Loại-từ là tiếng đặt trước một danh-từ khái-quát để làm cho ý-nghĩa của danh-từ ấy được rõ-ràng, đầy-đủ. Ví-dụ :
- nhà : một danh-từ khái-quát ( tòa nhà, nhà đông con, nhà anh nầy, ông nhà, nhà tôi… )
- chuối : một danh-từ khái-quát ( cây chuối, lá chuối, dầu chuối, quày chuối, chuối chát… )
Để cho được rõ-ràng, đầy-đủ hơn, ta sẽ nói : cái nhà , quả chuối, chẳng hạn :
- Cái nhà, quả chuối chỉ những vật nhứt-định, có một hình dáng và một thể-chất rõ-rệt.
- Cái và quả là những loại-từ.
Nếu quan-niệm rằng loại-từ hợp với danh-từ khái-quát để có thể mệnh-danh một hoặc nhiều người hay vật một cách rõ-ràng, ta sẽ thấy loại-từ không những chỉ rõ về các loài hay những thứ-bậc 23 , mà còn có ý-nghĩa về hình-thể nói chung :
- con dao , quả cau , quày chuối ; con, quả, quày đều cho biết hình-thể của dao, cau và chuối.
- Tờ giấy, sợi tơ, đường tơ, cuộn tơ : giấy và tơ là những danh-từ khái-quát chỉ có ý-nghĩa về chất ; tờ, sợi, đường, cuộn thêm vào các danh-từ khái-quát ấy một ý-nghĩa về hình-dáng.
Vậy con, quả, quày, tờ, sợi, đường, cuộn đều là những loại-từ.
Loại-từ thường được đặt trước những tĩnh-từ và động-từ biến-thành danh-từ :
- sự chăm chỉ, vẻ đẹp, tính cần-cù ;
- nỗi nhớ-thương, sự phát-triển, việc đo-lường.
Để đơn-giản-hóa vấn đề từ-loại, nên kể sự chăm-chỉ, nỗi nhớ thương… là những danh-từ duy-nhứt.
II. NGUỒN-GỐC
Tất cả các loại-từ đều do danh-từ biến-thành. Những danh-từ có thể dùng làm loại-từ là những danh-từ thuộc các loại sau đây :
1) NHỮNG DANH-TỪ CHỈ VỀ THỨ-LOẠI : cái (bất-động-vật), con (động-vật) người, chim, cá, rắn, tôm, cây, cỏ, hoa, quả (trái), lá, dân, nước, làng, sự, việc… Thí-dụ : Cái tủ, con gà.
CHÚ Ý : trong vài trường-hợp đặc-biệt loại-từ con được dùng trước một danh-từ chỉ bất-động-vật và loại-từ cái trước một danh-từ chỉ động-vật : con dao, con sông, cái kiến (Con ve và cái kiến , tựa bài ngụ-ngôn của Nguyễn-văn-Vĩnh, dịch La cigale et la fourmi của La Fontaine), cái Tẹo…
- Dân Việt-nam, nước Pháp, làng Cổ-am ;
- Sự hi-sinh, việc thờ-cúng.
2 ) NHỮNG DANH-TỪ CHỈ VỀ THỨ-BẬC : cụ, ông, thầy, cậu, mợ, thằng, con, anh, chị, bạn. Ví-dụ : ông chủ, anh tài-xế, bạn Giáp.
3 ) NHỮNG DANH-TỪ CHỈ VỀ HÌNH-THỨC : miếng, sợi, quyển, tập, tờ, lá, phong… Ví-dụ : Miếng ruộng, sợi tơ, quyển sách, tập vở, tờ giấy, lá buồm, phong thơ.
4 ) NHỮNG DANH-TỪ CHỈ VỀ SỐ-LƯỢNG : mẩu, chiếc, đôi, cặp, đoạn, quãng, khúc, li, bát, cân, lít, nắm, bụm… Ví-dụ : Mẩu bánh, chiếc thuyền, đôi chiếu, cặp trâu, đoạn đường, quãng đời, li rượu, cân đường, bụm cát.
5 ) NHỮNG DANH-TỪ TỔNG-HỢP :
a) bè, lũ, nhóm, bọn, đảng, hạng, phường, quân… (chỉ về người).
b) đàn , bầy… (chỉ về thú)
c) chùm, cụm, buồng, quày, rặng, đám… (chỉ về cây-cối hoa-quả).
d) mớ, đống… (chỉ về các vật nhỏ).
