Ripley bắt kịp cô dâu trên đường Kensington's High Street. Cô đã đi chậm lại, nhưng vẫn không dừng bước.
“Hackney,” cô nói, gật đầu về phía bến xe ngựa phía trước. “Anh có tiền không?”
“Lúc đầu là nhờ giúp trèo qua tường,” anh đáp. “Giờ lại là tiền.”
“Và anh vẫn đang ở đây,” cô nói. “Vẫn như vậy. Một lần nữa.”
“Phải. Bởi vì—”
“Tôi,” cô kéo dài từng âm tiết. “Cần. Tiền. Để. Đi. Hackney.”
Cô vẫy tay về phía những chiếc xe và gọi, “Ở đây!”
Người lái chiếc xe ngựa đầu tiên trong hàng nhìn cô với vẻ quan tâm nhưng không có dấu hiệu gì là sẽ di chuyển.
Sao ông ta phải đi đến chứ? Nhìn cô chẳng khác nào một kẻ mới trốn thoát khỏi Bedlam (nhà thương điên).
Không phải Ripley trông bớt kỳ quặc hơn, với bộ dạng chẳng có mũ, găng tay hay gậy đi bộ.
Dù vậy, anh là một công tước, và là một trong những quý tộc tai tiếng, dễ nhận ra nhất nước Anh.
Hơn nữa, anh đang ở đây, như cô vừa nói. Lẽ ra Ashmont mới là người làm vườn, nhưng rõ ràng là không, và ai đó phải trông chừng cô. Người ta không thể để một cô gái trẻ được nuôi dạy cẩn thận đi lang thang một mình, đặc biệt là khi cô ấy thuộc về một trong những gã bạn ngốc nghếch của anh, những kẻ không thể giữ nổi cô.
Hoang dã và liều lĩnh, không quan tâm tới xã hội thì cũng được thôi. Nhưng khi một gã đàn ông cầu hôn một cô gái, hắn không nên khiến cô ấy có lý do để không xuất hiện trong lễ cưới.
Đó là sự bất cẩn chết tiệt, đúng là như vậy. Nhưng vấn đề ở chỗ Ashmont quá được nuông chiều. Cậu ta chưa bao giờ phải nỗ lực gì với phụ nữ cả.
Đã quá muộn để cậu ta thay đổi rồi.
Ripley đặt mạnh tay lên vai cô. “Dừng lại và suy nghĩ một chút nào.”
“Tôi đang suy nghĩ đây,” cô nói. “Điều tôi đang nghĩ là, cái hackney chết tiệt ở đâu rồi? Sao chúng lại không đến đây?”
“Hãy thử nghĩ xem cô đang trông thế nào đã,” anh nói. “Cô biết đấy, váy cưới, khăn voan, tất cả mọi thứ. Không gây chút ấn tượng kỳ lạ nào sao?”
“Tôi không quan tâm,” cô đáp.
“Đương nhiên là không,” anh nói. “Nhưng hãy cố gắng tỏ ra bình tĩnh và tỉnh táo một chút đi.”
“Tôi hoàn toàn tỉnh táo.” Cô siết chặt tay. “Và rất bình tĩnh.”
“Tốt. Rất tốt. Bây giờ, hãy làm mọi thứ từng bước một. Cô định đi đâu?”
Cô phẩy tay một vòng rộng. “Đi xa.”
“Đi xa,” anh lặp lại.
Cô gật đầu, và búi tóc cùng đống ren trên đầu cô nghiêng thêm sang một bên.
“Rất tốt,” anh nói. “Coi như một khởi đầu.”
Có lẽ anh sẽ phải suy nghĩ thay cho cả hai người, một nhiệm vụ không mấy dễ chịu. Đến nghĩ cho chính mình anh còn chẳng mấy thích.
Anh giơ tay ra hiệu.
Chiếc xe hackney đầu tiên trong hàng chầm chậm tiến về phía họ, trong khi cô gần như nhảy dựng lên vì sốt ruột.
