Về Nhà

Lượt đọc: 2518 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 28
hóa ra ai cũng sợ ma

Từ đó đến cuối mùa hè cũng như các mùa hè sau, tôi chứng kiến thêm rất nhiều chuyện tâm linh nữa. Gần như tất cả những gì tôi từng đọc trong Tây du ký, Liêu trai chí dị, Phong thần diễn nghĩa, Tấm Cám, các truyện cổ tích, thần tiên, báo Pháp luật An ninh thế giới đều đã xảy ra ở chùa thầy Đạo và nhiều chùa khác mà tôi đến thăm. Các sư ông phải có những cuốn “Nhật ký vong linh” ghi lại tên tuổi ngày tháng năm sinh năm mất của vong linh lên xin giúp, để có thể làm lễ quy y và đặt pháp hiệu cho họ. Nhìn ghi chép trong Nhật ký vong linh thì thấy muôn hình vạn trạng các loại ân oán và nghiệp báo.

Nào là chàng trai thề non hẹn biển với bạn gái từ thế kỷ 18 bên Trung Quốc, rồi sau đó nghe lời bố mẹ, không lấy khiến cho người bạn gái tự tử chết và đi theo từ đó đến giờ.

Nào là cô gái kiếp trước là tu nữ nhưng đã mắc tội tà dâm, phá thai, nên kiếp này người luôn yếu ớt, thường bị đau tim và ngất.

Nào là bà và mẹ đưa một bé gái 10 tuổi bị điên loạn đến chùa. Khi cho các vong lên thì họ kể rằng bé gái này kiếp trước vốn là đầu đảng cướp còn mẹ và bà là đồng bọn trong đảng cướp. Vì đã giết cả một gia đình để cướp của nên giờ bé gái bị điên loạn.

Nào là con bỏ bố mẹ đói trong kiếp trước nên kiếp này sinh ra phải chịu cảnh bị bố mẹ hắt hủi, ngược đãi.

Nào là người say rượu chết bất đắc kỳ tử bây giờ oán kẻ chuốc rượu cho mình chết và dù chết vẫn luôn luôn thèm rượu nên đi theo để ám người kia.

Nào là cô gái thầm yêu một thầy tu đường đường tăng tướng nên vẫn cứ theo thầy tu đó, trong lòng thương tưởng thầm yêu trộm nhớ.

Nào là cung nữ và quan lại của một vị quân vương từ trong quá khứ, giờ vẫn theo vị quân vương đó để nhờ độ thoát dù vị vua đó đã thành người tu hành.

Nào là người từng được cứu mạng chết đuối trong quá khứ, giờ đi theo để báo ân.

Nào là người kiếp trước theo tà đạo chuyên dùng bùa chú, âm binh, và pháp thuật hại người nhằm thu lợi nên chịu quả báo điên loạn ở kiếp này.

Nào là đệ tử thông minh nhưng ngạo mạn nên học tà thuật phản thầy rồi bị đọa làm quỷ đói ở nơi sông hồ nhiều kiếp, giờ mới hết nghiệp mà có thể sám hối, chuyển sinh.

Rồi người chết tai nạn trên đường, trẻ con chết do cha mẹ phá thai, người chết ung thư, sinh lão bệnh tử trăm vạn cách khác nhau mà chưa thể chuyển sinh đều tìm đến nhờ giúp họ chuyển sinh.

Rất nhiều chuyện mà tôi từng đọc hoặc nghe lưu truyền trong dân gian như chuyện hoang đường thì rút cục đều đã xuất hiện...

Trùng trùng điệp điệp tội. Trùng trùng điệp điệp nghiệp. Trùng trùng điệp điệp nhân. Trùng trùng điệp điệp quả.

Nhân sát sinh đưa đến quả sát sinh, yểu mệnh, thân bệnh, tâm bệnh triền miên.

Nhân trộm cắp đưa đến quả báo trộm cắp.

Nhân tà dâm đưa đến quả báo tà dâm.

Nhân xuất phát từ khẩu (nói dối, nói xấu, vu khống, ác khẩu) đưa đến quả khẩu.

Nhân tham lam, ghen ghét, đố kỵ đưa đến quả của tham lam, ghen ghét, đố ky.

Nhân nóng giận, sân hận đưa đến quả của nóng giận, sân hận.

