Vị Công Tước Anh Hào

Lượt đọc: 707 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
dinh thự newland, kensington sáng muộn ngày 11 tháng 6 năm 1833

Nếu cô dâu có say rượu – mà thực ra không phải – thì đó cũng là vì ăn mừng.

Chỉ trong một thời gian rất ngắn nữa thôi, Tiểu thư Olympia Hightower sẽ biến mọi giấc mơ của gia đình mình trở thành hiện thực. Cả của cô nữa, hầu hết là vậy.

Cô sẽ trở thành Nữ Công tước xứ Ashmont.

Trên bờ vực của tuổi 26, cô phải cảm ơn những vì sao may mắn của mình vì đã chinh phục được trái tim... sự ngưỡng mộ... hay gì đó...

... của một trong ba tay phóng túng khét tiếng nhất nước Anh, bộ ba công tước được gọi là Những Kẻ Bất Hảo.

Đằng sau cặp kính gọng vàng là đôi mắt xám-xanh-lục không rõ ràng, mất vài giây để tập trung vào hình ảnh phản chiếu. Đó là sự lộng lẫy, là cô.

Những lọn tóc uốn tỉ mỉ màu nâu thông thường bao quanh gương mặt hình trái tim của cô. Một kiểu tóc phức tạp với những bím tóc xếp lớp, trên cùng là bông ren xếp ly lớn trang trí với hoa cam, như một chiếc vương miện. Một tấm mạng che mặt bằng ren màu vàng nhạt rũ xuống đôi vai trần, phủ qua những ống tay áo ren phồng và kéo dài xuống eo.

Cô cúi xuống nhìn bản thân.

Bốn chiếc nơ xếp thành hàng, kết thúc ở phần eo hình chữ V. Phía dưới là lớp váy phồng bằng lụa gấm.

Thật là một sự lãng phí lớn. Số tiền đó nên dành cho Clarence đi học ở Eton, hoặc cho Andrew vào quân đội, hoặc làm gì đó cho các cậu em trai. Ngoài người thừa kế chính thức – Stephen, Quý ngài Ludford – Bá tước xứ Gonerby còn phải nuôi năm người con trai khác, một vấn đề mà ông chưa từng nghĩ đến. Tâm trí ông, không giống như con gái mình, chẳng thực tế chút nào.

Vậy nên mới có tình huống hiện tại. Mà thật ra, cũng chẳng phải là “tình huống” gì cả. Ai cũng nói như vậy. Là nữ công tước thì có gì phải lo chứ.

Dù sao đi nữa, chiếc váy cưới xa hoa này chẳng liên quan gì đến thực tế hết. Số tiền ấy nhất định phải tiêu cho Olympia, cho một chiếc váy, bởi vì, theo dì Lavinia, đó là khoản đầu tư cho mai sau.

Một nữ công tước tương lai không thể mặc một bộ đồ cũ kỹ nào đó vào ngày cưới của mình. Bộ lễ phục cô dâu phải đắt tiền và hợp thời trang, nhưng không được quá lòe loẹt, bởi vì một nữ công tước tương lai cần phải trông thật đắt giá và thời thượng, nhưng không thể lòe loẹt.

Sau đám cưới thì lại là chuyện khác. Một nữ công tước có thể đeo hết tất cả số trang sức trong tủ của mình lên người mà vẫn không bị coi là quá lố.

Chỉ cần chỉnh sửa chút xíu, đổi kiểu tóc, thêm kim cương hay ngọc trai, hoặc cả hai, Olympia có thể mặc lại chiếc váy này trong buổi tiếp khiến tiếp theo, khi mẹ cô, hoặc có lẽ là dì Lavinia, Nữ Hầu tước xứ Newland, giới thiệu Nữ Công tước xứ Ashmont mới với Nữ hoàng.

Nhưng đó không phải là tất cả những gì sẽ diễn ra sau đám cưới.

Còn có đêm tân hôn, điều mà theo lời mẹ cô, sẽ không khó chịu, mặc dù bà nói rất mơ hồ về các chi tiết. Nhưng sau đêm tân hôn là hôn nhân, kéo dài từ năm này qua năm khác. Với Ashmont.

Người sắp trở thành Nữ Công tước xứ Ashmont nhấc tách trà pha rượu brandy mà Phu nhân Newland mang đến để xoa dịu thần kinh cô dâu. Tách trà không còn gì.

“Đừng có nghĩ đến chuyện bỏ trốn,” dì cô đã nói khi mang tách trà chứa cồn vào.

Dĩ nhiên là không. Đã quá muộn rồi, ngay cả nếu Olympia thuộc dạng con gái hay rút lui hoặc bỏ trốn, huống hồ là từ chối cơ hội của cả một đời người. Cô có sáu người em trai. Là đứa con thứ hai chẳng có giá trị gì trước một đám con trai. Phải mạnh mẽ hoặc bị áp đảo.

Có người nói cô hơi quá mạnh mẽ, so với một cô gái. Nhưng điều đó sẽ không thành vấn đề khi cô trở thành một nữ công tước.

Cô cúi xuống và lấy ra từ dưới bàn trang điểm chiếc bình rượu brandy mà cô lấy trộm từ Stephen. Cô mở nút, đưa lên miệng, và nhấp một chút ước chừng là một ngụm. Sau đó, đậy nắp lại, đặt nó lên bàn trang điểm, và tự nhủ rằng mình đang làm điều đúng đắn.

Lựa chọn khác là gì? Làm bẽ mặt chú rể, người không làm gì cả – ít nhất là với Olympia – để đáng phải chịu điều đó? Bôi nhọ gia đình mình? Đối mặt với sự sụp đổ hoàn toàn về mặt xã hội? Và tất cả chỉ vì cái gì? Cảm giác buồn nôn ở sâu trong dạ dày, chắc chắn không phải gì khác ngoài sự lo lắng thường thấy trong ngày cưới.

