Về Nhà

Lượt đọc: 2550 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 47
tín - nguyện - hạnh

Chỉ còn mấy ngày nữa là rời chùa. Tối nay tôi ngồi ngoài sân nói chuyện với ông Đạo Nhị trong lúc chờ phỏng vấn thầy. Trời không trăng nhưng nhiều sao sáng. Từ Tam Bảo vọng ra tiếng đại chúng tụng Lương Hoàng Sám. Kinh tả các cảnh địa ngục. Tôi lại nhớ hồi đầu an cư, buổi tối tôi lên chùa tụng Lương Hoàng Sám cùng đại chúng lần đầu. Đến phần tả cảnh địa ngục, tôi vừa đọc vừa sợ. Sang phần phát nguyện vào địa ngục ác đạo để độ thoát cho ma quỷ và các chúng sinh trong đó, đang tụng trôi chảy, tôi dừng phắt lại. Chịu. Không thể mở miệng nói. Tôi có thể nguyện làm việc tốt, nguyện bố thí tiền, bố thí nội tạng, nguyện này nguyện khác; nhưng còn nguyện vào địa ngục, nguyện làm ác quỷ, làm súc sinh để cứu các loài đó thì tôi chưa thể làm được. Không có cách nào vào lúc đó mà tôi có thể động viên cái tâm của tôi đừng sợ, hãy phát nguyện đi.

“Nhưng mà em có vào địa ngục nhờ sức của em đâu.” - một chị Phật tử giải thích cho tôi - “Em phát nguyện thì Tam Bảo sẽ gia hộ cho em làm, mình chỉ nguyện vậy để tăng trưởng sự từ bi của mình.”

“Cô Việt sợ nhỡ nguyện xuống địa ngục độ các chúng sinh trong đó rồi không ra được thì chết.” - thầy cười - “Cô Việt muốn là nói được thì phải làm được.”

Vâng, chính là như vậy. Tôi xưa nay không làm được thì không nói. Nói được thì phải làm được. Mà đã nói thì nhất định làm.

Tôi hỏi ông Nhị:

“Ông ơi, nếu mình muốn làm nhiều việc giúp đời giúp người mà mình chưa đủ sức thì sao hả ông?”

“Thì còn có pháp tùy hỉ mà.”

Ông bảo tôi, con hãy cố lên, những điều mình đã muốn làm thì hãy cố gắng làm, nhưng nếu khó quá thì còn có pháp tùy hỉ. Tùy hỉ là vui cùng người khác. Tức là mình để người khác làm, mình tán thán việc làm của họ, vui với việc làm, thành công của họ là được rồi. Không làm được thì người khác làm, có sao đâu. Tùy hỉ công đức cũng ngang như tự mình làm vậy.

“Cứ như ông đây này, lên chùa mà buồn ngủ là về phòng ngủ luôn, cố gắng vô ích!”

Một lúc sau khóa tụng cũng hết, chỉ còn tiếng côn trùng rả rích trong bóng tối. Tôi nói với ông Đạo Nhị:

“Ông ạ, mai mốt trở lại Mỹ con sẽ nhớ chùa lắm.”

“Mi thì nhớ gì mà nhớ!”

“Ơ, ông nghĩ con là hạng người nào mà lại không nhớ? Giờ chẳng nói trước được nhưng già con sẽ về đây sống.”

“Ừ về đây sống, khi nào chết thì ông lo cho.”

Tôi buồn cười quá, bật cười nhưng thấy thật là vui.

“A Di Đà Phật, ông nhớ đấy nhé. Ông hứa rồi nhé”.

“Ừ, chết trước ông thì ông lo cho.”

“Giá mà được về đây sống rồi chết trước thầy để thầy lo cho.”

“Thầy còn sống lâu lắm.”

Ba tối rồi, tôi phỏng vấn thầy; tối nào cũng bắt đầu từ khoảng 8 giờ. Tôi hỏi thầy về cuộc đời thầy từ lúc bé cho đến nhân duyên xuất gia và các chuyện của chùa từ khi thầy về trụ trì. Ông Đạo Tứ thị giả khi tôi phỏng vấn thầy.

Chúng tôi ngồi ở tầng hai của nhà sàn. Sư ông Đạo Tứ pha một ấm trà; có hôm thầy bảo mang cả bánh tẻ nhà ai cúng dường lên nữa. Mấy thầy trò vừa uống trà vừa nói chuyện. Tôi hỏi thầy:

“Bạch thầy, càng học con càng thấy động chân động tay, mở miệng đã là sai, là gây nghiệp rồi. Thế thì phải sống thế nào ạ?”

Thầy nói đã sinh làm thân người thì là có chướng ngại. Chỉ có ngồi không, không làm gì thì không sinh nghiệp - mà thật ra ngồi không mà vẫn nghĩ thì vẫn sinh nghiệp - nhưng đã theo Phật thì phải làm, phải gieo duyên với chúng sinh, phải vào đời mà hành Bồ Tát đạo. Lấy việc độ chúng sinh làm phương tiện, đồng thời là cứu cánh. Không nên sợ khó, sợ nghiệp mà không làm. Có câu: “Vô ma khảo đảo bất thành Phật đạo”; học đạo cũng như trong đời, không có ma chướng đến gây chướng ngại cho mình liểng xiểng, thì sao thành đạo được. Chỗ chướng ngại chính là chỗ để hạ thủ công phu. Mà cũng đừng tự ti, cam chịu tâm hạ liệt; chân tâm của ta thực ra sáng suốt và dũng mãnh vô cùng. Cho nên đừng bị chướng ngại ở ý nghĩ làm hay không làm.