III. TÁC-DỤNG ĐẶC-BIỆT VỀ VĂN-PHẠM
Loại-từ hoàn-toàn phụ-thuộc vào danh-từ. Nghĩa của danh-từ là phần chính. Loại-từ chỉ phụ thêm vào để làm cho nghĩa danh-từ được rõ-ràng hơn : Cặp trâu, tờ giấy, quãng đường. Các tiếng « trâu » « giấy », « đường » là chính ; các tiếng « cặp », « tờ », « quãng » là phụ.
Về văn-phạm, loại-từ hợp với danh-từ làm một toàn-thể, có thể được xem như một danh-từ duy-nhứt : Chị thợ may mua quyển sách :
Có thể xem chị thợ may như một danh-từ duy-nhứt làm chủ-ngữ của động-từ mua và quyển sách như một danh-từ duy-nhứt làm sự-vật túc-ngữ của động-từ ấy.
Loại-từ thường được dùng để lặp lại một danh-từ. Trong trường-hợp ấy nó có giá-trị như một danh-từ đầy-đủ ý-nghĩa :
- Hai quyển sách ấy, anh thích quyển nào ? ( quyển : quyển sách).
- Cái nhà lớn của anh tôi, còn cái nhỏ của tôi ( cái : cái nhà).
IV. PHÂN-BIỆT LOẠI-TỪ VÀ DANH-TỪ
Ta đã thấy rằng tất cả các loại-từ đều vốn là những danh-từ. Do đó, cần phân-biệt loại-từ với những danh-từ không được dùng làm loại-từ.
1 ) LOẠI-TỪ KHÁC VỚI MỘT DANH-TỪ LIÊN-KẾT VỚI DANH-TỪ KHÁC BẰNG CÁCH GHÉP : Hai danh-từ kết hợp bằng cách ghép có ý-nghĩa tương đương với nhau, hoặc tiếng sau thêm nghĩa cho tiếng trước. Trái lại, loại-từ luôn-luôn có nghĩa phụ-thuộc vào danh-từ mà nó chỉ-định và đứng trước danh-từ ấy.
- trộm-cướp : hai danh-từ ghép lại, có ý-nghĩa ngang nhau.
- bút chì : hai danh-từ ghép lại, tiếng sau thêm nghĩa cho tiếng trước.
- sợi tơ : sợi , loại-từ, làm cho rõ nghĩa danh-từ tơ đứng trước danh-từ ấy.
Không thể gọi « bút » là loại từ vì trong bút chì tiếng « bút » là tiếng chính, tiếng « chì » thêm nghĩa cho « bút ».
2. LOẠI-TỪ KHÁC VỚI DANH-TỪ CÓ TÚC-NGỮ LÀ MỘT DANH-TỪ KHÁC : Giữa danh-từ và túc-ngữ của nó bao giờ cũng có một giới-từ nói ra hoặc hiểu ngầm. Trái lại, giữa loại-từ và danh-từ không thể xen vào một giới-từ được :
- nhà anh Giáp , lòng dân , đời sống thị-thành (hiểu ngầm nhà của anh Giáp , lòng của dân , đời sống ở thị-thành ) : nhà , lòng , đời sống là những danh-từ mà anh Giáp , dân , thị-thành là túc-ngữ của các danh-từ ấy.
- lòng nhân đạo, đô-thành Sài-gòn, chốn thị-thành (không thể hiểu : lòng của nhân-đạo , đô thành của Sài-gòn , chốn của thị-thành ) : lòng , đô-thành , chốn là những loại-từ.
3. LOẠI-TỪ ĐỨNG TRƯỚC MỘT TĨNH-TỪ (DÙNG LÀM DANH-TỪ) KHÁC VỚI DANH-TỪ ĐƯỢC MỘT TĨNH-TỪ THÊM NGHĨA : Loại-từ với tĩnh-từ hợp thành một toàn-thể, không thể hiểu tách rời ra được. Toàn-thể ấy là một danh-từ : Sự chuyên-cần : không thể hiểu là sự có tính cách chuyên-cần (so-sánh với : học sinh chuyên-cần , chẳng hạn).
