Về Nhà

Lượt đọc: 2496 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
không làm chén trà đầy

Khoảng 10 rưỡi sáng nay, có hai sư cô trẻ đưa một thanh niên tầm 18 tuổi đến xin ở chùa trong lúc đi học cao đẳng. Hai sư cô ở chùa trên phố; đều trẻ, ăn nói nhỏ nhẹ, dáng đi thanh thoát, khuôn mặt xinh xắn, mắt sáng và hiền. Cậu thanh niên mặc áo phông màu nõn chuối, đi một cái xe máy màu vàng, tóc cắt gọn gàng, có khuôn mặt đẹp trai - tên là Huy. Huy sẽ vào ở nhờ trong chùa ba năm cho đến lúc học hết cao đẳng.

Trưa nay cơm chay có đậu phụ, rau muống luộc, củ măng xào, và sung muối. Ăn cơm rất ngon. Huy ngồi gần chỗ tôi, ăn nhỏ nhẻ. Hai bà già ngồi cạnh tôi nhìn Huy, chép miệng:

“Chịp, gớm cái chú này cứ như con gái mới về nhà chồng nhỉ.”

“Ỏn ẻn thế không làm được việc thì thầy lại vụt cho hoặc bắt quỳ hương.”

“Giống như hôm trước bà này bị thầy bắt quỳ hương này.”

“Tôi bị bắt quỳ bao giờ, thầy bảo quỳ cho vui nhưng tôi bảo chả vui, con có tội đâu mà quỳ. Cô ạ, dạo trước có một cháu với một bà ở đây này, nó nấu thế nào mà để dầu bắn ra khắp bếp, bà ấy phải lau, bà ấy tức, mắng, thế là hai bà cháu cãi nhau to, khóc váng lên, thầy không đánh đâu nhưng thầy bắt cả hai đội hương quỳ. Thầy bảo tôi, bà quỳ cùng cho vui, tôi bảo con có tội đâu mà quỳ.”

Tôi tưởng tượng ra cảnh đó, buồn cười quá, phì cười.

Ăn xong, lũ trẻ con tự phân chia công việc mà làm. Tú cho chó ăn, Hùng cho mèo ăn, Thắng lau dọn trong bếp và ngoài nhà sàn, còn chú Đạo Ngũ và Huy rửa bát. Thắng chỉ cho tôi mấy cây dại ngoài vườn:

“Đố cô biết cây này là cây gì?”

“Cỏ chứ gì.”

“Không phải cỏ đâu, đây là cây mía, lúc nó lên non non thế này, ăn cái thân nó ngọt lắm í ạ.”

“Nói xong tuốt ra ăn.”

“Thế cây này là cây gì?” - tôi chỉ một cây khác.

“Cây lộc vừng, ở nhà cháu cũng có một cây.”

“Quê cháu ở đâu?”

“Ở Mỹ Đức ạ. Bà ngoại cô ở đâu?”

“Hải Dương.”

“Ông ngoại cô ở đâu?”

“Ông ngoại thì phải ở với bà ngoại ở Hải Dương chứ.”

“Ừ nhỉ, thế mà cháu không biết.”

Xong các công việc rửa bát, dọn bếp đã hơn 1 giờ, đến giờ ngủ trưa. Tôi không lên phòng trên nhà sàn mà muốn vào xem phòng bọn trẻ con. Khi tôi vào, cả ba đứa đã nằm trong giường. Phòng có tám giường tầng, kê bốn góc phòng, hai giường chồng lên nhau như ở ký túc xá. Phòng rất tối, bừa bộn và hôi vì bọn trẻ không dọn. Cả chiếu và gối đều bết những vệt đen bẩn, cáu lại. Thấy tôi vào, Hùng kêu:

“Cô ơi, cô vào đây ngủ với bọn cháu đi; cô ngủ giường kia kìa.”

“Giường đấy của anh Ngũ chứ” - Thắng nói - “cô ngủ giường trên này này.”

“Thì của anh Ngũ nhưng mà anh Ngũ sang ngủ giường khác cũng được chứ sao; mọi khi vẫn thế mà.”

“Thầy mà biết thầy đánh chết. Thầy bảo không được ngủ lang, giường ai nấy ngủ.”