Chỉ có một kẻ điên mới chạy trốn khỏi cơ hội trở thành cô dâu của một trong những người đàn ông đẹp trai, giàu có và quyền lực nhất vương quốc, cô tự nhủ. Tất nhiên, Ashmont có thể quyền lực, nếu anh ta chịu quan tâm đến điều đó, nhưng anh ta thì…

Dòng suy nghĩ của cô bị đứt đoạn khi có người gõ cửa.

“Làm ơn,” cô nói. “Con đang cầu nguyện.”

Cô đã khăng khăng xin có không gian riêng. Cô cần tự tập trung và chuẩn bị cho sự thay đổi lớn lao trong cuộc đời mình, cô nói với mẹ và dì. Họ nhìn nhau, rồi rời đi. Không lâu sau, dì Lavinia quay lại với tách trà đã pha thêm rượu.

“Mười phút nữa thôi, con yêu,” giọng mẹ cô vọng vào từ hành lang.

Đã mười phút rồi sao?

Olympia lại mở nắp bình rượu và nhấp thêm một ngụm nhỏ.

Sắp hai mươi sáu rồi, cô tự nhắc mình. Cô sẽ không bao giờ nhận được lời đề nghị nào như thế này nữa, không bao giờ. Thật kỳ diệu khi cô lại có được cơ hội này. Và cô biết mình đang làm gì khi nói đồng ý.

Đúng là Lucius Wilmot Beckingham, Công tước đời thứ sáu xứ Ashmont, có hơi khốn nạn, thậm chí còn trẻ con đến mức làm Clarence, đứa em chín tuổi của cô, trông giống như vua Solomon. Và đúng rồi, khỏi phải bàn cãi rằng Đức ngài chắc chắn sẽ không chung thủy.

Nhưng Ashmont rất đẹp trai, và khi đã quyết tâm quyến rũ ai đó, anh ta có thể làm người ta mất hết lý trí. Rõ ràng anh ta đã dồn toàn bộ sự chú ý để chinh phục cô. Có vẻ như anh ta thích cô. Và cũng không phải cô đang chờ đợi điều gì bất ngờ. Nhân cách của anh ta đã được viết rõ ràng trong mọi tạp chí thời thượng với các phần tin đồn đầy hấp dẫn.

Điều quan trọng nhất là, anh ta đã hỏi cưới cô. Và cô thì đang tuyệt vọng.

“Một nữ công tước,” cô nói với hình ảnh của mình trong gương. “Mày có thể thay đổi thế giới, hoặc ít nhất là một phần của nó. Đó là điều gần nhất mà một người phụ nữ có thể đạt được để giống như một người đàn ông, trừ khi cô ấy trở thành nữ hoàng—và không chỉ là vợ của nhà vua, mà là nữ hoàng thực sự. Nhưng ngay cả khi thế… Thôi, không cần bận tâm nữa. Chuyện đó sẽ không xảy ra với mày đâu, cô gái ạ.”

Từ đâu đó trong đầu, trái tim, hoặc có lẽ là trong dạ dày của Olympia, một giọng nói mỉa mai, hệt như giọng của cô em họ Edwina, vang lên: “Tình Yêu đích thực của Đời chị chẳng bao giờ đến đâu. Sẽ không có Hoàng Tử Quyến Rũ nào cưỡi bạch mã đến tìm chị. Thậm chí một quý tộc nồng nhiệt cũng không. Hay một anh nhân viên bán hàng, cho tiện thể.”

Cô bóp nghẹt giọng nói ấy, giống như cách cô từng nhiều lần muốn bóp nghẹt chính Edwina.

Olympia từng mơ mộng về những chàng hoàng tử và quý ông nồng nhiệt – một cô gái ngây thơ, đầu óc tràn ngập những mộng tưởng lãng mạn từ tiểu thuyết, khi cô bắt đầu Mùa vũ hội đầu tiên của mình ở London.

Suốt bảy năm, cô được bình chọn là Cô Gái Buồn Tẻ Nhất của Mùa vũ hội. Và trong bảy năm đó, cô không nhận được một lời cầu hôn nào. Hoặc đúng hơn là, không có lời cầu hôn nào mà một cô gái tỉnh táo, dù tuyệt vọng đến đâu, lại có thể chấp nhận được. Ngoại trừ có một lần, khi một người đàn ông lớn tuổi ngỏ ý, nhưng gia đình cô đã ngăn không cho cô nói có.

Vậy nên, khi Ashmont ngỏ lời, cô còn có thể nói gì hơn?

Nói không, rồi đối mặt với tương lai trở thành một bà cô già neo đơn, phụ thuộc vào những người anh em trai vốn còn chật vật nuôi sống bản thân và gia đình họ. Hoặc cô có thể nói có, và giải quyết một loạt vấn đề cùng lúc. Mọi chuyện đơn giản là thế. Không cần phải làm cho nó phức tạp.

Cô nhấp thêm một ngụm brandy. Rồi một ngụm nữa.

Có tiếng gõ cửa lớn hơn, thúc giục hơn.

“Đây là điều đúng đắn và mình sẽ làm điều đó,” cô thì thầm với hình ảnh mình trong gương. “Vì ai đó phải làm thôi.”

Cô uống thêm một ngụm nữa.

*

“Quỷ tha ma bắt, cô ấy làm gì mà lâu vậy chứ?” Ashmont càu nhàu.

Khách khứa trong phòng xì xầm không ngớt. Mỗi khi có tiếng động từ bên ngoài phòng khách, tất cả đều quay đầu về phía cánh cửa mà cô dâu dự kiến sẽ bước vào.

Nhưng cô dâu vẫn chưa xuất hiện. Có lẽ đã hơn nửa tiếng trôi qua so với giờ hẹn.

Ripley đã đi ra ngoài để hỏi mẹ cô dâu xem Tiểu thư Olympia có bị ốm hay không. Phu nhân Gonerby trông bối rối, chỉ lắc đầu. Còn chị bà, Phu nhân Newland, thì giải thích.

