Bốn giờ sáng, chuông báo thức đổ. Qua cửa sổ, trời trong và mát, sân chùa chưa có ai, chỉ có tiếng lá bồ đề rụng lộp độp. Tôi bật điện lên rồi xỏ dép, đi xuống. Thầy đã dậy, cầm một cái gậy nhỏ, vào phòng khua lũ trẻ:
“Vẫn còn chưa dậy à?”
Bọn trẻ con bắt đầu dậy, dò dẫm mắt nhắm mắt mở đi ra bể nước sau nhà vệ sinh để rửa mặt. Hùng dậy trước nhất, đem kem đánh răng và bàn chải ra đánh răng. Rồi đến Thắng và Tú. Rồi đến chú Đạo Ngũ và Huy. Chú Đạo Ngũ còn ngái ngủ, mắt vẫn nhắm mà chân vẫn đi.
Phải đến 4 giờ 15 mới lên đến Tam Bảo. Lũ trẻ đã mặc áo tràng dài chỉnh tề; trừ tôi vẫn mặc quần ngố với áo phông. Bọn trẻ con nhìn thấy tôi thì ngạc nhiên:
“Ơ cô ạ, cô dậy làm gì ạ?”
“Cô dậy xem các chú tụng kinh” - tôi cười.
Trong Tam Bảo, mấy bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm đã được sắp trên các kệ gỗ - chắc chú Đạo Ngũ sắp sẵn từ tối hôm qua. Chú Đạo Ngũ ngồi trên làm chủ sám; hàng dưới là Hùng; rồi hàng hơi dưới nữa là Thắng, Tú, Huy và tôi - bốn người dàn hàng ngang.
Đầu tiên là đọc bài kinh lễ Phật. Phải quỳ hai đầu gối trên nền gạch cứng, dập đầu xuống đất lễ Phật. Bọn trẻ đã quen nên quỳ rất thành thục, tôi thì được vài lễ là đau đầu gối, đành đầu hàng.
Nhất tâm kính lễ thập phương pháp giới thường trụ Tam Bảo (ba lần).
Nguyện thử hương yên vân.
Biến mãn thập phương giới
Vô biên Phật độ trung
Vô lượng hương trang nghiêm
Cụ túc Bồ Tát đạo
Thành tựu Như Lai hương (11) .
Hết bài dâng hương (gọi là hương tán), chúng tôi tụng “tịnh khẩu nghiệp chân ngôn” (thần chú làm thanh tịnh lời nói), “tịnh thân nghiệp chân ngôn” (thần chú làm thanh tịnh thân mình), “tịnh tam nghiệp chân ngôn” (thần chú làm thanh tịnh ba nghiệp thuộc về ý là tham, sân, si), rồi tới bài kệ khai kinh, sau đó mới bắt đầu chính thức vào thần chú Thủ Lăng Nghiêm.
Nam mô tát đát tha tô dà đa ra, a ra ha đế, tam diểu tam bồ đà tả. Nam mô tát đát tha Phật đà câu chi sắt ni sam. Nam mô tát bà, bột đà bột địa tát đá bệ tệ. Nam mô tát đá nẫm tam diểu tam bồ đà câu chi nẫm.
Kinh Lăng Nghiêm thì tôi đã bắt đầu lõm bõm đọc nhưng chú Lăng Nghiêm thì đây là lần đầu. Chú Lăng Nghiêm là bài chú mà Đức Phật Thích Ca đã thuyết để Bồ Tát Văn Thù mang đi giải cứu ngài A Nan. Lần đầu tụng chú Lăng Nghiêm này cũng là lần đầu tiên trong đời có một thứ bằng tiếng Việt mà tôi không đọc được.
Than ôi. Mắt rõ ràng nhìn thấy chữ mà đầu và miệng tôi không thể nào theo được, cứ há ra như cá đớp không khí. Chú Đạo Ngũ buồn ngủ nên dẫn chúng mà giọng lúc to lúc nhỏ, mõ khi lên khi xuống vô tội vạ, có lúc mõ chìm nghỉm nên ở dưới càng khó theo. Bọn trẻ con theo đoạn đầu rồi gục xuống ngủ. May có Huy. Huy đọc kinh và chú rất hay; giọng to khỏe, ngân nga đều đặn, có giai điệu. Tôi ngồi cạnh Huy, hai chị em đọc phụ nhau; có đoạn Huy đọc chính, tôi lẩm nhẩm theo; có đoạn nào tôi theo được thì đọc chính, Huy theo; bọn trẻ con cứ ngủ một lúc lại tỉnh dậy, lõm bõm đọc theo, rồi lại ngủ tiếp, rồi lại tỉnh dậy lẩm bẩm.
