Buổi sáng nào đi trên đường Hà Nội tôi cũng có cảm giác đang hòa vào một dòng năng lượng bất tận mà chỉ một nửa đến từ những người những xe, những nhà cửa và cây cối. Một nửa còn lại đến từ khoảng không nằm giữa những người xe nhà cây đó. Chỉ cần tôi nhích lại hơi gần một chiếc xe, một ánh mắt sắc sẽ quay lại chặn đứng tôi, dựng lên một bức tường, hoặc có khi chém tôi tan xác. Nhưng chỉ cần tôi đi chậm lại, tách xa dòng người lúc tan tầm, tôi được thấy thêm một khoảng trời rộng với một vạt mây hồng rực.
Sáng nay bố buộc theo một cái giường gấp để tôi có chỗ ngủ trưa trong chùa. Tôi đang nói dối bố mẹ là tôi đến ở trại trẻ mồ côi để nghiên cứu. Tôi không thể nói tôi vào chùa được.
Đang mùa gặt nên từ sáng sớm, người làng đã sang gặt lúa giúp chùa. Lúa gặt rồi được chất thành đống gần bờ ao. Bây giờ, người làng lại đang giúp chùa tuốt lúa. Những người phụ nữ mặc áo dài tay, đội nón, bịt kín mặt để tránh thóc văng vào mắt, nhịp nhàng đưa từng bó lúa dài vào miệng máy tuốt. Thóc rơi rào rào; rạ bay theo đường cầu vồng, rót ràn rạt xuống góc sân, chất cao dần cao dần. Tú, Hùng, và chú Đạo Ngũ hối hả bê những rổ thóc đổ ụp xuống chân nhà sàn, chờ ngày nắng sẽ tãi thóc ra sân phơi khô. Tôi dựng xe dưới gốc nhãn, lập tức nhập hội bê thóc.
Các bà già vừa tuốt lúa vừa bàn chuyện đồng áng và người làng - lúa tốt hay xấu, bán được hay không, ai đang lòng thòng với ai, nhà ai đang giàu lên, nhà ai nghèo đi, nhà ai vỡ nợ, ai ốm, ai tai nạn, ai mới tậu xe, mua nhà, đám ma đám cưới. Rồi họ bắt đầu kể chuyện ma chuyện cõi âm - cứ người này một câu, người kia một câu, người sau đã lại phóng đại lên so với người trước. Đây có lẽ là cách mà các câu chuyện mê tín lan truyền ra trong đời sống làng quê. Một bà già ở đầu làng đi tiểu ban đêm nhìn thấy con mèo, đến sáng kể lại cho bà hàng xóm, thì khi câu chuyện đi đến cuối làng, con mèo đã biến thành con hồ ly mắt phát sáng.
Hàng ngàn năm nay, đời sống làng xã và văn hóa Việt Nam có lẽ đã hình thành thế này. Người ta ra đồng cày bừa, rồi gieo mạ, nhổ mạ, rồi cấy lúa, nhổ cỏ, tưới nước, làm phân, rồi gặt... và mỗi lúc như thế, họ lại ngồi trên bờ ruộng kể chuyện. Lâu dần, những câu chuyện trở thành huyền thoại; huyền thoại trở thành tín điều, tục lệ, nghi lễ, thành nhân sinh quan, thế giới quan. Thành sự thật. Người ta gắn bó với nhau cũng nhờ cùng chia sẻ những điều này, mà bị trói buộc, chia rẽ cũng vì những điều này. Những câu chuyện tạo một hành lang cho người ta biết cách hành xử, nhưng cũng trở thành song sắt nhà tù khi muốn. Ngay cả ở thành thị bây giờ cũng thế. Chỉ có điều, bờ ruộng đã thay bằng công sở, quán ăn, Highlands, Facebook, hay... Webtretho. Cho nên tôi mới vào chùa mấy hôm mà những người đến chùa đã thuộc lòng lý lịch của tôi. Có hôm tôi nghe loáng thoáng hai bà già chỉ tôi, nói với nhau rằng tôi “ở tận bên Mỹ”, là “giáo sư cơ đấy”, và “có một đời chồng rồi”. Hai bà nhìn tôi ái ngại lắm.
Ăn trưa xong tôi tháo giường gấp mang vào phòng bọn trẻ con để ngủ. Tôi đã thiu thiu ngủ rồi thì chú Đạo Ngũ đi vào, nói to:
“Sư đệ nào vứt giấy vệ sinh vào giường sư huynh đây? Làm người phải biết cư xử lịch sự chứ.”
