Động-từ là tiếng biểu-diễn một hành-động hay một việc xảy ra :
- Tôi đọc sách (hành-động).
- Anh Giáp bị phạt (việc xảy ra).
Khi nói đến một hành-động, ta thường đề-cập đến người hay vật chủ-động và người hay vật tùy-thuộc vào hành-động-ấy.
Người hay vật chủ-động là CHỦ-NGỮ 38 của động-từ ( tôi, anh Giáp, trong các ví-dụ kể-trên).
Người hay vật tùy-thuộc vào hành-động là SỰ-VẬT TÚC-NGỮ 39 của động-từ.
Tùy nơi ý-nghĩa của nó, một động-từ có thể cần sự-vật túc-ngữ hay không cần. Do đó, dựa vào ý-nghĩa, ta phân-biệt :
1 ) ĐỘNG-TỪ VIÊN-Ý : động-từ không cần sự-vật túc-ngữ : Tôi cười ; Trời mưa.
2 ) ĐỘNG-TỪ KHUYẾT-Ý : động-từ phải có một sự-vật túc-ngữ mới đủ nghĩa.
- Anh Giáp trồng rau.
- Tôi lấy quyển sách.
Trồng và lấy là những động-từ khuyết-ý.
CHÚ-Ý : Một động-từ có thể viên-ý hay khuyết-ý tùy trường-hợp :
- Tôi ăn cơm ( ăn : khuyết-ý)
- Anh ấy ngủ, tôi ăn ( ăn : viên-ý).
3 ) ĐỘNG-TỪ THỤ-TRẠNG : làm môi-giới giữa tiếng chỉ người hay sự-vật và tiếng chỉ tính-cách hoặc trạng-thái của người hay sự-vật ấy : Giáp là một nông-dân.
Ngoài động-từ là , các động-từ sau đây có thể kể như những động-từ thụ-trạng : xem, bị, được, phải, ra vẻ, ra chiều, có vẻ.
- Anh ấy ra chiều nghĩ-ngợi.
- Phong-cảnh xem rất hùng-vĩ ( xem ở đây không chỉ một hành-động, một trạng-thái, hay một việc xảy ra).
- Anh ấy bị bịnh suốt tháng.
4 ) TRỢ-ĐỘNG-TỪ : đặt trước một động-từ để làm cho ý-nghĩa của động-từ ấy mạnh thêm hay nhẹ bớt :
- Tôi muốn nói điều nầy.
- Anh phải sống.
Những trợ-động-từ thường dùng là : muốn, nên, cần, phải, mắc, khỏi, có thể, chực, rắp, rắp-ranh, định…
- Làng cung-kiếm rắp-ranh bắn sẻ. (Cung-Oán Ngâm-Khúc)
- Ý cũng rắp ra ngoài đào-chú. (Cung-Oán Ngâm-Khúc)
II. THỂ-THỨC CẤU-TẠO
1) Ngoài những động-từ đơn-vận, tiếng Nôm hoặc tiếng Hán-Việt dùng làm tiếng Nôm, ta có rất nhiều động-từ tạo-thành bởi những cách ghép sau đây :
- Hai tiếng Hán-Việt dùng làm tiếng gốc : khích-lệ, tôn-kính, quan-sát.
- Một tĩnh-từ hay danh-từ Hán-Việt có sẵn, ghép với động-từ hóa : giản-dị-hóa, quân-sự-hóa, nô-lệ-hóa, thần-thánh-hóa.
- Hai động-từ Nôm có nghĩa gần tương-đương với nhau : buôn-bán, thương-yêu, ưa-thích, ăn-ở, ăn-uống.
- Hai động-từ Nôm mà tiếng sau thêm nghĩa cho tiếng trước : đánh lừa, nói thách, ăn xin, ăn cướp, đi ra, đi dạo, đánh rơi.
- Một động-từ và một danh-từ (cả hai đều là tiếng Nôm hay tiếng Hán-Việt dùng làm tiếng Nôm) : biết ơn, đánh giá, làm việc, đánh bạc, hành tội.
- Một động-từ và một tĩnh-từ (cả hai đều là tiếng Nôm hay tiếng Hán-Việt dùng làm tiếng Nôm) : làm biếng, nói dối, đánh mất, làm giàu, làm kiêu.
