Về Nhà

Lượt đọc: 2506 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
văn - tư - tu

Thế giới vẫn vậy. Hết xuân sang hạ; hết hạ tới thu. Liên tục có việc quanh năm suốt tháng. Nhật Bản động đất và sóng thần, hơn 20 ngàn người chết. Hoàng tử William và công nương Kate Middleton đã cưới được mấy tháng rồi nhưng thế giới vẫn tiếp tục tốn rất nhiều giấy mực về chiếc váy cưới của họ và mỗi lần công nương Middleton mặc một chiếc váy mới thì dường như một cơn động đất nhẹ lại lan từ Anh sang các nước. Bin Laden đã bị tiêu diệt từ tháng Năm nhưng nỗi sợ mà con người này gây ra, cộng với nỗi sợ về một thế lực hắc ám giấu mặt, dường như không hề giảm đi mà tiếp tục tăng lên. Các nước Ả Rập tiếp tục biểu tình và lan truyền không khí của mùa xuân Ả rập trong khi ở Mỹ, phong trào chiếm phố Wall lan rộng. Liên tục biến chuyển. Sự kiện này chưa qua, sự kiện sau lại tới, nóng hơn, nhưng cũng chỉ nóng được một thời gian rồi biến mất vào hư không, bỏ lại sau từng con người một mình trong những tâm cảnh riêng của họ. Sau một tháng, không ai còn để ý những nạn nhân động đất Nhật Bản ra sao. Những thanh niên đã xuống đường trong mùa xuân Ả rập giờ ai tù tội, ai thành anh hùng?

Những ngày mới vào chùa, tôi còn giữ thói quen đọc tin tức hằng ngày và kiểm tra email. Dần dần, ngày tháng và thế giới bên ngoài trở nên xa vợi. Tôi cứ trôi từ ngày này sang ngày khác, mỗi ngày lại thấy sáng ra một chút, như thể những đám mây xám dày đặc trong đầu tôi cứ tự thưa dần, thưa dần. Tuy thế, buổi tối, tôi vẫn phải để một bóng đèn nhỏ khi ngủ.

Mỗi ngày, việc tụng chú của tôi lại khá hơn một chút. Có những câu hôm trước đọc hết sức trúc trắc thì hôm sau đã thông; cứ tự nhiên thông.

Sáng nay, cũng như mấy hôm trước, tôi bắt đầu ì ạch tụng Thủ Lăng Nghiêm. Hôm nay có ông Đạo Nhất từ trường về nên ông làm chủ sám; bọn trẻ con được cho nghỉ nên chỉ có tôi, chú Đạo Ngũ, Huy tụng. Tôi ì ạch tụng nho nhỏ, miệng liên tục vấp; rõ ràng mắt nhìn chữ “đát” mà miệng phát ra chữ “đá”, nhìn chữ “diểu” thì miệng đọc thành “biểu”. Tôi vẫn không hiểu: tại làm sao chỉ là tiếng Việt mà tôi không sao đọc được. Chịu chết. Mắt nhìn chữ mà miệng, lưỡi, đầu nhất định không theo.

Tôi ì ạch đọc hết Đệ nhất hội thì bắt đầu nhận ra chú Lăng Nghiêm không phải chỉ là các âm rời nhau ê a vô nghĩa mà có cấu trúc. Ví dụ hội thứ nhất là nhiều câu song song với mở đầu “Nam mô bà dà bà đế” và kết thúc bằng “Tam diểu tam bồ đà ra”. Nhưng sở dĩ tôi không đọc được là vì đầu tôi, theo quán tính cả mấy chục năm nay, cứ “ấm ức” rằng nó không hiểu được nghĩa của cái nó đọc. Cho nên khi đọc “Nam mô tát đát tha tô dà đa ra” thì mắt đã nhìn đến chữ “tô” mà đầu thì vẫn đang lưu luyến xem “tát đát tha” là cái gì. “Tát đát tha” chẳng có nghĩa gì cả; nhưng mà vì quán tính, nên trong đầu tôi vẫn cứ tự động khởi lên các ý hoặc hình ảnh gắn với từng chữ một. “Tát” là gì; “đát” là gì; “tha” là gì. Vậy là nó bị lỡ đoạn “tô dà đa ra” và miệng thì bị loạn. Hoặc có khi đang đọc cả đoạn âm, nó gặp một chữ bỗng nhiên có nghĩa một cách vô tình, ví dụ “Nam mô bà già bà đế, đế lị trà thâu ra tây na”... thế là trong đầu tôi tự khắc nổi lên hình ảnh “bà già” và một bà nào đó tên là “bà Đế”, rồi nó lại nghĩ đến “trà.”