Tôi vào một giường còn trống, nằm xuống. Bọn trẻ con không đi ngủ ngay mà còn trêu nhau. Tú bật điện lên đọc sách. Hùng kêu:

“Giời ơi, lúc đọc thì không đọc, giờ ngủ thì lại đọc.”

“Lúc đọc thì không đọc” - Thắng nhại.

“Đọc” - Hùng kêu.

“Đọc” - Thắng nhại.”

“Đọc.”

“Đọc.”

Chúng nhại nhau như thế đến mười phút và cười khúc khích. Mấy phút sau tất cả đã thở đều.

Chúng tôi ngủ đến chiều. Ngủ rất say. Khi tôi dậy, thầy đang nằm võng ngoài nhà sàn. Một bà già và một thằng bé chừng gần hai tuổi ngồi dựa cột ở đầu võng. Bà già đang nhìn ra sân kể lể chồng của con thế này, con dâu con thế kia, rồi lợn gà rau lúa, rồi nhà ông nọ bà kia đầu xóm cuối xóm... Bà cứ kể, cũng không cần thầy nghe. Thằng bé mon men đến võng của thầy; thầy bế nó lên; thằng bé nằm úp trên ngực thầy; năm phút sau đã thấy nó ngủ. Một lúc lại một bà già hơn 80 tuổi, đã lú lẫn, vào chùa. Bà lang thang quanh chùa nhặt nhạnh cái nọ cái kia rồi ngồi xuống bàn nước. Hai bà cụ thi nhau kể lể oang oang. Thầy chỉ gật gật “vâng, vâng, thế hả cụ?”

“Cứ để bà ấy nói” - thầy cười, bảo tôi - “Buồn cười lắm. Có hôm, sáng sớm bà ấy lên chùa bảo thầy, con có làm gì nên tình nên tội đâu mà thầy chửi con suốt đêm. Thầy lôi cả bố mẹ con ra chửi.”

Tôi ngồi ở nhà sàn, gần chỗ thầy, bỏ iPhone ra xem tọa độ chùa. Tôi hỏi thầy:

“Thầy ơi, thế hôm qua các tổ ‘lên’ là ai thế ạ?”

“Là hai cụ tổ của chùa, đã mất lâu rồi.”

Tôi hỏi thầy các tổ từ đâu “lên”, hiện nay các tổ đang ở đâu, tôi tưởng sau khi chết thì là hết hoặc là nếu không hết thì người ta đi đầu thai làm người chứ...

“Cũng tùy cô ạ.”

Thầy nói, trong đạo Phật, chết không phải là còn, cũng không phải là hết và ta phải xem xét ta nói chết cũng như tái sinh, đầu thai trong hệ quy chiếu nào. Nếu ta vẫn còn đang mê, tức còn đang trong luân hồi, thì chết sẽ là một sự kiện có thật, toàn bộ thế giới sẽ có thật như các hiện tượng riêng rẽ, con người riêng rẽ. Còn nếu đã ngộ thì ta sẽ thấy những khái niệm này hoàn toàn khác. Sống chết đều không có thật, và cũng không có ai chết, như ta vẫn nghĩ.

Đối với đa phần chúng sinh còn trong luân hồi, khi chết thì thân xác sẽ tan rã nhưng thức thứ tám hay a-nại-da thức, còn có thể tạm gọi là thần thức, sẽ không mất. Vào khoảnh khắc một người hấp hối, tất cả các cõi giới (trời, người, a-tu-la, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục...) đều mở và họ sẽ bị nghiệp lực chiêu cảm mà đi vào cõi giới tương ứng. Người làm nhiều việc thiện, có phước, thì nghiệp thức sẽ chiêu cảm cảnh trời có chư thiên đến nổi nhạc đón đi, nên họ sẽ đi theo và sẽ sinh thiên. Còn người nghiệp nặng, đã phạm các tội trọng như giết người, nhất là giết cha mẹ, giết thầy, thì họ lập tức đọa địa ngục. Đối với những chúng sinh mà nghiệp không rõ ràng, nghĩa là họ vừa có thiện nghiệp vừa có ác nghiệp thì sẽ có một khoảng thời gian định nghiệp để quyết định họ sẽ tái sinh vào cảnh giới nào hoặc tiếp tục ở cảnh giới quỷ thần để thọ nghiệp. Khoảng thời gian định nghiệp này với nam là năm tuần, với nữ là bảy tuần (vậy mới có cúng 35 ngày và 49 ngày trong phong tục của người Việt và Trung Quốc). Trong khoảng thời gian định nghiệp, họ thường trông chờ người nhà làm phúc và hồi hướng công đức cho họ được chuyển sinh lên cảnh giới lành.