- Một động-từ và một trạng-từ (cả hai đều là tiếng Nôm) : vào trong, ra ngoài, lên cao, xuống thấp, lại gần, dan xa, viết lại, nhắc-lại.
- Một động-từ Nôm và một tiếng đệm : bàn-bạc, hỏi han, bắt-bớ.
- Lặp đi lặp lại một hay hai động-từ (thường có các động từ đi và lại chen vào) :
- nói đi nói lại
- dặn đi dặn lại
- đi đi lại lại
- Phong phong mở mở giải sầu làm khuây. (Truyện Phan-Trần)
- Cười cười nói nói thẹn thùng. (một bài hát nói của Dương-Khuê)
2) Mặt khác có những danh-từ, tĩnh-từ và những thành-ngữ được dùng làm động-từ.
a) Danh-từ biến thành động từ : đờn, cờ-bạc, rượu-chè .
b) Tĩnh-từ biến thành động-từ :
- Cây đang lớn.
- Thuyền ngược dòng sông Lam.
c) Thành-ngữ dùng làm động-từ :
- Chúng nó thỉnh đông kích tây.
- Ông đã từng đánh nam dẹp bắc.
- Họ phải rày đây mai đó, tha phương cầu thực.
III. CÁC THỂ CỦA ĐỘNG-TỪ
Động-từ có thể chỉ một hành-động hay một việc xảy ra mà người hay vật chủ-động là chủ-ngữ của nó. Động-từ cũng có thể chỉ trạng-thái gây nên bởi một hành-động mà chủ-ngữ của nó là người hay vật thụ nhận trạng-thái ấy. Do đó một động-từ có thể dùng theo tác-thể hay thụ-thể :
1 ) ĐỘNG-TỪ TÁC-THỂ :
- Mèo ăn thịt chuột.
- Ông ấy chết ( hay mất ) hồi năm 1947.
Ăn thịt biểu-diễn một hành-động của chủ-ngữ. Chết biểu-diễn một việc xảy ra mà chủ-ngữ là chủ-động.
2 ) ĐỘNG-TỪ THỤ-THỂ : Kẻ cướp vừa bị giết. Bị giết biểu-diễn một trạng-thái gây nên bởi hành-động giết . Chủ-ngữ thụ-nhận trạng-thái ấy.
*
CHÚ-Ý : Trạng-thái mà chủ-ngữ thụ-nhận có thể có lợi hay có hại cho chủ-ngữ. Nếu là một trạng-thái có hại, thụ-thể của động-từ được biểu-diễn bởi các động-từ thụ-trạng bị, phải. Nếu là một trạng-thái có lợi, thụ-thể của động-từ được biểu-diễn bởi động-từ thụ-trạng được :
- Ông kia bị đả-đảo ;
- Ông nầy được hoan-nghinh ;
- Anh ấy phải phạt vì lười-biếng.
*
NHỮNG ĐỘNG-TỪ NÀO CÓ THỂ DÙNG THEO THỤ-THỂ ? : Chỉ những động-từ khuyết-ý có sự-vật túc-ngữ trực-tiếp mới có thể được dùng theo thụ-thể. Sự-vật túc-ngữ trực-tiếp bấy giờ sẽ làm chủ-ngữ : Kẻ cướp bị giết. (Nếu động-từ được dùng theo tác-thể, « kẻ cướp » sẽ là sự-vật túc-ngữ trực-tiếp. Chẳng hạn : người ta giết kẻ cướp ).
Không thể nói : « Những việc được hành-động », chẳng hạn, vì : việc không thể là sự-vật túc-ngữ trực-tiếp của hành-động. (Ta không nói : hành-động những việc ).
*
TÚC-NGỮ CHỦ-ĐỘNG CỦA ĐỘNG-TỪ THỤ-THỂ : Động-từ thụ-thể có thể có một túc-ngữ đặc-biệt chỉ người hay vật chủ-động trong việc gây ra trạng-thái mà chủ-ngữ thụ-nhận. Ta gọi đó là túc-ngữ chủ-động của động-từ thụ-thể :
- Chỗ ấy bị tàn-phá bởi những cuộc dội bom mười năm về trước : « cuộc dội bom » : túc-ngữ chủ-động của động-từ thụ-thể « bị tàn phá ».
- Ông ấy chỉ được hoan-hô bởi những người đã nhận tặng-phẩm của ông : « người » : túc-ngữ chủ-động của động-từ thụ-thể « được hoan-hô ».
