Ở đây ta sẽ chỉ xét qua những đặc-tính của Việt-ngữ liên-quan mật-thiết nhứt với văn-phạm.
I. TIẾNG VIỆT THEO NGỮ-PHÁP ĐẶT XUÔI
Ta nói rằng một ngôn-ngữ theo ngữ-pháp đặt xuôi khi nào trong ngôn-ngữ ấy trật-tự thông-thường là tiếng chỉ định đứng sau tiếng được chỉ định (chỉ-định nghĩa là làm cho rõ nghĩa). Ví dụ :
- Tiếng Việt : áo đen ( đen ; tiếng chỉ-định ; áo : tiếng được chỉ-định).
- Tiếng Pháp : veste noire ( noire : tiếng chỉ-định : veste : tiếng được chỉ-định).
- Tiếng Trung-hoa : hắc-y ( hắc : tiếng chỉ-định ; y : tiếng được chỉ-định).
- Tiếng Anh : black coat ( black : tiếng chỉ-định, coat : tiếng được chỉ-định).
« Tiếng Việt và tiếng Pháp theo ngữ-pháp đặt xuôi.
Hoa ngữ và Anh-ngữ theo ngữ-pháp đặt ngược. »
Cần CHÚ-Ý đến đặc-tính nầy trong việc sử dụng tiếng Hán-Việt.
Trong mệnh-đề, trong câu, trật-tự tiếng Trung-hoa giống với trật-tự tiếng Việt-Nam. Nhưng về vị trí tương-đối giữa danh từ và những tiếng chỉ-định nó (tĩnh-từ và túc-ngữ của danh-từ). Hoa-ngữ theo lối đặt ngược trong khi Việt-ngữ theo lối đặt xuôi.
Khi dùng những tiếng gốc Hán-Việt để cấu tạo tiếng, nếu giữa những tiếng gốc ấy có phần chỉ-định và phần được chỉ-định, ta phải theo ngữ-pháp đặt ngược của Hoa-ngữ. Ví-dụ :
- dân-tâm ; dân chỉ-định tâm (tiếng Nôm : lòng dân )
- sinh-tồn chủ-nghĩa : sinh-tồn chỉ-định chủ-nghĩa .
Dựa vào đặc-tính theo ngữ-pháp đặt xuôi của tiếng Việt, ta sẽ thấy rằng dân-tâm là một tiếng duy-nhứt, sinh-tồn chủ-nghĩa cũng là một tiếng duy-nhứt. Vì nếu d ân và tâm là hai tiếng dùng chung, thì theo đúng đặc-tính của Việt-ngữ, tiếng dân chỉ-định tiếng tâm phải đứng sau tiếng ấy. Nếu sinh-tồn và chủ-nghĩa là hai danh-từ dùng chung, thì tiếng sinh-tồn chỉ-định tiếng chủ-nghĩa phải đứng sau tiếng ấy, theo đặc-tính của Việt-ngữ.
Cũng dựa vào đặc-tính theo ngữ-pháp đặt xuôi của tiếng Việt, ta sẽ có một quan-niệm dứt-khoát về vị-trí tương-đối của hai tiếng Hán-Việt mà tiếng nầy chỉ-định tiếng kia. Ví-dụ : ta nói : « chế-độ dân-chủ » , mà không nói : « dân-chủ chế-độ » . Chế-độ và dân chủ là hai tiếng đã thông-dụng, thuộc những từ-loại nhứt-định trong Việt-ngữ ( chế-độ : danh-từ ; dân-chủ : tĩnh-từ). Khi dùng tiếng dân-chủ để chỉ-định tiếng chế-độ, ta phải theo ngữ-pháp đặt xuôi của tiếng Việt.
Tóm lại, trong phạm-vi của một tiếng duy-nhứt cấu-tạo bởi những thành phần Hán-Việt, ta theo ngữ-pháp đặt ngược. Nhưng giữa hai tiếng có khả-năng của một từ-loại nhất-định trong Việt-ngữ (Hán-Việt cũng như Nôm), ta phải theo ngữ-pháp đặt xuôi.