Nhân của si mê, ngu muội đưa đến quả của si mê, ngu muội.

Nhưng dù nhân muôn hình vạn trạng, quả muôn hình vạn trạng thì đều có thể hóa giải thông qua sự chân thành sám hối và tha thứ.

Tôi cũng đã chứng kiến chuyện về chư Phật, Bồ Tát, các vị La Hán, thánh tăng, các tổ, chư thiên, các vị hộ pháp, long thần, sơn thần, thổ địa...

Vô lượng phúc đức. Vô lượng an lạc. Vô lượng từ bi. Vô lượng dũng mãnh. Vô lượng tự tại. Vô lượng hạnh nguyện. Vô lượng lòng cứu độ chúng sinh. Sự vô ngã không thể nghĩ bàn. Thần lực không thể nghĩ bàn.

Tất cả những chuyện này, tôi không muốn kể lại cụ thể ở đây, e rằng bạn đọc sẽ thấy quá hoang đường mà bỏ qua câu chuyện chính.

Đứng về mô tả trên bề mặt cho người ngoài chùa, tất cả những người bị “theo”, “nhập”, “ám”, “hành”... đến chùa với các triệu chứng khác nhau nhưng đều có chung một câu chuyện. Họ đột nhiên bắt đầu nói năng cư xử như không phải là họ, và có thể nói vanh vách những bí mật của người khác, đọc ý nghĩ những người không hề quen biết, và nói về thế giới tâm linh với một sự thống nhất kỳ lạ. Họ thường đến với nhiều sân hận và trong tư thế đang hành hạ người bị hành để trả một mối thù nào đó hoặc có duyên luyến ái nào đó - ví dụ chết vì bị giết, tự tử vì thất tình, trẻ con chết vì bị mẹ phá thai, bạn bè rủ nhau đi chơi rồi chết đuối, vợ cũ, chồng cũ trong quá khứ. Mỗi khi lên, họ đều uất ức, có khi gào thét, có khi khóc lóc hàng giờ không nói nên lời vì đã chịu oan ức hàng trăm năm, có khi vật vã đau đớn vì bệnh trên thân. Thậm chí có cả phụ nữ chết lúc đang chuyển dạ sinh con thì khi lên cũng nguyên tình trạng đau đẻ đó và chư tăng phải... đỡ đẻ trước rồi mới có thể nói chuyện với vong linh.

Mỗi khi họ lên, thầy đều phải để cho họ kể hết nỗi oan khuất uất ức của mình, rồi chữa bệnh, giải oan cho hai bên; sau đó cho họ quy y Tam Bảo mà tu hành trong cảnh giới của mình. Sau khi làm vậy thì người “bị hành” sẽ hết các triệu chứng. Tùy thuộc sự thành tâm sám hối của người đó mà các triệu chứng sẽ hết ngay hay cần nhiều lần “hòa giải” giữa hai bên.

Điều làm tôi ngạc nhiên là đối với những người bị “nhập”, “ám”, “theo”, họ có thể hoàn toàn đang bình thường nhưng ngay giây phút sau, họ hoàn toàn biến thành người khác. Nếu bị “nhập” bởi một vong trẻ con, họ sẽ hành xử đúng như một đứa trẻ. Nếu bị “nhập” bởi một người già, họ sẽ có điệu bộ, lời nói giống một người già. Đang bị bệnh gì, sẽ đau ở đó. Tuy nhiên, khi vong thoát ra, họ lại lập tức trở lại bình thường.

Tôi đã đọc DSM-IV về những bệnh loạn thần, tâm thần phân liệt, loạn nhân cách với triệu chứng tương tự nhưng DSM-IV có thể mô tả triệu chứng của những người này mà không có giải thích. Trên quan điểm khoa học mà nói, những người bị tâm thần không thể có sự chuyển đổi nhanh như các ca bị “vong nhập” và “xuất” mà bao giờ cũng có các “cơn”, và mỗi khi hết cơn thì họ phải bình phục dần dần. Tôi cũng chưa thể giải thích về sự thống nhất kỳ lạ trong những mô tả của những người bị nhập về trật tự thế giới âm-dương cũng như việc họ có thể đọc được các ý nghĩ, bí mật của những người xa lạ.

Gọi là chuyện tâm linh hay bệnh tâm thần có quan trọng không? Cùng là những hiện tượng đó, nếu có thể dùng cách này mà chữa khỏi thì ta có thể dùng, quan trọng gì tên gọi?

