Đời sống càng tiến-hóa, các nhu-cầu ngôn-ngữ càng gia-tăng. Do đó để làm tròn nhiệm vụ của nó, một ngôn-ngữ phải càng ngày càng phát-triển. Con người ngày nay không thể chỉ dùng toàn những tiếng đã thông-dụng mười năm về trước.
Nhưng tùy nơi đặc-tính của mỗi ngôn-ngữ, sự phát-triển cũng phải theo đúng những lề-lối nhứt-định.
Riêng về tiếng Việt, sự phát-triển dựa vào các khả-năng sau đây :
I. CÁCH GHÉP
Để tạo thành tiếng mới, ta có thể :
1 ) Kết-hợp những tiếng gốc lấy trong tiếng Hán-Việt (đây là một hiện-tượng tương-tợ như việc người Pháp dùng những tiếng La-tinh, Hy-lạp làm tiếng gốc). Ví-dụ : giám-đốc, quan-sát, phóng-khoáng .
Điều nên CHÚ-Ý là những tiếng Hán-Việt dùng làm tiếng gốc ấy, ta không dùng riêng từng tiếng, ngoại-trừ trường-hợp của những tiếng có thể dùng làm tiếng Nôm. Ví-dụ : ta sẽ không dùng một cách đơn-độc : giám (với nghĩa trong « giám-đốc » ) sát và quan (với nghĩa trong « quan-sát » ), khoáng (với nghĩa trong « phóng-khoáng » ).
Các tiếng đốc (« ông đốc », « bà đốc ») phóng (« phóng tầm mắt », « phóng dao ») dùng đơn-độc đã biến thành tiếng Nôm.
2 ) Liên-kết những tiếng Nôm đơn-độc đã thông-dụng. Ví-dụ : nhà bếp, lái đò, tươi-tỉnh, ăn-nói, buôn-bán, núi-non.
Theo cách viết thông dụng hiện thời, giữa hai tiếng Nôm ghép lại để làm một danh-từ, ta không thấy cái gạch nối (mặc dầu giữa hai tiếng Nôm ghép lại để làm một tĩnh-từ hay một động-từ, luôn luôn có gạch nối). Đó chỉ là một sự nghịch-thường về chính-tả. Ta có thể hợp-lý-hóa cách viết bằng cách dùng gạch nối cho các tiếng như đàn bà, thợ may, lò đường … nhưng không nên dựa vào sự có gạch nối hay không trong chính-tả thông-dụng, để cho rằng phải là tiếng ghép hay không phải. So-sánh :
- học-sinh (Hán-Việt) và học trò (Nôm)
- học-đường (HánViệt) và trường học (Nôm)
- ấn-công (Hán-Việt) và thợ nhà in (Nôm).
Không lý-do gì để cho rằng học trò chẳng hạn là hai danh-từ riêng-rẽ, khi ta đã xem học-sinh là một danh-từ duy-nhứt.
Ta biết rằng trong tiếng Pháp chẳng hạn, cái quan-niệm « tiếng-ghép » đã rõ-ràng và nhứt-trí hơn trong tiếng ta nhiều. Thế mà người Pháp vẫn viết pomme de terre, eau de lavande, faire part … không có gạch nối, mặc dầu họ cho đó là những tiếng ghép (trong Nghị-định ngày 26-2-1901 của Tổng-Trưởng Bộ Quốc-gia Giáo-dục Pháp ấn-định những chỗ được tha-thứ (tolérances) về chính-tả cũng có định rõ : các danh-từ ghép (noms composés) sẽ luôn luôn có thể viết không gạch nối)
3 ) Liên-kết phần chính của hai tiếng Hán-Việt đã thông-dụng. Ví-dụ : Ủy-viên tuyên-huấn : « tuyên » là phần chính của tiếng « tuyên-truyền » và « huấn » là phần chính của tiếng « huấn-luyện » đã thông-dụng trong Việt-ngữ.
Vì hình-thức ngắn, ít vần là một đặc-tính của tiếng Việt, thế nên, khi cần kết-hợp nhiều tiếng để tạo một tiếng mới, ta thường áp-dụng cách này :
- Phi-cơ oanh-tạc : oanh-tạc-cơ
- Ủy-ban kinh-tế tài-chánh : ủy-ban kinh-tài
- Quân-sự và hành-chánh : quân-chánh.
Điều nên CHÚ-Ý là các tiếng được lấy phần chính để ghép như thế phải là những tiếng đã thông-dụng. Nếu không, ta sẽ tạo nên những tiếng tối nghĩa, khó hiểu.
