên, thấy mình ra dáng con người lắm rồi. Mặt trời vẫn còn ở chỗ thấp nhất bên phía Tây. Ráng chiều chiếu xuống mặt sông đỏ hồng. Anh ta vui vẻ muốn reo lên. Sờ vết sẹo nhẵn nhụi trên mặt, nắn số tiền trong túi áo, rồi lại nhìn ánh mặt trời còn rớt lại trên thành lầu, anh ta cố quên bệnh tật, quên đi tất cả, và như có chút mơ ước gì đó anh ta quyết định đi thẳng vào trong thành.
Đủ mọi thứ xe cộ, đủ mọi hạng người chen chúc nhau ở cổng thành. Chẳng ai dám đi nhanh, nhưng ai cũng muốn vượt lên trước, tiếng roi quất, tiếng hò hét, tiếng chửi rủa, tiếng còi, tiếng nhạc, tiếng cười đều bị cổng thành - giống như cái máy phóng thanh - làm vang lên oang oang, dường như ai nấy đều có nói cả, đều ổn ào cả. Tường chen chân bước, tay rẽ lối, y như con cá to mà gầy nhang, đang rỡn sóng; anh ta len vào thành. Vừa nhìn thấy ngã tư phố Mới, đường xá rộng rãi, thẳng tắp, mắt anh ta sáng lên, sáng như thể luồng ánh sáng phản chiếu trên nóc nhà phía đằng đông kia. Đầu anh ta gật gù.
Chăn chiếu anh ta còn để cả đằng hãng xe Nhân Hòa đường cửa Tây An, tất nhiên anh ta muốn chạy thẳng tới đó. Vì chưa có vợ con, nên trước nay anh ta vẫn ở trong hãng xe Nhân Hòa, mặc dù không phải lúc nào cũng kéo xe cho hãng này. Lão Tư Lưu, chủ hãng, đã gần bảy mươi. Già nhưng vẫn láu cá. Thời còn trẻ, lão ta đã từng đăng lính gác kho, mở sòng bạc, buôn người, cho vay nợ lãi cắt cổ. Tư cách, tài năng cần thiết để làm những nghề ấy, sức mạnh, mánh khóe, thù đoạn, giao du, tiếng tăm v.v. lão ta đều có đủ, thời nhà Thanh, lão ta đã từng đánh nhau để hôi của, cướp đoạt đàn bà con gái nhà tử tế, đã từng bị cùm kẹp, nhưng lão ta không chau mày, không van xin. Việc kiện cáo đã làm lão ta thêm cứng rắn, đó chính là "tiếng tăm" của lão ta. Ra tù, vừa vặn gặp thời dân quốc, thế lực của bọn hiến binh cảnh sát ngày càng lớn, lão Tư Lưu thấy đã hết thời làm anh hùng rồi, dù Hoàng thiên bá[*] sống lại cũng không ăn thua mấy nữa. Thế là lão ta mở một cửa hàng cho thuê xe kéo. Lăn lóc mãi với đời, lão ta đã biết được những mánh khóe đối phó với người nghèo. Lúc nào nên cứng, lúc nào nên mềm, lão ta khéo điều hòa cho đúng mức. Anh em phu xe không ai dám ngỗ ngược với lão ta. Lão ta trừng mắt hay lão ta cười hà hà, đều có thể làm cho anh em hồn xiêu phách lạc, như lơ lửng giữa thiên đường và địa ngục, đành phải làm theo lão ta. Đến bây giờ, lão ta có hơn sáu mươi chiếc xe, cái tàng nhất cũng vào loại còn mới tám chín mươi phần trăm. Lão ta không giữ xe cũ. Thuế xe ở xưởng lão so với các nơi khác cao hơn, nhưng ngày mồng ba tết, lão ta lại thu ít hơn các nơi khác độ hai ngày thuế. Xưởng của lão ta có chỗ ở, những anh chưa vợ con kéo xe của lão ta đều có thể đến đó ở mà không mất tiền - nhưng phải nộp đủ thuế xe mới được. Ai không nộp đủ mà còn lằng nhằng với lão ta thì lão ta giữ chăn chiếu lại, rồi tống cổ ra đường y như quẳng cái ấm vỡ. Ai có việc gì cần cấp, ốm đau nguy kịch, chỉ cần nói với lão ta một tiếng là lão ta không bỏ qua; khó khăn mấy lão ta cũng sốt sắng giúp đỡ. Đó cũng là "tiếng tăm" của lão ta.
[*]Chu thich: Chỉ Trương Giác, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Khăn vàng đời Hán (ND).
Lão Tư Lưu có cái tướng hổ. Gần bảy mươi mà lưng chưa còng, cặp giò vẫn có thể cuốc bộ được một hai chục dặm. Hai con mắt tròn xoe, mũi to, mồm vuông, hai cái răng nanh gộc, mở miệng ra, y hệt ông ba mươi. Lão ta cũng cao bằng Tường, đầu cạo nhẵn thín, không để râu. Lão ta tự cho mình là ông Cọp, nhưng tiếc thay lại không có con giai, chỉ có một cô con gái băm bảy băm tám tuổi rồi mà vẫn chưa đi lấy chồng. Đã biết lão Tư Lưu thì cũng nên biết qua cô con gái lão ta. Ả cũng có dáng dấp một con cọp cái, vì thế mà bọn đàn ông sợ khiếp vía cả. Ả giúp bố trông coi công việc thì cừ lắm, nhưng chẳng ai dám lấy. Cái gì ả cũng giống đàn ông, ngay cả khi quát mắng người ta cũng hùng hổ như đàn ông, có khi lại còn nhiều kiểu hơn nữa kia. Lão Tư Lưu thì lo việc ở ngoài, cô con gái thì lo việc ở trong, hai cha con kinh doanh cái hãng xe vững như thành. Hãng Nhân Hòa trở thành một hãng có thế lực trong giới xe tay. Cách thức làm ăn của cha con lão ta thường được anh em phu xe và các chủ xe nhắc tới luôn, y như các nhà trí thức nhắc tới kinh điển.
Trước kia khi chưa mua được xe riêng, Tường thuê xe của hãng Nhân Hòa. Tiền để dành, anh ta đưa cho lão Tư Lưu giữ hộ. Khi gom được đủ số, anh ta lấy ra mua xe mới.
Anh ta kéo chiếc xe đó về hãng:
- Cụ Tư ạ, cụ xem cái xe của cháu này!
Lão ta nhìn qua gật gù:
- Khá đấy!
Tường nói, vẻ tự đắc:
- Cháu vẫn xin ờ lại đây cụ ạ! Bao giờ cháu kéo xe tháng lúc ấy cháu sẽ đến nhà chủ ở.
Lão Tư Lưu lại gật đầu:
- Được thôi!
Thế là, tìm được chỗ kéo xe tháng thì Tường đến nhà chủ ở, mất việc, kéo lẻ, anh ta lại quay về hãng Nhân Hòa.
Không kéo xe của lão Tư Lưu, mà vẫn được ở lại hãng Nhân Hòa, theo các anh em phu xe khác, thì đó là một việc hiếm có. Vì thế, đã có người đoán mò, chắc là Tường có họ hàng gì đó với lão Tư Lưu. Lại có người còn nói, lão Tư Lưu đã nhắm Tường để gả cô con gái cho. Đoán mò như thế, tuy có ý ghen tị, nhưng vạn nhất mà đúng như vậy, mai sau lão Tư Lưu chết, hãng xe Nhân Hòa nhất định thuộc về Tường. Điều đó, họ chỉ dám đoán thế thôi, chứ trước mặt Tường họ chẳng dám nói câu gì khó nghe. Thực ra, lão Tư Lưu có ý biệt đãi Tường cũng là có lý do. Tường vốn là người ở vào hoàn cảnh mới, nhưng vẫn giữ được những tập quán cũ. Giả dụ anh ta có đi lính thì quyết cũng chẳng mặc quần áo lính vào là hoạnh hoẹ người khác. Ở hãng xe, anh ta chẳng bao giờ ngồi không, ráo mồ hôi là kiếm việc gì làm: lau xe, bơm xe, phơi áo tơi cánh gà, cho dầu mỡ... chẳng cần phải sai bảo, cứ tự ý làm, vui vẻ lắm, như một trò giải trí rất thú vị. Hãng xe thường vẫn có khoảng hai mươi anh em phu xe ở. Lúc cho xe về, họ không ngồi tán gẫu thì vùi đẩu vào ngủ. Chỉ có Tường là không chịu để rảnh tay lúc nào. Thoạt đầu, mọi người tưởng anh ta muốn nịnh hót, bợ đỡ lão Tư Lưu. Mấy ngày sau, họ thấy anh ta không hề có cái ý ấy, anh ta thẳng thắn tự nhiên lắm, cho nên cũng chẳng nói vào đâu được nữa. Lão Tư Lưu không hề khen Tường một câu nào, cũng không hề biệt đãi anh ta. Nhưng lão ta trong bụng đã có ý định. Lão ta biết Tường là tay làm ăn được, dù cho không kéo xe lão ta nữa, lão ta vẫn cứ ưng cho Tường ở lại hãng. Có Tường ở đây, trước hết không cần nói đâu xa, sân cửa ngõ cứ sạch như li như lau. Ả Nĩu thì lại có vẻ thích anh chàng ngốc nghếch này hơn cả. Ả nói gì, anh ta cũng chú ý lắng nghe, không cãi lại. Những anh em phu xe khác, vì phải khổ sở nhiều nên ăn nói thường ngang bướng. Ả không sợ họ đâu, nhưng cũng chẳng thích đôi co với họ làm gì. Vì thế cho nên, bao nhiêu lời của ả, ả đều để dành cho Tường nghe cả. Khi Tường kéo xe tháng, bố con lão Tư Lưu dường như mất một người bạn. Đến khi anh quay về, thì lão ta chửi mắng mọi người cũng có phần nhẹ nhàng hơn...
Tường cầm hai bao diêm, vào hãng xe Nhân Hòa. Trời chưa tối, hai bố con lão Tư Lưu đang ăn cơm. Thấy anh ta về, ả Nĩu liền bỏ đũa xuống:
Anh Tường! Sói nó tha anh đi hay anh sang Phi châu đào mỏ vàng đây!
Ờ!...
Tường chẳng trả lời sao cả.
Đôi mắt tròn xoay của lão Tư Lưu đưa khắp người Tường. Lão ta cũng chẳng nói gì.
Tường đội cái mũ cói mới, ngồi ngay trước mặt hai bố con lão.
Ả Nĩu mời, như đối với một người bạn thân:
- Chưa ăn cơm thì ăn cả thể đi!
Tường vẫn ngồi nguyên, cảm thấy một niềm thân thiết không sao tả được. Trước nay, anh vẫn xem hãng xe Nhân Hòa này như nhà mình: kéo xe tháng, thường đổi chủ luôn; kéo lẻ, bây giờ người này, lát nữa người khác. Chỉ có đây là anh ta ở được lâu, là có người chuyện trò với anh. Nay, vừa thoát chết, lại được về với người quen thuộc, lại được mời mọc ăn uống, anh ta nửa như hơi nghi ngờ không hiểu có phải họ muốn trêu mình chăng, nửa như muốn rớt nước mắt.
Anh ta từ chối, hơi có vẻ làm khách:
- Tôi vừa ăn hai bát canh đậu rồi!
Mắt vẫn nhìn Tường chằm chặp, lão Tư Lưu hỏi:
- Anh đi làm gì thế? Xe đâu rồi?
Tường nhổ một bãi nước bọt:
- Xe ấy à?
Ả Nĩu cầm tay anh ta kéo tới bên mâm cơm, y như bà chị dâu chiều chú em chồng:
- Lại đây ăn bát cơm đã, không ai thuốc độc anh chết đâu mà sợ! Hai bát canh đậu thì ăn thua gì!
Tường chưa bưng bát vội, trước hết móc tiền trong túi ra:
- Cụ ạ, cụ giữ hộ cháu ba mươi đồng!
Rồi anh ta bỏ chỗ tiền lẻ vào túi.
Lão Tư Lưu dướn đuôi lông mày lên hỏi:
- Ở đâu ra thế?
Tường vừa ăn, vừa kể chuyện bị lính bắt.
Nghe xong lão Tư lắc đầu:
- Hừ, ngốc thật! Dắt về đây bán cho hàng thịt cũng được mấy chục bạc một con. Nếu vào mùa đông, lạc đà còn đủ lông thì ba con cũng phải sáu chục!
Tường vốn đã có ý tiếc, nay nghe nói thế, càng buồn hơn. Nhưng tiếp đó anh ta lại nghĩ rằng, đem ba con vật sống sờ sờ như thế mà bán cho cửa hàng thịt để họ chọc tiết thì cũng có phần thất đức. Anh ta và lạc đà đều cùng trốn thoát, nên cùng phải được sống cả. Anh ta chẳng nói gì hết, lòng anh ta bình tĩnh lại rồi.
Ả Nĩu dọn mâm bát, lão Tư thì ngửa cổ lên, như suy nghĩ điều gì. Bỗng lão ta cười, để lòi hai cái răng nanh, càng già lại càng chắc ra.
- Này, anh nói anh bị ốm ở Hải Điện phải không? Sao lại không theo đường cái Hoàng Thôn mà về thẳng đây?
- Cháu vòng phía Tây Sơn về đây, sợ đi đường cái có người đuổi theo, có khi người trong làng lại nghĩ quá đi, cho là đào ngũ!
Lão Tư lại cười, tròng con mắt đảo hai cái. Lão ta sợ Tường bịa chuyện ra như vậy. Ngộ nhỡ số ba mươi đồng bạc kia là của ăn cướp thì sao? Lão ta không thể oa trữ tang vật được. Lúc trẻ, mọi việc phạm pháp, lão ta làm cả rồi, bây giờ lão ta tự cho là đã cải tà quy chính, cho nên không thể không cẩn thận, mà còn biết nên cẩn thận như thế nào nữa. Câu chuyện của Tường chỉ có mỗi một khe hở đó thôi, nhưng nghe Tường giải thích như vậy, điềm nhiên chẳng chút lúng túng sợ hãi, nên lão ta cũng yên tâm. Lão ta chỉ số tiền, hỏi:
- Bây giờ làm thế nào đây?
- Xin theo lời cụ dạy thôi!
- Mua cái xe nữa nhá?
Lão ta lại cười, để lòi hai cái răng nanh ra, như có ý nói: "Mua xe riêng, rồi lại ở nhờ đây?"
Tường không nhìn vào răng của lão Tư mà chỉ băn khoăn suy nghĩ:
- Không đủ cụ ạ! Mua thì phải mua xe mới!
- Cho anh vay nhé? Lãi một phân thôi. Người ta thì hai phân rưỡi!
Tường lắc đầu.
- Mua xe trả góp cho người ta chẳng bằng trả tôi một phần lãi đâu!
Tường trả lời, vẻ suy nghĩ lung lắm:
- Cháu cũng chả mua trả góp. Cháu cứ để dành dần dần, đủ số rồi thì tiền trao cháo múc!
Lão Tư nhìn Tường, y như nhìn một vật gì kỳ quặc lắm, tuy đáng ghét đấy, nhưng không thể nào giận được. Một lát, lão ta cầm lấy tiền:
- Ba chục à? Đủ đấy chứ?
- Đủ đấy ạ!
Tường đứng dậy nói tiếp:
- Cháu đi ngủ đây. Biếu cụ bao diêm.
Anh ta đặt bao diêm lên bàn, đứng bần thần một lúc, rồi lại nói tiếp:
- Chuyện lạc đà, xin cụ đừng nói với ai.
5
Lão Tư Lưu quả thật không nói gì về Tường cả, nhưng câu chuyện mấy con lạc đà đã từ Hải Điện truyền vào thành rất nhanh. Trước kia, tuy không ai thấy Tường có nhược điểm gì, nhưng tính anh ta cứng cỏi, nên ít nhiều người ta cho rằng anh ta cô độc, khó chơi. Sau khi cái tên "Tường lạc đà" được truyền rộng ra, tuy Tường vẫn lầm lì mà làm ăn, không thân thiện gì với ai lắm, nhưng đối với anh ta, mọi người có phần nào vị nể. Có người nói anh ta bắt được đồng hồ vàng, có người nói anh ta vớ được ba trăm đồng bạc, và người tin rằng mình biết tường tận hơn thì gật đầu nói anh ta dắt ba chục con lạc đà từ Tây Sơn về. Mỗi người nói một phách, nhưng kết luận thì như nhau: "Tường bắt được của!". Đối với người bắt được của, dù người ta không có cảm tình, nhưng theo lệ thường người ta cũng kính nể. Bán sức kiếm miếng ăn là chuyện khó khăn như thế nên ai nấy đều mong mỏi bắt được của. Đó là chuyện nghìn năm mới có một lần, nên người đã gặp may, chắc hẳn phải khác thường: phúc lớn thì mệnh phải lớn. Vì vậy, cái tính lầm lì cô độc của Tường bỗng biến thành cái tính ít điều ít tiếng của người phú quý. Anh ta như thế là đúng, mà những người khác thì phải đổ xô đến mà nịnh hót anh ta. "Ghê thật! Nói đi nào! Anh Tường! Phát tài ra sao đấy?". Những lời ấy, ngày nào Tường cũng được nghe. Anh ta vẫn lặng thinh. Cho đến khi bị dồn quá, cái sẹo của anh ra hơi đỏ lên, anh ta mới nói:
- Phát tài gì? Con mẹ nó chứ! Thế cái xe của tôi đâu rồi?
Đúng, thật có như thế. Xe của anh ta đâu rồi? Mọi người bắt đầu suy nghĩ. Nhưng lo lắng hộ người ta bao giờ cũng chẳng bằng vui mừng cho người ta, thế là ai nấy quên bẵng chiếc xe của Tường, chỉ nghĩ đến vận may của anh ta thôi! ít ngày sau, anh em thấy Tường vẫn kéo xe, không đổi nghề, hoặc mua nhà cửa đất cát gì cả, nên đối với anh ta có phần lạnh nhạt đi. Khi nhắc đến "Tường lạc đà", cũng không ai căn vặn vì sao lại là "lạc đà" nữa, dường như vốn nên gọi anh ta như thế.
Nhưng bản thân Tường thì không thể dễ dàng gì mà quên đi được chuyện đó. Anh ta buồn bực vì không thể mua ngay được một chiếc xe mới khác. Càng buồn bực thì lại càng nhớ đến cái xe trước kia. Từ sáng sớm đến tối mịt, anh ta ra sức mà làm, nhưng làm thì vẫn làm, vẫn cứ nhớ đến chuyện đó. Mà nhớ đến thì trong lòng lại thấy như thắt lại. Anh ta không khỏi nghĩ rằng, dù cho cố gắng đến đâu, cũng không thể vì mình đã cố gắng mà đời lại công bằng hơn. Vì lẽ gì mà chúng lại cướp không cái xe của anh ta cơ chứ? Dù sắm lại ngay được chiếc xe mới, nhưng biết đâu chẳng gặp phải chuyện như thế làn nữa? Anh ta cảm thấy những ngày qua thật như một cơn ác mộng, khiến anh ta hầu như không dám hy vọng gì về tương lai. Có lúc, thấy người ta rượu chè, cờ bạc, đi nhà thổ, anh ta như có ý thèm muốn. Cố gắng đã không ăn thua gì, thì sao lại chẳng vui cái vui trước mắt? Như bọn kia thế mà đúng. Anh ta không đi nhà thổ thì cũng nên uống một vài chén rượu, cho thoải mái một chút. Thuốc lá và rượu lúc này đối với anh ta hầu như có một sức quyến rũ đặc biệt. Anh ta thấy hai cái trò đó chẳng tốn kém bao nhiêu, nhưng nhất định đủ để an ủi anh ta, khiến anh ta vẫn có thể chịu khổ chịu sở mà xông tới, đồng thời cũng lại có thể quên được những nỗi đau khổ trong quá khứ.
Nhưng anh ta vẫn chưa dám động đến số tiền đó. Anh ta cần phải thừa được đồng nào để dành ngay đồng ấy, không như thế thì không thể nào anh ta được một chiếc xe riêng cho sơm sớm. Dù mua hôm nay, ngày mai bị cướp mất, anh ta cũng vẫn phải mua cho kỳ được. Đó là ý muốn của anh ta, là hy vọng của anh ta, thậm chí là điều anh ta tin tưởng như một thứ tôn giáo. Không kéo được xe riêng của mình, anh ta coi như là sống thừa. Anh ta không nghĩ được đến chuyện làm quan, chuyện làm giàu, chuyện mua sắm ruộng vườn nhà cửa; anh ta chỉ có thể kéo được xe thôi, hy vọng thực tế nhất của anh ta là mua xe, không mua được xe thì thật không phải với mình. Suốt ngày, từ sớm đến tối, anh ta chỉ nghĩ đến chuyện đó, tính toán số tiền của anh ta. Giả dụ quên được chuyện đó tức là anh ta quên bản thân anh ta, và cảm thấy mình chỉ còn là một con vật biết chạy, chẳng có chút chí khí, chút tình người nào nữa. Xe đẹp đến đâu, nếu là xe thuê, thì anh ta cũng kéo uể oải, cứ thấy nặng chịch y như đeo tảng đá trên lưng. Xe thuê, anh ta vẫn chăm lau chùi sạch bóng và không bao giờ cho đụng chạm bừa. Nhung đó chì là tính cẩn thận chu đáo chứ không phải là một thú vui. Đúng thế, lau chùi xe của mình, cũng như đếm tiền của mình, mới vui thực sự. Anh ta vẫn cứ không hút thuốc, không uống rượu, ngay một chén trà ngon cũng dứt khoát không uống. Trong tiệm trà, những anh xe phu bảnh như anh ta, sau một cuốc nhanh như bay, thường vẫn kén loại trà một hào một gói, thêm hai gói đường kính, để "bổ khí tán hỏa". Khi anh ta chạy mồ hôi chảy ròng ròng, ngực nóng ran, anh ta cũng muốn như vậy lắm. Mà chẳng phải kiểu cách gì đâu, quả là cần phải nhấm nháp một hai chén trà như vậy. Nhưng anh ta chỉ nghĩ thế mà thôi, chứ anh ta vẫn cứ uống loại chè vụn một xu một gói. Có khi anh ta cũng đã tự xỉ vả mình, vì sao lại phải đày đọa tấm thân như vậy. Nhưng một anh phu xe muốn tháng tháng để dành một hai đồng, không thế thì sao để dành nổi. Anh ta cố nén lòng lại. Mua được xe đã, rồi hẵng hay. Có xe rồi thì muốn làm gì cũng được!
Tiêu tiền, Tường chặt chẽ như vậy, kiếm tiền, anh ta lại càng không lơ là. Không ai thuê kéo tháng thì anh ta kéo suốt cả ngày, ra xe sớm, về muộn, chưa kiếm được số tiền định sẵn, thì nhất định không chịu nghỉ, bất chấp thì giờ, bất chấp đôi chân. Có khi anh ta cố kéo cả ngày lẫn đêm. Trước kia, anh ta không muốn tranh khách của ai hết, nhất là đối với những người già yếu. Sức vóc của anh ta như thế, xe anh ta như thế, tranh khách với những người kia thì họ còn kiếm ăn vào đâu? Nhưng bây giờ thì anh ta bất chấp. Anh ta chỉ biết có tiền thôi. Được thêm đồng nào hay đồng ấy, chẳng kể được giá hay không được giá, chẳng kể phải tranh giành với ai. Anh ta chỉ biết có khách là kéo, thế thôi, y như một con dã thú đói phát cuồng. Khách lên xe là chạy, và trong lòng anh ta khoan khoái cảm thấy chỉ cứ chạy mãi không nghỉ chân mới hy vọng mua được xe. Dần dà, danh dự của anh chàng "Tường lạc đà" chẳng còn như hồi chỉ là "anh chàng Tường" nữa. Rất nhiều lần, tranh được khách, anh ta chạy liền, mặc kệ bao nhiêu tiếng chửi rủa phía sau. Anh ta chẳng đáp lời, cứ thế cúi đầu cúi cổ mà chạy, bụng nghĩ: "Không phải là để mua xe thì chẳng đời nào mình lại mặt dày mặt dạn thế!". Dường như anh ta muốn dùng lời nói đó để xin mọi người lượng thứ cho. Nhưng anh ta lại không chịu nói thẳng ra cho mọi người biết, ở bến xe, hoặc trong quán nước, thấy mọi người trừng mắt nhìn mình, anh ta định phân bua, nhưng khi thấy ai cũng lạnh nhạt như thế, lại thêm thường ngày anh ta không chè chén, cờ bạc, tán hươu tán vượn với họ nên những lời định nói anh ta lại đành để trong bụng, không nói nữa. Lúc đầu thì khó chịu, sau dẩn dần thành xấu hổ, buồn bực, rồi anh ta cũng phát cáu lên. Họ trừng mắt nhìn anh ta, anh ta cũng trừng mắt nhìn lại. Nghĩ lại trước kia khi vừa trên núi trốn về, mọi người đối với anh ta kính nể như thế, vậy mà nay lại coi thường như thế, anh ta càng buồn. Nếu ở trong quán nước, thì anh ta ngồi một mình ôm ấm trà, nếu là ở bến xe thì anh ta ngồi một mình đếm mấy đồng xu vừa kiếm được, cố nén giận. Anh ta không muốn đánh nhau, mặc dù anh ta không hề sợ đánh nhau. Còn những người kia? Họ vốn cũng chẳng sợ đánh nhau, nhưng đọ sức với Tường thì cũng nên nghĩ cho kỹ đã. Trong bọn họ, không ai có thể là đối thủ của Tường cả, mà mấy người xúm lại đánh một người thì cũng chẳng phải là chuyện quang minh chính đại. Anh ta cố nén giận, chẳng nghĩ ra được cách gì cả, đành cố chịu đựng một thời gian, đợi khi nào mua được xe rồi thì dễ đối xử thôi. Có xe riêng, trước hết hàng ngày chẳng cần lo đến thuế má nữa, tất nhiên có thế rộng rãi hơn, chẳng phải tranh giành khách để mất lòng ai. Nghĩ thế, anh ta nhìn mọi người, như có ý nói: "Để rồi xem!"
