Đại-danh-từ 26 là những tiếng dùng thay-thế các danh-từ không tiện lặp lại hay không thể nói ra. Ví-dụ :
- « Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn dong canh dài ».
(Đoạn-Trường Tân-Thanh)
Người thay-thế cho hai danh-từ Thúc-sinh và Hoạn-thư.
Nàng thay-thế cho danh-từ Thúy-Kiều. Các danh-từ ấy không thể lặp lại.
- « Xanh kia thăm-thẳm từng trên,
Vì ai gây-dựng cho nên nỗi nầy ? »
(Chinh-Phụ Ngâm-Khúc)
Ai thay-thế cho một danh-từ không tiện nói ra vì không biết rõ « người nào » gây-dựng.
Tùy nơi ý-nghĩa của chúng, ta chia các đại-danh-từ làm :
- Nhân-vật đại-danh-từ
- Chỉ-thị đại-danh-từ
- Nghi-vấn đại-danh-từ
- Phiếm-chỉ đại-danh-từ 27
- Liên-thuộc đại-danh-từ
I . NHÂN-VẬT ĐẠI-DANH-TỪ
1) Ý NGHĨA
Nhân-vật đại-danh-từ 28 là những đại-danh-từ dùng để xưng và gọi trong khi nói. Ví-dụ :
- « Anh đi đường anh, tôi đường tôi » (Thế-Lữ). Anh và tôi dùng để gọi người khác và xưng-hô trong khi nói chuyện.
- « Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn.
Để hồn ta phảng-phất được gần ngươi.
Hỡi cảnh rừng ghê-gớm của ta ơi ! »
(Thế-Lữ)
Ta và ngươi dùng để xưng-hô và gọi giữa con hổ và cảnh rừng được nhân-cách-hóa.
- « Tôi rất thích thứ hoa ấy ; sắc nó thanh mà hương nó đượm ». Nó thay-thế cho danh-từ hoa , chỉ một vật.
Do sự tương-quan trong sự xưng hô, ta chia các nhân-vật đại-danh-từ làm ba ngôi :
NGÔI THỨ NHẤT chỉ người đang nói : tôi, ta, mình, chúng tôi, chúng ta, chúng tớ…
NGÔI THỨ NHÌ chỉ người đang nghe ta nói : anh, ngươi, mầy, các anh, các ngươi, chúng bây.
NGÔI THỨ BA chỉ người và vật được nói đến : nó, họ, chàng, nàng, người, chúng, chúng nó…
2) THỂ-THỨC CẤU-TẠO
a) ĐẠI-DANH-TỪ LÕI VÀ ĐẠI-DANH-TỪ DO DANH-TỪ BIẾN-THÀNH : Có một số ít tiếng bản-nhiên là nhân-vật đại-danh-từ. Ta gọi đó là những nhân-vật đại-danh-từ lõi ; tôi, ta, mình, mầy, bây, hắn, y, ngài, nó…
Phần nhiều các nhân-vật đại-danh-từ đều do danh-từ biến-thành : anh, ông, chú, thím, người… Đó là những danh từ có một ý-nghĩa về thứ-bậc (thường được dùng làm loại-từ).
Nhân-vật đại-danh-từ trong Việt-ngữ không chỉ có một số nhất-định (như trong tiếng Pháp, tiếng Anh chẳng hạn).
b) SỐ ÍT, SỐ NHIỀU : Muốn chỉ số nhiều ta thêm các lượng-số chỉ-định-từ : các, chúng, quý, trước một nhân-vật đại-danh-từ số ít :
- anh : các anh.
- tôi : chúng tôi.
c) HÌNH-THỨC ĐẶC-BIỆT : Sau các nhân-vật đại-danh-từ ngôi thứ ba, ta có thể thêm chỉ-thị chỉ-định-từ « ấy » : ông ấy, bà ấy.
Hình-thức này chỉ áp-dụng cho các nhân-vật đại-danh-từ do danh-từ biến-thành. Chẳng hạn : Ta sẽ không nói : nó ấy, chúng ấy.
*
Chú-ý : Về phương-diện ý-nghĩa, đại-danh-từ khác với danh-từ ở chỗ nó dùng để xưng-hô, để gọi người khác, trong khi nói chuyện ; trái lại, danh-từ dùng để gọi, « đặt tên » cho những người và vật nhứt-định :
- Người ấy là anh tôi : anh chỉ một người nhứt-định, là một danh-từ.