Khi xe dừng lại bên cạnh, Ripley mở cửa.
Cô bước lên bậc thang, loạng choạng tìm thăng bằng, rồi bắt đầu ngã ngửa ra sau.
Anh đẩy nhẹ cô về phía trước, và cô ngã nhào xuống lớp rơm trên sàn xe ngựa. Anh quan sát cô cố gắng tự nâng người dậy—với tư thế vòng ba hướng lên trên, một khoảnh khắc khó mà rời mắt—rồi loạng choạng ngồi xuống ghế. Cô vuốt lại váy, chỉnh lại kính, rồi trừng mắt nhìn anh.
Vì lý do nào đó, tâm trạng anh bỗng chốc phấn chấn hơn.
“Đi đâu, thưa Ngài?” người đánh xe hỏi.
“thưa Đức ngài,” cô chỉnh lại. “Ông không nhận ra sự kiêu ngạo quen thuộc của giới quý tộc sao? Chẳng lẽ không rõ ràng rằng anh ta là một công tước à?”
Tâm trạng Ripley lại càng tốt hơn.
Nếu người đánh xe nghe thấy cô nói, ông ta cũng chẳng tỏ vẻ gì.
“Cầu Battersea,” Ripley nói rồi trèo vào xe.
Chiếc cầu nằm cách đó khá xa về phía nam. Điều này sẽ cho anh thời gian. Thời gian để quyết định xem mình muốn làm gì. Nhưng khoảng cách cũng không quá xa để ngăn anh đưa cô trở lại trong một khoảng thời gian hợp lý, nếu đó là điều anh chọn.
Ưu điểm là, cầu Battersea không phải nơi đầu tiên bạn bè anh sẽ nghĩ đến để tìm họ.
“Hay cô đã có một nơi ‘xa’ cụ thể nào trong đầu rồi?” anh hỏi.
“Đừng nói gì cả,” cô đáp. “Tôi đang suy nghĩ.”
Chiếc xe ngựa bắt đầu lăn bánh, tiếng bánh xe vang rền trên đường.
“Thật lạ,” Ripley nói. “Dù sao thì, những cuộc trò chuyện giữa chúng ta khá ngắn ngủi, nhưng theo những gì tôi thấy, suy nghĩ và cô giống như hai quốc gia khác nhau. Đang có chiến tranh.”
Cô lắc đầu, vẫy ngón tay vào anh theo kiểu thường thấy ở những người say xỉn khắp mọi nơi.
“Điều đó sẽ không ngăn tôi nói,” anh nói. “Nếu cô phải suy nghĩ, có lẽ cô nên làm ơn nghĩ đến việc giải thích đu.”
“Giải thích cái gì mới được?”
Anh ra hiệu về bộ váy cưới lấm lem của cô và nội thất bẩn thỉu của chiếc xe. “Tất cả chuyện này. Chạy trốn. Vì tôi vẫn còn hơi bối rối và hoàn toàn không chắc đây là ý tưởng hay nhất. Tôi đang cân nhắc việc bảo người đánh xe đưa chúng ta quay lại.”
“Không,” cô nói.
“Nhưng cô cũng hiểu được ý tưởng đó hấp dẫn ra sao mà,” anh nói.
“Không,” cô đáp.
“Vấn đề là thế này,” anh nói. “Tôi đã có một buổi sáng khá khó chịu, cô thấy đấy.”
“Anh á!”
“Đúng. Chuyện không diễn ra như dự kiến.”
“Anh cùng hội với tôi đấy,” cô nói.
“Nhìn này, tôi không hề mong đợi mình sẽ di chuyển với tốc độ của một con ốc sên trong chiếc xe hackney tồi tàn để đến cầu Battersea,” anh nói. “Hay bất kỳ cây cầu nào cả. Tôi cảm thấy khá chắc chắn rằng mình không nên giúp một cô dâu say khướt, người chọn đúng vào phút chót để bỏ trốn khỏi lễ cưới của chính mình.”