“Vậy các tổ thì đang ở đâu ạ?”

“Cũng tùy việc tu tập của họ lúc trước mà có người ở cõi Phật, cõi trời, có người trong cảnh giới quỷ thần, gọi là quỷ thần tăng. Tùy nhân quả, nghiệp báo.”

Thầy nói người tu hành mà chấp mắc vào chùa của tôi, đệ tử của tôi, thì sau khi chết, họ tiếp tục dính mắc vào chùa với đệ tử nên không thể siêu thoát. Thần thức họ cứ quanh quẩn ở chùa đó và có thể tiếp tục tái sinh để trở lại chùa. Cho nên nhiều người trụ trì chùa bây giờ vốn từng trụ trì ở chùa đó trong các kiếp trước; vì dính mắc với chùa của mình mà không giải thoát được.

“Thế địa ngục là thế nào ạ? Ở đâu ạ? Ở dưới lòng đất hay ở đâu ạ?”

“Không. Địa ngục có địa ngục siêu trần gian và địa ngục trần gian. Địa ngục trần gian là việc mưu mô toan tính, làm điều xấu hại người hại vật, v.v... đã phải chiêu cảm quả khổ thành các cảm thọ đau đớn, dằn vặt, sợ hãi trong tâm ngay lúc sống, hoặc sẽ bị bệnh tật. Còn địa ngục siêu trần gian là lúc chết đi phải sa vào cảnh giới tăm tối do nghiệp thức biến hiện ra. Đây là thức nhìn thấy như vậy. Cô đọc kinh Lương Hoàng Sám sẽ thấy có mô tả rõ các cảnh địa ngục khác nhau. Do vọng tâm mà sinh ra mọi thứ; còn trở lại bản thể tự tính thì không còn thấy thế giới thật như đang cảm nhận bằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nữa. Như cái cốc này...”.

Thầy thả cái cốc đang cầm trong tay rơi xuống sàn vỡ tan. Thầy bảo ban đầu vốn không có cái cốc. Do có người sinh tâm muốn có một vật để đựng nước uống, có đất, có lửa, có nước, có gió, thế là đủ duyên, người ta nặn, nung, và quy ước gọi là cái cốc. Chưa đủ duyên thì đất đấy, lửa đấy, mà không làm ra được cái cốc. Ta có ý có cái cốc, và ta gọi là cái cốc để giao tiếp với nhau cho dễ, rồi ta bèn chấp rằng có một “cái cốc” thật nhưng thực ra thì chỉ có ý niệm và tên gọi về cái cốc, còn bản thân vật tròn tròn này không tự gọi nó là cái gì. Nó chỉ là nó. Nó không đẹp, không xấu, không tự gọi nó là gì, không tự định nghĩa, không có ý nghĩa, không dây dưa với bất cứ cái gì khác. Với mọi hiện hữu, ta đều có một thế giới khái niệm như thế, thấy chúng có thật như thế... Chứ bản chất mọi thứ đều luôn biến đổi, không tự định nghĩa, không tự có ý nghĩa. Thân, tâm này cũng thế. Thân tâm này không có ai đằng sau cả. Nó Vô Thường. Không. Vô Ngã.

Không? Vô Ngã. Cái này thì tôi cũng từng nghe, nhưng luôn cảm thấy thật hoang đường. Làm sao mà mọi thứ lại có thể là không được? Núi rừng đồng ruộng, cây cỏ chim muông, nhà cửa xe cộ, TÔI bằng xương bằng thịt đây, làm sao có thể không vô ngã được.

Năm giờ chiều, trời bắt đầu tối. Tôi định về cho kịp giờ cơm ở nhà nhưng lại thấy chú Đạo Ngũ dạy Thắng thỉnh chuông ở đầu hồi nhà tổ nên nán lại xem. Thắng mặc áo thụng nâu đứng tấp tểnh cạnh chú Đạo Ngũ. Thắng chỉ muốn thỉnh cho xong, nên đọc nhát gừng mấy câu rồi lại dừng cắn móng tay, ngắm móng tay, nghịch vạt áo. Chú Đạo Ngũ thì nghiêm trang đứng cạnh, người thẳng tưng, hai tay chắp sau lưng, theo dõi Thắng như một bậc tổ theo dõi chú tiểu nhỏ của mình, thỉnh thoảng lại nhắc:

“To lên.”