“Liên quan đến cái váy,” Ripley nói khi trở lại. “Dì cô ấy đã lên phòng với một cô hầu và một hộp dụng cụ may vá.”

“Một hộp dụng cụ may vá ư!”

“Chắc có gì đó bị bung ra,” Ripley nói.

“Tôi quan tâm làm quái gì?” Ashmont nói. “Dù sao thì lát nữa tôi cũng sẽ tháo nó ra thôi.”

“Cậu cũng biết phụ nữ thế nào rồi đấy,” Ripley bình thản đáp.

“Olympia không phải kiểu người để tâm mấy chuyện vụn vặt đó.”

“Váy cưới không phải chuyện vụn vặt,” Ripley nói. “Tôi biết là vậy. Váy của em gái tôi còn đắt hơn con ngựa non tôi mua từ chỗ Pershore.”

Em gái anh không có mặt ở đây. Theo lời Blackwood, Alice đã đến Cung điện Camberley, một trong những dinh thự của Ripley, để chăm sóc người dì mà họ yêu quý nhất.

“Chán chết đi được,” Ashmont rên rỉ. “Tôi ghét mấy cái nghi lễ chết tiệt này.”

Lúc đó,Bá tước Gonerby rời khỏi phòng khách. Ông ấy quay lại ngay sau đó và vui vẻ thông báo, “Xin lỗi vì sự chậm trễ. Có vẻ là chuyện liên quan đến viền váy hay mấy thứ ren đăng ten gì đó. Tôi đã cho người mang sâm-panh đến rồi. Chẳng lý gì mà lại để mọi người khát khô cổ trong khi mấy cây kim đang làm việc.”

Ngay sau đó, quản gia bước vào cùng hai người hầu, tất cả đều mang theo khay đầy ly sâm-panh.

Ashmont uống một ly, rồi một ly nữa, và thêm một ly nữa, liên tiếp không ngừng.

Ripley cũng uống, nhưng không nhiều. Một phần vì anh vẫn chưa hồi phục hoàn toàn sau đêm qua. Có lẽ anh đã già, bởi anh rất cần thêm một giờ hoặc hơn nữa để ngủ bù sau cuộc chơi kéo dài với bài bạc, rượu chè, rồi một trận ẩu đả ngoài đường, tiếp theo đó là nhiệm vụ quen thuộc, kéo Ashmont ra khỏi cuộc hỗn chiến, đưa cậu ta về nhà và lên giường.

Lý do khác khiến anh hạn chế uống là vì nhiệm vụ anh đã nhận hôm nay.

Tối qua, tại Câu lạc bộ Crockford, Ashmont yêu cầu anh—hay đúng hơn là khăng khăng—rằng một trong hai người bạn của mình phải giám sát mọi việc trong buổi lễ này.

“Một trong hai cậu phải đảm bảo tôi có mặt đúng giờ, mang theo nhẫn,” Ashmont nói. “Với cả giấy đăng ký cùng mấy thứ khác. Ai cũng nghĩ tôi sẽ làm hỏng chuyện này. Nhưng không đâu.”

“Tôi đã làm vậy với đám cưới của mình rồi,” Blackwood nói. “Lần này, tôi chỉ muốn đứng ngoài và tận hưởng thôi, không phải có trách nhiệm gì.” Sau khi đẩy công việc đó cho Ripley, Blackwood nở nụ cười và tiễn họ đi, khuyên cả hai nên về nhà ngủ lấy sức.

Nếu Blackwood biết thêm chi tiết về mong muốn cấp bách của Ashmont để đeo gông vào cổ, cậu ấy cũng không nói ra. Nhưng dường như cũng chẳng có thời gian để nói nhiều. Tối qua, Ashmont đã nói hết mọi chuyện, và câu chuyện của cậu ta thực sự khiến Ripley không khỏi ngạc nhiên.

Trước hết, Ashmont giành được vị hôn thê của mình một cách đàng hoàng, theo cách truyền thống, tán tỉnh và cầu hôn. Nói cách khác, cô dâu không mang thai. Thứ hai, điều này cũng không kém phần bất ngờ, Ashmont đã thuyết phục được một cô gái xinh đẹp, đủ tư cách và hoàn toàn tỉnh táo chấp nhận lời cầu hôn của mình. Ripley sẵn sàng đặt cược một khoản lớn rằng trên khắp nước Anh này, không có một tiểu thư danh giá nào tuyệt vọng đến mức chấp nhận Ashmont—hay gia đình họ sẽ cho phép điều đó, ngay cả khi vẻ ngoài điển trai và sự quyến rũ của cậu ta làm họ mất hết lý trí.

Như cậu ta từng khoe trong những lá thư hiếm hoi, các bà chủ tại Almack's đã cấm cửa Ashmont khỏi các buổi tụ họp, nhà vua thì báo rằng Đức ngài không được chào đón tại các buổi lễ hoàng gia, và phần lớn các bà chủ nhà ở London đã xóa tên cậu ta khỏi danh sách khách mời. Với một công tước đẹp trai và giàu có, đạt được những “thành tích” như vậy quả là một nỗ lực không hề nhỏ.

Tuy nhiên, dường như đường đi của Ashmont và Tiểu thư Olympia lại giao nhau gần khách sạn Clarendon cách đây vài tuần. Một con chó tính khí cáu bẳn, ngay lập tức không ưa Đức ngài, đã lao vào cắn rách chiếc ủng của anh. Ashmont, đang trong tình trạng lâng lâng như thường lệ, loạng choạng khi cố đá con chó ra, suýt chút nữa ngã ra đường—ngay vào luồng xe của một chiếc cabriolet (xe ngựa cao cấp thời đó) lao đến với tốc độ cao, như chúng vẫn thường làm.

