Đã gần cuối mùa an cư, ngày của tôi cứ tự nhiên thuận theo sáu thời hành đạo. Hằng sáng, 3 giờ 45 phút, đồng hồ đổ chuông là tôi vùng dậy để công phu khuya. Sáu giờ ăn sáng, rồi tắm gội sạch sẽ, lên nghe thầy giảng pháp từ 7 rưỡi đến 9 giờ. Từ 9 giờ sáng đến trưa, nếu không ra bệnh viện làm việc thì tôi ở chùa theo thời khóa sáng hoặc đi khắp chùa, có chuyện gì tôi quan sát chuyện đó. Buổi chiều, khi thầy dạy giới luật cho các sư ông trong nhà sàn thì tôi mang máy tính lên Tam Bảo viết và giải quyết các công việc bên Mỹ. Đến 4 giờ chiều, tôi đi niệm Phật với chư tăng; sau đó theo tiếp thời khóa chiều hoặc tiếp tục quan sát. Buổi tối, cũng tùy hôm mà tôi theo thời khóa tối hoặc đọc sách, viết, hỏi chuyện thầy, các sư ông hay Phật tử sống trong chùa hoặc ngồi xem thầy và các sư ông giải quyết các chuyện tâm linh cho những người cần giúp. Thường sau lâm thụy, mọi người đi ngủ rồi tôi lại tranh thủ viết hoặc đọc sách đến 10 rưỡi hoặc 11 giờ đêm, có hôm đến 12 giờ mới tắt điện ngủ. Tất cả những người sống trong chùa - kể cả các bà vãi, mấy đứa trẻ, các Phật tử ở nhờ trong chùa, đội thợ xây chùa, thợ vẽ và những người làng thường xuyên sang chùa chấp tác - đã quá quen sự có mặt của tôi. Cứ có việc gì xảy ra trong bếp, trên Tam Bảo, nhà tổ, nhà Tứ Ân, là không cần thầy nhắc, mọi người lại chạy đi gọi tôi để cho tôi được chứng kiến. Ai cũng gọi tôi là “cô giáo”. Bọn trẻ con trong chùa thì cứ thấy tôi là giơ tay:
“Chào giáo sư.”
“Giáo sư đi đâu thế ạ?”
“Giáo sư lên chùa không ạ?”
Gọi thế, nhưng dường như tôi đang không làm việc của một cô giáo hay một nhà nghiên cứu mà chỉ đang sống. Sống bình thường ở chùa. Từ hôm bắt đầu an cư, tôi chưa từng bỏ một thời Lăng Nghiêm nào. Về mặt nghiên cứu, tôi muốn thực chứng kinh nghiệm chinh phục thân tâm - bắt đầu từ chỗ thô thiển nhất là tập cho thân không còn thấy ngại khi phải ra khỏi giấc ngủ, xuống giường mà lên Tam Bảo bất kể mưa nắng, nóng lạnh, mệt hay khỏe. Nhưng hình như không phải. Mỗi sáng, lặng lẽ trở dậy lúc gần 4 giờ sáng, có cái gì trong tôi mạnh hơn và nghiễm nhiên hơn chuyện đạo đức nghiên cứu. Thực sự, có hôm, mở mắt ra mà toàn thân rã rượi, từng khớp xương đều bải hoải không muốn dậy, nhưng rồi tôi lại nghĩ: “Hôm nay không lên sẽ là lần đầu ta không lên chùa. Nếu có lần đầu, sẽ có lần thứ hai, thứ ba”. Nghĩ thế tôi lại vùng dậy. Dần dần, chẳng phải nghĩ nữa, đồng hồ đổ chuông là tôi dậy dù có hôm lên Tam Bảo rồi mà tưởng như không có sức để mở miệng phát ra dù chỉ một âm.