“Tôi không say,” cô nói. “Và anh không phải là người duy nhất có một buổi sáng kinh khủng. Nếu anh không muốn giúp tôi, anh có quyền dừng xe và xuống đi bộ.”
“Tôi không có quyền đó,” anh nói. “Tôi là—là cái gì nhỉ. Đặc phái viên của chú rể. Hoặc là người trông nom cậu ta. Ai mà biết, có khi tôi còn là phù dâu ý. Điểm mấu chốt ở đây là, cậu ta giao cho tôi việc này, và có lẽ cậu ta phải chấp nhận rủi ro là tôi làm hỏng bét. Nhưng có một điều tôi biết chắc, đó là cô không thể được phép đi lung tung một mình. Nếu có thể, tôi đã quay lại lấy mũ của mình. Hoặc không. Có lẽ tôi đã đơn giản là quay lại và để mặc cô cho ai đó khác. Nhưng tôi không thể, như tôi giải thích đấy, vì cái nhiệm vụ chết tiệt này. Không có ích gì khi mang theo nhẫn, giấy tờ, tiền và tất cả những thứ liên quan khi cô dâu đã biến mất không biết đi đâu.”
Ánh mắt cô ngước lên nhìn đầu anh. “Tóc anh ướt rồi.”
Anh chẳng hề bận tâm. Anh quá quen với mấy câu nói lạc đề của kẻ say. “Mọi thứ đều ướt,” anh nói.
“Đúng vậy,” cô đáp.
“Đừng lo,” anh nói. “Tôi không bị tan ra đâu.”
“Đó không phải là điều tôi bận tâm,” cô nói. “Chuyện là…” Cô nhắm mắt lại một lúc, nhưng có vẻ việc tập trung suy nghĩ quá sức với cô, vì ngay sau đó cô mở mắt và nói, “Khi anh thả tôi xuống ở cây cầu—”
“Một người đàn ông khác, người đã mong đợi cho buổi lễ cưới êm đẹp, chút sâm-panh ngon và một bữa tiệc cưới thịnh soạn—gia đình Newlands có đầu bếp rất tuyệt, cô biết đấy,” anh ngắt lời.
Cô nhìn anh, ánh mắt lạnh như băng.
“Người đàn ông đó,” anh tiếp tục, “sau khi bỏ lỡ bữa tiệc anh ta chờ đợi và thiếu ngủ nghiêm trọng, có thể sẽ bị cám dỗ mà thả cô xuống cầu. Ý tôi là, xuống sông. Nhưng tôi thì—”
“Được rồi, anh là phù dâu,” cô chen ngang.
“Tôi định nói rằng tôi thì hiếm khi dìm phụ nữ xuống sông.”
“Tôi sẽ thuê một chiếc thuyền,” cô tuyên bố, như thể ban hành một sắc lệnh hay tuyên án tử hình. “Đến chỗ dì Delia. Ở Twickenham.”
Anh chớp mắt. “Thật đáng kinh ngạc. Cô có kế hoạch à.”
“Phải. Tôi chỉ cần sự kích thích từ sự đồng hành đầy khích lệ của anh.”
“Liệu có cơ hội nào tôi kích thích được cô nói ra chính xác điều cô đang chạy trốn không?” anh hỏi. “Hoặc tốt hơn nữa, có cơ hội nào cô đổi ý, làm một cô gái ngoan, và quay về không? Hay có chút cơ hội nào, ồ, cô biết đấy, một điều gì đó gần với sự hợp lý?
“Ván đã đóng thuyền, (“The die is cast” nghĩa là một quyết định không thể thay đổi đã được đưa ra) ”cô nói với giọng như ban sắc lệnh hoặc tuyên án tử hình của mình. “Làm ơn tháo con quái vật này khỏi đầu tôi.”
Vì anh không đủ say—hoặc đúng hơn là anh dường như đột ngột tỉnh táo trở lại—anh phải mất một lúc để hiểu ra yêu cầu đó. Mệnh lệnh.