“Nhưng có một chiếc ô,” Ashmont kể với Ripley. “Cán ô móc vào tay tôi, kéo tôi lại. Và chỉ trong tích tắc, tôi đã loạng choạng trở lại vỉa hè, cố gắng lấy lại thăng bằng. Trong khi đó, con chó cứ sủa điên cuồng. Rồi cô ấy nói, ‘Suỵt,’ hay gì đó đại loại thế, sau đó đặt đầu ô xuống vỉa hè, mũi ô chạm đất kêu cái cạch. Và cậu biết không, con chó im bặt và lẩn mất!” Ashmont bật cười khi nhớ lại. “Rồi cô ấy nói, ‘Ngài có sao không, thưa công tước?’ Cô hầu của cô ấy lẩm bẩm điều gì đó, chắc là cố kéo cô ấy rời khỏi tôi. Tôi là nghĩ mình ổn, nhưng Olympia nhìn xuống và bảo rằng chiếc ủng của tôi bị rách toạc. Tôi nhìn xuống. Đúng là thế thật. Cô ấy bảo tôi không thể lang thang khắp London với cái ủng như vậy—trời mới biết thứ gì có thể lọt vào và dính vào chân ngài, cô ấy nói. Rồi, thật không thể tin nổi, cô ấy nói tiếp, ‘Xe ngựa của tôi sẽ đến trong chốc lát. Chúng tôi sẽ đưa ngài về nhà.’ Và cô ấy làm thế thật, dù cô hầu rõ ràng không thích một chút nào. Người đánh xe và người hầu cũng thế, nhưng chẳng ai làm gì được. Tiểu thư Olympia Hightower đấy! Cậu tin nổi không? Tôi không thể tin nổi. Chúng ta đã thấy cô ấy bao nhiêu lần ở các buổi tiệc, buổi tụ họp nọ rồi nhỉ?”

Ripley nghĩ thầm, Không đếm nổi. Cô gái cao ráo, đeo kính, nhưng không đến nỗi xấu xí. Dáng người khá ổn. Không, phải nói là rất ổn. Nhưng cô ấy là một tiểu thư xuất thân gia giáo, thuộc một gia đình rất tốt, lại có tiếng là mê sách. Cô ấy như thể dán hẳn cái nhãn ĐỘC DƯỢC với biểu tượng đầu lâu xương chéo trên bộ ngực đầy đặn của mình vậy.

“Cô ấy tử tế lắm,” Ashmont nói. “Không phải cái kiểu giả vờ nhún nhường hay đa cảm đâu, mà rất thực tế, điềm tĩnh, như một người đồng chí vậy. Phải nói là, tôi thực sự ấn tượng. Nhưng vô ích thôi, khi tôi kể với bác Fred về cô ấy, ông ta bảo tôi không xứng, rằng tôi không đủ trình độ với cái đầu thông minh của cô ấy, rồi còn chê bai đủ điều. ‘Cái đó thì để cô ấy quyết định, phải không?’ Tôi nói thế. Rồi tôi bắt đầu tán tỉnh. Tôi bảo này, vất vả phết đấy. Nhưng cuối cùng cô ấy cũng đồng ý rồi, đúng không nào? Và bác Fred kinh ngạc thế nào khi tôi kể cho ông ta. Ông ta thậm chí còn vỗ vai tôi và bảo, ‘Hóa ra cháu cũng có tố chất nhỉ.’”

Ashmont phấn khích vì cuối cùng cũng làm được một điều khiến người bác quỷ quyệt của mình bất ngờ. Tuy nhiên, theo Ripley, Quý ông Frederick Beckingham có lẽ đã nhìn thấy cơ hội và tận dụng triệt để. Nói với Ashmont rằng cậu ta không thể có hay làm được gì luôn là cách chắc chắn để khiến cậu ta quyết tâm mà thực hiện.

Không phải là điều đó quan trọng, miễn là Ashmont hài lòng và cô gái biết rõ mình đang dấn thân vào cái gì. Mà cô ấy chắc chắn phải biết, nếu cô thật sự thông minh như mọi người vẫn đồn.

Vấn đề là, đám cưới có vẻ không diễn ra suôn sẻ như mong đợi, Ashmont thì chán ngán do phải chờ đợi, và một Ashmont chán nản là một vấn đề nguy hiểm.

Ripley liếc nhìn em rể mình. Blackwood—cũng tóc đen như Ripley nhưng mượt và đẹp trai hơn nhiều—nhướng một bên mày như hỏi ý. Ripley chỉ nhún vai.

Blackwood thong thả bước tới gần.

“Không hiểu người ta làm gì với cái gấu váy nữa,” Ashmont nói. “Nó ở dưới gấu, đúng không? Vậy thì có vấn đề gì chứ?”

“Nếu cô ấy vấp vào nó rồi ngã sấp mặt thì sao?”

“Tôi sẽ đỡ cô ấy,” Ashmont nói.

Ripley nhìn Blackwood.

Cả hai cùng nhìn Ashmont. Cậu ta đã say túy lúy, không nghi ngờ gì nữa. Để đứng vững thôi cũng khó khăn rồi.

Nếu cô dâu không xuất hiện sớm, một trong hai điều sẽ xảy ra, tốt nhất là chú rể sẽ gục xuống vì say, nằm dài ra sàn một cách mất mặt; tệ nhất là, anh ta sẽ gây sự với ai đó.

“Không thể chờ nữa,” Ashmont nói. “Tôi lên tìm cô ấy đây.”

Cậu ta bước về phía cửa, nhưng có phần loạng choạng. Blackwood kịp giữ vai lại. “Ý hay đấy,” Blackwood nói. “Đứng đây chờ cũng chẳng ích gì.”

Cậu ấy bắt gặp ánh mắt của Ripley. Ripley hiểu ý, bước đến bên kia, và cả hai dìu bạn mình ra khỏi phòng khách.

Với những vị khách đang bận rộn quanh các khay sâm-panh, họ chỉ gặp một vài người hầu ở hành lang.