IV. CÁCH BIỂU-DIỄN CÁC THỜI
Động-từ có thể biểu-diễn những việc xảy ra trong các thời hiện-tại, quá-khứ hay vị-lai.
Nhưng để chỉ các thời ấy, động-từ không có những hình-thức nhất-định. Chỉ khi nào cần nói rõ về thời-gian ta mới thêm những trạng-từ đặc-biệt 40 sau đây trước động-từ :
1 ) THỜI HIỆN-TẠI : đang, còn, hãy còn.
2 ) THỜI QUÁ-KHỨ : đã, vừa, mới có, rồi, xong, xong rồi (ba tiếng nầy đặt sau động-từ).
3 ) THỜI VỊ-LAI : sắp, sẽ. Ví-dụ :
- Anh ấy còn ngủ.
- Tôi mới đi dạo.
- Công-việc sắp hoàn-thành.
Các thời trên đây có thể dùng tương-đối với những việc xảy ra trong hiện-tại, cũng như tương-lai. Ví-dụ :
- « Chuyện nầy xảy ra mười năm về trước. Lúc ấy anh đang làm thơ-ký trong hãng X… Anh định sẽ xuất-dương » : đang làm : hiện-tại trong dĩ-vãng ; sẽ xuất-dương : tương-lai trong dĩ-vãng.
- « Vài năm nữa, người ta sẽ tiến xa. Bấy giờ anh vẫn ở trong tình-trạng cũ ; anh hối-tiếc thì đã muộn » : vẫn ở : hiện-tại trong tương-lai ; đã muộn : dĩ-vãng trong tương-lai.
Thường ta cũng biết một việc xảy ra trong hiện-tại, quá-khứ hay tương-lai nhờ những trạng-từ chỉ thời-gian thích-ứng hay dựa vào toàn-văn : 41
- « Mai sau dù có bao giờ.
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này… »
(Đoạn-Trường Tân-Thanh)
( Mai sau : trạng-từ chỉ thời-gian).
- « Giác-Duyên dù nhớ nghĩa nhau.
Tiền-Đường thả một bè lau rước người ».
(Đoạn-Trường Tân-Thanh)
(Động-từ thả ở thời vị-lai).
V. CHUYỂN-LOẠI
Động-từ có thể chuyển-loại thành tĩnh-từ, danh-từ, trạng-từ, giới-từ :
1 ) ĐỘNG-TỪ BIẾN-THÀNH TĨNH-TỪ : Tôi rất tán-thành công-việc của hội. Tôi sẽ là một hội-viên tán-trợ ( tán-trợ : động-từ biến-thành tĩnh-từ).
2 ) ĐỘNG-TỪ BIẾN-THÀNH DANH-TỪ : Trên đường đời ta có thể thành-công hay thất-bại. Thành-công không khiến ta kiêu, thất-bại không khiến ta nản ( thành-công và thất-bại đã biến-thành danh-từ).
3 ) ĐỘNG-TỪ BIẾN-THÀNH TRẠNG-TỪ : Giáp hơn Ất hai tuổi, nhưng Ất thông minh hơn Giáp (trong « thông-minh hơn », động-từ « hơn » đã biến-thành trạng-từ).
4 ) ĐỘNG-TỪ BIẾN-THÀNH GIỚI-TỪ : Nhà để bán ; Đất cho thuê ( để và cho đã biến thành giới-từ).
*
TÓM-TẮT : Động-từ là tiếng chỉ một hành-động, hay một việc xảy ra. Để được đầy-đủ ý-nghĩa một động-từ cần có một chủ-ngữ và, trong nhiều trường-hợp, một túc-ngữ.
Về phương-diện ý-nghĩa, ta có những động-từ viên-ý, khuyết-ý, thụ-trạng, và những trợ-động-từ.
Về hình-thức, ngoài những động-từ đơn, ta có thể tạo-thành động-từ bằng những cách ghép.
Một động-từ có thể dùng theo tác-thể hay thụ-thể.
Để biểu-diễn các thời hiện-tại, quá-khứ và vị-lai, ta có thể thêm vào động-từ những trạng-từ đặc-biệt.
Nhiều động-từ có thể chuyển-loại thành tĩnh-từ, trạng-từ, giới-từ.