- Tôi tiễn đưa anh đến tận thuyền. (Thế-Lữ)
Anh là tiếng để xưng-hô với một người trong khi nghĩ đến hay nói với người ấy.
3) CÁCH SỬ-DỤNG
a) Vì là tiếng thay-thế cho danh-từ nên đại-danh-từ có giá-trị tương-đương với danh-từ trong lời nói. Nó có thể lãnh tất cả các nhiệm-vụ văn-phạm của một danh-từ : chủ-ngữ, túc-ngữ.
b) Nhân-vật đại-danh-từ chỉ có thể thay-thế cho một danh-từ đã được chỉ-định :
- Tôi có thấy quyển sách ấy. Nó đã cũ rồi (danh-từ quyển sách đã được chỉ-định).
- Tôi đang đọc sách. Nó hay lắm. (Sai, vì sách là một danh-từ không chỉ-định, không thể được thay-thế bằng đại-danh-từ nó ).
c) Vì thay-thế cho một danh-từ đã được chỉ-định, nên nhân-vật đại-danh-từ thường không có túc-ngữ :
- Tôi đến nhà ông Giáp trong lúc ông đang đọc sách.
- Tôi và ông không thể có túc-ngữ.
d) Các nhân-vật đại-danh-từ do danh-từ biến-thành thường có thể dùng về nhiều ngôi khác nhau :
- Cha nói với con : « Con hãy nghe lời cha dạy » ( con, ngôi thứ nhì ; cha, ngôi thứ nhất).
- Con trả lời : « Con xin làm theo ý muốn của cha » ( con, ngôi thứ nhất : cha, ngôi thứ nhì).
4) CÁC NHÂN-VẬT ĐẠI-DANH-TỪ LÀM TỰ-KHỞI VÀ TƯƠNG-HỖ TÚC-NGỮ
a) TỰ-KHỞI TÚC-NGỮ : (xem phần Túc-ngữ của động-từ trang 87)
- Mình khen mình.
- Nó làm hại nó.
- Thân hỏi thân : thân sao lận-đận.
- Anh ấy tự- tử.
- Anh hãy tự xét.
Tiếng thân (tự-khởi túc-ngữ), hợp-lý hơn vẫn là một danh-từ.
Nên kể tự-tử là một động-từ ghép Hán-Việt. (Thực-tế, ta không có động-từ tử). Trong tự xét , tự có thể là một đại-danh-từ.
b) TƯƠNG-HỖ TÚC-NGỮ : (xem Phần Túc-ngữ của động-từ )
- Chúng nó đánh nhau.
- Chúng nó cướp lẫn nhau.
- Anh ấy cãi nhau với tôi.
Hợp-lý hơn, các tiếng nhau và lẫn nhau (làm tương-hỗ túc-ngữ) nên xem là những trạng-từ. Chúng không phải là đại-danh-từ, vì chúng không thay-thế cho danh-từ nào cả.
II . CHỈ-THỊ ĐẠI-DANH-TỪ
Tiếng chỉ-thị đại-danh-từ 29 thay-thế danh-từ với một ý chỉ-định về vị-trí.
Những chỉ-thị đại-danh-từ thường dùng là : Nầy, kia, kìa, nọ, đó, ấy, cái nầy, cái kia, cái đó… Ví-dụ :
- Này chồng, này mẹ, này cha. Này là em ruột, này là em dâu (Đoạn-Trường Tân-Thanh). Này : người này.
- Kìa thì bụt, nọ thì tăng. (Truyện Phan-Trần)
*
CHÚ-Ý : Các chỉ-thị đại-danh-từ đều do chỉ-thị chỉ-định-từ chuyển-loại làm thành. Vài trạng-từ chỉ nơi-chốn có thể dùng làm chỉ-thị đại-danh-từ (xem Trạng-từ chỉ nơi-chốn trang 100).
III . NGHI-VẤN ĐẠI-DANH-TỪ
Nghi-vấn đại-danh-từ 30 thay-thế cho danh-từ chỉ người, vật, sự mà ta muốn biết trong câu hỏi :
- Ai là thủ-phạm ?
- Nỗi mừng biết lấy chi cân ?