Nói về riêng bản thân anh ta, thì anh ta cũng chẳng nên cố sống cố chết mà làm như thế mới phải. Trốn về được tới thành phố, không đợi khỏi bệnh và khỏe hẳn, anh ta đã vớ lấy xe kéo luôn, tuy chưa đến nỗi quỵ, nhưng thường cũng cảm thấy mệt nhoài. Mệt, anh ta không dám nghỉ, cứ cho rằng chạy toát mổ hôi độ vài lượt là bớt đau bớt nhức ngay. Về ăn uống, anh ta không dám bóp mồm bóp miệng, nhưng cũng chẳng dám ăn ngon một chút. Anh ta thấy mình gầy đi nhiều, nhưng vóc người vẫn cao lớn, gân cốt vẫn săn cúng, anh ta lại yên chí. Anh ta nghĩ tầm vóc to cao hơn người, thì nhất định có thể chịu đựng hơn người, hầu như không bao giờ anh ta lại nghĩ, tầm vóc to cao, mệt nhọc nhiều, thì lại càng cần bồi bổ nhiều. Ả Nĩu đã căn dặn anh ta mấy lần rồi: "Anh mà cứ làm thế thì ho lao đấy!".
Anh ta biết nói như thế là phải, nhưng vì công việc làm ăn chẳng được như ý, lại ít được ăn uổng bồi dưỡng, nên cơn hỏa trong người anh ta có vẻ thịnh. Anh ta trợn mắt:
- Không chạy thì đến bao giờ mới mua được xe!
Gặp phải người khác mà trợn mắt lên như thế, ít nhất ả Nĩu cũng phải chửi cho một thôi một hồi, nhưng với Tường ả rất mực mềm mỏng, quý mến. Ả chỉ trề môi mà rằng:
- Mua xe thì cũng phải từ từ chứ! Cứ làm như anh là xương đồng da sắt ấy! Nghỉ vài ba ngày cho khỏe đi!
Thấy Tường chẳng để vào tai, ả lại nói tiếp:
- Thôi, cứ ý anh, anh làm, có chết đừng oán tôi nhé!
Lão Tư Lưu cũng có phần xem thường Tường rồi: Tường làm cố mạng như thế, đi sớm về muộn, tất nhiên chẳng có lợi cho xe của lão ta. Tuy xe thuê cà ngày thì không có hạn giờ giấc nào cả, muốn cho xe ra cho xe về lúc nào cũng được. Nhưng ai cũng làm chết thôi như Tường thì xe ít nhất cũng phải hỏng sớm đến nửa năm. Vật gì bền chắc mấy mà dùng kiểu ấy cũng không chịu nổi. Lại nữa, Tường chỉ lo kéo xe, chẳng còn thì giờ đâu mà lau chùi xe giúp lão ta nữa, đó cũng là một điều thiệt. Lão ta có ý hơi không bằng lòng. Nhưng lão ta chẳng nói gì cả. Kéo cả ngày không hạn giờ giác, đó là lệ chung; giúp lau chùi xe pháo là chuyện tình nghĩa, chứ không phải là bổn phận. Để giữ tiếng, lão ta không tỏ vẻ gì với Tường để rước lây chuyện khó chịu vào người. Lão ta chỉ để hơi lộ ý bất mãn ở khóe mắt, và mím chặt miệng lại. Có lúc, lão ta muốn tống cổ Tường đi, nhưng nhìn con lão, lão ta lại không dám làm như thế. Lão ta không hề có ý nhắm Tường làm con rể, có điều, con nó đã thích cái anh chàng gà tồ này, thì cũng không tiện sinh chuyện lôi thôi. Lão ta chỉ có độc mụn con gái, xem chừng cũng không còn hy vọng có ai đến rước đi nữa, vì vậy lão ta không thể tống cổ người bạn của con gái đi được. Nói thực tình, ả Nĩu được như thế, lão ta cũng chẳng muốn ả đi lấy chồng. Ý nghĩ đó khiến lão ta thật không phải với con, nên lão ta cũng có sợ con ít nhiều. Lão ta một đời chẳng sợ ai, thế mà nay về già lại đâm ra sợ con. Lão ngượng lắm, nhưng lại tìm ra được một cái lý: lão ta sợ một người, đủ chứng tỏ lão ta không phải là kẻ hoàn toàn bạt tử. Như vậy, có lẽ đến lúc sắp chết, lão ta sẽ tránh khỏi chuyện ác báo. Thôi được, lão ta nhận rằng lão ta sợ con gái, và vì thế không dám đuổi Tường đi. Nhưng như vậy dĩ nhiên không phải có ý nói lão ta có thể để mặc con gái muốn làm gì thì làm, và đi đến chỗ lấy Tường. Không. Lão ta thấy con mình vị tất không có ý đó, nhưng Tường thì không dám "đũa mốc chòi mâm son".
Vậy thì, lão ta chỉ cần để ý một chút là được, không nên làm con nó phải phiền lòng.
Tường không chú ý gì đến thái độ của lão Tư Lưu. Anh ta chẳng hơi đâu để ý đến chuyện vớ vẩn ấy. Giả dụ anh ta có ý rời bỏ xưởng Nhân Hòa thì quyết không phải vì tức khí vặt, mà chính là vì muốn có chỗ kéo xe tháng. Anh ta hơi chán trò kéo xe lẻ rồi, một là vì phải tranh giành khách, người ta khinh bỉ, hai là tiền kiếm được hàng ngày không nhất định, nay nhiều mai ít, không thể đoán trước chừng nào thì dành dụm đủ số tiền mua xe. Anh ta muốn cho chắc chắn, dù thừa ít cũng được, chỉ cần biết mỗi tháng thừa bao nhiêu cho nhất định, anh ta mới có hy vọng, mới yên tâm được. Anh ta là người muốn làm chuyện ăn chắc.
Thế rồi anh ta được kéo tháng. Hừ, lại vẫn cứ thấy không được như ý, như lúc còn kéo lẻ. Lần này anh ta kéo cho nhà ông Dương. Ông Dương là người Thượng Hải, vợ cả là người Thiên Tân, còn vợ hai là người Tô Châu. Một ông, hai bà, kẻ bắc người nam đẻ ra bao nhiêu con. Ngày đầu tiên đến làm, Tường thấy chóng cả mặt. Sáng tinh mơ, bà cả ngồi xe đi chợ. về đưa các cô các cậu đi học, trung học có, tiểu học có, vườn trẻ cũng có; nơi học khác nhau, lớn bé khác nhau, dáng dấp khác nhau, nhưng giống nhau ở chỗ đáng ghét như nhau. Nhất là lúc ngồi trên xe, đứa nào hiền lành nhất cũng quấy như khỉ. Kéo bọn trẻ đi học rồi, đến lượt kéo ông chủ đi làm. Kéo đến sở, vội vàng về, kéo bà hai đi chợ Đông An hoặc đến chơi nhà bạn. Lại đi đón bọn trẻ con về ăn cơm trưa. Ăn xong, lại đưa chúng đến trường, quay về, tưởng có thế ngồi ăn được, thế nhưng bà cả lại cất cái giọng Thiên Tân lên, bảo đi gánh nước. Nước ăn đã có người gánh, còn nước giặt giũ thì anh xe phải gánh. Công việc này khi mới đến, nhà chủ không nói trước, nhưng để cho qua chuyện, Tường chẳng dám nói đi nói lại, cứ lẳng lặng gánh đầy chum. Buông thùng xuống, định lấy cơm ăn, bà hai lại sai đi mua các thứ. Bà cả và bà hai bất hòa với nhau luôn, nhưng việc trong nhà hai bà nhất trí với nhau về nhiều điểm, trong đó có điểm không để cho người ở trong nhà rỗi rãi phút nào, và điểm nữa là không muốn thấy người ở ăn cơm. Tường có hiểu đâu chuyện ấy. Anh ta cứ tưởng, ngày đầu tiên đến làm, gặp phải ngày bận rộn như thế, nên anh ta cũng chẳng nói gì, móc hầu bao ra mua mấy cái bánh nướng. Tường coi đồng tiền liền khúc ruột, nhưng muốn không mất việc, đành phải cắn răng lại. Mua các thức về rồi, bà cả lại sai quét sân. Ông chủ, bà cả, bà hai mỗi khi đi đâu thì ăn mặc rất sang trọng, nhưng trong nhà ngoài sân thì bẩn như chuồng lợn. Tường nhìn cái sân mà buồn nôn, đành phải đi quét dọn vậy, quên mất anh xe không phải làm việc vặt như thế. Sân quét dọn sạch rồi, bà hai lại bảo tiện tay quét nhà nhân thể. Tường cũng chẳng từ chối. Anh ta lấy làm ngạc nhiên tại sao hai bà bề ngoài đẹp đẽ thế, mà trong nhà lại bẩn đến nỗi không muốn đặt chân vào nữa. Nhà quét xong xuôi rồi, bà hai liền giao đứa con vừa đầy năm cho bế. Anh ta chẳng biết tính sao. Công việc nặng nhọc, anh ta làm quen, nhưng trẻ con thì anh ta chưa bế bao giờ cả. Hai tay anh ta nâng lấy cậu ấm; không ôm chặt thì sợ rơi, mà ôm chặt thì sợ cậu ấm gãy xương. Anh ta toát cả mồ hôi. Anh ta định giao trả vú Trương - một người đàn bà chân to[*] quê vùng Giang Bắc. Tìm được vú, vú liền mắng cho một thôi một hổi. Nhà này nuôi người, xưa nay vẫn dăm ba ngày lại thay đổi. Ông chủ và hai bà chủ coi người ở là gia nô, không bắt làm cho kiệt sức thì không xứng với đồng tiền công bỏ ra. Chỉ vú Trương là ở được năm sáu năm nay thôi. Lý do duy nhất là vú dám mở miệng chửi trả. Không kể ông chủ hay bà cả bà hai, động đến vú, cơn giận bốc lên là vú liền cho ngay một trận. Với những câu chửi bới cay độc kiểu Thượng Hải của ông chủ, với giống mạnh mẽ người Thiên Tân của bà cả, với lời lẽ trôi chảy vùng Tô Châu của bà hai, xưa nay bộ ba ấy không ai địch nổi; bây giờ gặp phải vú Trương ương ngạch như thế, họ bắt đầu cảm thấy cái ý vị của chuyện có đi có lại, anh hùng gặp hảo hán, cho nên họ rất thích vú, coi vú như một người tâm phúc.
[*]Chu thich: Thời phong kiến, phụ nữ thường bó chân để tỏ vẻ quý phái. Ai chân to là bần tiện.
Sinh trưởng ở vùng quê phương Bắc, Tường ghét nhất cái trò già mồm già miệng. Nhưng anh ta chẳng dám đánh vú Trương, bởi vì hảo hán chẳng lẽ lại đi đánh nhau với đàn bà, và anh ta cũng chả buồn đáp lời. Anh ta chỉ trừng mắt nhìn vú. Vú cũng không dám mở miệng ra nữa, dường như đã thấy hơi nguy rồi. Giữa lúc ấy, bà cả sai Tường đi đón bọn trẻ về. Anh ta vội vàng trao cậu ấm cho bà hai. Bà hai tưởng anh ta có ý xem thường bà ta, liền chửi anh ta tối mặt tối mũi. Ý bà cả cũng không thích để Tường bế con cho bà hai, nay nghe thấy bà hai chửi Tường, nên bà ta cũng thao thao chửi một hổi, và người chịu chửi cũng vẫn là Tường. Tường trở thành cái bung xung chịu chửi. Anh ta vội vàng kéo xe đi, như quên cả giận, bởi vì xưa nay anh ta chưa từng thấy chuyện như thế bao giờ, bây giờ bỗng gặp phải, thấy choáng váng cả người.
Đứa này rồi đứa kia, lần lượt đón hết bọn trẻ về rồi, trong sân liền ồn ào hơn chợ. Tiếng ba người đàn bà quát tháo, tiếng bầy trẻ con khóc, y như lúc tan hát, cứ rối rít tít mù cả lên. Vừa may anh ta còn phải đi đón ông chủ nữa, nên vội vã kéo xe ra. Tiếng người la ngựa hí ngoài đường phố xem chừng lại còn dễ chịu hơn tiếng ồn ào trong nhà.
Cứ quay như chong chóng cho mãi tới mười hai giờ đêm, Tường mới được nghỉ mà thở một chút. Không những anh ta cảm thấy người mệt nhừ mà đầu óc cũng cứ váng lên. Cà nhà, lớn bé rõ ràng ngủ cả rồi, thế mà bên tai anh ta dường như vẫn còn nghe tiếng chửi bới của ông chủ và hai bà chủ, y như có ba cái kèn hát đang quay loạn xạ trong đầu anh ta, khiến anh ta khó chịu quá. Chẳng thì giờ đâu mà nghĩ ngợi nữa, anh ta định đi ngủ. Vừa bước vào gian buồng xép dành cho anh ta, anh ta lạnh cả người và không buồn ngủ nữa. Một gian nhà có hai cái cửa ra vào, chia làm hai buồng bằng một bức ván. Vú Trương ở một bên, anh ta ở một bên. Trong nhà chả có đèn đóm gì cả. Trên tường, sát đường phố, có trổ một khuôn cửa sổ rộng khoảng hai thước, ngay dưới ngọn đèn đường, nhờ đó mà trong nhà hơi sáng một chút. Buồng vừa ẩm thấp vừa hôi hám, đất bám dưới nền nhà dày như tấm đồng. Sát tường kê một tấm phản, ngoài ra không có gì cả. Anh ta sờ vào tấm phản thấy nằm xuống thì phải gác chân lên tường, còn duỗi chân thẳng thì phải nhỏm nửa người dậy. Anh ta không quen cái thói nằm ngủ co lại như con tôm như thế. Nghĩ hồi lâu, anh ta liền kê chéo lại, hai đầu quay vào hai góc nhà, thế là có thể đặt đầu xuống, chân chỉ phải ghếch lên một tí, tạm qua đêm nay.
Anh ta mang chăn nệm từ ngoài cổng vào, trải qua loa, rồi nằm xuống. Chân ghếch lên, không quen, anh ta không sao ngủ được. Anh ta cố nhắm mắt lại, tự an ủi: "Thôi ngủ đi, mai còn phải dậy sớm cơ mà! Khố thế nào cũng còn chịu được, khố thế này sao chẳng cố chịu cho qua! Đừng thấy ăn uống không ra gì, việc nhiều mà ngại. Có lẽ ở đây thường đánh bài, khách khứa tiệc tùng luôn đấy! Bọn ta đi ra tỉnh để làm gì? Chẳng phải để kiếm tiền hay sao? Miễn là kiếm ra tiền, gì cũng chịu được tất!". Nghĩ vậy, trong lòng anh ta thấy dễ chịu hơn nhiều, gian buồng cũng không thấy hôi hám như trước nữa, rồi anh ta thiu thiu ngủ. Anh ta mơ mơ màng màng thấy có rệp, nhưng cũng chẳng nghĩ đến chuyện bắt.
Được hai ngày, Tường đã thấy nản lắm. Đến ngày thứ tư, có mấy khách đến chơi, và vú Trương vội bày bàn đánh bài. Lòng anh ta giống như mặt hồ đông cứng lại nay bỗng được cơn gió xuân ấm áp thổi tới. Các bà đánh bài, trẻ con giao cho người ở tất. Vú Trương bận hầu trà nước, nên bọn khỉ con đó tất nhiên Tường phải cai quản. Anh ta ghét bọn khỉ con này, nhưng liếc mắt nhìn trộm vào nhà, thấy bà cả đang giữ phần tiền hồ, có vẻ cẩn thận lắm. Anh ta nghĩ bụng: đừng nên cho rằng hai bà ấy nghiệt ngã, có khi cũng biết điều đây, nhân dịp này cho người ăn kẻ ở kiếm chác dăm ba hào. Anh ta hết sức nhẫn nại trông nom lũ trẻ; vì số tiền hồ, anh ta coi bọn khỉ con kia là "các cô", "các cậu".
Canh bạc tan, bà chủ bắt anh ta kéo khách về. Hai bà khách cùng muốn về ngay một lúc, nên đành phải thuê thêm một chiếc xe nữa. Tường gọi một chiếc xe đến, bà cả móc hết túi nọ đến túi kia lấy tiền, định trả tiền xe cho khách. Bà khách từ chối khéo một hai câu, bà cả liền tru tréo lên:
- Sao lại thế, hở bà chị? Bà chị đến nhà em chơi mà em lại không trả cho bà chị được một cuốc xe hay sao? bà chị cứ ngồi lên đi!
Lúc đó, bà ta mới móc ra được một hào.
Lúc bà ta đưa tiền ra, Tường thấy rõ tay bà ta hơi run run. Đưa khách về rồi lại giúp vú Trương dọn dẹp bàn ghế, Tường đưa mắt nhìn bà chủ. Bà ta sai vú Trương đi lấy nước sôi; đợi vú ấy ra khỏi cửa, mới lấy ra một hào:
- Này cầm lấy, đừng có nhìn chằm chằm người ta như thế!
Tường tái mặt đi. Anh ta vươn thẳng người lên, dường như đầu muốn chạm tới xà nhà, tay nắm lấy tờ hào giấy kia, ném thẳng vào cái mặt béo phị của mụ chủ:
- Trả bốn ngày công đây!
- Sao, thôi à?
Nói xong, mụ nhìn Tường một cái, không nói gì nữa, trả anh ta bốn ngày công.
Để bọc chăn nệm lên xe, chưa ra khỏi cổng, anh ta đã nghe tiếng chửi vang lên trong sân.
6
Đêm đầu thu, từng làn gió lay động ánh sao, khóm lá. Tường ngửng đầu lên, nhìn dải ngân hà cao tít, thở dài. Trời mát thế này, lồng ngực anh ta lại to thế kia, nhưng dường như anh ta cảm thấy thiếu không khí, cứ thấy tức tức. Anh ta muốn ngồi xuống mà khóc một hồi. Sức vóc như thế, lại nhẫn nhục chịu thương chịu khó, mặc cho người ta coi như trâu chó, thế mà vẫn không giữ nổi công ăn việc làm! Anh ta không oán riêng gì nhà lão Dương, mà lờ mờ cảm thấy tuyệt vọng. E suốt đời không sao ngóc đầu lên được nữa! Kéo bọc chăn nệm, bước chân anh ta chậm dần lại, dường như chẳng phải chính anh ta trước đây có thể chạy một mạch hàng chín mười dặm đường.
Ra đến phố lớn, người qua lại đã thưa thớt, nhưng đèn đường vẫn rất sáng. Anh ta càng cảm thấy trống trải mờ mịt, không biết đi về ngả nào. về đâu bây giờ? Tất nhiên về hãng Nhân Hòa thôi. Anh ta cảm thấy đau khổ trong lòng. Buôn bán, đi làm thuê, không sợ không có khách, chỉ sợ có khách rồi mà lại không bán được hàng, không làm được việc. Giống như hàng ăn, hàng cắt tóc, có những ông khách vào, nhìn rồi lại quay ra. Tường biết rõ, làm rồi lại thôi là chuyện thường, đây không dùng thì kia lại có người mướn. Nhưng anh ta cố nhẫn nhục cốt để giữ lấy chỗ làm, cố mặt dày mày dạn để kiếm tiền mua lấy cái xe, ấy thế mà chỉ đậu được ba ngày rưỡi, chẳng khác gì bọn chuyên đi nếm cơm thiên hạ. Điểu đó khiến anh ta rất buồn. Anh ta thấy hầu như không còn mặt mũi nào mà bước vào hãng Nhân Hòa nữa, để cho người ta đem ra làm trò cười: "Đấy, thằng Tường lạc đà cũng chỉ được ba ngày có lẻ là phải chuồn! Hừ!".
Không về hãng Nhân Hòa thì còn đi đâu được? Để khỏi phải nghĩ ngợi loanh quanh về chuyện ấy mãi, anh ta đi thẳng tới đại lộ Cửa Tây An. Mặt trước hãng Nhân Hòa là ba gian cửa hàng, gian giữa là quầy thu tiền, anh em phu xe chỉ được phép vào đó nộp tiền hoặc giao dịch công việc, chứ không được phép tự tiện đi quá vào trong, vì hai gian bên cạnh là phòng ngủ của hai cha con lão Tư Lưu. Cạnh gian bên trái là cổng xe ra vào, hai cánh sơn xanh, phía trên có một thanh sắt to tướng bẻ cong xuống, treo lủng lẳng một ngọn đèn điện rất sáng, không có chao. Dưới ngọn đèn điện treo bốn chữ sắt sơn nhũ "Hãng xe Nhân Hòa". Anh em phu xe cho xe ra xe vào và đi lại đều qua cổng này. Màu sơn xanh thẫm ở cánh cổng, cùng với bốn chữ vàng kia lấp lánh dưới ánh đèn điện sáng choang; ra vào lại toàn những chiếc xe rất đẹp, sơn đen, sơn vàng, bóng lộn, đệm tựa thì trắng toát, đến cả anh em phu xe cũng cảm thấy đôi chút kiêu hãnh, dường như tự cho mình là quý tộc trong hàng phu xe. Qua cổng lớn, qua gian nhà bến trái quay mặt ra phố là đến cái sân lớn vuông vức, giữa có mấy cây hoè già. Mấy gian nhà mé đông và mé tây đều không có tường phía mặt trước, là nơi để xe. Căn nhà mé nam và mấy gian nhà nhỏ bao quanh mảnh sân sau căn nhà mé nam kia là nơi phu xe ở.
Lúc đó khoảng hơn mười một giờ, Tường nhìn thấy ngọn đèn sáng choang và cô đơn trên cổng xưởng xe Nhân Hòa. Quầy thu tiền và gian nhà phía bên tay trái vẫn còn sáng. Anh ta biết ả Nĩu chưa ngủ. Anh ta rón rén đi tới, không muốn để cho ả trông thấy. Chính vì hằng ngày ả vẫn có ý nể anh ta, nên anh ta không muốn ả là người đầu tiên thấy sự thất bại của mình.
Anh ta vừa kéo xe qua dưới cửa sổ phòng ả, thì ả đã từ trong cổng đi ra:
- Ơ, anh Tường... sao...
Ả định hỏi tiếp, nhưng thấy Tường có vẻ ủ rũ, trên xe lại có cả chăn nệm, ả liền ngừng lại.
Sợ cái gì thì gặp cái ấy, Tường vừa ngượng vừa bực, đứng dừng lại, đờ người không nói được câu nào. Anh ta cứ nhìn ả chằm chằm. Ả hôm nay trông cũng có vẻ khác, không hiểu vì ánh đèn hay có đánh phấn mà mặt ả trắng hơn mọi ngày nhiều. Mặt trắng nên đã che lấp được rất nhiều vẻ dữ tợn. Môi thì rõ ràng là có thoa chút son, khiến ả có phần duyên dáng hơn. Thấy thế, Tường rất lấy làm lạ, trong lòng càng bối rối, bởi vì thường ngày anh ta không hề coi ả là đàn bà, nay bỗng thấy đôi môi đỏ chót, anh ta hơi mất tự nhiên. Ả mặc áo lụa ngắn màu xanh lá mạ, quần cẩm châu xanh thẫm, rộng ống. Dưới ánh đèn, chiếc áo lụa trông mềm mại, nhàn nhạt, vì ngắn nên để lòi tí cạp quần màu trắng, làm cho màu xanh lại càng thêm nổi. Chiếc quần rộng màu sẫm, gió thổi phơ phất, trông có vẻ hơi tối, dường như muốn tránh ánh đèn sáng choang kia mà hòa lẫn với bóng đêm. Tường không dám nhìn nữa, thẫn thờ cúi đầu xuống, trong óc còn lởn vởn hình ảnh chiếc áo lụa xanh bóng, ngắn cũn cỡn. Anh biết xưa nay ả Nĩu không hề diện như thê. Với gia tư nhà lão Tư Lưu, ả vốn có thể; nhưng cả ngày giao thiệp với anh em phu xe, nên ả chỉ mặc quần áo vải thôi, nếu là vải hoa thì cũng chọn thứ không sặc sỡ quá. Tường như thấy một cái gì lạ lắm; vừa quen thuộc, mà lại vừa lạ lùng, nên anh ta trong lòng hơi bối rối.
Vốn đang buồn, lại gặp cái của mới mẻ lạ lùng kia dưới ánh đèn sáng quắc, anh ta chẳng biết xử trí ra sao. Anh ta không muốn nhúc nhích, mà muốn ả Nĩu mau mau đi vào nhà, hoặc sai bảo anh ta làm việc gì. Anh ta hầu như không thể chịu đựng được sự giày vò chẳng ra thế nào cả mà khó chịu vô cùng.
Ả Nĩu lại gần, không nói to lắm:
- Này, sao đứng đờ ra thê? Vào cất xe đi, rồi mau mau quay lại đây. Có chuyện này nói với anh! Vào trong nhà nhé!