“Chậm thôi.”

“Đọc lại đi.”

“Cái gì? Nhắc lại xem nào.”

“Sai rồi, đọc lại. Phật nhật tăng huy, pháp luân thường chuyển. ‘Pháp luân’ chứ không phải ‘Pháp luôn’. Luân là cái bánh xe. Bánh xe pháp í.”

Chao ôi, một đứa trẻ 16 tuổi đang cố gắng dạy ĐẠO cho một đứa trẻ 12 tuổi. Tôi lấy điện thoại ra chụp nhưng đứng góc nào cũng không sao bắt được đầy đủ cái tôi đang thấy. Đây là một cái đẹp tinh khiết, không cần cắt nghĩa bởi bất cứ lý luận mỹ học nào, cũng không thể bị nắm bắt, đóng khung. Tôi chỉ có thể đầu hàng và để nó nhấn chìm mình, tràn từ trong ra ngoài, trở thành một trạng thái không thuộc về cái đẹp mà thuộc về tình yêu - dù nói tình yêu cũng không chính xác. Dù kẻ dạy có đạo mà dạy hay không, dù người học có biết mình đang tiếp nhận đạo hay không, và dù kẻ dạy lẫn người học có đang có đạo hay không không hề quan trọng. Thậm chí những điều này chẳng có liên quan gì.

Trong ba mùa hè sau này, tôi sẽ còn chứng kiến muôn hình vạn trạng của cái đẹp và đường lối giáo dục đặc biệt này. Có những buổi tối vào mùa hè năm 2013, lũ chúng tôi - những người ở chùa vì các lý do khác nhau - quây quần với các sư ông và sư chú trong trai đường dạy nhau chuông mõ, kích mộc bản (5) , thỉnh trai (6) tuyên cảnh sách (7) . Có khi 5 rưỡi sáng, tôi vừa quét sân vừa nghe chú tiểu Đạo Cửu dạy đi dạy lại chú Đạo Thập chỉ một câu “A Di Đà Phật, thỉnh chư tăng thụ trai (8) ” sao cho chữ “thỉnh” thật chuẩn. Nhiều buổi khuya, tôi đã tắt đèn trong nhà sàn để ngủ nhưng vẫn nghe từ khu tăng phòng gần đó giọng chú Đạo Ngũ (khi đó đã là sư ông Đạo Ngũ) dạy các chú tiểu tuyên cảnh sách. Hoặc có những buổi tối mùa hè 2014, chúng tôi kẻ ngồi nhặt rau người đứng dựa cột trong khoảng sân tối nghe thầy dạy đọc bình văn.

Có biết lối đọc bình văn này từ đâu ra không? Từ Lục tổ Huệ Năng đấy. Cụ con nhà nghèo, không biết chữ, cho nên ai muốn cụ giảng cho kinh gì thì phải mang kinh đấy đến đọc cho cụ nghe, rồi cụ giảng nghĩa cho. Mà đọc cho cụ nghe thì phải đọc chầm chậm như hát thế này này... Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại Xả Vệ quốc, kỳ thụ Cấp Cô Độc viên, dữ đại tỷ khiêu tăng, thiên nhị bách ngũ thập nhân câu (9) ... . Đấy, thế gọi là đọc bình văn.

Khi tôi về đến nhà đã gần 7 giờ. Cả nhà đang ngồi chờ tôi đi ăn lẩu cá kèo. Tôi đã quên bẵng việc hẹn ăn tối. Chúng tôi ăn lẩu trên phố Liễu Giai. Một em bé phục vụ đặt nồi lẩu lên bàn, rồi mang những con cá kèo còn sống nguyên, đang cong mình giãy giụa trong lưới vứt vào nồi nước lục bục sôi. Những con cá chằn lên dưới cái vung thủy tinh của nồi lẩu cố gắng thoát khỏi cái nóng nhưng chỉ mấy giây thì nằm im, hai mắt và toàn thân chuyển sang màu trắng đục của cái chết. Tôi ngoảnh đi không dám nhìn. Chị gái và em gái tôi cười, huơ đũa:

“Ăn đi, ăn đi, ngon lắm. Phải hưởng thụ chứ.”