Khi nhận ra thói quen này, tôi bắt đầu thả lỏng đầu óc và chỉ bao quát mặt chữ chứ không chăm chú nhìn nữa. Tôi tự nhủ rằng đây chỉ là các âm và tôi chỉ cần xướng các âm lên. Tôi đọc qua nửa cuối của Đệ nhất hội một cách trôi chảy, tự nhiên trong lòng hết sức hứng khởi. Càng đọc càng thấy hào hứng. Huy dường như cũng hào hứng thấy tôi đọc trôi chảy; tôi và Huy bắt đầu đọc rất đều nhau và to; ông Đạo Nhất cũng bắt đầu đọc liền mạch theo chúng tôi chứ không ngắt quãng đột ngột để ngân nga nữa. Vậy là tất cả tự nhiên đọc đồng thanh, to, trôi chảy, rõ ràng... Bỗng nhiên chú cứ thế ùn ùn tuôn ra, vang dội Tam Bảo. Cái uy lực và năng lượng của cả một khối người đọc đồng thanh cùng một nhịp thật khác với từng người đọc rời rạc theo ý mình. Chúng tôi cứ thế đọc băng băng hết Đệ tam hội sang Đệ tứ hội và Đệ ngũ hội. Tôi muốn chú cứ dài nữa ra để tôi đọc tiếp.

Xong công phu khuya mà trời còn tối vì hôm nay trăng đã mất. Trời lại nhiều mây như sắp mưa. Bọn trẻ vẫn chưa dậy; chỉ có mấy con mèo con đùa nhau rất vui. Lũ mèo con sáng nào cũng dậy sớm, đùa nhau chán chê, xong thì bú mẹ rồi ngủ.

Tôi lấy chổi quét nhà sàn. Thầy cũng từ phòng xuống, nằm võng. Tôi hỏi thầy:

“Thưa thầy, tại sao cùng một bài chú mà có hôm con đọc được trôi chảy, có hôm con không đọc được?”

“Là vì tâm cô thôi. Tâm thay đổi từng sát na. Hôm nay tâm cô trụ, mai có khi lại không.”

“Thế chú có nghĩa gì ạ?”

“À, chú thì không giải nghĩa. Trong đạo Phật có năm thứ không giải nghĩa, chỉ có thể phiên âm, gọi là ‘ngũ chủng bất phiên’.”

“Thế cứ đọc là sinh ra công năng ạ?”

“Với chú thì thật ra phải trì chứ không đọc. Trì tức là nắm giữ. Trì đúng thì phải tam mật tương ứng, tức là thân mật, khẩu mật, ý mật. Thân hành giả như thân Phật, lời hành giả là lời Phật, ý hành giả là ý Phật. Mình phải hết sức nhiếp vào câu chú, để cho cả thân, khẩu, ý của mình đều thể nhập vào Đức Bản Tôn.”

