Tuyển Tập Lão Xá

Lượt đọc: 4888 | 5 Đánh giá: 9,6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TƯỜNG LẠC ĐÀ (tt)
12

Tường muốn tìm chỗ nào đó ngồi xuống, nghĩ kỹ lại đầu đuôi một lượt, dù cho nghĩ xong chỉ có khóc thôi, thì cũng còn biết khóc vì cái gì. Sự việc diễn ra nhanh quá, đầu óc anh ta theo không kịp. Không có chỗ nào ngồi được cả, khắp nơi đều là tuyết trắng. Các quán nước đã đóng cửa cả, hơn mười giờ rồi. Mà dù mở chăng nữa, anh ta cũng chẳng buồn vào; anh ta muốn kiếm một chỗ nào yên tĩnh. Anh ta biết, nước mắt đã lưng tròng, chưa biết lúc nào sẽ rơi xuống.

Không có chỗ nào ngồi thì đành chậm rãi mà bước đi vậy. Nhưng mà, đi đâu bây giờ? Trong cái thế giới trắng toát này, không có chỗ nào để anh ta ngồi, cũng không có nơi nào để anh ta đi đến; cả một vùng trắng toát, chi có con chim đói meo và con người cùng đường mới hiểu thế nào là đau thương.

Đi đâu bây giờ? Ngay chuyện đó cũng làm anh ta bối rối chứ chưa cần phải nghĩ đến chuyện khác! Vào quán trọ chăng? Không ổn, quần áo thế này, đêm có gì mất hết, ấy là chưa nói đến khoản rệp ở nhà trọ, ghê lắm! Vào nhà trọ sang hơn một chút chăng? Không có tiền, trong tay chỉ có năm đồng bạc, và đó là toàn bộ tài sản của anh ta. Vào nhà tắm chăng? Mười hai giờ là đóng cửa, không ngủ lại được. Chẳng có chỗ nào cả.

Vì không biết đi đâu nên anh ta càng cảm thấy cái quẫn bách của mình. Lăn lộn ở thành phố mấy năm nay rồi, chỉ còn độc mỗi bộ quần áo, và năm đồng bạc. Chăn đệm cũng chẳng còn! Từ chỗ đó, anh ta nghĩ đến ngày mai, ngày mai biết làm thế nào đây? Kéo xe vẫn kéo xe, hừ, kéo xe, kết quả chỉ là tìm không ra được một chỗ trú chân, dành dụm được ít tiền cũng lại bị cướp mất! Buôn vặt, nhưng lại chỉ có năm đồng bạc vốn, lại quang gánh cũng phải mua, huống chi buôn cái gì kiếm cho ra được cơm ăn bây giờ? Kéo xe thì còn từ chỗ không có gì kiếm ra ba bốn hào, chứ buôn bán, đã phải có vốn, lại chưa chắc kiếm đủ ba bữa ăn. Đợi đến khi ăn hết vốn rồi mới lại đi kéo xe, thế thì có khác gì tụt quần đánh rắm, bỗng dưng mất toi năm đồng? Năm đồng này thì không dễ dàng buông ra một hào một xu nào cả. Đó chính là niềm hy vọng cuối cùng! Đi ở, không quen, hầu hạ, không biết; không biết thổi cơm nấu nước giặt giũ quần áo! Không ổn, gì cũng không biết, thật đúng là đồ ngốc nghếch, to xác mà vô dụng.

Anh ta tới Trung Hải lúc nào không biết. Lên tới cầu hai bên quang đãng, nhìn thấy toàn là tuyết. Lúc bấy giờ hình như anh ta mới thấy tuyết vẫn rơi không ngừng, sờ lên đầu, chiếc mũ len đã ướt đẫm. Trên cầu không có ai, cả tay cảnh sát đứng gác cũng rúc vào đâu chẳng biết. Mấy ngọn đèn, tuyết bay táp vào trông như những con mắt đang nhấp nháy. Tường nhìn cảnh tuyết rơi tứ phía, lòng buồn thiu.

Anh ta đứng trên cầu rất lâu. Thế giới dường như chết rồi, không một âm thanh, không một động tĩnh. Những bông tuyết trắng nhờ nhờ như được dịp, nhẹ nhàng rơi tới tấp, muốn âm thầm chôn vùi mọi cảnh vật. Trong lúc vắng lặng đó, Tường nghe lương tâm mình khẽ lên tiếng: đừng vội nghĩ tới mình, hãy về xem gia đình ông Tào ra sao đã. Cả nhà chỉ có bà Tào và vú Cao, không có người đàn ông nào! Năm đồng bạc cuối cùng kia, chẳng phải là ông Tào cho đấy ư? Không dám suy nghĩ thêm nữa, anh ta vội vàng quay về, đi rất nhanh.

Ngoài cổng có mấy vết chân, trên đường có vết bánh ô tô mới lăn. Bà Tào đi rồi hay sao? Cái thằng Tôn kia sao không bắt bà ta?

Anh ta không dám đến đẩy cổng, sợ lại bị tóm cổ. Nhìn quanh nhìn quẩn mãi, chẳng thấy ai cả, trống ngực anh ta nổi lên. Cứ thử xem nào, cũng chẳng còn nhà cửa đâu mà về nữa, tóm thì tóm. Anh ta khẽ đẩy cánh cổng. Cánh cổng mở. Men theo chân tường bước được hai bước, anh ta thấy đèn trong buồng mình còn sáng. Buồng riêng của mình! Anh ta muốn khóc òa lên. Anh ta lom khom bước tới, đến bên cửa sổ, nghe ngóng, thấy trong buồng có tiếng ho. Tiếng vú Cao! Anh ta đẩy cửa.

- Ai đấy? Ôi chao! Anh đấy à! Làm tôi sợ hết hồn!

Vú Cao ôm lấy ngực, định thần, ngồi xuống giường:

- Anh Tường, có chuyện gì thế?

Tường không nói được, chỉ cảm thấy hình như hàng bao năm qua không được thấy mặt vú, trong lòng ấm áp hẳn lên.

- Sao thế hở? - Vú Cao đường như cũng sắp khóc - Anh chưa về đến nơi thì ông gọi điện thoại về nhà, bảo bà và tôi đưa em đến nhà ông Tả, và nói anh sẽ về ngay đây. Thế rồi anh về, tôi chả mở cửa cho anh là gì? Tôi thấy anh đi với một người lạ mặt nữa. Tôi không nói gì cả, liền quay vào với bà cùng thu xếp các thứ. Mãi chả thấy anh vào. Đêm hôm khuya khoắt, bà và tôi sợ hết hồn hết vía, chú bé thì đang ngủ say cứ thế là bế ra khỏi chăn ấm. Gói ghém xong, lại vào buồng hạ mấy bức tranh xuống. Ấy thế mà vẫn chả thấy mặt mũi anh đâu cả. Anh làm sao thế hừ? Thu xếp qua loa tạm xong, tôi xuống tìm anh, thì chẳng thấy anh đâu nữa! Bà vừa giận vừa lo, người cứ run bắn lên. Tôi đành quay điện thoại gọi xe vậy. Nhưng chẳng lẽ lại bỏ nhà trống không, đi cả, tôi thưa với bà là tôi ở lại trông nhà cho, bà cứ việc đi đi, anh Tường về, tôi sẽ đến nhà ông Tả ngay; anh ta không về thì có chuyện gì tôi sẽ liệu vậy. Thế nào ấy nhỉ, anh làm sao vậy hử, nói đi xem nào?

Tường vẫn chẳng nói chẳng rằng.

- Nói đi, định cứ đứng ì ra đó là xong chuyện à? Thế nào vậy hử?

Mãi Tường mới bật ra một câu:

- Vú đi đi! Cứ đi đi!

Vú Cao đã bớt bực:

- Thế anh coi nhà à?

- Gặp ông, vú nói rằng, mật thám bắt tôi, nhưng rồi, nhưng rồi lại không bắt được!

Bực quá, nhưng suýt nữa vú Cao bật cười:

- Nói thế là thế nào?

Tường cũng cáu:

- Vú hãy nghe đã! Nói với ông rằng: ông phải trốn cho nhanh, tên mật thám nói là thế nào cũng bắt ông. Nhà ông Tả cũng chẳng phải là nơi yên ổn đâu! Phải chạy cho nhanh! Vú đi rồi, tôi sẽ sang bên nhà ông Vương, ngủ nhờ một đêm, cổng ngõ sẽ khóa lại. Ngày mai tôi sẽ đi tìm việc làm. Thật là không phải với ông quá!

Vú Cao thở dài:

- Càng nói càng vớ vẩn, chẳng hiểu ra sao cả! Được rồi, tôi đi đây, chú bé rét cóng lên mất, phải đến ngay xem sao. Gặp ông, tôi sẽ thưa lại là anh Tường anh ấy nói rằng, ông phải trốn cho nhanh. Đêm nay, anh Tường anh ấy khóa cổng lại, sang bên ông Vương ngủ nhờ, ngày mai anh ấy đi tìm việc làm. Thế phải không?

Tường ngượng ngùng, khẽ gật đầu.

Vú Cao đi rồi, Tường khóa cổng lại, quay vào buồng. Con lợn đất vỡ toang nằm dưới đất. Anh ta nhặt mảnh vỡ lên nhìn, rồi lại quăng xuống. Trên giường, chăn đệm vẫn còn nguyên. Quái lạ, thế là thế nào nhỉ? Hay thằng Tôn không phải là mật thám thật? Không thể thế được. Ông Tào, nếu không thấy nguy hiểm gì cả, thì lẽ nào lại phải bỏ nhà chạy trốn? Không hiểu! Không hiểu ra làm sao! Anh ta ngồi xuống giường lúc nào không biết, vừa ngồi xuống lại đứng phắt dậy, như có điều gì kinh sợ. Không thể ngồi lâu ở đây được! Nhỡ cái thằng Tôn kia nó quay lại thì làm sao? Một ý nghĩ thoáng hiện trong óc anh ta: Thật là không phải với ông Tào, nhưng vú Cao đã đưa tin hộ, bảo ông ta phải mau mau trốn đi thật xa, như vậy cũng được rồi. Cứ xét lương tâm, thằng Tường này cũng chẳng phải là cố ý lừa người, vả lại chính mình cũng chịu oan, mất toi cả tiền, chẳng còn cách nào mà lo cho ông ấy được nữa. Cứ thế, anh ta lẩm bẩm một mình, vừa thu xếp chăn nệm.

Vác bọc chăn nệm trên vai, tắt đèn, anh ta chạy băng qua sân sau, đặt bọc chăn nệm xuống đất, hai tay bám lấy bờ tường khẽ gọi:

Anh Trình! Anh Trình à!

Trình là người kéo xe nhà ông Vương. Không có tiếng trả lời. Tường định bụng cứ nhảy sang, rồi sẽ nói chuyện sau. Anh ta vứt bọc chăn nệm sang trước, rơi xuống tuyết, không một tiếng động. Trống ngực anh ta nổi liên hồi. Anh ta dún người lên bờ tường rồi nhảy qua. Nhặt bọc chăn nệm lên, anh ta rón rén đi tìm Trình. Anh ta đã biết chỗ Trình nằm. Cả nhà chắc đã ngủ cả. Trong sân im phăng phắc. Tường cảm thấy đi ăn trộm không phải là chuyện khó lắm. Anh ta mạnh dạn lên, dấn bước; tuyết cứng, kêu lạo xạo. Tìm đến buồng Trình, anh ta đằng hắng. Chừng như Trình vừa đặt mình nằm xuống:

- Ai thế?

- Tôi. Tường đây! Mở cửa với!

Tường nói rất tự nhiên, rất dịu dàng, anh ta nghe tiếng Trình như được lời an ủi vỗ về của người thân.

Trình bật đèn, khoác chiếc áo bông rách mở cửa:

- Cái gì thế, anh Tường? Đêm hôm khuya khoắt?

Tường bước vào, đặt bọc chăn nệm xuống đất, ngồi lên trên, chẳng nói chẳng rằng.

Trình vào trạc ngoài ba mươi, trên mặt, trên người thớ thịt cứ nổi lên, rắn chắc, trông có góc cạnh. Thường ngày, Tường và anh ta không chơi bời gì với nhau cả, có điều gặp nhau thường cũng gật đầu chào hỏi. Có khi, bà Vương và bà Tào cùng lên phố, Tường và Trình lại có dịp ngồi uống nước, nghỉ ngơi với nhau. Tường không phục Trình lắm. Trình chạy nhanh, nhưng vẫn có luông cuống như không cầm vững được càng xe hay sao ấy. Tuy rất tốt bụng, nhưng vì có cái tật ấy, cho nên Tường không phục.

Nhưng lúc này, Tường thấy Trình đáng yêu lắm. Anh ta ngồi đó, không nói được câu nào, nhưng trong lòng thì thấy rất cảm động, thân thiết. Vừa ngồi, đứng trên cầu Trung Hải, bây giờ lại được ngồi với người quen ở trong nhà, sự việc thay đổi nhanh quá, khiến anh ta thấy trong lòng trống trải, đồng thời cũng lại thấy êm ấm.

Trình lại chui vào chăn, chỉ chiếc áo gi-lê cũ:

- Hút thuốc đi, trong túi ấy, "Biệt dã" đấy!

Thuốc lá "Biệt thự" từ khi ra đời, đã bị các anh em phu xe đổi ra là "Biệt dã”[*] Tường vốn không quen hút thuốc, nhưng lẩn này hầu như không thể chối được, liền lấy một điếu, đưa lên môi, châm hút.

[*]Chu thich: Chữ Trung Quốc, “thự” và “dã” viết gần giống nhau, nên đọc nhầm (ND).

- Sao thế? Thôi việc rồi à?

- Không - Tường vẫn ngồi trên bọc chăn nệm - Có việc lôi thôi xảy ra. Cả nhà ông Tào bỏ trốn rồi. Tôi không dám ở lại trông nhà một mình.

Trình lại nhổm dậy:

- Chuyện gì thế?

- Cũng không rõ lắm, nhưng không phải là chuyện thường đâu. Cả vú Cao cũng đi rồi!

- Cửa ngõ mở toang, không ai coi cả à?

- Tôi khóa lại rồi!

- Hừ - Trình suy nghĩ một lát - Để tôi lên thưa với ông Vương biết qua tí nhá!

Nói xong, anh ta định khoác áo vào.

- Mai hẵng hay! Cũng chưa biết rõ ra sao cả mà!

Tường sợ ông Vương lại căn vặn anh ta.

Chuyện mà Tường không rõ vốn là như thế này: ông Tào có dạy mấy giờ ở một trường đại học nọ. Cấp trên không vừa lòng lắm, định trị ông ta, nói rằng ông ta có tư tưởng quá khích! Ông Tào cũng có nghe phong thanh, nhưng thấy nực cười. Ông ta biết rõ cái tư tưởng mới đó của ông ta chẳng có gì là triệt để cả, đồng thời ông ta cũng hiểu rằng, lòng đam mê mỹ thuật truyền thông kia của ông ta đã ngăn trở những hành động mạnh mẽ như thế nào rồi. Ấy thế mà lại mang tiếng là cách mạng! Thật là nực cười! Vì nực cười, cho nên cũng chẳng cần đê ý đến lắm, tuy học sinh và bạn đồng nghiệp đều khuyên ông ta nên cẩn thận. Trong thời buổi loạn lạc này, cẩn thận cũng không chắc an toàn được.

Nghỉ đông là một dịp tốt để thanh toán các phần tử cách mạng trong nhà trường, bọn mật thám bắt đầu bận rộn theo dõi điều tra, bắt bớ. Ồng Tào có nhiều lần cảm thấy có người theo dõi mình. Bóng người phía sau lưng khiến ông ta từ vui cười chuyển thành lo sợ. Ông ta đến tìm ông Tả.

Theo ý ông Tả thì:

- Lúc đầu, cứ dọn đến nhà tôi. Bọn chúng chẳng đến nỗi lục soát nhà tôi đâu!

Ông Tả quen biết nhiều, mà những người đó thì pháp luật mạnh sao bằng được!

- Bác cứ dọn đến đây ở mấy ngày, tránh cho qua đi đã. Coi như là chúng ta sợ chúng nó vậy. Rồi tìm cách giải quyết. Có lẽ cũng phải tiêu ít tiền. Bọn chúng nó được đẹp mặt, lại được tiền, lúc đó bác về nhà chẳng sao nữa đâu.

Tôn - tay mật thám kia - biết ông Tào thường đi lại nhà ông Tả, và cũng biết truy gấp thì ông ta nhất định sẽ đến nhà ông Tả. Bọn chúng không dám động đến ông Tả, có dọa dẫm thì dọa dẫm được ông Tào kia thôi. Làm mạnh cho ông ta chạy đến nhà ông Tả, bọn chúng mới có hy vọng vơ ít tiền, và cũng giữ được sĩ diện. Còn chuyện bóp nặn Tường, vốn không ở trong kế hoạch hành động của bọn mật thám, có điều đã trông thấy Tường, tiện tay như thế, tội gì không kiếm chác lấy tám chín đồng một chục trước đã!

Đúng rồi, ai cũng có cách cả, đâu cũng có khe hở, chỉ Tường là chạy không thoát, bởi vì anh ta là một anh phu xe. Làm cái thân anh phu xe, ăn thì cơm hẩm ngô khoai, làm thì sặc máu ra, mà kiếm thì chẳng được mấy đồng. Họ phải đứng vào chỗ thấp nhất trong xã hội, chờ đợi, chịu đựng sự đả kích của mọi người, của mọi thế lực, của mọi nỗi khốn khổ.

Đốt hết một điếu thuốc, Tường vẫn chưa nghĩ ra cách gì. Anh ta giống như con gà trong tay người đầu bếp, chỉ thấy thở được một chút là tốt rồi, chứ chẳng có ý định gì cả. Anh ta rất muốn chuyện trò với Trình, nhưng không biết nói gi. Anh ta không thể dùng lời để diễn đạt ý nghĩ của anh ta. Anh ta đã phải chịu đựng mọi nỗi khổ sở, nhưng anh ta không mở miệng nói ra được, như người câm. Mua xe, mất xe; dành dụm được ít tiền, tiền cũng đi tong. Cố gắng chịu thương chịu khó thì kẻ khác đến nạt nộ cướp đoạt hết, không dám trêu ghẹo ai, đến con chó hoang cũng phải tránh, ấy thế mà cuối cùng vẫn bị đè nén, thở không ra hơi.

Tạm gác chuyện đã qua, ngày mai sẽ ra sao đây? Nhà ông Tào thì không quay về được nữa rồi? Đi đâu bây giờ?

- Mình ngủ nhờ một đêm, có được không?

Anh ta hỏi, như con chó hoang tìm được nơi tránh gió, hãy tạm nương thân một lát, thế mà ngay cái chuyện cỏn con ấy cũng vẫn cứ phải hỏi han cho rõ, liệu có phiền đến ai chăng.

- Cứ ở đây thôi, tuyết lạnh như thế này đi đâu? Nằm dưới đất có được không? Hay là lên đây, chật tí cũng được!

Tường không muốn lên giường chen chúc nhau. Nằm dưới đất này cũng tốt lắm rồi.

Trình ngủ rồi, Tường vẫn cứ trằn trọc mãi, không sao chợp mắt đi được. Hơi lạnh ở đất xông lên làm cho tấm nệm lạnh như phiến sắt. Anh ta co chân lại, ấy thế mà vẫn cứ lên gân. Gió từ khe cửa lùa vào, như một nắm kim đâm vào đầu, vẫn không ngủ được, nghe Trình ngáy, anh ta thấy bứt rứt khó chịu, chỉ muốn dậy nện cho anh ta một trận mới hả. Trời mỗi lúc một lạnh, lạnh đến nỗi cổ họng như ngứa ngáy, anh ta sợ bật ho lên, làm Trình thức giác.

Ngủ không được, anh ta rất muốn rón rén dậy, trở về nhà ông Tào xem sao. Dù thế nào thì thế cũng là hỏng rồi, nhà lại không có ai cả, sao chẳng vơ vét một vài thứ gì đó? Ít tiền dành dụm khó nhọc được, bị nó cướp đoạt mất, chính là vì việc của nhà ông ta mà bị liên lụy, vậy thì sao lại không sang đánh cắp lấy ít đồ đạc. Vì ông ta mà mất tiền, nay lấy đồ đạc của ông ta bù vào lại không phải hay sao? Nghĩ thế, mắt anh ta sáng lên, quên cả lạnh. Đi nào! Số tiền khó nhọc mới dành dụm được, nay mất rồi. Bây giờ có dịp bù lại dễ dàng, sang lấy đi thôi!

Đã ngồi dậy, nhưng anh ta lại vội vàng nằm xuống, hình như Trình đang nhìn anh ta, trống ngực anh ta nổi lên. Không, không thể làm thằng ăn trộm được. Không thể được. Lúc này, vì thoát lấy thân, mà không làm theo lời ông Tào dặn dò, đã là không phải với người ta rồi; sao bây giờ lại có thể lấy đồ đạc của người ta? Không thể được! Nghèo, chết thì thôi, không thể làm cái trò trộm cắp.

Biết đâu kẻ khác lại không lấy rồi? Thằng cha Tôn kia quơ đi một ít; thì ai biết? Anh ta lại nhổm dậy. Xa xa có tiếng chó sủa. Anh ta lại nằm xuống. Không thể thế được. Ai ăn cắp thì ăn cắp, mình không thể thẹn với lương tâm. Đã nghèo khổ đến bước này, đừng để lòng phải mang thêm một vết nhơ nữa!

Huống hồ, vú Cao đã biết anh ta sang bên này ngủ nhờ, ban đêm nhà ông Tào mất mát cái gì, thì chỉ có anh ta mà thôi! Không phải anh ta, cũng nghi cho anh ta. Ấy thế là, anh ta không nghĩ đến chuyện ăn trộm nữa, mà lại còn sợ có người vào nhà ông Tào. Nếu quả đêm nay bên ấy có mất mát gì, thì dù cho có nhảy xuống sông Hoàng hà cũng không thể rửa sạch được tiếng. Anh ta không thấy lạnh nữa, lòng bàn tay lại nhơm nhớp mồ hôi. Làm thế nào bây giờ? Lại nhảy sang nhà ông Tào để canh à? Không dám thế, đã phải đem tiền ra mà chuộc mạng rồi, không thể tự dưng đâm đầu vào lưới nữa. Không sang, nhỡ mất cái gì thì sao?

Không biết nên thế nào, anh ta lại nhổm dậy, ngồi chồm hổm, đầu cúi gần sát đầu gối. Đầu nặng, mắt díp lại, nhưng không dám ngủ.

Đêm dài thế mà Tường không lúc nào chợp mắt đi được.

Ngồi không biết bao nhiêu lâu, ý kiến cũng không biết thay đổi bao nhiêu lần, anh ta bỗng vụt thấy đầu óc sáng ra, liền đưa tay lay Trình:

- Anh Trình! Anh Trình! Dậy, dậy đi

- Gì thế? - Trình không muốn mở mắt ra chút nào - Có đái thì gầm giường có bô đấy!

- Dậy bật hộ cái đèn tí!

Trình nhỏm dậy, còn ngái ngủ, hỏi:

- Có trộm à?

- Tỉnh ngủ chưa?

- Rồi!

- Này, anh xem hộ đây nhé! Đây là chăn đệm của tôi, đây là quần áo của tôi, đây là năm đồng ông Tào cho tôi. Không có gì khác nữa cả đấy nhé!

Trình ngáp:

- Ừ, mà làm sao cơ?

- Anh đã tỉnh ngủ hẳn chưa? Đồ đạc của tôi chỉ có thế, tôi đã không lấy qua một thứ gì của nhà ông Tào đấy!

- Ừ, đúng rồi! Bọn mình ăn cơm nhà người ta mãi, nay lại còn vơ vét chấm mút sao đành? Làm được thì làm, không được thì thôi! Không thể lây đồ đạc của người ta! Chỉ có việc ấy thôi phải không?

- Anh đã nhìn rõ hộ chưa?

Trình cười:

- Rõ rồi! Không thấy lạnh à?

- Thôi được!

13

Vì có ánh tuyết, nên trời sáng sớm hơn ngày thường một chút. Sắp hết năm, nhiều người mua gà về nuôi, tiếng gà gáy cũng nhiều gấp mấy lần ngày thường. Khắp nơi rộn tiếng gà, rõ ra vẻ tuyết lành được mùa. Nhưng Tường suốt đêm chẳng ngủ được. Nửa đêm về sáng, anh ta chợp đi được một tí, mơ mơ màng màng, ngủ chẳng ra ngủ, y như đang bập bềnh trên mặt nước, lòng dạ bồi hồi. Càng nằm càng thấy lạnh, nghe gà gáy bốn xung quanh, anh ta thấy không thể chịu được nữa. Không muốn làm Trình thức giấc, anh ta nằm co tròn lại, lấy chăn bịt lấy miệng mà ho, nhưng vẫn không dám trở dậy. Cố nhẫn nại chờ đợi, rất sốt ruột. Mãi trời mới sáng, ở ngoài phố có tiếng bánh xe bò lăn qua, và tiếng người đánh xe hò hét. Tường liền ngồi dậy, ngồi vẫn thấy lạnh, anh ta đứng lên, cài khuy áo, hé cửa nhìn ra ngoài. Tuyết không dày lắm, chừng như vào quãng nửa đêm thì không rơi nữa. Trời có vẻ tạnh ráo, nhưng xám ngắt, trông mờ mờ, ngay cả mặt tuyết dường như cũng xám nhàn nhạt. Thoáng nhìn, anh ta thấy ngay những vết chân to tướng của mình in lại từ tối qua, tuy đã bị tuyết phủ, nhưng từng vết từng vết một, trông rất rõ.

Một là để cho có việc làm, hai là để xóa sạch vết chân, anh ta lẳng lặng sờ lấy chiếc chổi ở góc nhà, đem ra quét tuyết. Tuyết nặng, khó quét, lại không tìm được chổi tre lớn, anh ta đành phải cúi thật thấp, ra sức quét, lớp trên bị quét đi, nhưng sát mặt đất vẫn còn, dường như tuyết đã bám chặt cả vào đây rồi.

Phải vươn thẳng lưng cho đỡ mỏi tới hai lần, anh ta mới quét sạch được cái sân ngoài, vun tuyết thành đống dưới gốc hai cây liễu nhỏ. Anh ta thấy ấm lên, ra mồ hôi, khoan khoái dễ chịu. Giậm giậm chân, anh ta thở một hơi rõ dài, trắng xóa.

Vào nhà, để chổi vào chỗ cũ, anh ta định đến thu xếp chăn nệm. Trình đã dậy, ngáp dài, miệng chưa ngậm lại đã hỏi luôn:

- Sáng rõ rồi à?

Giọng nói nghe chẳng rõ gì cả.

Nói xong, anh ta dụi mắt, rồi tiện tay với lấy điếu thuốc trong túi áo gi-lê, châm hút hai hơi, lúc đó mới tỉnh ngủ hẳn.

- Tường này, hẵng rồi đi! Để mình đi lấy ít nước sôi, pha ấm trà uống đã. Đêm qua, chắc cậu sợ lắm đấy nhỉ!

- Để tôi đi cho!

Tường nói, giống vui vẻ. Nhưng vừa nói xong nghĩ đến chuyện khủng khiếp đêm qua, anh ta thấy tim như thắt lại.

- Thôi, để mình đi cho. Mình mời cậu mà!

Nói xong, Trình mặc quần áo rất nhanh; cúc chẳng cài, chỉ khoác ngoài chiếc áo gi-lê rách một chiếc thắt lưng, miệng ngậm điếu thuốc lá, chạy đi:

- Ô kìa! Sân quét rồi à? Cậu này khá thật! Ngồi đây tớ đi kiếm cái gì ngồi ăn với nhau nhé!

Tường thấy vui vui.

Một lát, Trình quay về, bưng hai bát cháo đường, một ít bánh nướng, và dìu cháo quẩy[*].

[*]Chu thich: Một thứ bánh làm bằng bột mì rán, người Trung Quốc thường ăn với cháo đường hay sữa đậu (ND).

- Chưa pha được trà, ăn tí cháo đã. Nào, ăn đi! Hết lại mua thêm; không có tiền thì mua chịu; làm khó nhọc, tội gì mà bóp mồm bóp miệng. Nào!

Trời sáng hẳn, trong nhà cũng sáng rõ, giá lạnh, hai người bưng cháo húp sụp soạt, ngon lành lắm. Không ai nói gì cả, ăn một lèo hết nhẵn cả.

Trình lấy tăm gẩy một hạt vừng ở kẽ răng, hỏi:

- Thế nào?

Tường nhìn bọc chăn nệm dưới đất:

- Đi thôi!

- Cậu kể lại chuyện cho mình nghe tí nào, mình chưa hiểu đầu đuôi ra sao cả.

Trình đưa cho Tường điêu thuốc, Tường lắc đầu.

Nghĩ một tí, Tường thấy không kể hết cho Trình nghe thì không tiện. Anh ta ấp a ấp úng kể lại một lượt việc tối qua, tuy khó nhọc, nhưng có gì nói hết.

Trình mím môi lại một hồi lâu, như muốn tìm trong đó một chút ý vị:

- Theo mình thì cậu cứ đi tìm ông Tào đi. Công việc không thể thế là xong được, tiền cũng không thể để mất được! Vừa rồi cậu chẳng nói là ông Tào dặn cậu, thấy tình hình bất lợi là chuồn đó sao? Cậu vừa xuống xe một cái, liền bị mật thám tóm cổ, như vậy còn trách ai được! Không phải cậu không hết lòng, nhưng vì tình thế nguy ngập quá, không thể không lo lấy thân trước! Theo mình, như vậy chẳng có gì là không phải cả. Cậu đi tìm ông Tào đi, kể lại đầu đuôi cho rõ ràng. Mình chắc ông ta nhất định không trách cậu đâu, không khéo lại còn đền tiền cho cậu nữa cũng nên! Thôi đi đi, để chăn nệm đây. Đi tìm ông ta sơm sớm một chút. Ngày ngắn, mặt trời lên là tám giờ rồi đây! Mau đi đi thôi!

Tường mừng thầm, nhưng vẫn thấy không phải với ông Tào, có điều Trình nói thì cũng rất có tình lý - tên mật thám rút súng ngăn lại, làm sao có thể còn lo việc cho nhà ông ấy được?

Trình lại giục:

- Đi đi! Mình thấy tối qua thế là cậu hơi luẩn quẩn đấy. Kể ra thì gặp việc cấp bách, ai cũng chẳng tránh khỏi rối trí. Mình chỉ cho cậu con đường ấy, nhất định không sai. Mình hơn tuổi cậu, dù sao cũng đã từng trải hơn ít nhiều. Thôi đi đi, mặt trời lên rồi kia kìa!

Một chút ánh nắng buổi sớm, nhờ có tuyết, đã chiếu sáng cả toàn thành. Trời xanh, tuyết trắng; trời sáng, tuyết cũng sáng, giữa màu xanh và màu trắng lấp lánh ánh vàng, làm người ta khoan khoái, mắt cứ lim dim. Tường sắp đi thì có người gõ cổng. Trình ra xem, rồi đứng ở cổng gọi:

- Tường à! Có người hỏi cậu đây này!

Nhị, người nhà ông Tả, rét quá chảy cả nước mũi, đang đứng ở cổng, giậm chân cho sạch tuyết. Trình thấy Tường đi ra, liền nói:

- Vào cả trong nhà ngồi đi!

Cả ba người cùng vào.

Nhị xoa xoa tay nói:

- Ờ... Tôi đến coi nhà, làm sao vào được nhỉ?... Cổng khóa... ờ... tuyết xuống... rét... rét quá! ơ... ông Tào... bà Tào... đi từ sáng sớm rồi. Đi Thiên Tân, hoặc Thượng Hải gì đấy, chẳng biết nữa. Ông Tả bảo đến để trông nhà... ờ... rét quá!

Tường bỗng muốn òa lên khóc. Đang định theo lời Trình, đi tìm ông Tào, thì ông ấy lại đi mất rồi! Thẫn thờ hồi lâu, anh ta mới hỏi một câu:

- Ông Tào không nhắc gì đến tôi à?

- Á... không... Trời chưa sáng đã đi rồi, chẳng kịp dặn dò gì cả. Tàu chạy vào lúc... ờ... bảy giờ bốn mươi... ờ... làm thế nào sang được sân bên kia nhỉ?...

Nhị muốn sang gấp bên kia.

- Nhảy qua tường!

Tường có ý nhìn Trình, như có ý giao Nhị cho anh ta, rồi cuộn chăn nệm lại.

Trình hỏi:

- Đi đâu đấy?

- Chẳng còn nơi nào khác nữa, đến hãng Nhân Hòa vậy!

Câu nói đó tỏ rõ mọi nỗi đau khổ, ngượng ngùng bất đắc dĩ của Tường. Không còn cách nào khác, anh ta phải đầu hàng! Mọi con đường đã đều bị chặn cả rồi, anh ta đành phải đi tìm ả Nĩu, đen như cột nhà cháy giữa vùng tuyết trắng vậy. Anh ta có lòng tự trọng, có chí làm ăn, trung thực, nghĩa khí, nhưng tất cả những cái đó đều vô dụng, bởi vì số anh ta là số "con chó”!

Trình tiếp lời:

- Thôi, cậu đi thì đi đi! Có mặt anh Nhị đây này! Nhà cửa đồ đạc ông Tào còn nguyên cả đấy, cậu chẳng tơ hào một chút nào cả. Thôi, đi đi! Dịp nào về qua cái phố này, rẽ vào đây nói chuyện chơi nhé. Nghe được tin gì hay, mình sẽ mách với cậu. Cứ đi đi, mình sẽ đưa anh Nhị sang bên kia. Có than đấy chứ?

- Than, củi chẻ sẵn, đều trong gian buồng ở sân sau ấy!

Tường vác bọc chăn nệm lên vai. Ngoài phố tuyết không trắng lắm, trên mặt đường, vết bánh xe còn hằn xuống, làm lộ màu băng giá. Trên những con đường đất, vó ngựa giẫm, chỗ đen chỗ trắng loang lổ, trông thảm hại. Tường chẳng nghĩ ngợi gì cả, cứ vác bọc chăn nệm, dấn bước, thẳng một mạch đến tận hãng Nhân Hòa. Anh ta không dám dừng lại, biết rằng chỉ dừng lại một chút thôi là không đủ can đảm đi tới nữa. Anh ta bước thẳng vào phía trong, mặt nóng ràn rạt. Anh ta đã chuẩn bị sẵn một câu để nói với ả Nĩu: "Tôi đến đây. Thế nào cũng được cả, tôi chẳng biết xoay xở ra sao nữa!".

Khi gặp ả, anh ta loay hoay mãi với câu đó, rút cục vẫn không sao nói ra được, miệng thấy ngượng nghịu thế nào ấy.

Ả Nĩu vừa dậy, đầu tóc bù xù, mí mắt hùm hụp, mặt đen sần sùi, y như con gà chết rét vặt trụi lông.

- A! Anh đã đến đấy à?

Ả nói, giống thân thiết lắm, mắt tươi cười, sáng ngời.

Tường cúi xuống nhìn mũi giày chưa rũ sạch tuyết.

- Cho tôi thuê một cái xe.

- Vào nói với ông cụ ấy!

Ả khẽ trả lời rồi hất hàm về phía gian phòng bên tay phải.

Lão Tư Lưu đang ngồi uống trà ở bên đó, trước mặt đặt một cái hỏa lò to trắng tinh ngọn lửa bốc cao có đến nửa thước[*]. Thấy Tường vào, lão liền nửa mừng nửa giận nói:

[*]Chu thich: Nửa thước Trung Quốc, gần bằng 20 cm (ND).

- Vẫn còn sống đấy à? Quên rồi sao? Tính xem bao nhiêu lâu không lại đây rồi? Làm ăn thế nào? Đã mua được xe chưa?

Tường lắc đầu, lòng đau như cắt:

- Lại đến nhờ cụ cho thuê cái xe.

- Hừ! Lại mất việc rồi à! Thôi được, vào chọn lấy một cái! - Lão rót một chén trà - Này, uống chén đã!

Tường đỡ lấy chén, đứng cạnh hỏa lò, uống một ngụm lớn. Trà rất nóng, lửa cũng rất ấm, anh ta thấy hơi buồn ngủ. Đặt chén xuống, vừa định bước ra, thì lão Tư Lưu gọi giật lại:

- Hượm đã, đi đâu vội thế! Này, anh đến thật vừa khéo, hăm bảy này là sinh nhật tôi. Tôi muốn dựng cái rạp, mời ít khách khứa, anh giúp cho mấy hôm, đừng đi kéo xe vội. Chúng nó - lão Tư Lưu chỉ tay ra sân - không tin được, tôi không muốn làm họ nháo nhào cả lên đâu, anh giúp một tay, thế là tốt rồi. Nên làm thế nào thì cứ việc mà làm, không phải đợi tôi bảo nữa. Bây giờ, đi quét tuyết đi đã, trưa nay ở đây ăn món dúng với tôi.

- Vâng ạ.

Tường nghĩ ra rồi, đã quay về đây, mọi việc đành mặc kệ hai bố con ông ta sắp đặt vậy, họ muốn xoay vần anh ta thế nào cũng được, anh ta xin chịu tất.

Ả Nĩu nhằm đúng dịp đó, đến gần, nói:

- Đấy thầy xem, con nói đúng không? Anh Tường vẫn hơn, mấy người kia lờ phờ thế nào ấy!

Lão Tư Lưu cười, Tường lại cúi đầu xuống thấp hơn.

Ả Nĩu ra ngoài, gọi:

- Này, anh Tường! Tiền đây, anh đi mà mua chổi, chổi tre ấy, quét tuyết cho dễ. Phải quét gấp mới được, hôm nay dựng rạp đấy!

Vào đến phòng riêng, ả vừa đếm tiền cho anh ta, vừa khẽ nói:

- Tươi tỉnh lên một tí nào! Làm cho ông cụ vui lòng, việc của chúng ta có hy vọng đấy!

Tường không nói năng gì cả, và dường như cũng chẳng còn chút sinh khí nào. Anh ta như đã chết hẳn cõi lòng rồi, không muốn nghĩ gì nữa, sống ngày nào hay ngày ấy thôi. Có ăn thì ăn, có uống thì uống, có việc gì thì làm, chân tay không để rỗi, quanh quẩn qua lại được một ngày. Phải bắt chước con lừa kéo cối mới được, chẳng biết gì cả, cứ việc kéo xoay vòng quanh.

Nhưng anh ta thấy dù thế nào cũng không thể vui lên được. Tuy không muốn nghĩ, không muốn nói, không muốn bực dọc giận dữ, nhưng hình như cứ có cái gì chẹn ngang cổ họng, lúc làm việc tạm thời quên đi, nhưng hễ cứ ngơi tay ngơi chân một tí là lại cảm thấy vật đó mềm nhũn, to lắm, không có mùi vị gì nhất định, nhưng nuốt không trôi, y như một miếng bọt bể vậy. Anh ta muốn phấn chấn lên mà làm việc, cho mệt nhoài ra, rồi ngủ thiếp đi. Ban đêm, mọi việc phó thác cho giấc mộng, ban ngày mọi việc phó thác cho tay chân, anh ta giống như một người chết biết làm việc. Anh ta quét tuyết, đi mua sắm các thứ, thuê đèn đất, lau xe, khuân dọn bàn ghế, ăn cơm lão Tư Lưu đãi, rồi ngủ, chẳng biết đến chuyện gì cả; không nói năng, mà cũng chẳng suy nghĩ, chỉ phảng phất cảm thấy một cái vật y như miếng bọt bể kia chẹn lấy cổ họng.