Tôi không muốn làm mọi người mất vui nên lấy một con để ăn nhưng chỉ được vài miếng là bỏ. Cứ thấy mình róc những rẻ thịt khỏi cái xương sống bé nhỏ của con cá bất động, rồi bỏ vào miệng, nhai, nuốt, trong khi mấy phút trước nó còn sống yên vui, thật là kinh khủng.

Nhưng có điều này tôi cũng phải thừa nhận: những ngày này, tôi trân trọng hơn các tiện nghi vật chất và sự sung sướng ăn ngon ở mát. Sau cả ngày nhễ nhại nhớp nháp ở chùa, tôi không thể phủ nhận thân xác lịm đi khi bước vào căn phòng có điều hòa ở nhà; nhưng đồng thời, tôi cũng thấy rõ tôi có thể hoàn toàn xa rời các tiện nghi vật chất của cái này. Cái thiếu thốn, nóng nực, thậm chí cả cái nhà vệ sinh rất tối và hôi ở chùa (so với những gì tôi quen thuộc ở Mỹ) - không làm tôi ngại.

Những ngày này, đi ra đi vào giữa hai thế giới trong chùa ngoài chùa, đầu tôi luôn có một câu hỏi ngấm ngầm: Thế nào là thật ? Thế nào là giả ? Giữa cuộc đời bên ngoài có vẻ rất vật chất, rất trực tiếp này và thế giới trong chùa dường như huyền hoặc với đầy những thần thánh Phật ma kia, đâu là thật, đâu là giả?

Nếu là vài năm trước, tôi sẽ không ngần ngại mà nói rằng những gì tôi đang thấy trong chùa là mê tín, một thứ sản phẩm của đầu óc dị đoan và lạc hậu. Rằng nó lại cũng chỉ là một giai đoạn khác của đầu óc tôi, một thứ mê cung tư tưởng, một thứ ảo tưởng khác. Nhưng những ngày này, một thứ linh tính sạch và bất động mách bảo tôi rằng tôi nhất định không nên trả lời những câu hỏi thật giả vào lúc này, càng không nên trả lời dựa trên những kiến thức và tư duy mà tôi đã có đến nay. Điều duy nhất tôi nên làm lúc này chỉ là quan sát. Quan sát mà không phán xét, kết luận gì. Kết luận duy nhất, nếu có, chỉ là còn quá nhiều thứ tôi phải học và tôi chỉ có thể học nếu tôi mở rộng đầu mình, tạo đủ khoảng trống cho những thứ mới tràn vào. Hôm trước, thầy Đạo có kể một câu chuyện cho mấy người ngồi ở bàn nước: Có một học giả đến gặp một thiền sư, xin được thỉnh giáo về pháp giải thoát. Thiền sư mời ông ta ngồi, rồi lấy ấm rót trà vào chén. Thiền sư cứ rót mãi, nước tràn ra ngoài mà vẫn không dừng tay. Học giả nói: “Thưa thiền sư, xin dừng tay, chén đã đầy rồi”. Thiền sư nói: “Cũng vậy đó. Đầu ông cũng đã đầy, tôi làm sao có thể rót thêm?”

“Những người trí thức hay mắc vào thế trí biện thông cô ạ - thầy nói - Trí tuệ thế gian dùng để đối đãi thế gian, nhưng không giúp mình liễu sinh thoát tử được. Khi đối diện cái chết, tất cả học thức tiền tài thế gian có giúp mình được không?”

À, bình thường khi nghe điều này tôi nhất định sẽ phản đối. Thứ nhất là điều thầy nói chỉ đúng nếu ta mặc định có đời sau, tức là chết không phải là hết. Còn nếu chết là hết, thì việc gì phải lo. Quan trọng hơn, nếu đằng nào mình cũng không nhớ được kiếp trước là gì thì việc có kiếp trước đâu có ý nghĩa thực tế nào?

À, nhưng tôi không thể là chén trà đầy. Tôi thậm chí không cả nên thâu nhận câu chuyện chén trà đầy này vào đầu nữa.

« Lùi
Tiến »