Thường ngày làm giúp ả công việc đã quen, anh ta đành phải nghe theo. Nhưng hôm nay ả khác hẳn ngày thường, nên anh ta rất muốn nghĩ xem đã. Cứ đứng đấy mà nghĩ càng thấy ngượng nghịu khó chịu; anh ta không biết làm thế nào, đành cho xe vào vậy. Nhìn gian nhà phía nam, thấy không có ánh đèn, chắc là đã ngủ cả rồi, có khi còn có người chưa cho xe về cũng nên. Cất xe xong, anh ta quay lên, đến trước cửa phòng ả Nĩu, bỗng anh ta thấy trống ngực đập thùm thụp.
- Vào đây! Có chuyện này cẩn nói với anh!
Ả thò đầu ra nói, nửa cười cợt, nửa nũng nịu.
Tường chậm rãi bước vào.
Trên bàn có mấy quả lê chưa chín lắm, vỏ còn xanh, một bình rượu, ba chiếc chén sứ trắng, một mâm cơm lớn bày nửa con gà quay xì dầu, và mấy món gan nướng, lòng xào v.v...
Ả chỉ cho anh ta một cái ghế, đợi anh ta ngồi xuống rồi mới nói:
- Này, hôm nay tôi ăn khao đấy. Anh cũng ăn một chút đi!
Nói xong, ả rót cho Tường một chén rượu. Mùi cay của rượu trắng, pha lẫn mùi thịt quay, thơm phức.
- Uống đi, ăn thịt gà đây này! Tôi ăn rồi, đừng đế phần tôi nữa! Tôi vừa lấy quân mạt chược bói một quẻ, biết là anh về, thế có nghiệm không?
Tường thẫn thờ nhìn chén rượu:
- Tôi không uống rượu đâu!
- Không uống thì đi đi! Người ta có lòng tốt, lại không ưng là làm sao? Ngốc ơi là ngốc. Cay không chết được đâu? Tôi cũng còn uống được bốn lạng[*] nữa là! Không tin, xem đây này! - Ả nhấc chén rượu tợp một ngụm hết già nửa, nhắm mắt khà một tiếng, rồi giơ chén ra - Uống đi! Không uống tôi đè xuống đổ vào miệng đấy!
[*]Chu thich: Trung Quốc bán rượu theo cân, lạng… (ND).
Tường đang tức anh ách, chưa làm sao cho hả được, bây giờ lại gặp phải cái trò khỉ này, thật chỉ muốn gây chuyện với ả một phen. Nhưng anh ta biết, xưa nay ả đối với mình rất tốt, mà đối với ai ả cũng xởi lởi như thế cả, chẳng nên làm ả giận. Anh ta nghĩ lại, không làm ả giận thì chi bằng thẳng thắn kể luôn cho ả nghe những điều uất ức trong lòng vậy! Anh ta vốn ít nói, nhưng hôm nay, hình như có hàng trăm hàng vạn mớ lời chất chứa trong lòng, không nói không chịu được. Nghĩ thế, anh ta thấy rằng ả không hề có ý trêu ghẹo mình, mà thành thực có quý mến mình. Anh ta đỡ lấy chén rượu, uống cạn. Chất cay, từ từ chảy xuống dạ dày, rõ ràng lắm, đến đâu biết đến đó. Anh ta đưa cổ ra, ưỡn thẳng ngực, nuốt ực liền hai cái vẻ khó khăn.
Ả Nĩu phá lên cười. Anh ta khổ sở lắm mới nuốt trôi ngụm rượu. Nghe ả cười, anh ta vội đưa mắt nhìn sang gian buồng phía đông.
Ả không cười nữa, nhưng mặt vẫn tươi roi rói:
Không có ai cả. Ông già đi mừng thọ bà cô tôi rồi. Cũng mất hai ba ngày. Bà cô ở tận Nam Uyển cơ.
Vừa nói ả vừa rót cho Tường một chén rượu nữa, đầy tràn.
Nghe thấy thế Tường bỗng cảm thấy dường như có chuyện gì không được chính đáng lắm. Đồng thời, anh ta lại tiếc rẻ không muốn bỏ đây mà đi. Mặt ả gần sát mặt anh ta thế kia, quần áo ả sạch sẽ trơn tru thế kia, môi ả đỏ thế kia, tất cả khiến anh ta cảm thấy như một thứ kích thích mới mẻ. Ả vẫn xấu lắm, nhưng so với ngày thường thì tươi tắn hơn, trông khác hẳn. Tuy vẫn là ả, nhưng có thêm được một cái gì. Anh ta không dám suy nghĩ tỉ mỉ hơn về những cái mới mẻ đó, ngay lúc đó không dám tùy tiện nhận, nhưng cũng không đành lòng từ chối. Mặt anh ta đỏ lên. Dường như để được can đảm hơn, anh ta lại tợp một ngụm rượu nữa. Lúc nãy, anh ta định kể cho ả nghe những nỗi bực dọc của mình nhưng bây giờ anh ta quên bẵng mất. Mặt đỏ nhừ, bất giác anh ta đưa mắt nhìn ả mấy cái. Càng nhìn, anh ta càng lúng túng. Mỗi lúc ả lại để lộ thêm những điểm gì đó nóng hôi hổi truyền sang anh ta. Dần dần ả biến thành một cái gì đó rất trừu tượng. Anh ta tự nhủ cần phải cẩn thận, nhưng lại thấy cần phải mạnh dạn lên. Anh ta uống liền ba chén rượu nữa, và quên mất thế nào là giữ gìn. Anh ta mơ mơ màng màng nhìn ả, không hiếu tại sao lại cảm thấy thích thú và mạnh bạo hẳn lên. Phải can đảm chộp ngay lấy cơ hội để cho biết mùi đời, để hưởng một chút khoái lạc. Ngày thường, anh ta hơi sợ ả, nhưng bây giờ ả không còn gì là đáng sợ cả. Ngược lại, anh ta trở thành một con người có uy thế, có sức mạnh, tựa hồ có thể bắt lấy ả như bắt một con mèo. Đèn trong phòng tắt.
Hôm sau, Tường dậy rất sớm, kéo xe đi ra liền. Đầu hơi váng và cổ họng hơi đau, đó là vì lần đầu tiên uổng rượu, nên anh ta cũng chẳng chú ý đến. Anh ta ngồi trong ngõ hẻm, gió sớm nhè nhẹ phả vào mặt. Anh ta biết, váng đầu một tí rồi khỏi ngay. Nhưng có một tâm sự khác, làm cho anh ta buồn bực khó chịu, không sao dứt ra được. Việc đêm qua khiến anh ta nghi ngại, xấu hổ, khó chịu, và cảm thấy có phần nguy hiểm.
Anh ta chẳng hiểu ả Nĩu ra làm sao cả. Từ lâu ả không còn trinh tiết nữa. Mấy giờ đồng hồ trước đây, Tường mới biết. Trước nay anh ta vẫn kính trọng ả, và chưa nghe ai nói ả lăng nhăng bậy bạ bao giờ. Mặc dù đối với mọi người ả đều rất tự nhiên, xởi lởi, nhưng sau lưng ả, không ai bàn tán dị nghị gì cả. Dù có anh em phu xe nào đó nói xấu ả, thì cũng chỉ là kêu ả là tay đáo để, chứ chẳng phải là chuyện gì kia khác. Thế thì tại sao lại có cái chuyện đêm qua? Thật là khó hiểu và Tường cũng đâm ra nghi ngờ cả Tường. Biết anh ta không ở hãng nữa, vậy sao ả cứ một mực chờ anh ta? Giả dụ bất cứ ai cũng được cả thì sao?... Tường cúi đầu xuống. Anh ta từ thôn quê lên, tuy từ trước nay chưa tính chuyện vợ con, nhưng không phải trong bụng không hề nghĩ đến. Giả dụ anh ta đã có được xe riêng, làm ăn mát mặt hơn một chút, và muốn lấy vợ thì anh ta sẽ về quê cưới một cô gái mới lớn lên, khỏe mạnh, chịu thương chịu khó, biết làm ăn. Những anh chàng trạc tuổi anh ta ai mà chẳng lén lút đi nhà thổ, dù cho người cai quản kiềm chế hẳn hoi. Tường thì không hề đua đòi theo bọn họ, một là anh ta tự cho mình là người muốn khấn khá lên, không thể đem tiền cúng cho gái; hai là, chính bản thân anh ta đã từng trông thấy những thằng ngốc chỉ mới mười bảy mười tám tuổi đầu, mất tiền toi để rồi gục đẩu vào tường nhà xí mà chẳng đái ra được một giọt. Cuối cùng, anh ta có giữ gìn, không bừa bãi mới khỏi phụ lòng người vợ mai sau, bởi vì đã lấy vợ, tất phải lấy một cô gái trong sạch, vì thế mình cũng phải trong sạch mới được. Nhưng bây giờ, bây giờ... nghĩ đến ả Nĩu, nếu coi ả là bạn thôi, thì quả ả là một người bạn tốt; coi ả là đàn bà thì ả quả là một người đàn bà xấu, già, đáo để, không biết xấu hổ. Nghĩ đến bọn lính đã ăn cướp xe của anh ta, và suýt nữa thì làm anh ta toi mạng, anh ta cũng không giận không ghét bằng nghĩ đến ả. Ả đã hủy hoại chút gì là trong trắng của anh ta mang từ thôn quê lên. Bây giờ anh ta đã thành gã đàn ông lang chạ.
Lại nữa, nhỡ chuyện vỡ lở ra, lão Tư biết thì sao? Lão ta liệu có biết con gái mình là đổ đĩ rạc không? Giả dụ không biết, thì chẳng phải riêng mình Tường phải mang vạ vịt hay sao? Giả dụ biết mà không ngăn cấm con gái, như vậy cha con nhà lão là giống gì? Dù cả hai cha con nhà lão đồng ý cả, anh ta cũng không thể lấy ả được. Bất cứ lão Tư Lưu có sáu mươi chiếc xe hay sáu trăm chiếc xe, sáu ngàn chiếc xe, anh ta cũng chẳng màng. Anh ta phải bỏ ngay cái hãng Nhân Hòa này mà đi, đoạn tuyệt hẳn với cha con lão. Anh ta có tài có lực. Anh ta sẽ dựa vào tài lực của mình mà mua xe, mà lấy vợ, như vậy mới đường đường chính chính. Nghĩ đến đây, anh ta ngẩng đầu lên, cảm thấy mình đường đường là một đấng nam nhi, chẳng có gì đáng để sợ, chẳng có gì đáng để lo, cứ chăm chi làm ăn thì nhất định sẽ thành công.
Trượt mất hai món khách. Điều thắc mắc kia lại trở lại. Không muốn nghĩ đến, nhưng trong lòng bứt rứt quá. Chuyện này hầu như không giống với các chuyện khác, dù có cách giải quyết cũng không thể dễ dàng quên đi được. Không những hình như có cái gì dính vào người, mà đến cả trong tâm hổn hình như cũng có một vết nhơ, không bao giờ rửa sạch. Mặc cho anh ta căm giận ả đến thế nào, ghét ả đến thế nào, ả vẫn cứ bám chặt lây tim anh ta; càng không muốn nghĩ tói ả, thì ả cứ như bỗng từ tim anh ta nhảy ra, trần như nhộng, trao cho anh ta tất cả những gì xấu xa và tất cả những gì đẹp đẽ của à. Giống như mua một đồng đồ cũ, trong đám sắt rỉ đồng nát kia cũng có một vài vật bé nhỏ sáng lóng lánh, khiến người ta không đành lòng bỏ qua. Anh ta chưa gần gũi với ai như thế bao giờ, tuy đột ngột thật đấy, tuy bị quyến rũ thật đấy, nhưng chuyện như thế chẳng dễ gì quên được, dù muốn gạt đi, tự nhiên nó cứ vấn vương trong lòng, như đã bắt rễ rồi vậy. Đối với anh ta, đó không phải chỉ là nếm trải mùi đời, mà cũng là một chuyện rắc rối không thể nào hình dung được, khiến anh ta không biết nên xử trí ra sao. Đối với ả, đối với bản thân, đối với hiện tại và tương lai, anh ta đều thấy không có cách gì cả, y như một con sâu mắc vào mạng nhện, muốn quẫy ra thì đã muộn rồi.
Người cứ mơ mơ màng màng, anh ta kéo được mấy món khách nữa. Ngay cả khi chạy, anh ta cũng không thể quên được chuyện ấy, không phải là nghĩ được rõ ràng, có đầu có đuôi, mà luôn luôn nghĩ tới một ý gì đó, hoặc là một chút hương vị gì đó, hoặc một chút tình cảm gì đó, tất cả đều rất mơ hồ, mà lại rất thân thiết. Anh ta muốn một mình đi uống rượu, uống cho không biết trời đất gì nữa, có lẽ sẽ dễ chịu hơn, sẽ khỏi bị giày vò chăng! Nhưng anh ta không dám đi uống. Anh ta không thể vì chuyện ấy mà tự hủy hoại thân mình. Anh ta lại nghĩ đến chuyện mua xe, nhưng không thể chuyên tâm mà nghĩ được, như có cái gì cản trở; chưa kịp nghĩ đến, thì của nợ kia lại len lén hiện ra, choán lây tâm tư, y như đám mấy đen phủ kín bầu trời, che lấp cả ánh sáng. Đến tối, định cho xe về, anh ta lại càng buồn hơn. Anh ta phải về hãng, nhưng lại rất sợ về gặp ả thì làm thế nào? Anh ta cứ kéo xe không quanh quẩn trên phố, mấy lần về gần tới xưởng rồi, lại kéo xe quay lộn lại, y như đứa bé lần đầu trốn học không dám về nhà.
Lạ thật, anh ta càng muốn tránh ả, nhưng lại đồng thời càng muốn gặp ả. Trời càng tối, ý nghĩ đó càng thôi thúc tợn. Sự quyến rũ và sự bạo dạn, biết rõ không ổn, nhưng rất muốn thử xem sao, cứ bám riết lấy tâm hồn anh ta, giống như lúc bé cầm sào đi chọc tổ ong, sợ nhưng trong lòng cứ náo nức không dừng được, y như ma trêu quỷ ám. Đang lúc mơ mơ màng màng, anh ta cảm thấy một sức mạnh gì đó lấn át hẳn anh ta, viên anh ta thành một cục tròn, quăng vào đống lửa cháy rừng rực. Anh ta không giữ được chân mình nữa.
Anh ta quay về cửa Tân An. Lần này thì anh ta không muốn chậm trễ nữa, mà muốn đi thẳng vào nhà giữa, tìm ả. Bây giờ ả không phải là một người nào đó, mà là một người đàn bà. Anh ta nóng ran cả người. Vừa đến trước cửa thì thấy dưới ánh đèn có một người đàn ông vào trạc ngoài bốn mươi đang đi ra, Tường thấy dáng dấp vẻ mặt người này hơi quen quen, nhưng không dám chào hỏi. Hầu như do bản năng, anh ta mời:
- Ông đi xe!
Người kia ngớ người một lúc, rồi hỏi:
- Tường đấy à?
Tường cười:
- Vâng. Ông Tào đấy có phải không ạ?
Người kia mỉm cười gật đầu:
- Anh Tường này, anh chưa ở với nhà ai thì lại ở với tôi đi! Anh xe đang kéo cho tôi, chạy khỏe, nhưng lười quá, xe pháo chẳng chịu lau chùi gì cả. Anh có đến không?
- Thưa ông, có chứ ạ!
Tường hầu như không biết cười là thế nào nữa. Anh ta lấy chiếc khăn nhỏ lau mặt lia lịa:
- Thưa ông, thế bao giờ cháu đến ạ?
Ông Tào nghĩ một lát, rồi nói:
- Ờ... ngày kia nhé!
- Vâng ạ - ngừng một tí, Tường lại tiếp - Để cháu đưa ông về!
- Thôi! Tôi xuống Thượng Hải ít lâu, bây giờ về, không ở chỗ cũ nữa, mà dọn lên phố Bắc Trường rồi, tối đi dạo chơi một tí. Ngày kia đến nhé!
Sau khi dặn số nhà, ông ta nói thêm:
- Vẫn kéo xe nhà đấy!
Tường mừng quá, muốn nhảy cẫng lên. Sự phiền não mấy ngày hôm nay tiêu tán sạch, y như con đường lát đá sau cơn mưa rào. Ông Tào là chủ cũ của anh ta, tuy ở với ông ta chưa được bao lâu, nhưng rất thấy mến. Ông ta hiền lắm, nhà lại ít người, chỉ có một vợ và một cậu con trai nhỏ.
Tường kéo xe chạy thẳng về hãng Nhân Hòa. Phòng ả Nĩu vẫn còn sáng đèn. Nhìn thấy ánh đèn, bỗng Tường ngây người ra.
Đứng một hồi lâu, anh ta quyết vào gặp ả, báo cho ả biết mình lại tìm được chỗ kéo tháng rồi, nộp thuế xe hai ngày qua, và lấy số tiền để dành ra. Từ đó thế là cắt đứt - chuyện ấy tất nhiên chẳng tiện nói, chắc thế nào ả cũng hiểu.
Anh ta cất xe xong, quay ra, mạnh dạn gọi ả.
- Vào đây!
Anh ta đẩy cửa, thấy ả nằm nghiêng người trên giường, mặc bộ quần áo thường, chân để trần. Ả vẫn nằm nghiêng như thế, nói:
- Sao, được nếm của ngon rồi, thấy thế nào?
Tường mặt đỏ ửng, y như khi đi thăm bà đẻ. Đứng ngẩn ra một lúc, anh ta mới chậm rãi nói:
- Tôi lại tìm được chỗ làm rồi, ngày kia bắt đầu. Người ta đã có sẵn xe...
Ả Nĩu liền nói xen ngang:
- Anh này thật chẳng biết điều chút nào cả - Ả ngồi nhổm dậy, nửa vui nửa buồn, chỉ Tường, nói tiếp - Ở đây, sẵn ăn sẵn mặc; không chạy cho toát mồ hôi ra thì không đã cơn nghiền phải không? Ông cụ không hề ngăn cấm tôi được, tôi không thể ở vậy chết già. Dù ông cụ dở chứng, tôi cũng có cách lo liệu chu tất. Chúng mình cũng có thể sắm vài ba chiếc xe, một ngày thu tám chín hào một đồng, lại không hơn suốt ngày ngoài phố, nát cả chân hay sao? Tôi thua em kém chị ở cái chỗ nào? Kể ra có hơn anh một vài tuổi, nhưng cũng chẳng là bao! Tôi lại quý anh, mến anh...
- Tôi chỉ thích đi kéo xe thôi!
Tường không tìm được câu nào khác để nói lại.
- Thật là óc đặc như bí! Thì cứ ngồi xuống đã nào, ai cắn đâu mà sợ!
Nói xong, ả cười, nhe hai cái răng nanh ra.
Tường miễn cưỡng ngồi xuống:
- Tiền của tôi gửi ngày nọ...
- Ồng cụ giữ, không mất đâu, đừng lo. Anh đừng hỏi vội, anh biết tính ông cụ chứ? Đợi khi nào đủ mua xe rồi hẵng lấy ra. Một trinh cũng chẳng thiếu của anh. Anh lấy bây giờ, ông cụ lại không chửi cho một trận toé khói thì tôi chớ kể. Ông cụ đối với anh tử tế lắm. Không mất được đâu. Thiếu một đồng tôi đền anh hai đồng! Đẩu óc anh còn quê mùa lắm! Đừng để tôi phát ghét lên đấy!
Tường không nói được gì nữa. Anh ta cúi đầu, móc túi mãi, lấy ra hai ngày thuế, đặt lên bàn:
- Hai ngày đây!
Rồi chợt nghĩ ra, anh ta lại nói tiếp:
- Hôm nay coi như tôi trả lại xe, mai tôi nghỉ một ngày.
Trong lòng, anh ta vốn không muốn nghỉ một ngày nào cả, có điều, như vậy dứt khoát hơn. Trả xe rồi, từ nay về sau sẽ chẳng ở hãng Nhân Hòa nữa.
Ả Nĩu bước tới, cầm tiền, nhét vào túi anh ta:
- Hai ngày này, cả xe lẫn người, coi như biếu không anh! Anh thật gặp may đấy! Đừng vong ân bội nghĩa là được rồi!
Nói xong, ả quay người, khóa trái cửa lại.
7
Tường đến làm cho nhà ông Tào.
Đối với ả Nĩu, anh ta hơi thấy xấu hổ. Nhưng, đó là do ả quyến rũ, huống chi anh ta không hề muốn dòm dỏ gì tiền tài của ả. Anh ta cho rằng, cắt đứt với ả như vậy cũng chẳng có gì là không phải lắm. Điều anh ta lo lắng chính là món tiền lão Tư Lưu giữ hộ kia. Đòi ngay sợ lão nghi ngờ này nọ. Từ nay không lai vãng đến thăm bố con lão nữa, sợ ả Nĩu giận, lại nói xấu với lão ta, thì món tiền kia đi đứt! Cứ gửi lão ư, như vậy mỗi lần đến hãng lại gặp ả, thì khó xử lắm. Anh ta nghĩ mãi không có cách gì giải quyết cho ổn thỏa, càng không nghĩ ra, càng không yên tâm.
Anh ta rất muốn hỏi ý kiến ông Tào, nhưng biết nói thế nào đây? Chuyện với ả Nĩu thì không thể nói với ai được. Nghĩ đến đây anh ta rất hối. Anh ta thấy bắt đầu không thể dứt khoát được. Chuyện đó không bao giờ xóa sạch, y như vết chàm trên da thịt. Bỗng dưng mất xe, lại bỗng dưng mắc vào rắc rối này, anh ta thấy đời anh ta thế là hết rồi, dù cố gắng thế nào cũng vô ích. Nghĩ đi nghĩ lại, anh ta thấy thế này: có lẽ rút cục rồi đến phải mặt dày mày dạn mà lấy ả Nĩu mất thôi! Không vì ả, thì lại chẳng vì mấy chiếc xe kia sao? "Cái đồ khốn kiếp đi ăn thừa!". Anh ta không chịu nổi, nhưng đến lúc đó có lẽ cũng đành phải chịu vậy! Thôi thì đành cứ cố gắng mà làm, làm cho tốt, để đợi những cái chẳng ra gì. Anh ta không dám tự tin như trước kia nữa. Sức vóc, khí lực, lòng dạ anh ta bây giờ chẳng còn để vào đâu. Vận mệnh mình, nhưng lại do người khác định đoạt, lại bị những cái vô cùng khôn nạn đó chi phối!
Cứ lý mà nói, thì anh ta phải sung sướng lắm mới phải, bởi vì, trong số những nhà mà anh ta đã kéo xe tháng, thì nhà ông Tào đáng mến nhất. Tiền công ở nhà ông ta không cao hơn các nhà khác, ngoài tiền thưởng trong ba dịp Tết ra, cũng chẳng có mấy đồng cho vặt, nhưng vợ chồng ông Tào rất hiền hậu, coi ai cũng là con người mà đối xử. Tường muốn kiếm thật nhiều tiền, muốn cố sống cố chết mà kiếm tiền, nhưng anh ta cũng muốn có được một chỗ ở tử tế, ăn uống được no nê. Nhà ông Tào chỗ nào cũng sạch như li như lau, ngay cả nhà dưới cũng thế cơm nước cũng không khổ, và quyết không bao giờ để người ở ăn uống những thức thiu ôi. Riêng mình được ở một phòng rộng rãi sạch sẽ, lại có thể ung dung ngày đánh ba bữa, thêm chủ nhà rất hòa nhã, cho nên Tường, đến ngay cả Tường, cũng không thể chỉ nghĩ đến việc kiếm tiền không thôi. Huống chi, nơi ăn chốn ở đều rất thoải mái, công việc lại không mệt nhọc lắm, cứ ở mà dưỡng cái thân cho khỏe thì cũng chẳng thiệt thòi gì. Bỏ tiền túi ra mà ăn, anh ta nhất quyết không đời nào lại ăn ngon đến thế, bây giờ cơm nước sẵn đấy, mà lại ăn không đến nỗi phải còng lưng ra mà trả nợ, vậy thì chẳng tội gì mà không ăn cho no; cơm thì cũng là tiền, chuyện đó anh ta tính toán thấy rõ lắm rồi. Ăn ngon, ngủ yên, lại có thể đàng hoàng sạch sẽ ra cái vẻ con người, thật là một nơi khó mà kiếm được. Huống chi nhà ông Tào không đánh bài, không hay mời khách, không có tiền thưởng vặt, nhưng làm đôi chút việc gì ngoài một chút, cũng được đãi một hai hào. Ví dụ bà chủ sai đi mua thuốc cho cậu con, thế nào cũng đưa thêm cho anh ta một hào, bảo anh ta thuê xe mà đi, tuy biết rõ anh ta chạy nhanh hơn ai hết. Tí tiền vặt ấy tuy không đáng kể vào đâu, nhưng anh ta cảm thấy có tình có nghĩa, rộng rãi với nhau, khiến anh ta khoan khoái trong lòng. Tường đã ở cho nhiều chủ, mười người thi chín người có thể chậm trả công được ngày nào là trả chậm ngày ấy, tỏ ra rằng tốt nhất là thuê người không công, và cho rằng, người ở chỉ là chó là mèo. Hoặc có khi lại không được bằng chó mèo nữa kia. Nhà ông Tào này thì lại khác hẳn, vì thế anh ta thích ở đây. Anh ta dọn dẹp vườn tược, tưới hoa, chẳng cần để ai phải sai phải giục, và mỗi khi thấy anh ta làm những việc đó, thế nào bà chủ cũng khen vài câu, khen rồi lại nhân những lúc ấy, tìm cho anh ta những thứ cũ rách, bảo đem đổi lấy diêm thuốc, mặc dù những thứ đó vẫn dùng được cả, và Tường cũng giữ lại mà dùng chứ không đem đổi. Ở đây, anh ta cảm thấy có chút nhân tình thế cố.