Tuyết trong sân đã quét dọn sạch, tuyết trên mái nhà dần dần tan hết, anh em thợ dựng rạp hò nhau leo lên mái, dựng khung. Đã định sẵn là rạp rộng bằng cả cái sân, ba mặt có rèm treo, có lan can, có cửa kính. Trong rạp có vách ngăn, gắn kính, treo tranh, họa, gặp chỗ gỗ thì bọc vải đỏ. Cửa giữa, cửa bên đều phủ giấy ngũ sắc. Nhà bếp dựng ở sân sau. Vì đây là ngày lễ mừng "lẻ chín”[*], lão Tư Lưu muốn làm cho linh đình, nên trước hết cần dựng một cái rạp cho ra trò. Ngày ngắn, anh em thợ mới chỉ dựng xong thân rạp, lắp lan can và bọc vải, còn trang trí bên trong rạp, treo giấy ngũ sắc ở các cửa thì phải để đến sáng hôm sau. Lão Tư Lưu vì thế mà phát cáu với anh em thợ dựng rạp, mặt mũi đỏ gay gắt. Cũng chính vì chuyện ấy mà lão thúc Tường phải đi giục nhà cho thuê đèn đất, nhà bếp, không được để chậm trễ. Kỳ thực, hai việc đó không sao chậm được, nhưng lão không yên tâm. Tường vừa chạy về đến nơi thì lão sai đi mượn bài mạt chược, mượn ba bốn cỗ, để đến hôm đó chơi cho thỏa thích. Mượn được mạt chược về, lại sai đi mượn máy hát, ăn lễ mừng sinh nhật, nhất định phải ồn ào náo nhiệt chứ! Hai chân Tường không được nghỉ chút nào, cứ thế cho đến mười một giờ đêm. Kéo xe quen, nay đi tay không, anh ta thấy mệt hơn là chạy. Lượt cuối cùng về tới nơi, đến như anh ta mà cũng không còn nhấc chân lên được nữa.

[*]Chu thich: Năm ấy lão Tư Lưu 69 tuổi. Theo tục lệ cũ thì 49, 59, 69 đều ăn mừng (ND).

- Khá lắm! Tôi mà có đứa con giai như anh thì trời có bắt giảm thọ đi mấy năm cũng được. Thôi, đi nghỉ đi, mai còn bận nữa kia!

Ả Nĩu đứng cạnh, đưa mắt nhìn Tường.

Sáng hôm sau, anh em thợ rạp đến làm nốt. Dán giấy màu, treo tranh, toàn là cảnh đánh nhau trong chuyện Tam quốc: nào là "Tam chiến Lã Bố" "Cầu Trường Bản", "Hỏa thiêu liên doanh".v.v. Các vai tướng đều cưỡi ngựa cầm thương. Lão Tư Lưu ngẩng cổ lên xem một lượt, thấy vừa ý lắm. Tiếp sau đó, nhà hàng cho thuê bàn ghế, chở đồ đạc đến: trong rạp kê tám bộ, bọc ghế; đệm ghế đều bằng sa tanh đỏ chói thêu hoa. Một bàn mừng thọ kê chính giữa, lư hương đèn nến cảnh toàn là Cảnh thái lam[*] cả, trước bàn trải bốn tấm thảm đỏ. Lão Tư Lưu bảo Tường đi mua ngay một làn táo. Ả Nĩu ngầm đưa cho anh ta hai đồng bạc, bảo mua lấy ít miến và đào để mừng thọ, đào nhất định phải có thêm hình bát tiên, gọi là của Tường đem mừng. Táo mua về rồi, thì bày ngay; một lát sau, miến, đào mừng thọ cũng mua về, bày ở phía sau táo; đào to mà điểm má hồng, thêm hình bát tiên, trông rất lịch sự.

[*]Chu thich: Một kiểu đồ sứ làm theo mẫu người Ả Rập đưa vào, đời Minh, niên hiệu Cảnh Thái (1450 – 1458), nghề làm đồ sứ kiểu đó rất thịnh hành ở Bắc Kinh, gọi là Cảnh thái lam.

Ả Nĩu ghé sát tai bố thì thầm:

- Của anh Tường mừng đấy. Thầy xem, anh ấy tốt đấy chứ!

Lão Tư Lưu nhìn Tường, cười.

Giữa bàn mừng thọ còn thiếu một chữ "Thọ" lớn nữa, theo lệ thường là do bạn hữu đem đến mừng, chứ mình không cần sắm. Đến lúc này mà vẫn chưa thấy ai đưa đến. Lão Tư Lưu tính nóng, lại cáu:

- Việc hiếu hỉ của nhà nào, mình cũng chạy đến trước, thế mà đến việc của mình, thì để cái bàn trơ ra thế, đù mẹ chúng nó chứ!

Ả Nĩu vội can:

- Mai hăm sáu, mới sắp đặt xong, đã vội gì, thầy!

- Tao muốn bày biện cho xong ngay một lúc, cứ linh tinh lang tang thế này, khó chịu lắm! Anh Tường này, đèn đất hôm nay phải có đấy nhé, bốn giờ mà chưa thấy đem đến thì lột da chúng nó ra!

- Anh Tường, anh đi giục lần nữa xem!

Ả Nĩu cố ý nhờ cậy anh ta, trước mặt bố, ả luôn luôn nhờ Tường làm việc này việc nọ.

Tường chẳng nói chẳng rằng, nghe xong, liền đi ra.

Ả Nĩu trề môi:

- Thầy ạ, chẳng phải con hay nói đâu! Có con trai thì không được như con, cũng phải được như anh Tường! Tiếc con lại đầu thai nhầm làm gái, đành chịu vậy. Thực ra có người con nuôi như anh Tường cũng tốt rồi! Đấy, thầy xem, anh ấy chạy ra chạy vào, không lúc nào nghỉ chân nghỉ tay, làm được bao nhiêu là việc!

Lão Tư Lưu không trả lời, trầm ngâm một lúc, rồi nói:

- Cái máy hát đâu ấy nhỉ? Cho nó chạy đi chứ!

Chẳng hiểu cái máy hát thổ tả mượn đâu ra, eo éo như mèo bị giẫm đuôi. Lão Tư Lưu cứ mặc kệ, miễn có hát hỏng một tí là được rồi.

Đến chiều, mọi việc đều xong xuôi đầy đủ cả, chỉ chờ ngày mai nhà bếp đến bày biện cỗ bàn. Lão Tư Lưu đi xem xét khắp một lượt, đâu cũng thấy xanh xanh đỏ đỏ, lão gật gù đắc ý lắm. Đến tối, lão đi mời ông Phùng chủ hiệu than Thiên Thuận đến để ghi chép hộ sổ sách các thứ. Ông ta người Sơn Tây, làm việc đó rất cẩn thận.

Ông Phùng sang xem qua tình hình, bảo Tường đi mua hai tờ giấy in sẵn màu đỏ, và một tờ giấy hồng điều. Ông ta cắt tờ giấy hồng điều ra, viết một ít chữ thọ, rồi dán lên các nơi.

Lão Tư Lưu thấy ông ta là người cẩn thận, lúc bấy giờ liền cho mời hai người nữ, muốn cùng ông ta đánh mấy ván mạt chược. Ông Phùng biết lão là tay lợi hại, không dám nhận lời.

Không đánh được mạt chược, lão hơi bực, liền tìm mấy anh phu xe:

- Xóc đĩa, có dám đánh không nào?

Các anh em đểu muốn chơi cả, nhưng không dám chơi với lão. Ai chẳng biết lão ta đã từng mở sòng.

- Cái đồ các anh!... Thế mà cũng sống được? - Lão lại phát cáu - Lúc tôi bằng tuổi các anh túi chẳng có xu nào mà vẫn cứ chơi, thua sẽ hay! Nào!

Một anh phu xe hỏi dò:

- Đặt cửa một xu nhé?

- Thôi, giữ lây đồng xu của nhà anh, đây ai thèm chơi trò trẻ con - Lão làm một ngụm hết cả chén trà, xoa cái đầu hói - Thôi được rồi, mời ta cũng chẳng chơi đâu! Này, các anh ra bảo với anh em, mai nhà có việc, chiều có bà con bạn bè đến chơi, phải cho xe về trước bốn giờ, không được kéo ra kéo vào nhộn cả lên! Ngày mai không lấy thuế. Bốn giờ phải cho xe về đấy. Cho các anh kéo không một ngày, rồi chúc mừng cho ta thêm mấy câu. Phải ăn ở cho có tình, thế là được rồi! Ngày kia, chính là ngày ăn mừng, không ai được kéo xe cả. Tám rưỡi sáng, sẽ dọn cơm mời các anh ăn, sáu bát lớn, hai đĩa lớn, bốn đĩa nhỏ, một nồi dúng, thế là tươm lắm rồi! Tất cả đều phải đóng áo dài vào, ai ăn mặc cũn cỡn sẽ tống ra khỏi cửa. Ăn xong, thì về để cho ta tiếp đãi bạn bè thân thích. Các vị đó ăn cỗ ba bát đại, sáu món nguội, sáu món xào, bốn đĩa lớn, một nồi dúng. Nói để các anh biết trước, không có trông thấy lại tối con mắt. Bạn bè thân thích đi đằng bạn bè thân thích, ta không lấy gì của các anh cả. Ai có lòng mang lễ mừng, dù nhỏ mọn ta cũng không chê ít. Đến tay không, chỉ vái ta ba vái, ta cũng nhận. Cốt là cho có lễ phép, nghe chưa? Buổi tối, ai muốn ăn nữa, quá sáu giờ tối, cứ việc đến, còn thừa bao nhiêu phần các anh cả. Đến sớm hơn là không được đâu! Đã nghe rõ chưa?

Một bác phu xe đứng tuổi hỏi:

- Cụ Tư, ngày mai có người kéo xe đêm đấy, sao lại bôn giờ chiều đã thu xe?

- Kéo đêm thì quá mười một giờ hãy về! Đang có khách khứa trong rạp, đừng có chen bừa vào đấy! Các anh kéo xe, chứ ta đây không phải là đồng nghiệp của các anh nghe chưa?

Mọi người không biết nói thế nào, không có đường rút lui, mà đứng đó thì thấy khó chịu quá; lời lão Tư nói làm ai nấy có vẻ bất bình. Tuy không phải nộp một ngày thuế, cũng bở đấy, nhưng ai lại vác mồm đến ăn không? Ít nhất, cũng phải biện cái lễ bốn hào trở lên. Huống chi lão nói khó nghe quá, làm như lão ăn mừng sinh nhật thì anh em phải trốn như chuột cả không bằng! Lại nữa, ngày hăm bảy không cho kéo xe, đang lúc giáp tết kiếm khá tiền, lão chịu thiệt thu nhập một ngày còn được, chứ anh em mất toi một ngày thì chết! Mọi người bực tức nhưng cứ đứng đực ra đó, chẳng dám nói năng gì cả, trong bụng tất nhiên chẳng ai cầu chúc phúc lành cho lão Tư Lưu.

Ả Nĩu kéo tay Tường, anh ta theo ả đi ra. c

Cơn giận dữ của mọi người dường như đã tìm được đường thoát. Ai nây trừng mắt nhìn theo Tường. Hai ngày nay, họ thấy Tường đúng là tay sai của lão Tư Lưu, cố sống cố chết bám lấy lão, chịu thương chịu khó hầu hạ. Tường thì không hay biết gì cả. Anh ta làm giúp lão Tư cốt để quên nỗi buồn trong lòng; tối đến, không chuyện trò gì với anh em, là vì anh ta vốn chẳng có chuyện gì mà nói. Anh em không biết nỗi đau khổ của anh ta, cứ cho rằng anh ta bám được lão Tư Lưu, nên không thèm trò chuyện với anh em. Ả Nĩu để ý đến Tường, lại càng làm cho họ tức tối hơn. Họ nghĩ đến chuyện vừa rồi, lão Tư Lưu không cho họ bén mảng đến nhà rạp ăn mừng, còn Tường nhất định sẽ được chén đầy bụng cả ngày; cùng là kéo xe với nhau cả, sao lại người thế này, người thế nọ? Xem kìa, ả Nĩu gọi Tường đi ra rồi! Anh em mắt nhìn theo Tường, chân cũng muốn bước. Họ lững thững đi ra.

Ả Nĩu và Tường đang đứng nói chuyện dưới ngọn đèn đất. Anh em nhìn nhau, gật gù.

14

Tiệc mừng ở nhà lão Tư Lưu làm linh đình lắm. Lão rất bằng lòng vì có nhiều người đến chúc thọ lão. Một điều khiến lão càng đắc ý là có rất nhiều bạn cũ cũng đến mừng. Nghe lời những người bạn cũ này nói, lão thấy lễ mừng thọ lão không những tổ chức linh đình mà còn lại "cải lương" nữa. Cách ăn mặc của những người kia có phần lạc lõng, còn lão thì đánh một cái áo dài, áo khoác ngoài bằng da lót lông, mới tinh. Về mặt làm ăn mà nói, có mấy ông bạn ngày trước giàu hơn lão nhiều, nhưng bây giờ, qua hai ba chục năm, họ càng ngày càng sa sút, có người không kiếm đủ ăn. Nhìn họ, rồi lại nhìn cái rạp ăn mừng, cái bàn thọ, bức tranh vẽ cảnh cầu Trường Bản, mâm cỗ ba bát đại, lão thấy rõ ràng lão hơn hẳn họ, lão đã "cải lương" rồi. Ngay đến cả việc bài bạc, lão cũng chỉ định đánh mạt chược thôi, so với cái trò đánh xóc đĩa, lịch sự thanh cao hơn nhiều.

Thế nhưng, giữa cảnh tưng bừng náo nhiệt đó, lão thấy hơi buồn. Quen sống một thân một mình, lão cứ tưởng khách khứa đến mừng chẳng qua chi là ông chù hiệu, ông quàn lý, và những tay anh chị thường ngày lão vẫn hạ cố giao du. Ngờ đâu, lại có cà các bà các cô nữa. Tuy ả Nĩu có thế tiếp đãi chào mời thay lão, nhưng lão bỗng thấy cánh cô đơn của lão, không vợ, được mỗi mụn con gái, trông lại cứ y như đàn ông ấy. Giả dụ, ả Nĩu là con trai, tất nhiên đã sớm có vợ con rồi, dù cho lão góa vợ chăng nữa, cành nhà chắc cũng chẳng đến nỗi vắng vé như thế này. Đúng thế, lão chẳng thiếu gì sất, chỉ thiếu mỗi đứa con trai. Tuổi ngày càng cao, thì hy vọng có con trai càng mong manh. Mừng thọ vốn là việc vui, ấy thế mà lại đâm ra ủ dột âu sầu. Mặc dù đã "cải lương", nhưng không có con nối nghiệp thì tất cả chẳng phải đểu là công toi hay sao?

Buổi sáng, lão vui lắm, mọi người chúc mừng lão, lão trịnh trọng nhận lễ, dường như mình là một vị lão anh hùng, hơn hẳn ngày thường. Buổi chiều, lão đã ỉu đi một phần. Trông thấy các bà dắt theo con cháu, lão vừa thèm, vừa ghen, cũng không dám gần gũi vuốt ve bọn trẻ nhò, cũng chính vì thế lão cảm thấy ngượng nghịu. Lão nổi giận đến nơi, nhưng rồi cũng lại không dám cáu gắt ngay lúc ấy; lão biết, mình là người giao thiệp rộng, không thể lòi mặt xấu ra trước bạn hữu được. Lão mong sao chóng hết ngày đi, đế khỏi phải chịu những nỗi bực dọc dó.

Trong ngày vui mừng của lão, cũng lại còn một điều không vui nữa là, buổi sáng, lúc dọn cơm cho anh em phu xe suýt nữa Tường đánh nhau với người ta.

Hơn tám giờ, bắt đầu dọn cơm. Anh em phu xe ai nấy đều có vẻ không bằng lòng. Tuy hôm qua không phải nộp thuế, nhưng hôm nay không ai đến ăn không cả; năm xu một hào, kẻ ít người nhiều, ai cũng góp tiền mừng. Ngày thường, anh em là những người nghèo khổ, lão Tư Lưu là chủ; hôm nay, theo anh em nghĩ, họ là khách không nên đối đãi với nhau như thế mới phải. Huông chi, ăn xong là phải đi ngay, không cho kéo xe ra nữa. Năm hết tết đến! Tường biết rõ mình không ở trong số những người ăn rồi phải đi, nhưng anh ta muốn cùng ngồi ăn với anh em. Một là, ăn xong tiện đi làm việc, hai là để cho thân mật. Nhưng cùng ngồi với anh em, thì anh em có bao nhiêu bực dọc với lão Tư Lưu lại đem trút cả lên đầu anh ta. Vừa ngồi yên chỗ, đã có người lên tiếng:

- Ái chà, ông là khách quý cơ mà, sao lại ngồi cùng với cánh chúng tôi đây?

Tường cười xoà, không thấy ý nghĩa sâu xa của câu nói. Mấy ngày nay, anh ta không hề nói những lời dông dài, không cần thiết, vì thế óc anh ta hầu như cũng chẳng chú ý đến chuyện gì cả.

Anh em phu xe không dám nổi nóng với lão Tư Lưu, nhưng, lão ta thết, thì ăn được chừng nào cứ ăn. Món ăn không thêm, còn rượu thì không hạn chế, rượu mừng cơ mà! Anh em không ai hẹn ai, đều cùng có ý mượn hơi men để khuây nỗi buồn bực. Người thì cứ uống tì tì, người thì uống thi với nhau. Lão Tư Lưu không tiện ngăn. Tường thấy mọi người uống, cũng không tiện không theo họ, cũng uống hai cốc. Uống mãi, uống mãi, mắt ai nấy đã đỏ lên, không giữ nổi miệng nữa. Có người nói:

- Này anh Tường “lạc đà", công việc đầu sai của anh khá đấy chứ! Đủ ăn một ngày, hầu cụ rồi lại hầu cô! Mai kia chẳng phải kéo xe nữa đâu, tốt hơn cả là cứ bám lấy đây!

Tường nghe, biết họ châm chọc nhưng cũng chẳng để tâm. Từ khi quay về hãng Nhân Hòa đến nay, anh ta đã nhất quyết không cần phải tỏ mặt anh hùng hảo hán gì nữa, mọi việc đều phó thác cho số mệnh. Ai muốn nói thế nào cứ việc nói, anh ta cố nhịn. Lại có người lên tiếng:

- Người ta đi theo đường khác. Anh em ta bán sức kiếm tiền, chứ anh Tường anh ấy chơi cái trò "nội công" cơ!

Mọi người cười ầm lên. Tường thấy rõ là họ "xỏ" minh, nhưng bao nhiêu nỗi uất ức khổ cực còn chịu được, hà tất phải để ý đến mấy lời nói vớ vẩn đó. Anh ta vẫn làm thinh. Bàn bên, có người hùa theo, gân cổ lên nói:

- Này, anh Tường, mai kia lên làm ông chủ hãng, chớ có quên anh em đấy nhé!

Tường vẫn không trả lời. Ngay bàn anh ta lại có người nói:

- Nói đi, “lạc đà”!

Tường đỏ ửng mặt lên, khẽ nói:

- Tôi thì làm gì mà lên chủ hãng được?

- Hừ, sao lại không được, sắp "tùng tùng xòe”[*] đến nơi rồi còn gì!

[*]Chu thich: Đám cưới Trung Quốc thường có cử nhạc, trống, thanh la, não bạt, đánh rầm rĩ. “Tùng tùng xoè” nhại theo điệu trống chiêng, có ý nói đến chuyện “cưới xin” (ND).

Tường không hiểu "tùng tùng xòe" là nghĩa gì, nhưng anh ta cảm thấy họ muốn nói chuyện anh ta và ả Nĩu. Mặt anh ta đang đỏ cứ dần dần trắng bợt ra. Ngay lúc đó, anh ta nghĩ đến tất cả mọi nỗi đau khổ uất ức phải chịu đựng từ trước tới nay, chứa chất đầy cả trong lòng. Nhẫn nhục mấy ngày nay, bây giờ hầu như không thể nhẫn nhục thêm được nữa, giống như nước mưa khi đầy ắp, thấy có lỗ thoát là ào ào tuôn ra. Ngay giữa lúc ấy, một anh phu xe lại chỉ thẳng vào mặt anh ta mà nói:

- Này, Tường này, anh đúng là "chịu đấm ăn xôi", trong bụng đã có chủ ý rồi. Có đúng thế không nào?

Tường đứng phắt dậy, mặt tái xanh, hỏi thẳng người vừa nói:

- Ra kia nói chuyện, có dám không nào?

Mọi người đều ngớ ra. Họ quả thực có ý muốn "xỏ" Tường, trêu chọc nhau tí chơi, chứ không ai muốn đánh nhau cả.

Tất cả bỗng im bặt, như bầy chim rừng thoáng thấy bóng diều hâu. Tường đứng sững ở đó, cao vượt hẳn mọi người. Anh ta thấy mình cô độc, nhưng cơn giận đang bốc lên, anh ta như tin chắc rằng, dù cho tất cả bọn họ có sấn vào, cũng chẳng phải là đối thủ của anh ta. Anh ta lại nhắc lại:

- Thằng nào có gan thì ra đây!

Mọi người bỗng thấy mình đùa quá trớn, hầu như cùng nói một lúc:

- Thôi mà, anh Tường, đùa anh tí thế cho vui thôi!

Lão Tư Lưu trông thấy, nói:

- Ngồi xuống đi, Tường!

Rồi quay về phía mọi người:

- Đừng thấy nó thật thà mà bắt nạt! Làm ồn lên, ta tổng cổ ra đây! Thôi ăn nhanh đi!

Tường bỏ bữa. Mọi người liếc nhìn lão Tư Lưu, rồi xới cơm. Một lát sau, họ lại cười cười nói nói ồn ào, như bầy chim rừng qua cơn nguy hiểm, lại bắt đầu ríu rít.

Tường ngồi xổm ở cổng một hồi lâu chờ bọn họ. Giả dụ trong đám anh em phu xe có ai còn dám trêu chọc anh ta, thì anh ta sẽ đánh liền. Thân mình chẳng có quái gì hết, đến đâu thì đến.

Nhưng anh em, cứ năm ba người một, kéo nhau đi ra, và cũng chẳng thấy ai gây chuyện với anh ta nữa. Tuy không đánh được ai, nhưng anh ta cũng đã hả giận một phần. Sau đó, anh ta nghĩ, thế là hôm nay đã làm mếch lòng bao nhiêu người. Ngày thường, mình vốn đã không có bạn thân, vì thế nên có những chuyện buồn bực đau khổ, không biết kể với ai, sao bây giờ lại làm mất lòng người ta như thế nữa? Anh ta hơi hối hận. Lúc nãy ăn được một tí, bây giờ nó cứ nằm ngang trong dạ dày, thấy hơi tức tức. Anh ta đứng dậy, mặc mẹ nó, người ta ba ngày hai trận đánh nhau, đói meo, ấy thế mà vẫn chẳng vui vẻ đó sao? Thật thà, vào khuôn phép, liệu có nhất định sẽ được sung sướng không? Nghĩ thế, anh ta tự vạch cho mình một con đường, khác hẳn với lòng hy vọng mong ước của anh ta bấy lâu nay. Tức là gặp ai cũng đàn đúm, đến đâu lợi dụng đấy, hút ghẹ thuốc, vay tiền chẳng trả, thấy ô-tô không thèm tránh, bạ chỗ nào cũng đái, suốt ngày sừng sộ với bọn cảnh sát, có bị tóm cổ bỏ bót hai ngày cũng chẳng coi vào đâu. Đúng thế, những anh em phu xe như vậy cũng vẫn cứ sống, vẫn vui vẻ, ít nhất cũng vui vẻ hơn thằng Tường này! Thôi được, thật thà, khuôn phép, có chí, đã không ăn thua gì, thì làm thằng lưu manh như thế lại hóa hay cơ đây! Tường nghĩ tiếp, không những hay, mà lại còn có khí khái anh hùng hảo hán nữa kia. Trời chẳng sợ, đất chẳng sợ, nhất định không chịu cúi đầu ngậm miệng chịu thiệt thòi. Đúng rồi! Phải thế mới được! Những tên khốn nạn trước kia cũng là người tốt cả!

Anh ta lại tiếc lúc nãy không đánh nhau đi! Nhưng không đi đâu mà vội, từ nay về sau, không chịu nhịn thằng nào con nào nữa!

Mắt lão Tư không để sót một việc. Qua những điều mắt thấy tai nghe, lão đã hiểu chín phần mười câu chuyện. Mây ngày nay, con gái lão ngoan ngoãn lắm. Hừ! Vì thấy thằng Tường quay về mà! Trông hai con mắt nó, cứ nhìn theo cái thằng ấy! Để ý đến chuyện này, lão lại càng thấy buồn phiền. Nghĩ mà xem, không có con trai thì không gây dựng được gia đình êm ấm. Con gái, rồi đây nó sẽ theo người ta, thế là cả đời coi như uổng phí tâm cơ. Thằng Tường kể cũng khá đấy, nhưng nhận nó làm rể thì không xứng với con mình. Một thằng phu xe nghèo kiết xác! Mình cả đời lăn lộn khó nhọc, đã từng kéo bè kéo đảng đánh nhau, đã từng vào tù ra tội, ấy thế mà rút cục lại để cho cái thằng quê mùa kia nó cuỗm mất cả con gái lẫn cơ nghiệp à? Đâu có dễ thế! Dù có thế cũng đừng hòng lấy được tiền của thằng Tư Lưu này! Thằng Tư Lưu này từ nhỏ đến giờ chẳng kiêng nể thằng nào con nào cả!

Ba bốn giờ chiều vẫn có người đến mừng, lão đã ngán lắm rồi. Khách càng tâng bốc lão giỏi lão tài, thì lão càng thấy nhạt nhẽo vô vị.

Sau lúc lên đèn, khách lục tục ra về, chỉ còn lại mươi mười lăm người ở quanh đấy, hoặc là bạn thân thiết, họp nhau đánh mạt chược. Nhìn cái rạp trống không giữa sân, ánh đèn đất chiếu trắng xanh, bàn ghế thì bóc bỏ đệm lót, lão Tư Lưu buồn thỉu, dường như lão nhìn thấy, sau khi lão chết đi, có lẽ rồi cũng đến thế này, chẳng qua rạp mừng thọ đổi thành rạp đám ma mà thôi, trước quan tài không có con cháu mặc sô gai quỳ lạy, chỉ có những người dưng nước lã đến ngồi đánh mạt chược canh đêm. Lão chỉ muốn tống mấy người khách kia về; còn sống ở đây thì ra oai cho chúng biết tay! Nhưng rút cục, chẳng thể trút giận lên đầu bạn bè được. Nỗi bực dọc của lão lại thoát ra phía khác, càng nhìn con gái, lão càng thấy nghịch mắt quá. Tường thì ngồi trong rạp, người với ngợm! Cái sẹo bên má dưới ánh đèn trông y như một viên đá cuội. Càng nhìn hai người, lão càng thấy khó chịu.

A Nĩu xưa nay vân quen thói thô kệch, sỗ sàng, nhưng hôm nay, từ đầu đến chân, trông ả chải chuốt đáo để. Ả lại làm duyên làm dáng tiếp đãi khách khứa, một là để lấy tiếng khen, hai nữa cũng là cốt để cho Tường biết tay. Buổi sáng, ả thấy cái trò đó cũng hay hay, đến quá trưa, hơi mệt, ả đã thấy chán, ả cũng muốn tóm được ai chửi một hồi cho hả. Đến tối, ả không thể chịu đựng được nữa, lông mày lúc nào cũng cứ dựng ngược lên.

Bảy giờ hơn, lão Tư đã hơi buồn ngủ, nhưng vẫn không nhận mình là già yếu, không chịu vào đi ngủ sớm. Mọi người mời lão đánh vài ván mạt chược, lão không nói là mệt mỏi, mà lại nói đánh mạt chược không thú, phải "xóc đĩa" hay "tài sửu" mới hợp khẩu vị lão. Không ai muốn thay đổi giữa chừng, lão đành ngồi chầu rìa vậy. Để cho tỉnh táo, lão lại uống mấy chén rượu nữa nói là ăn chưa no, và trách đầu bếp, tiền thì lấy nhiều mà thức ăn không đủ. Từ chuyện này bắt sang chuyện kia, lão chê tất cả những cái mà ban ngày lão thấy bằng lòng: rạp, bàn ghế, bát đĩa, đầu bếp. Tất cả, không cái nào đáng tiền, người ta đã bóp nặn lão, thật là oan uổng!

Ồng Phùng coi việc sổ sách lúc đó đã tính toán xong xuôi: hăm nhăm bức trướng, ba cỗ đào và miến, và khoảng hai chục đồng tiền mặt. Số người mừng thì không ít, nhưng phần nhiều chỉ năm xu, một hào.

Nghe nói thế, lão Tư Lưu lại càng cáu tợn. Biết thế thì chỉ dọn món "miến xào rau" thôi! Mâm cao đĩa đầy chén sạch, mà chỉ bỏ ra được hào chỉ! Như thế là chúng nó cho thằng già này ngốc nghếch, dễ bòn rút chứ gì! Từ nay về sau, không thèm bày vẽ gì nữa, không thể mất toi tiền như vậy được! Rõ ràng, bạn bè cùng thân thích, đều chỉ muốn ăn không thôi, sáu mươi chín tuổi đẩu rồi, mà lại khôn ba năm dại một giờ, để lũ khỉ con mất dạy nó xâu xé. Lão càng nghĩ càng uất, cả cái ban ngày lão thấy vừa ý, bây giờ lão cũng cho là ngớ ngẩn; lão vừa nghĩ, vừa lẩm bẩm những lời chửi rủa mà hàng phố đã lâu không ai dùng nữa.

Bạn bè chưa về hết, để giữ thể diện cho cả nhà, ả Nĩu định can ngăn bố đừng giở trò thô lỗ ra. Nhưng ai nấy chăm chú nhìn cả vào con bài cầm ở tay, hầu như chẳng để ý lão lẩm bẩm những gì, ả lại thấy không tiện nói, kẻo lại khơi chuyện ra thêm phiền. Cứ mặc cho ông cụ nói, giả ngây giả điếc, thế là xong.

Nào ngờ, lão nói mãi, nói mãi, rồi nói quàng ngay vào chuyện ả. Ả nhất định không chịu được cái nước ấy. Bố làm lễ mừng thọ, ả bận rộn suốt mấy ngày hôm nay rồi, ấy thế mà chẳng được cái gì cả. Ả đời nào lại chịu nhịn. Sáu chín chứ bảy chín cũng mặc! Phải nói cho ra nhẽ! Thế là, ả liền cãi trả:

- Thầy tự ý bỏ tiền, ra mừng, cớ sao lại lôi thôi đến con vào đấy!

Thấy cãi lại, lão hăng tiết lên:’ 1

- Lôi thôi đến mày à? Chính là vì mày cả! Mày tưởng mắt tao không trông thấy gì sất hay sao?

- Thầy trông thấy gì nào? Con cả ngày mệt nhọc, cuối cùng thầy lại đem con ra mà mắng chửi! Được rồi, thầy nói đi, thầy thấy cái gì nào?

Ả Nĩu không thấy mệt nữa, quai miệng ra mà nói.

- Đừng có thấy tao bận mà mày la mày lét. Thấy gì à? Hừ, tao trông thấy hết!

- Việc gì con lại phải mày la mày lét? - ả lắc lư cái đầu

Thầy trông thấy những gì nào?

Lão chỉ vào trong rạp:

- Còn cái gì nữa?

Tường đang lúi húi quét dọn trong đó.

- Anh ấy ư? - Ả Nĩu trong bụng thấy run run, không ngờ mắt ông bố lại tinh đến thế- Anh ấy làm sao?

- Không cần nói rõ làm gì, nói ra thêm dơ - lão đứng dậy - muốn lấy nó thì từ tao đi, mà muốn nhận tao làm bố thì phải bỏ nó, tao bảo thẳng cho mày biết thế. Tao là bố mày! Những việc ấy tao phải để mắt đến.

Ả Nĩu không ngờ sự việc lại hỏng chóng thế. Kế hoạch của ả mới thực hiện được một nửa, thì đã bị ông bố khám phá ra rồi! Làm thế nào bây giờ? Mặt ả đỏ lên, đỏ pha đen, lại thêm lượt phấn trôi đi gần nửa, dưới ánh đèn trắng xanh, trông như miếng gan lợn luộc chín, màu sắc khó tả và cũng đến khó coi. Ả thấy mệt, vừa xúc động, vừa tức giận, không nghĩ được cách đối phó ngay. Cách đó dù không thỏa đáng nhưng vẫn còn hơn là không có. Xưa nay ả chưa hề chịu thua ai bao giờ. Thôi được, cứ nói toạc ra hết, được thua ở cả keo này!

- Hôm nay nói thẳng ra cũng được, con tính chuyện riêng như vậy đấy, thầy thấy thế nào? Thầy nói cho con nghe xem. Chính thầy rước lấy cái bực vào người, chứ chẳng phải là con khơi ra đâu nhé!

Khách đánh mạt chược hình như đã nghe thấy hai bố con cãi nhau, nhưng không muốn để ý đến, ra sức xoa quân, xướng to hơn để át đi.

Tường nghe rõ chuyện, nhưng vẫn cứ cúi đầu quét; anh ta đã có sẵn ý định rồi. Nói toạc ra, cho đi tong cả cho xong chuyện!

Mắt lão Tư tròn xoe:

- Rõ ràng mày chọc tức tao! Chọc cho tao tức uất lên chết đi, để mày dễ bề đem tiền của tao ra mà nuôi nó phải không? Đừng hòng, tao còn sống dai lắm!

Ả Nĩu trống ngực đập thình thình, nhưng miệng vẫn nói cứng:

- Thầy đừng nói chuyện đâu đâu. Thầy định thế nào nào?

- Tao định thế nào? Đã nói rồi, có nó thì không có tao, mà có tao thì không có nó! Tao không đời nào lại để cho cái thằng phu xe khốn kiếp ấy nó lợi dụng.

Tường quẳng chổi, thẳng lưng lên, nhìn lão:

- Ông nói ai đấy?

Lão Tư Lưu cười vang lên:

- Hà hà... Mày định làm loạn à, hở thằng kia? Nói mày chứ nói ai nữa! Cút ngay! Thấy mày khá, tao nể mặt, mày lại dám vuốt râu hùm? Mày chưa nghe nói tao đã từng làm những gì à! Cút! Đừng để tao trông thấy mặt nữa! Con mẹ nó, lại định đến đây tính chuyện gỡ gạc!

Lão nói oang oang làm cho mấy anh phu xe tò mò kéo đến xem. Đám đánh mạt chược cứ tưởng lão cãi nhau với phu xe, vẫn chẳng buồn ngẩng đầu lên nhìn.

Tường chậm mồm chậm miệng, định nói nhiều, nhưng rút cục vẫn chẳng nói được câu nào cả. Anh ta đứng thừ ra đấy, vươn cổ, nuốt nước bọt.

- Cút! Cút ngay! Định đến đây gỡ gạc à? Của tao có vứt đi, cũng không đến thứ mày! Hừ!

Lão Tư Lưu cũng chỉ có ý đe suông thế thôi, chứ trong bụng lão không giận Tường bằng giận con gái. Ngay trong cơn nóng, lão vẫn thấy Tường quả là người thực thà.

- Được! Tôi đi đây!

Tường không nói được gì cả, đành vội vã rời khỏi nơi đây. Dù sao, đấu khẩu thì không đời nào anh ta lại địch nổi bố con nhà ấy được.

Anh em phu xe vốn tò mò kéo đến xem, nghe lão Tư Lưu mắng chửi Tường như thế, nhớ lại cảnh ban sáng, nên thấy khoái lắm. Đến khi nghe lão đuổi Tường đi, thì họ lại ngả về phía anh ta. Tường khó nhọc như thế, vậy mà lão ta lại ăn cháo đá bát, trở mặt ngay được. Họ bất bình thay cho Tường, có người chạy tới hỏi:

- Sao thế, Tường?

Tường lắc đầu.

- Anh Tường, hãy gượm đã! Rồi hẵng đi! - Một ý nghĩ thoáng qua óc ả Nĩu, y như một tia chớp, ả thấy rõ rằng kế hoạch của mình không ăn thua, cuống lên chẳng bằng nhanh tay, phải mau nắm chắc lấy Tường, đừng để đến nỗi xôi hỏng bỏng không - Việc của chúng mình, một sợi dây buộc chặt hai con châu chấu, không ai chạy đâu được. Anh chờ đấy, để tôi nói cho rõ đã - ả quay đầu về phía bố - Cứ nói thật cả ra vậy, con đã có mang với anh Tường rồi! Anh ấy đi đâu, con theo đấy! Thầy có cho con lấy anh ấy hay thầy đuổi cả hai chúng con đi, xin thầy cho biết!

Ả Nĩu không ngờ sự việc lại xoay chuyển nhanh đến thế, liền phải chơi nước bài cuối cùng. Còn lão Tư Lưu thì càng không thể ngờ rằng chuyện đã đến nỗi thế này. Nhưng thế nào thì thế, lão cũng không chịu thua, nhất là trước mặt mọi người.

- Con này trơ tráo thật, thế mà mở miệng ra nói được. Tao cũng rát mặt thay cho mày - Lão tát vào má lão một cái - Hừ, cái đồ không biết xấu!

Bọn khách đánh bài ngừng tay, biết là có chuyện lôi thôi, nhưng chẳng hiểu chuyện gì, nên không chõ miệng vào nói được. Kẻ đứng lên, kẻ cứ ngồi đờ ra mà nhìn quân bài của mình.

Đã nói toạc cả ra rồi, ả Nĩu thấy khoái lắm:

- Con không biết xấu à? Đừng để con phải kể chuyện của thầy ra. Thầy thì còn chừa cái gì? Mới lần đầu thôi, mà cũng là vì thầy cả: trai lớn hỏi vợ, gái lớn gả chồng, thầy năm nay sáu mươi chín rồi mà chả được tích sự gì! Có đông đủ mọi người đây. Ả quay ra chỉ bốn xung quanh - Cứ làm cho ra môn ra khoai là hay nhất, yên lòng thỏa dạ cả! sẵn có rạp đây, thầy cho làm nốt, thế là xong!

- Tao ấy à? - lão Tư Lưu mặt đỏ lên rồi lại tái nhợt đi. Lão liền giở cái giống du côn trước kia ra - Thà tao cho một mồi lửa đốt rụi đi, chứ không thể để cho mày dùng!

- Được rồi! - Môi ả Nĩu hơi run run, giống nói rất khó nghe - con ra ở riêng thì thầy cho con bao nhiêu tiền nào?

- Tiền của tao, tao thích cho ai, tao mới cho!

Nghe con gái nói bỏ nhà đi, lão cũng thấy hơi buồn, nhưng vì đang cãi nhau, nên lão cố dằn lòng lại.

- Tiền của thầy à? Con giúp đỡ thầy bằng ấy năm trời, thầy thử nghĩ xem, không có con, tiền thầy, không cúng đĩ hết sạch rồi chớ kể? Ăn ở cho có lương tâm với chứ.

Ả lại quay sang nhìn Tường:

- Anh nói đi!

Tường cứ đứng đực ra, không biết nói gì.