Chúng tôi - một lũ trẻ con - cứ ê a đọc tụng như thế. Có lúc tôi cảm giác Phật và rất nhiều các cụ tổ cùng chúng sinh trong điện vừa nghe chúng tôi tụng vừa phì cười với lũ tiểu yêu ngốc nghếch này. Chính tôi có lúc đang đọc cũng suýt phì cười vì các tiếng chú được phiên âm ra tiếng Việt. Nào là “bà dà bà đế”, rồi lại “đá ra dạ ra”, “tô ma rô ba”, “hô lô hô lô ma la”, “hô lô hô lô hê lị”. Cứ bô lô ba la, vừa ê a lần mò vừa cười thì nghe tiếng lộc cộc bên ngoài. Là tiếng gậy của thầy. Lập tức, cả lũ liếc nhau rồi ngồi thẳng lên, cố đọc to rõ ràng.
Ê a rất lâu mới hết năm hội của chú Lăng Nghiêm. Hết Lăng Nghiêm là bắt vào chú Đại Bi, và 10 bài chú ngắn, gọi là tiểu chú. Sau đó tụng Tâm Kinh Bát Nhã, rồi đến sám hối, rồi niệm 108 lần danh hiệu Phật Thích Ca Mâu Ni, mười lần danh hiệu Bồ Tát Văn Thù, mười lần danh hiệu Bồ Tát Phổ Hiền, mười lần danh hiệu Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, mười lần danh hiệu Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Niệm xong, tất cả đứng lên lễ các đức Phật, Bồ Tát, và chư vị hiền thánh tăng. Mỗi Đức Phật hay Bồ Tát là một lần đứng lên, quỳ dập đầu xuống lễ. Tổng cộng 29 lễ. Được 15 lễ là tôi chóng mặt, đầu gối đau, nên đầu hàng, chỉ ngồi chứ không đứng lên lễ được nữa.
Xong phần lễ là phát nguyện và tam tự quy.
Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thệ giải đại đạo, phát vô thượng tâm.
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải.
Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại (12) .
Cuối cùng là hồi hướng tất cả các công đức do việc tụng kinh lễ Phật cho toàn thể pháp giới chúng sinh để đều được thành Phật.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sinh
Đều trọn thành Phật đạo.
Công Phu Khuya vậy là hoàn thành. Thời khóa Công Phu Khuya này nhiều chùa theo tông Tịnh Độ hay Mật tông tuân thủ từ hàng trăm năm nay. Các chùa thiền tông thì sẽ thay việc trì Lăng Nghiêm bằng thời tọa thiền. Xong công phu khuya là 5 giờ 15 phút. Chúng tôi theo nhau đi quanh lạy các ban: ban Phật ở giữa, ban Đức Thánh Hiền (tức ngài A Nan) bên trái, ban Đức Chúa Ông bên phải, cả hai ông hộ pháp. Rồi đóng cửa Tam Bảo để xuống nhà.
Trời sáng dần, không khí trong mát, thơm mùi hoa nhài và mùi đất ruộng ngấm sương đêm. Bọn trẻ xuống bếp, múc nước nấu cơm, nhóm bếp, thả chó, thả gà. Chúng vừa làm vừa hát ầm ĩ, đánh động buổi sáng:
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát...
Om Ma Ni Pad Me Hum... hùm mà là hùm...
Hôm nay đã hết rằm nên chùa ít người đến lễ. Sư ông Đạo Nhất và chú Đạo Nhị cũng đã về lại trường hạ. Cả ngày chùa vắng. Suốt buổi chiều, chỉ có một bà già sang chùa. Bà ngồi chân cột nhà sàn, kể chuyện gia đình để nhờ thầy giúp. Con trai bà cho vay tiền hơn một tỷ nhưng không có giấy tờ nợ đi kèm nên giờ không biết đòi nợ ra sao. Một con gái thì vay tiền mở công ty rồi phá sản, giờ hai vợ chồng gửi con cho bố mẹ rồi vào Sài Gòn trốn nợ hơn một năm nay. Bà vừa kể chuyện con cái vừa khóc, nước mắt cứ rịn ra; bà lấy ống tay áo gạt liên tục mà cứ gạt đi thì nước mắt lại rịn ra như vô tận.