4 ) Ghép tiếng đệm vào một tiếng Nôm đã có. Ví-dụ : ầm-ầm, đo-đỏ, lạnh-lùng, mập-mờ, lủng-ca lủng-củng.
Trong các ví-dụ vừa kể, « ầm » , « đo », « l ù ng », « mập », « lủng-ca », là những tiếng đệm. Đứng riêng ra, chúng không có nghĩa gì cả. Chúng chỉ là những hình-thức nói trại 8 của các tiếng chính (ầm, đỏ, lạnh…) ghép vào để làm cho mạnh thêm hay nhẹ bớt ý-nghĩa của các tiếng ấy.
Về phương-diện ý-nghĩa, tiếng đệm có thể :
a) hoặc là làm cho mạnh thêm hay tổng-quát hơn ý-nghĩa của tiếng chính :
- cây-cối, lá-lú, chạy-chọt, nói-năng (tổng-quát hơn)
- sạch-sành-sanh, mướt-mượt, trắng-xác, sáng-sủa (mạnh hơn)
b) hoặc là làm cho nhẹ bớt ý-nghĩa của tiếng chính : trăng-trắng, ngập-ngừng, lành-lạnh.
c) hoặc là để chuyển nghĩa tiếng chính. Ví-dụ :
- gió lạnh – vẻ mặt lạnh-lùng
- cụ già – người già-giặn
- mảnh vườn con – chuyện cỏn-con
d) hoặc là để phân-biệt hai nghĩa khác nhau của một tiếng :
NGHĨA ĐEN – NGHĨA BÓNG
- Trái non-xèo – sức học non-nớt
- già-khù – già-giặn
- trẻ-bâng – trẻ-trung
Ở phương-diện hình-thức, tiếng đệm tùy-thuộc tiếng chính về âm, vần và thinh. Sự tùy-thuộc ấy theo đúng lề-lối của cách nói trại. Ví-dụ : Nếu tiếng chính thuộc thinh bổng, tiếng đệm cũng thuộc thinh bổng : lửng-lơ, mới-mẻ, nho-nhỏ.
Trong các trường-hợp kể trên, ta cũng đã thấy rằng tiếng Nôm phải ghép với tiếng Nôm, tiếng Hán-Việt với tiếng Hán-Việt. (Tiếng Hán-Việt ghép với tiếng Nôm là một ngoại-lệ).
Ngoài ra, về phương-diện ý-nghĩa, các tiếng được ghép lại có thể có giá-trị tương-đương với nhau hay tiếng này bổ-túc hoặc đổi nghĩa tiếng kia :
- hoạt-động, tu-chỉnh, đào tạo, tươi-đẹp, yên-vui, bát-đĩa, trâu-bò (các tiếng ghép lại có giá-trị ngang nhau về ý-nghĩa).
- tập-sự, thức-thời, vị-tha, ái-quốc, nhà bếp, phòng ăn, thợ-mộc (tiếng sau thêm nghĩa cho tiếng trước).
- thính-giả, ân-nhân, thiện-chí, hảo-tâm (tiếng trước thêm nghĩa cho tiếng sau).
- trắng-nhách, xanh-rì, dễ-dàng (tiếng sau thay-đổi nghĩa của tiếng trước).
- vô-lễ, phi-nghĩa, bất nhân, đo-đỏ, mập mờ (tiếng trước thay-đổi nghĩa của tiếng sau).
Khi ghép các tiếng không có giá-trị ngang nhau về ý-nghĩa, nên chú ý rằng tiếng Nôm theo ngữ-pháp đặt xuôi, tiếng Hán-Việt theo ngữ-pháp đặt ngược. Ví-dụ :
- ân-nhân, hảo-tâm : tiếng Hán-Việt ; các tiếng chỉ-định « ân » và « hảo » đứng trước các tiếng được chỉ-định, « nhân » và « tâm ».
- người ân, lòng tốt : tiếng Nôm ; các tiếng chỉ-định, « ân » và « tốt » đứng sau các tiếng được chỉ-định, « người » và « lòng ».
*
CHÚ-Ý : Theo một quan-niệm thông thường, những tiếng nào gồm có nhiều tiếng đơn-vận kết-hợp lại đều được gọi là tiếng ghép. Trong quyển Việt-Nam Văn - phạm (của Trần-Trọng-Kim, Bùi-Kỷ, Phạm Duy Khiêm hợp soạn) chẳng hạn, khi đề-cập đến cách thành lập tĩnh-từ ghép, ta thấy kể các tỷ-dụ như :
- thông-minh : tĩnh từ + tĩnh từ
- phong-trần : danh-từ + danh-từ
- vô-nhân-đạo : tiếng vô + danh-từ
- mê-mẩn : tiếng có nghĩa + tiếng-đệm.
