Văn Phạm Việt Nam Giản Dị Và Thực Dụng

Lượt đọc: 364 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
chỉ-định-từ
mở đầu : ý-nghĩa và các phân-loại

Khi một danh-từ đã đầy-đủ ý-nghĩa để gọi tên người hay sự-vật, ta còn có thể làm cho rõ-ràng hơn người hay vật mà danh-từ được dùng để mệnh-danh.

Chỉ-định-từ là những tiếng để làm cho biết rõ hơn, để chỉ-định người hay vật được mệnh-danh bởi một danh-từ : ba quyển sách, người ấy , chuyện gì : ba , ấy , là những chỉ-định-từ.

Tùy nơi ý-nghĩa của chúng ta chia các chỉ-định-từ ra làm bốn phân loại :

- Chỉ-thị chỉ-định từ.

- Số-mục chỉ-định-từ.

- Nghi-vấn chỉ-định-từ.

- Phiếm-chỉ chỉ-định-từ

I. CHỈ-THỊ CHỈ-ĐỊNH-TỪ

1) Ý NGHĨA

Chỉ-thị chỉ-định-từ là những tiếng chỉ-định danh-từ bằng cách thêm một ý-nghĩa về vị-trí. Vị-trí ấy có thể hiểu về các phương-diện không-gian, thời-gian cũng như tư-tưởng :

- Cái nhà nầy của cha tôi ; nầy có ý-nghĩa về vị-trí trong không-gian (cái nhà ta đang thấy ở gần đây)

- Cái đêm hôm ấy đêm gì ? (Cung-oán Ngâm-khúc) ấy có ý-nghĩa về vị-trí trong thời-gian (một đêm trong thời-gian dĩ-vãng)

- Tôi vừa mua một quyển sách ; quyển sách ấy đã cũ nhưng rất quý : ấy có ý nghĩa về vị-trí trong tư- tưởng (quyển sách mà tôi vừa nói đến).

2) THỂ-THỨC CẤU-TẠO

Có những chỉ-thị chỉ-định-từ lõi, đơn-vận và những chỉ-thị chỉ-định-từ tạo nên bằng cách ghép :

a) Các chỉ-thị chỉ-định-từ đơn-vận thường dùng là : nầy , này , rày , ni , nớ , ấy , kia , , đó .

b) Ta có thể ghép vào các chỉ-thị chỉ-định-từ lõi kể trên một giới-từ chỉ vị-trí.

- Cái nhà trên ấy của anh tôi, cái dưới nầy của tôi.

- Trên ấy, dưới nầy, bên kia, bên nầy… là những chỉ-thị chỉ-định-từ ghép.

3) CHUYỂN-LOẠI

Chỉ-thị chỉ-định-từ có thể chuyển-loại thành phiếm-chỉ chỉ-định-từ và chỉ thị đại-danh-từ.

a) Chỉ-thị chỉ-định-từ biến thành phiếm chỉ chỉ-định-từ khi nó mất ý-nghĩa về vị-trí mà chỉ thêm vào danh-từ một ý khái-quát.

- Nhà kia có ba anh em

- Người nọ có ba đứa con.

Kia nọ đã mất hẳn ý-nghĩa về vị-trí để chỉ-định danh-từ một cách không rõ-ràng :

- nhà kia = một nhà nào đó

- người nọ = một người nào đó.

b) Chỉ-thị chỉ-định-từ khi dùng một mình (không có danh-từ đứng trước) là nhửng chỉ-thị đại- danh-từ (xem chỉ-thị đại- danh-từ ).

II . SỐ-MỤC CHỈ-ĐỊNH-TỪ

1) Ý-NGHĨA VÀ PHÂN-LOẠI

Số-mục chỉ-định-từ là những tiếng chỉ-định danh-từ bằng một ý-nghĩa về lượng-số hay thứ-tự.