15

Nói đến chuyện đánh nhau, thì Tường không thể đánh người già, cũng không thể đánh đàn bà con gái. Sức lực của anh ta không dùng vào đâu được. Còn những trò vô lại thì anh ta nghĩ ra được nhưng không giở ra được. Đối với người như ả Nĩu, anh ta vốn có thể co cẳng chuồn thẳng, nhưng hiện giờ, ả đã cãi nhau với bố, lại vui lòng theo anh ta, chuyện bên trong như thế nào, không ai biết, còn như bề ngoài, thế là ả hy sinh vì anh ta. Trước mặt mọi người, anh ta đành phải tỏ ra khí khái anh hùng một chút. Anh ta không nói gì cả, cứ đứng ở đó, chờ xem ngã ngũ ra sao; ít nhất anh ta cũng phải xử sự như thế mới đáng mặt thằng đàn ông.

Hai bố con Tư Lưu chỉ nhìn nhau trừng trừng, không nói năng gì nữa. Tường cũng làm thinh. Anh em phu xe, ngả về bên nào cũng thấy rất khó xen miệng vào. Bọn khách đánh bài không thể không lên tiếng, im lặng mãi cũng khó coi, nhưng họ chỉ nói đưa qua loa một vài câu, khuyên hai bố con nên bớt nóng, cứ từ tốn mà nói, câu chuyện không có gì mà không thu xếp được. Họ chỉ có thể nói như thế không giải quyết gì, mà cũng chẳng định giải quyết gì cả. Thấy hai bên đều không muốn nín nhịn, vậy thì, quan giỏi cũng khó xử việc nhà, sẵn dịp, chuồn về thôi.

Mọi người chưa về hết, ả Nĩu liền vớ lấy ông Phùng, chủ hiệu than Thiên Thuận:

- Ông Phùng, bên ông rộng đấy chứ? Nhờ ông cho anh Tường sang ở tạm hai hôm. Công việc của chúng tôi thu xếp chóng thôi, anh ấy không ở lại lâu đâu. Anh Tường, anh đi theo ông Phùng, ngày mai tôi sẽ sang, chúng ta sẽ bàn với nhau. Nói trước cho anh biết, nhất định tôi phải ngồi kiệu hoa mới ra khỏi cái cổng nhà này! Ông Phùng, tôi gửi anh ấy bên ông, ngày mai sang xin lại!

Ông Phùng cứ hít hít mũi mãi, thực tình chẳng muốn gánh lấy cái việc ấy tí nào. Tường muốn rời khỏi cái chỗ này ngay, liền nói:

- Tôi không chạy mất đâu mà!

Ả Nĩu trợn trừng mắt nhìn bố, rồi quay vào buồng khóa trái cửa lại, khóc ré lên; ông Phùng cũng khuyên được lão Tư vào nhà. Lão lại liền giở cái trò lịch thiệp ra, mời mọi người hẵng khoan về vội, nán lại uống vài chén đã!

- Xin các ông cứ yên tâm, từ nay về sau, tôi thì từ mặt nó, chẳng hơi đâu mà nói cho mỏi miệng. Nó cứ bỏ đi đi, tôi coi như không đẻ nó ra thế là xong. Tôi ra ngoài giao thiệp suốt đời người, thế mà nó dám làm tôi chẳng còn mặt mũi nào nữa! Giá thử hai mươi năm về trước, tôi thì cứ cho mỗi đứa một nhát chết tươi! Bây giờ, mặc kệ nó. Một xu tôi cũng không cho. Một trinh cũng không cho! Không cho! Xem nó sống ra làm sao! Cho nó biết thân, rồi tự khắc hiểu, rút cục bố tốt hay thằng cha căng chú kiết ấy tốt! Các ông đừng về vội, uống thêm chén rượu nữa đã!

Mọi người nói qua loa vài câu, ai cũng muốn tránh chuyện rắc rối lôi thôi.

Tường sang bên xưởng than Thiên Thuận.

Chuyện quả được thu xếp rất nhanh. Ả Nĩu thuê được hai gian phòng nhỏ trong một xóm[*] ở Mao Gia Loan, thuê luôn thợ dán giây bốn bề trắng xóa, nhờ ông Phùng viết cho mấy chữ "Hỉ", dán giữa nhà. Xong, ả đi thuê kiệu: một cái kiệu loại Mãn thiên tinh[*], có phường bát âm, không cần đèn, không cần người dẫn kiệu. Thuê xong, ả tự may lấy một chiếc áo cưới bằng lụa hồng, may xong ngay trước tết, để ra riêng mồng năm khỏi sờ đến kim chỉ. Ngày cưới định vào mồng sáu tết, vừa tốt ngày lại vừa không phải "kiêng cửa"[*]. Sửa soạn đâu vào đấy cả rồi, ả liền bảo Tường phải sắm sửa cho mới từ đầu đến chân. "Cả đời mới có một lần!".

[*]Chu thich: Nguyên văn là: khu nhà (nhiều nhà có một cái sân chung, cho thuê từng gian)

[*]Chu thich: Một loại rước dâu, nóc trang hoàng nhiều quả cầu nhỏ bằng thiếc (ND).

[*]Chu thich: Theo tục lệ cũ, từ 23 tháng chạp cho tới mùng 5 tết, đàn bà con gái họ khác không được vào nhà. Nguyên văn là “kỵ môn” (ND).

Nhưng Tường trong tay chỉ có năm đồng bạc!

Ả Nĩu lại trợn mắt lên:

- Vậy thì hơn ba chục bạc tôi đưa cho anh đâu cả rồi!

Tường không thể không nói thật mọi chuyện xảy ra ở nhà ông Tào. Ả chớp mắt, dường như bán tín bán nghi:

- Thôi được, tôi cũng chẳng hơi đâu cãi vã với anh. Ăn ở phải cho có lương tâm! Đây, cầm lấy mười lăm đồng! Đến hôm đó mà không sắm sửa cho ra hồn chú rể, thì chớ trách.

Mồng sáu, ả Nĩu lên kiệu hoa, không hề nói qua với bố một câu, không có chị em đưa đón, không có bạn bè thân thích chúc mừng, chỉ có tiếng thanh la não bạt đánh ầm giữa phố phường sau ngày tết. Kiệu hoa thong thả qua cửa Tây An, qua Tây Tứ Bài Lâu, cũng làm cho một số người mặc áo mới - nhất là những anh em làm công ở các cửa hiệu - trầm trồ, khen ngợi.

Tường mặc bộ quần áo mới mua ở Thiên Kiều, mặt đỏ bừng, đầu đội chiếc mũ nhỏ bằng đoạn, giá ba hào chỉ. Anh ta dường như không nhớ đến mình nữa, cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn nhìn mọi cái, và dường như không quen biết cả chính bản thân mình. Từ cửa hàng than đen ngòm chuyển tới một gian phòng cưới dán giấy trắng tinh, anh ta chẳng hiểu ra sao cả. Mọi việc trước đây đều như bên cửa hàng than, đen ngòm một đống, bây giờ lại bỡ ngỡ bước vào trong gian phòng trắng xóa dán mấy chữ "Hỉ" đỏ chói. Anh ta thấy tức cười và cũng lại thấy buồn rười rượi. Trong phòng kê giường, bàn ghế cũ của ả Nĩu; bếp lò và bàn làm thức ăn đều mới sắm cả. Góc nhà có dựng cái phất trần bằng lông gà ngũ sắc. Bàn ghế thì anh thấy quen mắt rồi, nhưng còn cái bếp lò, bàn bếp, và cái phất trần kia thì thật là xa lạ. Đồ đạc cũ mới bày chung một chỗ, khiến anh ta nghĩ đến quá khứ và lo cho tương lai. Mọi việc đều tùy người sắp đặt, bản thân anh ta giống như một thứ đồ vật kỳ quặc gì đó, một đồ trang sức gì đó, vừa mới lại vừa cũ. Anh ta không nhận ra mình nữa. Anh ta không muốn khóc, mà cũng chẳng muốn cười. Anh ta lực lưỡng như thế kia mà đi lại cử động trong gian nhà nhỏ bé và ấm áp này, giống y như một con thỏ lớn trong chiếc chuồng gỗ nhỏ, giương đôi mắt đỏ ngầu nhìn ra ngoài, rồi lại nhìn vào trong, có đôi giày chạy nhanh như bay, mà không sao chạy được.

Ả Nĩu mặc áo đỏ, mặt thoa phấn tô son, liếc mắt nhìn anh ta. Anh ta không dám nhìn thẳng vào mặt ả. Ả cũng giống như một vật gì kỳ quặc vừa mới lại vừa cũ, là con gái, mà cũng lại là nạ dòng, nửa đàn bà, nửa đàn ông, nửa như người, mà nửa cũng lại giống một con vật hung ác. Con vật hung ác đó mặc áo đỏ, đã tóm được anh ta, lại còn sửa soạn nuốt gọn anh ta. Ai cũng đều có thể nuốt anh ta được cả, nhưng con vật này lại ghê gớm hơn nhiều, nó cứ giữ riệt lấy anh ta không rời một phút, trợn mắt nhìn anh ta, rồi lại cười với anh ta, lại có thể ôm chặt lấy anh ta. Bao nhiêu sức lực của anh ta rồi đây sẽ bị nó hút hết sạch. Anh ta không thể nào trốn thoát được.

Anh ta bỏ chiếc mũ đoạn nhỏ xuống, thẫn thờ nhìn quá bông đỏ trên chỏm mũ, nhìn đến nỗi hoa cả mắt. Quay lại, anh ta thấy trên tường toàn những điểm đỏ ối, nhảy nhót, quay cuồng, ở giữa là ả Nĩu, một khối đỏ to hơn cả, đỏ hơn cả, đang cười một cách khả ố!

Đêm tân hôn, Tường mới rõ mọi chuyện: ả Nĩu không có chửa. Như làm trò quỷ thuật, ả giải thích cho anh ta nghe:

- Không nói dựng đứng lên cho anh như thế, thì đời nào anh lại ngoan ngoãn chịu gật đầu! Tôi buộc vào trong quần một cái gối! Ha... Ha...!

Ả cười chảy cả nước mắt:

- Anh ngốc lắm, thôi không nhắc đến chuyện ấy nữa. Dù sao tôi cũng rất xứng với anh; anh là người thế nào? Tôi buộc lòng phải cãi nhau với thầy tôi để theo anh, anh lại còn không cảm tạ trời phật đi à?

Ngày hôm sau, Tường dậy rất sớm. Nhiều hiệu đã mỏ cửa bán hàng, nhưng vẫn còn một vài hiệu đóng cửa. Câu đối mừng xuân vẫn đỏ thắm, nhưng tiền vàng[*] treo ở cửa có đồng bị gió thổi rách rồi. Phố phường vắng vẻ, nhưng xe kéo thì nhiều. Anh em phu xe hầu như cũng phấn chấn hơn ngày bình thường đôi chút, gần như ai nấy đều đi giày mới; có xe còn dán một miếng giấy đỏ sau thùng xe nữa. Tường rất thèm được như anh em phu xe đó, cảm thấy họ có vẻ bước sang năm mới thật, còn mình thì mấy ngày nay ru rú ở xó nhà y như trong cái hũ. Họ đều an phận thủ thường mà làm ăn, còn anh ta chẳng có nghề ngỗng gì cả, cứ đi lang thang ngoài phố. Anh ta không ưa cái trò ăn không ngồi rồi, nhưng tính chuyện làm ăn mai sau thì tất phải bàn với ả Nĩu - bàn với vợ anh ta. Anh ta phải ăn nhờ vào vợ, một người vợ như vậy đó! Thân thể cao lớn như thế này, khỏe mạnh như thế này lại đâm ra vô dụng! Việc trước tiên của anh ta là phải hầu hạ vợ, hầu hạ cái con có răng nanh mặc áo đỏ kia. Anh ta không còn là người nữa, mà chỉ là một cục thịt. Bản thân anh ta không còn gì nữa, chỉ còn biết giẫy giụa giữa hai hàm răng của ả, giống như con chuột nhắt bị con mèo vồ được. Anh ta không muốn bàn chuyện với ả, anh ta phải bỏ đi! Anh ta đã quyết chí rồi, nhất định sẽ đi thẳng, không nói năng gì hết. Như vậy cũng chẳng có gì là quá đáng, ả vốn là một con yêu cái, đã dùng gối để làm trò quỷ thuật với anh ta. Anh ta cay đắng trong lòng, không những muốn xé nát bộ quần áo mới đang mặc trên người, mà còn muốn lấy nước rửa sạch cả trong lẫn ngoài con người mình. Anh ta cảm thấy khắp người đều dính cái gì bẩn lắm, làm cho lợm giọng buồn nôn. Anh ta ngán ngẩm vô cùng, muốn không bao giờ nhìn mặt ả nữa!

[*]Chu thich: Theo tục lệ cũ, ngày tết nguyên đán, ở cửa có treo những đồng tiền cắt bằng giấy, trên đề những chữ tốt lành để cầu may (ND).

Đi đâu bây giờ? Không có nơi nào là đích cả. Ngày thường kéo xe, chân tay anh ta chạy theo mồm người khác điều khiển. Hôm nay, chân anh ta tự do rồi, nhưng trong lòng thì rất hoang mang. Thuận đường anh ta đi qua Tây Tứ Bài Lâu, thẳng xuống phía dưới, qua cửa Tuyên Vũ: đường thẳng tắp thế kia, anh ta lại càng không muốn rẽ về ngả nào cả. Qua cửa thành, vẫn cứ đi xuôi xuống, anh ta thấy phía trước có một nhà tắm. Anh ta quyết định trước hết hãy tắm cái đã.

Cởi hết quần áo ra, nhìn thân thể mình, anh ta xấu hổ vô cùng. Bước vào bổn tắm, nước nóng làm toàn thân anh ta tê dại đi. Anh ta nhắm mắt lại, da thịt tê tê buồn buồn, như đang tiết ra những chất nhơ bẩn. Anh ta hầu như không dám sờ mó vào người mình, trong lòng trống rỗng, trán toát mồ hôi hột. Cho đến khi hơi thở đã gấp rút, anh ta mới uể oải nhoài lên, người đỏ hỏn, y như trẻ con mới đẻ. Anh ta vẫn chưa dám bước ra. Anh ta quàng lên người một chiếc khăn bông lớn, vẫn thấy mình xấu xa thô kệch. Tuy mồ hôi đã nhỏ giọt, nhưng anh ta chưa cho là sạch; những cái dơ bẩn trong lòng dường như không bao giờ rửa đi. Trong con mắt lão Tư Lưu, trong con mắt mọi người quen biết, anh ta vẫn mãi mãi là người quyến rũ đàn bà con gái.

Mổ hôi chưa chảy hết, anh ta đã vội vàng mặc quần áo vào, rồi chạy ra ngoài. Anh ta sợ mọi người trông thấy anh ta trần truồng. Ra khỏi nhà tắm, gió mát thổi tới, anh ta thấy khoan khoái dễ chịu. Phố xá cũng đông vui hơn lúc nãy. Bầu trời quang đãng, làm cho sắc mặt mọi người thêm sáng sủa. Trong lòng Tường thấy bứt rứt, không biết nên đi về đâu bây giờ. Đi xuôi xuống, rẽ về bên tay phải, rồi lại đi xuôi xuống phía dưới, qua Thiên Kiều; sau tết, hơn chín giờ, người làm công ở các cửa hiệu đã ăn cơm sớm, đến đây cả. Đủ mọi thứ quầy hàng, đủ mọi trò chơi, đều đã bày xong chiếm chỗ đâu vào đây cả rồi. Tường đến nơi, thấy vòng trong vòng ngoài đông nghịt, bên trong thì tiếng thanh la tiếng trống. Anh ta chẳng muốn xem trò gì hết. Anh ta không biết cười là gì nữa rồi.

Ngày thường, những trò hát vè, gấu làm xiếc, quỷ thuật, hát xướng, ương ca, kể chuyện, mãi võ ở đây đều làm cho anh ta thấy thực sự thích thú, cười ha hả. Anh ta không muốn rời bỏ Bắc Bình, một trong nguyên nhân cũng là đất Thiên Kiều này. Mỗi khi nhìn thấy những mái lều và đám người đông đúc xúm xít vòng trong vòng ngoài ở Thiên Kiều, anh ta liền nghĩ đến bao chuyện buồn cười, hay hay. Giờ đây, anh ta chẳng buồn chen chân vào. Trong tiếng cười của Thiên Kiều không có tiếng cười của anh ta. Anh ta rời đám đông, đi đến một chỗ vắng, nhưng lại tiếng tiếc. Không, không thể rời bỏ chỗ đông vui thích thú này được. Không thể rời bỏ Thiên Kiều, không thể rời bỏ Bắc Bình. Đi, nhưng không biết đi đâu, đành vẫn cứ phải về bàn với mụ vợ kia vậy! Anh ta không thể bỏ đi, mà cũng chẳng thể ngồi không được! Anh ta phải lui lại một bước, cũng đúng y như những người khác đến chỗ cùng đường, vẫn phải nghĩ đến chuyện lui lại một bước. Bao nhiêu nỗi khổ sở uất ức còn chịu được, hà tất cứ phải băn khoăn mãi về cái chuyện đó? Anh ta đã không thể xoay chuyển được mọi chuyện trong quá khứ, thôi thì đành cứ xuôi đường mà đi vậy!

Anh ta đứng dừng lại, nghe tiếng cười, tiếng thanh la, tiếng trống ổn ào náo nhiệt, nhìn dòng người, xe cộ đi đi, lại lại, bỗng sực nhớ đến hai gian buồng kia. Tai anh ta hầu như không nghe thấy gì nữa, mắt anh ta hầu như cũng chẳng trông thấy gì nữa, ngoài hai gian buồng trắng xóa vuông vắn, ấm áp, dán chữ "Hỉ" đỏ kia. Tuy mới ở một đêm, nhưng anh ta thấy rất quen thuộc, thân thiết, ngay cả người đàn bà mặc áo đỏ kia dường như cũng không thể gạt bỏ đi một cách dễ dàng được. Đứng ở chốn Thiên Kiều này, anh ta chẳng có gì, chẳng ra gì hết, nhưng về trong hai gian buồng nhỏ bé kia, thì cái gì cũng có. Về thôi, chỉ có về mới tìm ra lối thoát. Mọi chuyện của ngày mai đều ở cả trong hai gian buồng kia. Xấu hổ, ngại ngùng, buồn bực, đều không có ích gì cả. Muốn sống thì phải tìm đến nơi có lối thoát.

Anh ta đi một mạch, về đến nhà cũng vào khoảng mười một giờ rồi. Ả Nĩu đã làm xong cơm trưa: bánh hấp nóng, thịt viên hầm rau, một đĩa thịt đông, một đĩa củ cài dầm tương. Mọi thứ sẵn sàng cả, chỉ còn món thịt viên hầm rau là đang để trên bếp, tỏa mùi thơm ngào ngạt. Ả Nĩu cởi áo đỏ ra, mặc quần áo bông ngày thường, đầu cài một bông hoa bằng nhung đỏ, giữa bông hoa còn đính một đồng tiền bằng giấy trang kim. Tường nhìn ả không thấy ra vẻ cô dâu mới, nhất cử nhất động đều tỏ ra thông thạo, già dặn, và lại còn có vẻ tự đắc y như một người lấy chổng từ thuở nào. Tuy không ra vẻ cô dâu mới, nhưng rút cục vẫn làm cho anh ta cảm thấy có chút gì mới mẻ. Á Nĩu làm cơm, dọn dẹp nhà cửa. Mùi thức ăn thơm ngon, không khí ấm áp trong buồng là những cái anh ta chưa từng được nếm bao giờ. Mặc dù ả thế nào, anh ta cũng cảm thấy mình là người đã thành gia thất rồi. Mà đã là gia thất thì thế nào chăng nữa cũng vẫn có cái đáng yêu của nó. Anh ta thấy lúng túng không biết làm gì.

Vừa múc thức ăn, ả Nĩu vừa hỏi:

- Đi đâu về thế?

Tường cởi áo dài ra:

- Đi tắm!

- Bận sau đi đâu, bảo một tiếng nhá! Đừng có lừng lững, cứ thế bỏ đi!

Tường chẳng nói chẳng rằng.

- Có biết "ừ" một tiếng không? Không biết, để tôi dạy cho!

Anh ta ừ một tiếng, chẳng còn cách nào khác. Anh ta biết mình lây phải mụ vợ là con quỷ dạ xoa, nhưng con quỷ dạ xoa này lại biết làm cơm, biết dọn dẹp nhà cửa, biết chửi mắng anh ta, nhưng cũng lại biết săn sóc anh ta, khiến anh ta chẳng hiểu phải nên làm thế nào. Anh ta ăn bánh hấp. Bữa ăn có vẻ ngon lành nóng sốt hơn trước kia thật, nhưng anh ta ăn không thấy khoái miệng, nhai đấy, nhưng vẫn không thấy cái thú ăn như hổ đói, ăn đến vã mố hôi ra như trước kia.

Ăn xong, anh ta lên giường nằm, gối đầu vào lòng bàn tay, nhìn trần nhà.

Tiếng ả Nĩu ở gian bên kia gọi sang:

- Này! Sang rửa hộ bát đĩa tí. Tôi có phải là con sen đâu!

Anh ta uể oải đứng lên, liếc nhìn ả một cái, rồi đến làm giúp. Ngày thường, anh ta làm vốn rất siêng năng, bây giờ thì làm có vẻ khó nhọc lắm. Lúc ở hãng xe, anh ta vẫn thường làm giúp ả luôn, bây giờ càng nhìn ả, anh ta càng thấy ghét, có lẽ mãi mãi không bao giờ anh ta lại ghét cay ghét đắng ai như ghét ả, và anh ta cũng chẳng hiểu vì sao. Bực dọc, nhưng không dám cáu, cứ ngâm ngẩm ở trong lòng. Đã không thể đành đoạn rời bỏ nhau ra thì cãi vã với nhau cũng chẳng có nghĩa lý gì cả. Quanh quẩn trong gian buồng nhỏ này, Tường cảm thấy cuộc đời toàn là đau khổ uất ức.

Dọn dẹp xong mọi thứ, ả Nĩu đưa mắt nhìn bốn xung quanh một lượt, thở dài, nhưng rồi lại cười ngay:

- Thế nào?

- Gì cơ?

Tường đang ngồi xổm cạnh hỏa lò, hơ tay. Tay cũng chẳng rét đâu, nhưng anh ta không biết để vào chỗ nào, thì lên hơ tí vậy. Hai gian buồng cũng ra trò lắm, vậy mà anh ta không biết đặt chân đặt tay vào đâu cho ổn.

- Dẫn tôi đi chơi chứ? Đến Bạch Vân Quan nhá! À thôi, muộn rồi! Đi phố vậy!

Á muốn hưởng đầy đủ niềm vui của một đôi vợ chổng mới cưới. Tuy cưới xin chẳng ra cái quái gì, nhưng tự do, không ai câu thúc thế này cũng tốt, vợ chổng càng được ở bên nhau luôn, chơi bời thỏa thích mấy ngày. Ở nhà bố, ả không thiếu ăn, thiếu mặc, không thiếu tiền tiêu vặt, chỉ thiếu một người đàn ông tri kỷ. Bây giờ, ả phải vớt vát lại, phải cùng Tường đi diễu ngoài phố, ngoài chợ, những nơi đông đúc.

Tường không muốn đi. Một là, anh ta thấy cặp kè vợ đi khắp nơi thì dơ dáy lắm. Hai là, anh ta cho rằng, rước phải mụ vợ thế kia, thì chỉ nên giấu mặt ở trong nhà thôi; chẳng phải đẹp đẽ gì, càng ít bày ra trước mắt mọi người càng tốt. Lại nữa, đi ra ngoài, lẽ nào không gặp người quen. Anh em phu xe ở nửa phía tây thành phố này, ai không biết à Nĩu và Tường. Anh ta không thể đi rước lấy những lời nói ra nói vào của mọi người.

Tường vẫn ngồi xổm ở đấy.

- Này, bàn tí việc đã nào!

Ả bước tới gần, đứng cạnh bếp lò:

- Có chuyện gì mà bàn với bạc!

Tường rụt tay về, đặt lên đầu gối, thẫn thờ nhìn ngọn lửa. Một lúc lâu anh ta mới nói một câu:

- Tôi không thể ngồi không thế này được!

A Nĩu cười:

- Rõ cái số khổ chửa! Một ngày không kéo xe, thấy ngứa ngáy rồi phải không? Xem ông cụ đấy, ăn chơi cả đời, đến lúc già ra mở xưởng xe, chẳng phải kéo, chẳng phải mệt nhọc gì, chỉ dựa vào mưu trí mà làm ăn. Anh cũng phải học lấy tí chút, kéo xe suốt đời, sống lâu được mấy tuổi? Giờ chúng ta hãy chơi vài ngày đã, công việc cũng chẳng phải bận riêng mấy ngày này, gì phải cuống lên thế. Mấy ngày nay tôi không muốn đối lời với anh, anh đừng có cố tình trêu tức tôi!

Tường quyết không chịu nhượng bộ:

- Bàn qua công việc tí đã!

Ả Nĩu bê cái ghế đẩu đến, ngồi xuống cạnh hỏa lò.

Tường hỏi:

- Thế mình có bao nhiêu tiền?

- Đấy! Tôi biết anh sẽ nói chuyện ấy mà! Có phải anh lấy vợ đâu, anh đào mỏ đấy thôi, có phải thế không nào?

Như bị một luồng gió thốc vào miệng, Tường nuốt ừng ực mấy cái. Lão Tư Lưu, anh em phu xe ở hãng Nhân Hòa đều cho anh ta là tham tiền mới vớ lấy ả Nĩu. Bây giờ cũng chính mồm ả ta nói thế. Xe của mình, tiền của mình, bỗng dưng mất toi cả, đến nỗi bây giờ vì mấy đồng tiền của vợ, phải chịu ép một bề, ăn miếng cơm cũng phải khom lưng xuống! Anh ta chỉ muốn đưa tay ra bóp chặt lấy cổ à, bóp, bóp cho ả trợn mắt lên; bóp cho chết đi và sau thì sẽ tự bóp cổ mình. Chúng nó không phải là người, thôi thì chết đi, anh ta cũng không phải là người, cũng chết đi! Đừng ai sống nữa!

Tường đứng lên, lại định bỏ đi. Vừa rồi đáng lẽ không nên quay về mới phải.

Thấy sắc mặt Tường đổi khác, ả Nĩu lại đấu dịu một chút:

- Được rồi, tôi nói cho anh biết nhé. Tôi trong tay có khoảng năm trăm đồng. Cả kiệu, thuê nhà, chồng ba tháng tiền nhà trước, dán giấy, may quần áo, mua sắm các thứ, lẫn đưa cho anh, đổ đồng tất cả suýt soát một trăm, còn khoảng bốn trăm. Việc gì mà lo vội. Cứ vui vẻ thỏa thích đi đã. Anh quanh năm suốt tháng kéo xe vã mồ hôi ra, cũng nên chơi cho sướng cái thân mấy ngày. Còn tôi, bằng này tuổi đầu rồi, cũng phải ăn chơi cho vui vẻ vài ngày chứ. Đợi khi nào sắp hết tiền rồi, ta lại đến cầu cứu ông cụ vậy. Hôm ấy tôi mà không cãi nhau với ông cụ thì nhất quyết là không ra khỏi nhà được. Bây giờ tôi cũng hết cơn tức rồi, thế nào thì bố cũng vẫn là bố. Ông cụ cũng chỉ có mỗi mình tôi, anh lại vốn được ông cụ mến, chúng ta chịu nhún đi, xin lỗi ông cụ, thì yên chuyện thôi mà. Như thế có phải tiện biết bao nhiêu không, ông cụ có tiền, chúng mình đàng hoàng thừa hưởng, chẳng có gì là không phải cả. Bằng vạn anh đi làm trâu ngựa cho người ta! Độ mấy ngày nữa, anh về trước xem sao; có lẽ ông cụ cũng chưa cho anh gặp mặt đâu. Một lần không cho, thì hai lần. Ông cụ được đẹp mặt, chắc chắn cũng phải nghĩ lại chứ! Sau đó tôi sẽ về, dù thế nào cũng phải lựa lời nói khéo với ông cụ mấy câu, chưa biết chừng chúng mình lại dọn về đó cũng nên. Dọn về đấy thì nhát định là đàng hoàng, đường đường chính chính, không ai dám dị nghị nữa. Còn như cứ ở đây mãi thì vẫn cứ là lén lén lút lút. Anh xem thế có phải không?

Tường chưa nghĩ đến chuyện này. Sau khi ả Nĩu đến nhà ông Tào tìm anh ta, anh ta có nghĩ lấy ả về làm vợ, sẽ lấy tiền của ả mua chiếc xe mà kéo. Tuy lấy tiền của vợ không lấy gì làm đẹp mặt lắm, nhưng chuyện giữa anh ta và ả cũng là chuyện không nói ra được, thì làm thế cũng chẳng sao. Anh ta không ngờ ả Nĩu lại còn cái trò như thế nữa. Cúi đầu chịu nhẫn nhục, cố nhiên đó là một cách, nhưng Tường vốn không phải con người như thế. Nghĩ đi nghĩ lại, anh ta hầu như đã rõ ít nhiều: tiền của mình, người ta cướp mất một cách trắng trợn, oan ức mà không biết kêu vào đâu. Bây giờ người ta cho mình tiền, không nhận không được, mà nhận rồi thì không đủ tư cách làm con người nữa. Có chí, có sức lực cũng vô ích thôi, phải cúi đầu làm tôi tớ cho người ta: làm đồ chơi cho vợ, làm nô lệ cho bố vợ. Người ta ở đời chẳng ra cái quái gì hết, chỉ như con chim, đi kiếm ăn lấy thì dễ mắc vào bẫy, ăn thức ăn của người ta thì phải ngoan ngoãn nằm trong lồng, hót cho người ta nghe, và có thể bị người ta đem bán bất cứ lúc nào.

Anh ta không muốn đến tìm lão Tư Lưu. Với ả Nĩu còn có cái quan hệ xác thịt, chứ với lão Tư Lưu chẳng có quan hệ gì cả. Đã dại với cô con rồi, không thể còn dại đi cầu xin lão bố nữa.

- Tôi không muốn ăn không ngồi rồi!

Anh ta chỉ nói một câu như thế để đỡ phí lời và khỏi phải cãi nhau.

Ả Nĩu giống hờn mát:

- Cái số khổ! Không muốn ngồi không thì đi buôn.

Gân trên trán anh ta giật giật:

- Tôi không biết buôn bán! Kiếm không ra tiền đâu! Tôi chỉ biết kéo xe, chỉ thích kéo xe thôi!

- Bảo cho anh biết, không cho anh kéo xe đâu! Tôi không muốn để anh mồ hôi mồ kê, hôi rình rình mà trèo lên giường tôi! Anh có ý anh, tôi có ý riêng của tôi, thừ xem ai bắt ép được ai nào! Anh lấy vợ, nhưng tôi bỏ tiền ra, anh không bỏ ra lấy một đồng xu nhỏ nào. Thử nghĩ xem, ai phải nghe ai?

Tường không biết nói thế nào cả.

16

Ngồi không đến rằm tháng riêng, Tường không thể chịu đựng được nữa.

Ả Nĩu rất hí hửng. Ả bận rộn làm bánh trôi, bánh cuốn, ban ngày thì đi các nơi, đền miếu chùa chiền, ban tối thì đi xem đèn. Ả không cho Tường có ý kiến gì cả, nhưng không bao giờ để anh ta ăn uống thiếu thốn, luôn luôn tìm cách mua hoặc làm những món ngon lành mới lạ cho anh ta ăn. Trong xóm này có đến bảy tám hộ, phần lớn chỉ ở một gian; có khi già trẻ lớn bé, tới bảy tám người. Họ, người thì kéo xe, người thì buôn thúng bán mẹt, người làm cảnh sát, người đi làm thuê, mỗi người một nghề, không ai ngồi không, ngay cả trẻ con cũng xách một cái làn, sáng sớm đi xin cháo bố thí, chiều đi nhặt than. Chỉ có những đứa trẻ bé tí mới lê la hoặc đánh chửi nhau trong sân, rét, đít đỏ ửng cả lên. Than bếp, rác rưởi, nước bẩn đều đổ ngay ra sân, chẳng ai nghĩ đến quét dọn. Giữa sân, băng đóng dầy. Bọn trẻ con đi nhặt than về, lấy chỗ này làm sân trượt băng, hò reo ầm ĩ. Khổ nhất là các ông bà già và chị em phụ nữ. Người già thì ăn chẳng có, mà mặc cũng không, nằm suông trên giường đất lạnh giá, chờ con cái kiếm được ít tiền về, húp bát cháo. Con cái khi trở về có thể có ít tiền, mà cũng có thể tay không, về lại còn cáu gắt, kiếm chuyện làm ồn lên. Người già bụng trống không, nuốt nước mắt thay nước uống. Còn chị em vừa phải hầu hạ người già, lại vừa phải trông nom con cái, lại vừa phải chiều chuộng chổng là kẻ kiếm ra tiền. Có chửa nhưng vẫn phải làm lụng như thường, ăn thì chỉ có bánh ngô bánh sắn, bát cháo khoai. Không những phải làm lụng như thường mà lại còn phải đi xin cháo bố thí, kiếm ít việc vặt vãnh - người già con trẻ được no bụng nằm yên chỗ rồi, nhưng họ còn phải giặt, phải làm, phải khâu vá bên ngọn đèn dầu leo lét. Nhà thì chật chội, vách thì thủng tứ tung, gió lùa vào phía này, tuôn ra phía kia, được chút hơi ấm nào thì cuốn theo hết. Trên người họ, toàn những mảnh vải rách, bụng được lưng bát cháo, hoặc có khi lại còn phải đeo cái thai sáu bảy tháng. Họ phải làm việc, cố sao cho già trẻ được no. Người họ rề rề những bệnh, chưa đến ba mươi, tóc đã rụng. Nhưng không lúc nào nghỉ chân nghỉ tay, cứ ốm thế cho tới lúc chết. Chết rồi, quan tài cũng phải đi xin ở những "người từ thiện". Còn các cô gái mười sáu mười bảy tuổi đầu rồi mà vẫn không có quần, chỉ quấn mảnh vải đụp, ở lì trong nhà - cái nhà tù tự nhiên - làm giúp mẹ. Muốn đi ỉa cũng phải chờ lúc trong sân không có ai mới dám chạy ra, y như ăn trộm; mùa đông, họ không hề được thấy ánh nắng và bầu trời. Cô nào xấu xí thì mai đây lại nối nghiệp mẹ; cô nào sạch mắt một chút thì tự họ cũng biết, sớm muộn thế nào bố mẹ cũng đem bán, đến nơi "được ăn sung mặc sướng”!

Ở trong xóm này, ả Nĩu cảm thấy đắc chí lắm. Ả là người độc nhất có ăn có mặc, không phải lo gì cả, mà lại có thể đi chơi nhởn nhơ. Ả đi ra đi vào, mặt vác lên, không những cảm thấy hơn người, mà lại còn sợ người nhờ vả bòn mót. Ả không hề để ý đến bọn người khốn khổ kia. Hàng vặt đưa vào đấy bán, hầu như đều là những thứ hàng cực kỳ tồi tàn: thịt vụn đẽo ở xương ra, dưa cải, nước đậu sống, thịt lừa, thịt ngựa. Từ khi ả Nĩu dọn đến đây, những người bán thịt cừu, cá nướng, bánh nướng, đậu phụ rán mặn đi qua cửa đều gọi ả ra mua. Mặt vênh lên, ả bưng những món ăn vặt đó vào nhà. Bọn trẻ con đứa nào đứa nấy đều cho những ngón tay như những que sắt vào mồm, giương mắt nhìn theo ả, dường như ả là một bà công chúa nào vậy. Ả đến đây cốt để hưởng sung sướng, cho nên ả không thể, không chịu và cũng không muốn nhìn đến nỗi khổ của những người khác.

Tường thấy khó chịu trước cử chỉ của ả. Một là anh ta vốn là con nhà nghèo, đã biết thế nào là khổ, anh ta không muốn ăn những thứ lặt vặt kia, thấy tiếc tiền; hai là, - điều khiến anh ta càng khó chịu hơn - anh ta dần dần đã rõ được tí chút: ả Nĩu không cho anh ta kéo xe, mà cứ hàng ngày cho anh ta ăn ngon, thực cũng chẳng khác gì nuôi con bò cho béo để vắt sữa! Anh ta hoàn toàn trở thành một vật tiêu khiển của ả. Không những anh ta chán ghét cái cuộc sống này, mà lại còn lo cho mình nữa. Anh ta đã biết, những người làm nghề lao lực thì phải giữ gìn thân thể như thế nào, vì thân thể là trước nhất. Giá cứ sống như thế này mãi, sẽ có ngày chỉ còn bộ xương, tuy vẫn cao to như thế, nhưng trong thì rỗng không. Anh ta nghĩ mà sợ, muốn sống thì phải kéo xe ngay, chạy, chạy cả ngày, về nằm lăn ra ngủ, chẳng biết chuyện gì nữa; chẳng thèm ăn vật ngon của lạ của ả, cũng chẳng cần hầu hạ ả. Anh ta quyết như thế, không thể nhường nhịn được. Ả bằng lòng bỏ tiền ra mua xe thì càng tốt, không thì anh ta đi thuê vậy.

Chẳng nói nửa lời, nghĩ xong, anh ta liền đi thuê xe.

Ngày mười bảy, anh ta bắt đầu kéo, thuê "cả ngày". Kéo được hai cuốc dài, anh ta thấy mỏi bắp chân và đau ngang lưng, điểu trước kia anh ta không hề biết đến. Anh ta rõ căn nguyên ở đâu rồi, nhưng để tự an ủi, anh ta cho rằng có lẽ đến hơn hai mươi ngày nay không kéo, đâm ra lạ chân, chạy mấy cuốc nữa, quen đi sẽ không hề gì. Lại được món khách nữa. Lần này có cả một bọn thuê bốn chiếc, nhấc càng xe lên, mọi người nhường cho bác phu xe ngoài bốn mươi, người cao chạy dẫn đầu. Bác ta cười, thực sự thì bác ta biết rằng ba người kia "khỏe" hơn bác ta nhiều. Nhưng đã làm nghề bán sức, tuy biết không thể địch lại ba anh chàng trai trẻ kia, bác ta cũng không chịu lấy nê là có tuổi mà từ chối. Chạy được hơn một dặm, phía sau có tiếng khen:

- Sao, mở tốc lực đấy à? Ghê nhỉ!

Bác ta hổn hển trả lời:

- Cùng chạy với các anh, chậm mà được à!

Quả thực, bác ta chạy không phải là chậm, ngay cả Tường cũng gần như phải đưa hết sức ra mới đuổi kịp. Nhưng kiểu chạy của bác ta trông không đẹp mắt tí nào: người cao, không cúi xuống được, lưng cứ thẳng như tấm ván, cho nên bác ta cứ phải chúi cả người về phía trước, người mà đã chúi về phía trước, thì tay lại phải quặt về phía sau, trông không ra chạy, mà như đang kéo một vật gì, nhoài tới. Vì lưng cứng nhắc, cho nên bộ xương hông phải cử động, chân thì như kéo rê trên mặt đường, ra sức lết. Lết cũng nhanh, nhưng trông đủ thấy khó nhọc lắm. Gặp những chỗ quành, bác ta cứ phải lặng cả người đi, anh em ai nấy đều sợ thay cho bác ta. Dường như bác ta chỉ cốt nhoài người sang, còn xe có qua được hay không cũng mặc!

Kéo đến nơi, mồ hôi trên sống mũi, ở tai, ở môi bác ta nhỏ giọt. Đặt xe xuống, bác ta vội vươn thẳng ngay lưng, miệng há hốc. Lúc nhận tiền, tay bác ta run run, tưởng như cầm không được.