Thật ra, « thông » và « minh », « phong » và « trần » là những tĩnh-từ, danh-từ trong chữ Hán. Việt-ngữ không bao giờ dùng thông, minh đơn-độc làm tĩnh-từ, cũng không bao giờ có danh-từ phong , danh-từ trần . Ta chỉ nên xem đó là những tiếng gốc mà ta lấy trong tiếng Hán-Việt để ghép lại, tạo thành các tĩnh-từ thông-minh, phong-trần (cũng như Pháp-ngữ dùng những tiếng gốc Hy-lạp và La-tinh : géographie : géo + graphia , cả hai đều là tiếng Hy-lạp, automobile : auto, Hy-lạp + mobile , gốc La-tinh).
Các tiếng vô và mẩn trong mấy tỷ-dụ kể trên không thể thuộc về một từ-loại, mà chỉ có tác-dụng như những tiếp-đầu-tự (tiếng Pháp : préfixe ), và tiếp-vĩ-tự (tiếng Pháp : suffixe ).
Tiếng vô có ý-nghĩa và tác-dụng giống hệt như tiếp-đầu-tự in của Pháp-ngữ ; tiếng mẩn , tuy không có nghĩa riêng và chỉ được dùng với một tĩnh-từ nhất-định, nhưng đối với ý-nghĩa tiếng mê , nó có tác-dụng giống như tiếp-vĩ-tự issime trong richissime chẳng hạn (tác-dụng làm mạnh thêm nghĩa tiếng gốc).
Trong tiếng Pháp chẳng hạn, không ai gọi những tiếng inhumain, noirâtre, coiffeur, récitation, là những tiếng ghép. Trong tiếng Anh cũng thế : unreasonable (gồm có : un + reason + able ), unwillingly gồm có : un + will + ing + ly ) không phải là tiếng ghép.
Để cho được hợp-lý và nhất là tránh những phiền-phức vô-ích khi bắt học-sinh học những danh-từ, động-từ, tĩnh-từ… Hán-Việt (luôn luôn dùng ghép) chúng tôi đề-nghị :
1 ) Chỉ những tiếng có nghĩa và khi dùng đơn-độc thuộc một từ-loại nhứt-định trong Việt-ngữ ghép lại mới tạo-thành một tiếng ghép.
2 ) Các tiếng do những tiếng gốc Hán-Việt hợp thành hoặc tạo nên bởi một tiếng chính và một hay nhiều tiếng đệm không nên kể là tiếng ghép (với cái nghĩa mot composé của tiếng Pháp). Có thể gọi đó là những tiếng phức-vận (hay đa-vận). Ví-dụ :
- Thợ đóng giày : tiếng ghép vì gồm ba tiếng « thợ », « đóng », « giày » mỗi tiếng đều có nghĩa riêng và thuộc một từ-loại nhứt-định trong Việt-ngữ.
- Ủy ban kinh-tài : kinh-tài là tiếng ghép vì gồm hai tiếng « kinh-tế » và « tài-chánh » mỗi tiếng có nghĩa riêng và thuộc một từ loại nhứt-định trong Việt-ngữ.
- Huấn-đạo : không phải danh từ ghép mà là một danh-từ tạo nên bởi hai tiếng gốc Hán-Việt, vì không thể dùng riêng các tiếng huấn và đạo trong Việt ngữ.
- Đo-đỏ không phải tĩnh-từ ghép vì « đo » chỉ là một tiếng đệm có tác-dụng làm nhẹ bớt ý-nghĩa của tĩnh-từ « đỏ », chứ không thuộc một từ loại nào trong Việt-ngữ.
II. CÁCH NÓI TRẠI
Để tạo nên tiếng Nôm, ta đã nói trại rất nhiều tiếng Hán-Việt và một số ngoại-ngữ khác. Nói trại tức là nói lơ-lớ, không đúng hẳn cách phát-âm, tức là sửa-đổi ít nhiều âm-thinh của một tiếng chính. Ví-dụ :
- nhà ga : do tiếng Pháp gare
- con vít : do tiếng Pháp vis
- (mẹ) ghẻ : do tiếng Hán-Việt kế (mẫu)
- lời, lãi : do tiếng Hán-Việt lợi .
Sự nói trại có nguyên nhân trong những điều-kiện địa-lý, sinh-lý và tâm-lý.