Không thể nhịn cười với cách nói văn hoa của chú Đạo Ngũ. Thật là thú vị cái văn hóa bình dân này, nhất là vì dường như ai cũng thạo và cứ hiển nhiên trình diễn nó như những nghệ sĩ bậc thầy. Người nào vào chùa cũng biết chắp tay cúi đầu nói “bạch thầy”, “A Di Đà Phật” và họ nói “con đem cúng thầy một cái ô”. Lần đầu nghe một bà già nói “con đem cúng thầy”, tôi đã sững người. Lâu nay tôi cứ đinh ninh từ “cúng” chỉ được dùng cho người chết.
“Bạch thầy, con đem cúng thầy một cái ô.”
“Nhà con có mấy cân khoai đem cúng thầy.”
“Bạch thượng tọa, chúng con có giọt dầu gọi là, để thượng tọa đốt đèn cúng Phật.”
“Dạ, bố con có ít lạc mới dỡ, thầy chứng cho chúng con.”
“Bạch cụ bố thí cho con hỏi...”
“Thầy bố thí cho con ăn cơm.”
Hay quá đi mất. “Cúng” ở đây là nói tắt của “cúng dường” hay “cúng dàng”, tức là sự dâng tặng thành kính. “Chứng” là “chứng minh”, tức là ghi nhận công đức cúng dàng của tín chủ. “Cụ” tức là nói tắt của từ “cụ túc” tức là một bậc đầy đủ phúc và trí, chứ không phải cụ nghĩa là già cả như trong “cụ kỵ ông bà”. Xưng “con” với một vị tăng, kể cả với chú tiểu nhỏ, tức là xưng con với Phật, chứ không phải là con cái với vị tăng hay chú tiểu. Thầy bố thí cho con ăn cơm vì cơm chùa có được là nhờ vào phước đức của chư Phật và người thầy mà Phật tử cúng tiền tài vào chùa nên chư tăng phải xin được thầy bố thí cơm ăn.
Ở chùa từ sáng đến tối, người ra người vào lúc đông lúc vắng, cứ khoan nhặt như một dòng sông chảy lững lờ theo nhịp riêng của nó. Người mang ít dầu đèn, người mang gạo, miến, dây khoai lang, bó dọc mùng, đậu, có khi một ít lạc luộc. Lịch của chùa hằng ngày hiện là thế này:
4 giờ sáng: Dậy (gọi là khai tĩnh), lên chùa tụng chú Thủ Lăng Nghiêm, chú Đại Bi, và mười bài chú khác (gọi là thập chú). Thời khóa này gọi là công phu khuya.
5 giờ 15: Niệm Phật sáng.
6 giờ: Ăn sáng.
11 giờ: Thụ trai (ăn cơm trưa).
12 giờ: Ngủ trưa (gọi là trì tĩnh ).
14 giờ: Tỉnh dậy (gọi là thức chúng ).
17 giờ: Thỉnh chuông, cúng cháo thí thực cho các chúng sinh.
18 giờ: Thụ trai (ăn cơm tối).
19 giờ: Thời khóa tối (tụng kinh).
21 giờ 30: Niệm Phật cuối ngày (gọi là lâm thụy ).
22 giờ: Tắt điện đi ngủ.
Tôi ngủ đến 2 giờ chiều thì chú Đạo Ngũ vào phòng, giọng thất thanh:
“Cô ơi, dậy đi, các ngài lên.”
Tôi lật đật theo chú Đạo Ngũ xuống nhà tổ. Rất đông người đang ở đó - ngồi quây quanh anh Sang và một thanh niên có tên Huân. Mọi người bảo ông Hoàng Mười đang vào anh Sang, mắng Huân chậm trễ việc chuẩn bị hầu đồng, ông hoàng đòi lấy hèo để đánh, rồi đứng lên như rút kiếm ra. Trông ông đứng rất uy nghi, Huân thì khóc. Chú Đạo Ngũ và mấy người ngồi cạnh phải xin hộ Huân, ông mới thôi. Ông Hoàng Mười ra thì ông Hoàng Bảy về. Thầy nói với một họa sĩ trẻ:
“Chú Hoan xuống nhà Mẫu lấy cái gối cho ông hoàng kê tay đi.”
Ông hoàng quay sang thầy gật gù hoan hỉ. Mọi người cười:
“Khiếp thầy tâm lý thế.”
