Danh-từ là tiếng dùng để gọi người, động-vật, vật cụ-thể hay trừu tượng : học-sinh, sư-tử, nhà, vườn, Việt-nam, Ất, đạo, hạnh-kiểm.
1) DANH-TỪ CHUNG VÀ DANH-TỪ RIÊNG
a) DANH-TỪ CHUNG : dùng để gọi chung những người hay vật cùng một loại : học-sinh, sư-tử, nhà, vườn, hạnh-kiểm. Tùy ý-nghĩa của chúng, các danh-từ chung được chia làm : danh-từ cụ-thể, danh-từ trừu-tượng, danh-từ tổng-hợp.
DANH-TỪ CỤ-THỂ : để gọi các vật cụ-thể, tức là những vật có thể nhận-thức được bằng các giác-quan : viết, mực, ruộng, đô-thị.
DANH-TỪ TRỪU-TƯỢNG : để gọi các vật trừu-tượng tức là các vật vô-hình, ta chỉ có thể quan-niệm trong trí-não : trí, đức, ý-kiến, cảm-tưởng, hy-vọng.
DANH-TỪ TỔNG-HỢP : để gọi từng nhóm nhiều người hay nhiều vật cùng một thứ, một loại :
- toán, nhóm, lũ, bọn, phường… để nói về người ;
- đàn, bầy… để nói về chim thú ;
- chùm, rặng, buồng, quày… để nói về cây-cối hoa-quả.
- mớ, đống… để nói về các vật nhỏ.
b) DANH-TỪ RIÊNG : dùng để gọi một vật, một con vật, một người hay một nhóm người nhứt-định : Cửu-long, Việt-nam, Giáp, Vện.
2) CÁCH VIẾT NHỮNG DANH-TỪ RIÊNG
NẾU MỘT DANH-TỪ RIÊNG GỒM CÓ HAI TIẾNG ĐƠN-VẬN, thì chỉ chữ đầu của tiếng thứ nhứt viết hoa mà thôi : Nhĩ-hà, Sài-gòn, Cao-miên.
RIÊNG VỀ CÁCH VIẾT HỌ VÀ TÊN, Việt-nam Văn-phạm 19 có vạch ra các quy-tắc :
- Nếu họ gồm hai tiếng thì chỉ chữ đầu của tiếng thứ nhứt viết hoa : Tư-mã, Gia-cát…
- Nếu tên gồm hai tiếng thì chữ đầu của cả hai tiếng đều viết hoa : Nguyên-Hãn, Công-Trứ, Xuân-Hương, Thúy-Kiều.
- Những tự, hiệu… nếu gồm hai tiếng thì chỉ chữ đầu của tiếng thứ nhứt viết hoa : Tố-như, Hưng-đạo, Khổng-minh.
- Giữa họ và tên đôi, cũng như giữa tên, họ và các tiếng đệm văn, gia, đình, bá, trọng, thúc, quí… không có gạch nối : Nguyễn Huệ, Trần Hưng-đạo, Mạc Đĩnh-Chi, Lê Thái-tổ, Gia-cát Lượng, Trần văn Tí, Đinh gia Sửu.
Thật ra, trong các quy-tắc ấy có chỗ quá tế-nhị và trong cách viết thông-thường, ta vẫn thấy :
- Tố-Như thay vì Tố-như
- Nguyễn-Huệ thay vì Nguyễn Huệ
- Lê-thái-Tổ thay vì Lê Thái-tổ.
- Nguyễn-công-Trứ thay vì Nguyễn Công-Trứ
- Trần-văn-Tí thay vì Trần văn Tí
Thực tế, trong nhiều trường-hợp, cách viết hoa hay không, có gạch nối hay không, cũng không có tác-dụng gì rõ-rệt.
II. THỂ THỨC CẤU-TẠO
Trong Việt-ngữ có rất nhiều tiếng đơn-vận có khả-năng làm danh-từ : người, vật, cây, cỏ, trời, đất, chim, cá…
Tuy-nhiên ngôn-ngữ càng ngày càng phát-triển, những tiếng đơn-vận không đủ khả-năng để mệnh-danh người và sự-vật.