Các sư ông, sư bác, sư chú cũng mệt, nhất là những hôm chùa có việc khuya hôm trước thì sáng hôm sau, không ai nói một lời, chỉ lặng lẽ ngồi xuống, dọn y, cầm dùi chuông dùi mõ lên. Thực sự không có gì để nói cả - tôi nhìn đó là biết. Có hôm mưa to, chùa mất điện, chúng tôi thắp nến và đèn pin tay ngồi tụng trong tiếng mưa sầm sập trên mái ngói. Chấp tất. Mệt mỏi, lồng lộn, kệ. Rũ rượi, buồn phiền, kệ. Đau khổ, tuyệt vọng, kệ. Nước mắt giàn giụa, cũng kệ. Kệ tất. Kệ luôn cả sự kệ. Các sư ông, sư bác sư chú cứ lặng lẽ quây cà sa tròn quanh mình. Cái im lặng tuyệt đối sau khi y áo đã chỉnh tề, chờ tiếng khánh và chuông bắt đầu buổi lễ thường làm tôi nghĩ đến cụm từ “tiếng gầm của sư tử.”
Chỗ này không còn là chỗ của sự cố gắng nữa. Nó đã vượt qua ngưỡng cố gắng. Nó không còn là sự tu hành theo kiểu uốn nắn, sửa sang thân tâm nữa. Nó không phải một pháp hành. Không phải một con đường. Nó chỉ là sống. Sống bình thường.
Sáng nào cũng thế, tôi lên sớm, giữ một chỗ cố định ở hàng dưới, phía bên ban Đức Thánh Hiền. Nếu thầy lên thì thầy làm chủ sám ngồi hàng trên chính giữa Tam Bảo, bên trái thầy là sư ông Đạo Nhất và sư ông Đạo Nhị, bên phải thầy là sư ông Đạo Tam và ông Đạo Tứ; cũng có hôm ông Nhị nổi hứng giữ kiểng thì sẽ chuyển sang ngồi phía bên kia và ông Tam hoặc ông Tứ sẽ ngồi bên này. Chủ sám bao giờ cũng giữ chuông và mõ. Nếu thầy không lên thì ông Đạo Nhất thường làm chủ sám; hàng dưới là bác Ngũ, chú Lục, chú Thất. Một buổi sáng, sư chú Thất cầm mõ làm chủ sám để tập sự - mà chú Thất cầm mõ thì nhanh lắm. Hết thời khóa, chú bảo tôi:
“Cô giáo có khi lúc trước đã ở chùa này rồi cũng nên. Mõ nhanh thế mà theo được không vấp, đọc trôi chảy. Cô có biết lúc tụng tôi nghĩ gì không?”
“Không ạ.”
“Thôi, không nói không cô lại sợ, cứ để chư tăng chứng. Thế bao giờ cô lại sang bên kia?”
“Giữa tháng Tám.”
“Xong sang năm lại về?”
“Vâng ạ.”
“Sang năm chắc về lâu hơn, sang năm nữa lại về lâu hơn nữa, nhỉ?” - chú Thất cười cười.
Tôi biết chứ. Ý chú Thất nói là trong các kiếp trước, tôi từng tu hành ở đây rồi. Tôi chỉ cười. Thật sự, các sư ông, sư bác, sư chú đối với tôi như với một sư muội của mình chứ không phải một Phật tử đang vào chùa nghiên cứu. Mà chính tôi cũng cứ bất giác đáp lại điều đó và cảm thấy rất tự nhiên. Có những thời Lăng Nghiêm sớm mà các sư chú đi đâu mất, chỉ có mình tôi trên Tam Bảo thì nghe hồi kiểng tập tăng cuối cùng từ phía nhà tổ, tôi sẽ gõ chuông đón trên này. Mỗi lần thấy thế, thầy lại tủm tỉm cười; các sư ông cũng tủm tỉm cười. Thầy và các sư ông đi công việc bên ngoài cũng hay rủ tôi đi, rồi lại dạy tôi đánh trống, não bạt, chuông mõ. Ông Đạo Tứ dạy tôi đánh não bạt thế này:
“Lúc đầu chưa quen thì cô cứ nhẩm: thịt gà xé, thịt gà xé, thịt gà xé miếng bé miếng to; thịt gà kho, thịt gà kho, thịt gà kho miếng to miếng bé. Cùng xé, cùng xé, cùng xé.”
Tức là nhịp “tom tom chát, tom tom chát, tom tom chát tom chát tom chát”. Còn đánh cái tiu cảnh thì thế này:
Tôm trứng tôm trứng, tôm tôm trứng.