Thực sự, tôi thấy đọc/tụng/trì chú rất thú vị nhưng tôi vẫn không thể chấp nhận được niềm tin rằng, đối với kinh, chú, cứ tụng đi, không cần hiểu, cũng vẫn sẽ có tác dụng. Mà niềm tin này có vẻ rất phổ biến trong cộng đồng Phật tử và được biểu hiện thành những dạng hoạt động khác nữa - như lạy từng chữ trong kinh Pháp Hoa, đội kinh Pháp Hoa lên đầu, nô nức đi các lễ điểm đạo của các vị được cho là tái sinh mà không cần biết ý nghĩa, đeo vòng tay vòng chân có trì chú, bỏ tiền mua rất nhiều các loại đá phong thủy bày trong nhà. Ở rất nhiều chùa nông thôn tại Việt Nam, các bản kinh mà các bà già tụng hằng ngày vẫn là kinh A Di Đà hay Bát Nhã bằng tiếng Hán mà các bà già thuộc lòng nhưng không hề hiểu nghĩa. “Như thị ngã văn nhĩ thời Phật tại Xá Vệ quốc, kỳ thụ Cấp Cô Độc viên, dữ đại tỷ khiêu tăng, thiên nhị bách ngũ thập nhân câu...”. - các bà tụng trôi chảy lắm nhưng khi tôi hỏi nghĩa thì các bà nói không hiểu. Thậm chí các chú tiểu mới vào chùa cũng tụng nhưng không hiểu.

“Con cảm thấy trì chú nó cứ xa lạ với con. Con vẫn sợ sợ. Làm thế nào để biết là mình hợp với tu thiền, niệm Phật hay trì chú?”

“Cô mới bắt đầu thì cứ pháp nào làm tâm mình an thì pháp đó hợp với mình.”

Về sau này, sau khi đã thử cả niệm Phật, tụng kinh, trì chú, tọa thiền, có lúc tham dự thất A Di Đà bảy ngày liên tục niệm Phật, rồi lại đả thiền thất ở Vạn Phật Thánh Thành của cố hòa thượng Tuyên Hóa, tôi nhận ra khi tâm an thì theo pháp nào cũng được, pháp nào cũng thế, và cái gì cũng là pháp. Khi đó thì thực tế là niệm Phật thành trì Phật, tọa thiền thành trì thiền, tụng kinh thành trì kinh. Trì giống lúc tôi xâu kim cho mẹ tôi khi nhỏ. Lúc đó, tay trái cầm kim giơ lên, tay phải cầm đầu sợi chỉ; phải tập trung cao độ, tay không được run, đưa đầu sợi chỉ đúng vào lỗ kim; chờ cho sợi chỉ luồn qua một chút, rồi vẫn không được run tay, dùng tay phải rút nó qua lỗ kim. Trì kinh hay chú không phải là hoạt động cơ học của việc phát ra một âm thanh mà toàn bộ thân và tâm mình thu vào trong âm thanh, không có niệm nào khác khởi lên xen giữa các câu kinh hay chú. Niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, khi thành thục, cũng giống trì chú vậy. Tôi nhớ khi tham dự thất A Di Đà ở Vạn Phật Thánh Thành, càng niệm tôi càng nhìn rõ rằng chỉ đi từ tiếng “nam” sang tiếng “mô”, tưởng là liên tục mà giữa hai tiếng đã đủ thời gian cho vô vàn niệm khởi lên, hoặc không khởi thành niệm có phát ngôn rõ rệt trong đầu (“Đói quá”, “Buồn ngủ quá”) thì sẽ có các cảm thọ mơ hồ như bứt rứt, cáu bẳn, hoặc an lạc mà ta có thể nhận biết - và cái nhận biết đó cũng đã làm ta rời khỏi câu niệm Phật.

Trong mấy năm qua, bao gồm cả ba mùa hè 2013, 2014, 2015 sống ở chùa, tôi đã tụng đọc kinh chú rất nhiều lần. Không lần nào giống hệt lần nào. Có những khi tôi tụng đọc như bay như lướt, nhắm mắt lại mà toàn thân hoàn toàn là một khoảng trống, chỉ có miệng vẫn tiếp tục tuôn ra các lời kinh chú như thể tuôn ra từ không khí, với một cảm giác an lạc vô cùng. Có những khi, vừa tụng đọc mà trong người tôi bực dọc, giận dữ cứ cuộn lên như một con hổ lồng lộn gào thét xui tôi đứng dậy bỏ ra ngoài Tam Bảo. Hoặc lần đầu tiên tụng kinh Địa Tạng, tôi nôn nao khắp người; cứ ngừng đọc thì thôi, bắt đầu đọc là nôn nao. Có khi tôi cùng tụng kinh Lương Hoàng Sám vào thời khóa tối với một vài người trong chùa mà họ không sao tụng được - có người ở ngoài thì không sao, cứ vào tụng là ngay lập tức mắt sưng đỏ, mặt phù lên tại chỗ, phải dừng lại để ra ngoài, tối nào cũng như vậy; có người cứ giở trang sách là thấy hình ma quỷ đầy trên trang sách, phải thôi; trong khi đó tôi tụng rất an lạc.