“Đi đâu bây giờ?” Blackwood hỏi.

“Xuống dưới,” Ripley đáp.

“Không phải dưới,” Ashmont nói. “Cô ấy ở trên. Đó.” Cậu ta chỉ tay, ngón tay vẽ những đường ngoằn ngoèo lơ lửng trong không khí.

“Xui lắm,” Ripley nói. “Rất xui nếu gặp cô dâu trước lễ cưới.”

“Tôi mong được gặp cô ấy ở lễ cưới cơ mà,” Ashmont đáp.

Họ dẫn cậu ta tới cầu thang, rồi rất khó nhọc, dìu xuống dưới.

“Lối này.” Ripley nói.

Mặc dù đã từng đến Dinh thự Newland trước đây, nhưng đó là chuyện từ lâu lắm rồi. Ashmont không còn nhớ rõ cách bố trí tầng trệt nữa. Trong một ngôi nhà cổ kiểu này, cậu ta sẽ nghĩ đến một phòng ăn sáng hoặc phòng ăn chính, và có thể là một thư viện. Dù sao thì, phòng gì không quan trọng.

Họ cần đưa Ashmont ra khỏi chỗ rượu và tránh xa những người mà cậu ấy có thể gây gổ—gần như là tất cả mọi người.

Ripley và Blackwood dẫn bạn mình về phía một cánh cửa đứng cách xa cầu thang chính. Ripley mở cửa ra.

Điều đầu tiên anh thấy là màu trắng, một không gian bao la như thể một đám mây đã trôi vào cái phòng mà anh mơ hồ nhận ra là thư viện. Nhưng mây đâu có mang giày satin trắng hay bít tất, và cũng không đứng trên thang bộ thư viện.

“Ôi không,” Blackwood nói.

“Chết tiệt, Olympia,” Ashmont nói. “Cô đang làm cái quái gì vậy?” Cậu ta cố gắng thoát khỏi tay bạn mình.

Ripley nói, “Đưa cậu ấy ra khỏi đây.”

“Không, mấy cậu không làm được thế, chết tiệt,” Ashmont nói. “Phải nói chuyện với cô ấy. Không thể làm hỏng chuyện này được.”

Trong tình trạng hiện tại đó, chính xác là điều cậu ta sẽ làm.

Ripley liếc nhìn Blackwood với ánh mắt quen thuộc, Giờ chúng ta phải làm gì?

“Xui xẻo,” Blackwood bảo Ashmont. “Rất xui lắm nếu gặp cô dâu trước lễ cưới.”

Khi kéo Ashmont đang phản đối ra khỏi hành lang, cậu ta nói với Ripley qua vai, “Ashmont giao cho cậu lo mấy chuyện đám cưới này. Làm gì đi.”

“Nhẫn cưới,” Ripley nói. “Giấy đăng ký kết hôn. Tiền sẵn sàng khi cần. Nhưng không phải cô dâu.”

“Làm gì đi,” Blackwood nói.

*

Ripley lại mở cửa.

Những bậc thang thư viện gần đó không có ai. Một âm thanh thu hút ánh mắt anh về phía cửa sổ. Anh thấy một đám mây trắng. Cô dâu của Ashmont đang vất vả với khóa cửa sổ.

Ripley bước nhanh về phía đó.

“Thật kỳ lạ,” anh nói. “Không phải cô đang ở trong lễ cưới sao?”

“Đúng, tôi biết,” cô đáp. “Anh có thể giúp cô dâu một chút được không? Khóa cửa đang bị kẹt.”

Anh ngửi thấy một làn hương pha trộn giữa rượu brandy và một mùi hoa nhẹ.

Dù đầu óc anh không thật sự minh mẫn lúc này, anh cũng dễ dàng hiểu ra tình huống, cô dâu say rượu đứng bên cửa sổ và có ý định trốn đi.

Có vấn đề rồi đây.

“Tại sao?” anh hỏi.

“Làm sao tôi biết khóa bị kẹt vì cài gì hả?” cô đáp, vẻ bực bội. “Trông tôi có giống thợ sửa ống nước không? Hay là gì đó... thợ kính. Người sửa cửa sổ.” Cô gật đầu tự hào. “Đúng rồi, là người sửa cửa sổ.”

“Không phải người sửa cửa sổ, tôi có thể không đủ trình độ để giúp về chuyện này,” anh nói.

“Vượt lên chính mình đi,” cô nói. “Tôi là cô gái gặp nạn. Còn anh—” Cô quay đầu nhìn anh. Cô nhìn chằm chằm vào cái nơ thắt cổ áo của anh, khoảng ở ngang tầm mắt của cô. Rồi ánh mắt cô hạ xuống rồi lại ngước lên.

Sau cặp kính, đôi mắt xám của cô đỏ hoe.

Cô đã khóc.

Hiển nhiên Ashmont đã nói hoặc làm điều gì đó khiến cô buồn. Không có gì mới mẻ trong chuyện đó. Lưỡi cậu ta thường đi nhanh hơn bộ não. Mà mấy ai trong bọn họ có tài ăn nói khéo léo.

“Trời ơi,” cô nói. “Anh. Anh lại quay lại.”

“À, cô nhận ra rồi.” Anh cảm thấy khá vui. Nhưng rượu sâm-panh thường có tác dụng như vậy, ngay cả với một lượng nhỏ.

“Anh cao hơn sáu feet (hơn 1m8),” cô nói, ngước đầu lên. “Anh đang đứng ngay trước mặt tôi. Tôi bị cận, không phải bị mù. Dù không có kính, tôi cũng không thể không nhận ra anh, dù ở khoảng cách xa… mà tôi mong anh đứng cách xa hơn chút.” Cô vẫy tay ra hiệu. “Đi đi. Tôi chỉ muốn chút gió. Trong… à… Vườn Kensington.”

“Trong bộ váy cưới của cô,” anh nói.