Còn điều này nữa: càng chứng kiến những chuyện tâm linh và quan sát thế giới bên ngoài, tôi càng hiểu rõ nhân quả là cái chắc chắn có, dù ta có thể không gọi nó bằng từ “nhân quả” mà dùng danh từ khoa học nào đó như quy luật số lớn hay định luật hấp dẫn hay là quy luật của năng lượng. Đã gieo nhân, ắt phải có quả, chỉ là gặt sớm hay muộn. Nhân nào, quả nấy. Có điều, người ta rất dễ nhầm tưởng mình không gieo nhân, hoặc gieo nhân tốt mà vẫn gặp quả xấu bởi vì nhân không chỉ là lời nói, hành vi hiện ra ngoài, mà gốc đầu tiên là ý. Chỉ cần tôi bâng quơ đưa mắt nhìn một người đàn ông, rồi khởi ý thoáng qua trong đầu “Đẹp trai nhỉ”; vậy là tôi đã gieo nhân để muốn quay lại nhìn thêm một lần nữa; cái nhìn thứ hai gieo nhân cho cái nhìn thứ ba, dài hơn; trong cái nhìn thứ ba có khi đã có tình ý, cái tình ý cộng cái nhìn thứ ba gieo nhân cho cái chân đi tới gần nói một câu; từ một câu đưa đến hai câu, rồi tiếp tục mắt nhìn, miệng cười; tưởng là vẫn còn vô tư nhưng tôi đã gieo xong hạt, tưới đủ nước cho cái hạt; chẳng mấy chốc, hạt nảy nầm thành một cái cây; tôi đã bắt đầu một quan hệ cùng tất cả các hệ lụy của nó. Tất cả chỉ từ một cái nhìn và sự khởi một niệm bất thiện. Gọi là niệm bất thiện bởi vì nó xuất phát từ cái gốc là tham. Tham khuôn mặt đó - cái mắt đó, cái miệng đó, nụ cười đó. Tham cảm giác thích thú. Tham biết về đối tượng đó. Tham muốn chiếm hữu con người đó. Si mê cảm giác tò mò. Cảm giác theo đuổi. Cảm giác yêu đương, kích thích. Cảm giác mình còn hấp dẫn. Cảm giác có người “hiểu” mình, “yêu” mình. Nghĩa là mong muốn cái tôi của mình được khẳng định tầm quan trọng, cũng như mong các khoái cảm cho cả thân và tâm. Gieo các nhân đó, dĩ nhiên gặt hai trong tám cái khổ (18) mà Phật nói: sở cầu bất đắc khổ (muốn mà không được), và ái biệt ly khổ (thích mà phải xa lìa). Cùng cái nhìn đó, mà không có tình ý, chỉ có thành ý, thiện ý, lòng thành, ý tịnh, thì nhân khổ không gieo, quả khổ không gặt.

Nhìn ra xã hội, những chuyện ân oán, đánh ghen, kết hôn, ly hôn, trả thù, ngoại tình, phản bội, bệnh trên thân, bệnh trên tâm, vân vân... không chuyện nào không thể truy ra cái nhân tham, nhân sân, nhân si, nhân ác. Không chuyện nào không thể truy lại được giây phút người ta đã gieo hạt giống bất thiện (một lời nói, một ý nghĩ, một hành vi), rồi đến khi gặt quả bất thiện thì băn khoăn không hiểu tại sao. Đa phần chúng ta điên đảo tính toán để hơn thua với người với đời, rồi lại băn khoăn tại sao mình phiền não và thua thiệt.