Cùng nhau chạy một thôi đường là thành bạn rồi, bốn người đỗ xe cùng một chỗ. Bọn Tường lau mồ hôi, lại cười cười nói nói. Bác kia thì một mình cứ đi đi lại lại, ho khan một hổi, nhổ ra bao nhiêu nước bọt, dần dần mới hồi lại; bắt đầu chuyện trò với bọn Tường:

- Hỏng rồi! Hết đời rồi! Lưng, chân, không ăn thua nữa! Muốn vươn lưng thể nào thì vươn, chân vẫn cứ không nhấc lên được. Cuống cả lên!

Một anh chàng vào trạc ngoài hai mươi, người thấp bé, nói tiếp:

- Vừa rồi bác có chịu kém anh em một chút nào đâu, thế mà còn cho là chậm à? Nói thật, ba đứa chúng tôi đều khỏe đây, nhưng đứa nào không vã mồ hôi ra?

Bác kia có vẻ hơi đắc ý, nhưng rồi lại thở dài như xấu hổ.

Một anh khác nói:

- Muốn nói đến cái kiểu chạy của bác ấy? Suýt thì bác thua về cái kiểu chạy ấy đây! Bác có thấy như thế không nào! Nhiều tuổi rồi, không phải chuyện nói chơi.

Bác ta mỉm cười lắc đầu:

- Anh em này, chẳng vì phải có tuổi cả đâu! Nói thật với anh em, làm cái nghề này, chớ có vội lấy vợ. Thật đấy!

Thây mọi người dỏng tai lên, bác ta hạ thấp giống:

- Lấy vợ là ngày đêm chẳng lúc nào được rỗi, hỏng hết? Nhìn cái lưng tôi đây này, cứ cứng nhắc từ trên xuống dưới, làm gì chạy nhanh được. Cứ cắn răng lại là ho, trong bụng nóng như lửa đốt! Thôi đừng nói nữa. Con mẹ nó, làm cái nghề bọn ta thì phải không vợ suốt đời. Đến con chim con chóc cũng còn có đôi, mà bọn ta thì không được lấy vợ! Lại thêm thế này nữa, lấy vợ rồi, rồi cứ năm một. Tôi bây giờ năm con rồi! Toàn cứ vác miệng chờ ăn cả thôi! Thuế xe cao, gạo củi đắt đỏ, làm ăn khó nhọc, biết tính sao được! Chi bằng cứ ở vậy, lúc nào buồn thì đi nhà thổ, mắc tiêm la hay lậu cũng đành chịu vậy! Một thân một mình, chết thì thôi. Cái trò có vợ có con, những mấy miệng ăn, chết cũng không nhắm mắt được!

Bác ta quay sang hỏi Tường:

- Anh thấy có phải không?

Tường gật đầu không đáp.

Lúc đó, lại có khách đi xe. Anh người thấp bé mặc cả giá xong xuôi rồi, nhưng lại nhường cho bác kia:

- Này, bác kéo đi! Ở nhà còn đến năm đứa con nữa kia mà!

Bác ta cười:

- Ừ, thì cuốc nữa. Lẽ ra thì thôi là phải! Được rồi, lát nữa có thêm mấy chiếc bánh đem về cho chúng nó! Chào anh em nhé!

Nhìn bác ta chạy rồi, anh chàng thấp bé lẩm bẩm:

- Con mẹ nó chứ! Khó nhọc suốt đời, đến con vợ cũng chẳng có. Còn những thằng nhà giàu một đứa những bốn năm con đàn bà!

Một anh khác tiếp lời:

- Kệ xác người ta. Làm cái nghề này, phải cẩn thận, bác ấy nói không sai đâu. Đằng ấy nói như thế nhưng lấy vợ để làm gì? Bày ra mà ngắm à? Không được! Khổ ở chỗ ấy đấy. Ngày hai bữa chỉ nhai bánh ngô, mệt đơn mệt kép; khỏe đến đâu rồi cũng phải bò lết!

Nghe đến đây, Tường nhấc càng xe, nói lảng:

- Xuống dưới kia đỗ, ở đây chẳng có khách!

Hai anh kia cùng đáp:

- Đi nhé!

Tường dường như không nghe thấy, vừa đi vừa đá chân, vẫn thấy đau ngang xương hông! Vốn định cho xe về, không kéo nữa, nhưng quả thật anh ta không có can đảm quay về nhà. Trong nhà không phải là vợ, mà là con yêu tinh hút máu người!

Ngày đã bắt đầu dài, Tường đi quanh quẩn đến hai ba vòng mà mới khoảng năm giờ. Anh ta trả xe, lại vào tiệm trà ngồi một lúc. Uống hết hai ấm trà, thấy đói, anh ta định ăn no rồi hẵng về. Ăn hết gần một cân[*] bánh nướng nhân thịt, rồi một bát cháo đậu đỏ, vừa ợ vừa chậm rãi đi về nhà. Anh ta biết chắc chắn về nhà thì ả Nĩu sẽ nổi lôi đình lên, nhưng anh ta vẫn cứ bình tĩnh. Anh ta đã quyết rồi, không cãi vã với ả, cứ nằm xuống đánh một giấc, ngày mai lại đi kéo xe. Ả muốn làm gì thì làm!

[*]Chu thich: Nguyên văn là 12 lạng. Cân Trung Quốc có 16 lạng, già nửa ki-lô (ND).

Anh ta vừa vào đến nhà, ả Nĩu ngồi ở gian ngoài, đưa mắt nhìn anh ta một cái, mặt nặng như chì. Tường định làm bộ tươi tỉnh, chịu nhũn hỏi qua một câu trước. Nhưng anh ta không quen cái trò ấy. Anh ta cúi đầu đi thẳng vào gian trong. Ả chẳng nói chẳng rằng, nhà im phăng phắc như một cái động cổ trong núi sâu. Tiếng ho, tiếng nói chuyện, tiếng trẻ con khóc ở các nhà hàng xóm nghe rõ mồn một, nhưng cũng lại rất xa xôi, y như ở trên núi nghe các thanh âm từ đâu vọng lại.

Cả hai người không ai chịu nói trước, cứ lẳng lặng nằm xuống giường, y như hai con rùa câm lặng suốt đời. Ngủ được một giấc, tỉnh dậy, ả Nĩu lên tiếng, giống vừa có vẻ hờn dỗi vừa có vẻ tươi tỉnh:

- Này, anh đi làm gì ở đâu thê? Suốt cả ngày!

- Kéo xe!

Tường nửa thức nửa ngủ, nói như có cái gì chẹn ngang cổ họng.

- Hừ! Không đổ mố hôi ra, thì bứt rứt khó chịu. Thật là mạt kiếp! Tôi ở nhà làm cơm chờ, không về, ăn đường ăn chợ mới thích phải không? Anh đừng có trêu tức tôi. Bố tôi vốn là tay anh chị đấy; không việc gì tôi không làm được! Ngày mai anh còn đi nữa, tôi thắt cổ tự tử cho mà xem, tôi nói được là làm được!

- Tôi không thể ngồi không ở nhà!

- Thế anh không đến gặp ông cụ à?

- Không!

- Khí khái nhỉ!

Tường cáu lắm, không thể không nói những điều chứa chát trong bụng, anh ta không thể nhịn được nữa:

- Tôi kéo để mua lấy cái xe riêng, ngăn cản tôi thì tôi bỏ đi không về nữa!

Ả "ứ hừ... " một tiếng, vừa dài vừa lên bổng xuống trầm. Trong tiếng "ứ hừ!..." ấy, ả tỏ ý vừa ngạo mạn lại xem khinh Tường, nhưng đồng thời trong bụng ả cũng chùn lại. Ả biết Tường là người tuy rất thật thà nhưng cũng lại rất cứng cỏi. Những người như vậy xưa nay không biết nói chơi, khó khăn lắm mới vớ được anh ta, không thể tùy tiện thả ra. Người như anh ta thì thật là vừa ý quá: thật thà, cần cù, hà tằn, hà tiện, khỏe mạnh. Với tuổi tác và dáng người như ả, quả thực khó có thể tìm ai được hơn như thế. Có khi cứng nhưng cũng phải có khi mềm, thế mới được. Phải vỗ về anh ta một tí.

- Tôi cũng hiểu là anh muốn hơn người ta, nhưng anh phải biết là tôi hết sức thương anh, quý anh. Nếu anh không muốn đến gặp ông cụ thật, thì thế này vậy: tôi đến cho. Đằng nào thì tôi cũng là con, chịu xấu mặt một tí cũng chẳng sao.

Tường muốn nói cho đến nơi đến chốn:

- Ông cụ có nhận chúng ta, thì tôi vẫn cứ đi kéo xe.

À Nĩu làm thinh một hồi. Ả không ngờ anh ta lại khôn đến thế. Câu anh ta nói giản đơn thế thôi, nhưng tỏ ra rằng anh ta không mắc lừa ả nữa. Anh ta không phải là ngốc nghếch như con lừa đâu! Chính vì thế mà ả lại càng thấy thinh thích. Ả phải khéo léo một chút mới có thể nắm chắc được cái anh chàng to lớn - hay là cái của quý to lớn cũng vậy - mà lúc cần kíp cũng biết đá hậu này! Không thể bức bách ép quá, tìm ra cho được cái to lớn như thế đâu có phải là chuyện dễ. Ả phải khi bắt khi buông để cho anh ta không lúc nào thoát khỏi tay ả:

- Thôi được rồi, anh thích kéo xe thì tôi cũng đành chịu vậy. Nhưng anh phải thề, không kéo xe tháng, ngày nào cũng về nhà. Đấy anh xem, một ngày không trông thấy anh, ruột gan tôi nó cứ rối lên! Anh phải hẹn với tôi là chiều nào cũng phải về sớm cơ!

Tường nghĩ đến câu chuyện của bác phu xe ban sáng. Anh ta mở to mắt, nhìn vào bóng tối, thấy một đám đông, nào là phu xe, nào là bán hàng rong, nào là cu-li, lưng cứ thẳng đừ không cúi xuống được, chân kéo lê kéo lết. Mai đây rồi anh ta cũng thế. Nhưng anh ta thấy không tiện làm ả cáu thêm; được đi kéo xe, thế là thắng một keo rồi. Anh ta bằng lòng:

- Tôi chi kéo vặt thôi!

Tuy nói vậy nhưng ả Nĩu không thiết tha gì với việc gặp bố cho lắm. Hai bố con hằng ngày tuy cũng hay cãi vã nhau, nhưng bây giờ thì tình thế khác, không thể đôi ba lời mà ông cụ hết giận được, vì ả đã ra ở riêng rồi. Con gái đi lấy chổng, đối với nhà bố mẹ đẻ, dù sao cũng xa lạ đi ít nhiều. Á không dám sồng sộc đi vào nhà, nhỡ ông cụ trở mặt không nhận thì sao. Tất nhiên ả sẽ làm ầm lên, nhưng nếu ông cụ cứ nhất định không thí cho đồng nào cả thì ả cũng đến chịu. Dù cho có người đứng ngoài khuyên can, khi không tìm ra cách nào khác thì họ cũng chỉ có thể khuyên ả đi về, bởi vì ả đã có nhà riêng rồi cơ mà!

Tường vẫn đi kéo xe như thường lệ. Ả Nĩu ở nhà đi ra đi vào, mấy lần đã định ăn mặc thật đẹp để về gặp bố, bụng nghĩ thế, nhưng tay sao chẳng muốn động đậy. Ả thấy ngại. Muốn sung sướng, không về không được; nhưng lại muốn giữ sĩ diện thì không nên về. Giả dụ ông cụ hết giận rồi, ả đưa Tường về hãng Nhân Hòa, thế là tự nhiên anh ta có việc làm, không cần phải đi kéo xe nữa, và rồi chắc chắn có thể hưởng cái sản nghiệp của bố. Ả mừng khấp khởi trong bụng. Nhưng nhỡ ông cụ cứ làm già thì sao? Thế thì mất mặt, không, không những mất mặt mà lại còn phải cam chịu làm vợ thằng phu xe! Hừ, ả sẽ chẳng khác gì mấy mụ đàn bà trong xóm này! Ả bỗng buồn thiu. Ả có vẻ hối hận đã lấy Tường. Anh ta dù có chịu thương chịu khó thế nào chăng nữa, ông cụ không gật đầu cho, thì suốt đời anh ta cũng chi là anh phu xe mà thôi. Nghĩ đến đó, ả đã nghĩ đến chuyện bỏ Tường, về nhà một mình, không thể vì anh ta mà mất sạch trơn. Nhưng nghĩ tiếp, ả lại thấy ăn ở với Tường ả sướng lắm, không thể nói ra lời được. Ả ngồi trên giường, thẫn thờ, mơ màng, nhớ lại những nỗi vui thú sau khi lấy chồng. Toàn thân giống một đóa hoa hồng lớn, thơm tho, ấm áp, nở dưới ánh mặt trời. Không, không thể bỏ anh ta được. Dù anh ta kéo xe, hay là đi ăn mày, cũng cứ theo anh ta suốt đời. Xem đây. những người đàn bà trong xóm này chịu được thì mình cũng chịu được. Thế thì thôi, ả không nghĩ đến chuyện về nhà bố nữa.

Sau khi rời bỏ hãng Nhân Hòa, Tường không muốn qua đường Tây An nữa. Hai hôm vừa rồi đi kéo xe, ra khỏi cổng là anh ta chạy thẳng về khu Đông thành, tránh khu Tây thành toàn là những anh em kéo xe của hãng Nhân Hòa, gặp họ ngượng chết. Nhưng hôm nay, sau khi trả xe, anh ta cố ý đi qua cổng hãng đó, cốt để nhìn xem thôi, không có mục đích gì khác. Lời ả Nĩu nói anh ta còn nhớ nhập tâm, dường như anh ta xem mình có đủ can đảm trở về hãng hay không. Giả dụ ả Nĩu làm lành được với bố, thì trước khi quay về hãng, hãy thừ xem dám đi qua phố này không đã. Kéo sụp mũ xuống, từ xa anh ta đã đăm đăm nhìn về phía hãng Nhân Hòa. Thấy ánh đèn ở cổng hãng, chẳng hiểu sao, anh ta thấy buồn lắm. Anh ta nhớ đến tình cảnh lúc mới đến đây, nhớ đến chuyện ả Nĩu cám dỗ mình, nhớ đến chuyện đêm ăn mừng thọ, rõ ràng, y như bức tranh hiện ra trước mắt anh ta. Xen lẫn vào đó, còn có những cảnh khác, thoáng qua rất nhanh; Tây Sơn, lạc đà, nhà ông Tào, tên mật thám... cũng đều rõ nét, cũng ghê sợ nối tiếp nhau. Những hình ảnh ấy rõ ràng như thế, nhưng anh ta thì lại thấy mơ hồ, như nhìn những bức tranh thật, quên mất có mình trong đó. Đến khi nghĩ tới mối quan hệ giữa anh ta và những hình ảnh kia, anh ta thấy tâm trí rối bời, những hình ảnh kia cũng quay cuồng loạn xạ, mà lại mờ mờ nhạt nhạt, anh ta không tài nào hiểu được tại sao mình phải chịu bao nhiêu nỗi khổ sở uất ức như vậy. Những chuyện đó hầu như chiếm một khoảng thời gian rất dài, mà cũng lại dường như rất ngắn, anh ta không biết rõ là mình bao nhiêu tuổi rồi nữa. Anh ta chỉ cảm thấy so với hồi mới đến hãng Nhân Hòa, anh ta già đi nhiều lắm. Hổi đó, anh ta chứa chan hy vọng, còn bây giờ, thì toàn là phiền muộn lo âu. Chẳng hiểu tại sao lại thế, nhưng những hình ảnh đó quyết không thể lừa dối anh ta được.

Hãng Nhân Hòa ở ngay trước mắt kia rồi, anh ta đứng ở bên này đường, thẫn thờ nhìn ngọn đèn sáng quắc kia. Nhìn mãi nhìn mãi, bỗng anh ta giật mình thấy bôn chữ vàng dưới ngọn đèn - Hãng xe Nhân Hòa - đã đổi khác. Anh ta không biết chữ, nhưng anh ta nhớ rằng chữ đầu thế nào kia; giống như hai cái que dính vào nhau, không giống cái chạng nạng mà cũng chẳng thành hình tam giác, trông đơn giản mà kỳ quặc lắm. Dò âm mà tìm chữ, anh ta chắc đó là chữ "nhân". Nhưng bây giờ chữ đó lại biến thành một chữ kỳ quặc hơn nhiều. Anh ta không hiểu lý do ra làm sao cả. Nhìn sang hai gian buồng bên phải, bên trái - không bao giờ anh ta quên được hai gian buồng này - anh ta thấy không có ánh đèn. Đứng lâu phát chán, anh ta mới cúi đầu quay về, vừa đi vừa nghĩ, chẳng lẽ hãng Nhân Hòa đổi chủ rồi sao? Anh ta hãy hỏi dò dần dần cho ra đã, chưa nên cho vợ biết ngay làm gì. về đến nhà, anh ta thấy ả Nĩu ngồi cắn hạt dưa cho đỡ buồn.

- Lại về tối thế à? - Mặt ả chẳng tươi tỉnh chút nào cả - Tôi nói cho anh biết, cứ thế này mãi, tôi không chịu được đâu! Anh đi biền biệt cả ngày, tôi chẳng dám đi đâu một bước, xung quanh toàn bọn khố rách áo ôm, chỉ sợ mất mát. Cả ngày chẳng nói được với ai một câu, tôi đâu có phải là khúc gỗ. Anh nghĩ thế nào thì nghĩ, thế này thì không được!

Tường chẳng nói chẳng rằng.

- Anh nói đi tôi nghe nào! Định chọc tức tôi thật phỏng? Anh có mồm hay không đấy!

Ả nói mỗi lúc một nhanh, giọng the thé, cứ y như một tràng pháo tép nổ liên tiếp.

Tường vẫn làm thinh.

- Thôi được! - ả bực lắm rồi, nhưng cũng lại có vẻ không biết làm thế nào cả, mặt không ra mếu mà cũng chẳng ra cười, giận lắm, nhưng không có cách nào hả cơn giận - Chúng ta sẽ mua hai cái xe, cho thuê, anh ngồi ở nhà thu thuế xe, có được không?

- Hai chiếc xe, cho thuê mỗi ngày chỉ được ba hào chỉ, làm gì đủ ăn! Cho thuê một chiếc, còn tôi kéo một chiếc. Góp lại!

Tường nói thủng thẳng, nhưng tự nhiên lắm. Nghe nói chuyện mua xe thì chuyện gì anh ta cũng quên hết.

- Thế thì có khác đếch gì. Anh vẫn không ở nhà.

- Thế này vậy - cứ nói đến chuyện xe là hình như Tường mới có ý kiến - cho thuê một chiếc, lấy thuế cả ngày, còn chiếc kia, tôi kéo nửa ngày, còn nửa ngày cho thuê. Kéo ban ngày thì sáng sớm cho xe ra, độ ba giờ chiều về; kéo tối thì ba giờ mới cho xe ra, khuya về. Được đây!

Ả Nĩu gật đầu:

- Để tôi nghĩ xem, không có cách nào hơn thì đành thế vậy!

Tường trong bụng rất vui. Giá làm được như thế, thì coi như anh ta lại được kéo chiếc xe riêng của mình rồi. Tuy là tiền vợ bỏ ra mua, nhưng dần dà tích cóp được tiền, mình lại mua lấy. Đến mãi lúc này, anh ta mới thấy ả Nĩu cũng có cái tốt. Anh ta nhìn ả, cười một cách hồn nhiên, phát ra tự đáy lòng, dường như xóa sạch bao nỗi khổ sở trước đây, và đổi được một cuộc đời mới, dễ dàng, như thay áo.

17

Dần dà, Tường đã hỏi dò ra tin tức về hãng Nhân Hòa: lão Tư Lưu bán một số xe, còn lại thì chuyển cả sang cho một hãng xe có tiếng ở khu Tây thành. Tường có thể đoán ra được: lão già rồi, không có con gái trông nom giúp đỡ, lão trông coi không xuể, vì thế mà đẩy quách đi, lấy tiền ăn chơi cho sướng cái thân. Còn lão đi đâu thì Tường không dò ra được.

Trước tin này, anh ta không biết nên vui hay nên buồn. Lão Tư Lưu quyết dứt tình bố con, thì mưu toan của ả Nĩu tan vỡ hoàn toàn, do đó anh ta có thể cứ việc chăm chi kéo xe làm ăn, chẳng phải nhờ vả ai, thật là hợp với chí nguyện và tính khí khái, cứng cỏi của anh ta. Nhưng còn cái sản nghiệp của lão thi kể cũng đáng tiếc thật. Ai ngờ lão đã cuỗm hết tiền mang đi rồi, anh ta và ả Nĩu chẳng được một đồng xu dính tay?

Nhưng chuyện đã thế này rồi, anh ta chẳng nên suy tính làm gì nữa, tất nhiên, càng không nên buồn. Anh ta nghĩ, mình có sức, bán sức mà kiếm tiền, lo gì chẳng được no bụng! Anh ta kể qua tin đó cho ả Nĩu nghe, và vẫn cứ thản nhiên như không.

Ả Nĩu thì buồn lắm. Nghe xong, ả thấy rõ ngay tương lai của ả. Hỏng rồi! Hỏng hết! Suốt đời chỉ làm vợ anh phu xe thôi! Không bao giờ thoát khỏi cái xóm nghèo nàn này nữa! Ả chỉ nghĩ, bố sẽ cưới một cô vợ lẽ, chứ không hề nghĩ bố lại có thể phủi tay đi thẳng như thê! Giả dụ lão lấy vợ lẽ thật, ả sẽ đến tranh gia tài, có thể ăn cánh với mụ ta mà được lợi cũng nên... Có nhiều cách, miễn là lão vẫn mở hàng xe. Á không ngờ lão lại kiên quyết, thâm độc như thế, đem bán hết mọi thứ lấy tiền mặt, rồi trốn mất mặt! Thoạt đầu cãi nhau với bố ả chỉ cho đó là một thủ đoạn, chẳng bao lâu sẽ đâu vào đấy thôi. Ả biết hãng xe Nhân Hòa mà thiếu ả thì không ổn. Ai ngờ lão lại có thể bán cả hãng xe như thê!

Xuân đã có tin về, búp nụ trên cành đã căng mập, đỏ tươi. Nhưng trong xóm nghèo này, xuân không đến đầu cành trước, bởi vì ở đây không có cây cối gì cả. Ở đây, gió xuân thổi làm lớp băng giữa sân lỗ chỗ như rỗ hoa, bùn đất bẩn thỉu xông lên một mùi tanh tưởi, gió thôi dồn lông gà, vỏ hành, giấy vụn vào góc tường, xoáy thành những cột lốc nhỏ. Dân trong xóm nghèo bốn mùa đều khổ não. Những người già cả bây giờ mới dám ra sưởi nắng; những cô gái bây giờ mặt mũi mới bớt nhọ để lộ ra một nước da vàng vàng ửng hồng; các bà mẹ bây giờ mới dám lùa đàn con ra sân chơi mà không ngượng, và bọn trẻ con bây giờ mới dám xé giấy cũ làm diều, tha hồ chạy nhảy trong sân, những bàn tay đen đủi không đến nỗi rét cóng nứt nẻ cả ra. Những nhà phát cháo thôi không phát cháo, nhà phát chẩn cũng đóng cửa, những người làm phúc thôi không bỏ tiền ra nữa, dường như giao lại những người nghèo khổ cho gió xuân, nắng xuân! Đúng vào lúc lúa mạch mùa xuân đang xanh như cỏ non, lương cũ vừa hết, theo lệ thường giá gạo tăng vọt lên. Ngày lại dài, đến người già cũng không thể đi ngủ sớm cho quên đói được. Mùa xuân đến với trần gian, chỉ làm tăng thêm những nỗi khốn khổ cho cái xóm nghèo này. Những con rận sống lâu ngày, rất quái ác, nhiều khi bò cả ra ngoài lớp áo bông xơ xác của người già, con trẻ để thưởng thức chút nắng xuân.

Ả Nĩu nhìn băng sắp tan và những bộ quần áo rách mướp kia, ngửi cái mùi nồng nồng, khó chịu, nghe tiếng người già thở dài, trẻ con khóc, trong lòng buồn rười rượi. Mùa đông, ai cũng ru rú trong nhà, các thứ bẩn thỉu đều bị băng tuyết phủ kín. Bây giờ, người cũng ra ngoài, vật cũng lộ nguyên hình, đến cả bức tường xây bằng gạch vỡ cũng long lở, tựa hồ như sẵn sàng chờ những ngày mưa thì sụp hẳn. Khắp sân, cứ linh tinh nham nhở, bày ra đủ mọi cảnh cực khổ nghèo nàn, trông xấu gấp mấy những ngày đông. Hừ! Chính giữa lúc đó, ả lại thấy ả sẽ phải sống mãi mãi ở đây. Số tiền ít ỏi của ả sẽ có ngày hết, mà Tường chỉ là anh phu xe!

Bảo Tường trông nhà, ả Nĩu đến tìm bà cô ở Nam Uyển, hỏi dò tin tức bố. Bà cô kể lại rằng: cụ Tư có đến chơi đây một lần, vào ngày hai mươi tháng giêng thì phải, đến để cảm on, và tin cho biết sắp đi Thiên Tân hoặc Thượng Hải chơi. Cụ nói: lăn lộn cả đời người mà không ra khỏi kinh đô thì cũng chưa phải là anh hùng, nhân còn hơi sức, đi các nơi cho rộng tầm con mắt. Cụ lại nói cũng chẳng còn mặt mũi nào ở lại cái thành phố này nữa, bởi vì con gái nó làm mất hết thể diện rồi. Bà cô chỉ nói có thế và lời xét đoán của bà ta lại càng đơn giản hơn: có lẽ cụ đi chơi xa thật, mà có lẽ cũng chỉ nói thế thôi rồi ở một nơi nào vắng vẻ đấy! Ai biết được!

Về đến nhà, ả Nĩu nằm vật xuống giường, khóc rống lên, khóc thực sự một hổi lâu, sưng húp cả mắt. Khóc xong, ả lau nước mắt, nói với Tường:

- Thôi được, anh đã khí khái thế thì bây giờ, tùy anh cả! Tôi vào nhầm cửa rồi, lấy phải chồng không ra gì cũng đành theo vậy, còn nói năng gì nữa! Đây anh cầm lấy một trăm, mua xe mà kéo!

Ả có ý đề phòng: trước đây vốn định mua hai xe, một chiếc để Tường kéo, còn một chiếc cho thuê. Bây giờ ả đổi ý kiến, chỉ mua một chiếc thôi, để Tường kéo, số tiền còn lại ả nắm chắc trong tay. Có tiền, tất có thế. Ả không muốn đưa cả ra, lỡ khi đem tiền mua xe hết cả rồi, Tường lại thay lòng đổi dạ thì làm sao? Không thể không đề phòng. Lại nữa, lão Tư Lưu chuồn thẳng như thế, ả thấy chẳng có gì là chắc chắn nữa cả, ngày mai ra sao, ai biết trước được. Vậy thì sướng ngày nào cứ việc sướng đã, có dăm ba đồng trong tay, muốn ăn gì cứ việc ăn, ả vốn quen ăn vặt rồi mà! Tường là anh phu xe khỏe vào hạng nhất, cơm nước trông cả vào số tiền anh ta kiếm được, còn tiêu vặt thì có số tiền riêng kia thêm vào, trước mắt vẫn vui vẻ được! Tiền tiêu có ngày hết, mà người cũng chẳng có thể sống mãi! Lấy anh phu xe - tuy là bất đắc dĩ - cũng đã đủ thiệt thòi rồi, không thể ngày ngày ngửa tay xin anh ta tiền, không có một đồng xu dính túi. Ý nghĩ đó làm ả vui lên được một tí, tuy biết tương lai mờ mịt đây, nhưng bây giờ cũng chưa đến nỗi nào, cũng giống như người đi đường, lúc mặt trời lặn, nơi xa kia đã tối rồi, nhưng trước mắt vẫn còn hơi sáng, nên nhân đó dấn thêm vài bước nữa.

Tường cũng chẳng tranh cãi với ả làm gì, mua một chiếc cũng được, miễn là có xe riêng, một ngày ít nhiều cũng kéo được sáu bẩy hào, đủ cơm ăn. Không những không tranh cãi, mà anh ta lại còn có vẻ thích thú là đằng khác. Trước đây khó nhọc, cũng chỉ cốt để mua lấy cái xe. Bây giờ mua được xe còn nói gì nữa! Vẫn biết rằng, một chiếc xe mà phải kiếm cho hai người ăn thì chẳng còn đâu mà thừa, xe kéo mãi hỏng đi, không có tiền dành dụm mua chiếc mới, nguy lắm! Nhưng mua xe khó khăn là thế, bây giờ có thể mua được nên vui mới phải, hà tất phải lo xa quá!

Bác hai Cường trong xóm đang muốn bán xe. Hè năm ngoái, bác ta vừa bán đứa con gái tên là Phúc, mười chín tuổi, cho một tên sĩ quan lấy hai trăm đồng. Phúc bán đi rồi, bác ta cũng được mát mặt một hồi, đồ cầm chuộc được hết, lại may thêm mấy bộ quần áo mới nữa, cả nhà ăn mặc sạch sẽ gọn mắt lắm. Bác Cường gái lùn nhất, xấu nhất xóm này: trán dô, má bánh đúc, tóc thưa, răng vổ, mặt đầy tàn hương, trông đến phát tởm. Bác ta vừa thương con, khóc đỏ cả mắt lên, vừa mặc chiếc áo dài vải xanh mới may vào. Bác Cường trai tính vốn cục, bán con xong, thường uống rượu. Rượu vào, nước mắt lưng tròng rồi kiếm chuyện. Bác Cường gái tuy được mặc áo mới, được ăn no, nhưng sướng chẳng bù khổ, bị đánh luôn, so với trước kia nhiều gấp đôi. Bác Cường trai ngoài bốn mươi rồi, không muốn kéo xe nữa. Thế là bác ta mua một đôi thúng, làm một gánh hàng vặt: dưa, mận, đào, lạc rang, thuốc lá, đủ thứ. Đi bán hai tháng, nợ hàng lô, không những lỗ vốn, mà lại mắc nợ rất nhiều. Kéo xe thì quen, chứ đâu thạo cái trò buôn bán. Kéo xe là chuyện dứt khoát rõ ràng, kéo được thì có tiền, không kéo được thì về không. Buôn bán vặt khổ nhất là phải đối phó, mà bác ta lại không biết đối phó. Anh em phu xe thì hay mua chịu, mà bác ta thì không thể muối mặt không cho người quen mua chịu. Mua chịu, đòi khó lắm. Thế là, khách sòng phẳng thì chẳng có, toàn loại mua chịu không trả, làm gì chẳng lỗ vốn. Lỗ vốn, bác ta rất buồn, buồn lại uống rượu khỏe. Rượu say, ở ngoài phố thì cà khịa với cảnh sát, ở nhà thì trút giận xuống đầu vợ con. Cà khịa với cảnh sát, đánh vợ, đều là vì rượu cả. Tỉnh rượu, bác ta rất hối, rất đau khổ. Bác ta nghĩ thêm thấy rằng, số tiền ít ỏi kia là bán con mới có, thế mà mất toi, lại còn rượu chè vào, đánh chửi vợ con, thật chẳng giống người. Những lúc như thế, bác ta vùi đầu ngủ suốt ngày, đem mọi nỗi buồn phiền gửi vào giấc mộng.

Bác ta quyết bỏ, không buôn nữa, lại đi kéo xe vậy, không thể phí phạm hết sạch chỗ tiền kia. Bác ta lại mua xe. Lúc say, bác ta chẳng kể gì cả, nhưng lúc tỉnh, bác ta là người rất thích sĩ diện. Vì thích sĩ diện cho nên chuyện gì cũng muốn phô trương, tuy cũng chỉ lèm nhèm thôi. Mua được xe mới rồi, quần áo mặc gọn ghẽ chỉnh tề, bác ta tự cho mình là thuộc loại phu xe hạng nhất, phải uống loại trà ngon, phải kéo loại khách sang. Bác ta đỗ xe ở bên, trưng cái xe và bộ quần áo trắng của mình ra, cứ chuyện trò tán gẫu với mọi người, chẳng thèm đi kiếm khách. Lúc thì bác ta lấy miếng giẻ lau bằng vải xanh mới ra, phành phạch phẩy bụi cho xe, lúc thì lại giẫm giẫm đôi giày hai mặt, đế trắng mới mua, lúc thì mắt nhìn xuống, tươi tỉnh đứng cạnh xe mỉm cười, đợi người ta khen xe mình, thế rồi chuyện trò cứ kéo dài mãi không dứt. Bác ta cứ tiêu phí thời giờ như vậy độ một hai ngày, đến khi gặp được khách sộp thì chân bác ta chạy không dẻo không nhanh, chẳng cân xứng chút nào với xe và quần áo cả! Thế là bác ta đâm ra buồn, mà buồn thì nhớ đến con gái, rồi lại đi uống rượu. Thành ra có bao nhiêu tiền bác ta tiêu hết, chỉ còn mỗi chiếc xe.

Khoảng trước sau ngày lập đông, bác ta lại uống rượu say. Bác ta vừa vào đến cửa thì hai đứa con trai, một mười ba, một mười một, định chạy ra ngoài núp. Bác ta thấy nghịch mắt, đá cho mỗi đứa một cái. Bác Cường gái nói gì đó, thế là bác ta xông tới, đạp luôn cho vợ một cái vào bụng dưới. Bác Cường gái nằm lăn ra, hồi lâu không kêu được một tiếng. Hai thằng con uất quá, đứa vác xẻng, đứa vác chày giã bột, lăn xả vào đánh bố. Ba bố con quần quật một hồi, lộn tùng phèo, giẫm đạp lên người bác Cường gái mấy lượt nữa. Hàng xóm chạy sang can, khó khăn lắm mới ấn được bác hai Cường nằm xuống giường, hai thằng con thì ôm lấy mẹ khóc váng lên. Bác Cường gái tỉnh lại, nhưng từ hôm đó ốm liệt giường. Vào ngày mồng ba tháng chạp, bác ta tắt thở, trên người vẫn mặc áo dài xanh may hồi bán đứa con gái. Bên nhà mẹ bác ta nhất định đòi đi kiện. Bạn bè khuyên can mãi, họ mới chịu thôi. Bác Cường trai phải hứa làm ma chay tử tế và đưa cho nhà vợ mười lăm đồng. Bác ta đem cầm cái xe, được sáu mươi đồng. Sang năm mới, bác ta định bán đứt đi, vì chẳng còn hy vọng gì chuộc lại được nữa. Lúc uống rượu say, bác ta lại định bán thằng con trai, nhưng chẳng ai mua cả. Bác ta cũng đã từng đến tìm thằng chồng cái Phúc. Hắn đời nào lại nhận bác ta là bố vợ, như vậy những chuyện khác tất nhiên cũng chẳng cần phải nói nữa.

Tường biết rõ lai lịch của chiếc xe này, không ưng lắm. Thiếu gì xe, việc gì phải rước lấy cái của ấy. Đó là của không may mắn, bán con mới mua về được, và nay vì giết vợ mà tống đi. À Nĩu thì không đế ý đến điều đó. Ả muốn bỏ ra trên tám chục mua lấy, rẻ lắm! Xe mới kéo độ nửa năm, màu lốp xe vẫn chưa đổi, và đúng là của nhà Đức Thành, một hãng xe có tiếng đóng. Mua chiếc chỉ còn mới độ bảy phần thôi, lại không đến năm sáu chục à? Hời thế, ả không thể bỏ qua được. Ả cũng lại biết, vừa tết xong, ai cũng túng, bác hai Cường chẳng bán đâu cao hơn được, mà bác ta lại đang cần tiến. Á thân tự đến xem xe, cùng bác hai Cường bàn giá cả, rồi trả tiền. Tường đành chờ kéo xe về, chang nói gì cà. Kể ra cũng khó nói, có phải anh ta bỏ tiền ra mua đâu! Mua xong, ngắm xe, anh ta thấy nó quả là chắc chắn, cứng cáp thật, nhưng anh ta vẫn cứ thấy nó làm sao ấy. Cái anh ta không thích nhất là cái màu đen ở thân xe, mà lại còn gắn thêm mấy miếng đồng bạch nữa chứ. Lúc mua xe này, bác hai Cường vẫn cho là đen trắng đi với nhau như thế mới nổi, mới đẹp! Còn Tường thì thấy nó có vẻ đám ma, y như để tang ai. Anh ta rất muốn thay màu khác, hoặc vàng đất thó, hoặc nguyệt bạch, để cho nó bớt vẻ "nhà đám" đi. Nhưng rồi anh ta cũng chẳng bàn chuyện đó với ả Nĩu, để khỏi phải nghe những lời eo sèo!

Kéo chiếc xe đó, ai cũng chú ý lắm, có người lại gọi nó là "gái góa". Tường thấy khó chịu. Anh ta tìm hết cách để đừng nghĩ đến nó nữa, nhưng nó suốt ngày cứ lẽo đẽo theo anh ta. Anh ta trong lòng luôn luôn nơm nớp như chưa biết lúc nào sẽ xảy ra chuyện không may. Có lúc bỗng nghĩ đến bác hai Cường và những nỗi khổ cực của bác, anh ta cảm thấy dường như không phải mình đang kéo xe ở phía sau, mà kéo theo một cỗ quan tài. Trên chiếc xe này, anh ta thỉnh thoảng thấy có bóng ma quỷ. Phảng phất như thế.

Nhưng từ ngày kéo nó, cũng chưa hề xảy ra chuyện gì, tuy lúc nào anh ta cũng bồn chồn lo lắng. Trời ngày càng ấm. Cởi áo bông ra hầu như không cần phải mặc áo kép nữa. sắp mặc được quần áo đơn rồi. Mùa xuân ở Bắc Bình ngắn lắm. Ngày dài đến sốt ruột. Ai cũng thấy buồn ngủ, mệt mỏi. Tường ra xe từ sáng sớm, loanh quanh đến khoảng bốn năm giờ, đã thấy hết sức. Nhung mặt trời còn cao, anh ta không muốn kéo nữa, mà cũng chẳng muốn cho xe về vội, cứ trù trừ do dự, ngáp ngắn ngáp dài.

Ngày dài như thế, nếu Tường thấy mệt mỏi buồn chán thì ả Nĩu ở nhà càng thấy quạnh quẽ hơn. Mùa đông, ả còn có thể ngồi sưởi bếp, nghe tiếng gió thổi vù vù từ bên ngoài, tuy buồn đấy nhưng cũng còn có thể tự an ủi "không phải đi đâu cũng hay". Bây giờ, bếp lò cho ra hiên rồi, trong nhà chẳng có việc gì làm. Ngoài sân lại bẩn thỉu, hôi thối, đến một ngọn cỏ cũng chẳng có. Ra phố thì không yên tâm vì bọn hàng xóm, mua cái gì cũng phải về ngay, không dám la cà tí nào cả. Ả giống như con ong luẩn quẩn trong nhà, thấy ánh nắng ngoài kia mà không sao bay ra được.

Với chị em hàng xóm, ả không chuyện trò gì với họ được. Họ toàn nói chuyện việc nhà việc cửa còn ả ăn chơi hoang toàng quen rồi, không ưa nói và cũng chẳng thích nghe những chuyện đó. Những nỗi uất ức của chị em là do cuộc sống nghèo nàn khổ cực gây nên, chuyện nào cũng có thể làm ứa nước mắt ra cả. Còn những nỗi uất ức của ả thì lại do ả bất mãn với cuộc sống, ả không có nước mắt mà khóc, nhưng ả lại muốn chửi bới ai đó một trận cho hả. Hai bên không thể thông cảm hoàn cảnh của nhau được, cho nên tốt hơn cả là người nào việc nấy, chẳng chuyện trò gì với nhau.