“Tôi không thể tháo ra rồi mặc lại như một chiếc áo choàng,” cô nói, với vẻ kiên nhẫn cực kỳ, kiểu kiên nhẫn mà người ta thường dùng với những đứa trẻ chậm hiểu. “Nó phức tạp lắm.”

“Trời đang mưa,” anh nói, với vẻ kiên nhẫn tương đương.

Cô quay đầu nhìn ra cửa sổ. Những giọt mưa lăn trên kính cửa, tạo thành vệt dài.

Cô vung tay một cách hùng hồn. “Đừng bận tâm—nếu anh cứ lo lắng về mọi thứ nhỏ nhặt như vậy.” Cô quay lại và tiếp tục vật lộn với cái khóa. Lần này, nó chịu thua.

Cô mở cửa sổ. “Tạm biệt,” cô nói.

Và trèo qua cửa sổ, trong một làn váy satin và ren.

*

Ripley đứng yên một lúc, suy nghĩ.

Cô muốn bỏ đi, và anh nghĩ rằng thật không đẹp đẽ khi giữ phụ nữ lại khi họ không muốn.

Anh có thể quay lại và báo cho Ashmont biết cô dâu của cậu ấy đang bỏ trốn.

Anh có thể quay lại và báo cho một trong những người trong gia đình cô.

Cô không phải là vấn đề của Ripley.

Cô là vấn đề của Ashmont.

Đúng là Ashmont giao cho Ripley trách nhiệm về đám cưới. Đúng là Ashmont dường như đặc biệt quan tâm đến việc mọi thứ phải diễn ra suôn sẻ. Và đúng là Ripley đã hứa sẽ lo liệu mọi việc, giữ nhẫn, chuẩn bị tiền như cần thiết, đảm bảo Ashmont làm đúng bổn phận của mình.

Việc đưa cô dâu về không nằm trong thỏa thuận.

Cô không đáng lẽ phải cần được mang về.

Chỉ vì cô đã say và khóc...

“Chết tiệt,” anh nói.

Anh leo qua cửa sổ.

Ripley nhìn thấy đám mây trắng satin và ren ngay trước khi cô biến mất vào một bụi cây và khu rừng cao.

Anh tăng tốc, đồng thời liếc nhìn lên các cửa sổ của ngôi nhà. Không có dấu hiệu ai đang nhìn ra ngoài. Tiệc cưới được tổ chức ở phía bên kia ngôi nhà. Điều đó thật tốt. Nếu anh đưa cô trở lại nhanh chóng, họ có thể giải quyết mọi chuyện và không ai phát hiện ra.

Một cái nhìn quanh khu vườn không thấy dấu hiệu của những người làm vườn. Người phục vụ ngoài trời có lẽ đang vui chơi cùng đồng nghiệp hoặc trú mưa.

Ripley nhận thức được cơn mưa, nhưng nó chỉ là phần nền. Dù nghe thấy âm thanh mưa rơi trên lá cây, cỏ và lối đi, anh vẫn tập trung vào cô dâu, người đang di chuyển với tốc độ khá nhanh, mặc dù bộ váy satin và ren cùng với tay áo phồng to và tất cả những chi tiết khác.

Anh không hô lên vì cô chưa chạy trốn, ít nhất là chưa chạy hết tốc độ, và anh không muốn làm cô hoảng sợ hoặc khiến cô làm điều gì đó còn ngớ ngẩn hơn, mặc dù hiện giờ anh không thể đoán ra được điều đó sẽ là gì.

Cô không mặc đồ để có thể chạy nhanh—mà phụ nữ thì luôn như vậy—thêm vào đó khu vườn này giống như một cuộc đua vượt chướng ngại vật. Các khu vườn trong Dinh thự Newland có nhiều cây cối dày đặc và đã trưởng thành.

Một số cây còn vươn cành ra ngoài vườn. Trên mặt đất trơn, mặc bộ đồ ấy, lại hơi say xỉn, cô dâu rất dễ bị vướng vào bụi cây hoặc vấp ngã vì váy hay chính đôi chân của mình.

Dù sao, Ripley cũng đang tiến gần dần.

Anh đủ gần để thấy cô trượt chân, tay vung vẩy loạng choạng khi cố gắng giữ thăng bằng. Anh chỉ chậm một chút để kịp đỡ cô trước khi cô mất thăng bằng và ngã xuống đất.

Anh nắm lấy cô dưới cánh tay và kéo cô đứng dậy.

Cô vặn vẹo qua lại. Qua vài lớp váy và đồ lót, anh cảm nhận được phần mông cô chạm vào bụng anh, điều này khiến anh phân tâm trong giây lát.

Anh là đàn ông. Đây là một phần mông tuyệt vời, anh nghĩ.

Không sao, anh tự nhủ. Làm việc rồi đưa cô ấy về thôi.

“Xin lỗi,” anh nói. “Tôi đã làm gì sai sao? Cô muốn tôi để cô nằm trong bùn à?”

“Anh làm hỏng tay áo của tôi rồi!”

Mưa rơi xuống đầu anh.

Mũ của anh để trong nhà. Anh cảm thấy trần trụi mà không có nó. Thực sự là trần trụi hơn cả khi anh không mặc gì.

Anh cũng cảm thấy ướt.

Anh buông cô ra. “Cô làm hỏng váy,” anh nói. “Có vết bùn và vết cỏ lên lưng. Trông như cô vừa có cuộc vui với ai đó trong bụi cây vậy. Điều đó chắc chắn sẽ khiến mọi người xôn xao. Chắc chắn là Ashmont sẽ rất kích động. Và vì tôi là người đàn ông duy nhất xung quanh cô, cậu ta sẽ gọi tôi ra. Lúc đó tôi lại phải chữa trị vết thương đấu tay đôi của cậu ta. Một lần nữa.”

“Thế thì đấm vào mặt anh ta đi,” cô nói. “Anh ta sẽ đánh lại. Lúc đó anh ta không thể gọi anh ra đấu, vì anh ta không phải là người bị thương.”