Có những chiều tối ngồi ở gác chuông nhìn mặt trời lặn sau chùa, tôi nghĩ lại tất cả những điều tôi đã làm đã nói trong đời và nhận ra, tôi đã gieo quá nhiều nhân bất thiện; cho nên tôi chắc chắn phải gặt quả phiền não. Cho dù tôi không giết người, cướp của, không nói dối, không mấy khi nổi giận, nhưng từng sát na một, trong đầu tôi bao năm nay đã luôn tự động hết ý nghĩ này đến ý nghĩ kia, đa phần ý nghĩ bất thiện. Nhìn một người, lập tức trong đầu tự động nghĩ gầy thế, béo thế, sao lại mặc thế kia, xinh nhỉ, xấu nhỉ, rồi từ đó nghĩ đủ thứ chuyện bao đồng. Buổi sáng ngủ dậy, nhìn mình trong gương cũng lại gầy thế, béo thế, già thế, xấu thế, mắt thế nọ, mũi thế kia, vậy là lại phải hì hục chăm bẵm cho cái thân này. Nào là ăn gì cho đỡ béo, mua kem gì bôi cho đẹp da, gội dầu gì đỡ rụng tóc, mặc cái gì cho đẹp. Cứ như thế; 24 tiếng một ngày, cả triệu ý nghĩ lúc thức cũng như ngủ toàn những ý nghĩ vô bổ, đầy tham, sân, ngạo mạn, nghi ngờ, phán xét - tưởng là vô hại mà lâu ngày chúng tích lũy thành cái gọi là “tôi” hôm nay, với tất cả những hệ lụy và phiền não. Nếu tôi trung thực mà nhìn, tôi có thể rà lại và biết đích xác một số phiền não hiện có của tôi bắt nguồn từ khoảnh khắc nào - nhất là khoảnh khắc mà tôi biết không nên nhưng vẫn cố tình làm việc bất thiện, nói lời bất thiện.

Số phận ư? Chính là các hành nghiệp này mà thôi. Chính là các nhân mà tôi trồng bằng những thói quen lớn nhỏ, có ý thức hay vô thức. Nhưng dừng chúng thế nào thì tôi còn chưa biết cách. Từ sáng đến tối, các ý nghĩ của tôi vẫn cứ tự động vận hành; cứ xấu đẹp thích ghét lải nhải; tôi chỉ nhận ra chúng mỗi khi chúng kết thành quả phiền não, bắt tôi phải hỏi “Tại sao? Từ đâu?” Lúc ấy thường đã quá muộn.

Thế thì nỗi sợ hãi... ắt phải có nhân là tôi từng khiến người khác sợ hãi chăng? Có quả “ma” ắt phải có “nhân” ma. Nhưng nhân đó thế nào? Tôi vẫn quá sợ và quá xấu hổ để hỏi thầy. Dù người đến chùa gọi vong lên nhiều nhưng tôi chưa bao giờ xin thầy cho gọi vong của tôi; mà cũng không có vong nào của tôi tự động “lên” mỗi khi tôi ngồi xem vong của người khác.

Mỗi tối, ngồi xem vong lên, tôi phải nghĩ lại về sự nhỏ bé của mình trong thế giới. Lúc nhỏ, đọc tiểu thuyết Trung Quốc, Pháp, Mỹ, tôi đã nghĩ khi lớn lên, tôi chỉ cần đi hết năm châu bốn biển là biết hết thế giới. Hơn mười năm qua ở Mỹ và đi du lịch các nước, tôi bắt đầu nghĩ thế giới quá chật, thành phố nào rút cục cũng vẫn là người, với những vấn đề giống nhau. Tôi đã từ bỏ kế hoạch đi châu Phi, Trung Đông, hay Nam Cực Bắc Cực mà tôi vốn cho là chỗ đáng đi để trải nghiệm hết thế giới. Nhưng mỗi tối ngồi chứng kiến chuyện ở chùa, tôi bắt đầu thấy ngoài núi này còn núi. Ngoài sông còn biển. Bên ngoài trời còn có trời. Có thể có tam thiên đại thiên thế giới...

Nhưng quan trọng hơn, mỗi ngày ở chùa, tôi ngấm sâu sắc sự bé mọn của mình khi mình rất lóng ngóng, bất lực lúc đụng chuyện. Quả thực, ngồi trên núi nói chuyện đại bi, hay ngồi trên pháp đường nói chuyện đại trí - đại dũng quá dễ. Lâm sự có làm được việc không mới là vấn đề. Khi gặp một đứa trẻ khóc lóc, tôi phải làm gì? Khi gặp một người lớn tiếng dọa dẫm, tôi phải làm gì? Gặp một người mắng mình sa sả; hoặc kể lể, đòi hỏi đủ thứ (các cụ nói không sai, “chiều như chiều vong”) thì phải làm gì? Cái khó nữa là, vong thì có thể là trẻ con, thiếu nữ, bà già, trung niên, tướng quân, kẻ trộm, mèo, chó, người đang gãy tay, người đang chết đuối - mà chư tăng thì chỉ nhìn vào một thân xác người cho gá. Tá giả độ chân - dùng cái giả để độ cái thật - họ phải đi trên ranh giới mong manh của thật giả mà không được buông lơi, vẫn phải một tâm cứu người như cứu hỏa.