Cho mãi đến tháng tư, ả mới có bạn. Phúc, con bác hai Cường về. Người "bao" cô ta là một tên sĩ quan. Hắn đổi đến nơi nào là lập ngay một cái "gia đình" đơn sơ ở đó: bỏ ra một hai trăm, kiếm một cô còn trẻ, mua tấm phản rộng, hai cái ghế, thế là có thể hú hí với nhau ít lâu. Đến khi đổi đi nơi khác, hắn phủi tay, bỏ cả người lẫn giường ghế ở lại. Bỏ ra một hai trăm bạc, hường được dăm tháng nửa năm, đâu có thiệt. Riêng việc giặt giũ, hầu hạ, làm cơm nước... nếu thuê người, cả ăn lẫn công xá, mỗi tháng lại không mất chín mười đồng à? Kiếm một cô bé như thế, vừa có người hầu, vừa được vợ, lại bảo đảm sạch sẽ không bệnh tật gì. Thích thì may cho cái áo hoa, độ hơn đồng bạc, không thì cho ngồi xó nhà, cũng chẳng làm gì được. Đến khi đổi đi nơi khác, cũng chẳng tiếc gì tấm phản và một hai chiếc ghế. Còn thiếu hai tháng tiền nhà, cô kia lại phải lo liệu mà trả, bán phản bán ghế đi, chưa chắc đã đủ!

Phúc cũng phải đem phản bán đi, trả tiền nhà; về, trên người chỉ còn chiếc áo dài hoa và đôi khuyên bạc.

Bán xe xong, trả tiền cầm xe và lãi, bác hai Cường còn thừa được độ hai chục bạc. Có lúc, bác ta mới thấy nửa đời người ta góa vợ, thì thật đáng buồn! Không ai thương mình, thì mình thương mình vậy, và bác ta lại uống, lại ăn. Những lúc đó dường như có thù gì với đồng tiền, bác ta tiêu bừa bãi. Có lúc bác ta lại thấy phải cố gắng kéo xe, nuôi hai đứa con trai khôn lớn lên, mai sau may ra cũng có phận nhờ. Những lúc nghĩ đến con như thế, bác ta lại mua hàng đống thức ăn về cho hai đứa ăn. Nhìn hai con ăn như hổ đói, bác ta nước mắt lưng tròng lẩm bẩm một mình.

- Con không mẹ! Đến khổ! Tao khổ sở khó nhọc, cũng chỉ vì chúng mày thôi! Thực lòng, tao no đói thế nào cũng được, phải cố cho chúng mày no đủ! Ăn đi! Lớn lên đừng quên tao là được rồi!

Vào những lúc đó, tiền bác ta tiêu cũng chẳng phải ít. Dần dà, hơn hai chục đồng bạc kia hết nhẵn.

Hết tiền, những lúc rượu say rồi lên cơn cáu giận, có khi hai ba ngày bác ta chẳng để ý đến chuyện hai thằng bé ăn uống cái gì. Chúng nó chẳng có cách nào đành đi tự kiếm lấy vài xu, mua cái gì ăn. Nào là đến làm việc vặt cho nhà có đám ma, đám cưới, nào là đi theo xe rác nhặt đồng nát giấy rách, có khi cũng mua được mấy chiếc bánh nướng, có khi chỉ mua được cân khoai, ăn cả vỏ; có khi cả hai đứa gộp lại mới được một hào chỉ, mua lạc hay đậu rang, tuy không no bụng, nhưng có cái mà nhai một lúc.

Phúc về, hai đứa thấy chị, chạy xô lại, mỗi đứa ôm một chân, không nói được gì cả, chỉ nhìn chị mà cười, nước mắt chảy ròng ròng. Mẹ chết rồi thì chị cũng như mẹ.

Bác hai Cường thấy con gái về, không tỏ vẻ gì cả. Nó về thì lại thêm một miệng ăn nữa. Nhưng nhìn hai đứa con mừng rỡ thế kia, bác ta cũng không thể không thấy trong nhà cần phải có một người đàn bà, làm cơm nước, giặt giũ. Bác ta cũng chẳng biết nói thế nào, thôi thì đến đâu hay đến đó!

Phúc trông không xâu. Tuy trước kia rất gầy nhỏ, nhưng từ ngày theo tên sĩ quan kia, cũng có da có thịt, và cao hơn một chút. Khuôn mặt tròn, lông mày đều đặn, không có cái gì đặc sắc, nhưng người rắn chắc, trông dễ coi. Môi trên ngắn, khi giận dữ cũng như khi tươi cười, bao giờ cũng để lộ hàm răng trắng toát và rất đều. Tên sĩ quan rất thích hàm răng đó. Để lộ hàm răng ra, Phúc trông vừa ngây thơ, lại vừa có vẻ nũng nịu. Cái vẻ đó khiến cô ta - cũng giống mọi cô gái khác nhà nghèo nhưng trông sạch mắt một chút - trở thành như đóa hoa, hơi có chút hương sắc là bị người ta ngắt đem ra chợ bán ngay.

Ả Nĩu trước nay vốn không thèm giao thiệp với ai trong xóm này, nhưng bây giờ lại coi Phúc là bạn. Một là Phúc trông cũng có mã người, hai là cũng còn có được chiếc áo dài vải hoa, ba là, ả cho rằng Phúc đã lấy sĩ quan, như vậy cũng kể đã nếm trải mùi đời, cho nên ả chịu chơi với Phúc. Đàn bà vôn khó tính trong việc kết bạn, nhưng khi đã thân thì thân rất nhanh, mới mấy ngày mà hai người đã thành đôi bạn con chấy cắn đôi. Ả Nĩu thích ăn vặt, mỗi khi mua được gói hạt dưa hạt bí, bao giờ cũng gọi Phúc sang, vừa ăn vừa chuyện trò với nhau. Phúc để lộ hàm răng trông ngây thơ, kể lại cho ả Nĩu nghe nhiều chuyện mà ả chưa từng được nghe bao giờ. Ở với tên sĩ quan kia, Phúc chẳng được gì gọi là sung sướng, nhưng những lúc cao hứng, hắn cũng dắt đi cao lâu, xem hát, vì thế cô bé có rất nhiều cái để nói, và nói ra là làm cho ả Nĩu thèm thuồng lắm. Có những chuyện không nói ra được: đối với cô bé, như thế là dày vò thể xác, nhưng đối với ả Nĩu như thế mới khoái. Ả Nĩu cứ nằn nì cô bé kể. Phúc ngượng không muốn kể, nhưng cũng không tiện từ chối. Ả Nĩu cho Phúc là người đáng yêu nhất, đáng phục nhất, và cũng đáng ghen tị nhất. Nghe xong, nhìn lại con người mình, tuổi tác mình, chồng mình, ả thấy sống như thế này thật không ra sao. Ả chưa từng được hưởng những thú vui của tuổi trẻ, mà mai đây thì cũng chẳng có hy vọng gì. Còn bây giờ thì tương lai cứ trơ ra như gỗ đá thế kia. Càng bực với Tường, ả lại càng mến Phúc. Phúc tuy nghèo khổ, tuy đáng thương như thế, nhưng trong con mắt ả, cô bé từng là người được sung sướng, từng được nếm trải mùi đời, dù cho có phải chết ngay cũng không ân hận gì cả. Theo ả, Phúc xứng đáng tiêu biểu cho những người đã được hưởng những thú vui mà người đàn bà cần phải được hưởng.

Những nỗi đau khổ của Phúc, ả Nĩu dường như không trông thấy. Phúc về nhà, không đem theo được một cái gì, mà lại phải trông nom hai đứa em, trong khi đó ông bố không có chí làm ăn gì nữa. Lây tiền đâu ra nuôi chúng nó bây giờ?

Bác hai Cường say rồi, liền mách nước:

- Mày thương em thật thì thế nào cũng có cách kiếm tiền nuôi chúng nó! Trông cả vào tao à? Tao suốt ngày đem thân làm con trâu ngựa cho người ta, cũng phải ăn cho no bụng đã. Liệu tao có thể nhịn đói mà chạy được không? Để tao ngã gục xuống đấy, chắc mày sướng lắm đó hả? Mày cứ ngồi không thì cũng đến thế thôi, có sẵn đấy, không đem ra mà bán, còn đợi gì nữa!

Nhìn bố say mèm, nhìn mình, nhìn hai đứa em đói meo như hai con chuột, Phúc chỉ còn biết khóc. Nhưng nước mắt không làm chuyển được lòng bố, nước mắt cũng chẳng thể làm cho hai em no bụng được, Phúc đành phải tính đến chuyện thực tế hơn. Để hai đứa em có cái ăn, Phúc phải bán thân mình. Cô ta ôm đứa em út vào lòng, nước mắt cứ rơi lã chã xuống đầu thằng bé.

- Chị ơi! Em đói!

Chị! Chị là miếng thịt! Phải đem ra bán để nuôi em đây!

Á Nĩu không những không khuyên can Phúc, trái lại, ả sốt sắng giúp Phúc về việc đó: ả vui lòng bỏ ít tiền ra cho Phúc vay để tô điểm cho gọn ghẽ, khi kiếm được tiền sẽ trả. Ả lại vui lòng cho Phúc mượn buồng, bởi vì bên nhà Phúc bẩn thỉu quá, còn buồng ả thì sao cũng ra sáng hơn, huống chi lại những hai gian, có chỗ đi ra đi vào. Tường ban ngày không ở nhà, ả Nĩu vui lòng giúp bạn, đồng thời cũng để được trông thấy, hiểu biết thêm những cái mà mình thiếu thốn, muốn cũng chẳng sao làm được. Ả có một điều kiện là, mỗi khi Phúc mượn buồng thì phải trả ả hai hào. Đành rằng bạn bè, nhưng công việc thì đi đằng công việc; để giúp Phúc, ả phải thu dọn nhà cửa cho sạch sẽ hơn, không những đã mệt mà cũng phải tiêu thêm tiền nữa, chẳng lẽ sắm thêm cái chổi, cái sọt rác mà lại không phải bỏ tiền ra hay sao? Hai hào chỉ đâu phải là nhiều, chính vì bạn bè nên mới nể mặt nhau như thế.

Phúc để lộ mấy chiếc răng trắng bóng, nuốt thầm nước mắt.

Tường thì chẳng biết gì cả. Nhưng anh ta không được ngủ yên giấc. Ả Nĩu "tác thành" cho Phúc, đồng thời cũng lại bắt Tường phải đền bù cho mình những ngày xuân đã trôi qua.

18

Tháng sáu, trong xóm, ban ngày hầu như không một tiếng người. Từ sáng sớm, trẻ con đã xách sọt rách đi nhặt nhạnh tất cả những cái gì có thể nhặt nhạnh được. Đến chín giờ, ánh nắng gay gắt sắp thiêu đốt tấm lưng, chúng đành phải mang những thứ đã nhặt được về, và ăn những gì mà bố mẹ có thể kiếm được cho ăn. Sau đó, những đứa lớn, nếu kiếm được chút vốn bé nhỏ nhất trên đời này, thì liền đi vừa mua vừa nhặt băng cục[*] đem bán. Nếu không kiếm đâu ra vốn thì đành rủ nhau ra sông Hộ thành tắm, rồi tiện tay xoáy mấy viên than bánh ở nhà ga, hoặc bắt chuồn chuồn hay ve sầu bán cho bọn trẻ con nhà giàu. Những đứa bé không dám chạy chơi xa, thì chạy ra chỗ có cây ở ngoài cổng, nhặt sâu hoè hoặc đào ruộng sâu hoè... chơi. Trẻ con đi hết, đàn ông cũng đi hết, các chị em phụ nữ đều đánh trần ngồi trong nhà, không ai dám ra ngoài, chẳng phải là sợ khó coi, mà chính là vì đất ngoài sân nóng bỏng.

[*]Chu thich: Những cục băng chưa tan, sạch sẽ, dùng để ăn như nước đá (ND).

Cho mãi đến khi mặt trời sắp lặn, đàn ông và trẻ con mới lục tục kéo về. Lúc bấy giờ ngoài sân đã có bóng tường và chút gió mát, còn trong nhà thì chưa hết cái hơi nóng ban ngày, hầm hập như cái lò sưởi; đàn ông đều ngồi cả ngoài sân, chờ vợ con làm cơm. Lúc đó, sân rất ồn ào, y như cái chợ mà không có hàng họ. Nóng suốt ngày ai nấy mắt vằn đỏ, người bực bội, lại thêm bụng đói, càng dễ giận hơn. Một lời không vừa ý, thế là người thì dọa đánh con, người thì dọa nện vợ. Đánh không được, thì cũng chửi bới một hồi cho sướng miệng. Cứ ổn lên thế cho đến khi mọi người ăn xong cơm. Trẻ con có đứa nằm ngay ngoài sân mà ngủ, có đứa chạy rông ngoài đường. Người lớn ăn xong, thì tính khí dễ chịu hơn nhiều, người nào thích chuyện trò thì tụm năm tụm ba, kể những nỗi khó nhọc trong ngày. Những người không có cơm mà ăn, dù cho có gì cầm được bán được, lúc này cũng tối rồi, chẳng còn nơi nào mà cầm mà bán nữa. Thế là, chồng thì nằm gục xuống giường, mặc cho trong nhà nóng thế nào thì nóng, hoặc im lặng, hoặc có khi cũng lại chửi bới om sòm. Còn vợ thì nước mắt vòng quanh, chạy đi vay hàng xóm, không hiểu chạy bao nhiêu nơi mới vay được một hào rách nát; cầm tờ bạc hào quý đó, đi mua ít mì tạp về, nấu một nồi canh loãng cho cả nhà ăn.

Ả Nĩu và Phúc thì không sống theo cái nền nếp chung đó. Ả có chửa. Lần này thì chửa thật. Tường đi làm từ sáng sớm, à cũng phải tám chín giờ mới dậy, có chửa không nên cử động nhiều, đó là một điều tin tưởng sai lầm vốn có từ lâu đời. Ả Nĩu tin như thế, và cũng muốn vin vào đó để làm cho người ta biết cái giá trị của mình: ai nấy phải dậy làm lụng từ sớm, riêng ả là có thể thảnh thơi muốn ngủ đến bao giờ thì ngủ. Đến tối, ả xách cái ghế nhỏ ra ngoài cổng trông ra đường, tìm chỗ có gió mát ngồi, cho đến khi người trong xóm gần đi ngủ hết cả rồi, ả mới về. Ả chẳng thèm chuyện trò với ai cả.

Phúc cũng dậy muộn, nhưng vì một lý do khác. Cô ta sợ đàn ông trong xóm nhìn xoi mói, cho nên chờ họ đi làm hết rồi, mới dám ra khỏi nhà. Ban ngày, không sang nhà ả Nĩu, thì cô ta lại đi ra phố, bởi vì bảng quảng cáo của cô ta chính là con người cô ta. Đến tối, tránh những người trong xóm chú ý, cô ta lại ra phố, ước chừng mọi người đi nằm cả rồi, mới dám len lén lần về nhà.

Trong bọn đàn ông, thì Tường và bác hai Cường cũng khác mọi người. Tường rất sợ bước ra sân, mà lại càng ngại ở trong nhà. Trong sân, mọi người nói năng ồn ào, khiến anh ta khó chịu. Anh ta muốn tìm chỗ nào vắng vẻ mà ngồi một mình. Còn trong nhà thì càng ngày anh ta càng thấy ả Nĩu giống một con hổ cái. Nhà cửa chật chội, nóng hầm hập, làm thêm cái con hổ cái đó, khiên anh ta bước vào là thấy nghẹt thở. Trước đây anh ta không thể không về sớm, cốt để ả khỏi eo sèo. Ít lâu nay, có Phúc làm bạn, ả không thắt buộc anh ta lắm nữa, anh ta liền về muộn hơn một chút.

Còn bác hai Cường thì gần đây ít khi về nhà. Biết con gái làm nghề đó, bác ta ngượng không muốn đi vào xóm. Nhưng bác ta cũng chẳng thể ngăn được con. Bác ta tự biết mình không nuôi được con cái, thôi thì đành không về nữa, khuất mắt càng đỡ phiền lòng. Có lúc bác ta giận con, giả dụ Phúc là con trai, nhát định chẳng đến nỗi phải làm cái trò xấu xa như thế. Đã là gái, còn đầu thai vào cửa này làm gì! Có lúc bác ta lại thương con, con nó bán thân là để nuôi hai đứa em! Giận hay là thương cũng thế, bác ta chẳng có cách gì cả. Rồi đến khi rượu say, trong tay lại không có xu nào, bác ta chẳng giận mà cũng chẳng thương nữa, bác ta về hạch con lấy tiền. Những lúc đó, bác ta thấy nó kiếm ra tiền; bác ta là bố, lấy tiền của nó cũng là danh chính ngôn thuận thôi! Và những lúc đó, bác ta cũng nghĩ đến sĩ diện: người ta khinh nó ư? Chính bố nó cũng tha thứ cho nó đâu! Bác ta bắt con phải đưa tiền, lại còn chửi bới ầm ĩ cả lên, hình như cốt để cho mọi người nghe thấy, biết hai Cường không có tội gì, chẳng qua trời sinh con bé hư như thế!

Bác ta làm ầm lên, Phúc không dám nói lại một tiếng. Ả Nĩu thì vừa mắng vừa can. Đẩy được bác ta đi, tất nhiên ít nhiều cũng phải dúi cho ít tiền, tiền đó bác ta chỉ có thể để uống rượu thôi, bởi vì nếu tỉnh lại, nhìn thấy mấy đồng tiền đó bác ta phải nhảy xuống sông hoặc thắt cổ mà tự tử mất.

Hôm rằm tháng sáu, trời nóng phát điên lên được. Mặt trời vừa lên, thì đã nóng như lửa. Một lớp xám xám không ra mây mà cũng chẳng ra mù, thấp rề rề, khiến người ta thấy nghẹt thở. Không có tí gió. Đứng trong sân, nhìn lên bầu trời đỏ sẫm, Tường định bụng sẽ kéo tối - quá bốn giờ chiều hãy ra xe, nếu ít khách thì có thể kéo đến sáng. Ban đêm dù sao cũng dễ chịu hơn ban ngày một chút.

Ả Nĩu lại giục anh ta đi, sợ ở nhà, lỡ việc, Phúc nó có khách thì sao.

- Anh tưởng ở nhà dễ chịu hơn à? Trong nhà, gần trưa, tường vách cũng nóng bỏng lên cả.

Tường chẳng nói chẳng rằng, uống một gáo nước lã, rồi đi.

Hàng liễu bên đường trông như ốm, lá phủ đầy bụi, quăn lại, cành thì chẳng buồn đu đưa, rũ xuống mệt mỏi. Trên con đường cái không thấy qua một giọt nước, khô không khốc, trắng xóa. Ở những đường nhỏ, cát bụi bay vù lên, đến tận lớp khí xám trên trời, tạo thành một "thế trận cát bụi" ghê gớm, làm cho người đi đường mặt cứ ràn rạt. Nơi nào cũng khô rang, cũng nóng bỏng, cũng hầm hập khó chịu, cả cái thành phố cổ này y như một lò gạch đang nung, khiến mọi người thở không ra hơi. Chó nằm dài, thè lưỡi đỏ hỏn. Lừa ngựa lỗ mũi căng ra, những người bán hàng rong cũng không còn hơi sức đâu mà rao nữa. Nhựa rải đường chảy, thậm chí những biển đồng trước các cửa hiệu hình như cũng sắp mềm ra. Phố xá vắng tanh, chỉ ở mấy cửa hàng thiếc là còn nghe tiếng búa đập chí chát đơn điệu. Anh em phu xe biết rõ không đi làm thì không có ăn, nhưng cũng chẳng buồn kiếm khách. Anh thì đỗ ở chỗ có bóng mát, giương mui, leo lên xe đánh một giấc, anh thì chui vào quán trà uống nước. Có anh lại không cho xe ra, mà chỉ đi không lên phố, xem tình hình có thể kéo được hay không đã. Những anh có khách, mặc dù khỏe mạnh nhất, cũng cam chịu xấu mặt chẳng dám chạy, cúi đầu thủng thẳng bước một. Thấy giếng nước, y như gặp đấng cứu tinh, dù chỉ mới kéo mấy bước, cũng lao đến, không đợi múc nước lên, cứ vục ngay vào cái máng chung với lừa ngựa làm một ngụm. Có người bị cảm, hoặc say nắng, loạng choạng mấy bước rồi ngã gục xuống, chết luôn.

Tường cũng thấy hoảng. Kéo xe không, đi được mấy bước, anh ta thấy từ mặt đến chân nóng rát ràn rạt, cả mu bàn tay mà cũng ra mồ hôi. Nhưng thấy khách, anh ta vẫn muốn kéo, nghĩ rằng chạy thì chắc sẽ có tí gió. Khách lên, kéo được mấy bước, anh ta mới thấy tiết trời khó chịu đến mức không cho ai làm ăn gì được cả. Chạy là thở không ra hơi, mà miệng thì khô, rõ ràng không khát mà cứ thấy nước là muốn uống. Không chạy thì ánh nắng gay gắt kia sẽ làm cho lưng và tay nứt toác ra mất. Cố hết sức kéo cho đến nơi, quần áo dính chặt cả vào người. Cầm quạt lên phẩy phẩy mấy cái, thấy chẳng ăn thua gì, gió cũng nóng. Anh ta đã uống không biết bao nhiêu là nước lã, nhưng vẫn cứ phải chui vào một quán nước, làm hai ấm trà nóng, mới thấy dễ chịu một chút. Trà uổng vào đắng miệng, mồ hôi liền toát ra khắp người, y như mình là cái thùng không đáy, một giọt nước cũng không sao giữ lại được. Anh ta không dám nhúc nhích nữa.

Ngồi một lúc lâu đã chán, không dám ra đường mà lại chẳng biết làm gì, anh ta thấy tiết trời hình như cố ý trêu ngươi. Không, anh ta không thể chịu thua. Anh ta kéo xe đâu có phải mới chỉ một ngày, và cũng chẳng phải là đầu tiên mới gặp phải mùa hè như thế này, không thế để mất toi một ngày được. Muốn đi ra, nhưng chân lại chẳng buồn nhúc nhích, người cứ mềm nhũn y như lúc chỉ mới được tắm qua loa, tuy có ra mồ hôi nhiều đấy, nhưng vẫn chưa thấy khoái. Lại ngồi thêm một lát nữa, nhưng rồi anh ta thấy ngồi cũng không yên được, ngồi cũng toát mồ hôi, chi bằng đi quách ra ngoài xem sao.

Vừa ra khỏi cửa, anh ta mới biết là mình nhầm. Lớp khí xám trên trời tan đâu rồi, không khó chịu lắm nữa, nhưng lúc này nắng lại gay gắt hơn nhiều, không ai dám ngẩng đầu lên nhìn xem mặt trời nó ở đâu, nhìn vào chỗ nào cũng chói, bầu trời, mái nhà, tường, mặt đất, nơi nào cũng trắng xóa, trong màu trắng, lại có pha thêm một màu đo đỏ, từ trên xuống dưới, giống y như một tấm kính lấy lửa khổng lổ, mỗi tia ánh sáng đều giống như từ tiêu điếm của kính lấy lửa phóng ra chiếu vào mọi vật, tưởng chừng như sắp bốc cháy đến nơi. Trong làn ánh sáng trắng xóa đó, màu sắc gì cũng chói mắt, thanh âm gì cũng chói tai, mùi vị gì cũng pha tạp cái mùi hôi hôi tanh tanh từ mặt đất bốc lên. Phố xá hầu như không một bóng người, đường hình như bỗng rộng thêm ra rất nhiều, trống trải, mà không có qua một chút hơi mát, trắng xóa, trông đến phát sợ. Tường chẳng biết nên thế nào, cứ cúi đầu kéo xe chậm rãi bước, chẳng có ý định gì, mà cũng chẳng biết đi đâu, ngây ngất, người nhơm nhớp mồ hôi, bốc lên mùi chua chua khó chịu. Đi được một lúc, lòng bàn chân dính chặt lấy bít tất, y như dẫm phải bùn, khó chịu quá. Kể ra cũng chẳng muốn uống nước, nhưng trông thấy giếng, bất giác anh ta cũng chạy tới làm một ngụm, không phải cho khỏi khát, mà hình như chỉ để hưởng chút hơi mát của nước giêng. Từ cổ tới dạ dày anh ta bỗng mát lạnh hẳn đi, lỗ chân lông trên người như chun lại, anh ta rùng mình một cái, rất khoan khoái. Uống xong, anh ta ợ liền mấy cái, nước như muốn trào lên.

Đi được một lát, rồi lại nghỉ một hồi, anh ta chẳng buồn đón khách. Cho mãi tới giữa trưa, anh ta cũng vẫn chưa thấy đói. Theo lệ thường, định đi ăn cái gì đó, nhưng nhìn thức ăn, lại thấy buồn nôn. Trong bụng đầy những nước, nước gì cũng có, thỉnh thoảng, nghe kêu ùng ục, y như lừa ngựa uống nước xong.

So mùa hè với mùa đông thì Tường vẫn thấy ngại mùa đông hơn. Anh ta không ngờ mùa hè mà cũng lại khó chịu đến thế này. Ở thành phố mấy mùa hè rồi anh ta không thấy năm nào nóng như thế này. Trời nóng hơn năm ngoái, hay là người mình yếu đi! Nghĩ vậy, anh ta bỗng không thấy ngây ngất nữa, mà nghe lạnh lạnh trong bụng. Đúng thế, người mình thế là yếu đi rồi. Anh ta lo sợ, nhưng không biết làm thế nào. Anh ta không thể đuổi ả Nĩu đi. Rồi đây anh ta sẽ như bác hai Cường, như bác phu xe người cao lêu đêu hôm nọ, như ông thằng Mã. Thế là thằng Tường này đi đứt!

Vào lúc một giờ trưa, anh ta lại có khách. Ấy là lúc nóng nhất trong ngày, mà là ngày nóng nhất từ đầu hè đến nay, nhưng anh ta vẫn nhất quyết kéo cuốc đó. Nắng thế nào thì nắng, anh ta mặc kệ. Giả thử cuốc này mà không sao cả, đúng là mình còn khỏe, nhược bằng không kéo nổi thì còn nói gì nữa, cứ ngã gục xuống mặt đường nóng bỏng kia mà chết quách đi cho xong!

Vừa chạy được mấy bước, thì thấy man mát, y như trong gian nhà đang nóng hầm hập bỗng có tí gió từ bên ngoài lọt qua khe cửa lùa vào. Không dám tin ở mình, anh ta ngước mắt nhìn hàng liễu bên đường, thấy cành lá khẽ đu đưa thật. Phố xá bỗng đông lên. Người trong nhà đổ ra đường, quạt lá kè che đầu, nhìn quanh nhìn quẩn, như muốn nhảy cỡn lên mà reo hò:

- Có gió rồi! Trời mát rồi!

Hàng liễu bên đường bỗng biến thành những sứ giả nhà trời, tự Thiên đình đưa tin xuống:

- Cành liễu rung động rồi kia kìa! Lạy trời, cho thêm ít gió mát nữa!

Vẫn còn nóng, nhưng trong lòng thấy thư thái hơn nhiều rồi. Gió tuy chỉ mới thoáng qua, nhưng cũng đem lại cho người ta biết bao hy vọng. Gió thổi một hồi, mặt trời không còn gay gắt như trước nữa, lúc nắng lúc dịu, như có một màn bụi đang di động ở trên không. Gió bỗng mạnh lên. Hàng liễu từ lâu đứng yên lặng, lúc này như có chuyện gì vui mừng, phe phẩy đu đưa, cành lá như dài thêm ra một đoạn. Gió thổi một hồi nữa, trời tối sầm lại, bụi bốc lên cao. Bụi tản đi, thì thấy chân trời phía bắc mây kéo đen xịt. Người Tường ráo sạch mồ hôi; anh ta liếc nhìn về phía Bắc, đỗ xe, khoác áo mưa vào. Anh ta biết, mưa mùa hè, thấy cơn là tới liền.

Vừa khoác được áo mưa, lại một trận gió nữa thốc tới, mây đen kéo ào đến kín nửa bầu trời. Hơi đất bốc lên quyện với gió, vừa nóng lại vừa mát, cuốn theo đất bụi, khô rang. Bầu trời nửa phía nam sáng bạch, nửa phía bắc đen như mực, y như sắp tới có tai nạn gì, ai nây đều có vẻ hoảng hốt, nhớn nhác. Anh em phu xe vội khoác áo mưa, các cửa hiệu vội cất biển quảng cáo, người bán rong vội thu dọn hàng họ, khách đi đường rảo bước. Lại một trận gió nữa. Gió qua rồi, biển quảng cáo, hàng rong, khách đi đường dường như bị cuốn mất, không thấy đâu nữa, chi còn lại hàng liễu vật vờ trong gió mạnh.

Mây chưa che kín bầu trời, nhưng đã thấy tối lắm rồi. Giữa buổi trưa đang nắng gắt như thế mà bỗng như giữa ban đêm. Gió mang theo mấy hạt mưa rơi lác đác, như muốn tìm kiếm vật gì trên mặt đất, rối cả lên. Một luồng chớp đỏ lòe ở phía Bắc, rất xa, như xé mây đen, lộ ra một mảng trời đỏ tựa máu. Gió yếu đi, nhưng lạnh, làm người ta run lên. Mỗi trận gió như thế, mọi vật lại như ngơ ngác bàng hoàng, cả hàng liễu cũng như chờ đợi cái gì. Lại một luồng chớp nữa, ngay trên đỉnh đầu những hạt mưa trắng xóa liền rơi xuống, rất mạnh, làm bắn tung bụi lên. Mặt đất đã có hơi mưa. Mấy giọt rơi vào lưng Tường, khiến anh ta run lẩy bẩy. Mưa lại ngừng, trời kín đặc mây đen. Lại một trận gió nữa, mạnh hơn trước, cành liễu rạp xuống. Bụi bay tứ tung, mưa rơi. Gió, bụi, mưa, quyện vào nhau, trông xám ngắt, lạnh lẽo. Mọi vật đều bị cuốn trong đó, không phân biệt rõ đâu là cây, đâu là đất, đâu là mây, bốn phía hỗn loạn mờ mịt, rào rào. Gió lặng, mưa rơi thẳng xuống như trút, trông không rõ từng đường, mà thành cả một màn nước, đến mặt đất thì bắn lên tung toé. Nước trên các mái nhà xối xuống, như hàng ngàn thác nước. Mấy phút sau, trời đất hòa lẫn một màu, không phân biệt được nữa. Sông trên trời tuôn nước xuống, sông dưới đất chảy lênh láng, tất cả biến thành một “thế giới nước" mờ mờ đục đục, có khi lại sáng lòe lên.

Quần áo Tường ướt sạch, khắp người không còn chỗ nào khô ráo. Dưới cái mũ cối, đầu tóc anh ta cũng ướt sũng. Nước trên đường lút mắt cá, khó bước lắm. Mưa rơi xuống đầu xuống lưng anh ta, quất vào mặt anh ta, hắt cả vào đũng quần anh ta. Anh ta đầu không ngửng lên được, mắt không mở ra được, thở cũng không thở được, muốn bước nhanh cũng không bước được. Anh ta như phải đứng chôn chân giữa mưa, không biết đâu là đường, trước sau bên phải bên trái là những gì, chỉ thấy nước lạnh buốt thấm vào khắp người. Anh ta không biết gì nữa cả, chỉ thấy trong bụng còn chút hơi nóng yếu ớt, và bên tai mưa rơi ào ào. Anh ta muốn đỗ xe xuống, nhưng không biết đỗ vào đâu. Muốn chạy, nhưng nước vướng chân. Thế là anh ta đành sống dở chết dở chúi đầu lê từng bước một. Khách ngồi trên xe như chết rồi, cứ lặng ngắt, mặc cho anh ta lội trong mưa.

Mưa nhỏ đi, Tường hơi thẳng lưng ra, thở phào.

- Thưa ông, đỗ tránh mưa tí đã rồi hẵng đi!

Khách giậm chân quát:

- Kéo mau lên, anh định vứt tôi xuống đây là nghĩa lý gì?

Tường định bụng cứ đỗ xuống, tìm nơi trú mưa đã. Nhưng nhìn người, thấy ướt sũng cả rồi, anh ta biết đứng lại sẽ rét run lên ngay. Anh ta cắn răng, lội nước chạy bừa, bất kể. Chạy chưa được bao xa, thì trời bóng tối sầm lại, rồi lại sáng lòa, mưa như bưng mắt anh ta lại.

Tới nơi, khách không cho thêm một xu nào cả. Tường không nói năng gì, anh ta mệt quá rồi.

Mưa ngớt một tí, rồi lại đổ xuống trận nữa, nhưng nhỏ hơn trước nhiều. Tường chạy thẳng một mạch về nhà. Sà vào bên ngọn lửa, sưởi một hồi, anh ta run lẩy bẩy như lá cây trước gió. Ả Nĩu hãm cho anh ta một bát nước gừng với đường. Anh ta cầm lấy bát, làm một hơi cạn sạch cứ như người mất hồn, rồi chui vào chăn, chập chờn nửa thức nửa ngủ, chẳng biết gì hết, bên tai vẫn nghe tiếng mưa rơi ào ào.

Độ hơn bốn giờ, mấy đen bắt đầu có vẻ uể oải, nháp nhoáng vài tia chớp yếu ớt. Một lát, mây ở phía tây rách ra, đỉnh mây có viền ánh sáng, hơi nước trắng xóa lướt nhanh dưới chân mây. Chớp dồn cả về phía nam, một vài tiếng sấm nghe văng vẳng. Một lúc nữa, ở phía tây ánh nắng xuyên qua kẽ mây rọi xuống lá cây đẫm nước mưa, xanh bóng. Chân trời phía đông có một ngọn cầu vồng bảy màu, hai đầu cắm sâu vào lớp mây đen, trên vòm cầu là một mảng trời xanh. Một chốc, cầu vồng biến mất, không một gợn mây. Bầu trời xanh biếc cùng với mọi vật, sau khi được trận mưa tẩy rửa, trông giống một thế giới mới, trong mát, tươi đẹp như vừa từ chỗ tăm tối hiện ra. Ngay cả ở xóm nghèo này cũng có mấy cánh chuồn chuồn xanh xanh đỏ đỏ đủ màu phấp phới bay trên các rãnh nước.

Nhưng trừ bọn trẻ con chân không chạy ra đuổi bắt chuồn chuồn, còn thì trong xóm chẳng ai có thì giờ đâu mà thưởng thức cảnh trời sau cơn mưa. Nhà Phúc vách phía sau đổ mất một mảng, ba chị em vội vã cuốn chiếu trên giường đem ra che. Dãy tường vây quanh xóm cũng bị đổ mấy chỗ, chẳng ai hơi đâu mà để ý, ai nấy bận thu dọn nhà mình: nhà thì thềm thấp quá, nước vào lênh láng, mọi người tíu tít lấy thúng mủng bát vỡ tát nước ra. Nhà thì vách bên đổ, đang tìm cách vá víu dựng lại. Nhà thì dột, y như cái thùng tưới, đồ đạc ướt sạch, đang bận bê ra ngoài, hơ bên bếp lò hoặc phơi ở bậu cửa sổ. Giữa lúc đang mưa, mọi người giao phó tính mạng cho trời, nấp trong những căn nhà ọp ẹp có thể đổ bất cứ lúc nào, và chôn vùi họ. Mưa tạnh, họ phải lo liệu, dọn dẹp những cái hư hỏng. Mặc dù mưa xuống, giá gạo hạ độ một trinh, nhưng cũng chẳng bù lại được những thiệt hại vì mưa gió. Họ phải trả tiền nhà, nhưng không hề có người đến sửa sang nhà cửa, trừ phi nát quá, không sao ở được, mới thấy có vài người thợ nề đến, lấy vữa xấu gạch vỡ vá víu qua loa, những chỗ đó nay mai lại sẵn sàng đổ ập xuống. Không trả đủ tiền nhà thì bị tống cả ra đường, đồ đạc giữ lại. Nhưng nhà cửa hư hỏng, có thể đổ đè chết người, thì không có ai chú ý. Họ ít tiền chỉ thuê được loại nhà như thế thôi. Hư hỏng, nguy hiểm mặc xác.

Thiệt hại lớn nhất là dầm nước mưa mà ốm. Bọn họ từ người lớn đến trẻ con từ sáng đến tối kiếm ăn ở ngoài phố, mà mưa rào ngày hạ thì có thể đổ ụp xuống đầu bất cứ lúc nào. Họ đều là những người phải bán sức lấy tiền, người lúc nào cũng nhễ nhại mồ hôi, mà mưa rào phương Bắc lại đến nhanh, lại lạnh như thế, có khi giáng cả mưa đá xuống, hạt to bằng hạt đào, lạnh buốt, đúng vào lúc lỗ chân lông họ đang nở ra, ít nhất cũng lên cơn sốt một hai ngày nằm liệt giường. Trẻ con ốm, không có tiền mua thuốc; một trận mưa có làm ngô lúa ngoài đồng lớn thêm lên, nhưng cũng giết chết không ít trẻ nghèo ở thành thị. Người lớn ốm lại càng nguy. Sau cơn mưa, các nhà thơ ngâm vịnh hạt ngọc trên lá sen, cầu vồng ngũ sắc, nhưng nhà nghèo mà người lớn ốm, thì cả bầu đoàn nhịn đói. Một trận mưa có thể tăng thêm vài gái đĩ, vài tay trộm cắp, vài người phải vào tù. Bố mẹ ốm, con cái đi làm đĩ, đi ăn cắp còn hơn là chịu đói. Mưa rơi xuống cho người giàu, cho người nghèo, cho người có nghĩa cũng như cho kẻ bất lương. Nhưng thực ra, mưa không công bằng, bời vì mưa rơi xuống một thế giới không công bằng!

Tường ốm! Trong xóm nghèo này, người ốm đâu có phải chỉ một mình anh ta.

19

Tường nằm thiếp đi hai ngày đêm. Ả Nĩu sợ cuống lên, đến miếu Cô, xin thuốc thánh; một ít tàn hương, thêm một nắm lá cây. Uống vào, quả thực anh ta có mở mắt ra nhìn một tí, nhưng lại nhắm mắt lại, thiếp đi, miệng ú ớ, không biết nói những gì. Chích hai phát, uống một chén thuốc, anh ta tỉnh lại, vừa mở mắt hỏi ngay:

- Còn mưa không?

Chén thuốc thứ hai sắc xong, anh ta không chịu uống. Vừa tiếc của lại vừa giận thân, vô tích sự đến thế là cùng, bị một trận mưa mà đã ốm! Để chứng tỏ không cần phải uống cái bát nước đắng ngắt kia, anh ta định mặc quần áo xuống giường. Nhưng vừa ngồi lên, anh ta thấy đầu nặng như đá, cổ nhủn ra, mắt nẩy đom đóm. Anh ta lại nằm vật xuống. Không nói năng lôi thôi gì nữa, anh ta đỡ lấy bát thuốc uống hết.

Anh ta nằm mất mươi hôm. Càng nằm càng thấy lo. Có khi, anh ta ôm lấy gối, chảy nước mắt khóc thầm. Anh ta biết, không đi làm được, thì tiêu pha phải trông cả vào tiền vợ. Bao giờ tiền ả cạn, thì sẽ trông cả vào cái xe của anh ta. Với cái tính hay tiêu hay ăn của ả, anh ta đã không cung đốn nổi gì, huống chi bây giờ lại còn bụng mang dạ chửa. Càng không dậy được lại càng hay nghĩ quẩn nghĩ quanh, càng nghĩ quẩn nghĩ quanh lại càng lo càng buồn, và bệnh càng lâu khỏi.