Do đó, trong Việt-ngữ, càng ngày ta càng thấy nhiều danh-từ do hai hay nhiều tiếng đơn-vận ghép lại : học-đường, nhà ga, thợ đóng giày, vô-tuyến-điện.
Trong việc ghép hai hoặc nhiều tiếng đơn-vận để tạo thành danh-từ, ta nhận thấy các thể-thức sau đây :
1) HAI TIẾNG HÁN-VIỆT CHỈ NHỮNG VẬT CÙNG MỘT LOẠI VÀ Ý-NGHĨA BỔ-TÚC LẪN NHAU :
- ca-dao ( ca : bài hát có chương-khúc ; dao : những câu hát không thành chương-khúc)
- tư-tưởng ( tư : nghĩ ; tưởng : nghĩ-ngợi)
- sơn-hà ( sơn : núi ; hà : sông)
- y-phục ( y : áo ; phục : quần-áo)
2) HAI HOẶC NHIỀU TIẾNG HÁN-VIỆT TRONG SỐ ĐÓ CÓ MỘT TIẾNG CHÍNH VÀ NHIỀU TIẾNG PHỤ NGHĨA :
- ân-nhân ( nhân : tiếng chính ; ân : tiếng phụ-nghĩa).
- đại-số-học ( học : tiếng chính ; đại-số dùng chữ thay cho số : tiếng phụ-nghĩa)
- kỹ-nghệ-gia ( gia : tiếng chính ; kỹ-nghệ : tiếng phụ-nghĩa, kỹ phụ-nghĩa cho nghệ )
- hàng-không mẫu-hạm ( hạm : tiếng chính ; mẫu phụ-nghĩa cho hạm ; hàng-không phụ-nghĩa cho mẫu-hạm ).
Vì tiếng Hán-Việt được dùng làm tiếng gốc trong sự cấu-tạo tiếng Việt (những tiếng gốc ấy ta không dùng một cách đơn-độc), trong loại tiếng ghép nầy, sự phân-biệt từ-loại của mỗi tiếng không cần-thiết về phương-diện văn-phạm.
3) HAI TIẾNG NÔM CHỈ CÁC VẬT CÙNG LOẠI HỢP LẠI ĐỂ CÓ Ý-NGHĨA RỘNG HƠN : Ví dụ : quần-áo, bát-dĩa, nhà-cửa, ruộng-vườn.
4) MỘT TIẾNG NÔM CÓ NGHĨA VÀ MỘT TIẾNG ĐỆM DO TIẾNG CHÍNH NÓI TRẠI 20 : Ví dụ : nước-nôi, nết-na, cây-cối, lá-lú.
5) HAI HOẶC NHIỀU TIẾNG NÔM TRONG ĐÓ TIẾNG ĐẦU LÀ TIẾNG CHÍNH, CÁC TIẾNG SAU LÀ NHỮNG TIẾNG PHỤ NGHĨA : Ví dụ : nhà bếp, lò sưởi, đường cái, xe máy dầu, thuyền đánh cá.
6) MỘT DANH-TỪ VÀ MỘT THÀNH-NGỮ
- phường giá áo túi cơm
- kẻ rày đây mai đó
- chí tang bồng hồ thỉ
- bọn mãi quốc cầu vinh
*
CHÚ-Ý : Trong cách viết thông-dụng, giữa các tiếng ghép lại theo bốn thể-thức trước, ta để gạch nối ; giữa các tiếng ghép lại theo hai thể-thức sau cùng, không có gạch nối 21 . Có một số danh-từ gồm hai tiếng đơn-vận mà mỗi tiếng đứng riêng ngày nay ta không còn biết nghĩa : bù-nhìn, thằn-lằn, tò-vò…
III. GIỐNG ĐỰC, GIỐNG CÁI
Để phân-biệt giống đực và giống cái, Việt-ngữ có nhiều cách :
- Đặt trước các danh-từ Hán-Việt tiếng nam hay tiếng nữ : nam -thí-sinh, nữ thí-sinh, nữ -sĩ.