*
CHÚ Ý : Trong văn-chương, đôi khi để làm rõ ý, ta có thể dùng phép nghịch-đảo (đảo-ngữ) : tiếng chỉ-định đặt trước tiếng được chỉ-định. Ví-dụ : « Trắng răng đến thuở bạc đầu… » (Cung-Oán Ngâm-Khúc). Đó là những trường-hợp ngoại-lệ.
II. HÌNH-THỨC CỦA NHIỀU TIẾNG THAY ĐỔI TÙY NƠI Ý-NGHĨA
Trong Việt-ngữ có nhiều tiếng đơn-vận có thể thuộc về một từ-loại nhứt-định, nhưng ý-nghĩa lại quá khái-quát. Dùng đơn-độc như thế chúng không có một ý-nghĩa rõ-ràng đầy-đủ. Ví-dụ :
Bàn nghĩa rất khái-quát :
- Giáp để tập trên bàn .
- Bàn nào chưa góp bài ?
- Trong bữa tiệc ấy, ông trả mỗi bàn bao nhiêu ?…
- Bịnh-nhân vừa lên bàn.
Tuỳ nơi ý-nghĩa cần diễn-giải, ta sẽ nói : cái bàn, bàn học, bàn viết, bàn ăn, bàn mổ. Trắng cũng thế, nghĩa nó rất khái-quát. Tùy trường-hợp của ý-nghĩa cần phô-diễn, ta sẽ nói : trắng-xác, trắng-nõn, trắng-chợt, trắng-nhách, trắng- đ ờ, trăng-trắng…
Tiếng Việt có tính-cách cụ-thể, mà đời sống lại càng ngày càng tiến-hoá khiến ngôn-ngữ phải phát-triển một cách thích-ứng 10 . Thế nên số tiếng dùng đơn-độc càng ngày càng ít. Ta phải ghép vào các tiếng ấy một hoặc nhiều tiếng phụ đặt sau hay trước. Ví-dụ : với động-từ đi ta có : đi ra, đi vào, đi lên, đi xuống, đi qua, đi lại, đi theo, đem đi, ra đi, lại đi…
Nếu quan-niệm rằng mỗi tiếng có hình thức nhứt-định, ta sẽ cho rằng các động từ ra, vào, lên, xuống trong ví-dụ kể trên đã biến-thành trạng-từ. Điều ấy vừa không hợp-lý, vừa phiền-phức, vừa vô-ích.
Không hợp-lý là vì trạng-từ chỉ thêm một « màu sắc » đặc-biệt cho ý-nghĩa của động-từ.
Trong ví-dụ kể trên, ta thấy một sự phối-hợp chặt-chẽ hơn giữa ý-nghĩa của động-từ đi và các động-từ ra, vào, lên, xuống.
So-sánh : không đi, đi mau (không và mau là trạng từ) với ra đi, đi theo chẳng hạn.
Phiền-phức là vì sẽ không tránh khỏi những cách phân-tích độc-đoán (mỗi người theo một cách mà ai cũng có thể nói hữu-lý cả). Ví-dụ :
- Trong đem đi, « đi » là trạng từ : trong lại đi, « lại » là trạng-từ (đứng trước động-từ). 11
- Nhưng trong ra đi chẳng hạn, tiếng nào sẽ là trạng-từ ?
- Nếu hiểu ra đi : bước ra để đi, tiếng « đi » sẽ phụ-thuộc vào động từ « ra » và « đi » sẽ là trạng-từ.
- Nếu hiểu ra đi : khởi sự đi, tiếng « ra » sẽ phụ-thuộc vào động từ « đi » và « ra » sẽ là trạng từ.
Sự phiền-phức nầy lại hoàn-toàn vô-ích về phương diện văn-phạm.