Nhiều khi, cùng nói chung một ngôn-ngữ, nhưng người ở miền này phát-âm khác với người ở miền kia. Ví-dụ :
- Người Việt miền Nam, miền Trung, và miền Bắc ; người Tàu ở Quảng-đông, Phước-kiến, Thượng-hải, Bắc-kinh ; nguời Anh và người Mỹ, tuy cũng dùng chung một ngôn-ngữ, nhưng cách phát-âm không giống nhau ở nhiều tiếng.
- Nhiều người Việt đã từng du-học lâu năm bên Pháp mà nói tiếng Pháp vẫn không đúng như người Pháp : « bộ máy phát-âm » của họ không có khả-năng tạo nên những âm-vận đặc-biệt của Pháp-ngữ. Đó là một yếu tố thuộc về sinh-lý.
- Có lẽ do khí-hậu thuận-tiện, đất-đai phì-nhiêu, dễ sinh sống, mà phần nhiều người Việt miền Nam có tính ít hay chịu khó. Sự ít chịu khó ấy biểu-hiện trong ngôn-ngữ. Người Việt miền Nam phát-âm sai những âm, vần và thinh khó phát âm, thường đọc sai và viết sai các vần ay, iêm, iếp, uôi, ươi, ươu … các âm v, gi, qu… các thinh « hỏi ngã » chẳng hạn. Sự ít chịu khó là một yếu-tố thuộc về tâm-lý.
Bởi có nguyên-do trong những điều-kiện nhứt-định, nên sự nói trại cũng sửa-đổi cách phát-âm đúng theo những lề-lối nhứt-định.
Nguyên-tắc căn-bản của lối nói trại là luật tương-đồng đối-ứng : những âm khởi đầu (nguyên-âm và phụ-âm) và những vần cùng một loại biến-đổi lẫn nhau ; những thinh cùng bậc (bổng hay trầm) biến-đổi lẫn nhau. Ví dụ :
- thinh chuyển ra tiếng : th và t cũng thuộc loại phụ-âm nướu ; các vần inh và iêng cùng một loại : các thinh không và sắc cùng thuộc bậc bổng.
- Trào chuyển ra giễu : tr và gi đều là những phụ-âm cúa ; các vần ao và iêu cùng một loại ; các thinh huyền và ngã cùng thuộc bậc trầm.
Riêng về chính-tả của các tiếng đệm, cũng nên CHÚ-Ý đến luật tương-đồng đối-ứng về tất cả ba phương-diện âm, vần và thinh. Sự áp-dụng dễ tìm thấy nhứt và ích-lợi thiết-thật nhứt là sự tương-đồng về thinh : hễ tiếng chính thuộc thinh bổng (sắc, hỏi, không) thì tiếng đệm cũng thuộc thinh bổng ; hễ tiếng chính thuộc thinh trầm (huyền, ngã, nặng) thì tiếng đệm cũng thuộc thinh trầm. Ví dụ : dễ-dàng, lở-lói, hỗn-hào, sửa-sang .
*
MỘT TRƯỜNG-HỢP ĐẶC-BIỆ T : Một trường-hợp đặc-biệt của cách nói trại là sự nói ríu . Trong Việt-ngữ có nhiều tiếng thường dùng chung với nhau. Khi nói, theo đúng xu-hướng rút gọn, ta thúc-vần và thay-đổi âm-thinh để biến-đổi những tiếng ấy thành một tiếng duy-nhứt. Ví-dụ :
- ông + ấy thành ổng.
- bên + ấy thành bển
- hồi + nãy + đến + giờ thành hỗi giờ
Trong số tiếng tạo nên do cách nói ríu, có những tiếng dễ nhận-thấy căn-nguyên, có những tiếng vì đã biến-đổi lâu đời mà nguồn-gốc không còn thấy rõ. Dễ nhận thấy :
- ngoài + ấy = ngoải
- đằng + ấy = đẳng
- người + ấy = nghỉ
- Khó thấy hơn :
- a + giao = keo
- cổ + phần = hùn
- tài + xảo = giỏi
- cơ + trữ = cửi (khung cửi)
- bí + tất = vớ
Trong trường-hợp này, luật tương-đồng đối-ứng vẫn có tác dụng.