- Đặt trước các danh-từ Nôm một loại-từ có thể chỉ về giống : anh, chị, thầy, cô… ( anh thợ may, chị thợ may, thầy giáo, cô giáo).
- Đặt sau các danh-từ Nôm những tĩnh-từ trai, gái, đàn ông, đàn bà, đực, cái, trống, mái : học-sinh trai , học-sinh gái , thợ đàn ông , thợ đàn bà , bò đực , bò cái , gà trống , gà mái.
IV. SỐ NHIỀU – SỐ ÍT
Ta chỉ số nhiều của một danh-từ theo các cách sau đây :
1 ) Bằng một danh-từ tổng-hợp, một mạo từ 22 hay một lượng-số chỉ-định-từ :
- bọn côn-đồ (danh-từ tổng-hợp)
- các nhà hảo-tâm (mạo-từ)
- nhiều người (lượng-số chỉ-định-từ)
2 ) Bằng cách lặp lại danh-từ trong vài trường-hợp đặc-biệt :
- Ngày ngày ra đứng bờ ao… (ca dao)
- Chiều chiều chim vịt kêu chiều… (ca dao)
3 ) Dựa vào ý-nghĩa của câu mà hiểu :
- Xôn-xao ngoài cửa thiếu gì yến-anh…
- Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương. (Đoạn-Trường Tân-Thanh)
V. TÚC NGỮ CỦA DANH-TỪ
Một danh-từ có nghĩa đầy-đủ nhiều khi cần một tiếng khác thêm nghĩa cho được rõ-ràng hơn. Tiếng thêm nghĩa ấy là túc-ngữ của danh-từ :
- Nhà của anh Giáp (« anh Giáp » là túc-ngữ của danh-từ « nhà » ).
- Nước tôi (hiểu ngầm : nước của tôi ; « tôi » là túc-ngữ của danh-từ « nước » ).
CHÚ Ý : Giữa danh-từ và túc-ngữ của nó, bao giờ cũng có một giới-từ nói ra hoặc hiểu ngầm.
VI. CHUYỂN-LOẠI
Nhiều danh-từ có thể dùng làm từ-loại khác.
1 ) Những danh-từ chỉ về địa-phương, đoàn-thể hoặc những gì bao-hàm một số tính-cách chung, có thể chuyển-loại thành tĩnh-từ :
- một sự-kiện lịch-sử
- những hoạt-động xã-hội
- một công-trình văn-hóa
- sinh-hoạt nông-thôn
Các danh-từ lịch-sử, xã-hội, văn-hóa, nông-thôn đã biến thành tĩnh-từ.
2 ) Những danh-từ chỉ về hình-thể, thứ-bậc, thứ-loại, số-lượng và những danh-từ tổng-hợp có thể chuyển-loại thành loại-từ :
- miếng bánh ( miếng : hình thể)
- chú thợ may ( chú : thứ-bậc)
- hoa anh-đào ( hoa : thứ loại)
- đôi đũa ( đôi : số-lượng)
- đàn chim ( đàn : danh-từ tổng-hợp)
Các danh-từ miếng, chú, hoa, đôi, đàn đã biến thành loại-từ.
3 ) Những danh-từ chỉ về thứ-bậc (người) có thể chuyển-loại thành nhân-vật đại-danh-từ : Tôi vừa gặp anh Ất ; Anh vẫn mạnh. Danh-từ anh đã biến-thành nhân-vật đại-danh-từ.
*
TÓM-TẮT :
- Danh từ dùng để gọi tên người, động-vật và các vật.
- Có hai loại danh-từ : danh-từ chung và danh từ-riêng.
- Có thể cấu-tạo danh-từ bằng cách ghép lại hai hoặc nhiều tiếng Nôm hay tiếng Hán-Việt.
- Danh-từ có thể nhờ một túc-ngữ làm cho rõ nghĩa.
- Danh-từ có thể chuyển-loại thành tĩnh-từ, loại-từ và nhân-vật đại-danh-từ.