Về phương diện văn-phạm, ta chỉ cần hiểu rằng hai tiếng ra đi chẳng hạn kết-hợp lại để biểu-diễn một động-tác duy-nhứt. Vậy đó là một động từ. (Nếu cần phải cho đó là một động từ ghép và nói rõ thành-phần của nó, ta sẽ nói rằng động-từ ấy gồm có hai động-từ « ra » và « đi » ghép lại).
Không những vô-ích, sự phân-biệt phiền-phức nói trên còn gây ra lẫn-lộn : Động-từ ra đi, nếu hiểu tách rời làm động-từ ra và trạng-từ đi, sẽ lẫn lộn với ra đi trong câu khuyến-lệnh ( ra đi, vào đi, nín đi). Chính trong câu khuyến-lệnh, mới phải hiểu tách rời :
- ra , động-từ
- đi , trợ động-từ
Trong Pháp-ngữ và Anh-ngữ ta đã quen với những tiếng có hình thức nhứt-định chỉ thay-đổi theo quy-tắc văn-phạm nhứt-định (về giống cái, giống đực, số nhiều, số ít chẳng hạn). Các ngôn-ngữ ấy cũng dùng cách ghép (tiếng Pháp : composition và cách đổi vần sau (tiếng Pháp : dérivation) để phát-triển). Nhưng các tiếp-đầu-tự, tiếp-vĩ-tự được dùng đều có những hình-thức nhứt-định và không phải bất-cứ lúc nào cũng có thể ghép hay cho đổi vần sau để tạo tiếng mới được.
Đó là một điểm dị-đồng quan-trọng giữa Việt-ngữ và các ngôn-ngữ kể trên.
Với tiếng Hán-Việt, ta dùng một số tiếp-đầu-tự và tiếp-vĩ-tự có hình-thức nhứt-định.
- Tiếp-đầu-tự : vô, phi, bất, đại, tiểu… (vô-lý, phi-nghĩa, bất-hiếu…)
- Tiếp-vĩ-tự : nhân, giả, sĩ, gia, hoá… (ân-nhân, khán-giả, nhạc-sĩ, kỹ-nghệ-gia, thi-vị-hoá…)
Nhưng với các tiếng Nôm, những thành-phần có tác dụng như tiếp-đầu-tự, tiếp-vĩ-tự lại không có hình-thức nhứt-định và, tuỳ trường-hợp, có thể dùng hay không dùng cũng được. Ví-dụ :
1 ) Với mỗi tĩnh-từ, có những thành-phần ghép khác :
- đo -đỏ, đỏ- lòm , đỏ- chót , đỏ- chạch , đỏ- hoét …
- vàng -vàng, vàng- khè , vàng- hực , vàng- mơ …
(Đối-chiếu với tiếng Pháp : rougeâtre, blanchâtre, jaunâtre, rougir, blanchir, jaunir : các tiếp-vĩ-tự có hình-thức nhứt-định)
2 ) Những thành-phần ghép có thể dùng hay không tuỳ trường-hợp :
- thêm vào, bớt ra hay : thêm, bớt
- nó đóng cửa lại hay : nó đóng cửa
- mở cửa ra hay : mở cửa
(Trong các tiếng Anh, Pháp, các tiếp-đầu-tự và tiếp-vĩ-tự không thể « rứt ra » như thế được).
Dựa vào đặc-tính nầy của tiếng Việt, ta sẽ đơn-giản-hoá được sự phân-tích từ-loại, nhứt là trong trường-hợp của các danh-từ. Ví-dụ : (với quan-niệm mỗi tiếng đơn-vận thuộc một từ-loại nhứt-định)
- Sự thiệt-hại : Sự : danh-từ chung . thiệt-hại : danh-từ ghép, chỉ-định sự . 12
- Quyển sách : quyển : danh-từ , sách : danh-từ, chỉ-định danh-từ quyển .
Cho rằng sự và quyển là những danh từ được chỉ-định bởi các danh-từ thiệt hại và sách, như thế, không ích-lợi gì về phương-diện văn-phạm cả. Hơn nữa, đó lại là một điều không hợp-lý.