Theo ông Lê-ngọc-Trụ : 9
1 ) Khi hai tiếng khác âm-giai, tiếng còn lại thuộc bậc bổng. Ví dụ :
- ấu + trĩ = trẻ ( ấu : bổng ; trĩ : trầm ; tiếng còn lại : bổng)
- bà + ấy = bả ( bà : trầm ; ấy : bổng ; tiếng còn lại : bổng)
2 ) Khi hai tiếng đồng âm-giai, tiếng còn lại giữ bậc bổng hay trầm chung của hai tiếng đã bị thúc. Ví-dụ :
- năm + ấy = nẳm ; hôm + ấy = hổm (bổng)
- đề + lại = thầy ; lừng -khừng + thật- thà = khật
(Dĩ-nhiên các nguyên-tắc trên đây phải nhận nhiều ngoại-lệ. Chẳng hạn : cổ + phần = hùn ; miên + khâm = mền …)
Nói chung, dựa vào luật tương-đồng đối-ứng có thể tìm từ-nguyên của nhiều tiếng đã tạo nên bằng cách nói trại. Nhờ đó sẽ biết rõ ý-nghĩa và chính-tả hợp-lý của các tiếng ấy.
III. CÁCH ĐỔI NGHĨA
Ở đây ta không đề-cập đến những tiếng có ý-nghĩa đặc biệt tùy trường-hợp sử dụng. Ta chỉ nói về những tiếng mà nghĩa đã thay-đổi hẳn.
Sự thay-đổi nghĩa này đại-để có ba nguyên-nhân. Chính các nguyên-nhân ấy quyết-định ý-nghĩa hiện-thời của các tiếng đã thay-đổi :
1 ) Các sự vật đã theo trào-lưu tiến-hóa của dân-tộc mà thay-đổi. Các tiếng đã có sẵn trước, do đó, cũng phải đổi nghĩa để dùng. Ví-dụ :
- Đồng-hồ : ngày xưa là cái hồ bằng đồng đựng nước có ghi những mức chỉ thời-khắc : « Mắt chưa nhắp đồng-hồ đã cạn » (Cung-Oán Ngâm-Khúc). Ngày nay cái máy chỉ thời-khắc không phải là « hồ bằng đồng » nữa, mà vẫn được gọi bằng tên cũ.
- Lái : ban đầu chỉ việc (hay người) cầm bánh lái để điều-khiển chiếc thuyền. Về sau, có lẽ trong lúc phương-tiện chuyên-chở còn thô-sơ, người đi buôn tự mình lái chiếc thuyền chở hàng của mình. Do đó có danh-từ chú lái ( lái heo, lái đò cũng trong nghĩa ấy). Về sau nữa, khi đã có xe hơi, ta nói : lái xe mặc dầu xe hơi không phải điều-khiển bằng bánh lái . Hiện thời, ta cũng dùng tiếng lái để chỉ người có óc con buôn : lái giấy .
2 ) Vì thường được dùng theo nghĩa bóng, nhiều tiếng đã mất hẳn nghĩa đen mà chỉ còn nghĩa bóng. Ví-dụ :
- Lời trăng-gió , không phải là những lời nói với nhau trong cảnh có trăng có gió (mà là những lời tình-tự không đứng-đắn) : « Phải phường trăng-gió vật vờ hay sao ? » (Đoạn-Trường Tân-Thanh).
- Chuyện hàn-huyên không phải là chuyện ấm-lạnh (mà là những chuyện thân-mật giữa bạn-bè hay người thân-thuộc).
- Cõi-trần không phải là nơi có nhiều bụi (mà là cõi đời nói chung, không cần phải hiểu theo quan-niệm đời là bể-khổ cũng được).
3 ) Nhiều tiếng Hán-Việt bị hiểu sai. Lâu dần cái nghĩa hiểu sai được phổ-biến hơn nghĩa tinh-xác và do đó được công-nhận là nghĩa đúng. Ví dụ :
- Quốc-ngữ (trong câu « quốc-ngữ là chữ nước ta » chẳng hạn) không phải là ngôn-ngữ của một nước mà là một thứ chữ viết, lối viết tiếng ta bằng mẫu-tự la-tinh thông-dụng hiện-thời.
- Quá-giang ( tôi quá-giang xe của một anh bạn đến đây , chẵng hạn) không có nghĩa là qua sông, mà là đi nhờ một đoạn đường trên… xe của người khác (không cần phải đi thuyền, cũng không bắt buộc phải đi ngang sông, cho dẫu là trên một cây cầu).
Sự đổi nghĩa theo cách sau này thường do những người thất-học, những người không thông chữ Hán tạo nên.
Trong ngôn-ngữ hằng ngày của một số người (người thất-học, cũng như những trí-thức không trau-giồi tiếng Việt), có những tiếng Hán-Việt dùng sai vì hiểu không đúng. Sự hiểu sai ấy nếu được phổ-biến rộng rãi sẽ tạo ra một sự thông-dụng mà mọi người phải kính-nể, mặc dầu nó không hợp-lý. Đó là một điều bất lợi cho sự phát-triển của ngôn ngữ.