Có một buổi sáng sau động đất ở Nepal, tôi ngồi xuống tụng Lăng Nghiêm như mọi ngày nhưng vừa ngồi xuống bồ đoàn, xếp chân sửa áo để chuẩn bị tụng thì một ý nghĩ đi ngang đầu tôi. “Mình vừa ngồi xuống, chỉ là một việc thủ tục như mọi ngày, nhưng chính lúc này, hàng ngàn người đang bị chôn sống; họ muốn thở mà đầy bụi đất, họ muốn cựa mà chân tay bị gạch đá đè gãy nát, họ muốn kêu mà không ai nghe thấy. Biết bao nhiêu sợ hãi và đau đớn. Mình chỉ nghe tiếng thở của một thứ vô hình trong đêm tối mà còn hoảng sợ như thế, thì họ trong bóng tối với cái chết đến gần sẽ còn sợ hãi thế nào. Với họ, được ngồi xuống như mình thế này là thiên đường.”

Khi tôi nghĩ thế, toàn thân tôi rúng động, nước mắt bắt đầu dâng lên không ngăn nổi, cứ thế tuôn thành dòng. Tôi bèn nguyện rằng bài chú Thủ Lăng Nghiêm và Đại Bi sắp tụng đây, tôi sẽ dành cho tất cả những người đang gặp nạn ở Nepal - dù còn sống hay đã chết. Nếu còn sống thì họ khởi được sự tin tưởng và an lạc trong tâm, chờ người đến cứu. Nếu đã chết thì có thể xả bỏ sợ hãi, đau đớn, tuyệt vọng. Khi phát nguyện như vậy, tâm tôi tự khắc nhiếp vào các câu chú; hết Lăng Nghiêm, tôi tụng ba lượt chú Đại Bi và các tiểu chú, rồi niệm Phật A Di Đà, Phật Dược Sư, Bồ tát Quán Âm, Văn Thù, Thế Chí, Phổ Hiền, Địa Tạng, toàn thể chư Phật, Bồ tát, hiền thánh tăng, hộ pháp thiện thần trong mười phương. Niệm đến ai là triệu thỉnh người đó.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát

Nam mô Đại Trí Văn Thù Bồ Tát

Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát

Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát

Đấy là lần đầu tiên tôi tụng mà cảm giác rõ rệt rằng mình đang thực sự triệu thỉnh các Bồ Tát và Phật. Triệu thỉnh từng người và gửi họ đi Nepal. Xa bất cứ đâu trong mười phương thì các Ngài cũng phải đến vì không có cách nào quay đi với những khổ đau này của con người. Cũng là khi tôi hiểu rằng tất cả Phật, Bồ Tát, hiền thánh; tất cả Phật lực, Bồ Tát hạnh, hiền thánh nguyện đều đầy đủ trong ta; cùng tất cả ma lực, ma cảnh. Trong thân người phàm hai mắt hai tay hai chân này của ta có đầy đủ tất cả thần thông và năng lực làm mọi sự.

Vừa tụng, nước mắt tôi tiếp tục chảy.

Lại cũng phải lâu sau này, tôi mới trải nghiệm việc nghe kinh không phải bằng ý thức, không dùng cái hiểu để tháo gỡ văn tự, mà nghe kinh như nghe thấy lời Phật thuyết thẳng vào tâm, có thể cảm nhận được thần lực của Phật đang thuyết pháp. Nghe như vậy, tâm mở toang và có thể lập tức chuyển.