Chiếc khăn voan dài dính ướt vào đầu và vai cô. Những lọn tóc bên cạnh tai bắt đầu tuột ra, và cái mũ đội đầu của cô bị lệch sang một bên.

Khuôn mặt cô co giật, và Ripley nghĩ cô sắp bật khóc, nhưng cô siết chặt hàm và ngẩng đầu lên.

“Anh có thể đi bây giờ,” cô nói. “Tôi hoàn toàn ổn. Tôi chỉ muốn một chút thời gian để... à... cầu nguyện... trong dịp trọng đại này, sẽ thay đổi cuộc đời tôi mãi mãi và làm nó tốt đẹp hơn. Vậy... tạm biệt.”

Anh nhìn về phía ngôi nhà.

Ashmont đã làm gì? Nó tồi tệ hay ngu ngốc đến mức nào? Liệu có nên để cô đi đến nơi cô định đến không?

Không, đó không phải là phần việc của anh. Việc của Ripley là đảm bảo đám cưới của bạn mình diễn ra suôn sẻ. Điều đó nghĩa là phải đưa cô dâu trở lại.

Ripley quay lại với cô, kịp thấy cô chạy đi, vào một con đường nhỏ giữa đám đỗ quyên dày đặc. Chỉ trong một khoảnh khắc, cô đã khuất tầm nhìn, chỉ còn lại những đốm trắng thỉnh thoảng xuất hiện.

Cô đợi cho anh quay lưng—à, là quay đầu—rồi mới trốn đi.

Điều đó... thật là mưu trí của cô.

Tuy vậy, cô không thể cứ đi như thế.

Nếu cô không muốn Ashmont, cô sẽ phải đối mặt trực tiếp với cậu ấy.

Dĩ nhiên, sau khi họ đã tỉnh rượu.

Ripley chạy theo cô.

*

Mặc dù tiệc cưới và các khách mời đã tụ tập quanh khu vực có sâm-panh, phía trước tòa nhà ở phía tây, anh trai cả của cô dâu, Quý ông Ludford, đang tìm kiếm em gái mình.

Dinh thự Newland được xây dựng vào đầu thế kỷ XVII và đã được mở rộng rồi nâng cấp từ đó. Tòa nhà, trải dài trên một phần lớn khu đất, giống như một mê cung không có trật tự. Các gia đình rất gần gũi, các quý bà là chị em. Con cái của họ đã chơi đùa tự do trong các ngôi nhà của nhau, và mọi người cảm thấy thoải mái ở đây như ở chính nhà mình. Vì Ashmont nóng lòng muốn kết hôn, trong khi Dinh thự Gonerby đang trong quá trình cải tạo, các quý bà đã đồng ý tổ chức lễ cưới ở đây.

Ludford nghi ngờ, họ sợ rằng nếu Ashmont chờ quá lâu, anh ta sẽ thay đổi ý định. Cá nhân Ludford thì lại mong điều đó xảy ra. Anh cho rằng Ashmont không thực sự xứng đáng với Olympia. Nếu con bé bỏ trốn, Ludford không trách được. Ngược lại, điều đó với anh có vẻ như một quyết định sáng suốt. Tuy nhiên, nó cũng khiến anh lo lắng. Những cô gái đàng hoàng như Olympia không thể tự mình bỏ đi. Nhiều điều điều khủng khiếp có thể xảy ra với họ.

Anh hy vọng, thay vào đó, rằng con bé đang trốn trong nhà.

Olympia, người đôi khi dành hàng tuần liền ở đây cùng các cô em họ, có một số nơi bí mật mà nó thường đến để nghiên cứu mấy cuốn sách cổ nào đó hoặc ghi nhớ các danh mục bán sách. Anh nghĩ con bé sẽ làm như vậy vào hôm nay, dù anh không biết vì lý do gì.

Giống như cha mình, Ludford không phải là một người suy nghĩ phức tạp. Khi anh nhận thấy bình rượu của mình biến mất, anh lập tức nghi ngờ mất đứa em trai của mình.

Một trận lắc mạnh, khiến răng va vào nhau, thường là đủ để ép chúng thú nhận. Nhưng lần này, chúng dường như thật sự bối rối. Clarence, đứa em nhỏ nhất, có vẻ như biết hoặc nghi ngờ điều gì đó, nhưng dù là gì, nó cũng không chịu nói ra, và nó cũng bướng bỉnh hệt như Olympia.

Ludford giờ đây đang tìm Clarence trong phòng trẻ, nơi thằng bé bị đày đến sau khi đùa nghịch khiến mấy ly sâm-panh bị vỡ. Andrew, bạn đồng phạm của nó, thì bị tách ra và bị giam ở phòng học.

Ludford mở cửa phòng trẻ ra. “Em biết cái gì rồi, nhóc con,” anh nói. “Và tốt nhất là em nên khai ra, nếu không anh sẽ—”

Anh dừng lại, vì Clarence quay đi khỏi cửa sổ mà thằng bé đang nhìn ra ngoài, khuôn mặt đỏ bừng.

Đúng, thằng bé lẽ ra phải sợ khi Ludford xông vào như vậy. Đó là mục đích của việc này. Nhưng Clarence nhảy tránh khỏi cửa sổ như thể nó vừa bị cháy, và la lên, “Không, em không biết gì hết! Không, em không biết gì hết! Và anh không thể ép em nói được!”

Ludford lao đến cửa sổ để kịp thấy một đám trắng trong bụi cây và Công tước xứ Ripley đang tiến về phía đó, không phải là đang chạy, nhưng cũng không phải là đi với tốc độ lười biếng như thường lệ.

Ludford vội vã chạy ra khỏi phòng trẻ.

*

Vào một đêm trăng sáng, Ripley có lẽ sẽ thích thú khi đuổi theo một goá phụ vui vẻ dọc theo con đường trong vườn với những khúc quanh uốn lượn, những bụi cây cao làm cho cuộc rượt đuổi thêm phần thử thách.