Vừa nhúc nhích được, anh ta đã hỏi ngay:

- Xe đâu?

- Đừng lo! Cho nhà anh Tứ thuê rồi!

- À!...

Anh ta không yên tâm được, chỉ sợ Tứ, hay người nào đó kéo hỏng mất xe. Nhưng mình đã không dậy được tất nhiên phải cho thuê, chẳng lẽ đê không hay sao? Anh ta tính thầm trong bụng: kéo lấy, mỗi ngày ít nhiều trung bình cũng được năm sáu hào; tiền nhà, tiền gạo củi, dầu đèn trà nước... hẵng không kể quần áo may mặc, thì cũng tạm đủ hai người chi dùng, và phải tằn tiện lắm, chứ không thể hoang toàng như ả Nĩu được. Bây giờ, mỗi ngày chỉ thu được có hơn một hào thuế, thế là phải phụ hẳn vào đó bốn năm hào, đấy là chưa kể tiền thuốc men. Giả dụ cứ ốm mãi không khỏi, thì làm thế nào? Đúng thật, chẳng trách bác hai Cường uống rượu, chẳng trách mấy ông bạn khổ sở kia làm đủ mọi trò bậy bạ. Con đường kéo xe là con đường cùng! Bất kể anh chăm chỉ, cố gắng đến thế nào chăng nữa, anh cũng chớ nên lấy vợ, chớ có ốm đau, đừng để xảy ra việc gì sơ suất! Hừ! Anh ta nghĩ đến chiếc xe đầu tiên, nghĩ đến số tiền dành dụm được! Nào có dám trêu ghẹo ai! Chẳng ốm đau, mà cũng chẳng vì lấy vợ đẻ con, vô duyên vô cớ mất toi! Tốt cũng chẳng được, mà xấu cũng chẳng xong, đi vào con đường ấy thì chỉ có chết thôi, mà bao giờ thì chết, cũng chẳng thể biết! Nghĩ đến đây, từ chỗ buồn rầu anh ta chuyển sang chán nản. Hừ! Kệ mẹ nó, không dậy được thì cứ nằm, đằng nào cũng vậy thôi! Anh ta không nghĩ gì nữa, nằm yên lặng. Nhưng rồi anh ta lại không chịu được, muốn dậy ngay, vẫn cứ phải lăn lưng vào mà xông xáo làm ăn. Đường tuy là đường chết đây, nhưng lòng người vẫn sống, chưa vào nằm trong quan tài thì người ta vẫn cứ hy vọng.

Nhưng anh ta không dậy được, đành than thở với vợ nghe đến buồn bã đáng thương:

- Tôi nói cái xe ấy là của không may, đúng là không may thật!

- Cứ nằm yên mà nghỉ cho khỏe. Lúc nào cũng xe với pháo, mê xe à!

Tường làm thinh. Đúng! Anh ta mê xe thật! Từ khi đi kéo xe, anh ta vẫn hằng tin rằng xe là tất cả, tất nhiên...

Vừa bớt một chút, anh ta liền xuống giường nhìn vào gương. Anh ta không nhận ra mình nữa: râu ria tua tủa, thái dương và má hóp lại, mắt như hai cái lỗ đáo, cái sẹo thì nhăn nheo! Trong nhà nóng hầm hập, anh ta không dám ra sân, một là chân cứ nhủn ra như không có xương, hai là sợ người ta nhìn thấy. Không riêng gì xóm này, ngay các bến xe ở phía tây phía đông thành phố, ai chẳng biết Tường là anh chàng khỏe nhất. Tường không thể như con ma bệnh thế này được! Anh ta không dám ra ngoài, cứ ở lì trong nhà, lại càng bứt rứt khó chịu. Anh ta giận không thể ăn cho nó béo khỏe ngay được để còn đi kéo xe. Nhưng bệnh là cái giống hại người, nó đến nó đi toàn tự ý nó cả!

Nghỉ mất một tháng, chẳng kể đã khỏe hẳn hay chưa, Tường liền đi kéo xe. Anh ta đội sụp mũ xuống, để không ai nhận ra, để có thể chạy chầm chậm một tí. Đã là "Tường" thì phải chạy "nhanh", hai chuyện đó vốn vẫn gắn liền với nhau. Anh ta không thể khệ nệ bước bước một, sợ người ta khinh.

Người vốn chưa khỏe hẳn, lại tham kéo nhiều, để bù vào những ngày ốm nghỉ, nên kéo được mấy ngày, anh ta lại ốm. Lần này lại thêm chứng đi lỵ. Anh ta đã vội bóp mồm bóp miệng kiêng khem, nhưng không ăn thua, da bụng dính tới lưng, ấy thế mà vẫn cứ đi ngoài. Chật vật lắm mới khỏi được chứng đi lỵ, ngồi xuống đứng lên cũng thấy khó khăn, nói gì đến chạy. Lại phải nghỉ thêm một tháng nữa. Anh ta biết, tiền ả Nĩu sắp cạn rồi!

Ngày rằm tháng tám, anh ta quyết kéo xe ra. Lần này mà ốm nữa thì cứ đâm đầu xuống sông! Anh ta thề như thế.

Trận ốm đầu, Phúc thường sang thăm hỏi. Tường về mặt nói năng vốn không địch lại được với ả Nĩu, trong lòng lại buồn bực, nên thỉnh thoảng cũng chuyện trò với Phúc đôi câu. Việc đó làm ả Nĩu khó chịu. Tường đi vắng, Phúc là bạn thân, Tường ở nhà, theo ả nghĩ, thì Phúc "sang để gạ gẫm! Đồ vô liêm sỉ!". Ả bắt Phúc phải trả số tiền còn nợ, và "cấm cửa, từ nay không cho sang nữa!".

Phúc mất chỗ tiếp khách, mà ở nhà mình thì hư nát, chiếc chiếu đem che chỗ tường đổ rồi, không biết làm thế nào, đành phải đến nhờ "Công ty vận tải"[*] vậy. Nhưng, ở đó người ta không cần đến cái thứ như Phúc. Người ta chuyên giới thiệu "nữ sinh" và "con nhà khuê các" cơ, cao giá, tiền nhiều, chứ không cần đến hạng tầm thường. Phúc không còn cách nào nữa. Định đến nhà chứa vậy, đã không có vốn, thì tất không làm ăn riêng được, phải nhập vào bọn này. Nhưng mà như vậy sẽ mất hết tự do, ai trông nom săn sóc hai đứa em cho? Chết là chuyện đơn giản dễ dàng hơn cả, sống thì bây giờ cũng như ở trong địa ngục rồi. Phúc không sợ chết, nhưng cô ta cũng không muốn chết, bởi vì cô ta muốn làm cái gì dũng cảm hơn, to tát hơn. Cô ta muốn nuôi hai em cho tới khi chúng nó kiếm được ra tiền rồi chết cũng yên lòng. Đằng nào sớm muộn rồi cũng chết, nhưng chết một mình mình để cứu lấy hai em! Nghĩ đi nghĩ lại, cô ta chỉ còn một con đường là: lấy rẻ vậy! Thằng nào đã chui vào cái gian nhà của cô ta, tất nhiên không chịu bỏ nhiều tiền. Thôi ai cũng được miễn có tiền là được rồi! Như thế đỡ phải áo quần, phấn sáp, người tìm đến, chắc cũng chẳng đòi hỏi phải trang điểm kiểu cách gì. Họ mua vui theo túi tiền của họ, cô ta còn trẻ lắm, thế là tốt rồi!

[*]Chu thich: Tiếng lóng, chỉ nơi dắt khách cho gái làm tiền bí mật (nguyên chú).

Bụng ả Nĩu ngày một to, đã thấy vướng, đi lên phố mua gì cũng ngại lỡ trượt chân ngã, mà Tường thì đi làm suốt ngày, Phúc lại không chịu sang nữa, ả thấy buồn như con chó xích ở trong nhà. Càng buồn càng giận. Ả cho Phúc lấy giảm giá xuống như vậy là cố ý trêu tức ả. Á đời nào lại chịu cái nước ức ấy, gặp Phúc là ả nói cạnh nói khóe, làm họ xấu hổ và Phúc cũng khó chịu, Phúc vắng khách, ả thú lắm.

Phúc biết cứ thế này mãi, người trong xóm sẽ về hùa với ả Nĩu, đuổi cô ta đi mất. Cô ta sợ, chứ không dám giận. Người ta đến cái bước như cô ta thì biết để chuyện thực tế lên trên giận dữ và nước mắt. Cô ta dắt đứa em nhỏ sang, quỳ xuống trước mặt ả Nĩu, không nói gì cá, nhưng vẻ mặt tỏ rõ rằng: nêu quỳ thế này mà còn chưa xong chuyện, thì cô ta không sợ chết đâu, và ai đó cũng đừng hòng sống! Hy sinh to lớn nhất là chịu nhẫn nhục. Và chịu nhẫn nhục có ý nghĩa nhất tức là sửa soạn để chông lại.

Ả Nĩu không biết xử trí ra sao. Càng nghĩ càng thấy bực, nhưng bụng to thế này, ả không dám đánh nhau. Đã không dám giở võ thì tất nhiên phải tìm đường lui: ả nói là ả chỉ định đùa Phúc thôi, ai ngờ đùa thành thật. Phúc lại cứ hay để tâm. Phân bua như vậy rồi, hai người lại thân thiết với nhau. Ả lại giúp đõ Phúc mọi việc như cũ.

Từ buổi ra xe vào giữa tháng tám, Tường hết sức cẩn thận, hai trận ốm đã cho anh biết rằng, anh ta chẳng phải là xương đồng da sắt. Anh ta không phải đã hết ý muốn kiếm được nhiều tiền. Nhưng bao lần thất bại, anh ta rõ sức con người thật là mong manh lắm. Lúc cần thì, đã là tài trai, đành phải cắn răng mà chịu, nhưng cắn răng cũng đến bật máu mồm! Bệnh lỵ tuy đã khỏi nhưng bụng vẫn thường đau quặn lên. Có lúc chân chạy lên deo dẻo, anh ta định dấn nhanh thêm, thì bụng đau thắt, anh ta phải chạy chầm chậm, có khi thậm chí phải dừng lại, cúi đầu, co bụng, cố nhịn đau. Kéo riêng thì còn dễ, nhưng những khi cùng kéo với mấy xe khác nữa, anh ta bỗng dưng ghìm bước lại, thì mọi người ngơ ngác, và bản thân anh ta cũng ngường ngượng khó chịu. Mới hơn hai mươi tuổi đầu mà đã giở trò cười ra như vậy, đến ba bốn mươi thì sẽ ra sao? Nghĩ thế, anh ta toát cả mồ hôi.

Để giữ sức, anh ta rất muốn đi kéo xe tháng, dù thế nào thì cũng có lúc ngơi việc mà thở, lúc chạy phải nhanh, nhưng nghỉ lại lâu, nhàn hơn kéo lẻ nhiều. Nhưng anh ta biết, ả Nĩu không đời nào lại chịu buông anh ta ra. Lấy vợ vốn đã mất tự do, mà ả Nĩu thì lại ghê gớm đặc biệt. Cái số không ra gì, anh ta đành chịu vậy.

Nửa năm nay, từ thu sang đông, anh ta cứ vừa phải giữ gìn, vừa phải cố gắng, không dám cẩu thả, mà cũng không dám lười biếng. Lòng buồn bực, cứ cúi đầu xuống, hùng hục mà làm. Đầu cúi xuống, chứ không còn dáng có vẻ thảnh thơi, mặc kệ đời như trước kia nữa. Còn về chuyện kiếm tiền thì anh ta vẫn kiếm được nhiều hơn các anh em phu xe khác. Trừ những lúc bụng đau thắt lại còn thì anh ta không chịu bỏ một món khách nào. Kéo được là kéo, anh ta không mắc phải những thói xấu như cố ý bắt chẹt khách, giữa đường cho xe "tùng bê" hoặc cứ đợi khách sộp mới kéo. Anh ta không học những thói đó. Chính vì thế mà anh ta cũng mệt thêm, nhưng ngày nào cũng kiếm được nhiều tiền. Anh ta không ưa những trò xảo quyệt gian dối, cho nên cũng tránh được các chuyện phiền phức.

Nhưng tiền vẫn ít quá, không sao thừa được đồng nào. Tay trái kiếm ra, tay phải tiêu đi, ngày nào hết nhẵn ngày ấy. Anh ta không dám nghĩ đến chuyện để dành nữa. Anh ta biết dành dụm đấy, nhưng ả Nĩu thì lại hay tiêu. Ả sẽ ở cữ vào đầu tháng hai sang năm. Từ đầu mùa đông, bụng ả to lắm rồi, vả lại ả cũng thường cố ý phưỡn ra, cho ra vẻ quan trọng. Nhìn bụng, ả chẳng buồn bước xuống khỏi giường. Cơm nước toàn nhờ Phúc thổi giùm, tất nhiên chỗ ăn thừa thì để Phúc mang về cho các em. Vì thế mà cũng phí phạm mất nhiều. Ngoài cơm nước ra, ả lại còn phải ăn vặt nữa. Bụng càng to, ả lại thấy càng cần phải ăn nhiều thức ăn ngon bổ, không thể bóp mồm bóp miệng được, không những ả luôn luôn mua các thứ quà vặt mà lại còn dặn Tường hàng ngày mua về thêm cho ít nữa. Tường kiếm được bao nhiêu, ả tiêu hết bấy nhiêu. Nhu cầu của ả tăng lên giảm xuống theo số tiền Tường kiếm được hàng ngày. Tường không thể nói gì được cả. Khi anh ta ốm, thì tiêu tiền của ả, nay phải tiêu cho ả, cũng là chuyện vay trả, trả vay, Tường mà chặt một chút là ả ốm liền:

- Có chửa cũng như ốm chín tháng mười ngày! Anh thì biết gì?

Ả nói vậy, cũng là nói thực tình.

Tết đến, ả lại giở ra nhiều trò hơn. Ả không đi ra khỏi nhà được, liền sai Phúc đi đi về về mua hết thức này đến thức nọ. Ả bực ả không đi đâu được, lại giữ gìn nên không dám đi liều, mà không đi thì lại càng buồn tợn, cho nên đành phải mua nhiều thứ về, nhìn cho sướng mắt một chút. Ả nói xưng xưng lên rằng, không phải mua cho mình ả đâu, mà chính là vì thương Tường:

- Anh khó nhọc quanh năm, lại không dám ăn một miếng à? Tự khi ốm đến nay, anh chưa khỏe hẳn lên đâu. Đến tết cũng chẳng dám ăn uống, định để cho gầy nhom đi hay sao?

Tường không tiện nói lại, mà cũng chẳng biết nói lại thế nào. Đến khi làm xong mọi thứ, ả ăn là ăn hai ba bát loa liền. Ăn xong, vì không vận động, ả thấy tức bụng, liền ôm bụng mà kêu là cái thai nó động.

Sau tết dù thế nào à cũng không cho Tường đi đâu ban đêm. À không biết sẽ sổ dạ lúc nào. Ả sợ. Lúc bấy giờ, ả mới nghĩ đến số tuổi thật của mình. Tuy không chịu nói ra cho rõ ràng, nhưng ả cũng không nói là: "Tuổi tôi chỉ hơn tuổi anh một tí thôi”. Ả cứ làm rối lên, khiến Tường cũng đâm hoảng. Sinh con đẻ cái là làm cho đời mình dải thêm ra. Tường bất giác củng thấy vui vui trong bụng. Dù không muốn có con tí nào cả, nhưng mai đây được gọi là "bố" - một tiếng đơn giàn nhất mà cùng huyền diệu nhất - thì người sắt đá đến dâu cũng phải nhắm mắt lại mà suy nghĩ, và nghĩ thế nào thì nghĩ tiếng ấy cũng vẫn làm mình xúc động! Tường vốn vụng về, cục mịch, anh ta cho rằng mình chẳng có gì tài giỏi hoặc đáng tự hào, thế mà nay nghĩ đến cái tiếng kỳ diệu dỏ, tự nhiên anh ta thấy mình tôn quý hẳn lên, tuồng như không có gì cũng chẳng sao, miễn là có dứa con, thế là cuộc đời cũng không phải chết là hết. Cho nên anh ta cũng muốn hết lòng hết sức cung phụng ả Nĩu. Bây giờ không phải chỉ có một mạng ờ nơi người ả. Dù à đáng ghét thật đấy, nhưng trong việc này công lao của ả rất lớn. Có điều, dù công lao ả lớn bao nhiêu, nhưng ả cứ làm rối lên như vậy, thì thật chẳng ai chịu được. Ả mỗi lúc một phách, cứ làm loạn lên, mà Tường phải đi làm ăn, cần được nghỉ ngơi, tiền có thế tiêu bừa, nhưng anh ta đêm đêm nhất định phải được ngủ một giấc cho yên tĩnh, để sáng mai còn đủ sức mà kéo chứ. Tối ả không cho anh ta đi đâu, mà cũng chẳng cho anh ta ngủ yên. Anh ta chẳng định tâm làm gì được cả, suốt ngày cứ choáng váng, không biết làm thế nào. Lúc thì mừng, lúc thì lo, lúc thì bực; lúc thì vừa mừng vừa ngượng nghịu, lúc thì lo lắng rồi lại tự an ủi, lúc thì bực dọc nhưng rồi lại vui mừng. Tình cảm của anh ta cứ rối lên như thế khiến cho con người đon giản như anh ta mà cũng phải rối lên, không biết đâu mà lần nữa. Có bận, anh ta kéo khách quá chỗ phải đỗ, không nhớ người ta thuê đến đâu nữa.

Vào khoảng trước tết rước đèn[*], ả Nĩu bảo Tường đi mời bà mụ, ả thấy không chịu nổi nữa. Bà mụ đến, nói là chưa đến ngày, và nói cho ả biết những triệu chứng lúc sắp sinh. Ả cố chịu đựng được hai ngày, lại làm rối cả lên, lại mời bà mụ đến, nhưng vẫn chưa đến ngày. Ả khóc, la, đòi tự tử, chứ đau quá không sao chịu được. Tường không biết làm thế nào. Để tỏ mình hết lòng với vợ, anh ta đành nghe theo lời ả Nĩu, tạm thời không đi kéo xe nữa.

[*]Chu thich: Rằm tháng giêng (ND).

Cứ thế cho đến cuối tháng, ngay cả Tường cũng biết là đã đến ngày rồi. Thấy ả khác lắm. Bà mụ lại đến, ra hiệu cho Tường biết, không khéo đẻ khó đấy! Với cái tuổi của ả, lại chừa con so, hàng ngày thiếu vận động, mà thai thì rất to, vì khi chửa ăn nhiều thứ béo bổ, mấy cái đó gộp lại, khó mà mong đẻ dễ dàng được. Huống chi từ khi chửa đến nay không hề đi khám, hướng nằm của cái thai không được xoay lại cho đúng chiều. Bà mụ không biết cách làm, nhưng cũng biết nói: e nó ra ngang ra ngược mất!

Trong cái xóm này, người ta đã quen nói đến chuyện con sinh ra thì mẹ chết. Nhung trường hợp của ả Nĩu lại nguy hiểm hơn nhiều. Các chị em khác, cho mãi tới khi sắp sinh nở vẫn cứ còn phải làm lụng, lại ăn chẳng đủ no, cái thai không to được, cho nên đẻ dễ. Nguy hiểm đối với họ là do thiếu thốn ốm đau sau khi đẻ dậy, còn ả Nĩu lại trái ngược hẳn. Chỗ ả hơn người lại chính là tai vạ của ả.

Tường, Phúc, bà mụ thay nhau săn sóc trông coi bên cạnh ả ba ngày ba đêm liền. Ả khấn hết thần hết phật, thề đủ mọi điều, nhưng chẳng ăn thua. Cuối cùng ả khản cả tiếng, chỉ khẽ kêu: “Mẹ ơi!... Mẹ ơi!...". Bà mụ đành chịu, mọi người cũng chả có cách gì, cuối cùng chính ả nảy ra một ý, bảo Tường đến mời mụ hai Trần ở ngoài cửa Đức Thắng - cầu tiên ếch. Mụ ta đòi đủ năm đồng mới đến. Ả lấy ra bảy tám đồng bạc cuối cùng:

- Anh Tường, đi nhanh lên tí! Phải tiêu tiền cũng đừng lo. Qua khỏi, tôi sẽ ăn ở tử tế với anh! Đi nhanh lên!

Mụ hai Trần đem "con đồng" theo - một gã đàn ông trạc bốn mươi, mặt vàng như nghệ - đến vào lúc lên đèn. Mụ ta thì trạc năm mươi, mặc áo lụa xang, đầu quấn khăn đỏ, và đeo một lô toàn nhũng đồ vàng giả. Mụ ta mắt long lanh, vào cửa là rửa tay, thắp hương, cúi đầu khấn khứa, rồi ngồi xuống sau hương án, nhìn đăm đăm vào mấy nén hương. Bỗng cả người mụ ta lảo đảo, mụ ta rùng mình một cái thật mạnh, đầu cúi xuống, mắt nhắm lại, hồi lâu không động đậy. Trong nhà đánh rơi cái kim cũng nghe thấy. Ả Nĩu nghiến răng chịu đau không dám kêu. Mụ hai Trần thong thả ngẩng đẩu lên, gật gù nhìn mọi người. "Con đồng" khẽ kéo tay Tường, bảo anh ta lạy đi. Tường cũng chẳng hiểu mình có tín thần tin thánh gì hay không, chi biết có lạy mấy cái thì cũng chẳng biết lạy mấy cái rồi. Đứng lên, anh ta nhìn đôi mắt của "thần" loang loáng nhìn nén hương cháy đỏ, ngửi khói hương thơm phức, trong lòng anh ta hy vọng mơ hồ rằng làm như thế may ra được việc cũng nên. Anh ta thừ người ra, hai lòng bàn tay nhơm nhớp mồ hôi lạnh.

"Tiên ếch" nói giọng già nua, yếu ớt, lại hơi lắp:

- Không... không... sao...! Vẽ cho... vẽ cho đạo bùa "thôi sinh"[*].

[*]Chu thich: Lá bùa giúp cho đẻ nhanh (ND).

"Con đồng" vội vàng đưa một mảnh giấy vàng đến. "Tiên" lấy tay vớt vớt mấy cái trên nén hương, rồi chấm nước bọt vẽ lung tung lên tờ giây.

Vẽ xong, lại lắp bắp mấy câu, đại khái là, ả Nĩu kiếp trước có nợ với đứa bé này, nay phải chịu đau đớn một chút. Tường đầu óc choáng váng, chẳng nghe rõ lắm, nhưng cũng hơi sợ.

Mụ hai Trần ngáp một cái rõ dài, nhắm tít mắt, thừ người ra một hồi, rồi mở choàng mắt ra, như sực tỉnh sau một giác mộng say sưa, "con đồng" vội vã nhắc lại lời "Tiên" truyền. Mụ ta hình như có ý vui vẻ lắm:

- Hôm nay Ngài vui vẻ nên phán nhiều!

Sau đó, mụ ta chỉ cho Tường cách cho ả Nĩu uống đạo bùa đó, lại cho thêm một viên thuốc nữa, uống với bùa.

Mụ hai Trần sốt sắng, muốn chờ xem đạo bùa linh ứng thế nào, cho nên Tường lại phải lo dọn cơm mời mụ ở lại. Anh ta nhờ Phúc giúp hộ việc ấy. Phúc mua cháo vừng, bánh nướng, chân giò hầm về. Mụ ta còn phàn nàn không có rượu.

Mụ hai Trần và "con đồng" chén gọn mọi thứ. Á Nĩu uổng xong đạo bùa rồi nhưng vẫn lăn lộn kêu đau, cứ thế hơn một giờ, mắt ả từ từ trợn ngược lên. Mụ hai Trần lại có cách khác, bình tĩnh bắt Tường quỳ chầu hương. Tường chẳng tin mấy ở mụ ta nữa, nhưng đã mất năm đồng, thì đành phải thử hết mọi phép của mụ ta vậy. Không nện được cho mụ ta một trận, thì đành phải theo ý mụ mà làm, may ra có linh nghiệm gì chăng!

Quỳ thẳng người trước nén hương, anh ta chẳng biết cầu khẩn thần thánh nào, nhưng trong lòng thì thành khẩn lắm. Nhìn khói hương nghi ngút, anh ta tưởng tượng trên nén hương cháy đỏ có những hình ảnh gì đó, miệng khấn lâm râm. Nén hương ngắn dần, trên chỗ cháy đã có tàn đen. Tường cúi đầu, tay chống đất, mơ mơ màng màng, thấy buồn ngủ. Ba ngày nay anh ta chưa được ngủ giấc nào đến nơi đến chôn. Cổ bỗng mềm ra, anh ta giật mình một cái, nhìn lại thì thấy bó hương đã cháy gần hết. Chẳng cần biết là đã đến lúc đứng lên hay chưa, anh ta tay chống đất, từ từ nhỏm dậy, chân đã tê tê.

Mụ hai Trần và "con đồng" đã chuồn lúc nào rồi!

Chẳng còn nghĩ đến chuyện giận mụ, anh ta chạy vội sang nhìn ả Nĩu, biết cơ sự hỏng đến nơi rồi. Ả lúc này chỉ còn há miệng nuốt hơi, không nói ra tiếng nữa. Bà mụ khuyên anh ta nên đưa đến nhà thương, bà ta hết cách rồi.

Tường bỗng thấy lòng mình đau như xé, anh ta òa lên khóc. Phúc cũng chảy nước mắt, nhưng cô ta là người đến giúp việc vặt nên cũng còn tỉnh táo hơn:

- Anh Tường ạ. Đừng khóc vội! Tôi đến nhà thương hỏi xem sao đã nhá!

Chẳng kể Tường có nghe thấy hay không, cô ta lau nước mắt, rồi chạy đi.

Độ một tiếng đồng hồ, Phúc chạy về, thở không ra hơi. Vịn vào bàn, cô ta ho khan một hồi rồi mới nói ra tiếng, đốc tờ đến một lượt phải trả mười đồng, chỉ khám thôi, không đỡ đẻ. Đỡ đẻ thì hai mươi đồng. Nếu là đẻ khó, thì phải đưa đến nhà thương, mất đến mấy chục đồng!

- Anh Tường! Làm thế nào bây giờ?

Tường chịu không có cách gì cả, đành chờ chết thì chết vậy!

Ngu xuẩn và tàn nhẫn, chỉ mới là một vài hiện tượng ở chốn này. Nhưng vì sao mà ngu xuẩn và tàn nhẫn thì chính lại do những nguyên nhân khác.

Mười hai giờ đêm, ả Nĩu tắt thở, mang theo đứa bé trong bụng.

20

Xe của Tường bán rồi!

Tiền như nước chảy, anh ta ngăn lại không được; người chết nhất định phải khiêng đi, đến ngay cái giấy khai tử cũng phải mất đến tiền.

Như người ngớ ngẩn, Tường đứng nhìn mọi người bận rối rít, anh ta chỉ có việc đưa tiền ra. Mắt đỏ đến phát sợ, dỉ bám vàng khè, tai ù đặc, anh ta thẫn thờ đi ra đi vào theo mọi người, nhưng chẳng biết làm gì.

Theo sau quan tài ra ngoại ô, anh ta lúc ấy mới hơi tình táo một chút, nhưng trong óc vẫn chẳng suy nghĩ gì cả. Không ai đi đưa đám, ngoài Tường ra, chỉ có hai đứa em của Phúc, mỗi đứa cầm một tập giấy tiền mỏng dính, rắc cho bọn ma chắn đường.

Thẫn thờ, Tường nhìn phu đòn lấp đất lên quan tài. Anh ta không khóc. Lòng anh ta nóng như lửa đốt, khô cả nước mắt, muốn khóc cũng không khóc được. Anh ta đờ người ra đứng nhìn, tuồng như chẳng biết người ta đang làm gì thế kia. Cho mãi tới khi người đến bảo công việc đã xong, anh ta mới nghĩ đến chuyện về nhà.

Nhà cửa Phúc đã dọn gọn ghẽ. về tới nơi, anh ta nằm lăn ngay ra giường, mệt quá không nhúc nhích được nữa. Mắt khô, không nhắm lại được. Anh ta thẫn thờ nhìn vết nước mưa dột ố trên trần. Không ngủ được thì ngồi dậy. Vừa đưa mắt nhìn quanh nhà, anh ta không dám nhìn nữa, chẳng biết nên ra sao. Anh ta đi mua bao thuốc "Sư tử vàng". Về nhà, ngồi trên giường, châm một điếu, nhưng không hút, anh ta đăm đăm nhìn làn khói xanh đầu điếu thuốc, bỗng nước mắt trào ra. Anh ta không chỉ nghĩ đến ả Nĩu, mà nghĩ đến tất cả mọi chuyện. Lên thành phố mấy năm, đây là kết quả bao nhiêu công lao khó nhọc. Chỉ có thế này thôi, chỉ có thế này thôi! Anh ta không khóc ra tiếng nữa! Xe, xe! Sống vào cái xe! Mua, rồi mất. Rồi lại mua, lại bán đi! Chập chà chập chờn, y như cái bóng ma, không sao nắm được, mà lại chịu bao nhiêu đau khổ uất ức! Hết sạch, không còn gì nữa! Đến cả vợ cũng chẳng còn! Ả Nĩu kể ra cũng ghê gớm thật đấy nhưng không có ả anh ta làm gì có vợ! Nhìn đồ đạc trong nhà, đểu là của ả cả, thế mà ả thì nay nằm sâu dưới đất ngoại ô rồi! Càng nghĩ, càng giận. Nước mắt bị cơn giận chặn lại, anh ta rít mạnh điếu thuốc. Càng không thích hút thuốc lại càng muốn hút, hút hết điếu thuốc, anh ta hai tay ôm lấy đầu, trong mồm, trong lòng thấy cay xè.

Anh ta muốn gào lên một hồi, gào cho bật máu ra, thế mới hả!

Không biết chừng bao lâu, Phúc bước vào, đứng ở gian ngoài, trước cái bàn bếp, thẫn thờ nhìn anh ta.

Tường bỗng ngửng đầu lên, thấy Phúc, nước mắt liền trào ra. Lúc này, dù thấy con chó anh ta cũng khóc được. Lòng đầy buồn tủi, thấy bất cứ sinh vật nào đó, anh ta cũng muốn bộc lộ ra. Anh ta định nói chuyện với Phúc, muốn cô ta thương hại. Định nói thật nhiều nhưng chẳng mở miệng ra nói được.

Phúc bước lại gần:

- Anh Tường, tôi thu dọn các thứ rồi đây!

Anh ta gật đầu, chẳng nghĩ đến chuyện cảm ơn. Trong lúc đau buồn mà còn xã giao thì thật là giả dối.

- Anh định thế nào?

- Hả!...

Dường như anh ta nghe chưa rõ, nhưng liền sau đó, anh ta đã hiểu. Anh ta lắc đầu, chưa kịp nghĩ thế nào cả.

Phúc bước gần lại thêm mấy bước, mặt bỗng đỏ bừng lên, môi hé mở, để lộ mấy chiếc răng trắng bóng, nhưng không nói được gì. Cuộc sống của cô ta khiến cô ta đành phải quên xấu hổ, nhưng khi gặp chuyện đứng đắn, cô ta vẫn là một người con gái chân thành, cô ta vẫn ngượng ngùng, e lệ.

- Tôi nghĩ...

Phúc chỉ nói được có thế. Cô ta định nói rất nhiều, nhưng mặt đỏ bừng, cô ta bỗng quên sạch, không nhớ gì nữa.

Ớ thế gian này vốn có ít những câu nói chân thành. Cô ta đỏ mặt lên như thế cũng bằng nói bao nhiêu lời rồi. Ngay đến cả Tường cũng hiểu ý của Phúc. Theo con mắt anh ta, Phúc là một người đẹp nhất, đẹp từ bên trong đẹp ra; dù người cô ta đầy sứt sẹo, da thịt có rách nát, đối với anh ta, Phúc vẫn cứ đẹp như thường, Phúc đẹp, Phúc trẻ, Phúc chịu khó, Phúc chăm chỉ, tằn tiện. Giả dụ Tường lấy vợ thì Phúc chính là người vợ lý tưởng. Anh ta không muốn lấy vợ ngay. Bây giờ anh ta không nghĩ được đến chuyện gì cả, nhưng cô ta đã muốn như vậy, và cuộc sống lại thúc bách cô ta không thể không đưa câu chuyện ra, anh ta hầu như không có cách nào từ chối cả. Cô ta tốt như thế, lại giúp đỡ anh ta bao nhiêu công việc, anh ta chỉ có thể bằng lòng. Anh ta rất muốn ôm lấy Phúc, khóc òa lên một hổi, khóc cho tiêu tan hết mọi đau buồn uất ức, rồi sau đó cùng cô ta chịu thương chịu khó mà lần hồi làm ăn. Nhìn Phúc, anh ta thấy mọi niềm an ủi mà người đàn ông có thể và đáng được hưởng ở người đàn bà. Anh ta vốn không ưa nói nhiều. Thây Phúc, anh ta muốn gặp đâu nói đó. Nói mà có Phúc nghe thì những lời nói của anh ta mới không mất đi. Phúc gật đầu, hay Phúc cười cũng đều là những cách trả lời hay nhất, khiến anh ta cảm thấy như thế mới là vợ chồng thật sự.

Giữa lúc ấy, đứa em út Phúc bước vào:

- Chị ơi! Bố vê roi.

Phúc nhíu mày. Cô ta vừa đẩy cửa ra; thì bác hai Cường đã vào tới sân.

- Mày sang nhà thằng Tường làm gì thế hử?

Bác ta mắt trợn tròn, chân nam đá chân chiêu, xô tới:

- Mày làm đĩ thế chưa đủ sao, lại còn cho thằng Tường nó chơi không nữa à? Hở đồ mặt dày?

Nghe nói đến tên mình, Tường vội chạy ra, đứng phía sau Phúc.

- Này thằng Tường kia! - Bác hai Cường đang loạng choạng, định đứng thẳng lên, nhưng đứng cũng không vững - Tường! Mày có còn là người nữa không hử! Mày đi ăn ghẹ chứ, sao lại chỉ bám lấy nó? Thế là làm sao hử?

Tường không muốn chấp người say rượu, nhưng bao nhiêu nỗi uất ức chất chứa trong lòng khiến anh ta không thể kìm được cơn giận. Anh ta bước lên một bước, bốn mắt đỏ ngầu nhìn nhau, như chạm nhau trong không khí, toé lửa. Tường nắm chặt lấy vai bác hai Cường, lôi như lôi một đứa bé, quăng ra xa.

Bị lương tâm dày vò, lại uống rượu vào, bác ta trở lên ngang ngược. Cái say của bác hai Cường ít nhiều có phần giả vờ. Ngã vật một cái như thế bác ta tỉnh đến một nửa. Bác ta định đánh lại, nhưng biết mình không phải đối thủ của Tường. Có điều cứ thế mà ngoan ngoãn rút lui cũng lại không ra gì, bác ta ngồi xệp trên mặt đất, không muốn đứng lên, mà cũng chẳng tiện ngồi thế mãi. Lòng dạ rối lên, bác ta nói bừa một câu:

- Tao dạy con gái tao, việc gì đến mày? Mày đánh tao à? Con bà mày chứ! Mặt mày lại xứng à?

Tường không đáp, chỉ lẳng lặng đợi hai Cường xông tới.

Phúc nuốt nước mắt, chẳng biết làm thế nào. Khuyên can bố thì không ăn thua, mà nhìn Tường đánh bố cũng chẳng yên lòng. Cô ta lần khắp mọi nơi trên người, mới móc ra được độ mấy đồng xu, đưa cho em. Thằng bé thường ngày vốn không bao giờ dám đến gần bố, hôm nay thấy bố bị quẳng ngã sóng soài trên mặt đất, cũng mạnh bạo lên tí chút:

- Đây, bố cầm lấy, đi đi!

Bác hai Cường, mắt lừ đừ, cầm tiền, vừa đứng lên vừa lẩm bẩm:

- Hãy để bọn khốn kiếp chúng mày đấy đã! Lại dám trêu vào tay ông à? Ông cho nhát dao đi đời cả lũ!

Ra gần đến cổng rồi, bác ta còn gào lên:

- Tường! Tạm để tội mày đó đã. Rồi sẽ biết tay tao!

Bác hai Cường đi rồi, Tường và Phúc vào nhà.

- Chẳng còn cách nào nữa!

Phúc lẩm bẩm một mình. Câu đó đã nói lên mọi nỗi khổ cực của cô ta, đồng thời cũng chứa chan bao hy vọng - giả dụ Tường bằng lòng lấy cô ta, thì cô ta sẽ có cách.

Chuyện vừa rồi làm cho Tường thấy lấy Phúc sẽ lôi thôi. Anh ta vẫn thích Phúc, nhưng không gánh nổi hai đứa em và ông bố nát rượu của cô ta! Anh ta không dám nghĩ rằng, ả Nĩu chết đi, thì anh ta được tự do, ả Nĩu cũng có những chỗ tốt, ít nhất về mặt tiền tài, cũng đã giúp đỡ anh ta rất nhiều. Anh ta cũng không dám nghĩ rằng Phúc muốn bám chặt lấy anh ta, rõ ràng cả nhà cô ta chẳng ai có thể kiếm ra được cơm mà ăn! Yêu và không yêu, người nghèo cũng phải nhìn vào túi tiền mới quyết định được. "Nòi tình" chỉ sanh ra ở các nhà giàu có!

Anh ta thu dọn đổ đạc.

Phúc, mặt tái nhợt, hỏi:

- Anh định dọn đi à?

- Dọn đi!

Anh ta đành phải nén lòng. Trong cái thế giới đầy rẫy bất công này, người nghèo đành phải nén lòng để giữ lấy tự do, một tí chút tự do riêng.

Liếc nhìn Tường một cái, Phúc cúi đầu đi ra. Cô ta không giận, không buồn, mà chỉ tuyệt vọng.

Đồ trang sức và mấy chiếc quần áo đẹp đẽ một chút của ả Nĩu thì cho cả vào quan tài rồi. Chỉ còn lại mấy chiếc quần áo cũ rách, ít đồ gỗ, ít bát đĩa, nồi niêu. Tường chọn trong số quần áo mấy cái lành lặn hơn cả, để sang một bên, còn bao nhiêu bán tất cùng với các thứ đồ đạc khác. Anh ta gọi một tay mua đồ cù vào, bán hơn một tiếng, lấy hơn chục bạc.

Muốn dọn đi cho nhanh, đồng thời cũng muốn bán tống bán tháo những thứ đó đi, nên anh ta cũng chẳng buồn gọi thêm mấy người đến mặc cả để được giá cao. Người mua đồ bê sạch mọi thứ đi rồi, trong nhà chi còn lại chăn nệm của Tường và mấy chiếc quần áo anh ta chọn ra, để trên chiếc giường không chiếu. Nhà trống không, anh ta thấy dễ chịu hơn, như đã thoát khỏi bao nhiêu ràng buộc, và từ đây anh ta có thể xa chạy cao bay. Nhưng một lát, anh ta lại nghĩ đến những đồ đạc kia. Bàn đã khiêng đi, nhưng chân bàn vẫn còn để lại mấy vết hằn vuông vuông sát bờ tường. Nhìn những dấu vết đó, anh ta nhớ đến đồ vật, nhớ đến người, từ nay không bao giờ thấy lại nữa, y như một giấc mộng đã qua. Bất kể đồ vật tốt hay xấu, bất kể người tốt hay xấu, không có các thứ ấy nữa, lòng anh ta thấy nao nao. Anh ta ngồi xuống mép giường, lại móc bao "Sư tử vàng" ra.