Do đó, ta chia số-mục chỉ-định-từ làm hai loại : lượng-số chỉ-định-từ và thứ-tự chỉ-định-từ.

2) LƯỢNG-SỐ CHỈ-ĐỊNH-TỪ

Lượng-số chỉ-định-từ gồm có : những số đếm, những tiếng chỉ những lượng nhiều hay ít, những tiếng chỉ phân-số và bội-số.

a) NHỮNG SỐ ĐẾM : Có những số đơn và số ghép :

- năm, tám, nghìn, vạn là những số đơn ;

- mười lăm, hai mươi mốt là những số ghép.

Trong các số ghép ta có thể thêm những tiếng đệm linh, lẻ hay rút gọn hoặc bỏ bớt một tiếng.

- một trăm linh tám, một ngàn lẻ một.

- hăm mốt : hai mươi mốt ( m : hai mươi nói ríu)

- bốn mốt : bốn mươi mốt (bỏ bớt tiếng mươi ).

b) LƯỢNG-SỐ CHỈ-ĐỊNH-TỪ CHỈ MỘT LƯỢNG NHIỀU HAY ÍT : gồm có các lượng-số chỉ-định-từ chỉ một lượng nhỏ, chỉ mỗi đơn-vị của một toàn-số và chỉ một lượng lớn hay một toàn-số :

a) lượng nhỏ : mấy, tí, vài, năm ba, năm bảy, mười lăm, thiểu-số.

b) đơn-vị của một toàn-số : mỗi, từng.

c) lượng lớn và toàn-số : mọi, cả, hết, tất cả, hết thảy, nhiều, lắm, đa-số.

c) NHỮNG PHÂN-SỐ VÀ BỘI-SỐ :

Những lượng-số chỉ-định-từ chỉ phân-số gồm có hai số đếm có tiếng phần giữa : hai phần ba quả cam. Số đứng trước ( hai ) là tử-số ; số đứng sau ( ba ) là mẫu-số.

NGOẠI LỆ : các tiếng nửa, rưởi, rưỡi (hay một nửa, phân nửa ) cũng là lượng-số chỉ-định-từ chỉ phân-số :

- Nửa quả cam.

- Một vạn rưởi ( rưởi : phân nửa một số đếm)

- Một cân rưỡi (rưỡi : phân nửa một đơn-vị đo-lường)

Các lượng-số chỉ-định-từ chỉ bội-số gồm các tiếng gấp, xấp, lần phối-hợp với một số đếm tiếng Nôm và bội phối-hợp với một số đếm tiếng Hán-Việt.

- Tôi sẽ cho anh xấp mười số tiền anh có.

- Gấp năm dân-số ấy.

- Năm lần số người ấy.

- Trả bội-tứ số tiền thiệt-hại.

Tất cả các lượng-số chỉ-định-từ đều đứng trước danh-từ được chúng chỉ-định.

CHUYỂN-LOẠI : Lượng-số chỉ-định-từ có thể chuyển-loại thành trạng-từ chỉ lượng-số : Nói nhiều – Ăn ít – To gấp hai – Nhiều gấp năm . Nhiều ít thêm nghĩa cho một động-từ ; gấp hai gấp năm thêm nghĩa cho một tĩnh-từ.

Các lượng-số chỉ-định-từ ấy đã biến-thành trạng-từ chỉ lượng số.

3) THỨ-TỰ CHỈ-ĐỊNH TỪ

Thứ-tự chỉ-định-từ gồm có :

- Những tiếng Nôm : thứ nhì, thứ ba…

- Những tiếng Hán-Việt : đệ-nhất, đệ-ngũ… (lớp đệ-ngũ, anh-hùng đệ-nhất )

- Những tiếng chỉ riêng về thứ tự của ngày tháng : mồng một, rằm, giêng, chạp … (ngày mồng một , ngày rằm , tháng giêng , tháng chạp ).