“Làm mà không có mong cầu nhận lại, không thấy mình làm, không chấp trụ ở kết quả, thì cứ làm mà không phải sợ nghiệp. Kinh Kim Cương đấy cô. Không trụ bốn tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.”

Thầy kể chuyện Bồ Tát Quán Âm, chuyện các tổ, chuyện Đức Chúa Ông, bên Tứ Phủ, rồi chuyện Bồ Tát Văn Thù, Đức Thánh Hiền tức ngài A Nan, vua Lý Thái Tổ, Đức Thánh Trần, Phật Thích Ca, Phật Di Đà... Như thể họ đều ở quanh, là bầu bạn, là cha mẹ anh em thầy trò. Thầy nhắc đến tổ Thanh Nguyên có nguyện độ cho các sư bị đọa lạc. Thầy nói đến đây thì ông Đạo Tứ nói:

“Có khi tổ cũng đang ngồi đây nghe chuyện đấy.”

“A Di Đà Phật” - tôi chắp tay lại, cảm giác không chỉ có tổ ngồi nghe mà còn nhiều nữa, đều đang hoan hỉ nghe thầy trò nói chuyện.

Tôi nói:

“Bạch thầy, con cứ nghĩ người ngoài mà nghe những chuyện này sẽ thấy như chuyện hoang đường thần thoại phải không thầy? Ranh giới giữa tín tâm và mê tín dị đoan thật mỏng nếu người ta không có chính tri chính kiến. Không có chính kiến thì nghe những chuyện này, nhiều người có thể sinh tâm sợ hãi hoặc tâm phỉ báng.”

“Thực ra các ngài có làm gì đâu, sự sợ hãi là ở chính họ.”

Hôm nào phỏng vấn thầy xong cũng gần 12 giờ. Chư tăng đã đi ngủ từ lâu. Chùa tối. Rất lạ là có hai con mèo luôn chờ tôi những hôm tôi làm muộn và phải đi một mình ra khu vệ sinh tối ở góc chùa. Chúng chạy theo bên chân tôi; rồi ngồi chờ bên ngoài nhà vệ sinh cho đến khi tôi trở ra thì lại lon ton chạy theo về tận chân nhà sàn. Lại có chiều tối, tôi và sư ông Đạo Tứ đứng nói chuyện ngoài cánh đồng, ếch nhái kêu râm ran; tôi mới khởi niệm trong đầu: “Thôi, đừng kêu nữa, để tôi còn nghe được sư ông nói”; vừa dứt ý nghĩ thì tiếng ếch nhái đồng loạt dừng bặt. Dường như khi tâm thật an thì sẽ cảm ứng với tất cả vạn vật trong trời đất và có thể nói chuyện với vạn vật. Và vạn vật đều trở thành thầy ta, đều đang dạy pháp cho ta, từ con sâu cái kiến.

Sắp xa chùa, nghĩ đến thầy và các sư ông, càng thấy mỗi người tu hành đều có chính hạnh gia hạnh. Mỗi người có một chữ làm chính hạnh của mình. Lại có người có mật hạnh, có người thì hiển lộ. Ông Đạo Nhất là chữ Bình. Ông Đạo Nhị là chữ Dũng. Ông Đạo Tam là chữ Từ. Ông Đạo Tứ là chữ Hòa. Bác Đạo Ngũ là Nhẫn. Chú Đạo Lục là chữ Cần. Chú Thất là chữ Hỉ. Mỗi người hộ trì thầy một cách. Ông Đạo Nhị duy trì trật tự, trấn áp hàng phục. Ông Đạo Tứ thị giả thầy, giao tiếp với bên ngoài. Ông Đạo Tam hay lo việc dỗ vong, cúng bái. Ông Đạo Nhất khắc khổ niệm Phật không quản ngại. Chú Lục cứ đúng giờ đánh chuông, dâng cơm cúng Phật cúng tổ. Chú Thất cơm nước nhà bếp. Bác Đạo Ngũ lo đèn hương và Phật tử. Mỗi người một hạnh.

Rồi tôi lại nghĩ đến các bạn bè đồng nghiệp trong cuộc sống bên ngoài và nhận ra xã hội bên ngoài ít có gắn kết vì mỗi chúng ta có thể có tính cách, có đặc điểm, có tài, thậm chí “có chất” nhưng ít khi có hạnh. Không có hạnh nên không thể thu phục lòng người, không thể chuyển tâm người. Nếu người trên thế giới chỉ cần xoay tâm một chút, thì họ sẽ vẫn làm tất cả những gì họ làm, nhưng công việc sẽ không còn là bổn phận mà là hạnh nguyện. Động chân động tay đều là hành pháp. Đời sống trở thành một sự thị hiện của Niết Bàn, Cực Lạc. Mỗi người là một bông sen thơm ngay khi đứng trong bùn lầy.

Vậy hạnh tôi muốn nuôi dưỡng là gì? Chữ mà tôi muốn nuôi dưỡng ở mình là gì? Nguyện của tôi ở đời này là gì? Dường như tất cả những câu hỏi tôi từng có từ trước đến nay, tất cả nhân duyên tôi trải qua từ bé đều chỉ để quy về một mối này.

« Lùi
Tiến »