Cùng với bao thuốc lá, lại có cả một đồng hào giấy cũ. Như hữu ý mà cũng như vô tình, anh ta móc hết tiền ra. Hai hôm nay, anh ta không còn tâm trí đâu mà tính sổ lại. Bạc đồng, bạc giấy, hào giấy, xu đồng, gì cũng có cả thành một đống cũng không phải là nhỏ. Anh ta đếm, chưa được hai chục. Nhập với chỗ hơn chục bạc bán đồ thế là cả gia tài anh ta vẻn vẹn có hơn ba chục bạc.

Để tiền xuống giường, anh ta nhìn trừng trừng, không hiểu nên khóc hay nên cười. Trong nhà không còn người nào, không còn đồ đạc, chỉ có anh ta với đống tiền cũ nát bẩn thiu kia. Thế là ra làm sao?

Anh ta thở dài. Chẳng biết làm thế nào khác, anh ta nhét tiền vào túi áo, ôm bọc chăn nệm và mấy chiếc quần áo kia, đi tìm Phúc.

Không dám ngẩng lên nhìn Phúc, anh ta cúi đầu, nói một hơi:

- Mấy chiếc quần áo này, cô cầm lấy mà mặc! Tôi gửi chăn nệm ở đây, tìm được hãng xe tốt, sẽ đến lấy ngay.

Phúc chẳng nói gì cả, chỉ vâng liền hai tiếng.

Tường tìm được hãng xe vừa ý, quay lại lấy chăn nệm, thấy Phúc khóc mắt sưng húp lên. Anh ta không biết nói gì, nhưng rồi cũng cố nói ra được vài câu.

- Cứ chờ đấy, đợi tôi làm ăn có nơi có chốn rồi, tôi sẽ đến! Nhất định sẽ đến!

Phúc gật đầu, không nói gì cả.

Tường chỉ nghỉ có một ngày, rồi lại đi kéo xe như cũ. Anh ta không thiết tha làm ăn như trước kia nữa, nhưng cũng không cố ý chây lười, cứ đều đều bình thường như vậy, ngày này qua ngày khác. Được độ một tháng, anh ta thấy trong lòng rất bình tĩnh, má đã đầy lên được một chút, nhưng không hồng hào như dạo nọ. Da mặt vàng vàng, không ra khỏe mạnh, mà cũng không có vẻ ốm yếu. Mắt rất sáng, nhưng không biểu lộ tình ý gì, săm soi lúng liếng, như có vẻ tinh anh lắm mà cũng như chẳng nhìn thấy gì cả. Anh ta rất giống cây cối sau cơn bão lớn, đứng lặng lẽ trong ánh nắng, không dám lay động. Trước đây đã ít nói, bây giờ anh ta càng ít nói hơn. Trời ấm lắm rồi, cành liễu đã đầy lá non. Lúc thì anh ta đỗ xe chỗ có ánh mặt trời, cúi đầu lẩm bẩm gì đó, miệng hơi động đậy, lúc thì ngửa mặt lên, hứng lấy ánh nắng, ngủ một tí. Trừ khi cần thiết, anh ta không thích chuyện trò với ai.

Nhưng thuốc lá thì anh ta nghiện rồi. Cứ ngồi lên xe nghỉ, là tay liền móc thuốc lá dưới đệm ra. Châm một điêu, anh ta chậm rãi đưa mắt theo làn khói, nhìn thẫn thờ, rồi gật gù, dường như thấy được cái gì hay lắm.

Kéo xe, anh ta vẫn khỏe hơn các anh em khác, nhưng anh ta không chạy thục mạng nữa. Lúc rẽ, lúc lên dốc, xuống dốc, anh ta hết sức cẩn thận. Hầu như lại quá cẩn thận là đằng khác. Có người gạ anh ta kéo thi, muốn nói khích thế nào thì nói, anh ta cứ làm thinh, cúi đầu, chạy như thường lệ, chẳng nhanh cũng chẳng chậm. Hình như anh ta biết rõ nghề kéo xe là như thế nào rồi, chẳng muốn giành lấy chút vinh quang hay lời khen ngợi làm gì. Nhưng ở hãng xe, thì anh ta lại có bạn. Tuy không ưa nói nhiều, như con nhạn kia không biết hót mà lại thích bay thành đàn. Không có bạn, anh ta e không chịu nối cảnh cô đơn, vắng vẻ. Mỗi khi mở hộp thuốc lá ra là anh ta đưa mời khắp. Có lúc, người ta thấy trong hộp còn một điếu, không tiện lấy, anh ta liền nói ngay: "Hết lại mua". Gặp lúc mọi người đánh bạc, anh ta cũng không tránh đi như trước, cũng sà vào xem, có khi cũng đá gà một tí, được thua không cần, tựa hồ chỉ cốt để tỏ ra rằng anh ta rất ăn ý với anh em, rất thông cảm với anh em, sau những ngày mệt nhọc thì phải vui chơi một tí. Họ uống rượu, anh cũng ngồi tiếp, uống không nhiều, nhưng thường bỏ tiền ra mua ít đồ nhắm mời mọi người. Những việc trước đây anh cho là chướng mắt, bây giờ anh ta thấy cũng hay hay. Con đường mình đi đã không ra gì, thì tất phải thừa nhận đường người khác đi là đúng! Trong anh em, ai có việc hiếu hỉ, trước đây anh ta vốn chẳng biết đến chuyện nhân tình thế cố, bây giờ cũng bỏ ra ba bốn hào, hoặc góp chung với anh em. Không những bỏ tiền ra, mà lại còn thân hành thăm viếng, đi mừng nữa kia, bởi vì anh ta biết rằng bày ra những chuyện đó không phải là để tiêu phí toi tiền, mà cốt để trọn cái tình con người ta với nhau. Ở đó, người ta khóc thật, cười thật, chứ không phải họp nhau lại mà làm ồn ào vớ vẩn.

Số tiền hơn ba chục kia, anh ta không dám đụng đến. Kiếm được mảnh vải trắng, anh ta lấy cái kim to tướng lóng nga lóng ngóng khâu lại, bỏ tiền vào, rồi giấu tận bên trong áo sát với người. Không muốn tiêu, mà cũng chẳng muốn mua xe nữa, cứ giữ khư khư bên mình, phòng sẵn đấy, ai biết mai đây sẽ xảy ra chuyện gì! Ốm đau, tai họa bất kỳ lúc nào cũng phải phòng sẵn. Anh ta biết rồi, người ta không phải xương đồng da sắt.

Sắp đến tiết lập thu, anh ta lại có nơi kéo tháng. Nơi này, so với các nhà trước kia, nhàn hơn nhiều. Không như thế anh ta cũng chẳng nhận. Bây giờ anh ta đã biết chọn việc mà làm rồi. Tìm được chỗ kéo tháng vừa ý thì làm, không thì cứ kéo lẻ cũng chẳng sao, chứ không hăm hở như trước kia. Anh ta biết có thân thì phải giữ lấy thân, phu xe mà cứ làm thục mạng như anh ta trước kia, thì chỉ có chết thôi, chứ chẳng được cái quái gì cả. Có từng trải, cũng có khôn ngoan hơn: người ta sống chỉ một lần.

Lần này, anh ta đến làm cho một nhà ở gần cung Ứng Hòa. Chủ nhà là ông Hạ, đã ngoài năm mươi, thông sách, biết lễ nghĩa, ở nhà còn có vợ và mười hai đứa con, vừa trai vừa gái. Gần đây, ông ta lấy thêm một bà hai, không dám cho nhà biết, cho nên tìm chỗ vắng vẻ này, lập một gia đình con con ở đây.

Trong cái gia đình con con ở gần cung ứng Hòa đó chì có ông Hạ và bà hai mới cưới. Ngoài ra còn một người ở gái, một anh xe - tức Tường.

Tường rất thích nơi này. Trước hết nói về nhà cửa, cả nhà có sáu buồng, ông Hạ ở ba buồng, một buồng làm bếp, còn hai buồng để người làm ở. Sân rất nhỏ, ở chân tường phía nam có một cây táo mới lớn, trên ngọn cây có hơn chục quả đang chín dở. Lúc quét sân, Tường hầu như chỉ đưa hai nhát chổi là đã sạch từ đầu này đến đầu kia, rất nhẹ việc. Cũng chẳng có hoa lá gì cần phải tưới bón. Anh ta rất muốn chăm sóc cây táo kia, nhưng cũng lại biết táo mọc rất bừa, cong cong queo queo, không uốn nắn được, nên cũng chẳng buồn mó tay vào.

Những công việc khác cũng không nhiều. Ông Hạ buổi sáng đi làm, buổi chiều năm giờ mới về, Tường chỉ cần đưa đón ngày hai lần vậy thôi, về đến nhà, ông ta không đi đâu cả, cứ y như người lánh nạn. Bà hai thì đi luôn, nhưng bao giờ cũng cứ độ ba bốn giờ là về, để cho Tường đi đón ông ta. Đón ông ta về tới nhà, thế là coi như hết việc một ngày. Vả lại bà hai thường cũng chỉ hay đến chợ Đông An hoặc công viên Trung Sơn chi đó thôi, kéo đến đó, Tường tha hồ mà ngồi nghỉ. Công việc ít ỏi như thế, Tường làm như chơi cũng xong.

Ồng Hạ thì rất hà tiện, một xu cũng không để lọt qua tay. Ra vào, ông ta không bao giờ nhìn ngang nhìn ngửa, hình như phố phường không có ai, mà cũng chẳng có cái gì. Bà hai thì lại rộng rãi lắm, cứ đi mua các thức ăn luôn luôn, đồ ăn không ngon là cho người ở ngay, đổ dùng, sắp đến lúc mua cái mới, thì cái cũ cũng cho người ở, để tiện lấy tiền của ông Hạ. Cả đời, ông Hạ chỉ cúc cung tận tụy đem sức lực và tiền bạc cung phụng cho bà hai, ngoài ra, chẳng có hoạt động và thú vui nào khác. Tiền của phải nhờ tay bà hai tiêu giùm cho, chứ ông ta không biết tiêu, còn nói gì đến chuyện cho ai. Nghe nói, bà cả và mười hai đứa con thì ở Bảo Định, có khi đến bốn năm tháng liền chẳng được ông ta gửi cho đồng nào cả.

Tường ghét ông ta: suốt ngày lưng khòng khòng, cổ rút lại, ra vào cứ y như thằng ăn trộm, mắt nhìn đầu ngón chân, chẳng nói chẳng rằng, không bỏ ra một đồng xu, không cười lấy một tiếng, ngồi trên xe như con khỉ già. Đôi khi ông ta mở miệng nói vài ba câu thì đến là khó nghe, tuồng như ai cũng là đồ vứt đi, chỉ có ông ta mới là hạng quân tử thông sách vở, biết lễ nghĩa. Tường không thích những người như vậy. Nhưng anh ta coi công việc là công việc, miễn hàng tháng lĩnh được tiền, để ý làm gì đến những chuyện khác! Huống chi bà hai lại là người rất rộng rãi, đồ ăn thức dùng thường cho luôn. Thôi, cứ coi như là kéo con khỉ chẳng biết gì đến tình người vậy.

Đối mặt với bà hai, Tường chỉ coi là một người đàn bà hay cho tiền vặt thế thôi, chứ cũng chẳng ưa gì. Bà ta đẹp hơn Phúc nhiều, đầy người son phấn nước hoa, lụa là nhiễu đoạn, Phúc lại chẳng thể bì kịp. Có điều, bà ta tuy đẹp người, diện sang, nhưng chẳng hiểu sao, cứ nhìn đến bà ta là Tường lại nhớ đến ả Nĩu, chẳng phải những bộ quần áo kia, cũng chẳng phải dáng người, mà là cái gì gì trong kiểu cách hoặc trong vẻ mặt, Tường cũng không tìm được chữ gì thích đáng để mà hình dung, chỉ có thể dùng cái chữ mà anh nghĩ ra được, là bà ta "cùng một nòi" với ả Nĩu. Bà ta còn trẻ lắm, độ hăm hai hăm ba là nhiều nhất, nhưng trông già dặn, lọc lõi, chứ không vẻ gì là con gái mới đi lấy chồng, cũng giống như ả Nĩu, không hề có cái vẻ thẹn thùng, dịu dàng của con gái. Bà ta uốn tóc, đi giày cao gót, quần áo may thật sát, nổi hết các đường cong, các góc cạnh. Ngay cả Tường cũng thấy rằng, tuy bà ta đã ăn mặc hợp thời trang như thế, nhưng chẳng có dáng dấp của các bà, mà xem ra cũng chẳng phải hạng người xuất thân từ gái đĩ. Tường chẳng hiểu bà ta thế nào cả. Anh ta chi thấy hơi đáng sợ, cũng đáng sợ như là ả Nĩu vậy. Có điều, ả Nĩu không được trẻ đẹp bằng bà ta, cho nên Tường lại càng sợ, tuồng như trên người bà ta có tất cả những cái gì ghê gớm, độc ác của người đàn bà mà anh ta đã phải chịu đựng. Anh ta chẳng hề dám nhìn thẳng vào mặt bà ta.

Ở được ít ngày anh ta lại càng sợ bà ta hơn. Kéo ông Hạ, anh ta không hề thấy ông ta tiêu gì bao giờ, nhưng có khi ông ta cũng vào hiệu thuốc lớn cân thuốc. Tường chẳng hiểu ông ta cân thuốc gì, nhưng mỗi khi cân thuốc về, hai vợ chổng lại rất vui vẻ, ngay ông ta là người lừ đừ như vậy mà cũng có vẻ tươi tỉnh lắm. Tươi tỉnh như thế được độ hai ba hôm, lại lừ đừ lưng còng xuống thấp hơn trước, y như con cá mua ở chợ về, thà vào chậu, quẫy được một tí, rồi đờ ra ngay. Mỗi khi thấy ông ta ngồi thừ trên xe y như người chết rồi, Tường biết là đã lại đến lúc đi cân thuốc. Anh ta chẳng ưa gì ông ta, nhưng mỗi khi phải kéo ông ta đến hiệu thuốc, anh ta bất giác cũng thấy buồn cho con khỉ già hom hem ấy. Đến khi ông ta mang thuốc về nhà, anh ta lại nhớ đến ả Nĩu, trong lòng thấy buồn rầu khó tả. Anh ta không muốn oán hận người đã chết, nhưng nhìn mình, nhìn ông Hạ, anh ta không thể nào không oán ả; dù sao anh ta chẳng được khỏe mạnh rắn chắc như trước kia nữa phần lớn củng vì ả Nĩu.

Anh ta muốn xin thôi, không làm nữa. Nhưng vì cái chuyện không đâu ấy mà thôi việc, thì hình như cũng chẳng ra sao cả. Hút điếu "Sư tử vàng", anh ta lẩm bẩm tự nhủ: "Chuyện của người ta để ý làm quái gì cơ chứ!".

21

Vào mùa chợ bán cúc, bà hai mua bốn chậu. Vú Dương đánh vỡ một chậu, bà ta mắng vú một trận. Vú ở nhà quê lên, cho rằng hoa thì có gì mà quý giá đến thế, nhưng đã đánh vỡ của người ta, dù thế nào cũng là mình sơ ý rồi, vì thế vú chẳng nói lại nửa lời. Đến khi thấy bà hai cứ làm ầm lên mãi, chửi bới thô tục, vú không chịu nổi cơn nóng nữa, cãi lại. Người nhà quê mà đã nổi nóng thì chẳng biết lựa lời, vú dốc ra những lời tục tĩu nhất. Bà hai giẫm chân đành đạch, chửi một hồi, rồi bảo vú cuốn xéo ngay.

Tường không lại can. Anh ta vốn không biết can chuyện cãi vã nhau, lại càng không biết can hai người đàn bà nổi cơn tam bành. Đến khi nghe vú Dương chửi bà hai là đổ "đĩ lậu", thì anh ta biết vú mất chỗ làm rồi. Đồng thời cũng thấy vú Dương mà bị đuổi thì anh ta cũng đến nước bị đuổi thôi. Bà hai chắc chẳng đời nào chịu giữ một người đã biết lai lịch của bà ta như thế. Vú Dương đi rồi, anh ta sẵn sàng chờ ngày mình bị tống cổ ra, và tính rằng, chắc khi nào thuê được người hầu gái mới là anh ta phải cuốn gói. Nhưng anh ta cũng chẳng buồn, sự từng trải đã rèn luyện cho anh ta sự bình tĩnh, thản nhiên, khi có việc làm cũng như khi mất việc, chẳng có gì gọi là xúc động cả.

Nhưng vú Dương đi rồi, bà hai đối với Tường lại hết sức mềm mỏng. Không có người ở gái, bà ta phải xuống bếp làm cơm. Bà ta đưa tiền cho Tường, bảo anh ta đi chợ. Thức ăn mua về, bà ta bảo nên gọt cái gì, nên rửa cái gì. Anh ta gọt gọt, rửa rửa, bà ta thái thịt làm cơm, vừa làm vừa kiếm chuyện nói. Bà ta mặc chiếc áo lót màu hồng, chiếc quần xanh lơ, chân đi dép đoạn hoa trắng. Tường cứ cúi đầu làm, tay lóng nga lóng ngóng, không dám nhìn bà ta, nhưng lại rất muốn nhìn. Mùi nước hoa ở người bà ta cứ xộc vào mũi, như có ý bảo anh ta phải nhìn, không nhìn không được, giống như hoa thơm quyến rũ ong bướm. Tường bất giác đưa mắt liếc nhìn. Anh ta không hề coi thường bà ta, con người vốn là: "đĩ lậu", con người xinh đẹp này. Bà ta ghê gớm lắm, mà lại cũng chẳng ra gì. Anh ta nghĩ thầm, nếu có chỗ nào tha thứ được cho mình thì chính là chỗ lão Hạ như con khỉ hom hem kia đáng ghét quá, phải chịu ác báo. Lây người chồng như thế bà ta có làm gì cũng không có tội. Ở với người chủ như thế, anh ta - Tường - có làm gì cũng chẳng sao. Anh ta thấy mạnh dạn lên.

Nhưng bà hai chẳng để ý anh ta có nhìn mình hay không. Làm cơm xong, bà ta ngồi ăn một mình ở dưới bếp. Ăn xong, bà ta gọi Tường:

- Anh ăn đi, ăn xong rửa bát đĩa tí nhé. Chiều, lúc đi đón ông, tiện thể mua thức ăn tối, đỡ phải đi lượt nữa. Ngày mai chủ nhật, ông nghỉ, tôi đi tìm thuê một người vú già. Anh có quen ai, mách cho một người? Vú già khó kiếm lắm đây! Thôi được rồi! Ăn đi đã, không nguội cả!

Bà ta nói rất đàng hoàng, tự nhiên. Tường thấy chiếc áo lót màu hổng kia bỗng sạch sẽ, tinh khiết hẳn lên. Anh ta có vẻ hơi thất vọng, rồi từ chỗ thất vọng đâm ra xấu hổ. Anh ta thấy, mình không còn là người có chí khí nữa, không những thế mà đã trở thành một thằng không ra gì. Nuốt vội nuốt vàng hai bát cơm, anh ta thấy nhạt nhẽo vô cùng. Rửa xong bát đĩa, anh ta về buồng, hút một chặp, không biết đến mấy điếu "Sư tử vàng" nữa.

Chiều, lúc đi đón ông Hạ, chẳng hiếu sao, anh ta thấy căm giận ông ta vô cùng. Anh ta muốn chạy thật nhanh rồi buông tay ra cho ông ta ngã một cái thật đau. Anh ta cố ý lắc càng xe, làm cho con khỉ già ấy xóc một mẻ. Lão khỉ già ấy vẫn chẳng nói năng gì cả, khiến Tường thấy buồn rầu ngán ngẩm. Anh ta chưa từng làm những trò ấy bao giờ, thế mà nay lại giở ra, dù có lý do đi chăng nữa, cũng không thể tha thứ cho mình được.

Rồi anh ta trấn tĩnh lại, và quên hẳn cái việc đã không đem lại kết quả gì đó. Đôi khi tình cờ nhớ đến, anh ta thấy hơi buồn cười.

Hôm sau, bà hai đi thuê người. Một lát, bà ta dẫn về một người, ở thử ít ngày. Tường yên lòng, nhưng trong bụng vẫn cứ thấy thế nào ấy.

Thứ hai, sau bữa trưa, bà ta cho vú ấy ra, chê là bẩn quá. Rồi bà ta sai Tường đi mua một cân hạt dẻ.

Tường mua về, đứng ở cửa buồng, đánh tiếng.

- Đem vào đây!

Tường đem vào, bà ta đang soi gương đánh phấn, vẫn mặc chiếc áo lót hồng kia, nhưng quần đã thay chiếc màu xanh nhạt. Nhìn gương, thấy Tường vào, bà ta liền quay ngoắt ra, nhìn anh ta, cười. Tường bỗng như nhìn thấy ả Nĩu, một ả Nĩu trẻ, đẹp. Anh ta đực ra đó. Can đàm, hy vọng, sợ hãi, thận trọng biến đâu mất cả, chỉ còn lại một làn hơi nóng, có thể là nhiều mà cũng có thể là ít, giữ cho anh ta đứng vững. Chính nó bảo tiến thì anh ta tiến, bảo anh ta lùi thì anh ta lùi, chứ anh ta chẳng tự chủ nổi.

Ba bốn ngày sau, vào buổi tối, anh ta kéo theo chăn nệm, quay về hãng xe.

Chuyện mà ngày thường anh ta vẫn cho là đáng sợ, xấu hổ nhất, thì nay anh ta cười ha hả nói cho mọi người biết - anh ta không đái được nữa!

Họ tranh nhau mách thầy mách thuốc. Chẳng ai cho là xấu hổ, tất cả đều đồng tình, nghĩ hộ anh ta cách chữa chạy, và đem chuyện của mình thuật lại, mặt đỏ lên có vé đắc ý. Mấy anh trai trẻ đã từng mất tiền rước bệnh về. Mấy bác già thì mắc phải bệnh nhưng không mất tiền; mấy người đã từng kéo xe tháng, đều có những chuyện, khác nhau tí chút, nhưng tính chất thì giống nhau; một vài anh em khác cũng từng kéo xe tháng, tuy không gặp những chuyện như thế này, nhưng lại có những chuyện khác về nhà chủ, rất đáng đem ra kể lại. Bệnh của Tường khiến họ đâm ra cởi mở, vui vẻ tâm sự với anh ta. Anh ta cũng quên cả xấu hổ, tuy không lấy làm vẻ vang, nhưng cho rằng cứ bình tĩnh chịu đựng thì cũng như cảm nắng hoặc cảm lạnh mà thôi, chẳng có gì khác cả.

Thuốc thang chữa chạy làm anh ta tốn hơn chục bạc. Bệnh vẫn chưa trừ tận gốc. Qua quít cho xong, anh ta tưởng thế là khỏi rồi, không uống thuốc nữa. Gặp những ngày u ám trở trời, xương cốt cứ đau nhức lên, lúc đó anh ta lại uống tí thuốc, hoặc cố chịu đựng, không cho là quan trọng. Đã khổ đến thế này rồi, thì thần xác còn có nghĩa lý gì nữa!

Bệnh qua đi, anh ta hầu như biến thành một con người khác. Tầm vóc vẫn cao lớn như trước, nhưng không có cái vẻ đàng hoàng gì nữa. Vai cứ nhô ra phía trước, môi thì trề trề, ngậm lệch điếu thuốc; có khi anh ta lại giắt luôn cả mẩu thuốc đang hút dở lên vành tai, chẳng phải đó là nơi tiện lợi gì, nhưng cốt cho ra vẻ con người ăn chơi. Anh ta vẫn ít lời, nhưng lúc nói cũng cố tìm cách đùa giỡn, tuy không hay ho, nhưng vẫn cứ làm như vậy. Trong lòng buông lỏng như thế cho nên vẻ mặt, bộ điệu trông nghênh ngang, bừa bãi.

Có điều, so với các anh em phu xe khác, anh ta cũng không đến nỗi xâu xa, hư hỏng lắm. Những lúc vắng vẻ, ngồi một mình, nghĩ đến con người mình trước kia, anh ta lại muốn cố gắng làm ăn, chứ không muốn buông xuôi như thế này. Cố gắng cũng chẳng ích gì, nhưng tự hủy hoại thân mình cũng không phải là chuyện hay. Những lúc đó, anh ta lại nghĩ đến chuyện mua xe. Ba chục bạc, thuốc thang đã mất hơn mười đồng rồi! Oan uổng quá! Nhưng còn lại cái vốn khoảng hai chục đó, so với những người khác hoàn toàn tay trắng, thì cũng còn khá hơn nhiều. Nghĩ thế, anh ta rất muốn vứt béng nửa bao "Sư tử vàng" hút dở, từ nay rượu, thuốc xin chừa, chịu khó dành dụm đồng tiền, từ chỗ muốn dành dụm, anh ta nghĩ đến chuyện mua xe, từ chỗ mua xe lại nhớ đến Phúc. Anh ta thấy đối với Phúc như vậy cũng hơi tệ, từ khi đi khỏi cái xóm ấy đến nay, anh ta không hề quay lại thăm hỏi cô ta lần nào, mà mình thì chẳng khá hơn, trái lại, còn đi rước lây cái bệnh thổ tả ấy.

Nhưng đến khi gặp bạn bè, anh ta lại hút thuốc, có dịp cũng lại uống rượu, quên đứt cả Phúc. Tụ tập với bạn bè, anh ta chẳng còn biết phân biệt việc gì nên làm, việc gì không nên làm; mọi người làm gì, anh ta không thể không làm theo. Khó nhọc cả ngày, uất ức chất chứa trong lòng, chỉ có nói cười đùa bỡn với họ, anh ta mới tạm quên đi được. Thú vui trước mắt xua đuổi mọi ý chí tốt đẹp, anh ta muốn được thỏa thích trong chốc lát rồi ngủ một giấc không biết trời biết đất gì nữa cả. Đời đã vô vị, đau khổ, tuyệt vọng như vậy, thì ai mà chẳng muốn thế? Vết thương đau do cuộc đời gây ra, chỉ có thể dùng những vị độc như thuốc, rượu, đàn bà để làm tê dại đi trong chốc lát, lấy độc trị độc. Rồi một ngày kia, chất độc sẽ ngâm vào tim, ai chẳng biết vậy, nhưng nào ai có cách gì hơn thay thế cái đó đâu?

Càng không muốn cố gắng lại càng quý thân mình. Trước kia, anh ta chẳng quản gì cả, bây giờ anh ta thích an nhàn rỗi rãi: trời mưa gió là không ra xe; người mệt mỏi một tí cũng nghỉ hai ba ngày. Quý thân mình tất sinh ra ích kỷ. Số tiền ấy, anh ta không cho ai vay mượn một đồng, cứ giữ chặt để phụ vào tiêu những ngày mưa ngày gió. Rượu, thuốc lá, có thể mời mọc, nhưng tiền không thể cho vay được, ai cũng không bằng mình. Càng rỗi rãi, càng ngại việc, lại càng buồn, vì thế cứ phải luôn luôn tìm trò giải trí, hoặc ăn uống cho sướng miệng. Kịp đến khi sực nghĩ ra là không nên phí phạm thời giờ như thế thì trong lòng anh ta có sẵn một câu do bao nhiêu kinh nghiệm từng trải đúc kết nên: "Trước đây mình đã chịu thương chịu khó rồi, nhưng nào có được quái gì đâu!". Câu nói đó, không ai bẻ lại được mà cũng chẳng có ai có thể giải thích nổi. Vậy thì, ai có thể ngăn cản không cho Tường buông trôi.

Lười biếng hay sinh ra giận dữ. Anh ta bây giờ cũng đã biết trợn mắt lên. Khách, cảnh sát, hay bất cứ người nào, anh ta nhất quyết không chịu nín nhịn cho qua. Làm ăn cực khổ, anh ta không hề được đổi xử công bằng, bây giờ, đã biết mổ hôi quý giá như thế nào rồi, thì đỡ được giọt nào hay giọt ấy, đừng ai hòng lợi dụng anh ta. Xe bạ đâu đỗ đấy, đã đỗ rồi chẳng buồn nhúc nhích nữa, bất biết chỗ đó có phải là chỗ được đỗ hay không. Cảnh sát đến bảo đi đi, anh ta ầm ừ đầu miệng, vẫn ngồi yên, vẫn chần chừ, đỗ thêm được tí nào hay tí ấy. Đến lúc thấy không kéo đi không được, thì miệng anh ta cũng chẳng chịu im. Anh ta lẩm bẩm chửi liền. Cảnh sát không chịu nghe chửi, thì đánh nhau cũng chẳng cần. Vốn biết mình khỏe, anh ta cứ nện trước cho hắn một trận, rồi vào "bót" ngồi cũng không phải là thiệt. Đánh nhau, anh ta lại thấy được mình khỏe và giỏi. Đem sức lực của mình dồn cả xuống thân thể người khác, anh ta thấy vẻ vang hẳn lên, mặt trời hình như chói lọi thêm. Trước đây anh ta không hề nghĩ đến chuyện để dành sức để sẵn sàng choảng nhau, nay thì đã trở thành chuyện thực, mà lại là chuyện làm anh ta thích thú. Nghĩ thật buồn cười!

Không nói gì bọn cảnh sát, chân tay không, ngay đến cả những chiếc xe hơi phóng bừa trên phố, anh ta cũng chẳng sợ. Gặp ô tô đi ngược lại cuốn bụi lên, anh ta không tránh, cho bóp còi, khách ngồi trên xe cuống quít cả lên cũng mặc kệ. Ô tô đành chịu, phải chạy chậm lại. Tường lúc bấy giờ mới tránh, để khỏi phải ăn bụi. Ô tô phía sau đi lên, anh ta củng giở cái trò đó ra. Anh ta đã tính rồi, ô tô không dám đâm đâu, việc gì cứ phải tránh trước để cho nó phóng tung bụi lên? Bọn cảnh sát chuyên môn dọn đường cho ô tô, chỉ sợ ô tô phóng không được nhanh và cuốn lên ít bụi, mình có là cảnh sát đâu, việc gì lại để chịu cho ô tô hoành hành? Trước mắt bọn cảnh sát, Tường là cái "gai" nhọn hoắt, nhưng họ cũng chẳng dám trêu vào. Người nghèo mà chây lười ngại việc là vì đã cố gắng nhiều rồi, nhưng chẳng đi đến đâu. Người nghèo mà ngang bướng là muốn tìm một chút công lý.

Đối với khách, anh ta chẳng cần mềm mỏng lê phép. Mặc cả đến đâu, kéo đến đó, thêm một bước cũng không chịu. Thuê đến "đầu" ngõ mà lại bắt kéo vào "trong" ngõ thì đừng có hòng! Khách trợn mắt lên, thì mắt anh ta trợn lại to gấp mấy. Anh ta biết các ông ăn mặc tây chúa là sợ bẩn quần áo, và cũng biết phần lớn họ ngang ngược và hà tiện. Được, anh ta sẵn sàng rồi. Quá lời một tí là nắm luôn cái tay áo tây đáng giá năm sáu chục bạc kia, ít nhất cũng để lại vết bẩn to bằng bàn tay. Ấy thế mà tiền vẫn cứ phải trả; các ông ấy đã thấy bàn tay anh ta mạnh như thế nào rồi, mới nắm một tí thế mà cánh tay bé nhỏ của họ đã đau ê ẩm!

Anh ta chạy không chậm, nhưng cũng chẳng muốn chạy nhanh thêm làm gì cho phí sức. Khách giục, anh ta liền bước thong thả, hỏi luôn:

- Nhanh à? Cho thêm bao nhiêu đây?

Không khách sáo gì cả, anh ta bán mồ hôi nước mắt cơ mà! Anh ta không còn mong vào lòng tốt của khách thưởng cho vài ba xu nữa. Tiền nhiều thì hàng tốt, phải mặc cả rõ ràng đã rồi mới bỏ sức ra.

Đồi với cái xe anh ta không quí nó như trước nữa. Lòng anh ta đã nguội lạnh rồi, không ao ước mua xe nữa, còn xe của người ta thì anh ta không quan tâm lắm, xe nào cũng là xe, kéo, kiếm được tiền để mà ăn mà nạp thuế, thế là được rồi; không kéo, không nạp thuế. Vậy thì, miễn trong tay có đủ ăn một ngày chẳng cần kéo thêm làm quái gì nữa. Người với xe chỉ quan hệ với nhau như vậy mà thôi. Tất nhiên anh ta cũng chẳng cố ý làm hỏng xe người ta, nhưng cũng chẳng để ý giữ gìn. Lỡ có xe khác vô ý đâm vào, làm hư hỏng một chút, anh ta cũng chẳng hề chồm chồm lên chửi bới nữa, cứ thản nhiên như không, kéo về hãng đáng đền năm hào thì anh ta bỏ ra hai hào là xong. Chủ hãng không đồng ý? Càng tốt, cùng lắm thì nện nhau chứ gì? Nếu chủ hãng muốn, anh ta xin sẵn lòng "hầu tiếp".

Kinh nghiệm là phân bón của cuộc sống. Đã có kinh nghiệm như thế nào, sẽ trở thành con người như thế. Giữa bãi sa mạc làm gì trồng được hoa mẫu đơn. Tường đã "vào khuôn” rồi, không tốt hơn các phu xe khác mà cũng chẳng có gì xấu xa hư hỏng hơn, nghĩa là đã trở thành một anh phu xe ra phu xe. Như vậy, anh ta thấy dễ chịu hơn trước đây, và những anh em khác cũng thấy thuận mắt. Quạ đều đen cả, anh ta cũng chẳng mong gì riêng mình là con quạ có bộ lông trắng.

Mùa đông lại tới. Gió từ sa mạc thổi về, một đêm làm chết bao nhiêu người. Nghe tiếng gió rít, Tường rúc đầu vào trong chăn, không dám dậy. Cho mãi đến khi gió không gào lên như sói kêu quỷ khóc nữa, anh ta mới miên cưỡng trở dậy, lưỡng lự mãi không biết nên cho xe ra, hay nên nghỉ một ngày. Anh ta ngại cầm cái càng xe lạnh như băng, ngại hớp cái gió ghê người kia. "Gió mạnh sợ mặt trời lặn", cho mãi tới hơn bốn giờ chiều, gió mới yên hẳn, bầu trời chiều nhuốm màu hồng nhạt của ánh tà dương. Anh ta gắng gượng kéo xe ra. Hai tay thủ trong bọc, ngực ưỡn ra, ghì đầu vào càng xe, anh ta uể oải bước lững thững, miệng ngậm nửa điếu thuốc cháy dở. Một lát, trời tối, anh ta định bụng kéo được độ một hai món khách nữa là cho xe về sớm. Anh ta ngại chẳng muốn thắp đèn lên, cho đến khi cảnh sát ở dọc đường giục bốn năm lần, anh ta mới thắp.

Đến trước lầu trống, thì tranh được món khách, về khu Đông Thành, anh ta chẳng cởi áo bông dài ra, cứ thế lùng thùng mà chạy nước kiệu. Anh ta cũng biết như vậy là "không ra làm sao", nhưng "ra làm sao" thì liệu có ai cho thêm được đồng xu nào không? Đây có phải là kéo xe đâu, chỉ là kiếm miếng ăn thôi! Trán đã thấy có mồ hôi, anh ta vẫn không chịu cởi áo dài ra, xong chuyện thì thôi. Rẽ vào một cái ngõ, một con chó chắc là thấy người mặc áo dài kéo xe, lạ mắt, cứ đuổi theo sủa. Anh ta đỗ xe lại, cầm ngược chiếc phất trần, chạy đuổi theo, đánh. Mãi cho đến khi chó chạy mất tăm, anh ta còn đứng chờ một lúc, xem có dám quay lại nữa hay không. Con chó không dám quay lại, Tường lấy làm khoái chí lắm:

- Mẹ mày chứ! Mày tưởng ông sợ mày à?

Khách ngồi trên xe có vẻ bực mình:

- Này, anh kéo xe cái kiểu gì thế?

Tường chột dạ, nghe giọng nói quen lắm. Ngõ tôi đen, tuy xe có thắp đèn, nhưng chi là chiếu sáng mặt đường, anh ta không trông rõ là ai. Người đó đội mũ che gió, chiếc khăn quàng phủ kín cả mồm lẫn mũi, chỉ chừa hai con mắt. Tường đang đoán thầm thì người kia lại hỏi:

- Tường đấy phải không?

Tường rõ rồi! Chính là lão Tư Lưu. Anh ta giật mình, thấy toàn thân mình nóng bừng bùng, không biết nên xử trí ra sao.

- Con gái tao đâu rồi?

- Chết rồi!

Tường đúng đờ ra đấy, chẳng hiểu chính mình hay là người nào khác vừa trả lời.

- Sao, chết rồi à?

- Chết rồi!

- Mẹ kiếp! Rơi vào tay mày mà lại sống được à?

Tường bỗng sực tỉnh:

- Xuống! Xuống ngay! Mày già quá rồi, chẳng đáng để tao cho một trận! Xuống!

Lão Tư Lưu, tay run lẩy bẩy, bước xuống:

- Chôn ở đâu hở?

- Hỏi làm gì?

Tường kéo xe đi thẳng.

Anh ta đi đã khá xa, mới quay lại nhìn, lão già vẫn đứng ở đấy, lù lù y như một cái bóng.

22

Tường không biết mình đi đâu nữa. Anh ta ngẩng cao đầu lên, hai tay nắm chặt lấy càng xe, mắt sáng rực, bước thẳng tới. Anh ta cứ thế mà đi, chẳng để ý xem đi về hướng nào, và đi đến đâu. Anh ta thấy vui vẻ trong lòng, người khoan khoái, tuồng như bao nhiêu nỗi bực dọc đau khổ từ sau ngày lấy ả Nĩu đến nay đều trút cả lên đầu lão Tư rồi. Quên cả rét, quên cả kiếm khách, anh ta cứ kéo xe đi thẳng, tưởng chừng như đến một nơi nào đó thì sẽ tìm thấy được con người anh ta trước kia - không đìu ríu đèo bồng, trong trắng, muốn điều tốt điều hay, luôn luôn cố gắng làm ăn. Nghĩ đến cái lão già lù đù như cái bóng trong ngõ, anh ta thấy hầu như không cần phải nói thêm gì nữa. Thắng được lão Tư Lưu là thắng tất cả. Tuy chưa đấm chưa đạp lão ta được cái nào, nhưng lão ta đã mất người thân duy nhất, còn Tường lại được tự do tự tại, ai bảo đó không phải là chuyện trời báo! Lão già không uất mà chết thì cũng chẳng còn sống được bao nhiêu lâu nữa. Lão gì cũng có hết, còn Tường chẳng có cái quái gì sất. Nhưng mà giờ đây, Tường vẫn có thể vui vẻ mà kéo xe, còn lão thì ngay đến nấm mồ của con gái cũng chẳng tìm ra được. Hừ! Giàu tiền bạc từng đống, tính nóng như lửa, ấy thế mà cũng chẳng trị nổi cái thằng nghèo rớt mồng tơi, ngày lần hồi hai bữa cơm này!