Thứ-tự chỉ-định-từ luôn-luôn đứng sau danh-từ được chỉ-định.

III. NGHI-VẤN CHỈ-ĐỊNH-TỪ

Nghi-vấn chỉ-định-từ, chỉ-định một danh-từ trong câu hỏi : người nào ? ; việc ? Những nghi-vấn chỉ-định-từ thường dùng là : nào, mô, gì, chi.

CHUYỂN-LOẠI :

1) Riêng nghi-vấn chỉ-định-từ nào có thể :

a) mất hẳn tính-cách chỉ-định-từ để nhấn mạnh ý-nghĩa của một câu hỏi, biến thành ngữ-khí hiệu-từ.

- Nào ai nói đặt cho nên đoạn-trường ? (Trinh-thử)

- Nào người cá nhảy nhạn sa đâu rày ? (Hoàng-trừ)

b) biến-thành một lượng-số chỉ-định-từ : Chị bày ra nào kim, nào chỉ, nào khăn, nào lược (« nào » chỉ một lượng-số không nhất-định).

c) biến-thành một trạng-từ chỉ sự phủ-định : Tôi nào biết.

2) Tất cả các nghi-vấn chỉ-định-từ đều có thể biến thành phiếm chỉ chỉ-định-từ.

IV. PHIẾM-CHỈ CHỈ-ĐỊNH-TỪ

Phiếm chỉ chỉ-định-từ là tiếng chỉ-định danh-từ với một ý nói trổng, không chỉ rõ người hay vật :

- Nơi nào cũng được.

- Việc anh cũng thạo.

Các nghi-vấn chỉ-định-từ nào, mô, gì, chi khi không dùng trong câu hỏi thì biến-thành phiếm-chỉ chỉ-định-từ.

CHUYỂN-LOẠI :

Riêng tĩnh-từ khác cũng có thể chuyển-loại thành phiếm-chỉ-định-từ.

- Anh ấy bây giờ khác hồi trước : khác, tĩnh-từ

- Ông hãy tìm người khác mà hỏi : khác , phiếm-chỉ chỉ-định-từ.

Để làm rõ ý-nghĩa phiếm-chỉ, ta thường kèm thêm những trạng-từ bất-cứ , cũng , cũng đều , cũng được vào các phiếm-chỉ chỉ-định-từ :

- Tôi sẽ làm bất cứ việc .

- Anh ấy giao-thiệp với bất-cứ hạng người nào.

- Học-sinh nào cũng biết.

- Việc gì cũng đều do ông ấy quyết-định.

- Anh cho tôi mượn quyển sách nào cũng được .

CHUYỂN-LOẠI : Các tiếng , chi , khi dùng một mình (không có danh-từ đứng trước) thì biến-thành nghi-vấn đại-danh-từ (xem Nghi-vấn Đại-danh-từ ).

*

TÓM-TẮT : Chỉ-định-từ là những tiếng để cho biết rõ-ràng hơn người hay vật mệnh-danh bởi một danh-từ :

Có bốn thứ chỉ-định-từ :

- Chỉ-thị chỉ-định-từ.

- Số-mục chỉ-định-từ gồm có lượng-số chỉ-định-từ và thứ-tự chỉ-định-từ.

- Nghi-vấn chỉ-định-từ.

- Phiếm-chỉ chỉ-định-từ.

Chỉ-thị chỉ-định-từ có thể biến-thành chỉ-thị đại-danh-từ.

Các lượng-số chỉ-định-từ gồm có những số đếm, những tiếng chỉ một lượng nhiều hay ít, những tiếng chỉ phân-số và bội-số.

Tất cả các nghi-vấn chỉ-định-từ đều có thể biến-thành phiếm-chỉ chỉ-định-từ.

Ngoại trừ lượng-số chỉ-định-từ, tất cả các loại chỉ-định-từ đều đứng sau danh-từ được chúng chỉ-định.

« Lùi
Tiến »