Thầy cười:
“Hầu ông hoàng như hầu người già ấy mà. Ngày xưa thầy thị giả sư phụ thầy mãi nên quen.”
Ông Hoàng cười, gật gật đầu với thầy. Hoan mang gối lên, đặt xuống dưới tay ông hoàng; ông đập gối thị uy rất oai nghiêm:
“Ban lộc!”
Ông lấy cả nắm tiền vung ra cho mọi người lấy lộc. Ông ngồi uống trà, ban lộc nhiều lần, đến hết bài cung văn thì đi.
Tôi theo anh Sang và Huân xuống điện Mẫu. Tôi hỏi Huân ông hoàng lên mắng thế anh có sợ không.
“Sợ chứ chị.”
“Anh thấy ông chọn anh mở phủ hầu ông thì thấy vui hay sợ?”
“Em có biết gì đâu chị nhưng thôi ông chọn, người ta bảo thế là phúc thì thôi giờ nhất tâm theo ông, chứ hôm trước em cũng còn bán tín bán nghi vì mình biết gì đâu; mình cứ bán tín bán nghi nên ông lên mắng; giờ mình nhất tâm theo ông cho an tâm.”
Chúng tôi nói điều này khi đang đứng trong điện Mẫu - tôi đang xem Huân sắp đồ lễ vào trong điện. Huân nói:
“Chị em mình nói gì ở đây các ngài biết hết đấy.”
Huân vừa nói vừa chắp tay vái ban thờ. Huân sợ thực sự. Tôi tưởng tượng dù Huân có thực sự nghĩ gì thì cái sợ cũng sẽ làm Huân phải át nó đi mà nói những điều thuận tai vừa ý các ngài. Có khác gì với nỗi sợ người sống đâu - sợ ông bà, cha mẹ, thủ trưởng, hay chồng, đến nỗi phải tự kiểm duyệt mình từ trong ý nghĩ đến lời nói. Lại cũng giống tôi sợ cái con ma vô hình của tôi nữa - bây giờ cũng vẫn đang sợ nó. Tôi vẫn chưa đủ gan mà kể cặn kẽ và hỏi thầy về nó. Tôi đang làm tất cả công việc hằng ngày như thể không hề có con ma nào trong đầu tôi nhưng sự thật là nó lúc nào cũng hiện hữu. Lúc nào tôi cũng thấy nó đang quan sát tôi. Nhìn bên ngoài, không ai biết lòng tôi là vực trống.
Trên đường về, tôi cứ nghĩ đến lúc Huân khóc khi bị ông hoàng mắng, trông khổ sở như một đứa bé bị bắt nạt mà không có cách gì chống lại. Rồi tôi nghĩ đến tôi - cũng đang đầy sợ hãi trước một thế lực vô hình mà không thấy ai có thể cứu nổi. Ngay lúc ngồi cạnh thầy, ông hoàng, Mẫu, các cô các cậu hay trước Phật, tôi vẫn thấy không ai có thể cứu tôi. Than ôi là đau khổ. Tôi vừa thương Huân vừa thấy hơi giận ông hoàng. Giận tất cả thánh thần. Tại sao các thánh thần - nếu có - lại bắt nạt chúng sinh? Tôi tưởng các ngài đã là bậc trên thì đều phải có lòng từ bi quảng đại, chỉ có thương chúng sinh, chứ sao lại bắt tội bắt nợ chúng sinh? Khi tôi đem điều này hỏi thầy Đạo, thầy nói:
“Có phải ai họ cũng chấm lính, bắt đồng đâu cô. Nếu quán chiếu cho kỹ, thì không ngoài lý nhân quả. Chúng sinh có xin lộc của bên Tứ Phủ thì Tứ Phủ mới có cái cớ để bắt trả nợ. Mình không vay, không nợ, thì đâu có gì phải lo. Trong lục đạo luân hồi, thánh thần thuộc về Dục giới; họ ban ơn để có phước hưởng tiếp quả vị thánh, nhưng hết phước thì họ vẫn phải luân hồi nên họ rất sợ hết phước. Đấy, vào các đường ác như ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh thì lúc nào cũng đói, nên lúc nào cũng thấy khổ; mà sinh thiên, làm thánh thần, được người ta cúng bái sung sướng thì lúc nào cũng sợ hết phúc, nên cũng khổ. Chỉ có tu Phật mới giải thoát hoàn toàn thôi.”
