Văn Phạm Việt Nam Giản Dị Và Thực Dụng

Lượt đọc: 366 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
tĩnh-từ
i. ý-nghĩa

Tĩnh-từ 32 là những tiếng chỉ tính-cách của người hay sự-vật :

- Cái hoa đẹp .

- Một thanh-niên hoạt bát .

- Nó mạnh

- Ta nghèo

II . THỂ-THỨC CẤU-TẠO

Một số tĩnh-từ là những tiếng đơn-vận. Nhưng nhiều tĩnh-từ được tạo nên bằng cách ghép :

1 ) Hai tiếng Hán-Việt có nghĩa tương-đương với nhau : anh-hùng, đài-các, can-đảm, lịch-duyệt, thanh-nhã, chính-trực, phân-minh, tôn-kính.

2 ) Hai tiếng Hán-Việt mà tiếng sau thêm nghĩa cho tiếng trước : ái-quốc, tập-sự, hiếu-hòa, cách-mệnh, kiến-hiệu .

3 ) Hai tiếng Hán-Việt mà tiếng trước thêm nghĩa cho tiếng sau (tiếng sau là tiếng chính ; tiếng trước là những tiếng vô, phi, bất, khả, đắc … có thể kể như những tiếp-đầu-tự) : vô-lễ, phi-nghĩa, bất-hiếu, khả-ái, đắc-dụng .

4 ) Hai tiếng Nôm có nghĩa tương-đương với nhau : tươi-tốt, êm-dịu, khỏe-mạnh, chải-chuốt, trôi-chảy.

5 ) Một tĩnh-từ Nôm đơn-vận và một tiếng đệm (tiếng đệm có thể là tiếng chính lặp lại hay nói trại) : 33

- tròn-tròn, xanh-xanh, vàng-vàng.

- đo-đỏ, văng-vẳng, mập-mờ (tiếng đệm đứng trước tiếng chính).

- vội-vàng, sạch sẽ, mặn-mà, dễ-dàng (tiếng đệm đứng sau tiếng chính).

6 ) Hai hoặc nhiều tiếng Nôm và Hán-Việt trong đó một tiếng Nôm là tiếng chính, những tiếng khác phụ nghĩa cho nó : ham học, yêu nước, to con, lẹ tay, ăn được, làm được, biết vâng lời . Ví-dụ : thứ trái ấy ăn được .

Ngoài ra còn một số tĩnh-từ do các thành-ngữ Nôm hay Hán-Việt hoặc những từ-loại khác biến thành :

1 ) Thành-ngữ Hán-Việt : Thái-độ mục-hạ vô-nhân .

2 ) Thành-ngữ Nôm : Câu nói hàng tôm hàng cá ; Hành-vi phản nước hại dân ; Thái-độ mới chuộng cũ vong.

3 ) Các từ-loại khác biến-thành :

a) Danh-từ biến thành : Tư-tưởng quốc-gia ; Hoạt-động văn-hóa.

b) Động-từ biến thành : Tư-tưởng tiến-bộ ; Hành-vi phản-bội

*

CHÚ-Ý : Để khỏi lầm-lẫn trong trường-hợp các danh-từ và động-từ biến thành tĩnh-từ, ta sẽ thêm mấy tiếng « có tính-cách » trước tiếng cần biệt-phân từ-loại. Nếu hiểu được, thì tiếng ấy là tĩnh-từ.

Ví dụ : Tình-hình thế-giới : Không thể hiểu : tình-hình « có tính-cách thế-giới », mà phải hiểu : « tình-hình của thế-giới ». Vậy thế-giới ở đây là một danh-từ.

III. ĐẲNG-CẤP CỦA Ý-NGHĨA TIẾNG TĨNH-TỪ

Trong Việt-ngữ, đẳng-cấp của ý-nghĩa tiếng tĩnh-từ không phải là một vấn-đề quan-trọng.

Sở-dĩ chúng tôi đề-cập đến là thể theo thói quen tạo nên bởi ảnh-hưởng văn-phạm Pháp và bởi quyển Việt-Nam Văn-Phạm thông-dụng từ trước tới giờ.

Ngoài những tĩnh-từ dùng với ý-nghĩa thông-thường 34 ta còn có những tĩnh-từ dùng về tỷ-hiệu đẳng-cấp tối-cao đẳng-cấp.

1 ) TỶ-HIỆU ĐẲNG-CẤP

Chỉ mức-độ của một tính-cách so-sánh với một tính-cách khác. Ví-dụ : Vàng quí hơn bạc (so-sánh sự quí của vàng với sự quí của bạc ).

Tỷ-hiệu đẳng-cấp có ba bậc :

- BẬC HƠN : biểu-diễn bởi trạng-từ hơn : GIÁP lớn hơn ẤT.

- BẬC NGANG : biểu-diễn bởi các trạng-từ bằng, như, ngang : Đẹp như tiên ; Lớn bằng trời ; Tài ngang Lý-Bạch.

- BẬC KÉM : biểu-diễn bởi các trạng-từ thua, kém, không bằng : Giáp thông-minh kém Ất ; Ất lanh-lẹ thua Giáp.

*

CHÚ-Ý : Chớ nên lẫn-lộn ý-nghĩa riêng của một tĩnh-từ và tỷ-hiệu đẳng-cấp trong ý-nghĩa của tiếng ấy.

Nhỏ, nghèo, dở chẳng hạn là những tĩnh-từ mà ý nghĩa có thể được hiểu là chỉ sự thua-kém.

Nhưng : nhỏ hơn , nghèo hơn , dở hơn đều là những tỷ-hiệu đẳng-cấp bậc hơn của các tĩnh-từ ấy. Chính tỷ-hiệu đẳng-cấp bậc hơn đã làm mạnh thêm ý thua-kém .