Những nghi-vấn đại-danh-từ thường dùng là : ai, gì, chi,
Ta có thể ghép các loại-từ con và cái với các tiếng nào, gì, chi, để có những nghi-vấn đại-danh-từ : con gì, con nào, cái gì, cái nào.
*
CHÚ-Ý : Nếu trước gì, chi, nào, có những tiếng có khả-năng làm danh-từ, thì gì, chi, nào, vẫn là những nghi-vấn chỉ-định-từ : Người nào, vật chi, chuyện gì : nào, gì, chi là nghi-vấn chỉ-định-từ vì các tiếng người, vật, chuyện là những danh-từ.
Trước các nghi-vấn đại-danh-từ ai, gì, chi, ta cũng có thể thêm lượng-số chỉ-định-từ những.
Để nhấn mạnh ý nghi-vấn, ta có thể thêm sau các nghi-vấn đại-danh-từ cái gì, ai, các tiếng : là cái, là người, kẻ, người ta.
- Cái gì là cái đã làm cho chúng ta điêu đứng ?
- Ai là người đã giải cứu các anh ?
- Ai kẻ chịu làm việc ấy ?
- Ai người ta chịu ?
- Những ai đã giúp các anh ?
- Anh đã làm được những gì ?
IV. PHIẾM CHỈ ĐẠI-DANH-TỪ
Phiếm-chỉ đại-danh-từ thay-thế cho danh-từ để chỉ những người hay vật mà ta không muốn nói rõ ra.
- Tường đông ong bướm đi về mặc ai. (Đoạn-Trường Tân-Thanh)
- Hỡi ai ! Lẳng-lặng mà nghe… (Lục-Vân-Tiên)
Các phiếm-chỉ đại-danh-từ thường dùng là :
1 ) Các nghi-vấn đại-danh-từ ai, chi, gì, cái gì khi dùng trong những câu không phải là câu hỏi :
- Nói chi nó cũng không nghe.
- Làm gì cũng không được.
2 ) Các phiếm-chỉ đại-danh-từ chỉ riêng về người : ai, ai , ai nấy , người, người ta, kẻ, kẻ… người, kẻ thì… người thì :
- Thương người như thể thương thân. (Nguyễn Trãi)
- kẽ thì nâng đỡ, người thì hỏi han. (Đoạn-Trường-Tân-Thanh)
3 ) Các phiếm-chỉ đại-danh-từ dùng chung cho người và các sự-vật : cả, hết, tất, hết cả, hết thảy, cả thảy :
- Tôi biết cả
- Anh ấy quên hết .
- Tất cả đều về tới
Để nhấn mạnh ý phiếm-chỉ, ta có thể thêm trạng từ bất cứ vào trước các phiếm-chỉ đại-danh-từ ai, cái gì :
- Anh có thể hỏi bất -cứ ai.
- Bất-cứ cái gì họ cũng kiểm-soát.
V. LIÊN-THUỘC-ĐẠI-DANH-TỪ
Liên-thuộc đại-danh-từ 31 là những tiếng thay-thế cho danh-từ để thêm một ý lệ-thuộc vào danh-từ ấy :
Các liên-thuộc đại-danh-từ thường dùng : mà, nào, gì, chi.
- Người mà các anh mạt-sát chính là người đã làm cho các anh có địa-vị ngày nay ; « mà » thay-thế danh-từ « người » để thêm một ý ( các anh mạt-sát ) có tác-dụng chỉ-định danh-từ ấy.
- Học-sinh nào thuộc bài sẽ được thưởng : « nào » thay-thế danh-từ « học-sinh » để thêm một ý chỉ-định danh-từ ấy ( thuộc bài ).
- Việc gì anh không thạo thì anh đừng làm.
- Điều chi anh không biết thì anh đừng nói.
*
CHÚ-Ý :
1 ) Các liên-thuộc đại-danh-từ mà, gì, chi rất thường được hiểu ngầm. Chẳng hạn trong các câu kể trên :
- Người các anh mạt-sát chính là người đã làm cho các anh có địa-vị ngày nay.
- Việc anh không thạo thì anh đừng làm.
- Điều anh không biết thì anh đừng nói.
2 ) Riêng tiếng mà có thể thuộc về nhiều từ-loại rất khác với đại-danh-từ :
- To con mà yếu-sức (tập-hợp liên-từ).
- Anh mà can-thiệp vào, thì việc ấy hỏng (phụ-thuộc liên-từ).