Tức là tom chát, tom chát, tom tom chát.
Buổi chiều, một người đàn ông được vợ và bố mẹ vợ đưa tới trong tình trạng nói năng lảm nhảm. Anh ta cứ tự nhận mình là quan Trần triều bên Tứ Phủ, rồi lại nói mình là thánh nọ thánh kia được phái xuống, quát tháo vợ anh ta. Vợ anh ta nói anh ta bị như thế này đã mấy hôm nay. Trong lúc vợ và mẹ vợ anh ta ngồi nói chuyện với thầy ở bàn nước thì anh ta đi tới ban thờ Phật bên ngoài nhà Tứ Ân, quỳ xuống lạy, rồi bắt đầu chắp tay đi chậm rãi trước ban thờ; sau đó thì kính cẩn lấy một bông hoa cúc từ lọ hoa trên ban thờ xuống cho vào miệng ăn. Anh ta nói đó là lộc các ngài cho. Ăn hết bông hoa thì anh ta lại cầm quả Phật thủ đã héo lên cắn, sau đó đi lần lần ra ngoài phía cây hoa đại, đánh thùng rác, nhổ vào thùng rác, rồi lại định đập đầu vào thùng rác. Các sư ông, sư chú ngăn lại thì anh ta mắng chửi rằng họ chỉ là phàm phu ngu dốt, biết cái gì, ta là quan Trần triều. Thầy bảo các sư ông dắt ra ghế đá ngồi nói chuyện; rồi một lúc sau thì sư ông Nhị đưa vào trước nhà Tứ Ân. Anh ta ngồi xuống, tiếp tục nói lảm nhảm. Sư ông Nhị đập ghế:
“Ngươi là người hay là ma?”
Anh ta nói:
“Con là người.”
Một Phật tử nói:
“Là người gì mà ăn nói lung tung thế? Sao xưng mình là quan Trần triều? Không biết nói thế phải tội à?”
Anh kia chỉ mặt Phật tử này:
“Cỡ như ngươi không đáng để ta nói chuyện nhá.”
Anh ta đôi co một lúc với các Phật tử thì thầy gọi ra bàn nước. Thầy bảo ngồi xuống ghế bên cạnh. Anh ta chắp tay rất kính cẩn với thầy nhưng mắt đảo lia lịa, không dám nhìn thẳng vào thầy. Thầy cười, hỏi:
“Thế ai đang nói chuyện với tôi đấy?”
“Con là Quang ạ.”
“Quang hả? Thế sao Quang lại xưng là quan Trần triều?”
Anh ta lại bắt đầu nói lảm nhảm nhưng xưng con với thầy. Nói con là quan Trần triều được phái xuống, rồi nói chuyện Mẫu nọ ông Hoàng kia. Thầy chỉ cười, thầy nghe một lúc rồi bảo:
“Chú là Quang. Chú không làm sao đâu. Cứ yên tâm nhá.”
Thầy bảo gia đình đưa về. Thầy nói với vợ anh ta rằng anh ta không bị làm sao đâu; chỉ là có ức chế tâm lý nên bắt đầu lẫn lộn nghe thấy có người nói bên tai. Cứ cho về, đừng có nói năng, thúc giục, chèn ép gì anh ta; đến rằm vào thì nói chuyện tiếp. Người vợ gật đầu vâng dạ, xin phép ra về. Thầy nói với Quang:
“Chú Quang về nhá, đến rằm vào chùa chơi.”
Anh ta đứng lên, chắp tay như kiểu quan võ lễ thầy, rồi lễ lần lượt các sư ông sư bác đang đứng đó. Anh ta khoát tay với tất cả những người còn lại:
“Còn các người nhá, ta không cần lễ.”
Rồi chợt nhìn thấy tôi ngồi ở bàn gần đó, anh ta nói:
“À, cũng được đấy.”
Thế là chắp tay lễ tôi. Tôi giật mình chắp tay lễ lại. Anh Nguyễn họa sĩ bảo:
“Cô Việt ở chùa tụng kinh lễ Phật nhiều, tâm lượng tăng lên nên được người ta lễ.”
Tức là rút cục thì tu chủ yếu là ở tâm, chứ hình tướng cư sĩ của tôi không quan trọng? Tôi có thể trở lại Mỹ, tiếp tục dạy học, viết sách, lập gia đình, đi chu du thế giới mà vẫn là tu? Thật sự, nói lý thuyết thì tôi biết thế. Các tổ vẫn bảo cuốc đất, trồng rau, bổ củi gánh nước đều là tu, không phải chỉ lúc tụng kinh niệm Phật mới là tu. Thầy bảo:
“Trực tâm là đạo tràng. Cô xây một ngôi chùa trong tâm thì cô đi đâu cũng được.”
Nhưng lòng tôi còn phân vân. Chỗ này là chỗ không thể dối trá. Đừng nói câu “tu chủ yếu ở tâm” rồi “thứ nhất thì tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa” một cách đãi bôi. Vào thời điểm này, ở chùa rõ ràng tôi vẫn an hơn.
Chiều gió mát, tôi không vào Tam Bảo mà ngồi ngoài thềm nghe đại chúng tụng kinh. Từ chỗ ngồi, tôi thấy anh thợ sơn đứng phun nhũ vàng lên các tượng Tỳ Lô Giá Na, phía sau là cây đại trổ đầy hoa đỏ và vượt qua bên ngoài tường chùa là những cành khẳng khiu của cây gạo đã rụng hết lá đang in bóng trên nền trời tráng ánh hoàng hôn. Có con chim sẻ nhỏ đậu trên đường dây điện căng ngang từ nhà tổ sang khu nhà tăng cứ líu lo một mình rất lâu rồi sà xuống sân xi măng tiếp tục líu lo, chân nhảy nhảy vui vẻ.
Tiếng kinh cứ vang vang. Không gian đầy tràn một thứ tôi không thể tả. Hết khóa lễ rồi nhưng tôi vẫn ngồi ngoài hiên. Gió mát không thể đứng dậy. Sư ông Đạo Tứ đi ngang qua:
“Ơ sao cô lại ngồi đây?”
“Con ngồi đây hưởng...” - rồi chẳng biết dùng từ gì - “Con cũng không biết ạ.”
“Hưởng sự an lạc hả?”
Thực ra “an lạc” cũng không chính xác nhưng tôi cũng chẳng tìm ra chữ gì khác cả. Nhiều khi tôi cũng không hiểu. Tôi dậy từ 4 giờ sáng, đêm chỉ ngủ tối đa bốn năm tiếng, ăn thì cơm chay - có hôm chỉ có bát cơm chan canh mùng tơi suông với mấy quả sung và dưa muối - vậy mà thấy thật khỏe mạnh. Lúc nào lòng cũng hớn hở, thấy ai cũng có thể cười toe toét, việc gì cũng hay, ai cũng đáng yêu đáng quý. Dường như, chỗ hợp lý nhất và tự nhiên nhất của tôi chính là trong chùa, không còn phải tìm đâu khác.
Sắp hết an cư, sắp phải rời chùa trở lại Mỹ, tôi không thể không nghĩ. Lòng tôi dường như lúc nào cũng chia đôi - mà chia đôi như giả vờ. Một nửa thì như cừu non, thấy ai cũng sợ, cũng muốn tránh; một nửa thì như sư tử nằm ngủ, thật ra là chẳng sợ ai. Một nửa như cô gái liễu yếu đào tơ, chỉ muốn trướng rủ màn che mặc thế sự; một nửa thì như tráng sĩ một ngựa một kiếm dọc ngang thiên hạ, càn khôn nắm trong tay. Một nửa thì luôn có cảm giác mình là chú tiểu nhỏ, chỉ thích sáng chiều quét chùa trồng rau, đun nước pha trà hầu Phật hầu tổ, không còn muốn gì hơn; một nửa lại muốn đạp núi băng sông, đội đá vá trời, xông pha vào đời giúp người, làm những việc đại sự, muốn những trống to phách lớn, chùa cao sân rộng, khắp thế giới là đại đàn tràng... Lúc thì thấy mình không thể làm được gì; mà có lúc lại thấy không có gì trong trời đất mà mình không làm được. Thế là sao đây?