Dưới con mắt của Tường, lão Tư Lưu có thể kể như là ông trời con. Trong đầu óc anh ta, những nhân vật lớn lao ngoài ông trời con ra, phải kể đến đức thánh Khổng kia nữa. Anh ta chẳng biết đức thánh Khổng rút cục là người thế nào, nhưng nghe nói ông ta nhiều chữ lắm, và rất biết điều. Những nhà anh ta đã vào làm, văn có mà võ cũng có, trong số võ thì không ai có thể sánh kịp lão Tư Lưu; trong số văn tuy có người giáo sư trường đại học, có người làm việc ở tòa này phủ nọ, chữ tất nhiên cũng biết rất nhiều, nhưng chưa gặp người nào được cả. Có khi, ông chủ tử tế một chút, thì bà chủ và các cô các mợ lại rất khó hầu. Chỉ có ông Tào đây là người biết chữ, lại biết điều, và cả bà Tào cũng là người nề nếp, ai cũng mến. Vì thế, ông Tào tất nhiên phải là đức thánh Khổng. Giả dụ Tường không thể tưởng tượng được đức thánh Khổng hình thù ra sao thì, tất anh cho rằng đức thánh phải giống như ông Tào, đức thánh có muốn hay không cũng mặc.
Thực ra ông Tào cũng chẳng phải tài giỏi gì lắm đâu. Ồng ta chỉ là người vào loại trung bình, có lúc dạy học ít lâu, cũng có lúc lại làm một số việc khác. Ông ta tự cho mình là "một người theo chủ nghĩa xã hội", đồng thời cũng là một người theo chủ nghĩa duy mỹ, chịu ảnh hưởng ít nhiều của Uy-li-am Mô-ri-xơ. Về mặt chính trị, về mặt nghệ thuật, ông ta đều không có kiến giải gì cao siêu. Nhưng ông ta có được một ưu điểm là: điều mà ông ta tin tưởng, ông ta có thể đem áp dụng vào những công việc nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống. Hầu như ông ta biết rằng, bản thân mình không tài trí gì hơn người để có thể làm được nhũng việc kinh thiên động địa, nên ông ta đành sắp đặt công việc riêng và gia đình theo lý tưởng của mình; tuy không có lợi ích gì cho xã hội, nhưng cũng ít nhất là lời nói đi với việc làm, chứ không đến nỗi thành kẻ đạo đức giả. Vì vậy, ông ta rất chú ý đến những việc lặt vặt, dường như có ý tỏ ra rằng, nếu sắp xếp gia đình bé nhỏ được tốt đẹp, thì xã hội dù thế nào chăng nữa cũng có thể cứ mặc kệ. Có lúc, điều này đã khiến ông ta tự lấy làm xấu hổ, nhưng có lúc lại làm cho ông ta lại thấy thích thú, dường như ông nhìn thấy rõ ràng rằng, gia đình ông là một ốc đảo giữa sa mạc, chỉ có thể cung cấp cho những người tới đó chút nước ngọt và thức ăn, còn thì chẳng có ý nghĩa gì to lớn hơn nữa cả.
Vừa khéo, Tường đã đến được cái ốc đảo này. Đi trong sạp hàng bao nhiêu ngày trời, anh ta cho đây là một cảnh kỳ lạ. Xưa nay anh ta chưa từng gặp một người nào như ông Tào, nên anh ta coi ông là bậc thánh hiền. Có lẽ do anh ta ít từng trải, cũng có lẽ trên đời này, những người như thế không nhiều lắm. Kéo xe cho ông Tào, quần áo ông nhã nhặn thế kia, con người lại trông hoạt bát phóng khoáng thế kia, bản thân anh ta thì cũng hoạt bát, lanh lợi, cao lớn, khỏe mạnh thế kia, nên anh ta chạy rất phấn khởi, dường như chi có anh ta mới xứng đáng kéo ông Tào. Ở nhà thì nơi nào cũng sạch như li như lau, bao giờ cũng rất yên tĩnh, khiến anh ta lại thấy thoải mái dễ chịu. Hồi còn ở quê nhà, vào những tháng thu ngày đông, anh ta thường thấy những cụ già ngậm điếu trúc, ngồi không nói một lời, anh ta tuy còn nhỏ tuổi, không thể theo đòi các bậc già cả, nhưng lại thích nhìn các cụ ngồi im lặng như thế, và đoán chắc là thú vị lắm. Bây giờ, tuy ở thành phố, nhưng sự yên tĩnh trong nhà ông Tào cũng đã khiến anh ta nhớ lại cảnh sống ở quê nhà hổi trước, anh ta thấy thèm hút điếu ống, để tìm trong đó chút thú vị.
Chẳng may, cái ả kia và số tiền kia đã làm anh ta không được yên lòng; trái tim anh ta giống như một chiếc lá xanh bị con sâu nhả tơ cuộn lại, định làm thành cái tổ. Vì chút chuyện đó mà anh ta không thể yên lòng được. Trước mặt người khác, thậm chí cả trước mặt ông Tào nữa, anh ta thường cứ thờ thẫn ra, hỏi một đằng trả lời một nẻo. Điều đó khiến anh ta buồn vô cùng. Nhà ông Tào đi ngủ rất sớm; buổi tối, cứ độ hơn chín giờ là không còn việc gì nữa, thế là anh ta một mình ngồi trong nhà hoặc ngoài sân, cứ nghĩ đi nghĩ lại, chỉ quanh quẩn với hai chuyện đó. Thậm chí anh ta đã nghĩ rằng, nếu mình lấy vợ ngay, thi nhát định ả Nĩu sẽ hết hy vọng. Nhưng nghề kéo xe làm sao nuôi nổi vợ? Anh ta đã biết rõ cái cảnh khổ của anh em trong xóm nghèo, chồng kéo xe, vợ may vá lặt vặt, con nhặt than, mùa hè đi lượm vỏ dưa ở đống rác mà ăn, mùa đông thì đi lĩnh cháo phát chẩn. Tường chẳng thể chịu được cái cảnh đó. Lại nữa, già dụ anh ta lấy vợ, thì số tiền gửi lão Tư Lưu chắc chắn là mất. Ả Nĩu đời nào lại tha cho anh. Anh ta không thể bỏ số tiền đó được, số tiền phải bỏ mạng ra mới có.
Cái xe cũ của anh ta mua dạo đầu thu năm ngoái. Đã hơn một năm rồi. Bây giờ thì anh ta chẳng có gì cả. Chỉ còn ba mươi đồng bạc, đã không đòi được lại còn mắc vào những chuyện rắc rối lôi thôi. Càng nghĩ anh ta càng thấy chán.
Tết trung thu đã qua được hơn mười ngày rồi. Trời mát dần. Anh ta tính cần phải có thêm hai cái áo nữa. Lại tiền! Không thể nào vừa mua áo, vừa để dành tiền. Hy vọng mua xe, quả thật không còn dám hy vọng nữa! Cứ kéo xe tháng mãi, thì cuộc đời còn ra cái quái gì?
Một hôm, vào buổi tối, ông Tào ở phía Đông thành phố về hơi muộn. Vì cẩn thận, Tường chạy theo đường lớn trước Thiên An Môn. Đường rộng rãi phẳng phiu, rất vắng, gió mát nhè nhẹ thổi, ánh đèn chiếu sáng lặng lẽ, anh ta chạy thấy dẻo chân. Những nỗi bực dọc trong mấy ngày qua, anh ta tạm thời quên cả. Nghe tiếng bước chân mình chạy, nghe tiếng díp xe khẽ kêu, anh ta quên hết mọi chuyện. Anh ta mở cúc áo, gió mát lùa vào ngực, anh ta cảm thấy khoan khoái vô cùng, dường như cứ chạy như thế này, đến đâu thì đến, chạy rồi thì chết quách đi cho xong. Anh ta càng chạy càng nhanh. Phía trước có một chiếc xe, Tường vượt luôn. Một lát đã qua Thiên An Môn. Hai chân anh ta giống như hai cái lò xo, cơ hồ vừa chạm đất là nảy lên liền. Bánh xe ở phía sau quay tít không trông thấy đũa. Bánh xe như bỗng rời khỏi mặt đất, cà xe lẫn người như bị một luồng gió cuốn đi. Gió mát phà vào mặt, ông Tào thiu thiu ngù, nếu không, nhất định ông ta không đế cho Tường chạy nhanh như thế. Tường xoạc cẳng ra mà chạy, trong bụng mơ màng nghĩ rằng, chạy cho toát mồ hôi ra, đêm nay nhất định sẽ ngủ được ngon giấc, chẳng còn phải nghĩ vẩn vơ gì nữa.
Đã gần đến đường Bắc Trường rồi, nửa đường phía trước mặt, bị dãy cây hoè bên ngoài Hồng Tường[*] che kín, tối mò mò. Tường vừa định ghìm bước lại thì vấp phải một cái gì cao nhô lên. Chân khuỵu xuống, xe cũng lăn kềnh. Tường bắn ra ngoài, càng xe gẫy đánh cắc một tiếng.
[*]Chu thich: Tường bao vây cung điện cũ của nhà Thanh, quét sơn màu đỏ (ND).
- Sao thế?
Ông Tào vừa nói thì đã ngã lăn ra. Tưởng làm thinh, ông Tào nhanh nhẹn ngồi dậy.
- Sao thế?
Đá rải đường đánh đống ở đây mà lại không treo đèn đỏ.
Tường hỏi:
- Ông có việc gì không ạ?
- Không. Tôi đi bộ về đây. Anh kéo xe về nhé!
Óng Tào vẫn điểm tĩnh, sò trên đống đá xem có rơi cái gì không.
Tường mân mê cái càng xe gẫy:
- Mới gẫy một tí thôi, ông cứ ngồi lên, còn kéo được!
Nói rồi anh ta kéo chiếc xe khỏi đống đá:
- Ông ngồi lên đi!
Ông Tào không muốn ngồi xe nữa, nhưng nghe giống anh ta nói như mếu, ông ta đành phải lên xe vậy.
Đến dưới ngọn đèn ở ngã tư đường Bắc Trường, ông Tào thấy bàn tay mình sước mất một miếng da.
- Anh Tường à, dừng lại xem nào!
Tường quay đầu lại, máu me đầy mặt.
Ông Tào hoảng người lên không biết nên nói thế nào:
- Anh mau mau...
Tường ngơ ngác, tưởng ông ta giục chạy nhanh, liền co cẳng chạy một mạch về tới nhà.
Đặt xe xuống, anh ta thấy tay chủ chảy máu, vội vàng chạy vào sân, định tìm bà chủ lấy thuốc.
Ông Tào chạy vào:
- Mặc tôi, anh xem kìa!
Tường nhìn mình, bắt đầu thấy đau, đầu gối, khuỷu tay đều bị toạc cả; trên mặt anh ta cứ tưởng là mổ hôi, hóa ra là máu. Chẳng biết làm sao, nghĩ sao bây giờ, anh ta ngồi phịch xuống thềm cổng, thẫn thờ ngắm cái xe gẫy càng. Cái xe mới tinh đen nhoáng, đầu càng gẫy thụt thòi ra hai mẩu gỗ trắng, trụi thui lủi, trông chẳng ra cái gì, xấu quá đi mất, y như một con nộm giây rất đẹp, làm xong rồi, chỉ còn thiếu đôi chân, tạm gắn hai cái que vào đó. Tường thẫn thờ nhìn hai đầu càng gỗ gẫy lòi gỗ trắng.
Giọng lanh lảnh của vú Cao cất lên:
- Anh Tường! Anh Tường! Đâu rồi?
Tường ngồi không nhúc nhích, mắt đăm đăm nhìn hai cái càng xe, hai mẩu gẫy đó như đâm vào tim anh ta.
- Sao lại gẫy thê? Anh cứ lặng thinh, ngồi ở đây, làm tôi sợ hết hổn! Ông đang gọi anh kìa!
Vú Cao lúc nào nói cũng đầy nhiệt tình, nghe vừa dài dòng lại vừa cảm động. Vú là một người đàn bà góa trạc băm hai băm ba, sạch sẽ, lanh lẹn, làm ăn tháo vát và cẩn thận. Ở những nơi khác, có người chê vú lanh chanh, lắm chuyện, ranh ma quỷ quái. Nhưng nhà ông Tào đây lại thích những người tươm tất, lanh lợi, chứ không chú ý đến những chi tiết lặt vặt ấy, cho nên vú ở với họ đã hai ba năm nay rồi, họ đi đâu cũng mang vú theo.
Vú Cao lại nhắc lại:
- Ông đang gọi anh kia kìa!
Tường đứng lên, vú thấy mặt anh đầy máu:
- Cha mẹ ôi! Làm tôi sợ hết hồn! Sao lại thế này? Anh không đi băng bó đi à, nhỡ thế nào thì khốn! Mau lên! Ông có thuốc đấy!
Tường đi trước, vú Cao theo sau, miệng lẩm bẩm, cùng vào phòng sách. Bà Tào cũng ở đó, đang bôi thuốc vào tay cho chồng. Thấy Tường vào, bà ta cũng kinh hãi kêu lên.
Vú Cao vẫn sợ bà Tào chưa thấy, vừa đổ nước lạnh vào chậu, vừa nói:
- Bà ạ! Anh ta ngã đau quá! Cháu biết mà! Anh ta đã cất bước chạy, thôi thì cứ bạt mạng, sớm muộn thế nào cũng có phen xảy ra chuyện. Quả nhiên thế thật! Không rửa mau đi à? Rửa sạch rồi bôi thuốc đi!
Tường đỡ lấy khuỷu tay phải, đứng im. Phòng sách sạch sẽ thanh nhã thế kia mà anh ta mặt mũi bê bết máu, trông thật không ra sao cả. Mọi người dường như cũng thấy như thế nào ấy, cả vú Cao đứng lặng yên không nói năng gi cả.
Tường cúi đầu, khẽ nói, nhưng giống rắn rỏi:
- Thưa ông, ông tìm người khác kéo xe vậy. Tiền công tháng này, cháu xin để lại chữa xe. Càng xe gẫy, đèn bên trái vỡ mất miếng kính, còn những chỗ khác vẫn không sao cả.
- Rửa ráy, bôi thuốc đi đã, rồi nói chuyện đó sau.
Ông Tào nhìn vào tay mình, nói. Còn bà Tào thì đang nhẹ nhàng quấn băng cho chổng.
Vú Cao lúc ấy cũng nghĩ ra được lời rồi, liền nói:
- Rửa đi đã! Ông có nói gì đâu nào! Anh đừng cứ vẽ chuyện!
Tường vẫn đứng không nhúc nhích.
Không phải rửa, rồi sẽ khỏi thôi mà! Kéo xe... mà để người ngã, xe gẫy... thì còn mặt mũi nào...
Lời anh ta nói không diễn đạt được hết ý anh ta, nhưng tình cảm của anh ta đã bộc lộ ra hết; chi còn thiếu nước khóc òa lên nữa thôi. Xin thôi việc, để tiền công lại, đối với anh ta, thế cũng gần như là tự sát. Nhưng lúc này trách nhiệm và thể diện hầu như còn trọng hơn cả tính mệnh, bởi vì người ngã không phải là ai khác mà lại chính là ông Tào. Giả dụ, anh ta làm mụ Dương ngã thì cũng chẳng sao! Đáng kiếp! Đối với mụ Dương, anh ta có thể dở cái thói ngang bướng ngoài đường ra, bởi vì mụ ta có coi anh ta ra con người đâu, thì anh ta cũng chẳng cần phải tử tế làm gi. Tiền trên hết, nói gì đến thể diện, đến lịch sự lễ phép! Nhưng ông Tào hoàn toàn không phải người như vậy. Anh ta cần phải hy sinh đồng tiền đi để giữ lấy thể diện. Anh ta không giận ai cả, mà chỉ giận cái số mình. Hầu như anh ta đã nghĩ thế này: ra khỏi nhà ông Tào, anh ta không bao giờ đi kéo xe nữa; cái mạng mình không ra gì, chết cũng chẳng sao, nhưng còn mạng người ta? Nhỡ người ta ngã chết, thì làm thế nào? Trước đây, anh ta không nghĩ đến chuyện đó, nhưng lần này anh ta làm ông Tào ngã bị thương, nên mới nghĩ đến chuyện đó. Thôi được rồi, tiền công chẳng lấy nữa, từ nay đổi nghề, không làm cái nghề đèo mạng con người ta trên lưng nữa. Kéo xe là cái nghề lý tưởng của anh ta, bỏ cái nghề này cũng cầm bằng bỏ hết mọi hy vọng. Anh ta nghĩ, rồi đây anh ta sẽ sống ru rú một xó cho qua ngày, không nghĩ đến chuyện trở thành một tay kéo xe cừ nữa. Sức dài vai rộng thế này cũng uổng thôi! Hồi kéo xe lẻ, anh ta từng tranh khách rất ngang ngược, để người ta chửi bới, nhưng mặt dày mày dạn như vậy được chính là vì anh ta muốn khấm khá lên, muốn mua cái xe, cho nên có thể tự tha thứ cho mình. Nay kéo xe tháng mà lại để xảy ra tai nạn, thì ăn nói thế nào đây? Nhỡ người ta biết chuyện thằng Tường làm ngã người, hỏng xe thì sao? Kéo xe tháng đâu có cái kiểu ấy, thế còn ra cái trò gì! Thằng Tường đến mạt kiếp! Anh ta không thể chờ để ông Tào đuổi, thôi thì đành cuốn gói trước đi!
Tay ông Tào đã băng bó xong.
- Anh Tường! Rửa ráy đi đã! Đừng nói đến chuyện xin thôi việc vội. Chẳng phải là lỗi tại anh. Đổ đá ở đây thì phải treo đèn đỏ chứ! Thôi, rửa ráy rồi bôi thuốc đi!
Vú Cao lại nghĩ ra được lời để nói rồi:
- Thưa ông, ông nói như thế là phải đấy ạ! Anh ấy xấu hổ. Làm ông ngã đau thế kia! Nhưng ông đã cho không phải lỗi ở anh, thì anh cũng chẳng tội gì mà băn khoăn nữa. Xem kìa, lớn thế kia rồi, mà vẫn như trẻ con! Cứ rối lên! Bà bảo anh ấy một câu cho anh ấy yên lòng!
Vú Cao nói như máy hát, cứ trơn lu, nói với người này rồi nói với người kia mà chẳng thấy "khởi thừa chuyển hợp" gì cả.
- Thôi rửa mau đi! Trông thấy máu tôi sợ lắm!
Bà Tào chỉ nói mỗi câu như thế thôi.
Tường trong bụng rất bối rối, cuối cùng nghe bà chủ nói trông thấy máu mà sợ, thì anh ta dường như đã tìm được cách để bà ta yên lòng. Anh ta liền bưng chậu nước ra ngoài cửa phòng, rửa qua loa.
Vú Cao cầm lọ thuốc đứng phía trong cửa chờ. Bôi khắp một lượt trên mặt cho anh ta rồi, vú Cao liền nhắc:
- Còn chân tay có việc gì không?
Tường lắc đầu:
- Không việc gì cả.
Vợ chồng ông Tào đi nghỉ. Vú Cao mang lọ thuốc theo Tường đi ra. Qua phòng anh ta, vú bỏ lọ thuốc đây, rồi đứng ở cửa, nói:
- Lát nữa rồi bôi lấy nhé! Này, anh không nên nghĩ ngợi nhiều về chuyện ấy nữa. Trước kia, hồi còn nhà tôi, tôi cũng bỏ việc luôn. Một là, tôi đi làm ở ngoài này khó nhọc, nhưng nhà tôi chẳng muốn cho mở mặt mở mày, thành ra bực lắm cơ! Hai là, hổi đó còn trẻ đang hăng, nói trái tai một tiếng là tôi thôi ngay! Đổ mồ hôi sôi nước mắt, đổi lấy đồng tiền, chứ có phải đi làm thân trâu ngựa như người ta đâu. Bà có tiền có của, tôi chẳng ra gì cũng là người. Tôi không thế hầu hạ bà được. Bây giờ thì cũng đã khá nhiều rồi. Nhà tôi chết đi, tôi chẳng thương nhớ gì cả, tính nết cũng thuần hơn. Tôi ở cái nhà này, ấy thế cũng được ba năm rồi đấy nhé! Chứ không à? Vào từ ngày mồng chín tháng chín mà! Tiền cho vặt chẳng có gì, nhưng người ta ăn ờ tử tế. Bọn ta làm thuê chỉ cốt kiếm đồng tiền. Được vài lời nói khéo không thôi thì cũng không ăn thua. Nhưng, lại phải nói thế này mới được, cái gì thì cũng nên tính về lâu về dài. Vào mồng ba ra mồng bốn, một năm nghỉ tới sáu tháng, thế còn ăn thua gì! Chẳng bằng gặp phải chủ nhà mềm mỏng ôn tồn, chịu khó làm cho lâu lâu, tiền cho vặt ít một chút, nhưng cứ đều đều như vậy thì cũng có thể dành dụm được dăm ba đồng. Cái chuyện ngày hôm nay ấy mà, ông chủ đã không nói thì thôi, việc gì phải thế. Cũng chẳng phải là tôi lên mặt người lớn đâu, nhưng anh còn ít tuổi, dễ nóng. Nhất thiết không nên thế. Có ai giận mà no được! Người như anh thật thà như đếm thế kia, cứ ở yên đây mà làm ít lâu, còn hơn là chạy rong suốt ngày khắp phố phường. Chẳng phải tôi nói để lấy lòng họ đâu, tôi nghĩ cho anh mà nói đây thôi, cùng làm một chỗ với nhau thế này cũng vui - Vú thở dài một tiếng rồi nói tiếp - Thôi được rồi, đi ngủ đi, đừng có bực mình nhá! Tính tôi thẳng, nghĩ thế nào thì nói thế!
Khuỷu tay phải của Tường đau lắm, nửa đêm anh ta vẫn chưa chợp mắt được. Suy tính thiệt hơn, anh thấy vú Cao nói cũng phải, cái gì cũng giả hết, chi có tiền là thật thôi! Dành dụm tiền mua lấy chiếc xe, không phải giận dỗi mà no bụng được! Nghĩ đến đấy, anh ta thấy trong lòng hơi thư thái, thế rồi ngủ thiếp đi.
8
Ông Tào đem xe sửa, nhưng cũng không trừ đồng tiền công nào của Tường. Bà Tào cho hai viên "Tam hoàng bảo lạp", anh ta cũng không uống. Anh ta không nhắc đến chuyện xin thôi việc nữa. Tuy mấy ngày liền, anh ta cứ thấy ngường ngượng, nhưng lời nói của vú Cao đã át đi được, ít lâu sau, cuộc sống trở lại bình thường, anh ta dần dần quên đi và bắt đẩu hy vọng. Những lúc anh ta ngồi một mình trong phòng, mắt anh ta sáng lên. Anh ta tính toán nên dành dụm đồng tiền, như thế nào, mua xe như thế nào, miệng cứ lẩm ba lẩm bẩm, y như người có tâm bệnh. Anh ta không giỏi tính lắm, nhưng trong bụng cũng như đầu cửa miệng, lúc nào cũng lẩm nhẩm "sáu sáu băm sáu", con số đó không liên quan gì mấy đến số tiền của anh ta, nhưng anh ta có lẩm nhẩm như thế thì mới thấy vững dạ hơn, y như là có được một số vốn rồi vậy. Anh ta rất phục vú Cao, thấy tâm địa cũng như tài năng, vú hơn bao nhiêu anh đàn ông khác, vú nói có lý lắm. Anh ta không dám chuyện trò với vú, nhưng khi gặp vú ở sân hoặc cổng, nêu vú rỗi việc nói chuyện với anh, thì anh ta cũng rất thích nghe. Chuyện của vú thường làm anh ta phải ngẫm nghĩ lâu, nên mỗi khi gặp vú, anh ta hay cười, vẻ ngớ ngớ ngẩn ngẩn. Vú biết là anh ta rất phục những lời vú nói, vú cũng thấy rất đắc ý, dù cho không rỗi nhưng cũng nói vài câu.
Có điều, về cách dành tiền thì anh ta không dám liều theo ý vú. Theo anh ta, ý vú thực ra cũng hay đấy, nhưng có phần mạo hiểm. Anh ta rất muốn nghe vú nói, để học lấy ít điều khôn, đầu óc mở mang thêm ra; nhưng khi thực hành, anh ta vẫn theo ý cũ của mình - không chịu để tiền rời khỏi tay một cách dễ dàng.
Đúng, vú Cao quả là người khôn khéo. Từ ngày góa chổng, mỗi tháng thừa ít nhiều, vú cho vay cả, món một đồng, món hai đồng. Người vay là cậu quít, cô sen, thầy cảnh sát hạng nhì hạng ba, kẻ buôn thúng bán mẹt, lãi ít nhất cũng là ba phân. Những người đó chỉ vì một đồng bạc thôi mà phải chạy ngược chạy xuôi đỏ cả mắt cũng chẳng xoay ra, ai cho vay, dù một đồng phải trả thành hai, họ cũng cứ ngửa tay ra vay. Ngoài cách đó, họ không sao nhìn thấy mặt đồng tiền. Tiền mà họ nhìn thấy là tiền có chất độc, cẩm lấy là nó sẽ hút cạn máu, nhưng họ vẫn cứ phải cầm. Phàm những cái gì có thể giúp họ dễ thở trong chốc lát là họ có gan cầm lấy tất. Hãy thở được cái đã, tính mệnh thế nào rồi sẽ hay, ngày mai sẽ nói chuyện ngày mai. Hổi chồng còn sống, chính vú dã từng nếm cái chất độc đó rồi. Chồng vú uống rượu say mèm đến tìm vú, không có một đồng thì không sao đẩy anh ta về được. Không có, anh ta sẽ làm ầm lên ở ngoài cổng. Chả còn cách nào khác, lãi nặng mấy, vú cũng phải đi vay. Vú đã trải qua nên vú học được cái kiểu ấy, không phải vì vú muốn trả thù, mà vú coi đó là một chuyện hợp lý, hầu như là một việc thiện giúp người trong cơn nguy khốn nữa kia. Người cần vay tiền, cũng như người có tiền cho vay, "Chu Du đánh Hoàng Cái”[*] hai bên đều tự nguyện cả.
[*]Chu thich: Rút trong chuyện Tam Quốc, Hoàng Cái, tướng của Chu Du tình nguyện bị đòn để thi hành “khổ nhục kế”, đánh lừa Tào Tháo trong trận Xích Bích (ND).
Về tôn chỉ, vú Cao không thấy việc này có điều gì không ổn, thì về phương pháp, vú phải chặt chẽ một chút. Không thể đem tiền ném thìa lia trên mặt nước được; làm thế nào thì nói thế ấy. Việc này cần phải tinh ý, mánh khóe, cẩn thận, chanh chua, mới không đến nỗi mất toi. So với giám đốc nhà ngân hàng, vú Cao phải hao tổn tâm cơ hơn. Vốn nhiều, ít khác nhau, nhưng "chủ nghĩa" thì y như nhau, bởi vì đây là xã hội tư bản, giống như một cái rây cực kỳ tinh vi, rây tiền từ trên xuống, từng tí từng tí một, càng xuống dưới thì tiền càng ít, đồng thời cũng rây cả "chủ nghĩa" xuống. Có điều chủ nghĩa thì trên hay dưới đều như nhau, bởi vì chủ nghĩa không phải như tiền, mức rây nhỏ thì không lọt. Nó là vật vô hình, lỗ rây nhỏ đến mấy cũng lọt. Ai cũng kêu vú Cao là tay đáo để, vú cũng thừa nhận như thế; vú đáo để là vì vú đã bị dày vò nhiều. Mỗi lúc nhớ lại nỗi khổ trong những ngày qua, đến cả chồng mình mà cũng vô tình vô lý như thế, vú nghiến chặt răng lại. Vú có thể rất hiền lành, mà lại cũng có thể rất cay nghiệt, vú biết không thế thì không sống trên đời này được.
Vú khuyên Tường đem tiền cho vay là hoàn toàn do ý tốt của vú. Giả dụ anh ta bằng lòng, thì vú có thể giúp anh ta.
- Anh Tường này, để trong túi, một đồng vẫn cứ là một đồng! Bỏ ra cho vay, bạc lại đẻ ra bạc! Đúng thế đấy, chúng ta có mắt để làm gì? Nhìn cho tinh rồi mới bỏ tiền ra, không thể để mất toi! Nếu thầy cảnh sát nào mà không trả lãi, hoặc không chịu hoàn gốc, tôi đến gặp lão xếp của hắn! Chỉ cần nói một câu thôi hắn bị đuổi ngay. Lại dám thế à! Hỏi dò đúng ngày lĩnh lương, đè ra mà lấy! Không trả, đâu có chuyện lạ thế! Cứ thế mà suy, cho ai vay, ta phải nắm chắc đàng chuôi. Hừ, cho vay mà lại như "đáy bể mò kim", sao ổn! Cứ nghe tôi, không sợ suy suyển gì đâu!
Tường không cần nói gì cả, chỉ cái vẻ mặt anh ta chứng tỏ anh ta rất phục lời vú Cao. Nhưng đến khi ngồi tính toán một mình, anh ta thấy tiền nắm trong tay chắc chuyện hơn cả. Phải rồi, tiền nắm trong tay là tiền chết, không đẻ thêm ra, nhưng lại không thể mất đi đâu được. Anh ta khẽ lấy mấy đồng bạc dành dụm mấy tháng nay ra nhìn - toàn bạc trắng cả. Anh ta lật đi lật lại từng đồng một, sợ nó kêu thành tiếng. Những đồng bạc trắng xóa, dày dặn, trông mà sướng con mắt, anh ta càng thấy không thể nào rời ra được, trừ phi bỏ ra mua xe thì không kể. Mỗi người một cách, anh ta không thể cứ cái gì cũng nghe theo vú Cao.
Nguyên trước kia ở nhà ông Phương, trong nhà lớn bé, cả người làm nữa, ai cũng có một cuốn sổ gửi tiền ở bưu cục. Bà Phương đã khuyên anh ta:
- Một đồng là có thể đứng tên một cuốn sổ rồi, sao anh không gửi! Các cụ nói rất đúng: "Lúc có phải nghĩ đến lúc không, để khỏi lúc không ngồi mong lúc có" - Đang lúc trẻ, không nhân lúc khỏe mạnh trai tráng dành dụm ít nhiều, một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, chẳng thể ngày nào cũng nắng ráo. Gửi tiền như thế đã tiện, lại chắc chắn, có đồng lời, lúc nào cần đến là có thể trích ra một ít mà tiêu pha, còn muốn tiện lợi thế nào nữa! Đi xin cái giấy về đây, anh không biết viết, tôi viết hộ cho, cốt giúp anh thôi mà!
Tường biết bà ta có lòng tốt muốn giúp mình, và cũng biết bác bếp Sáu, u Tần đều muốn có sổ cả, anh ta cũng muốn thử xem sao. Nhưng một hôm, cô con gái nhớn của ông bà Phương sai anh ta đi gửi hộ mười đồng, anh ta đã nhìn kỹ cái cuốn sổ con kia, thấy có viết chữ, và dấu nhỏ đóng bằng mực đỏ. Hừ, tất cả gộp lại chỉ bằng tờ giấy nhỏ đi ngoài thế này thôi à! Đưa tiền cho họ, họ ngoáy cho mấy chữ vào sổ, rồi đóng cho con dấu, anh ta thấy đây nhất định phải là cái trò lừa bịp. Đồng bạc trắng phau như thế này, đem quẳng vào đó, rồi tin chắc vào mấy nét chữ nguệch ngoạc kia, Tường không đời nào lại mắc vào cái dại ấy. Anh ta ngờ nhà ông bà Phương này thông lưu với cái bưu cục kia - Anh ta nghĩ bưu cục là một hãng buôn có nhiều chi nhánh, có lẽ cũng có tiếng tăm lâu đời, ít nhất cũng xấp xỉ như Đoan Phù Tường, hoặc Hồng Ký chẳng hạn - cho nên mới thiết tha chèo kéo khách hàng như vậy. Dù thực sự không phải như vậy, tiền nắm trong tay cũng chắc hơn ghi trong sổ, chắc hơn nhiều! Trong sổ thì chỉ có ghi mấy chữ thôi!
Đôi với ngân hàng ngân hiếc, anh ta chỉ biết có thể đón khách ở đó mà thôi. Giả dụ các ông đội xếp không cấm đỗ xe ở đó, thì nhát định anh ta sẽ "có khách". Còn như trong đó người ta làm những trò gì, anh ta đoán không ra. Phải rồi, ở đó nhát định phải có rất nhiều tiền, nhưng anh ta không hiểu sao lại cứ phải đến chỗ đó mà nô rỡn với tiền mới được. Đằng nào thì cũng chẳng dễ gì mà với tới những nơi thế vậy cũng chẳng cần phải bận tâm suy nghĩ. Ở thành phố có bao nhiêu việc anh ta không hiểu, nghe anh em kháo nhau trong quán nước, anh ta càng thấy mù tịt, bởi vì mỗi người một phách, anh nào nói cũng chẳng đến đầu đến đũa. Anh ta không buồn nghe, mà chẳng buồn nghĩ đến nữa. Anh ta nghĩ, giả dụ ăn cướp chẳng hạn, thì tốt nhất là cướp ngân hàng. Nếu không muốn làm thổ phỉ, thì mình cứ giữ lấy tiền của mình là hơn cả, còn những chuyện gì ở đâu mặc kệ. Anh ta biết đó là cách ổn nhất.
Vú Cao biết rõ là anh ta nóng lòng mua xe, lại bày cách khác cho anh ta:
- Anh Tường này! Tôi biết anh không muốn cho vay, cốt là để mau mau mua được cái xe riêng. Kể thế cũng phải. Nếu tôi là đàn ông, mà cũng lại kéo xe, thì nhất định tôi phải kéo xe riêng của tôi; của riêng mình mình kéo, chẳng phải cầu cạnh ai! Nếu được như thế thì đổi tôi chức tri huyện tôi cũng không đổi. Kéo xe kể cũng mệt đấy, nhưng tôi mà là đàn ông, có sức lực thì tôi thà kéo xe chứ không thèm làm đội xếp. Quanh năm suốt tháng đứng đường, mỗi tháng được hai đồng bạc! Chẳng có bổng lộc gì, lại bị gò bó, đến lúc có tuổi lại tống ra, thật chẳng được mẹ gì cả. Tôi bảo này, phải đấy, nếu anh muốn chóng mua được xe, tôi bày giúp anh cách này hay lắm: chơi một chân hụi, độ mười người, nhiều nhất là hai chục người, mỗi người mỗi tháng đóng hai đồng, anh mở tháng đầu, thế không phải có ngay bốn chục rồi không? Chắc thể nào anh đã để dành được ít nhiều rồi, đập thêm vào, mua luôn cái xe mà kéo, thế là xong. Mua được xe rồi, anh chỉ còn việc tháng tháng góp tiền nữa thôi, chẳng phải trả lãi, lại đàng hoàng, chắc là vừa ý anh! Anh mà muốn chơi họ thật thì tôi xin vào một chân, không nói đùa đâu, thế nào?
Quả thật chuyện này có làm cho tim Tường đập nhanh hơn một chút! Anh ta rất muốn mau mau góp được ba bốn chục đồng, cộng thêm với hơn ba chục đồng mà lão Tư Lưu còn giữ, với lại mấy đồng lẻ hiện có trong tay, chẳng gần được tám chục rồi hay sao? Dù không mua nổi một cái xe mới toanh, nhưng nhất định thế nào cũng tậu được một cái trông còn tươm! Huống chi, nếu vậy, anh ta có thể đến lão Tư Lưu đòi tiền về, khỏi phải cứ gửi mãi đấy, chẳng ra sao cả. Không mới lắm cũng được, cứ kéo đi đã, sau này dư dật sẽ thay cái khác.
Nhưng, tìm đâu cho ra hai chục người như thế bây giờ? Dù cho rủ được đủ số, nhưng đây là một việc tình nghĩa, mình cần tiền mình mời họ góp, nhỡ rồi sau này người ta cũng mời mình góp thì sao? Chơi hụi, thời buổi này hay vỡ lắm kia! Tài trai chẳng cần phải nhờ vả ai cả, dứt khoát như thế, số mình mua được xe thì mua, không cần nhờ vả ai cả!
Thấy Tường làm thinh, vú Cao muốn trêu anh ta một hổi, nhưng nghĩ lại thấy anh ta thật thà như thế, nên vú không nỡ:
- Anh này hay thật! "Đuổi lợn trong ngõ hẻm, chạy tới rồi lại chạy lui"[*]. Thôi vậy.
[*]Chu thich: Ý nói: Cứ trơ ra, nói sao cũng chẳng chuyển (ND).
Tường chẳng nói gì cả, đợi vú Cao đi rồi, anh ta mới gật gà gật gù một mình, dường như có vẻ đắc ý với cái tài "khư khư như từ giữ đền" của mình.
Đã sang đông rồi. Buổi tối, trong ngõ, ngoài tiếng rao hạt dẻ, đường, lạc rang ra, lại còn có cả tiếng rao khe khẽ buồn buồn "mua bô ra mua" - Gánh hàng bô lại còn bán cả "lợn đất" nữa. Tường mua một con thật to. Bán mở hàng nên người bán hàng không có tiền lẻ trả lại, Tường hứng lên, thấy cái bô xinh xinh, men xanh bóng kia rất thích, liền, nói nhẹ nhàng:
- Thôi, không phải trả lại nữa, tôi lấy thêm cái này!
Để con lợn đất đấy, anh ta mang chiếc bô nhỏ chạy vào nhà:
- Cậu còn thức à? Biếu cậu cái này, hay lắm!
Cả nhà đang thức trông bé Văn - con trai nhỏ của vợ chổng ông Tào - tắm, thấy cái bô không ai nín cười được. Vợ chổng ông Tào không nói gì cả, chắc nghĩ lấy cái đó làm đổ chơi thì hơi ngốc, nhưng lòng tốt của Tường thì không nên từ chối, nên cả hai vợ chổng nhìn anh ta, mỉm cười, tỏ ý cám ơn. Còn vú Cao thì không đời nào lại để miệng rỗi:
- Cái anh Tường này thật là!... To xác thể mà còn bày cái trò ấy ra! Trông có chướng mắt không!
Bé Văn thích lắm, lấy tay vốc nước trong chậu tắm đổ vào bô.
- Cái ấm này, miệng to chưa!
Cả nhà lại cười ầm lên. Tường ngượng nghịu đi ra. Bao giờ cũng thế, hễ có chuyện gì đắc ý là anh ta đâm ra lúng túng. Anh ta rất khoái, đó là chuyện chưa hề xảy ra. Mọi người tươi cười nhìn anh ta, dường như anh ta là một nhân vật rất quan trọng vậy. Anh ta vừa mỉm cười, vừa mang mấy đồng bạc trắng ra, nhẹ nhàng bỏ vào con lợn đất, nghĩ thầm trong bụng:
- Thế này là chắc chắn hơn cả! Bao giờ đủ số rồi thì đập vào tường, choang một tiếng, tiền rồi còn lại nhiều hơn cả mảnh sành nữa kia đấy!
Anh ta nhất quyết không nhờ vả ai. Ngay lão Tư Lưu đáng tin cậy là thế vậy mà có lúc cũng thấy khó chịu. Tiền thì chẳng mất đi được đâu, nhưng nằm trong tay lão ta, dù sao cũng vẫn không yên lòng.
Tiền cũng giống như cái nhẫn, đeo vào tay là ổn nhất. Quyết định đó làm anh ta vui lên, anh ta cảm thấy dường như thắt lưng được chặt hơn, do đó ngực có thể ưỡn ra, mạnh mẽ hơn.
Trời càng ngày càng lạnh, Tường hầu như không cảm thấy gì cả. Trong bụng anh đã có chủ định rõ ràng, mắt thấy sáng sủa ra, mà đã thế thì không biết lạnh nữa. Mặt đất đã đóng một lớp băng mỏng, ở các con đường nhỏ, đất cứng cả lại, đâu cũng khô ráo, rắn chắc, đất đen cũng thấy vàng vàng, dường như đã bốc hết hơi ẩm. Nhất là sáng sớm, sương đọng trắng trên những gờ đất do vết bánh xe để lại. Gió nhẹ nhưng buốt thổi bay mây sớm, để lộ bầu trời cao tít, xanh ngắt, đẹp vô cùng. Tường thích kéo xe chạy một cuốc rõ sớm, gió lạnh ùa vào ống tay áo, làm cho anh ta vừa run vừa khoan khoái, như tắm nước lạnh. Có khi gió mạnh thốc tới, anh ta thở không ra hơi, nhưng vẫn cúi đầu, nghiến răng, cứ thế lao về phía trước, y như một con cá bơi ngược dòng nước. Gió càng to, anh ta chống chọi càng mạnh, y như quyết thi gan với gió. Bất chợt một con gió mạnh thốc tới, làm anh ta thở không ra hơi nữa, anh ta liền mím miệng, một hồi lâu, rồi "phà" một cái, y như vừa hụp sâu xuống nước. "Phà" một cái, rồi anh ta tiếp tục chạy xông lên phía trước. Không cái gì có thể ngăn nổi con người cao lớn này; khắp người anh ta, gân cốt nổi lên, y như con sâu bị kiến đốt, toàn thân phải cựa quậy để chống đỡ. Mổ hôi ướt đầm! Đến lúc hạ càng xe xuống, ưỡn thẳng lưng ra, thở phào một cái, phủi sạch bụi cát hai bên mép, anh ta cảm thấy anh ta là vô địch. Nhìn ngọn gió cuốn theo bụi đất vút qua trước mặt, anh ta gật gật đầu. Gió thổi uốn cong cây cối bên đường, xé rách cả băng vải chiếu hàng treo trước các cửa hiệu, bóc hết các tờ quảng cáo dán trên tường, che lấp cả mặt trời, kêu gào, gầm thét, quay cuồng lồng lộn, rồi bỗng lại xông thẳng tới, y như con yêu tinh rồ dại cứ lao bừa đi chẳng kể trời đất gì cả, rồi bỗng lại hoảng hốt. Cuốn đi tất, ba bề bốn bên, như một con ác quỷ phá phách lung tung, rồi lại thình lình quét ngang, thừa khi không phòng bị, tấn công mọi cái ở trên mặt đất, bẻ gẫy cành cây, bóc ngói trên mái nhà, xoắn đứt dây điện. Nhưng Tường vẫn đứng đó nhìn. Anh ta vừa từ trong trận gió ra, gió có làm gì được anh ta đâu! Kẻ thắng chính là anh ta! Gặp khi xuôi gió, anh ta chỉ cần nắm chặt càng xe, chẳng phải chạy, gió sẽ đẩy bánh xe quay giúp anh, y như một người bạn tốt.
Tất nhiên, anh ta không phải đui mù nên cũng đã nhìn thấy được tình cảnh của những người phu xe già yếu. Họ mặc chiếc áo rách chỉ cần một làn gió nhẹ cũng đủ làm cho họ thấy buốt thấu xương, còn gặp gió to thì lại càng tả tơi, chân thì không hiểu quấn buộc cái quái gì ấy. Ở bến xe, họ run lẩy bẩy, mắt lấm lét như kẻ cắp, bất cứ có một người nào đi ra, họ cũng tranh nhau mời: "Xe không ạ?".
Kéo được một món khách, họ thấy nóng ran cả người, mồ hôi thấm ra ngoài làn áo mỏng tanh, rách rưới kia. Đến khi dừng lại mồ hôi như đóng băng ở lưng. Gặp gió là họ không sao cất chân lên được nữa, đành phải dựa vào xe mà đi. Gió từ trên táp xuống, thì họ cúi sát mặt tận ngực. Gió từ dưới bốc lên, chân họ hầu như không chạm đất. Gió từ phía trước ào lại, vừa nhác tay lên thì y như thả diều. Gió từ phía sau thốc tới, họ không sao điều khiển được thân hình họ và cái xe nữa. Nhưng họ phải dùng đủ mọi cách, đưa hết sức lực ra, cố sống cố chết bám lấy cái xe mà kéo nó tới nơi, liều mạng vì mấy đồng xu. Kéo được một cuốc, bụi đất và mổ hôi quyện với nhau thành một lớp bùn, bết vào mặt, chỉ để lồi hai con mắt và cái miệng, cả thảy ba cái vòng tròn đỏ ửng lên vì giá lạnh. Ngày ngắn như thế, rét như thế, phố xá vắng tanh. Chạy suốt một ngày, khổ dường kia, chưa chắc đã đủ no một bữa. Nhưng già thì ở nhà còn vợ còn con; trẻ thì ở nhà còn bố mẹ anh em. Mùa đông, bọn họ chẳng khác gì dưới địa ngục, hơn hồn ma còn biết thở, nhưng lại không được an nhàn như hồn ma, hồn ma đâu có vất vả như họ. Đối với họ, chuyện an nhàn thoải mái nhất là được chết như con chó ở đầu đường. Nghe nói, ma chết rét vẻ mặt vẫn tươi.
Lẽ nào Tường lại không nhìn thấy những cảnh ấy. Nhưng anh ta thì giờ đâu mà thương xót lo buồn cho họ. Những nỗi khổ sở họ chịu cũng chính là những nỗi khổ của anh ta. Có điều giờ đây anh ta đang khỏe mạnh trai tráng, chịu đựng được vất vả gian lao, không ngại rét mướt, không sợ gió mưa, ban đêm được chỗ nằm sạch sẽ, ban ngày được bộ quần áo tươm tất, cho nên anh ta nghĩ anh ta khác họ nhiều, không thể vơ đũa cả nắm. Giờ đây, tuy anh và bọn họ cùng chịu chung nỗi khổ, nhưng xét tới cùng, thì mức độ không phải hoàn toàn như nhau. Giờ đây, anh ta phải chịu khổ ít, mai kia, anh ta lại còn có thể thoát ra ngoài vòng được. Anh ta nghĩ, khi về già, quyết không đến nỗi vẫn phải kéo lê cái xe tã mà chịu đói chịu rét. Anh ta tin ưu thế hiện tại có thể bảo đảm cho thắng lợi tương lai. Cũng giống như các ông lái xe hơi thường gặp ở cửa khách sạn hoặc cửa biệt thự, không bao giờ lại chịu trò chuyện với phu xe. Họ cho rằng chơi với phu xe là mất giá trị. Thái độ của các ông lái xe hơi đối với phu xe, có phẩn nào giống như thái độ của Tường đối với các bạn đồng nghiệp già yếu. Cùng ở trong địa ngục cả, nhưng lại ở trong tầng lớp khác nhau. Họ không nghĩ cần phải đứng chụm lại với nhau một chỗ; mỗi người theo một đường, người nào cũng bị những điều hy vọng và sự cố gắng của mình làm cho mờ mắt. Ai cũng tưởng rằng tay trắng có thể nổi cơ đồ, trong cảnh tối tăm mờ mịt, mỗi người mò mẫm lối đi riêng. Tường không hề nghĩ đến những người khác, anh ta chi nghĩ đến tiền của anh ta và cơ đồ của anh ta trong tương lai mà thôi.
Phố phường dần dần đã có vẻ tết nhất rồi. Vào những buổi trời quang gió lặng, tuy vẫn hanh, nhưng hai bên đường đã thêm nhiều màu sắc: tranh tết, đèn lồng, nến đỏ, hoa lụa, bánh rán tẩm mật, bày cả ra, làm mọi người thấy vui trong lòng, nhưng đồng thời lại thấy thấp thỏm lo âu. Bởi vì, ai cũng muốn tết đến thì vui chơi vài ngày, nhưng ai nấy đều có gặp khó khăn không ít thì nhiều. Nhìn hàng tết bày ra ở hai bên đường, mắt Tường sáng lên, anh ta nghĩ rằng, thế nào chủ nhà cũng phải đi biếu xén nơi này nơi nọ, mỗi lần đi tất thể nào anh ta cũng được vài hào tiền thưởng. Tiền thưởng ngày tết chỉ ở mức hai đồng thôi. Không nhiều, nhưng khách đến chúc mừng năm mới, anh ta kéo về, thế nào mỗi cuốc cũng phải được hai ba hào. Gộp lại cũng được một món. Không chê ít, chỉ mong có được luôn luôn thôi. Con lợn đất của anh ta không đời nào phản chủ cả! Đêm khuya lúc rỗi rãi, anh ta trìu mến nhìn người bạn bằng đất nung chỉ biết nuốt tiền vào chứ không biết nhả tiền ra này, rồi khe khẽ khuyên nhủ:
- Này, chú mày cứ việc chén nhiều vào nhé! Bao giờ chú mày ăn no căng bụng thế là tớ khá rồi đó!
Tết, ngày càng đến gần hơn, loáng một cái đã mồng tám tháng chạp rồi. Nỗi vui mừng hoặc lo âu thúc người ta phải bố trí sắp đặt. Vẫn ngày hăm bốn giờ, nhưng những ngày này không giống những ngày khác, nó không cho phép người ta sống tùy tiện qua loa, mà nhất định phải làm một số việc gì đó, và phải xoáy quanh việc tết nhất, dường như thời gian có tri giác, có tình cảm, bắt người ta phải bận rộn theo nó. Tường thuộc về phía những người vui mừng: phố phường nhộn nhịp, tiếng rao hàng, hy vọng về món tiền thưởng ngày tết, tiền cho vặt, những ngày nghỉ đầu năm mới, những món ăn ngon lành... tất cả những cái đó làm cho anh ta vui mừng, chờ đợi, y như một đứa trẻ. Anh ta đã nghĩ kỹ rồi, thế nào cũng phải phá lẻ ra tám chín hào một đồng mua cái gì biếu lão Tư Lưu. Của ít lòng nhiều, thế nào cũng phải đưa một ít quà cáp đến, một là để xin lỗi, mấy lâu nay không đến thăm được vì công việc chủ nhà rất bận, hai là có thể nhân tiện rút hơn ba chục đồng tiền kia ra. Bỏ độ một đồng mà có thể lấy món tiền kia về, thế là lời rồi. Nghĩ thế anh ta khẽ lắc con lợn đất, tưởng tượng lúc bỏ thêm vào đó hơn ba chục đồng nữa, thì lắc sẽ thấy nặng tay vui tai biết mấy. Đúng thế chỉ cần đòi được món tiền đó về là không còn điều gì lo lắng nữa cả.
Một buổi tối, anh ta đang định lắc con lợn đất thì bỗng nghe tiếng vú Cao gọi:
- Anh Tường ơi! Ngoài cổng có cô nào tìm anh đây. Tôi vừa ở phố về, cô ta cứ đi theo hỏi tôi về anh - Khi Tường đi ra, vú ta lại nói thầm một câu - Trông cô ta y như cột nhà cháy ấy! Gớm khiếp!
Mặt Tường bỗng đỏ gay, rát như lửa đốt. Anh ta biết thế là hỏng chuyện rồi!
9
Tường hầu như không còn sức bước qua ngưỡng cổng nữa. Đầu óc anh ta choáng váng. Đứng ở trong cổng, nhờ ánh đèn ngoài phố, anh ta nhìn thấy ả Nĩu. Chắc ả lại đánh phấn, ánh đèn chiếu vào mặt ả trông hoi sạm, y như chiếc lá cây khô đen phủ một làn sương. Tường không nhìn vào mặt ả.
Vẻ mặt ả rất khó hiểu: mắt thì sáng lên như khao khát được gặp mặt Tường, miệng lại hé mở, để lộ một nét cười gằn, mũi hơi nhăn lại, trông vừa khinh khỉnh vừa có vẻ bực dọc, lông mày dướn lên. Khuôn mặt phủ một lớp phấn kỳ quặc kia, trông õng ẹo mà đanh đá. Thây Tường đi ra, ả bĩu môi mấy cái, vẻ mặt thay đổi khó mà tả được như thế nào. Ả nuốt nước bọt dường như cố nén tình cảm và che giấu nỗi lòng phức tạp của mình, rồi giở cái tài giao thiệp vốn học được của bố ra. Ả nửa buồn nửa vui, làm như không chú ý lắm, hỏi bông lơn:
- Anh khá thật! Mất mặt đâu không thấy quay lại nữa!
Giọng ả oang oang, y như ngày thường cãi nhau với anh em phu xe ở hãng vậy. Ả nói xong hai câu đó, thì nụ cười trên môi biến đâu mất. Dường như bỗng cảm thấy xấu hổ và ti tiện, ả cắn chặt lấy môi.
- Khe khẽ chứ!
Tường hầu như dồn hết cả sức lực lên miệng mới bật ra được mấy tiếng đó, tuy nhỏ, nhưng rất mạnh.
- Hừ! Sợ gì!
Ả Nĩu cười một cách ác ý, nhưng rồi bất giác cũng hạ thấp giọng:
- Thảo nào anh tránh mặt tôi. Thì ra ở đây có mụ vú em như con quỷ cái ấy! Tôi biết anh không phải vừa từ lâu rồi! Đừng thấy có vẻ ngốc nghếch mà nhầm, không ngốc mà vờ làm ra ngốc đấy thôi!
À lại nói oang oang.
- Khe khẽ chứ!
Tường chỉ sợ vú Cao đứng trong cổng nghe trộm.
- Đừng làm ồn lên! Ra ngoài kia đi!
Vừa nói, anh ta vừa bước ra ngoài đường cái.
- Ra đâu cũng thế thôi. Tôi cứ to tiếng thế đây!
Miệng thì phàn đối, nhưng ả vẫn cứ bước theo anh ta.
Qua đường cái, đến một lối đi nhỏ bên tay phải, vẫn chưa bỏ được thói quen ở nhà quê, Tường liền ngồi xổm xuống, cạnh bức tường quét vôi hồng của công viên, hỏi:
- Cô đến có việc gì thế?
- Tôi ấy à? Hừ! Nhiều việc lắm!
Tay trái chống nẹ, bụng hơi ưỡn ra một chút, ả cúi xuống nhìn Tường, ngẫm một tí, rồi như động lòng từ bi, thương hại anh ta:
- Anh Tường này! Tôi tìm anh có chuyện này, rất cần.
"Anh Tường này!", cái giống nhỏ nhẹ êm ái đó làm Tường bớt giận. Anh ta ngẩng đầu lên nhìn ả, vẫn không thương được, nhưng mấy tiếng "anh Tường này" vẫn còn đang âm vang trong lòng anh ta, mang theo sự êm đềm âu yếm, hình như nghe được ở đâu rồi, và nó làm thức dậy những tình cảm không thể phủ nhận dược, muốn dứt ra mà không sao dứt nổi. Anh ta hỏi, giọng vẫn khẽ, nhưng ôn tồn hơn:
- Chuyện gì thế?
Á nhích lại gần:
- Anh ạ! Tôi có rồi!
Anh ta ngớ ra:
- Có cái gì cơ?
- Cái này - Cô ả chỉ vào bụng mình - Anh nghĩ thế nào thì nghĩ!
Ngơ ngác, rồi "à" lên một tiếng, anh ta bỗng hiểu cả. Hàng vạn chuyện mà anh ta chưa từng nghĩ đến bao giờ lúc này đổ xô cả vào đầu óc anh ta, nhiều quá, gấp quá, rối quá, khiến đầu óc anh ta trở nên trống rỗng, y như cuốn phim đang chiếu bỗng nhiên bị đứt. Phố xá rất vắng vẻ, trên bầu trời, mấy đám mây đen che lấp mặt trăng. Thỉnh thoảng có một cơn gió nhẹ thổi tới, lay động cành khô lá héo. Xa xa vài tiếng mèo kêu như chọc vào tai. Lòng Tường từ rối bời bỗng trở nên trống rỗng, anh ta chẳng nghe thấy gì cả. Tay chống má, thẫn thờ nhìn mặt đất, anh ta nhìn mãi, thấy mặt đất dường như cũng rung chuyển. Nghĩ chẳng ra gì, mà cũng chẳng muốn nghĩ nữa, anh ta chỉ cảm thấy mình mỗi lúc một bé lại, nhưng vẫn không thể chui tụt xuống đất được. Cả sinh mệnh như dựa cả vào nỗi khốn khổ này. Ngoài ra, chẳng còn gì nữa cả! Lúc đó anh ta mới cảm thấy lạnh, đến môi mà cũng hơi run run.
- Đừng ngồi đó mãi, nói đi nào! Đứng lên!
Ả hình như cũng thấy lạnh, muốn đi đi lại lại mấy bước.
Tường đờ đẫn đứng lên, theo ả đi ngược lên phía trên, nhưng vẫn không tìm ra được lời nào để nói, toàn thân thấy tê dại, như người vừa bị cóng.
- Anh không nghĩ ra thế nào cả à?
Ả liếc nhìn Tường, vẻ thương hại. Tường vẫn không biết nói thế nào.
- Hăm bảy này là sinh nhật ông cụ, anh phải đến một tí!
- Gần tết, bận lắm.
Tuy lòng rối bời, nhưng Tường vẫn không quên công việc.
- Tôi biết anh là người chi ưa nặng chứ không ưa nhẹ. Nói với anh điều hơn lẽ phải cũng phí đi thôi!
Ả lại nói oang oang. Phố xá vắng lặng, nghe càng to, khiến Tường khổ tâm vô cùng.
- Anh tưởng tôi sợ người ta nghe thấy à? Anh định thế nào nào? Nếu anh không muốn nghe theo tôi, thì tôi cũng chẳng hơi đâu phí nước bọt với anh! Anh mà giở mặt, tôi sẽ đến tận nhà réo ba ngày ba đêm cho mà xem! Anh đi đâu tôi cũng tìm ra được! Tôi chẳng sợ thằng nào con nào cả!
Tường né ra một bước:
- Đừng làm ầm lên có được không?
- Sợ ầm lên à? Lúc đầu đừng lợi dụng có được không! Anh thỏa thích rồi, bây giờ để mình tôi chịu khổ. Sao không giương mắt thịt ra mà nhìn xem con này là con nào?
- Cứ thong thả nói xem nào!
Tường đang lạnh lắm, bị ả dồn cho một hồi, bỗng dưng thấy người nóng rực, hơi nóng như muốn phá làn da tê cóng mà bốc ra ngoài, khắp người thấy ngứa ngáy, đầu càng ngứa tợn.
- Chưa xong được với tôi đâu! Đừng có chuốc lấy chuyện phiền! - Ả trề môi, để lòi hai cái răng nanh - Chẳng biết điều tí nào cả, tôi thực bụng yêu anh, anh cũng đừng nên phụ lòng tốt của tôi! Anh mà trêu vào con này thì không ra gì đâu, bảo cho mà biết trước!
- Đừng có...
Tường định nói: "Đừng có vừa đánh vừa xoa như thế". Nhưng chưa nghĩ kịp hết câu. Những cách nói của đất Bắc Bình này, anh ta biết nhiều, có điều không nói ra; người ta nói, anh ta hiểu, nhưng anh ta không nói được.
- Đùng có... thế nào?
- Cô cứ nói đi!
- Tôi bảo anh nhé! - Ả đứng dừng lại, nhìn thẳng vào mặt anh ta nói - Này, anh mà nhờ người đến nói, nhất định ông cụ không bằng lòng đâu. Ông cụ là chủ có xe cho thuê, anh thì kéo xe, ông cụ không chịu hạ mình kết thân với người dưới. Còn tôi thì không kể gì hết, tôi yêu anh, thế là được rồi, chuyện gì cũng mặc mẹ nó! Ai làm mối tôi, ông cụ cũng chẳng nghe, động đến chuyện cưới xin là ông cụ tính toán ngay đến mấy chục chiếc xe của ông cụ rồi. Khối người hơn đứt anh, thế mà cũng chẳng ăn thua. Việc này tôi không áp đặt lấy thì không xong. Tôi ưng anh, chúng mình "tiền trảm hậu tấu", bây giờ đằng nào thì tôi cũng có mang rồi, hai ta chẳng ai chạy thoát được nữa! Nhưng cứ thẳng thừng ra mà nói, thì cũng không ổn. Ông cụ ngày càng đâm ra lẩm cà lẩm cẩm, chúng ta mà đê lộ, thì ông cụ sẽ rước một cô vợ lẽ về, tống cổ tôi đi. Ông cụ còn khỏe lắm. Đừng thấy gần bảy mươi rồi, nếu lấy vợ lẽ thật, thì nhiều không dám nói, tôi dám chắc vẫn có thể cho ra vài ba tí nhau nữa, tin hay không tin mặc anh!
- Vừa đi vừa nói chuyện...
Tường thấy tên đội xếp đi qua đi lại hai lượt rồi, đứng mãi thế không ổn.
- Cứ đứng đây mà nói, làm gì được nhau! - Theo ánh mắt của Tường, ả cũng nhìn thấy tên đội xếp kia - Anh không kéo xe thì việc gì phải sợ nó! Vô duyên vô cớ chắc nó dám đến ăn "gì" người ta chắc! Đi thế lại có vẻ là gian! Ta nói chuyện của ta! Anh ạ, tôi nghĩ thế này nhá: đến hăm bảy này, sinh nhật ông cụ, anh đến mừng ông cụ một tí. Rồi sang năm mới, anh lại đến chúc tết, lấy lòng ông cụ. Thấy ông cụ vui vẻ tôi sẽ mua rượu các thứ về để ông cụ đánh một bữa bí tỉ. Đợi đến lúc ông cụ ngà ngà say, thừa cơ, anh cứ nhận bừa ông cụ là bố nuôi. Sau đó, dần dà tôi sẽ cho ông cụ biết là tôi có mang rồi. Tất nhiên ông cụ sẽ tra hỏi, nhưng tôi sẽ cứ lặng thinh. Đợi đến khi ông cụ cuống cuồng lên, tôi sẽ đổ cho một người, tức là anh chàng Hai Kiểu giữ sổ sách ở cửa hiệu cho thuê đòn đám ma bên tay phải nhà ta, vừa chết cách đây ít lâu ấy mà. Hắn ta không có họ hàng thân thích gì cả, giờ nằm ở nghĩa địa ngoài cửa Đông Trực rồi, ông cụ còn biết truy hỏi vào đâu? Thế' là ông cụ đành chịu phép. Ta sẽ dần dần bắn tin; tiện nhất là nên gả phứt tôi cho anh. Con nuôi, nay làm con rể, cũng như nhau vậy thôi. Theo gió bẻ buồm, đỡ xấu mặt cả. Anh xem, tôi nghĩ như thế có được không?
Tường im lặng, chẳng nói chẳng rằng.
Thấy nói đã hết lời rồi, ả Nĩu đi ngược lên phía trước, đầu cúi thấp, gật gù, nửa có vẻ thưởng thức những lời nói của mình, nửa như để Tường có thì giờ mà suy nghĩ. Lúc bấy giờ, gió đánh tan mây, mặt trăng lộ ra, hai người đã đi đến đầu đường đằng kia. Nước sông Ngự Hà đã đông lại từ lâu, lặng lẽ, xám ngắt, phẳng phiu, rắn chắc, dọc theo bờ Cấm thành. Trong Cấm thành vắng lặng như tờ, vọng lâu lấp lánh, "bài phường”[*] chữ vàng sáng chói, cổng thành đỏ thắm, đình tạ trên Cảnh Sơn, tất cả đều im lìm, dường như đang lắng nghe những thanh âm chỉ có thể nghe được một lần. Một con gió nhẹ thổi tới như một tiếng thờ dài, lướt qua lâu đài điện các, như muốn nhắc lại những chuyện lịch sử xa xưa. Ả Nĩu rẽ sang phía tay trái, Tường đi theo, đến Kim Ngao Ngọc Đống. Trên cầu chẳng có ai, ánh trăng lu lạnh lẽo giải xuống hai sân băng lớn hai bên cầu. Xa xa, những lâu đài ảm đạm, tối tăm trông như đông cứng trên mặt hồ, chỉ còn lóp ngói vàng trên mái là còn sáng lờ mờ. Cây cối khẽ lay động, ánh trăng lại càng lu hơn, Bạch tháp cao vời vợi, trắng nhờ nhờ làm cho tất cả thêm phẩn lạnh lẽo tiêu sơ. Cả vùng Ba bể với những công trình điêu khắc, gọt giũa của con người, hiện rõ vẻ lạnh lẽo của phương bắc. Đến đầu cầu, khí lạnh từ hai phía bốc lên khiến Tường rùng mình, không muốn bước nữa. Thường ngày, khi kéo xe qua cầu, tinh thần anh ta tập trung cả vào đôi chân, chi sợ hụt bước, chẳng còn dám nhìn sang hai bên. Bây giờ, anh ta có thể tự do mà nhìn ngắm, nhưng trong bụng anh ta lại thấy cảnh sắc nơi này hơi có vẻ dễ sợ. Lớp băng xám lạnh kia, bóng cây khẽ lay động kia, tháp cao trắng xóa kia, tất cả đều lặng lẽ quá, dường như bất thình lình chúng có thể chồm lên, gào thét lên. Ngay cái cầu đá thanh ở dưới chân đây cũng rất cô quạnh, trông trắng quá, sạch quá; đến cả ánh đèn cũng có vẻ thê lương. Anh ta không muốn bước nữa, lại càng không muốn đi với cô ả. Quả thật anh ta chỉ muốn lao đầu xuống dưới kia, phá vỡ lớp băng, chìm hẳn đi, rồi chết cóng như con cá ở dưới lớp băng.
[*]Chu thich: Một loại cổng trang trí, thường bằng đá, trên có biển đề chữ (ND).
Bỗng anh ta quay trở lại:
- Thôi, bữa khác sẽ lại gặp nhau!
- Này, cứ thế nhé, hăm bảy này đấy!
Ả nói với theo sau cái lưng to và thẳng của anh ta. Nói xong, ả liếc nhìn Bạch tháp, rồi thở dài, đi về phía tay trái.
Tường không ngoái cổ lại, y như có ma đuối, mấy bước đã đến Cấm thành, đi nhanh quá, suýt nữa va đầu vào tường. Tay vịn tường, anh ta bất giác muốn òa lên khóc. Lặng đi một lát, anh ta bỗng lại nghe trên cầu có tiếng ả gọi:
- Anh Tường à! Anh Tường này! Lại đây, anh Tường!
Anh ta chậm rãi lê bước trở về phía cầu, thấy ả hơi ưỡn người, đi lại, miệng há hốc:
- Này, bảo anh lại đây cơ mà, cho anh cái này!
Tường chưa đi được mấy bước, ả đã đến sát gần bên cạnh rồi:
- Cầm lấy! Anh gửi hơn ba chục, có mấy hào lẻ nữa, tôi phụ thêm cho chẵn một đồng. Cầm lấy! Cốt chỉ để tỏ lòng tôi nhớ anh, yêu anh thế thôi! Chuyện khác chưa cần nói vội, anh đừng có vong ân phụ nghĩa, thế là được rồi. Cầm lấy, giữ cho cẩn thận, mất đừng có trách tôi đấy!
Tường cầm tập giấy bạc, ngẩn người, không biết nói thế nào cả.
Ả lại cười:
- Thôi được rồi. Hăm bảy này lại gặp nhau. Không đến không xong đâu nhé! Tiện cho anh lắm rồi, cứ thử tính mà xem.
Nói xong, ả quay đi.
Tường nắm chắc tập giấy bạc trong tay, đứng đờ người nhìn theo ả, cho mãi đến khi đầu ả khuất sau vòm cầu mới thôi. Mây đen lại che lấp mất mặt trăng, ánh đèn càng sáng hơn, chiếc cầu càng thêm trắng xóa, thêm vắng vẻ, lạnh lẽo. Anh ta quay người, rảo bước đi về, như người điên. Đến cổng đầu phố, anh ta vẫn còn cảm thấy cái bóng dáng trắng xóa, lạnh lẽo của chiếc cầu in sâu trong lòng, dường như mới chỉ cách đây trong nháy mắt.
Về đến nhà, trước hết anh ta đem tập giấy bạc kia ra đếm. Đếm đi đếm lại hai ba lần, mố hôi trong lòng bàn tay dính vào các tờ giấy bạc, đếm rất chậm. Đếm xong, anh ta liền bỏ vào con lợn đất. Ngồi bên thành giường, thẫn thờ nhìn vật bằng đất nung kia, anh ta định không suy nghĩ gì nữa cả. Có tiền khắc có cách. Anh ta tin rằng con lợn đất kia sẽ giúp anh ta giải quyết mọi việc, chẳng cần nghĩ ngợi gì hết. Ngự Hà, Cảnh Sơn, Bạch Tháp, cầu, ả Nĩu, cái bụng... tất cả đều là mộng ảo; tỉnh mộng, lợn đất thêm được băm mấy đồng, đó mới là chuyện thực!
Nhìn chán rồi, anh ta cất kỹ con lợn đất đi, định bụng làm một giấc rõ say, khó khăn mấy hẵng cứ ngủ cái đã, mai hẵng hay.
Nằm xuống, anh ta không sao nhắm mắt được! Những chuyện kia giống như một tổ ong, con ra con vào, con nào cũng có cái nọc sau đít cả.
Anh ta không muốn nghĩ nữa, nhưng thực ra cũng không biết nghĩ thế nào, ả Nĩu đã chặn hết mọi lối rồi, anh ta không sao chạy thoát được nữa.
Tốt hơn cả là bỏ đi nơi khác. Nhưng Tường không thể bỏ đi được. Dù sao anh ta ra coi Bạch Tháp ở công viên Bắc Hải, anh ta cũng vui lòng. Chi cần không phải về quê là được! Hay là đi tỉnh khác? Anh ta không nghĩ ra được nơi nào tốt hơn cái đất Bắc Bình này. Anh ta không thể bỏ đi được, anh ta vui lòng chết ở đây.
Nếu không định bỏ đi, thì những chuyện khác chẳng cần phải nghĩ nhiều nữa cho mệt. Ả Nĩu đã nói được, tất làm được. Không làm theo lời ả, ả sẽ lẵng nhẵng theo sau mà làm rầy rà thật đấy. Anh ta mà còn ở Bắc Bình thế nào ả cũng tìm ra được! Theo ả, thì phải nói thật, chứ đừng hòng tìm cách chuồn. Làm ả nóng mặt lên, ả có thể gọi lão Tư Lưu ra, lão ta sẽ thuê một hai thằng - chẳng cần nhiều hơn - tìm chỗ vắng vẻ nào đó, cho Tường đi đời.
Ngẩm nghĩ lại từ đầu đến cuối những lời ả Nĩu nói, Tường cảm thấy như rơi vào cạm bẫy, chân tay bị những cái kẹp kẹp chặt, không sao chạy thoát được. Anh ta không thể đánh giá từng ý của ả, cho nên không tìm ra được nhũng khe hở. Anh ta chi cảm thấy ả chăng lưới rất dày, ngay cả đến con cá nhép cũng không thể vượt ra được. Không thể nghĩ từng điều một, anh ta thấy chúng biến thành một sức ép, nặng như tấm cửa đập, hàng ngàn cân, đè lên đầu anh ta. Dưới sức ép không thể chống lại được đó, anh ta cảm thấy số phận một anh phu xe chỉ gồm trong hai tiếng: xúi quẩy. Một anh phu xe, đã là một anh phu xe, thì đừng nên làm gì cả, đàn bà con gái cũng đừng nên dính vào, dính vào là rước vạ tày trời. Lão Tư Lưu thì dựa vào mấy chục cái xe, còn ả Nĩu thì dựa vào cái của thối ấy để bắt nạt anh ta! Anh ta chẳng cần phải suy nghĩ làm gì nữa; nếu chịu theo số mệnh thì được rồi, cứ cúi đầu lạy nhận làm bố nuôi đi, rồi chờ mà rước con yêu tinh khôn nạn ấy về làm vợ. Nếu không chịu theo số mệnh, thì phải đạp đổ nó đi!
Nghĩ đến đây, anh ta liền gạt ả Nĩu cùng những lời lẽ của ả sang một bên. Đó không phải là ả ghê gớm đâu, mà chính là số mệnh của một anh phu xe phải như vậy. Cũng như con chó, tất phải chịu đánh đập, ngay cả đứa trẻ con, vô duyên vô cớ cũng có thể nện cho mấy gậy. Cái số đã vậy thì cần gì nữa! Đã liều thì liều một thể!
Anh ta không ngủ nữa, đạp tung chăn ngồi dậy, nhất quyết phải đi uống một bữa rượu thật no say. Nào là công việc, nào là quy củ, mặc con mẹ nó! Uống cho say rồi ngủ một giấc! Hăm bảy à? Hăm tám cũng chẳng đến lễ lạt gì cả, xem đứa nào làm gì được thằng Tường này! Khoác chiếc áo bông vào, mang theo cái bát con vẫn dùng uống nước, anh ta đi ra.
Gió thổi mạnh hơn. Mây xám trên trời đã tản đi. Mặt trăng bé nhỏ, ánh trăng tỏa xuống lạnh lẽo. Đang trong chăn ấm chui ra, anh ta cứ xuýt xoa mãi. Phố xá vắng tanh, không có ai đi lại. Chỉ có một chiếc xe tay, đỗ cạnh đường, anh xe, hai tay bịt lấy tai, đứng bên xe giẫm chân cho đỡ rét. Tường chạy thẳng đến một cửa hàng nhỏ cuối phố. Để khỏi lạnh, cửa hàng này đã đóng cửa; nhận tiền và giao hàng qua một lỗ nhỏ ở cửa. Tường mua bốn lạng rượu trắng, ba nắm lạc rang. Bưng bát rượu, anh ta không dám chạy, mà bước nhanh y như phu kiệu, về nhà. Chui vội vào chăn, hai hàm răng đánh cầm cập một hổi, anh ta không muốn ngồi lên nữa. Bát rượu trên bàn tỏa ra một mùi cay cay, anh ta không thấy thèm, ngay chỗ lạc rang kia, anh ta cũng chẳng muốn động đến. Con lạnh giống như một chậu nước lã dội vào người, làm anh ta tỉnh hẳn. Anh ta không muốn thò tay ra, đầu óc cũng không nóng như trước nữa.
Nằm một hồi, để hở mắt ra ngoài mép chăn, anh ta lại nhìn bát rượu để trên bàn. Không, anh ta không thể vì cái chuyện rắc rối kia mà hủy hoại thân mình, không thể từ đây trở đi mà đâm ra rượu chè be bét. Sự tình quả khó khăn thật, nhưng nhất định thế nào cũng có chỗ thoát ra được. Dù cho không thể nào thoát khỏi, cũng không thể nào nhảy xuống hố bùn; cần phải giương mắt lên, nhìn rõ xem người ta đây mình xuống như thế nào.
Tắt đèn, kéo chăn trùm kín đầu, anh ta định cứ thế mà ngủ đi. Nhưng vẫn không ngủ được. Anh ta lật chăn ra, ánh trăng ngoài sân chiếu vào lần giấy dán ở cửa sổ, trắng xanh, tưởng trời sắp sáng. Hơi lạnh trong phòng đem theo mùi rượu lùa vào mũi. Anh ta nhổm dậy, sờ bát rượu trên bàn, làm một hơi.
10
Giải quyết riêng từng chuyện thì Tường không có đủ thông minh, giải quyết toàn bộ thì anh ta cũng chẳng có cái tài ấy. Thế là, chẳng có cách nào cả, suốt ngày cứ bực bội trong bụng; cũng như mọi sinh mệnh khác, sau khi bị tổn thương, chỉ đành tự mình sắp xếp lấy tàn cục. Con dế kia bị đánh gẫy càng vẫn còn cố lết đi bằng mấy cặp chân nhỏ. Tường chẳng có chủ ý gì cả, chỉ định chịu đựng hết ngày này sang ngày khác, hết chuyện này đến chuyện nọ cho qua đi, được đến đâu hay đến đó, không còn nghĩ gì đến chuyện bay nhảy nữa.
Còn hơn mười hôm thì đến ngày hăm bảy, tâm trí anh ta hoàn toàn để cả vào đó. Óc nghĩ, miệng nhẩm, nằm mơ, đều là về ngày hăm bảy cả. Hầu như qua ngày hăm bảy anh ta có cách giải quyết được mọi chuyện, mặc dù anh ta biết rõ đó chi là tự dối mình. Có lúc, anh ta cũng nghĩ xa hơn, ví dụ mang mấy chục đồng chuồn sang Thiên Tân; đến đó, may ra có thể đổi nghề, không kéo xe nữa. Liệu à Nĩu có thể theo sang không nhỉ? Cứ như anh ta nghĩ, phàm nơi nào phải đi tàu đều xa cả, dù thế nào, ả cũng chẳng có thể nào theo sang được. Như vậy ổn nhất, nhưng lương tâm anh ta lại nghĩ rằng, vạn bất đắc dĩ mới phải làm như thế, còn ở lại được Bắc Bình thì cứ ở! Thế là, anh ta lại nghĩ đến cái ngày hăm bảy kia. Nghĩ gần như thế này mà khỏe hơn, chỉ cần qua được ải này là có thể đẩy các việc khác đi, không động chạm gì đến toàn cục, dù cho không thể rũ sạch được tất cả, nhưng cứ qua được cửa ải nào là biết được cửa ải ấy đã!