Nhưng có giải thoát hoàn toàn thật không? Có an lạc và thấu suốt thật tướng của vạn vật thực sự không? Tu hành - dù ở chùa hay ở nhà - có đưa người ta đến được chỗ đó không? Và tỷ lệ thành công là bao nhiêu trong thời bây giờ? Như tôi thấy, người đến chùa xin phước lộc thì nhiều mà người cầu đạo giải thoát dường như quá ít. Tôi lại cũng chỉ nghe chuyện tu hành đắc đạo của các tổ từ hàng trăm hàng ngàn năm trước chứ ở thời đại vật chất này thì sao? Trong số hàng trăm hàng ngàn người đang tu hành bây giờ, bao nhiêu người thực sự giải thoát ? Thật sự, tôi vẫn chưa hình dung được giải thoát là trạng thái như thế nào? Lẽ nào chúng ta chỉ đều giống các thầy bói mù sờ voi? Nói về giải thoát mà có biết hình thù giải thoát là thế nào và làm sao để đi đến đó?
Như lúc này, tôi đang đi trên đường Khuất Duy Tiến, phía trước mặt tôi là mặt trời như một quả cầu lửa khổng lồ giữa một biển mây vàng rực rỡ ở phía Tây. Đẹp vậy mà xung quanh tôi không ai ngẩng lên nhìn. Ai cũng vội vã về nhà. Dường như không ai thực sự biết mình đang đi đâu trong cuộc đời này và muốn đi về đâu.
Than ôi, cũng không thể trách người ta không ngẩng lên nhìn trời khi mà dưới lòng đường quá nhiều hiểm họa. Chỉ sau một tuần đi đi lại lại ngày hai lần từ nhà tới chùa, tôi thấy mình cũng bắt đầu căng như dây đàn lúc trên đường. Không phải tôi cứ đi đúng luật là được an toàn. Người ta vẫn cứ cắt, phóng, tạt, đâm, bấm còi vào mặt tôi. Về đến nhà lần nào tóc tôi cũng cứng bụi, người mệt dừ, căng thẳng.
Ở Việt Nam, mất quá nhiều năng lượng vào những việc không tên. Rủi ro ập đến theo những lối quá bất ngờ và vô lý. Các ông hoàng bà chúa “chấm lính”, “bắt đồng” đã đành; nhưng chính chúng ta “chấm” và “bắt” nhau vô tội vạ mỗi ngày. Cảnh sát giao thông “chấm lính”, “bắt đồng” với người đi đường. Thầy cô giáo “chấm lính”, “bắt đồng” ở lớp. Sếp thì “chấm lính”, “bắt đồng” trong cơ quan. Bố mẹ “chấm lính”, “bắt đồng” với con cái ở nhà. Những người bán hàng “chấm lính”, “bắt đồng” với người đi chợ. Đến người dưng ngoài đường cũng “chấm lính”, “bắt đồng” mà chửi, mà tạt, mà đâm xe vào ta... Muốn yên thân, dĩ nhiên là phải sắm lễ, trình đồng, mở phủ rồi. Tầng tầng lớp lớp. Lính nhỏ hầu lính nhỡ; lính nhỡ hầu lính to hơn; lính to hơn hầu các ông nhỏ; ông nhỏ hầu ông nhỡ, ông nhỡ hầu ông lớn... Mẹ hầu con, con hầu mẹ, học sinh hầu giáo viên, giáo viên hầu học sinh, nhân viên hầu sếp, sếp hầu sếp lớn, vợ hầu chồng, chồng hầu vợ... cứ như vậy mà theo nhau, biết bao nhiêu nợ nần, ân oán trùng điệp, bao giờ thì hết đây? Dường như ai cũng đằng đằng sát khí, cạnh tranh khí, mê muội khí, si tình khí, uẩn khúc khí, tiền khí, danh khí; không mấy người thong thả, bình an, tỏa ra một năng lượng hiền từ.
Chúng ta “sát căn” nhau quá. Mới về Hà Nội ít ngày mà tôi thấy mình cứ ngấm ngầm ứ dần lên sự bẳn gắt khó chịu bên trong, chỉ chờ cơ hội là bùng nổ. Là tại tôi, hay tại Việt Nam, hay vì bản chất cuộc sống là khổ - như Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết trong bài pháp đầu tiên sau khi thành đạo dưới gốc bồ đề? Xưa nay, tôi đã luôn dị ứng với câu “đời là bể khổ”, nhưng có lẽ đã đến lúc tôi nên tìm hiểu kỹ về nó thay vì chấp nhận lối hiểu phổ thông?