Để làm mạnh thêm ý-nghĩa thua-kém trong các tĩnh-từ ấy, không nên nói : nhỏ kém , nghèo kém , dở kém chẳng hạn.

Nếu nói thế, ta đã dùng tỷ-hiệu đẳng-cấp bậc-kém và nói nghịch lại điều mình muốn nói : Anh nghèo kém tôi = anh nghèo ít hơn tôi, anh còn « khá » hơn tôi.

2 ) TỐI-CAO ĐẲNG-CẤP

Chia làm hai thứ :

a) TỐI-CAO ĐẲNG-CẤP TƯƠNG-ĐỐI 35 : chỉ mức-độ của một tính-cách đối-chiếu với tất cả những người hay vật có tính-cách tương-tợ. Tối-cao đẳng-cấp tương-đối có hai bậc :

- BẬC TỐI-CAO : biểu-diễn bởi các trạng-từ nhất, hơn cả, hơn hết cả : Anh ấy giỏi nhất lớp ; Ông ấy tài hơn cả.

- BẬC TỐI-HẠ biểu-diễn bởi các trạng-từ bét, kém nhất, kém hơn cả : Anh chỉ là người giỏi bét.

b) TỐI-CAO ĐẲNG-CẤP TUYỆT-ĐỐI : biểu-diễn bởi các trạng-từ lắm, quá, tuyệt, đáo-để, vô-cùng, vô-số (đứng sau tĩnh-từ) và rất, cực, chí, tối, thậm, đại (đứng trước tĩnh-từ) : Giàu lắm ; yên ổn quá , đẹp vô-cùng , rất lớn, cực thông-minh, tối bi-thảm ( cực, chí, tối, đại chỉ nên dùng với các tĩnh-từ Hán-Việt).

IV. TÚC-NGỮ CỦA TĨNH-TỪ

Nhiều khi ý-nghĩa của tĩnh-từ cần được bổ-túc. Trong trường-hợp ấy, tĩnh-từ có túc-ngữ : Người ta nghèo tiền nghèo bạc ; chứ có ai đói nước , nghèo nước bao giờ.

Túc-ngữ của tĩnh-từ thường là những danh-từ : tiền, bạc, nước , túc-ngữ của các tĩnh-từ nghèo, đói , trong ví-dụ trên.

Đôi khi, túc-ngữ của tĩnh-từ là một động-từ nguyên-thức 36 : Chẳng ai dại khờ tin bọn bịp đời ấy. Tin : động-từ nguyên-thức, túc-ngữ của tĩnh-từ dại-khờ .

V. CÁCH SỬ-DỤNG TĨNH-TỪ

Tĩnh-từ có hai nhiệm-vụ văn-phạm :

- Làm hình-dung-từ 37 : thêm nghĩa cho một danh-từ : « Người xưa cảnh bây giờ là đâu ? », xưa : hình-dung-từ của người , cũ : hình-dung-từ của cảnh.

- Làm cốt cho một mệnh-đề : Khoảng đất ấy rộng (xem Thành-phần của mệnh đề ở trước trang 42).

Với nhiệm-vụ văn-phạm nào, theo trật-tự thông-thường của câu tiếng Việt, tĩnh-từ vẫn đứng sau danh-từ (hay đại-danh-từ mà nó tùy-thuộc). Cần ĐỂ Ý đến tính-cách đặc-biệt này khi dùng những tĩnh-từ và danh-từ Hán-Việt.

Ta nói : sinh-hoạt văn-nghệ ( văn-nghệ, tĩnh-từ, đứng sau danh-từ sinh-hoạt mà nó thêm nghĩa). Và không nói : Văn-nghệ sinh-hoạt (như thế, ta sẽ theo ngữ-pháp đặt ngược của văn-phạm Trung-hoa và tạo nên một câu tiếng Việt khó hiểu).

IV. CHUYỂN-LOẠI

Tĩnh-từ có thể chuyển-loại để làm :

1 ) DANH-TỪ : trong trường-hợp này, để cho rõ nghĩa, ta thường thêm một loại-từ trước tĩnh-từ : Sự tử-tế, vẻ hiên-ngang, tính hà-tiện.

2 ) ĐỘNG-TỪ : Gió mạnh dần ; Cây đang lớn.

3 ) TRẠNG-TỪ CHỈ THỂ-CÁCH :

- Đi-đứng tề-chỉnh.

- Nói-năng dịu-dàng.

- Biện-pháp hoàn-toàn vô-hiệu-quả.

Tề-chỉnh : thêm nghĩa cho động-từ đi-đứng.

Dịu-dàng : thêm nghĩa cho động-từ nói-năng.

Hoàn-toàn : thêm nghĩa cho tĩnh-từ vô-hiệu-quả.

*

TÓM-TẮT : Tĩnh-từ là tiếng chỉ tính-cách của người và sự vật. Ngoài những tĩnh-từ đơn-vận ta có thể tạo nhiều tĩnh-từ bằng cách ghép.

Một tĩnh-từ có thể dùng theo :

- Tỷ hiệu đẳng-cấp gồm có bậc hơn, bậc ngang và bậc kém.

- Tối-cao đẳng-cấp gồm có : tối-cao đẳng-cấp tuyệt-đối và tối-cao đẳng-cấp tương-đối chia ra làm bậc tối-cao bậc tối-hạ.

Tĩnh-từ có thể có túc-ngữ là danh-từ hay một động-từ nguyên-thức.

Tĩnh-từ được dùng làm hình-dung-từ và làm cốt của một mệnh-đề.

Một số tĩnh-từ có thể chuyển-loại thành danh-từ, động-từ hay trạng-từ chỉ thể-cách.

« Lùi
Tiến »