Tôi nhìn bà khóc, nghĩ đến nước mắt của tất cả những người cha người mẹ từng đổ trên đời vì con cái, bắt đầu từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Có lẽ phải hàng biển nước mắt. Rồi tôi lại nghĩ: thầy làm sao mà giúp bà đây? Giúp bà đòi nợ thì không thể. Giúp bà làm bùa chú để trị người nọ người kia càng không. Bắt ma, điều âm binh càng hoang đường. Chỉ có cách là hướng đạo cho họ thay tâm đổi tính, bớt tham đi thì bớt khổ.
Ngồi trọn một ngày ở chùa từ sáng sớm tới đêm khuya, có thể thấy có ba dạng người đến chùa. Một là những người đã quen đến thầy và tin thầy - là tín đồ Phật tử nhất tâm theo thầy - thì sẽ đến tâm sự và nhờ thầy tất cả mọi việc trong gia đình, cả chuyện tâm linh lẫn chuyện không liên quan tâm linh, dù là chuyện nợ nần, cưới hỏi, mở cửa hàng, thăng quan tiến chức, sinh con đẻ cái, vân vân. Thứ hai là những người mỗi năm chỉ đến chùa vài lần vào dịp Vu Lan tháng Bảy hay dâng sao giải hạn đầu năm, hoặc lúc nhà có đám ma. Thứ ba là những người đến chùa theo kiểu đảo qua, thi thoảng chợt nhớ ra thì tới. Nhưng dù là dạng nào, đa phần đến chùa cầu phước và sự an tâm tạm thời. Khi tâm tạm an, họ lại lập tức chào thầy ra đi để đuổi theo những ham mê bên ngoài; cho đến lúc tả tơi bầm giập mới lại trở về. Người thực sự cầu giải thoát ít lắm. Có lẽ vì giải thoát khó quá. Chúng ta thà ở trong lồng mà dễ còn hơn, miễn có chút thức ăn nước uống.
Cuối chiều trời bắt đầu mát rượi. Sân chùa lộng gió. Thầy ngồi trên võng mắc ở đầu nhà sàn, mở truyện cười ra đọc to cho chúng tôi nghe rồi cười ha hả. Tôi và lũ trẻ ngồi nghe chuyện, cũng cười ha ha. Rất là vui.
Chiều tối thì mưa giông. Lá bay khắp sân chùa. Mưa sầm sập, sầm sập. Chỉ có mấy thầy trò ăn cơm tối với nhau ở chân nhà sàn. Cơm chỉ có đậu sốt cà chua, rau, một bát canh. Tôi ăn cơm rất ngon; cứ ăn một miếng lại đặt bát xuống để nhặt những con thiêu thân và côn trùng tránh mưa bay từ ngoài vào bu quanh bóng điện mắc lơ lửng trên xà nhà rồi lóa mắt rụng xuống bát. Ăn cơm xong tôi nghe tiếng mõ vọng xuống từ phía Tam Bảo thì đi lên. Chú Đạo Ngũ đang tụng kinh một mình, tay chuông tay mõ. Chú Ngũ bảo 7 giờ tối hằng ngày là thời khóa tối; thường các bà trong làng sẽ lên chùa tụng kinh, nhưng hôm nay mưa các bà không vào thì tụng một mình. Tôi hỏi chú tụng kinh gì thế; chú bảo thời khóa tối đang tụng Lương Hoàng Sám, là kinh nói về nhân - quả, các cảnh giới của địa ngục và về công đức của việc sám hối, phát nguyện.
Chú Đạo Ngũ tụng xong, tôi thu dọn giá kinh cùng với chú, lại hỏi chú là có được mặc quần ngố vào Tam Bảo không. Chú Ngũ nói đúng ra là không được mặc quần ngắn, áo ngắn, đội mũ, đi dép vào Tam Bảo. Hôm qua thầy thoáng ngập ngừng khi tôi hỏi tôi có được mặc quần ngố vào Tam Bảo không, nhưng rồi thầy lại gật đầu bảo cũng được. Từ mai tôi sẽ mặc quần dài.