Càng nghĩ, anh ta càng thấy thú. Anh ta rất muốn hát to lên mấy câu, cho người đời nghe tiếng ca khải hoàn đó. Thằng Tường sống lại rồi, thằng Tường thắng rồi! Khí ban đêm phả vào mặt, anh ta không thấy lạnh, mà lại thấy khoan khoái. Đèn đường tỏa ánh sáng lạnh lẽo; trong lòng Tường thấy ấm áp dễ chịu; khắp nơi đều là ánh sáng, chiếu rọi tương lai. Nãy giờ không hút điếu thuốc nào, mà cũng chẳng buồn hút nữa. Từ nay thuốc với rượu xin chừa, Tường nhất quyết làm lại cuộc đời, cố chịu thương chịu khó như xưa. Anh ta đã thắng lão Tư Lưu, và sẽ thắng lão ta mãi mãi; những lời nguyền rủa của lão cũng chỉ có thể làm cho Tường thành công hơn, hy vọng nhiều hơn mà thôi.

Thở hết uế khí ra rồi, từ nay anh ta sẽ mãi mãi hít khí trong sạch. Nhìn chân tay, anh ta thấy, chẳng phải mình vẫn còn trẻ đây ư? Mình sẽ trẻ mãi, lão Tư Lưu sẽ chết, còn mình sẽ sống, vui vẻ, cố gắng, sống mãi - những đứa ác sẽ bị quả báo, sẽ bị chết tiệt, bọn lính cướp xe anh ta, mụ Dương không cho anh ta ăn, lão Tư Lưu áp bức khinh rẻ anh ta, tên mật thám Tôn lừa lấy tiền anh ta, mụ hai Trần bịp anh ta, mụ Hạ quyến rũ anh ta... rồi chúng nó sẽ chết tiệt. Chỉ có những người trung hậu như Tường là sống, sống mãi.

Anh ta tự nhắc nhủ: "Nhưng mà từ nay trở đi phải làm ăn tử tế chứ! Có chí khí, lại khỏe mạnh, trẻ trung thế kia, sao lại chẳng chịu khó làm ăn!". Rồi anh ta lại tự biện hộ cho mình: "Trong lòng vui vẻ thì ai lại ngăn mình sinh cơ lập nghiệp? Giá thử đem bao chuyện trước kia đổ xuống đầu người nào đó, liệu họ có thể cứ vui vẻ, không buông trôi được không? Thôi, những cái đó đã qua cả rồi. Ngày mai, các người sẽ thấy một thằng Tường đổi khác, lại còn hơn trước kia nhiều nữa cơ đấy". Anh ta, miệng lẩm bẩm, chân bước lại càng nhanh hơn, dường như muốn làm chứng cho lời nói của mình - "không phải là nói láo đâu, quả tôi thấy trong người cứng cáp hẳn lên rồi đấy!". Tuy đã từng ốm đau, đã mắc phải cái bệnh xấu xa kia, nhưng không hề gì. Tâm trí đã thay đổi thì thân thể cũng khỏe mạnh lên ngay, chả sao cả. Mồ hôi ra, miệng khát, muốn uống nước, lúc bấy giờ anh ta mới biết mình đến cửa hậu. Chẳng nghĩ đến việc vào tiệm nước, anh ta hạ xe ở "bến xe" phía tay trái cổng thành, gọi thằng bé bán nước xách ấm sành, bát đàn đến uống liền hai bát. Nước chè giống như nước rửa nồi, khó uống quá, nhưng anh ta tự nhủ: từ nay về sau chỉ được uống thứ nước này thôi, không được tiêu tiền vào khoản trà thơm cơm ngon nữa đâu nhé! Quyết chí như thế rồi, anh ta liền muốn ăn ngay tí chút, thức gì thật khó nuốt, để mở đầu cho cuộc sống mới, chịu thương chịu khó. Anh ta mua chục chiếc bánh hấp, nhân rau, bột vừa sượng, vừa lạo xạo như có cát. Khó ăn thật, nhưng anh ta cứ cố nuốt cho hết. Ăn xong lấy mu bàn tay quệt mép.

Đi đâu bây giờ?

Theo anh ta nghĩ, chỉ có hai người anh ta có thể đến nhờ cậy, nương tựa, mà thôi. Muốn khá lên, cần phải đi tìm hai người đó là Phúc và ông Tào. Ông Tào là "bậc thánh", ông ta sẽ tha thứ cho anh ta, giúp đỡ anh ta, bày vẽ cho anh ta. Cứ theo ông Tào bày vẽ mà làm ăn, sau rồi lại có Phúc đỡ đầu nữa. Anh ta thì làm ăn bên ngoài, cô ta thì thu vén bên trong, nhất định sẽ thành công, không còn nghi ngờ gì nữa cả!

Chẳng hiểu ông Tào đã về nhà hay chưa? Không sao, mai sẽ đến phố Bắc Trường dò xem, nếu ở đó không có tin tức gì thì đến thẳng nhà ông Tả mà hỏi. Gặp được ông Tào, mọi việc đều ổn cả. Thôi được, hôm nay, sẽ kéo thêm một buổi, mai đi tìm ông Tào, tìm được ông ấy rồi, sẽ đi tìm Phúc, nói cho cô ta biết mà mừng: "Tôi làm ăn chưa ra gì, nhưng sẽ nhất quyết làm cho khá lên, hai ta cùng nhau chung vai đấu cật nhé!".

Trù tính thế rồi, anh ta mắt sáng lên như mắt diều, nhìn khắp nơi. Thấy một người khách, anh ta chạy như bay tới, khách mặc cả chưa xong, anh ta đã cởi áo bông dài ra rồi. Lúc chạy, quả thực chạy không được dẻo như trước kia nữa, nhưng cả người nóng ran, làm anh ta hăng lên, chạy thục mạng. Thì ra thằng Tường vẫn là thằng Tường, thằng Tường này mà đã chạy thì nhũng người khác đừng có hòng theo kịp, gặp xe là anh ta vượt ngay, cứ y như phát điên, mổ hôi toát ra, rất khoan khoái. Chạy được một cuốc, anh ta thấy người nhẹ nhõm hơn nhiều, chân lại thấy dẻo hơn, còn muốn chạy nữa, y như con ngựa hay, chạy chưa đã, cho dừng lại, vẫn còn cất vó lên. Anh ta kéo cho tới một giờ sáng mới cho xe về. Trả xe, trừ thuế, còn lại những hơn chín hào.

Đặt mình xuống, anh ta ngủ một mạch tới sáng. Trở mình, mở choàng mắt ra, mặt trời đã lên cao rồi. Sau lúc mệt nhọc, được yên ổn nghỉ ngơi là sung sướng nhất. Trở dậy vươn vai, các khớp xương khẽ kêu rắc rắc, bụng như trống không, anh ta thấy thèm ăn cái gì.

Ăn qua loa tí chút, anh ta mỉm cười, nói với chủ xe:

- Tôi nghỉ một ngày, có tí việc!

Trong bụng, anh ta đã trù tính rồi: nghỉ một ngày, thu xếp công việc đâu vào đấy, mai sẽ bắt đầu cuộc đời mới.

Anh ta đi thẳng một mạch tới phố Bắc Trường, thử xem ông Tào đã về hay chưa. Vừa đi vừa khấn thầm trong bụng "Lạy giời ông Tào về rồi, đừng để mình tính hụt! Đầu mà bất lợi, sau sẽ không ra gì! Thằng Tường đã thay đổi rồi, chẳng lẽ trời không phù hộ nó hay sao?".

Đến cổng nhà ông Tào, Tường tay run run bấm chuông. Chờ người ra mở cổng, tim anh ta đập thình thình. Đứng trước cái cổng quen thuộc này, anh ta không nghĩ đến chuyện cũ, chỉ mong cổng mở ra, thấy được người quen. Anh ta chờ, lo trong nhà không có ai, nếu không sao lại vắng vẻ thế này, đến phát sợ lên được! Bỗng trong cổng có tiếng động khe khẽ, anh ta giật nẩy mình. Cổng mở. Theo cánh cổng rít là tiếng "à!" quí báu, thân thiết của vú Cao.

- Anh Tường đấy à? Lâu nay chẳng thấy mặt đâu cả! Sao lại gầy đi như thế?

Vú Cao có đẫy ra hơn trước!

- Ông có nhà không vú?

Tường chẳng hỏi đến chuyện gì khác.

- Có đây! Hừ, anh này tốt thật! Chỉ biết ông thôi, làm như tôi với anh không quen biết gì nhau cả! Chẳng chào hỏi lấy được một tiếng! Khá lắm, thật là "cưa đứt đục suốt!" chẳng tình nghĩa gì. Vào đi! Thế nào, làm ăn có khá không?

Vú vừa đi vào vừa hỏi.

Tường cười:

- Hừ! Chẳng ra gì cả!

Vú đứng ngoài buồng giấy:

- Thưa ông, có anh Tường đến đây ạ!

Ông Tào đang dời bát thủy tiên tránh nắng:

- Vào!

- Kìa, anh vào đi! Lát nữa, chúng ta lại nói chuyện. Tôi vào nói với bà một tiếng. Chúng tôi thường nhắc đến anh luôn. Người thật thà thường vẫn gặp được người trung hậu, anh đừng có ngại!

Vú vừa nói vừa đi vào trong.

Tường bước vào buồng giấy:

- Thưa ông, cháu đã đến ạ!

Anh ta định hỏi thăm một câu, nhưng không sao nói ra được.

- À! Anh Tường! - Ồng Tào đứng trong buồng giấy, mỉm cười, mặt tươi tỉnh - Ngồi xuống đây, à... - ngẫm nghĩ một tí, rồi ông ta lại tiếp - Chúng tôi trở về lâu rồi. Nghe anh Trình nói, anh... ờ đúng rồi, anh ở hãng Nhân Hòa. Vú Cao có đến đó tìm anh một lần, nhưng không thấy. Ngồi xuống đi! Thế nào, làm ăn có khá không?

Tường chừng như muốn rơi nước mắt. Anh ta không thể kể được tâm sự với ai, bởi vì tâm sự của anh ta rớm máu, và nằm tận đáy lòng. Cố gắng bình tĩnh lại, anh ta muốn đem những lời lẽ đau thương và đơn giản ấy bày ra. lất cả đều nằm trong ký ức, nghĩ đến là nhớ hết, nhưng anh ta cần phải thong thả mới sắp xếp được. Anh ta muốn kể ra một bộ sử sống, tuy chẳng biết nó có giá trị gì không, nhưng bao nhiêu nỗi uất ức đau khổ đó đều chân thật, rõ ràng.

Ông Tào thấy anh ta đang suy nghĩ, thì lặng lẽ ngồi xuống, chờ anh ta nói.

Tường cúi đầu, ngồi ngẩn đi một hổi lâu, rồi bỗng ngẩng đầu lên, nhìn ông Tào, hình như nếu không tìm được người nghe thì thà đừng nói còn hơn.

Ồng Tào gật đầu:

- Thế nào?

Tường bắt đầu kể những chuyện trước kia, từ chuyện vì sao lại phải bỏ nhà quê lên tỉnh. Anh ta vốn không muốn kể những chuyện tầm phào làm gì, nhưng không kể thì trong lòng bứt rứt khó chịu, và chuyện cũng không được trọn vẹn. Quá khứ của anh ta là máu và nước mắt, cùng bao nỗi khổ đau hòa lẫn với nhau, không thể tùy tiện đem ra mà nói chơi, mà đã nói thì chẳng muốn bớt đầu bớt đuôi đi. Mỗi giọt mồ hôi, mỗi giọt máu, đều từ trong lòng anh ta chảy ra cho nên việc nào cũng đáng kể cả.

Anh ta kể tiếp, từ khi lên tỉnh làm cu-li như thế nào, rồi chuyển sang kéo xe như thế nào, dành tiền mua được xe như thế nào, rồi bị cướp như thế nào... cho đến tận bây giờ. Ngay cả anh ta cũng thấy làm lạ, chẳng hiểu sao mình có thể nói dài đến thế, và lưu loát đến thế. Việc nọ tiếp việc kia, cứ từ trong lòng tuôn ra. Những việc đó dường như đều tìm được những tiếng thích hợp, câu này tiếp câu kia, câu nào cũng đều chân thực, đau xót. Anh ta không thể ngăn cản những việc đó đừng tuôn ra, cũng không thể ngừng nói nữa. Không hề ngập ngừng, lộn xộn, anh ta như muốn giãi bày cả tấm lòng. Càng nói càng thấy khoan khoái, không nhớ đến mình nữa, bởi vì cả tâm hồn anh ta đã nằm trong những lời nói đó rồi. Mỗi lời là một khúc ruột, nào lúc chăm chỉ làm ăn, nào lúc phải chịu uất ức khổ đau, nào lúc chán nản đâm ra hư hỏng. Anh ta nói xong, thì trán toát mồ hôi, lòng vợi đi, thấy thư thái dễ chịu, y như lúc chóng mặt toát mồ hôi vậy.

Ông Tào hỏi:

- Bây giờ anh muốn tôi bày cách cho anh phải không?

Tường gật đầu. Anh ta chẳng biết làm nghề gì khác.

Ông Tào chậm rãi nói:

- Nếu vẫn muốn kéo xe, thì chỉ có hai đường. Một là, kiếm tiền mua lấy chiếc xe, hai là, thuê một chiếc mà kéo. Có phải thế không? Bây giờ, tiền thì anh không có sẵn, vay tiền mua xe thì phải trả lãi, đằng nào cũng thế phải không? Chi bằng hãy cứ thuê cái xe mà kéo! Hay là kéo tháng mà hơn đấy. Có công việc tử tế, chỗ ăn chỗ ở chắc chắn. Theo tôi, thì anh cứ về đây mà làm cho tôi. Xe tôi bán cho ông Tả mất rồi. Nếu anh lại về đây thì thuê một cái mà kéo. Thế nào, có ưng không?

Tường đứng dậy:

- Dạ, được thế thì còn gì bằng nữa ạ! Thế ông không nhớ chuyện ấy hay sao?

- Chuyện gì cơ?

- Chuyện hồi ông bà đến đằng nhà ông Tả...

- À... - Ông Tào bật cười - Ai mà nhớ được! Lúc bấy giờ, tôi cũng quá lo. Cùng với bà xuống Thượng Hải ở mấy tháng, kỳ thực chẳng cần phải thế. Ông Tả đã nói giúp cho từ trước rồi. Thôi được, tôi chẳng nhớ đến chuyện đó đâu. Hãy nói chuyện của ta đi đã, vừa rồi anh nói đến cái nhà chị Phúc ấy mà, bây giờ định thế nào?

- Cháu chẳng biết thế nào mà định.

- Tôi thử nói anh nghe nhé! Nếu anh lấy chị ta, phải thuê nhà ở ngoài thì không ổn. Nhà, củi lửa, dầu đèn, cái gì cũng tiền cả, không đủ đâu. Hai người cùng đi làm, anh kéo xe, chị ta hầu hạ cơm nước, khó kiếm được nơi vừa khéo đến thế. Không được.

Ông Tào lắc đầu nói tiếp:

- Này, tôi hỏi, anh đừng để bụng nhé! Chị ta có tin cậy được không?

Tường đỏ mặt, ngập ngừng một hổi lâu mới nói được:

- Nó vạn bất đắc dĩ mới phải như thê! Cháu xin lấy đầu bảo đảm, nó rất tốt. Nó...

Lòng anh ta rối bời, bao nhiêu tình cảm dồn lại rồi bỗng lại tản ra, như muốn trào cả ra ngoài. Anh ta không nói được nữa.

Ông Tào do dự:

- Nếu vậy thì... trừ phi chúng tôi đây nhận cả hai người làm. Một mình anh, cũng mất một buồng, cả hai vợ chồng, cũng mất một buồng thôi. Chỗ ở thế là không lo rồi. Chẳng hiểu chị ta có giặt giũ gì được không, nếu làm được thì để chị ta giúp thêm vú Cao. ít nữa thì bà ở cữ em bé, một mình vú Cao cũng hơi bận đấy. Chị ấy ăn cơm nhà chúng tôi, nhưng không lấy công xá gì cả, anh thấy thế nào?

Tường cười ngây thơ.

- Được thế thì còn gì bằng ạ!

- Có điều, tôi cũng không thế hoàn toàn định đoạt được. Còn phải bàn qua với bà một tí.

- Vâng! Nếu bà không yên tâm, cháu xin đưa nó đến đây, để bà xem.

- Thế cũng được - Ông Tào cũng cười, không ngờ Tường lại nẩy ra được cái ý hay đó - Thế này nhé, để tôi nói trước với bà một tiếng, ngày khác anh đưa chị ta đến đây, nếu bà bằng lòng, thế là xong.

- Vậy thưa ông, cháu về ạ!

Tường vội vàng muốn đi tìm Phúc ngay, để nói cái tin mừng đó, cái tin mà anh ta không dám mơ ước đến.

Tường ra khỏi nhà ông Tào khoảng mười một giờ. Mùa đông thì lúc ấy là đẹp trời nhất. Ngày hôm đó, trời quang lắm, xanh ngắt, không một gợn mây, ánh nắng rọi xuống qua bầu không khí khô ráo, khiến người ta cảm thấy ấm áp dễ chịu. Tiếng gà gáy chó sủa, tiếng rao hàng truyền đi rất xa, từ phía bên kia phố mà bên này cũng nghe lanh lảnh mồn một, y như tiếng sếu từ trên không vọng xuống. Xe tay đều hạ mui, những bộ phận bằng đồng trên xe bóng loáng. Trên đường nhỏ, lạc đà bước, chậm rãi vững vàng. Giữa lòng đường, ô tô, xe điện phóng nhanh. Dưới đất người, ngựa đi lại, trên trời chim câu trắng bay lượn. Cả cái thành phố cổ này, động mà tĩnh, động cũng ghê mà tĩnh cũng khiếp, động hay tĩnh đều đáng yêu cả. Cả một loạt âm thanh, hàng ngàn hàng vạn cuộc sống đang diễn ra dưới bầu trời trong xanh. Khắp nơi cây cối đứng trầm lặng. Tim Tường muốn nhảy ra ngoài, bay lượn với đàn câu trắng giữa không trung. Thế là gì cũng có cả rồi: việc làm, tiền công, Phúc, chỉ mấy câu mà thu xếp mọi việc đâu vào đây, thực không ngờ! Xem kìa, trời hôm nay tạnh ráo tươi đẹp biết bao nhiêu, giống như tâm tình thẳng thắn trong trẻo dễ chịu của người phương Bắc. Khi có chuyện vui thì cả thời tiết cũng đẹp, anh ta tưởng chừng chưa thấy ngày đông nào tạnh ráo đẹp trời như thế này. Để thiết thực tỏ nỗi vui mừng của mình, anh ta mua luôn một quả hồng ướp lạnh, ăn một miếng buốt cả miệng.

Răng buốt muốn rụng, buốt từ miệng dần dần tới ngực, khiến anh rùng mình một cái. Ăn liền mấy miếng lưỡi thấy tê tê nhưng thú vị lắm. Anh ta rảo bước, đi tìm Phúc, trong óc đã tưởng tượng thấy cái xóm nghèo, cái mái nhà nhỏ kia, và người mà anh ta yêu dấu; chỉ còn thiếu đôi cánh đưa anh ta tới ngay chỗ đó nữa mà thôi. Miễn là được gặp Phúc, mọi việc trước kia sẽ xóa sạch, từ đây bắt đầu cuộc sống mới. Lúc này, anh ta nóng vội hơn lúc đi tìm ông Tào. Anh ta với ông Tào chỉ là chỗ quen biết, là chủ tớ, hai bên ăn ở tốt với nhau. Phúc không những là bạn, mà cô ta sẽ trao cả cuộc đời cho anh ta. Hai người sống trong cảnh địa ngục, từ nay sẽ gạt nước mắt, tay nắm tay, mỉm cười tiến bước, ông Tào nói làm anh ta xúc động, còn Phúc chẳng cần nói cũng làm anh ta xúc động được. Anh ta đã thổ lộ với ông Tào những điều chân thực, rồi đây, anh ta sẽ thổ lộ với Phúc những lời tâm tình; những lời không nói với ai được đều có thể đem nói hết với cô ta. Giờ đây, cô ta là bản mệnh của anh ta, không có cô ta thì chẳng cái gì còn nghĩa lý nữa cả. Anh ta không thể chỉ cố gắng vì miếng ăn. Anh ta cần phải cứu Phúc thoát khỏi túp lều nhỏ bé kia, rồi cùng nhau chung sống trong một gian buồng sạch sẽ, ấm áp, và vui vẻ, thân mật, đàng hoàng như đôi chim trong tổ ấm. Phúc sẽ bỏ mặc bác hai Cường, bỏ mặc hai em, đến giúp đỡ anh ta. Bác hai Cường vẫn có thể kéo xe kiếm ăn, hai đứa em có thể cùng nhau kéo một chiếc, hoặc kiếm một việc gì khác mà làm. Còn anh ta không thể không có Phúc được. Từ thể chất đến tinh thần, đến công việc, mặt nào cũng cần phải có người chồng như anh ta.

Càng nghĩ càng thấy nóng ruột, càng thấy thích thú. Dưới gầm trời này, đàn bà con gái vô kể, nhưng chẳng ai được tốt đẹp, chẳng ai thích hợp với anh ta như Phúc.

Quả thật Phúc không còn trong trắng như cô gái mà anh ta mơ ước, nhưng chính vì thế mà cô ta lại càng đáng thương, lại càng có thể giúp đỡ anh ta nhiều hơn. Những cô gái quê mùa, ngớ ngẩn, có lẽ trong trắng thật đấy, nhưng làm gì lại khôn ngoan, tháo vát bằng Phúc. Huống chi, anh ta thì thế nào? Bên trong cũng có lắm chuyện chẳng hay ho gì. Vậy thì, anh ta và Phúc rất xứng đôi vừa lứa, chẳng ai hơn chẳng ai kém, giống như một đôi chum có vết rạn, nhưng vẫn chứa được nước, xếp cạnh nhau.

Muốn nghĩ thế nào thì nghĩ, đó là một việc rất thích hợp. Nghĩ qua như thế rồi, anh ta bắt đầu nghĩ chuyện thực tế hơn: sẽ vay trước ông Tào một tháng công, mua cho cô ta cái áo bông, sửa chữa lại giày dép, sau đó đưa đến gặp bà Tào. Mặc áo bông mới tinh, đầu tóc chân tay sạch sẽ, với dáng người, tuổi tác, lời ăn tiếng nói của cô ta, nhất định là ăn chắc, nhất định bà Tào phải thích. Không chệch đi đâu được!

Đến nơi, người anh ta mồ hôi đầm đìa. Nhìn thấy cái cổng xiêu vẹo, anh ta tưởng như nhìn thấy ngôi nhà cũ lâu năm chưa về thăm. Cửa hư, tường nát, nóc cổng lơ thơ vài ngọn cỏ úa vàng, tất cả đều rất đáng yêu. Anh ta qua cổng, đi thẳng vào nhà Phúc. Chẳng kịp gõ cửa, chẳng kịp đánh tiếng, anh ta kéo cánh cửa ra. Cửa mở, anh ta bất giác lùi lại. Một người đàn bà đứng tuổi, ngồi trên giường, trong nhà không đốt lửa sưởi, bác ta quấn quanh người một chiếc chăn rách tả tơi. Tường đứng thừ người ở ngoài cửa. Trong nhà có tiếng vọng ra:

- Gì thế? Có người chết à? Cớ sao chẳng nói chẳng rằng, cứ xồng xộc đi thẳng vào nhà người ta như thế? Anh hỏi ai?

Tường chẳng buồn nói nữa. Mố hôi trên người nhỏ giọt, anh ta vịn lấy cánh cửa hỏng. Nhưng vẫn chưa hết hy vọng:

- Tôi hỏi cô Phúc!

- Không biết! Bận sau có hỏi ai thì phải lên tiếng trước đã rồi hãy mở cửa! Phúc với đức!

Ngồi ở cổng, anh ta thừ người ra một hồi lâu, lòng trống trải, quên phứt mình đang làm gì. Dần dần, anh ta sực tỉnh, nhưng chỉ nhớ đến Phúc, chỉ thấy hình ảnh Phúc lẩn quẩn trong tâm trí, y như hình người giấy trên đèn kéo quân, quanh đi quanh lại mãi chẳng đi đến đâu cả. Hình như anh ta quên mất mối liên hệ giữa anh ta và Phúc. Dần dần, hình ảnh Phúc nhỏ lại, và tâm trí anh ta hoạt động lên. Lúc đó anh ta mới thấy buồn.

Khi chưa biết chuyện hay dở ra sao, người ta thường nghĩ đến những điều tốt lành. Tường đoán, chắc Phúc dọn nhà đi chỗ khác thôi, chứ chẳng có chuyện gì rủi ro lắm đâu. Mình thật không ra gì, sao chẳng thường lui tới thăm hỏi. Lòng hối hận thúc giục người ta hành động để bù đắp vào chỗ thiếu sót của mình. Hãy cứ dò hỏi cho rõ ràng đã. Anh ta lại quay vào trong xóm, tìm hỏi mấy người ở đây lâu. Chẳng có cái gì đích xác cả. vẫn chưa thất vọng, cơm cũng chẳng buồn ăn, anh ta định đi tìm bác hai Cường, hay tìm hai đứa em cũng được. Ba người đó tất phải ở trên phố, cũng chẳng khó tìm lắm đâu.

Gặp ai cũng hỏi, bến xe, quán nước, xóm ngõ, hai chân mỏi nhừ, hỏi cả ngày trời, chẳng được tin tức gì cả.

Đến tối, quay về hãng xe, mệt mỏi hết sức, nhưng anh ta vẫn không sao quên đi được. Cả một ngày thất vọng khiến anh ta không dám mong mỏi gì nữa. Người nghèo dễ chết lắm, và chết rồi chẳng ai nhớ nữa. Chẳng lẽ Phúc không còn ở trên đời này nữa hay sao? Nghĩ tới nghĩ lui, giả thử cô ta chưa chết, rất có thể bác hai Cường đem bán đi một nơi rất xa cũng nên. Như vậy càng khốn khổ hơn là chết.

Anh ta lại đánh bạn với thuốc lá và rượu. Không hút thuốc thì không còn nghĩ ngợi gì được? Không uống rượu thì làm sao thôi dừng nghĩ ngợi nữa?

23

Tường đang ủ rũ trên đường phố thì gặp ông Mã. Ông cụ không kéo xe nữa, quần áo mỏng manh rách rưới hơn trước, chiếc đòn gánh bằng gỗ liễu trên vai, một đầu lủng lẳng chiếc ấm đất to tướng, một đầu đeo cái làn tròn rách, trong đựng ít bánh rán và một hòn gạch to tướng cho cân. Ông cụ vẫn nhận ra Tường.

Nói chuyện, Tường mới biết thằng Mã chết hơn nửa năm nay rồi, ông cụ đem cái xe cũ nát ấy bán đi, ngày ngày làm ấm nước và ít bánh kẹo đến bán ở các bến xe. Ông cụ vẫn hiền hậu và đáng mến như trước, có điều lưng còng hơn nhiều, khi gió thổi, nước mắt cứ chảy ra, mi mắt đỏ ửng, như vừa khóc.

Tường uống của ông cụ một bát nước, rồi kể qua nỗi đau khổ của mình.

Ông cụ góp ý với anh ta:

- Anh cho sống một mình hơn à? Ai mà chẳng từng nghĩ thê? Nhưng đã có ai khá lên được đâu? Trước kia, tôi mạnh khỏe, khôn ngoan; lăn lộn cho đến bây giờ thành thế này đấy! Khỏe mạnh à? Đến xương đồng da sắt cũng không thoát được cái thiên la địa võng nó vây lấy chúng ta. Khôn ngoan à? Ăn thua gì! Đâu có cái chuyện vớ vẩn, ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác! Lúc còn trẻ, tôi cũng sốt sắng lắm, coi việc ai cũng như việc mình. Nhưng có ăn thua gì không? Chẳng ăn thua gì hết! Tôi đã từng cứu người: đứa trẫm mình, kẻ thắt cổ. Có báo ứng gì không? Chẳng có gì cả. Nói cho anh nghe, chưa biết chừng ngày nào tôi chết rét đây! Tôi rõ lắm rồi, làm cái nghề lao lực lại định một mình khấm khá lên thì khó hơn là lên giời. Một mình thì làm cái quái gì được. Anh đã thấy con châu chấu chưa? Cũng nhảy xa đấy chứ, nhưng thằng bé con tóm được, lấy chỉ buộc lại thì bay cũng chẳng bay đi đâu được nữa là. Nhưng nếu họp lại thành đàn, thành lũ, loáng cái phá sạch cả mùa màng, thì chẳng ai trị được! Anh thấy có đúng không? Tôi cũng chịu thương chịu khó, ấy thế mà có thằng cháu cũng chẳng nuôi được. Nó ốm, tôi không có tiền mua thuốc, đành nhìn nó chết trên tay! Thôi! Nói làm gì nữa!... Nước chè đây! Ai nước chè nóng không nào!

Tường hiểu ra rồi: lão Tư Lưu, mụ Dương, tên Tôn mật thám không vì anh ta nguyền rủa mà chúng sẽ phải chịu ác báo, và anh ta cũng chẳng thể vì chịu thương chịu khó làm ăn sẽ khấm khá lên được đâu. Nếu một thân một mình thì đúng lời ông cụ nói, giống như con châu chấu bị bọn trẻ con lấy chỉ buộc lại, có cánh nhưng nào có ăn thua gì?

Anh ta chẳng muốn đến nhà ông Tào nữa. Đến nhà ông ta, tất nhiên anh ta phải cố gắng làm ăn, nhưng cố gắng như vậy để làm gì? Cứ loanh quanh qua quít thế này thôi: chưa có ăn thì kéo xe, đủ ăn một ngày thì nghỉ một ngày đã, mai lại tính. Đó không những là một cách sống, mà lại còn là một cách sống duy nhất. Dành dụm tiền, mua xe, để sẵn sàng cho người ta đến cướp giật đi à? Việc gì lại khổ cái thân như thế? Sao chẳng sướng được ngày nào thì cứ sướng đã!

Lại nữa, giả dụ tìm được Phúc, anh ta tất phải cố gắng, không vì mình lại chẳng vì cô ta hay sao? Không tìm được cô ta, thì cũng như ông cụ chết mất cháu, còn chịu khó cho ai? Anh ta đem chuyện Phúc kể cho ông cụ nghe, coi ông cụ như người bạn thực sự.

- Ai nước chè nóng không nào?

Rao xong, ông cụ nghĩ hộ cho Tường:

- Cứ theo tôi đoán, thì không thoát khỏi hai con đường này: bác hai Cường không đem bán cho người ta làm tôi đòi, thì tất phải gán cho xóm "Nhà trắng" rồi đấy thôi! Hừ! Có phần chắc vào xóm "Nhà trắng". Vì sao lại thế? Chả là như anh nói, cô ấy đã có chồng một lần rồi mà, nên chẳng ai người ta lấy. Người ta mua vợ lẽ nàng hầu, cũng mua của còn nguyên vẹn kia. Vậy thì, có đến tám chín phần mười, cô ấy phải vào "Nhà trắng" rồi! Tôi gần sáu mươi tuổi đầu, mắt thấy nhiều: những anh phu xe còn khỏe mạnh bỗng một hai hôm không thấy ra đến đẩu đường, thì anh cứ đi tìm mà xem, không đi kéo xe tháng thì tất nằm ở "Nhà trắng"; con gái con dâu bọn phu xe chúng ta bỗng nhiên thấy mất tăm, tám chín phần mười là cũng vào đó. Bọn ta thì bán mồ hôi, vợ con ta thì bán trôn nuôi miệng. Tôi biết rồi, rõ cả rồi! Anh thử đến đó tìm thử xem sao, cũng chẳng mong gì cô ấy ở đấy thật, có điều là... Nước chè đây! Ai nước chè nóng không nào?

Tường chạy một mạch ra ngoài cổng Tây Trực.

Vừa ra khỏi thành, anh ta liền thấy trống trải quá, cây cối khẳng khiu đứng ven đường, trên cành không một bóng chim. Cây màu xám, đất màu xám, nhà cửa màu xám, tất cả lặng lẽ dưới bầu trời xám ngắt. Giữa chỗ âm u đó nhìn ra xa, thấy ngọn Tây Sơn hoang vắng, lạnh lẽo. Phía bắc đường sắt là một cánh rừng, ven rừng có mấy nóc nhà thấp lè tè, Tường đoán chắc là "Nhà trắng" ở đó. Nhìn rừng cây, thấy lặng ngắt; nhìn ngược lên phía bắc, là vùng ao đầm phía ngoài vườn bách thú, chỉ thấy nhấp nhô vài gốc lau sậy tàn lụi. Bên ngoài mấy gian nhà nhỏ, không một bóng người, không động tĩnh gì cả. Xa gần đều im vắng, anh ta ngờ vực, không hiểu đây có phải xóm "Nhà trắng" nổi tiếng không? Anh ta đánh bạo đi đến tận nơi, thấy nhà nào cửa cũng treo một bức rèm bằng rạ, còn mới, vàng óng. Anh ta nghe nói, mùa hè, bọn con gái ở đây đều để lưng trần, ngồi ngay ngoài cửa mà đón người đi qua. Bọn khách chơi thì từ xa đã hát những câu huê tình để tỏ ra ta thành thạo. Sao bây giờ lại thấy lặng lẽ thế này? Chẳng lẽ mùa đông không tiếp khách hay sao?

Anh ta đang đoán mò như vậy thì chiếc rèm cửa gần đó lay động, một người đàn bà thò đầu ra. Tường giật nẩy mình, cái đầu sao giống đầu ả Nĩu thế. Anh ta nghĩ thầm: "Tìm Phúc mà lại thấy ả Nĩu thì thật đúng là ma trêu rồi!”.

- Vào đây nào! Chóng ngoan!

Người đàn bà kia gọi, giọng không giống ả Nĩu, nghe khàn khàn, y hệt giống lão già bán thuốc rê thường gặp ở chợ Thiên Kiều, vừa khàn khàn lại vừa có vẻ tha thiết.

Trong nhà chẳng có quái gì cả, chi có người đàn bà kia và cái bệ đất, không trải chiếu, nhưng dưới gầm có đốt lửa nhỏ, mùi hôi hám bay lên nồng nặc, rất khó chịu. Trên bệ có để chiếc chăn cũ, mép chăn cũng như gạch lát bệ bóng loáng. Người đàn bà trạc bốn mươi trở lại, đầu tóc bù xù, mặt chưa rửa, mặc chiếc quần chẽn ống, áo bông vải thanh bố, không cài khuy. Tường phải cúi đầu xuống mới bước vào trong được. Anh ta vừa bước qua cửa, thì chị ta ôm chầm lấy. Chiếc áo bông không cài khuy, đôi vú vừa dài vừa to lòi ra ngoài.

Tường ngồi xuống bệ đất, vì đứng thì không tài nào vươn thẳng cổ lên được. Gặp người đàn bà nọ anh ta thấy vui trong bụng, đúng là xóm "Nhà trắng" đây rồi, vì thường nghe nói, ở xóm "Nhà trắng" có một cái "bao bột". Chắc chị này đây, có cái biệt hiệu "bao bột" đó là vì vú chị ta vừa to vừa dài. Tường đi thẳng vào chuyện luôn, hỏi xem có ai tên là Phúc ở đây không. Chị ta không biết. Tường tả hình dáng Phúc, chị ta mới nhớ ra:

- Thế thì có. Có một cô như thế đấy! Còn trẻ, hay để lộ mấy chiếc răng bóng. Đúng rồi! Chúng tôi vẫn gọi cô ấy là "gái tơ" đây.

Tường bỗng trợn mắt lên, căm giận:

- Cô ta ở nhà nào?

- Cô ta ấy à? Chết lâu rồi! - "Bao bột" chỉ tay ra ngoài đường - Thắt cổ trong cánh rừng kia!

- Sao?

"Gái tơ" đến đây, đắt khách lắm. Nhưng cô ta, người yếu, không chịu nổi. Hôm ấy, vào lúc lên đến tối còn nhớ rành rành, bởi vì tôi với hai ba chị nữa ngồi ngoài cửa mà! Hừ, giữa lúc ấy đây, một khách chơi, đi xộc vào buồng cô ta; cô ta không chịu ngồi ở cửa đón khách như bọn chúng tôi đâu, lúc mới đến cũng vì thế mà bị ăn đòn đấy. về sau, ai cũng biết cô ta, nên cô ta được phép ngồi trong buồng, khách đến tìm cô ta nhất định không chịu đi với ai khác. Một lúc, độ khoảng ăn xong bữa cơm, thấy khách đi ra, rồi đi thẳng tới cánh rừng kia. Chúng tôi cũng chẳng để ý nhìn theo, mà cũng chẳng ai vào chỗ cô ta cả. Đến lúc mụ trùm đi thu tiền, mới thấy trong buồng cô ta có một người đàn ông, trần như nhộng đang ngủ li bì. Thì ra anh ta say rượu, "gái tơ" lột hết quần áo anh ta, mặc vào rồi trốn luôn đi. Kể con bé cũng khôn thật đấy. Nhưng không nhờ trời tối thì đố mà trốn thoát được. Trời tối, lại mặc giả đàn ông, chẳng ai nhìn ra cả.

Mụ trùm liền sai người đi tìm khắp nơi, hừ, vừa vào tới cánh rừng kia, thì thấy cô ta treo lủng lẳng ở trên cành rồi. Hạ xuống, thì đã tắt thở, nhưng lưỡi chẳng thè ra mấy tí, mặt vẫn tươi, chết rồi mà trông vẫn đẹp! Mấy tháng nay rồi, trong rừng tối đến, chẳng xảy ra chuyện gì cả, cô ta không hiện về nạt người, nhân nghĩa lắm...

Tường chẳng đợi chị ta nói hết, loạng choạng đứng dậy đi ra. Anh ta tới một khu nghĩa địa có trồng mấy hàng thông ngay ngắn, trong có độ hơn chục ngôi mả. Ánh nắng đã nhạt, dưới bóng thông, lại càng ảm đạm. Anh ta ngồi thụp xuống, mặt đất phủ cỏ khô và hoa thông. Không một tiếng động, chỉ có tiếng chim khách kéo dài, buồn bã. Anh ta biết rằng, đây không phải là mả của Phúc, nhưng nước mắt anh ta vẫn cứ trào ra, ròng ròng. Chẳng còn gì nữa cả. Phúc nằm dưới đất rồi! Anh ta đã từng cố gắng chịu thương chịu khó, Phúc cũng đã từng muốn làm ăn tử tế cho khấm khá lên, ấy thế mà nay, anh ta chỉ còn những hàng nước mắt vô dụng, còn Phúc trở thành con ma thắt cổ! Một manh chiếu, vùi ở gò "bất đắc kỳ tử", đó là kết cục của một đời cố gắng, chịu thương chịu khó.

Về đến hãng xe, anh ta vùi đầu vào ngủ hai ngày liền. Anh ta không đến nhà ông Tào nữa, mà cũng chẳng cần tin cho ông ta biết. Ông Tào chẳng thể cứu nổi cái mạng thằng Tường này đâu!

Ngủ liền hai ngày, rồi anh ta lại kéo xe ra, trong lòng trống rỗng, chẳng nghĩ ngợi gì, mà cũng chẳng hy vọng gì. Chi vì cái bụng mà phải nhọc cái thân, bụng no rồi thì lại ngủ, còn cần gì phải suy nghĩ, phải hy vọng nữa? Nhìn con chó gầy giơ xương, chầu chực bên thúng khoai chờ được chút vỏ bỏ đi, anh ta biết thân anh ta chẳng khác gì con chó kia, quần quật suốt ngày cũng cốt chỉ để được ít vỏ khoai mà ăn. Cứ tạm bợ qua quít thế mà sống, chẳng cần suy nghĩ gì cả.

« Lùi
Tiến »