Nhưng đây không phải là một đêm trăng sáng, và Tiểu thư Olympia Hightower cũng không phải là một góa phụ vui vẻ.

Những tia sáng trắng cứ tiến về phía trước một cách đều đặn và nhanh chóng ở khoảng cách xa.

Khi anh tiếp tục lao xuống một con đường khác, những tia sáng ấy biến mất hoàn toàn. Rồi, qua tiếng mưa rơi, anh nghe thấy một âm thanh leng keng nhẹ. Anh tiếp tục đi, và khi những bụi cây rậm rạp mở ra, anh đến một khoảng trống nhỏ dẫn đến một cánh cổng sắt nằm trong bức tường cao.

Một cánh cổng mà cô đang cố gắng mở ra.

Chỉ với vài bước ướt sũng, anh đã đến bên cô.

Cô ngừng lại công việc và nhìn qua vai về phía anh.

“Ôi,” cô nói. “Lại là anh.” Cô thở hổn hển vì những nỗ lực của mình, ngực cô phập phồng lên xuống. “Cái thứ quái quỷ này bị khóa rồi.”

“Đương nhiên là bị khóa,” anh nói. “Không thể để đám người vô lại đi lang thang trong vườn rồi hái trộm hoa đỗ quyên được.”

“Kệ hoa đỗ quyên đi! Làm sao để ra ngoài đây?”

“Có lẽ là không thể ra ngoài?” anh gợi ý.

Cô lắc đầu. “Chúng ta phải tìm cách ra ngoài khác.”

“Chúng ta?” anh nói. “Không. Tôi và cô không phải là chúng ta.”

Cô cứng người lại, mắt mở to.

Anh cũng nghe thấy rồi.

Những tiếng nói, từ hướng mà anh đoán là con đường mà anh vừa đi qua.

“Không sao đâu,” cô nói. “Muộn rồi. Anh phải giúp tôi trèo qua tường.”

“Không,” anh nói. “Tôi không thể làm vậy.”

“Anh có thể,” cô nói. “Anh ở đây rồi, và anh còn phải làm gì khác nữa? Làm ơn có ích một lần trong đời và giúp tôi trèo qua tường đi. Bây giờ là thời điểm tốt nhất.” Cô giậm chân. “Bây giờ!”

Mái tóc cô rối bù, những lọn tóc ướt bết trên mặt cô. Cái thứ trên đầu cô giờ đây đã nghiêng sang một bên, mấy chiếc lá đỗ quyên rụng cùng những bông hoa héo mắc vào tóc cô. Mạng che vòng vo quấn quanh cổ. Một vệt bùn dính trên đầu mũi thon nhọn của cô.

“Trèo qua tường,” anh nói, cố kéo dài thời gian.

“Đúng, đúng rồi. Tôi không thể trèo qua đám thường xuân đó trong bộ váy này được—và chắc chắn là không thể trong đôi giày này. Nhanh lên! Anh không nghe thấy họ sao?”

Anh đang cố nghĩ ra một kế sách để trì hoãn, nhưng đầu óc anh không nhanh nhạy. Sau đó, anh nghe thấy tiếng la hét hỗn loạn, và nó gợi nhớ đến tiếng chó săn sủa và đám đông giận dữ. Vào lúc đó, có điều gì đó trong đầu anh đã thay đổi.

Kể từ những ngày ở Eton, Ripley và hai người bạn đồng phạm của anh đã luôn tránh né sự truy đuổi của các thế lực quyền lực, cùng với những nông dân giận dữ, các vị linh mục, thợ thủ công, và nói chung là mọi tầng lớp người đàng hoàng, chưa kể đến mấy tên buôn người, kẻ móc túi, bọn đầu trộm đuôi cướp, và những kẻ không được tôn trọng khác.

“Nhanh lên!” cô nói.

Anh đan tay vào nhau và cúi xuống. Cô đặt một chân đầy bùn, đôi guốc ướt, lên tay anh, một tay cáu bẩn dựa vào tường để giữ thăng bằng, và đẩy người lên. Sau đó, với sự dễ dàng mà lẽ ra sẽ khiến anh ngạc nhiên nếu anh còn đủ sức ngạc nhiên, cô leo lên vai anh và với tay ra tường.

Ít nhất thì đó là điều anh nghĩ cô đang làm.

Cảnh tượng mà anh thấy—và quả thật là một cảnh tượng đáng chú ý, dù chỉ thoáng qua—là chiếc chân mang tất và dây tất trắng. Sau đó là satin trắng và những chiếc váy lót, và mùi hương của một người phụ nữ bao quanh đầu anh. Anh chỉ vừa kịp giữ vững lý trí để nắm lấy mắt cá chân cô nhằm giữ vững cô.

“Nữa đi,” cô nói. “Vẫn còn quá cao để tôi có thể leo qua. Lên nữa, lên nữa! Nhanh lên!”

Tiếng nói gần hơn.

Nắm lấy chân cô, anh đẩy cô lên, qua đầu anh. Anh cảm nhận được trọng lượng của cô rời khỏi người khi cô tìm được chỗ bám trên đỉnh tường. Anh nhìn thấy phần sau của đôi chân khi cô nhanh chóng trèo lên đỉnh tường và ngồi xuống. Chỉ một khoảnh khắc sau, cô biến mất khỏi tầm nhìn.

Tiếng nói gần đến mức gần như ngay bên cạnh.

Anh không dừng lại để suy nghĩ một chút trước đó và giờ cũng vậy. Khi cô biến mất qua tường, anh túm lấy một đoạn dây thường xuân và leo lên.

Anh nhìn sang phải, rồi sang trái.

Cô gái mặc váy trắng đang di chuyển nhanh chóng xuống Phố Horton.

Anh đuổi theo cô.

« Lùi
Tiến »