Làm thế nào mà lọt qua được cửa ải ấy.? Anh ta có hai ý định: Một là cứ mặc kệ ả, nhất định không đến mừng thọ, hai là cứ theo lời ả dặn mà làm. Hai ý định đó tuy khác nhau, nhưng kết quả như nhau: không đến đời nào ả chịu để yên, mà đến thì ả cũng không buông tha ra nữa. Anh ta nhớ lại, hồi mới kéo xe, bắt chước người ta, hễ cứ thấy ngõ con là rẽ vào định chạy tắt cho gần, nhưng vào nhầm ngõ, vòng quanh một hồi lại ra tới phố cũ. Giờ đây dường như anh ta đang chui vào một cái ngóc như thế, muốn đi đằng nào thì đi, rút cục thì cũng đến như vậy mà thôi.
Giữa lúc không tìm ra cách gì, anh ta thử nghĩ sang mặt tốt xem sao. Cứ lấy quách ả đi, thì đã làm sao nào? Nhưng nghĩ mặt nào cũng thế, anh ta đều thấy không xuôi. Nghĩ tới hình dáng ả, anh ta chỉ lắc đầu. Tạm xếp cái hình dáng bề ngoài đó, nghĩ đến hành vi ả, hừ, mình là người chí thú làm ăn thế, sống quy củ thế, mà lại đi rước cái đồ đĩ rạc ấy về à? Còn mặt mũi nào mà nhìn ai nữa; chết xuống âm phủ cũng chẳng giáp mặt bố mẹ! Ai biết đứa con trong bụng ả là con của mình hay con của ai? Ừ, ả có thể đem theo mấy cái xe kia về, nhưng liệu có chắc chắn không? Lão Tư Lưu không phải là tay dễ chơi đâu nhá! Giá thử mọi việc đều trôi chảy cả, thì anh ta không thể nào chịu đựng được. Liệu anh ta có thể chọi lại được với ả không? Ả chỉ cần giơ ngón tay út ra là anh ta đã đầu váng mắt hoa lên rồi, chẳng còn biết đất trời gì nữa. Anh ta biết bản lĩnh ghê gớm của ả lắm. Lấy vợ, thì không thể lấy ả được! Không có ai khác nữa hay sao? Lấy ả, anh ta chẳng còn ra gì. Mà anh ta đâu phải là người tự coi thường mình! Thật không còn cách nào cả.
Không có cách nào xử trí với ả, anh ta quay sang giận mình, muốn tự tát vào mặt mấy cái. Nhưng, nói thực tình, mình có lỗi gì đâu. Mọi chuyện đều do ả sắp xếp cả, chỉ chờ cho anh ta vào tròng. Hình như lỗi ở chỗ anh ta quá thực thà. Thực thà thì nhất định phải chịu thiệt, còn nói năng gì nữa!
Điều khiến anh ta buồn hơn cả là không biết kêu ca, phàn nàn với ai. Anh ta không có cha mẹ, anh em, bè bạn. Thường ngày, anh ta tự cho mình là một tên "hảo hán", đầu đội trời, chân đạp đất, không vướng víu đèo bòng chi hết. Bây giờ anh ta mới hiểu, mới hối hận. Người ta không thể sống cô độc được. Đặc biệt là đối với các bạn đồng nghiệp, lúc này anh ta thấy họ có vẻ đáng mến. Anh ta nghĩ, giá thử ngày thường anh ta đánh bạn với một vài người, cũng trai tráng như anh ta, thì cho có đến mấy ả Nĩu, anh ta cũng chẳng sợ. Họ sẽ nghĩ cách hộ anh ta, sẽ ra sức giúp đỡ anh ta. Nhưng xưa nay, anh ta cô độc một mình, đến lúc này mới định đi tìm bạn không phải là chuyện dễ! Anh ta thấy chưa bao giờ lo sợ như thế. Cứ thế này, rồi đây ai cũng có thể khinh nhờn bắt nạt anh ta. Đơn độc một thân một mình thì không thế nào chống chọi được.
Chút lo sợ đó khiên anh ta đâm ra không tin tưởng vào mình nữa. Mùa đông, gặp khi chủ có ai mời tiệc tùng, hoặc đi xem hát, theo lệ thường, anh ta vẫn để ủ vòi đèn đất vào trong ngực, vì mắc ở xe thì nước trong đó sẽ đông lại mất. Vừa chạy toát mồ hôi ra mà cho cái vòi lạnh ngắt kia vào ngực, anh ta cứ run lập cập. Chẳng biết đến lúc nào cái vòi kia mới ấm lên cho. Nhưng ngày thường, anh ta cũng chẳng coi chuyện đó vào đâu. Có khi, áp nó vào ngực, anh ta lại còn thấy mình hơn hẳn người ta, bởi vì những loại kéo xe tã, làm gì dám dùng đèn đất! Đến bây giờ, thì hầu như anh ta đã thấy ra rằng, vì mấy đồng bạc một tháng mà phải chịu bao nỗi khổ sở, đến cả cái vòi đèn kia cũng không dám để lạnh, mà phải ủ vào tận sát ngực. Ngực anh ta to rộng là thế, dường như cũng không đáng tiền bằng cái vòi đèn. Nguyên là trước kia, anh ta cho rằng kéo xe là nghề lý tưởng nhất của anh ta; nhờ kéo xe, rồi anh ta có thể khấm khá lên được. Bây giờ thì anh ta lặng lẽ lắc đẩu. Chẳng trách ả Nĩu dám bắt nạt khinh nhờn anh ta. Thì anh ta chỉ là cái thằng không đáng giá bằng cái vòi đèn!
Sau ngày ả Nĩu tìm anh ta được ba hôm, ông Tào đi xem chiếu bóng buổi tối với bạn. Tường ngồi chờ ở quán nước nhỏ, ủ sát vào ngực cái vòi đèn lạnh như băng kia. Trời rét như cắt, quán nước đóng chặt cửa, nồng nặc hơi than, mùi mồ hôi và khói thuốc rẻ tiền. Mặc dù như vậy, trên cửa sổ vẫn còn đọng lại một lớp băng. Khách uống nước hầu như đều là anh em kéo xe tháng cả. Người thì dựa đầu vào tường, nhờ hơi ấm trong quán mà ngủ gà ngủ gật, người thì bưng bát rượu trắng, mời mọi người, rồi chậm rãi uống, uống xong một ngụm, trên thì chép miệng một cái, dưới thì đánh rắm, rõ kêu; người thì cầm một cái bánh to tướng, cắn một miếng hết nửa cái, cổ bạnh ra đỏ ửng; người thì nét mặt hầm hầm, kêu ca phàn nàn, nào là từ sáng sớm đến giờ, chưa được nghỉ chân, người ướt rồi lại khô, khô rồi lại ướt, không biết đến bao nhiêu lần rồi! Những người khác phần nhiều đang tán gẫu với nhau, nghe mấy câu nói đó, liền im lặng một lát, rồi thì ai nây đều nghĩ đến cái khổ của mình trong ngày, đều muốn kể lể cho mọi người nghe, cứ y như chim vỡ tổ. Ngay cả người ăn bánh kia, cũng để một chỗ trống trong miệng, có thể đưa đẩy lưỡi được, vừa nuốt bánh vừa nói, mấy đường gân trên trán cứ giần giật.
- Mẹ kiếp, đằng ấy cứ tưởng kéo xe tháng thì không khó nhọc à?... Hừ! Con mẹ nó chứ!... Suốt từ hai giờ đến giờ chưa một hột cơm dính răng! Cứ từ Tiền Môn đến Bình Tắc Môn, hừ, mẹ nó chứ, tớ phải kéo đến ba lượt rồi! Hôm nay, đến lỗ đít cũng rét, nứt ra rồi! Cứ đánh rắm mãi!
Đưa mắt nhìn mọi người một lượt, anh ta gật gù, rồi lại ngoạm một miếng bánh.
Thế là mọi người chuyển sang nói chuyện thời tiết, xoay quanh thời tiết mà oán thán kêu ca. Tường vẫn làm thinh chẳng nói chẳng rằng, nhưng rất chú ý lắng nghe bọn họ nói gì. Tuy cách nói, giọng nói, câu chuyện của họ có khác nhau, nhưng tất cả đều nguyền rủa, tỏ ra bất bình. Những lời nói đó gặp những nỗi khổ trong lòng anh ta, giống như hạt mưa rơi trên mảnh đất khô, bị hút sạch. Anh ta không thể mà cũng chẳng biết kể lể nỗi khổ của mình có đầu có đuôi cho mọi người nghe; anh ta chỉ có thể qua những lời nói của người khác mà nghiền ngẫm những nỗi đau khổ của cuộc đời. Ai cũng khổ cả, anh ta nào có khác gì đâu. Anh ta thấy rõ nỗi lòng mình, đồng thời cũng thông cảm với mọi người. Nghe nói đến những nỗi khổ sở anh ta chau mày lại, nghe nói đến những chuyện tức cười, anh ta cũng nhếch mép lên. Như vậy, anh ta cảm thấy anh ta với họ là một, đều là cánh khổ với nhau cả. Anh ta không nói câu nào, cũng không sao. Trước kia, anh ta cho rằng họ là những người ăn nói bậy bạ sàm sỡ, cứ tán gẫu cả ngày như họ thì đố mà kiếm ra tiền. Hôm nay, dường như lần đầu tiên anh ta thấy không phải họ nói vớ vẩn mà là đang nói hộ anh ta, nói lên mọi nỗi khổ sở của anh ta và của các anh em phu xe khác.
Câu chuyện đang lúc sôi nổi, thì cửa bỗng mở, gió lạnh thốc vào. Hầu như tất cả đều bực mình nhìn ra, xem ai vô ý vô tứ, mở toang cửa ra như vậy. Họ càng sốt ruột thì người đứng bên ngoài càng chậm chạp, dường như cố ý trêu tức. Người làm trong quán nước nửa bực nửa đùa:
- Ông anh, mau lên tí chứ! Hơi ấm bay ra hết cả bây giờ!
Chưa dứt lời thì người ngoài cửa đã bước vào. Cũng là một người trong làng kéo xe, khoảng ngoài năm mươi, mặc một cái áo bông rộng thùng thình, chẳng ra ngắn mà cũng chẳng ra dài, vạt áo, khuỷu tay lòi cả bông. Mặt bác ta dường như đã lâu không rửa, chẳng thấy sắc da thịt, chi thấy hai tai đỏ ửng lên vì lạnh, đỏ như trái cây chín nẫu sắp rụng; mái tóc hoa râm rối bù lòi ra ngoài vành chiếc mũ nhỏ rách. Trên lông mày, trên chòm râu ngắn, dính những hạt băng. Vừa vào, bác ta liền rờ ngay cái ghế, ngồi xuống luôn, nói vẻ khó nhọc:
- Pha một ấm nhé!
Tiệm nước ấy vẫn là chỗ tụ họp của anh em kéo xe tháng. Ngày thường chắc bác này không vào đây.
Mọi người nhìn bác ta, dường như đều cảm thấy có điều gì sâu sắc hơn những lời nói lúc nãy. Chẳng ai muốn mở miệng nói nữa. Vào những buổi khác, thế nào cũng có vài ba anh chàng ít tuổi, không biết điều, nói những câu nghịch ngợm trêu bác ta, nhưng hôm nay chẳng thấy cậu nào lên tiếng.
Trà chưa pha xong, bác phu xe già kia cứ gục xuống, gục xuống, rồi ngã xoài ra.
Mọi người liền đứng nhổm cả dậy:
- Sao thế? Sao thế?
Họ định chạy xô tới.
- Ấy chớ! Xin cứ ngồi yên!
Chủ quán là tay từng trải, ngăn mọi người lại, một mình đi tới, cởi khuy cổ áo bác phu xe kia ra, đỡ bác ta lên, lây một chiếc ghế dựa để phía sau lưng, hai tay giữ lây vai.
- Lấy nước đường ra đây! Mau lên!
Nói xong, ông ta liền ghé sát tai vào cổ bác phu xe, lắng nghe, lẩm bẩm một mình.
- Không phải đờm!
Không ai chạy tới cả, nhưng chẳng ai ngồi xuống nữa, cứ đứng giữa gian nhà khói mù mịt, mắt chớp lia chớp lịa, nhìn dồn về phía cửa. Không ai bảo ai mọi người đều nhủ thầm:
- Đó là cái gương cho chúng ta soi. Mai đây tóc bạc, rồi cũng đến lúc chết dấm chết dúi thế thôi!
Nước đường vừa đưa tới miệng, bác phu xe liền, rên hừ hừ mấy tiếng. Mắt vẫn nhắm, bác ta giơ tay phải lên - tay đen thui, như quét sơn - lấy sống tay chùi miệng.
Chủ tiệm ghé vào tai bác ta:
- Uống tí nước!
- Ơ!…
Bác ta giương mắt lên, thấy mình ngồi ở dưới đất liền co chân, định đứng dậy.
Chủ tiệm buông tay ra:
- Uống tí đã, cứ từ từ!
Mọi người hầu như chạy cả tới.
"Ái... ái". Bác phu xe già rên khe khẽ, đưa mắt nhìn bốn xung quanh, hai tay bưng chén trà đường, uống hụm một.
Chậm rãi uống xong chén trà, bác ta lại nhìn mọi người.
- Chà... làm phiền các bác quá!
Giọng ôn tồn, thân thiết, dường như không phải từ cái miệng râu ria xồm xoàm kia thốt ra. Nói rồi, bác ta lại định đứng dậy, ba bốn người vội chạy lại đỡ. Nét mặt bác ta tươi tỉnh lên. Bác ta lại nói, giọng ôn tồn:
- Được rồi, không sao... Vừa rét, lại vừa đói, choáng váng một tí thế thôi!
Mặt bác ta, cáu bám dầy một lớp, nhưng cái vẻ tươi cười kia khiến mọi người tưởng như đó là một khuôn mặt trắng trẻo hiền hậu.
Hình như ai cũng xúc động, bác phu xe đứng tuổi kia tay bưng cốc rượu, uống cạn, mắt đỏ ngầu, rơm rớm lệ:
- Này, cho hai lạng nữa đây!
Rượu bưng đến, bác phu xe già đã ngồi lên chiếc ghế dựa kê sát tường. Bác kia hơi ngà ngà say, nhưng vẫn thận trọng đặt cốc rượu xuống trước mặt bác phu xe già, nói:
- Bác uống đi! Tôi mời bác đây! Tôi cũng ngoài bốn mươi rồi, chẳng giấu gì bác, kéo xe tháng cũng là tạm bợ thôi, năm nào hay năm ấy, có khi chẳng biết! Độ hai ba năm nữa, tôi cũng đến như bác. Chắc bác gần sáu mươi rồi đấy nhỉ?
- Đâu có, mới năm nhăm thôi! - Bác phu xe già tợp một ngụm rượu - Trời rét, không có khách. Chà... bụng đói, có mấy hào mua rượu uống sạch cả, cho ấm! Đến đây, không gượng được nữa, định vào sưởi nhờ một tí. Trong nhà ấm quá, tôi lại chưa ăn uống gì, nên choáng váng rồi lả đi, không sao cả... Làm phiền các bác quá!
Lúc đó, mái tóc hoa râm trông như cỏ khô, lớp bụi đất trên mặt, bàn tay đen như que than, cái mũ rách và cái áo bông của bác ta dường như đều trông sạch hẳn lên, giống như pho tượng trong ngôi chùa nát, tuy sứt mẻ, nhưng vẫn oai nghiêm. Mọi người nhìn bác ta chằm chặp, như sợ bác ta bỏ đi. Tường từ nãy đến giờ vẫn im lặng, chẳng nói chẳng rằng, cứ đứng thừ ra đó. Nghe bác xe già nói bụng đói, anh ta liền chạy ra ngoài, một lát, tay bê mười cái bánh bao nhân thịt cừu đựng trong lá bắp cải, đưa thẳng đến trước mặt bác ta, nói cụt ngủn:
- Ăn đi bác!
Sau đó, anh ta lại ngồi xuống chỗ cũ, đầu cúi xuống, như mệt nhọc lắm.
- Hừ... - Bác phu xe già như mừng mà cũng lại như muốn khóc, quay về phía mọi người, gật đầu - Được như các bác vẫn hơn! Kéo lẻ, chạy hết sức, cuối cùng nài thêm một xu cũng khó khăn lắm!
Nói xong, bác ta đứng dậy, định đi ra.
Hầu như mọi người đều nói cùng một lúc:
- Ăn đi đã!
- Tôi ra gọi thằng Mã, thằng cháu tôi, nó coi xe ngoài ấy!
Bác xe đứng tuổi liền nói:
- Để tôi đi cho! Bác cứ việc ngồi đấy. Ở đây không sợ mất xe đâu. Cứ yên trí, phía trước là bót cảnh sát mà lị! -Bác ta hé cửa - Mã à! Mã! Ông mày gọi đây này! Cho xe lại đây!
Bác xe già mân mê mấy chiếc bánh, chưa cầm chiếc nào cả. Mã vừa bước vào, bác ta mới cầm một chiếc:
- Mã này, cho cháu đây!
Thằng Mã trạc mười hai mười ba, mặt gầy gò, áo quần thì mặc đụp trông tròn một cục, mũi lạnh đỏ lên, nước mũi thò lò, mang mũ bịt tai cũ rách. Đứng cạnh ông, một tay nó đỡ lấy cái bánh, tay kia lấy luôn cái nữa, đưa lên miệng, ngoạm một miếng.
- Này, từ từ chứ!
Bác xe già một tay đặt lên đầu cháu, tay kia cầm một chiếc, chậm rãi cho vào miệng:
- Ông ăn hai chiếc là no rồi, còn cháu ăn cả đấy! Ăn xong, ta cho xe về, không kéo nữa. Mai nếu không lạnh thế này thì ta cho xe ra sớm một tí, cháu nhỉ!
Thằng Mã nhìn chiếc bánh bao, gật đầu, khịt mũi:
- Ông ăn ba chiếc đi, còn bao nhiêu để đấy cháu. Chốc nữa cháu kéo ông về!
Bác xe già nhìn mọi người, cười vẻ thích thú:
- Không, chốc nữa về, ta kéo xe không, đi bộ thôi, ngồi trên xe lạnh lắm.
Bác ta ăn hết phần của mình, uống cạn chỗ rượu còn lại trong chén, chờ thằng Mã ăn hết. Bác ta rút mảnh vải rách ra, lau miệng, rồi lại quay đầu về phía mọi người, gật gật đầu:
- Thằng con nó đi lính, đi rồi chẳng thấy về nữa, con dâu...
Mã, má bạnh ra như hai quả đào, vừa nhai vừa ngăn ông:
- Đừng nhắc chuyện ấy nữa mà!
- Nói thì nói, chẳng sao! Bà con ta cà - Rồi bác ta lại quay về phía mọi người, hạ thấp giống - Thằng bé nó buồn lắm, không muốn nhắc đến chuyện ấy đâu!... Con dâu cũng bỏ đi nốt. Hai ông cháu trông vào cái xe mà kiếm ăn. Xe cũ, nhưng là xe riêng, ngày ngày không phải lo tiền thuế. Được nhiều ít, hai ông cháu lần hồi qua ngày. Chẳng còn biết xoay xở cách nào khác nữa.
Ăn gần hết, Mã kéo tay áo ông:
- Ông ạ, còn phải kéo một cuốc nữa, mai chưa có tiền mua than đấy! Tại ông cả, lúc nãy hai hào kéo về cửa Hậu, cháu thì cháu kéo rồi, ông lại cứ không kéo! Mai không có than, làm thế nào bây giờ!
- Được rồi, ông đi mua chịu năm cân vậy!
- Bắt họ thêm ít củi nữa!
- Được rồi, cháu khá lắm! Thôi ăn đi, ăn xong còn về chứ!
Nói xong, bác ta đứng dậy, nhìn khắp mọi người, nói:
- Thật là làm phiền các bác quá!
Rồi bác ta đưa tay kéo Mã. Mã cho cả chiếc bánh bao đang ăn dở vào mồm.
Những người có mặt ở đó, người thì ngồi nguyên không nhúc nhích, người thì đứng lên đi theo ra. Tường là người đi theo ra đầu tiên. Anh ta muốn nhìn xem cái xe nó ra sao.
Đó là một cái xe cũ kỹ, sơn ở thùng xe đã nứt nẻ cả, càng xe mòn lòi cả vân gỗ, một chiếc đèn ọp ẹp, kêu lạch cạch, gọng xe buộc bằng dây gai. Mã móc trong mũ che tai ra một que diêm, quẹt vào gót giày, hai bàn tay đen thui, bé nhỏ, che ngọn lửa, châm vào đèn. Ông nó nhổ nước miếng vào lòng bàn tay, thở dài một tiếng, nhấc càng xe lên:
- Thôi chào các bác nhé!
Tường đứng ngoài cửa, thừ ra, nhìn theo hai ông cháu và chiếc xe tàng kia. Bác phu xe già vừa đi vừa nói, giọng lúc cao lúc thấp, ánh đèn và bóng đêm trên đường, chỗ sáng chỗ tối. Tường lắng nghe, nhìn theo, trong bụng buồn lắm, anh ta chưa bao giờ buồn như vậy. Nhìn thằng Mã, anh ta như nhìn thấy anh ta ngày xưa. Ngày xưa, anh ta chưa dễ gì tiêu phí một đồng, nhưng lúc này anh ta rất thấy khoan khoái vì đã mua cho hai ông cháu mười cái bánh bao. Mãi đến khi không nhìn thấy họ nữa, anh ta mới quay vào.
Mọi người lại trò chuyện, cười đùa. Anh ta thấy khó chịu, liền. trả tiền trà, rồi đi ra, kéo xe đến trước rạp chiếu bóng, ngồi đợi ông Tào.
Trời lạnh lắm. Có vài làn cát màu xám bay giữa không trung. Gió như đang lướt nhanh trên cao. Sao không rõ lắm, chỉ có vài ngôi to nhất, nhấp nháy. Trên mặt đất không có gió, nhưng khí lạnh vẫn tỏa ra từ bốn phía. Trông vết bánh xe, đã có vài đường đông cứng lại, nứt nẻ ra, đất trắng bệch, lạnh và rắn như băng. Đứng chờ ở cửa rạp một lúc, Tường đã thấy lạnh, nhưng không muốn quay về quán nước nữa. Anh ta muốn lặng lẽ mà suy nghĩ một mình. Hình ảnh hai ông cháu thằng Mã dường như làm vỡ tan cái hy vọng lớn nhất của anh ta. Xe ông già kéo cũng là xe riêng đấy! Từ ngày đầu tiên kéo xe, anh ta đã nhất quyết phải mua một được chiếc xe riêng, đến bây giờ anh ta vẫn còn đang long đong vất vả suốt ngày để thực hiện điều mong ước đó. Anh ta cho rằng, có được cái xe riêng là có tất cả. Hừ! Hãy nhìn ông già kia xem!
Anh ta không chịu lấy ả Nĩu, chẳng phải cũng là vì ước vọng mua chiếc xe đó sao? Mua được xe rồi để dành dụm, sẽ cưới một cô vợ cho đàng hoàng - Hừ! Hãy nhìn thằng Mã! Có con, chắc gì rồi nó lại không như thế!
Nghĩ vậy, anh ta thấy không cần phải chống lại sự uy hiếp của ả Nĩu nữa. Đằng nào cũng chẳng thoát ra ngoài vòng thì lấy ai mà chẳng được. Huống chi ả còn có thế đem về mấy chiếc xe nữa, tội gì không hưởng lấy của sẵn ít ngày! Biết rõ mình rồi thì chẳng nên coi thường người. Ả Nĩu thì ả Nĩu, cũng được chứ sao!
Buổi chiếu bóng tan, anh ta vội lắp vòi đèn, thắp lên, cởi phăng áo bông cộc ra, chỉ mặc chiếc gi-lê. Anh ta muốn chạy thật nhanh, cho quên tất cả mọi chuyện, dù ngã gục xuống đó cũng chẳng sao!
11
Cứ nghĩ đến hai ông cháu thằng Mã là Tường chẳng hy vọng mong ước gì nữa, muốn vui chơi cho thỏa thích, được ngày nào hay ngày ấy, tội gì cứ bo bo cho khổ thân mình! Cái số người nghèo, anh ta dường như đã thấy rõ rồi, giống y như hột táo, hai đầu nhọn hoắt: ngày bé, không chết đói là chuyện may lắm, về già, không chết đói là chuyện rất khó. Chỉ có quãng giữa, đang thì trai tráng, không sợ khổ không ngại mệt, thì còn ra vẻ con người một chút. Trong quãng thời gian đó, vui sướng mà lại không dám hưởng, thật quả là ngốc. Nghĩ thế, anh ta thấy ngay chuyện ả Nĩu cũng chẳng có gì đáng phải lo buồn cả.