- Hỡi ai lẳng-lặng mà nghe (giới-từ chỉ mục-đích)
- Nín đi mà (ngữ-khí thán-từ).
3 ) Cũng như nhân-vật đại-danh-từ, liên-thuộc đại-danh-từ thay-thế cho một danh-từ chỉ người hay vật rõ-ràng nhứt-định : « Kẻ nào gạt người sẽ bị người gạt »
- Nào : thay-thế danh-từ kẻ (liên-thuộc đại-danh-từ)
- Người : thay-thế một danh-từ chỉ người, nhưng ta không biết rõ là danh-từ nào (không phải liên-thuộc đại-danh-từ).
*
PHÂN-BIỆT : NÀO, GÌ, CHI PHIẾM-CHỈ CHỈ-ĐỊNH-TỪ VÀ LIÊN-THUỘC ĐẠI-DANH-TỪ
1 ) Nào, gì, chi liên-thuộc đại-danh-từ luôn-luôn được dùng để nối một mệnh-đề phụ chỉ-định với tiếng mà nó thêm nghĩa. Nếu là phiếm-chỉ chỉ-định-từ, các tiếng ấy chỉ thêm nghĩa cho danh-từ và được dùng trong bất-cứ mệnh-đề nào. Ví-dụ :
- Quyển sách nào anh thích thì anh cứ lấy.
- Quyển sách nào tôi cũng thích.
Nào trong câu trên nối mệnh-đề phụ chỉ-định anh thích với danh-từ quyển sách.
Nào trong câu dưới chỉ dùng để chỉ định danh-từ quyển sách và được dùng trong một mệnh-đề độc-lập.
2 ) Nào, gì, chi liên-thuộc đại-danh-từ chỉ có tác-dụng về văn-phạm (nối mệnh-đề phụ chỉ-định với danh-từ được mệnh-đề thêm nghĩa). Nào, gì, chi phiếm-chỉ chỉ-định-từ thêm một ý phiếm-chỉ cho danh-từ ; các tiếng này cần-thiết cho ý-nghĩa của danh-từ.
Trở lại hai ví-dụ vừa kể, ta thấy : Quyển sách nào tôi cũng thích : quyển sách nào có nghĩa là bất cứ quyển sách nào. Trong câu « Quyển sách nào anh thích thì anh cứ lấy », nào không có nghĩa ấy.
Chính vì không cần-thiết cho ý-nghĩa của danh-từ nên trong nhiều trường-hợp, liên-thuộc đại-danh-từ có thể được hiểu ngầm như đã nói trên.
*
TRƯỜNG-HỢP ĐẶC-BIỆT CỦA TIẾNG AI
Trong cùng một câu tiếng ai có thể vừa có tác-dụng của một phiếm-chỉ đại-danh-từ, vừa có tác-dụng của một liên-thuộc đại-danh-từ. Trong trường-hợp ấy tiếng ai sẽ có hai nhiệm-vụ văn-phạm :
- Ai bất tuân sẽ bị phạt : « ai » vừa là chủ-ngữ của động-từ bất tuân vừa là chủ-ngữ của động từ bị phạt .
- Anh chỉ thích ai nịnh hót : « ai » vừa là túc-ngữ của động-từ thích vừa là chủ-ngữ của động-từ nịnh-hót .
*
TÓM-TẮT : Đại-danh-từ thay-thế cho những danh-từ không tiện nói ra hay lặp lại. Có năm loại đại-danh-từ :
- Nhân-vật đại-danh-từ.
- Chỉ-thị đại-danh-từ.
- Nghi-vấn đại-danh-từ.
- Phiếm-chỉ đại-danh-từ.
- Liên-thuộc đại-danh-từ.
Nhân-vật đại-danh-từ và liên-thuộc đại-danh-từ thay-thế cho những danh-từ đã biết rõ. Các thứ đại-danh-từ khác thay cho những danh-từ không nói ra hoặc không thể nói rõ.
Phần nhiều các nhân-vật đại-danh-từ do loại-từ chỉ thứ-bậc biến thành.
Nhiều tiếng có thể là nghi-vấn đại-danh-từ, phiếm-chỉ đại-danh-từ hay liên-thuộc đại-danh-từ tùy trường-hợp.
Tất cả các loại đại-danh-từ đều có công-dụng và vị-trí trong câu giống như danh-từ.