“Tóc cô á?” anh hỏi. “Không phải nó bị gắn chặt rồi à?”
“Nhìn có vẻ gì là chặt không? Nó đang trượt xuống và kéo luôn cả tóc thật của tôi đây. Thật khó chịu, và chẳng giống tôi chút nào hết. Anh không thể làm ra cái túi lợn từ cái tai của chúng được (You can’t make a sow’s purse from a pig’s ear.). Tôi đã cố nói với mọi người rồi, nhưng chẳng ai chịu nghe cả.”
“Tôi nghĩ cô muốn nói túi lụa—” (câu gốc: “You can’t make a silk purse out of a sow’s ear”: không thể tạo túi lụa từ tai của lợn, nghĩa là bạn không thể biến một vật kém chất lượng, không có giá trị thành một vật tốt đẹp. Thành ngữ này nhấn mạnh rằng có những điều không thể thay đổi hoặc cải thiện dù cố gắng đến đâu.)
Cô bỗng nhiên òa khóc.
Ôi trời.
*
Nước mắt khiến một số người đàn ông trở nên hoảng loạn.Ripley không phải là một trong số đó.
Nếu cô gái đang khóc này là em gái anh, anh sẽ để cô khóc trên vai mình, làm hỏng áo khoác và khăn quàng cổ, để cô dính phấn má lên khăn tay của anh. Sau đó, anh sẽ đưa cô tiền và bảo cô ta đi mua cái gì đó cho bản thân.
Nếu cô là tình nhân của anh, anh sẽ hứa tặng cô một chiếc vòng cổ hồng ngọc hoặc kim cương, tùy vào mức độ và tốc độ của những giọt nước mắt.
Cô gái đang khóc này không phải là em gái anh, cũng không phải là tình nhân hay mẹ anh. Cô thuộc một danh mục hoàn toàn khác. Trong nhiều điều, cô là vợ sắp cưới của Ashmont. Ashmont chưa bao giờ có một người như thế. Đây là một tình huống hoàn toàn mới mẻ với Ripley khi phải đối phó với một Cô gái Đang Khóc, vì vậy anh cần một chút thời gian để xác định hướng cách giải quyết.
Anh quyết định sẽ dùng cách tiếp cận nhanh chóng.
“Cứng rắn lên nào,” anh nói. “Cô đã đủ can đảm để trèo qua tường rồi mà. Cô cứ như thể chưa bao giờ bỏ trốn trước đây vậy. Đây không phải là ngày tận thế.”
“Có đấy,” cô nức nở. “Tôi vừa làm hỏng tất cả mọi thứ. Clarence sẽ không bao giờ vào được Eton, Andrew sẽ không có được chức quan sỹ, tôi chẳng làm được gì có ích cho ai cả, và tôi thậm chí còn không có nổi một cái thư viện nữa!”
Ripley không hiểu cô đang nói gì và thấy chẳng có lý do gì để làm mệt não nghĩ ngợi. Phụ nữ bao giờ cũng nói những điều vô lý. Xác xuất để họ nói chuyện có lý là bao nhiêu chứ?
Anh nói, với cách động viên như đang nói với một người cưỡi ngựa trước cuộc đua, “Chưa phải là ván đã đóng thuyền. Cô có thể quay lại. Ashmont say đến nỗi sẽ tin bất cứ điều gì chúng ta nói. Rồi ngày mai, cậu ta sẽ chỉ nhớ được những điểm chính thôi. Tôi sẽ nói rằng cô say rượu một cách tình cờ và—”
“Tôi không s-say,” cô nức nở.
“Tin tôi đi, tôi nhận ra tình trạng này,” anh nói. “Cô còn hơn cả say. Cô thậm chí còn không đứng vững trên bậc lên xuống xe. Đây là điều chúng ta sẽ nói. Chúng ta sẽ bảo cậu ta rằng cô vô tình uống phải rượu mạnh, nghĩ rằng đó là… hừm… cái quái gì mà có thể nhầm lẫn với rượu mạnh nhỉ?”