Đến khi anh ta trông thấy con lợn đất kia, ý nghĩ anh ta mới đảo ngược lại. Không, không thể bừa bãi thế được. Chỉ còn thiếu độ mấy chục đồng nữa là mua đủ cái xe, không thể bỏ phí bao nhiêu công sức trước đây, ít nhất cũng không phung phí số tiền trong con lợn này, đâu có phải là dễ tích góp được bằng ấy! Cứ nên đi theo con đường thẳng thì hơn. Nhất quyết phải như vậy. Nhưng còn ả Nĩu thì sao? Vẫn không có cách nào cả. Vẫn cứ phải lo lắng phiền muộn vì cái ngày hăm bảy chết tiệt kia!
Lo lắng buồn phiền mãi chẳng biết làm cách nào, anh ta lại ôm con lợn đất ra thủ thỉ một mình: Muốn thế nào thì thế, dù sao số tiền này cũng là của mình! Không ai cướp đi được! Có số tiền này, thằng Tường chẳng sợ cái cóc gì cả! Bức bách ông quá, ông co cẳng chuồn thẳng. Có tiền, chân khắc biết chạy!
Phố xá ngày càng náo nhiệt. Bỏng đường[*] hình quả dưa cúng ông Táo bày khắp nơi, đi đến nơi nào cũng nghe thấy tiếng rao: "Bỏng đường đây!" Tường vốn rất mong tết đến, thế mà bây giờ lại chán ngán. Phố phường càng đông vui thì tinh thần anh ta lại càng rối loạn, cái ngày hăm bảy đáng sợ kia đã ở ngay trước mắt rồi! Mắt anh ta trũng xuống, cả vết sẹo trên má kia cũng xám lại. Kéo xe, phố xá đông đúc lộn xộn, mặt đường thì trơn, anh ta phải hết sức chú ý. Vừa lo buồn, vừa phải chú ý, anh ta thấy tinh thần sút kém tợn, nhớ chuyện này lại quên chuyện khác, luôn luôn hoảng hốt, người ngứa ran lên y như trẻ con mùa hè bị rôm cắn.
[*]Chu thich: Bỏng gạo nếp trộn đường nắm thành hình quả dưa, ở Trung Quốc thời trước vẫn thường dùng để cúng ông Táo IND).
Buổi chiều hôm cúng ông Táo, gió đông nổi lên, mây đen kéo đầy trời. Tiết trời bỗng ấm hơn một chút. Vào lúc chập tối sắp lên đèn, gió nhỏ đi, tuyết rơi lác đác. Mấy người bán bỏng đường lo ngay ngáy, trời ấm, lại thêm tuyết xuống, họ rắc mãi bột vào bỏng vẫn cứ sợ dính chặt vào nhau. Tuyết xuống không nhiều, thành từng hạt nhỏ, rơi lộp bộp, trắng cả đất. Qua bảy giờ, các cửa hiệu và các nhà bắt đầu cúng ông Táo, có nhang đèn ánh pháo, lại có tuyết rơi, trong cảnh tưng bừng náo nhiệt, xen lẫn vẻ âm u lạnh lẽo. Người trên phố đều có vẻ vội vã. Kẻ đi bộ, kẻ đi xe, ai cũng vội về nhà để cúng bái, nhưng mặt đường ướt mà trơn, không dám bước nhanh. Những người bán bỏng đường muốn bán tống bán tháo chỗ hàng chỉ dùng được cho ngày tết ông Táo, gân cổ lên mà kêu, nghe đến thương hại.
Đại khái vào khoảng chín giờ, Tường kéo ông Tào từ Tây thành về nhà. Qua quãng đông đúc ở lầu Tây Đan, rẽ về phía đông, vào phố Trường An, phố xá dần dần trở nên vắng vẻ. Đường nhựa phẳng phiu phủ lên một lớp tuyết mỏng, phản chiếu ánh đèn, hơi lóa mắt. Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi chạy tới, đèn chiếu rất xa, những bông tuyết nhỏ vàng óng lên trước ánh đèn như ai rắc hàng muôn ngàn hạt vàng. Quãng gần cửa Tân Hoa, đường vốn rất rộng, lại thêm một lần tuyết mỏng, trông khoan khoái dễ chịu. Tất cả mọi cái như thêm phần trang trọng. Lầu Trường An, lầu trên Cổng Tân Hoa, dãy tường đỏ Nam Hải, đều phủ tuyết trắng, cùng với hàng cột son và dãy tường đỏ, đứng lặng lẽ dưới ánh đèn, tỏ rõ vẻ tôn nghiêm của chôn cố đô...
Khung cảnh này, vào lúc này, khiến người ta cảm thấy dường như thành phố Bắc Bình không có dân cư, chỉ có lầu son gác tía, điện ngọc thềm vàng, chỉ có những hàng thông cổ thụ lặng lẽ đứng đón tuyết rơi. Tường không có thì giờ ngắm cảnh đẹp, vừa nhìn thấy "Ngọc lộ" là anh ta chỉ mong một bước về tới nhà. Con đường thẳng băng, trắng toát, vắng vẻ, làm cho anh ta tưởng đã trông thấy cổng nhà rồi. Nhưng anh ta không thể nào chạy nhanh được, tuyết trên mặt đường tuy không nhiều, nhưng lại dính chân, loáng một cái dưới đế giày đã thành một mảng dày cộp. Giũ sạch, một lát lại dính vào. Hạt tuyết rất nhỏ, nhưng mà cũng thấy nặng, vừa dính chân, lại vừa lóa mắt, anh ta không thể chạy nhanh được. Tuyết rơi trên người cũng lâu tan, đọng lại thành một lớp nhỏ trên vai áo, tuy không đáng kể vào đâu, nhưng ướt át, cũng thấy khó chịu. Cả quãng này không có hàng quán gì cả, những tiếng pháo từ phía xa vẫn không ngớt dội lại, thỉnh thoảng, giữa bầu trời đen kịt lại bắn lên mấy chiếc pháo thăng thiên hoặc cây bông. Tàn lửa lụi hết, bầu trời lại càng tối hơn, tối đến phát sợ. Anh ta lắng nghe tiếng pháo nổ; nhìn những tia lửa và bầu trời đến tối, anh ta càng muốn về ngay tới nhà. Nhưng anh ta không dám xoải cẳng mà chạy. Thật đến bực!
Điểu khiến anh ta thật khó chịu hơn nữa là từ Tây Thành trở đi, anh ta cảm thấy phía sau có một chiếc xe đạp bám theo. Đến phố Tây Trường An, vang vẻ hơn, lại càng cảm thấy rõ rệt nó bám sát phía sau, bánh xe nghiên xuống tuyết mỏng, tuy không kêu to, nhưng cũng có thế biết được. Cũng như các anh em phu xe khác, Tường ghét nhất là xe đạp. Ô tô cũng đáng ghét, nhưng máy nó nổ to, từ xa đã có thể tránh được. Còn xe đạp cứ thấy chỗ nào hở là len vào, rồi còn lại lái bên này, quành bên kia, cứ rối cả mắt lên. Phải cố tránh sao cho khỏi đụng nhau, hễ đụng nhau, bao giờ xe tay cũng có lỗi. Trong óc, bọn cảnh sát nghĩ rằng, dù thế nào thì phu xe cũng dễ bắt nạt hơn là những người đi xe đạp, cho nên bao giờ cũng bảo phu xe trái. Mấy lần, Tường định bất thình lình dừng lại cho tay xe đạp kia ngã một cái, nhưng anh ta không dám. Kéo xe thì đành phải nhẫn nhục vậy. Mỗi khi giậm chân giũ tuyết, anh ta lại phải kêu lên "Dừng xe đây này!". Đến Nam Hải Tiền môn, đường phố rộng thế vậy mà chiếc xe đạp kia vẫn cứ bám sát theo sau. Tưởng càng bực tợn. Anh ra cố ý dừng xe lại phủi tuyết trên vai. Chiếc xe đạp vượt qua. Người ngồi trên xe còn ngoái cổ lại nhìn. Tường cố ý chần chừ, đợi chiếc xe đạp kia đi rõ xa, mới nhấc càng xe lên, mắng với một câu. Cái "chủ nghĩa nhân đạo" của ông Tào khiến ông ta không đành lòng kéo chiếc áo tơi cáng gà lên chắn gió, ngay cả chiếc mui vải bạt kia cũng chỉ giương lên những lúc mưa to mà thôi, để nhẹ cho anh xe phu. Tuyết nhỏ, ông ta cho rằng không cần phải dựng mui, huống chi ông ta lại còn muốn ngắm cảnh tuyết xuống ban đêm nữa. Ông ta cũng chú ý đến chiếc xe đạp kia. Tường vừa mắng dứt lời, ông ta liền hạ thấp giọng:
- Nếu nó cứ bám riết thì về qua nhà đừng đỗ xuống nữa! Kéo thẳng đến nhà ông Tả ở Hoàng Hóa! Cứ bình tĩnh.
Tường hơi hoảng. Anh ta chỉ thấy tay cưỡi xe đạp kia đáng ghét, chứ biết đâu hắn còn đáng sợ nữa. Ông Tào mà không dám về nhà, thì chắc hắn cũng chẳng phải tay vừa! Anh ta chạy dấn lên gần vài chục bước thì đuổi kịp tay kia. Hắn cố ý đợi anh ta và ông Tào hay sao ấy. Hắn để Tường vượt lên trước. Tường liếc nhìn hắn, liền rõ ngay. Mật thám. Anh ta thường gặp bọn này ở các tiệm nước, tuy chưa tiếp xúc trò chuyện lần nào, nhưng thuộc lòng cái bộ dạng và cách ăn mặc của bọn chúng nó. Cách ăn mặc ấy, anh ta đã quen mắt lắm rồi: áo kép ngắn màu xanh, mũ dạ đội sụp xuống.
Đến ngã tư Nam Trường, nhân lúc rẽ, Tường liếc nhìn, thấy gã kia vẫn bám theo. Anh ta hầu như quên cả tuyết trên mặt đường, rảo cẳng nhanh hơn. Con đường dài thẳng tắp, trắng toát, chỉ có ánh đèn lạnh lẽo và một tên mật thám theo sát phía sau! Tường chưa trải qua cảnh này bao giờ. Anh ta toát mồ hôi. Đến cửa sau công viên, anh ta quay lại nhìn, vẫn thấy tên kia phía sau! Qua trước cửa nhà, anh ta không dám dừng lại, nhưng cũng có hơi ngập ngừng. Ông Tào chẳng nói chẳng rằng, anh ta đành phải chạy thẳng về phía trước. Chạy một mạch đến đầu phố đằng kia, chiếc xe đạp vẫn bám riết. Anh ta rẽ vào một ngõ nhỏ, nó vẫn bám theo. Ra khỏi ngõ, vẫn thấy nó bám theo!
Đến cửa Hoàng Hóa, đáng lẽ không nên rẽ vào ngõ nhỏ, nhưng mãi đến đầu ngõ đằng kia, anh ta mới nhớ ra. Anh ta phải tự nhận là mình có phần luống cuống, đâm ra lú lẫn, nên lại càng bực mình tợn.
Chạy đến phía sau Cảnh Sơn, chiếc xe đạp kia đi thẳng, rồi rẽ về phía cửa Hậu. Tường lau mồ hôi, tuyết xuống nhỏ hơn, nhưng xen lẫn hạt tuyết lại có vài bông tuyết. Hình như Tường thích bông tuyết hơn, chúng bay thoải mái tự do giữa bầu trời, không giống như những hạt tuyết, làm người ta thấy khó chịu. Anh ta quay đầu lại hỏi:
- Thưa ông, đi đâu đây ạ?
- Cứ đến nhà ông Tả. Có ai hỏi dò gì tôi, cứ nói không biết nhá!
- Vâng!
Tường thấy lo lắm, nhưng không tiện hỏi cặn kẽ.
Đến nhà ông Tả, ông Tào bảo Tường cho cả xe vào, vội vàng đóng cổng lại. Ông ta vẫn có vẻ bình tĩnh, nhưng sắc mặt không được tự nhiên. Dặn dò Tường xong, ông ta đi vào. Tường cho xe vào cổng, vừa đặt càng xuống, thì ông Tào lại đi ra, cùng với ông Tả. Tường có biết ông Tả, và cũng biết đó là bạn thân của ông Tào.
Ông Tào nói rất nhanh:
- Anh Tường, anh đi tắc-xi về nhà, thưa với bà tôi ở đây nhé! Bảo bà và cả nhà cũng đến cả đây, đi tắc-xi đến, thuê một cái khác. Đừng bảo cái xe anh đi chờ ở cửa đấy! Anh rõ chưa! Thôi được rồi! Bảo bà đem theo những thức cần dùng và mấy bức tranh trong buồng giấy ấy. Anh rõ chưa. Ở đây, tôi sẽ gọi điện thoại thẳng cho bà, nhưng cứ dặn thêm anh thế, sợ bà luông cuống quên mất lời tôi dặn, nhớ nhắc bà đấy nhé!
Ông Tả hỏi:
- Tôi đến có tiện không?
- Không cần thiết. Thằng lúc nãy chưa chắc đã phải là mật thám. Có điều, mình có chuyện, nên không thể không đề phòng. Bác gọi hộ chiếc tắc-xi có được không?
Ông Tả vào quay điện thoại, gọi tắc-xi. Ông Tào lại dặn dò Tường một lượt nữa:
- Xe đến, tôi sẽ trả tiền trước. Bảo bà thu dọn đổ đạc mau lên nhá! Những thứ khác không cần, nhưng thế nào cũng phải mang theo đồ dùng cho em bé, và mấy bức tranh kia, mấy bức tranh, nhớ đấy! Đợi bà thu xếp xong, thì bảo vú Cao gọi điện thuê tắc-xi đến đây, anh rõ rồi chứ? Đợi cả nhà đi rồi, anh đóng chặt cổng lại, dọn vào buồng giấy mà ngủ, ở đó có điện thoại đây. Anh biết gọi điện thoại không?
- Cháu chỉ biết nghe thôi, không biết gọi đi nơi khác!
Kỳ thực thì cả việc nghe điện thoại, Tường cũng chẳng thạo lắm, nhưng không muốn làm ông Tào lo nên anh ta đành trả lời vậy.
- Thế được rồi!
Rồi ông Tào nói tiếp, vẫn rất nhanh:
- Ngộ nhỡ có chuyện gì, anh chớ có ra mở cửa đấy! Chúng tôi đi cả rồi, còn lại mỗi mình anh, bọn chúng quyết không buông tha anh đâu. Thấy có chuyện gì không hay, anh tắt đèn, trốn ra lối sau, sang nhà ông Vương. Người bên nhà ông Vương, anh có biết đấy chứ? Được rồi. Lánh bên đó một lúc rồi hẵng đi. Đồ đạc của tôi, đồ đạc của anh, cứ vứt cả đó, nhảy qua tường mà trốn, đừng để chúng bắt được. Đồ đạc của anh, mất cái gì rồi tôi sẽ đền. Bây giờ, tôi đưa trước cho anh năm đồng. Thôi được rồi. Tôi đi gọi điện thoại cho bà đây. Lát nữa, anh nhớ dặn lại bà đấy nhé! Đừng nói đến chuyện bắt bớ gì cả. Tay đi xe đạp lúc nãy có thể là mật thám, mà cũng có thể không phải. Anh cũng đừng có lo!
Tường trong bụng hoảng lắm, dường như có rất nhiều điều muốn hỏi, nhưng vì phải nhớ những lời ông Tào dặn dò, nên không dám hỏi.
Tắc-xi đến, Tường thẫn thờ lên xe. Tuyết rơi không nhiều, cũng không ít. Cảnh vật bên ngoài nhìn không được rõ lắm. Anh ta ngồi thẳng lưng ra, đầu gần chạm mui xe. Anh ta muốn nghĩ ngợi một tí, nhưng mắt lại cứ nhìn vào cái mũi tên đỏ ở phía mui xe, đỏ tươi, trông rất đẹp! Cái bàn chải nhỏ ở phía trước, cứ tự động gạt sang phải rồi lại gạt sang trái, lau hết hơi mờ trên kính, trông cũng hay hay. Nhìn những trò ấy gần phát ngấy lên, thì xe đã tới nhà. Tường xuống xe, trong lòng thấy ngán ngẩm.
Vừa định bấm chuông ở cổng, thì có một người từ phía trong tường chui ra, nắm chặt lấy cổ tay anh ta. Theo bản năng, anh ta định giật tay ra, nhưng nhìn rõ mặt người kia, anh ta không dám động đậy nữa. Chính là tên mật thám cưỡi xe đạp lúc nãy.
Tên mật thám buông tay ra, cười:
- Tường, không nhận ra tớ nữa hay sao?
Tường nín thở, không biết trả lời như thế nào.
- Không nhớ ngày cậu bị bọn tớ đưa lên núi Tây Sơn à? Tớ là Tôn, trung đội trưởng Tôn đây mà! Nhớ ra rồi chứ!
- À! Ông Tôn!
Tường không sao nhớ ra được. Lúc anh ta bị bọn lính tóm cổ đưa lên núi, anh ta có để ý xem ai là trung đội trưởng, ai là đại đội trưởng đâu!
- Cậu không nhớ tớ, ấy thế mà tớ lại nhớ cậu đây! Cái sẹo kia trên mặt cậu là một cái dấu rất rõ. Tớ vừa theo dõi cậu một hồi lâu, thoạt đầu không dám nhận cậu đâu, nhìn đi nhìn lại mãi, nghĩ cái sẹo kia thì không sai vào đâu được...
Tường lại định bấm chuông:
- Có chuyện gì không ạ?
- Tất nhiên là có chuyện, mà lại là chuyện rất quan trọng. Chúng ta vào nhà nói chuyện, có được không?
Trung đội trưởng Tôn - bây giờ là mật thám - giơ tay bấm chuông.
- Tôi đang bận!
Tường toát mồ hôi trán, lo lắng nghĩ thầm: "Tránh nó chẳng được lại còn mời nó vào nhà à!"
Tôn cười, xảo quyệt:
- Cậu đừng lo. Tớ đến đây cốt để giúp cậu thôi!
Vú Cao mở cổng, hắn đi thẳng vào trong:
- Cám ơn!
Chẳng đợi Tường và vú Cao nói gì với nhau, hắn kéo Tường đi vào, chỉ gian buồng xép:
- Cậu ở đây phải không?
Bước vào buồng, hắn nhìn ngang nhìn ngửa, rồi lại nói tiếp:
- Buồng nhỏ mà sạch quá nhỉ! Cậu làm ăn thế khá đây!
Tường không bụng dạ nào nghe những câu vớ vẩn ấy nữa:
- Có việc gì thế ạ? Tôi đang bận!
- Kìa, đã bảo cậu rồi cơ mà! Có một chuyện rất quan trọng! - Tôn vẫn cười, nhưng giống nói rất nghiêm - Này, nói thẳng cho cậu rõ, thằng Tào đây vào đảng làm loạn, bắt được sẽ xử bắn liền, nó chạy không thoát đâu! Chúng ta dù sao cũng là chỗ quen biết cũ, trong quân đội, cậu đã từng phục vụ tớ. Lại nữa, chúng ta đều cùng một phố cả, vì thế tớ mới nghĩ đến cậu, nói cho cậu biết. Nếu cậu không mau mau chuồn sớm, lát nữa sẽ bao vây lục soát, không thoát được đâu. Bọn ta bán sức kiếm ăn, theo chúng nó rồi kiện cáo vào đâu. Có phải thế không nào?
- Như thế không phải với người ta quá!
- Không phải với ai? - Tôn nhếch mép mỉm cười, mắt sắc sảo - Chúng nó tự rước lấy vạ. Không phải với ai nào? Chúng nó có gan ăn cướp thì có gan chịu đòn. Bọn ta chịu vạ lây vì chúng, mới là không phải chứ! Đừng nói gì khác, cứ tống giam cậu ba tháng; như con chim bay nhảy quen rồi, bấy giờ ngồi xà lim, liệu có chịu được không nào? Lại nữa, bọn chúng vào tù, có tiền chạy chọt, thì chẳng tội vạ gì hết. Còn cậu, trong tay cóc có đồng nào, nhất định là nằm nhà xí! Thế còn chưa thấm vào đâu, ngộ nhỡ bọn chúng bỏ tiền ra đút lót, cái án mấy năm tù, trước mặt quan trên, lại không quàng vào cổ cậu mới là lạ! Bọn ta không trêu ghẹo ai, rút cục phải chịu tù tội, thế có oan hay không. Cậu là người biết điều. Người biết điều không đời nào hứng lấy vạ trước mắt. Không phải với người ta à?... Hừ, này anh bạn, trên đời này, chẳng có chuyện gì là phải với cánh nghèo chúng ta cả!
Tường sợ. Nhớ lại những nỗi cực khổ khi bị bọn lính tóm đi, anh ta tưởng tượng thấy được mùi ở tù.
- Vậy thì tôi cứ đi, bỏ mặc họ à?
- Cậu lo cho họ, ai lo cho cậu?
Tường không biết nói lại thế nào được. Thừ người ra một lúc, anh ta gật đầu, lương tâm không cắn rứt nữa.
- Thôi được, tôi đi đây!
Tôn cười nhạt:
- Cứ thế mà đi thôi à?
Tường ngơ ngác không hiếu.
- Này, anh bạn! Cậu ngốc quá! Tớ là mật thám, tớ lại buông tha cậu à?
- Thế...
Tường sợ quá, không biết nói thế nào.
- Đừng giả vờ ngốc nữa - ánh mắt Tôn chiếu thẳng vào người Tường - Chắc cậu cũng có để dành được ít nhiều, đem ra đây chuộc mạng! Tớ làm cả tháng chẳng bằng cậu, lại phải ăn, phải mặc, phải nuôi gia đình, đành phải kiếm bổng ngoại vậy. Nói thực tình với cậu thế đấy! Cậu thử nghĩ xem, liệu tớ có thể thả cho cậu đi dễ dàng như thế được không? Anh em quen biết nhau là quen biết nhau, không quen biết nhau liệu tớ có đến khuyên nhủ cậu hay không? Nhưng công việc là công việc, tớ không kiếm được tí chút, thì cả nhà tớ ăn sương mà sống à? Người biết điều, không cần phải nhiều lời vô ích. Cậu cứ nói thật đi!
Tường ngồi xuống đầu giường:
- Bao nhiêu?
- Có bao nhiêu lấy bấy nhiêu! Không có giá nhất định nào cả!
- Tôi ngồi tù cũng được!
- Chính mồm cậu nói đây nhé! Rồi đừng có hối! - Tôn xọc tay vào túi áo bông - Nhìn đây này. Tớ có thể tóm cậu ngay lập tức, kháng cự lại, sẽ bắn luôn! Tớ mà điệu đi thì đừng nói đến tiền, ngay cả quần áo đang mặc kia, đến cổng nhà lao, cũng phải lột ra. Cậu là người biết điều, cứ thử ngẫm mà xem!
Tường lắp bắp hồi lâu mới bật ra lời:
- Bắt nạt tôi thế, sao không bắt nạt ông Tào ây?
- Hắn là chính phạm. Tóm được có thưởng, không tóm được thì lôi thôi. Còn cậu, hừ, thả cậu thì cũng như đánh phát rắm, mà giết cậu thì cũng như giết con rệp! Đưa tiền ra thì được tha! Không đưa tiền ra, hừ, vào tù! Đừng lôi thôi mất thì giờ, mau mau lên, người nhớn với nhau! Lại nữa, cũng chẳng phải một mình tớ nuốt trôi được món tiền ấy đâu, bọn anh em cũng còn xà xẻo vào đây, chẳng hiểu là còn được mấy đồng. Rẻ thế mà còn không chịu bỏ ra chuộc lấy mạng, thì tớ cũng chẳng có cách nào khác nữa! Cậu có bao nhiêu nào?
Tường đứng phắt dậy, đầu óc căng thẳng, tay nắm chắc lại.
- Tay để im, không thì đi đứt bây giờ! Nói cho mà biết, này, ngoài kia còn nhiều người nữa kia! Mau, tiền đâu, đưa ra đây! Tớ nể mặt phải biết điều chứ!
Ánh mắt Tôn lúc đó trông thật dễ sợ!
- Tôi nào có trêu ghẹo ai đâu!
Tường mếu máo, nói xong ngồi phịch xuống mép giường.
- Cậu không trêu ghẹo ai cả, nhưng lại có được ít tiền. Người ta thì giàu từ trong bụng mẹ, bọn ta thì từ dưới ngoi lên! Thôi đừng nói lôi thôi nữa.
Tôn lắc đầu, dường như có vẻ cảm khái lắm:
- Ừ thôi, cứ cho là tớ bắt nạt cậu vậy! Đừng làm mất thì giờ nữa!
Tường lại nghĩ một lát nữa, thấy chẳng có cách nào cả. Tay anh ta run lên, móc con lợn đất trong đống chăn ra.
Tôn cười, đỡ lấy con lợn đất, đập vào tường:
- Xem nào!
Tường nhìn tiền tung toé trên mặt đất, lòng đau như xé:
- Ít thế này thôi à?
Tường không đáp, chỉ đứng run.
- Thôi được, tớ cũng không đành cạn tình, bạn bè vẫn là bạn bè. Cậu cũng phải biết rằng, ít thế này mà chuộc được mạng là rẻ lắm đấy nhé!
Tường vẫn không nói năng gì cả, người run lập cập, định chui vào trong chăn cuộn tròn lại.
- Đừng có đụng vào đó!
Mắt Tường trợn trừng, như nẩy lửa:
- Rét mướt thế này...
- Đã bảo không được đụng là không được đụng! Cút!
Tường nín thở, cắn môi, đẩy cửa đi ra.
Tuyết xuống dầy hơn một tấc, Tường cúi đầu bước đi. Khắp nơi trắng toát một màu, chỉ có những vết chân đen ngòm của anh ta để lại phía sau.