Cả sáng nay, chùa không khách vãng lai. Trời ngừng mưa, mặt trời lên dìu dịu, không khí rất mát. Bọn trẻ, sư ông Đạo Nhất, chú Ngũ, và tôi ngồi quanh chân nhà sàn hỏi chuyện thầy cả sáng. Tôi nói với thầy tôi cảm thấy đạo Phật thật mênh mông, càng khám phá càng ra nhiều; tôi không biết phải tìm hiểu từ đâu, thế nào. Thầy cười:

“Cô cứ từ từ, đừng nóng vội. Hãy thành tâm học Phật. Trong tu hành thì Phật dạy phải trải qua các quá trình Văn - Tư - Tu - Tín - Nguyện - Hành. ‘Văn’ nghĩa là ‘nghe’. Đầu tiên mình cứ nghe đã, rồi mình ‘Tư’ tức là mình suy nghĩ xem nó có hợp lý không; nếu mình thấy nó hợp lý, nó làm mình an, thì mình bắt đầu ‘Tu’; nhưng tu ở đây mới là ‘sửa’ thôi đã, không phải là đi tu. Khi mình bắt đầu sửa lại thân, khẩu, ý, sửa các thói quen trong cuộc sống của mình sao cho hợp đạo, rồi mình thấy lợi lạc thực sự từ những thay đổi đó thì mình sinh ‘Tín’. Có tín rồi, tin vào lợi lạc của Phật pháp rồi thì mình lại phát ‘Nguyện’ rộng lớn là mình muốn tất cả các chúng sinh khác nữa cũng tìm được an lạc như mình.”

“Như con bây giờ chắc là đang ‘văn’?”

“Cô cứ nghe đi. Ngày xưa Đức Phật cũng nói đừng bao giờ tin ngay chỉ vì đó là lời do ta nói ra hoặc do thầy các ông nói ra, chỉ khi nào các ông đã nghe, đã kiểm chứng, đã thấy nó hợp lý và mang lại lợi lạc thì hẵng tin.”

“Thưa thầy, con thấy con cứ hay nghi nghi hoặc hoặc.”

“Phật nói có nhiều thứ chướng ngại sự tu hành, như tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, thân kiến... Với giới trí thức, cái ‘mạn’ và cái ‘nghi’ thường là cái ngăn họ đến với sự thật. Khi xưa Phật đã gọi những người như thế là ‘thế trí biện thông’, họ có trí tuệ thế gian nhưng không thể ra khỏi cái thuộc về tâm trí. Vẫn đang hoạt động bằng ‘thức’. Tu là chuyển ‘bát thức’ thành ‘ngũ trí’. Mà trí thì thuộc về chỗ tĩnh chứ không phải chỗ động.”

Tôi cười, xá thầy. Chiều tối, tôi xin phép về nhà để đi Sài Gòn có việc. Mẹ đã phát hiện ra việc tôi ở chùa rồi. Mẹ bảo con phải cẩn thận không bị lừa đấy, bị người ta bỏ bùa. Các đồng nghiệp Mỹ mà tôi kể chuyện hầu đồng, mượn xác cũng bảo tôi:

“Cẩn thận đấy. Những người đó có thể đang có các trạng thái ‘altered reality (13) ’. Cảm nhận của họ về thực tại bị bóp méo hoàn toàn. Cậu không cẩn thận cũng sẽ bị nhiễm theo họ.”

Từ Sài Gòn ra, tôi ở Hà Nội thêm mấy ngày rồi trở lại Mỹ. Trước khi đi, tôi đến chào thầy và hẹn rằng mùa hè sau, tôi sẽ trở lại, xin thầy lại cho tôi vào chùa sống để tiếp tục học. Thầy cười, như thể thầy biết không chỉ mùa hè tới mà còn mùa hè sau, mùa hè sau nữa... tôi sẽ còn quay lại.

Tôi vẫn chưa hỏi thầy trực tiếp chuyện con ma, nhưng lần ở chùa ngắn ngủi này đã giúp tôi bắt đầu có thể khống chế được nỗi sợ của mình. Những ngày cuối ở chùa, tôi đã có thể tắt điện đi ngủ dù rằng về đến nhà, tôi lại phải bật điện trở lại vào buổi đêm. Tôi vẫn cứ thấp thỏm chờ con ma trở lại viếng thăm một ngày nào đó. Tôi biết, nó chỉ đang tạm lui binh mà thôi.

« Lùi
Tiến »