4. LOẠI-TỪ ĐỨNG ĐỨNG TRƯỚC ĐỘNG-TỪ KHÁC VỚI DANH-TỪ KẾT-HỢP VỚI ĐỘNG-TỪ ĐỂ LÀM TIẾNG GHÉP : Danh-từ được kết-hợp với một động-từ để làm tiếng ghép bao giờ cũng là chủ-ngữ của động-từ ấy. Với loại-từ, không thể kể như thế :
- thợ sơn , thợ chạm : « thợ » chủ-ngữ của các động từ « sơn », « chạm ».
- Cuộc vận-động, sự tranh-đấu : « cuộc », « sự » không phải là chủ ngữ của các động-từ « vận-động », « tranh đấu ».
*
TÓM-TẮT : Loại-từ là tiếng đặt trước một danh-từ khái-quát hay một tĩnh-từ hoặc động-từ dùng làm danh-từ. Nó làm cho các tiếng ấy có đầy-đủ ý-nghĩa của một danh-từ.
Loại-từ gốc là những danh-từ tổng-hợp và những danh-từ chỉ về thứ-loại, thứ-bậc, hình-thể, số-lượng.
Cần phân-biệt loại-từ với những danh-từ được kết-hợp với một danh-từ khác, một tĩnh-từ hay một động-từ để làm tiếng ghép và những danh-từ có túc-ngữ là một danh-từ khác.
Về văn-phạm, loại-từ hợp với danh-từ có thể được xem như một danh-từ duy-nhứt.
V. MẠO-TỪ
Trong văn-phạm, ta có thấy đề-cập đến những mạo-từ . Việt-Nam Văn-phạm 24 định-nghĩa rằng : mạo-từ là tiếng đứng trước tiếng danh-từ đã có một tiếng khác hay một câu chỉ-định rồi và kể : những tiếng mạo-từ là : cái, những, các, chư, liệt.
- Cái tờ giấy nầy
- Cái thửa ruộng mới cày kia
- Những nhà có của
- Thưa các ngài
- Triệu-tập chư tướng
- Mời liệt vị đi chơi
Ta nhận-thấy rằng, trong hai ví-dụ trước, tiếng cái không có nhiệm-vụ văn-phạm, mà chỉ có tác-dụng nhấn mạnh các danh-từ tờ giấy, thửa ruộng (đã được chỉ-định rồi).
Trong các ví-dụ sau, mấy tiếng những, các, chư, liệt, có ý-nghĩa và nhiệm-vụ văn-phạm giống-hệt các tiếng mấy, nhiều, tất cả… đã được gọi là lượng-số chỉ-định-từ.
Về « những tiếng mạo-từ », Việt-nam Văn-phạm cho rằng tiếng mạo-từ dùng để làm cho mạnh, cho rõ cái nghĩa của tiếng danh-từ :
So-sánh :
- Việc này lôi-thôi lắm và Cái việc này lôi-thôi lắm.
- Cái rổ đầy hoa và Cái rổ đầy những hoa.
Ở đây, cái cũng như những đều không có nhiệm-vụ văn-phạm mà chỉ có tác-dụng khiến ta ĐỂ Ý vào các danh-từ việc và hoa.
*
TÓM LẠI : Tiếng cái mạo-từ (khác với cái loại-từ trong cái rổ chẳng hạn) luôn-luôn chỉ có tác-dụng nhấn mạnh ý-nghĩa một danh-từ, mà không có nhiệm-vụ văn-phạm.
Các tiếng các, những, chư, liệt có nghĩa và nhiệm-vụ văn-phạm của những lượng-số chỉ-định-từ. Riêng tiếng những còn được dùng không nhiệm-vụ văn-phạm để nhấn mạnh một danh-từ số nhiều.
Do các nhận-xét trên, để đơn-giản-hóa vấn-đề từ-loại chúng tôi đề-nghị :
- Trong tất cả các trường-hợp kể trên, tiếng cái là loại-từ dùng để nhấn-mạnh ý-nghĩa của một danh-từ số ít (explétif trong văn-phạm Pháp).
- Tất cả các tiếng các, những, chư, liệt là lượng-số chỉ-định-từ ; riêng trong trường-hợp cái rổ đầy những hoa , lượng-số chỉ-định-từ những được dùng để nhấn mạnh ý-nghĩa của một danh-từ số nhiều (không nhiệm-vụ văn-phạm, cũng như tiếng cái ở trên). 25