Chỉ vì tâm cứu độ đó mà họ vượt qua nỗi sợ lúc hành sự, chứ hóa ra các sư ông sư bác sư chú cũng sợ ma. Tôi đã hỏi rồi.

“Chú có sợ ma không chú?”

“Có chứ, hồi trước sợ lắm. Có hôm tôi đến nhà bạn ngủ mà sợ quá, hai đứa rúc vào chăn, trùm kín đầu, không cả thở được.”

“Thế giờ không sợ nữa ạ?”

“Cũng vẫn sợ chứ, chỉ không sợ bọn ma tép riu thôi. Đại ma vẫn sợ chứ. Vì mình mới tu tập, định lực mình còn ít. Mình không phải như thầy. Cụ có thể xả thân vì chúng sinh, cụ có thể bảo ta thà mất thân này chứ không để các ngươi nhiễu loạn. Mình thì vẫn sợ chết, vẫn tiếc thân này nên vẫn sợ ma. Vì ma cũng có phước báu, cũng có thần thông, có đạo lực chứ cô. Họ cũng tu mà, chỉ tu sai thôi. Ma chỉ thua Phật ở lòng từ bi.”

“Ngày trước sư ông có tin có ma không?”

“Có, ngày xưa sợ ma lắm! Tin là có ma. Và mình không hiểu biết về họ nên mình càng sợ! Lúc nhỏ sợ lắm!”

“Chú Ngũ ơi, hồi chú mới vào chùa chú có sợ ma không?”

“Ôi sợ lắm cô. Hồi mới đến chùa còn nhiều tháp tổ, rồi cái ao đằng sau thì nhiều tre và đom đóm. Sợ lắm.”

Buồn cười là ở chùa không ai biết tôi sợ ma. Trái lại, tất cả đều tin răng tôi không biết sợ là gì và còn lấy tôi ra làm mẫu.

“Làm thế nào để hết sợ hả sư ông? Con thấy con sợ nhiều thứ lắm.”

“Sư ông có thấy cô sợ ai bao giờ đâu?”

“Cô Việt thì có biết sợ là gì?”

“Em phải cứng rắn lên. Đấy, em xem chị Việt đây này. Chị ấy cứ bình thường. Chị ấy không quan trọng hóa cái gì cả, không phải thấy mây thì bảo điềm này, thấy hương cháy thì bảo điềm kia; thấy cái gì cũng bảo là ma. Cứ bình thường. Nói thật với Việt, anh quý em nhất ở chỗ đấy đấy. Cứ bình thường. Chẳng phải thần thánh hóa cái gì cả.”

Tôi nghe mà ngẩn ngơ. Hóa ra, chúng ta đều nhìn nhau sai cả. Không ai biết lòng ai thật sự thế nào. Khổ đau mỗi chúng ta ngấm ngầm chịu đựng và cố gắng tự xoay xở với những vực thẳm bên trong; rồi chưng một bộ mặt khác với thế gian.

Chứng kiến tất cả những chuyện tâm linh ân oán ở chùa, tôi lại cũng đã hiểu: giải thoát là giải thoát nơi tâm. Tất cả các chúng sinh trong cảnh giới vô hình không giải thoát, dù họ không có thân, chính vì tâm họ không thể giải thoát. Tức là phải mở cái tâm này ra để làm sao có thể đi vào tất cả cảnh giới, trần gian hay địa ngục, mà không bị ngăn ngại, phiền não, thì đó chính là giải thoát.

Nhưng phải mở tâm thế nào? Tôi quá thấm thía rồi: nói rất dễ, nhưng chỉ cần có việc động đến cảm giác an toàn của bản thân, là lập tức sợ hãi sẽ nổi lên và tôi cam đoan nó có thể khiến tôi làm những việc bình thường tôi không bao giờ làm. Vậy phải thực sự mở tâm thế nào đây?

Kết thúc mùa hè 2012, tôi trở lại Mỹ với ý nghĩ mùa hè sau tôi sẽ quay lại ở chùa cả mùa hè để tiếp tục học.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang