Về Nhà

Lượt đọc: 2549 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 46
ma đấy, phật đấy

Hôm nay, chuyện đặc biệt nhất của mùa hè này đã xảy ra.

Tối hôm nay là buổi tụng giới Bồ Tát (34) cho những người đã thụ Bồ Tát giới nên Phật tử về rất đông. Tôi chưa thụ giới nên không được vào Tam Bảo lúc tụng giới mà ngồi chơi ở bàn nước cùng những người chưa thụ giới khác.

Đến 9 giờ, tụng giới đã xong, thầy xuống bàn nước tiếp chuyện Phật tử ngoài phố nhưng không hề thấy bóng dáng các sư ông, sư bác, sư chú, trong lòng tôi đã linh cảm hình như chuyện gì xảy ra. Một lúc sau, sư ông Đạo Tứ từ nhà tổ đi xuống bàn nước, ghé tai thầy thì thầm nhưng thầy chỉ gật đầu rồi tiếp tục ngồi nói chuyện với Phật tử. Đến 9 rưỡi, Phật tử hầu hết đã về, cũng đến giờ lâm thụy mà tôi không nghe thấy chuông báo, lại thấy thầy vẫn ngồi ở bàn nước, không đi đắp y, tôi càng nghi. Đang nhấp nhổm trong nhà sàn thì bác Phú gọi tôi:

“Cô Việt ra tôi nhờ tí.”

Tôi đi ra. Bác Phú thì thầm:

“Đức Chúa Ông lên, cô lên nhà tổ đi.”

Tôi vội vàng đi lên nhà tổ. Đức Chúa Ông đang vào anh Sang, ngồi trên ghế ở cung ngoài. Thầy đã lên tự lúc nào, ngồi một bên ghế đối diện Đức Chúa Ông; các sư ông, sư bác, sư chú thị giả xung quanh. Lúc này, Đức Chúa Ông đang khuyên nhủ vợ chồng Tuấn - Thảo rằng hai vợ chồng thương yêu nhau, đồng tâm trong cuộc sống thì mọi chướng duyên sẽ hết.

Ngồi ở cung ngoài một lúc thì chuyển vào cung trong, bên ban Đức Chúa Ông. Lúc này trong nhà tổ chỉ có thầy, các sư ông, sư bác, sư chú, những người đang ở chùa, cùng một vài Phật tử thân tín. Bác Phú ngồi cửa giữ không cho người khác vào. Tôi ngồi ở góc cột xa xa để có thể quan sát tất cả.

Lúc mới vào nhà tổ, không hiểu sao trong đầu tôi cứ nổi lên niệm hay vào ra mắt Đức Chúa Ông. Tôi đã chứng kiến những sự kiện thế này nhiều lần nhưng không lần nào tôi có ý định vào ra mắt, tôi chỉ muốn quan sát như người ngoài. Lần này, niệm nổi lên rất rõ mà tôi không thấy sợ, chỉ thấy hiển nhiên. Có điều, vào thì hỏi gì? Những người khác vào lễ Đức Chúa Ông thường hỏi về chuyện phúc nạn, rồi cầu xin; Đức Chúa Ông cũng thường nói cho họ biết về nghiệp chướng, quá khứ, tương lai, nhân duyên, để khuyến tiến họ tu tập. Nhưng giả sử Đức Chúa Ông nói với tôi những điều đó thì với tôi có ích gì không? Quá khứ của các đời trước thì tôi không thể xác quyết, hiện tại thì làm gì có ai biết rõ hơn tôi về những gì xảy ra với tôi, còn tương lai thì tôi sẽ tự định đoạt. Vậy thì vào để giải quyết vấn đề gì? Tôi cứ đắn đo như vậy, không biết có nên vào hay không.

Chú Thất hình như đọc được ý nghĩ của tôi. Chú đang thị giả cạnh Đức Chúa Ông và xa tôi nhưng chú quay ra, miệng mấp máy với tôi:

“Vào lễ Đức Chúa Ông đi.”

Tôi gật đầu, có thêm chút dũng khí, nhưng cũng vẫn ngần ngại. Đang nghĩ thì đột nhiên thầy đứng lên khỏi ghế cạnh Đức Chúa Ông, đi ra chỗ tôi, rồi đi quanh ban thờ Phật và các tổ. Khi thầy quay lại, tôi tự nhiên có dũng khí đứng lên hỏi thầy:

“Thầy ơi con muốn vào ra mắt Đức Chúa có được không?”

Thầy gật đầu.

Khi cô gái tiếp theo hỏi chuyện Đức Chúa Ông xong, thầy và chú Đạo Thất cùng quay ra nhìn tôi, gật đầu. Tôi đứng lên đi vào quỳ trước mặt Đức Chúa lễ ba lễ. Lễ xong, mọi người bảo tôi nói tên, năm sinh, nơi làm việc hiện tại, về chùa làm gì, cầu xin điều gì. Tôi nói tên tuổi nơi làm việc. Tôi thực sự cũng không cầu điều gì, tôi chỉ định vào kính lễ ngài mà thôi. Nhưng tôi vừa nói xong tên tuổi nơi ở thì ngài nói:

“Không có cái duyên đó, Phật pháp với ngươi cũng chỉ như ánh trăng. Ta khá khen ngươi, đường danh lợi thênh thang rộng mở nhưng ngươi không đoái mong, tự cầu tự chí học. Ngươi không tìm đạo cũng chẳng mong cầu. Ngươi tự đến, vô tình nhưng hữu ý. Ta ban khen cho ngươi: Diệu Hương. Ngươi còn điều gì thỉnh cầu, tấu ta nghe?”

Cái duyên đó?

Nghĩa là cái con ma đã đến thở cạnh tôi buổi tối hôm đó chỉ là cái duyên để tôi đến chỗ hiện tại, dù chỗ hiện tại gọi là gì cũng được. Duyên đó chính xác là thế nào? Một vị hộ pháp thiện thần đến nhắc nhở? Một người thân trong quá khứ muốn nhờ tôi giúp chuyển sinh? Một oan gia trái chủ của tôi đến đòi nợ? Một vong linh tình cờ đồng thanh tương ứng mà muốn đánh động tôi? Một vị thầy của tôi trong quá khứ? Một vị Bồ Tát, thánh tăng tác tướng ra? Hay là chính tâm tôi vọng ra? Hay nghiệp thức của tôi biến hiện?

Nếu tôi muốn biết, chắc chắn tôi có thể biết. Nhưng điều đó đã không còn quan trọng. Điều quan trọng là nhờ có nó mà tôi đã đến chỗ hiện tại. Nếu chỗ hiện tại này là chỗ tôi mạnh mẽ hơn, bớt phiền não, bớt ảo tưởng, tôi mở rộng lòng với thế giới một cách thực sự, thì tức là tất cả những gì xảy ra lúc trước đều là duyên lành. Là điều đúng.

Mà thật sự thì tôi cũng không còn nghĩ chuyện duyên lành hay không lành, đúng và không đúng; giả và thật. Tôi đã hiểu rằng tất cả mọi việc xảy ra với tôi cũng như tất cả mọi thứ trên đời đều là pháp, đều là các pháp đang biểu hiện, như nhau. Tất cả đều là đạo. Tất cả đều là thầy, đều đang dạy tôi; tôi có thể học từ tất cả, dù ma, quỷ, Phật, Bồ Tát, người tốt, người xấu. Đấy là phần lý, còn cần phần sự. Tâm tôi mở đến đâu, sẵn sàng cho đoạn nào, sự nào, thì người thầy sẽ xuất hiện ở đó. Có tâm. Tâm thiện, tâm ác, tâm không thiện không ác. Tâm thông thường. Tâm biết đủ. Tâm cân bằng. Tâm trống rỗng. Vô Ngã. Không. Không. Không...

Phải có tất cả những duyên đó thì đến mùa hè sau nữa, tại một ngôi chùa, tôi mới gặp một nhà sư chỉ cho tôi đoạn kinh Lăng Nghiêm mà tôi đã vật lộn bằng cách dạy tôi đi kinh hành một mình trong khu nhà mộ sau chùa lúc nửa đêm, cùng với lời dặn:

Người ta thường nghĩ “Niết Bàn diệu tâm” mà Phật đã chỉ cho ngài Ca Diếp trên đỉnh Linh Thứu rất khó đến. Nhưng Niết Bàn ở ngay đây. Khi con nói, Niết Ban cũng đang hiện hữu. Khi con nhìn, Niết Bàn cũng đang hiện hữu. Vì sao con không tiếp xúc được với Niết Bàn? Vì con còn mải tiếp xúc với suy nghĩ và cảm thọ của con. Con không phải làm gì đặc biệt để Niết Bàn có thể xuất hiện. Con chỉ cần dừng lại.

Nếu con dùng đêm nay như một cơ hội để tiếp xúc với Niết Bàn thì sau đó con sẽ có thể Niết Bàn vào mọi thời. Đêm nay, khi con đi, đứng, hay ngồi, con không được dùng niệm Phật, không dùng thần chú, không dùng các lời pháp, không dùng bất cứ công cụ nào con từng biết để chế ngự nỗi sợ và các cảm thọ phát khởi khi con nhìn, nghe, ngửi thấy bất cứ thứ gì từ xung quanh. Chỉ có thân và tâm thuần khiết của con trực diện với vạn hữu xung quanh. Như thế, con sẽ có thể tiếp xúc với cái cần thấy.

Hãy đi vào đó như thể con đang bước trên không khí, nhìn xuống thành phố như xem một bộ phim. Con không cần phải làm bất cứ điều gì. Chỉ tiếp xúc trọn vẹn với sự tịch diệt. Rồi tất cả bên trong và bên ngoài sẽ dừng lại và chuyển hóa. Chuyển hóa thành cái gì? Thành Niết Bàn. Cảm xúc sẽ chuyển hóa thành Niết Bàn. Suy nghĩ sẽ chuyển hóa thành Niết Bàn. Các cảnh và sự kiện xung quanh chuyển thành Niết Bàn. Khi tất cả là Niết Bàn, tất cả bên trong bên ngoài con đều bặt nghĩa. Lúc đó, đừng chạm vào trạng thái “mọi thứ xung quanh không có ý nghĩa” và nó sẽ mở rộng vô tận vô biên. Lúc đó, con sẽ thấy.

Lúc này, Đức Chúa Ông nói:

“Diệu Hương, những chuyện đã qua, chớ nghĩ lại. Hãy trở về sự an lạc, hướng tới sự an lạc. Tâm có an, tuệ mới phát. Tâm không an sẽ chẳng thấy được gì.”

Đức Chúa Ông mỉm cười.

“Ngươi còn điều gì thỉnh cầu?”

“Dạ hôm nay con chỉ ra mắt, Đức Chúa Ông ban pháp cho con, con xin tạ ơn, con không có điều gì thỉnh cầu nữa ạ.”

“Ta mong ngươi như hương như sắc, tỏa khắp muôn nơi” - Đức Chúa Ông xoa đầu tôi.

Tôi lễ Đức Chúa Ông ba lễ rồi lùi ra.

Phải đến 2 rưỡi, tôi mới nằm xuống ngủ nhưng đầu óc tỉnh táo sáng láng lạ thường.

Gần đây, khi tôi nghĩ đến việc một lúc nào đó - có thể vài năm nữa - sẽ quy y Phật pháp và chọn một pháp danh thì tôi chỉ muốn lấy pháp danh là Diệu Hương; chữ “hương” trong “Thập phương chư Phật, thường tại thế gian, pháp âm bất tuyệt, diệu hương sung tắc, pháp vị doanh không (35) ” mà khóa lễ chiều nào cũng tụng. Điều này, tôi không hề nói với ai vì chuyện quy y cũng là chuyện tôi chỉ bắt đầu ngầm nghĩ trong đầu và định ít nhất vài năm nữa tôi mới làm.

Tôi cứ nghĩ lan man rồi chảy nước mắt. Bên trong, một thứ vô hình cứ rung lên, tự chuyển động, vỡ vỏ, vươn lên. Từ bé tới lúc đó tôi mới cảm thấy có ai chạm vào tận đáy tâm can mình, xuyên thấu, soi rõ mà không hề phán xét, chỉ có thấu hiểu và thương yêu, rồi chỉ cho tôi con đường. Con đường rất đơn giản nhưng là một châm ngôn tôi sẽ còn thấy đúng cho nhiều năm sau:

Hãy tu tập để trở về với sự an lạc. Tâm có an thì trí mới sáng. Tâm không an sẽ chẳng thấy được gì.

Tôi cứ nằm chập chờn trong sự rúng động đó đến sáng. Trong chùa mọi người đã ngủ hết rồi mà tâm tôi cứ sáng trưng không sao có thể tắt. Cả người như một khối sáng rỡ rùng rùng chuyển động bằng một nội lực có thể dời non lấp bể, đội đá vá trời.

Trưa hôm sau, trong lúc ngồi chỉnh cuốn Lục Thời Hành Đạo với thầy, tôi hỏi:

“Thầy ơi, Đức Chúa Ông nói với con: ‘Tâm có an thì tuệ mới phát; tâm không an sẽ chẳng thấy được gì’. Con tưởng là phải ngược lại chứ. Phải phát tuệ, có hiểu biết đúng, thì tâm mới an chứ, sao lại nói tâm an thì tuệ mới phát ạ?”

Thầy nói:

“Không, tuệ khác tri kiến. Tuệ sinh ra từ tĩnh, đã nói tuệ tức ‘trí tuệ bát nhã’ thì không còn phân biệt an lạc và không. Nhưng để an lạc thì phải có tri kiến, tức cái thấy biết đúng đắn. Từ tri kiến đi đến tuệ.”

“A con hiểu rồi” - tôi cười.

“Ừ, hiểu rồi thì đi ngủ đi” - thầy cười.

Tôi chắp tay:

“Bạch thầy, cho con xin quy y.”

Thầy cười, xoa đầu tôi. Tôi xá thầy, đi ngủ. Nhưng nằm nhắm mắt rồi mà cứ thấy thấp thoáng những tượng Phật vàng sáng chói trong không trung.

« Lùi
Tiến »