Khi nói : anh sẽ tránh được nhiều sự thiệt-hại, và quyển sách nầy đẹp quá, chẳng hạn , ta hiểu rằng sự thiệt-hại là túc-ngữ của động-từ tránh, quyển sách là chủ ngữ của mệnh-đề quyển sách này đẹp quá (không cần tách riêng ra : sự, túc ngữ của động-từ tránh : thiệt-hại, chỉ định danh-từ sự ; quyển chủ-ngữ của mệnh-đề ; sách, chỉ định danh-từ quyển).
Sự tách riêng từng tiếng lại không hợp-lý vì sự thiệt-hại cũng như quyển sách chỉ dùng để mệnh-danh một vật duy-nhứt. (So-sánh với sách địa-lý, chẳng hạn, nghĩa là : sách để học địa-lý ; hai tiếng sách và địa-lý mệnh-danh hai vật khác nhau. Bấy giờ ta sẽ nói rằng danh-từ địa-lý chỉ-định danh-từ sách ).
Dựa vào đặc-tính về hình-thức không nhứt-định của những tiếng trong Việt-ngữ, ta sẽ hiểu rằng :
- Thiệt-hại là một danh-từ. Để cho ý-nghĩa của danh-từ ấy được cụ-thể hơn, ta ghép thêm tiếng sự vào và có danh-từ sự thiệt hại.
- Sách là một danh-từ. Nhưng ý-nghĩa của nó quá khái-quát ( viết sách, bán sách…) Để cho tiếng ấy gợi được một hình-dáng rõ-ràng, ta ghép vào nó danh-từ quyển để có danh-từ quyển sách (có thể cho là một danh-từ ghép, chẳng hạn)
Bởi hình-thức các tiếng có thể thay-đổi tuỳ trường-hợp, khi nghiên-cứu về một từ-loại, ta sẽ xét thể-thức cấu-tạo riêng của nó.
III. NHIỀU TIẾNG CÓ THỂ CHUYỂN-LOẠI
Mỗi tiếng dùng trong Việt-ngữ đều thuộc về một từ-loại căn-bản. Nhưng tùy trường-hợp sử-dụng, từ-loại căn-bản của tiếng có thể biến-đổi sang một từ-loại khác. Ví-dụ : hoạt-động căn-bản là một động-từ : ông ấy chỉ hoạt-động về văn-hoá.
Nhưng từ-loại ấy đã biến-chuyển trong các ví-dụ sau đây :
- Hội-viên hoạt-động của Hội truyền-bá Quốc-ngữ (hoạt-động : tĩnh-từ).
- Đó là những hoạt-động có hại cho trật-tự công-cộng (hoạt-động : danh từ).
Nhiều khi trong sự chuyển-loại ta ghép thêm một thành-phần phụ vào tiếng chính (nhất là trong trường-hợp động-từ và tĩnh-từ biến thành danh-từ). Ví dụ :
- siêng-năng (tĩnh-từ)
- sự siêng-năng (danh-từ)
- hy-sinh (động-từ)
- đức hy-sinh (danh-từ)
- bầu-cử (động-từ)
- cuộc bầu-cử (danh-từ)
Nhưng sự ghép thêm thành-phần phụ ấy, trong nhiều trường-hợp, không phải là điều cần-thiết. Do đó phải dựa vào ý-nghĩa và tác-dụng văn-phạm của mỗi tiếng mà quy-định từ-loại của nó.
- Anh ấy rất chậm-chạp ( chậm-chạp : tĩnh-từ)
- Anh ấy nói-năng chậm-chạp ( chậm-chạp : trạng-từ)
- Ta học để hiểu biết ( để = giới-từ)
- Tôi nói rõ để các anh khỏi ngộ-nhận ( để : phụ-thuộc liên-từ)
Ta sẽ thấy rằng những từ-loại có ít nhiều tương-đồng về ý-nghĩa và nhiệm-vụ văn-phạm mới biến-đổi lẫn nhau. Chẳng hạn : danh-từ, loại-từ và đại-danh-từ ; danh-từ, tĩnh-từ và động-từ ; giới-từ và liên-từ…