“T-trà,” cô nức nở. “Nó có trong trà. T-từ đầu.”
“T-từ đầu,” anh nói.
Cô gật đầu. Cô lấy từ trong tay áo khổng lồ của mình một mảnh vải lụa nhỏ, tinh xảo, tháo kính ra và lau mắt, mũi bằng mảnh vải đó. Cô đeo lại kính, dùng ngón tay đẩy nhẹ kính trên mũi để nó vào đúng vị trí. “Nhưng tôi đã uống cái đó. Phần còn lại là từ bình rượu của Stephen.” Cô cuộn mảnh khăn vào tay, giả vờ đó là một cái khăn tay. “Tôi đã lấy trộm nó tối qua. Sau khi mẹ nói với tôi về đám cưới, bà ấy… ít nói cho tôi. Có một số điều trong chuyện này không rõ ràng. Nhưng tôi nghĩ rượu mạnh sẽ giúp tôi củng cố quyết tâm. Cho cái điều… không thể tránh khỏi.”
“Bà ấy đáng lẽ phải nói rõ hơn với cô,” Ripley nói. “Cái mà cậu ta là Ashmont, chứ không phải một gã đần thiếu kinh nghiệm.”
“Phải, anh ta là một gã đần có kinh nghiệm,” cô nói.
“Dù thế nào đi nữa, chuyện đó cũng không có gì phải sợ,” anh nói. “Mọi người làm chuyện đó suốt. Hậu quả hầu như chẳng bao giờ chết người.”
“Hậu quả là trẻ con,” cô nói với vẻ u ám. “Lẽ ra tôi nên tự tìm hiểu vấn đề thay vì trông cậy vào Mẹ. Tôi không chắc bà hiểu rõ mối liên hệ. Giữa việc… vợ chồng và trẻ con. Bà ấy có quá nhiều con. Nếu là tôi, tôi đã dừng lại sau ba đứa. Hoặc sau ba đứa con trai. Đó là một con số tốt và an toàn, đúng không?”
Anh không nghĩ việc để tâm trí mình tập trung vào chuyện vợ chồng là một ý kiến hay. Đã một thời gian dài bất thường kể từ lần cuối một người phụ nữ bên cạnh anh, và hiện tại anh không ở trong hoàn cảnh để làm điều gì đó về vấn đề này. Tuy nhiên, tâm trí anh, vốn dễ bị cám dỗ bởi “bộ não nhỏ” bên dưới, lại háo hức tưởng tượng ra cách để bù đắp sự thiếu hụt đó trong thời gian ngắn.
Anh buộc bản thân phải tập trung vào những gì cô đang nói. May mắn thay, cô đã chuyển sang một chủ đề khác.
“Tôi không thể hiểu tại sao anh ta lại cầu hôn tôi,” cô nói. “Tôi không tin anh ta lại tuyệt vọng đến mức đấy. Anh sẽ ngạc nhiên khi biết có bao nhiêu cô gái sẵn sàng bỏ qua khuyết điểm của một người đàn ông khi anh ta là một công tước. Hoặc anh cũng chẳng không ngạc nhiên.”
Có thể có rất nhiều cô gái như thế, nhưng họ không phải loại người phù hợp để trở thành nữ công tước của Ashmont. Mặc dù nhiều thiếu sót, cậu ta vẫn có lòng tự tôn—thậm chí là hơi thừa. Ngay cả khi say mèm, cậu ta cũng không cưới một cô gái không xinh đẹp, không xuất thân cao quý, hoặc không có đầy đủ lý trí. Cậu ta sẽ không chọn một cô nàng ngớ ngẩn, nhạt nhẽo, hay chua ngoa. Tóm lại là phải hoàn hảo. Còn việc có xứng đáng hay không thì chẳng quan trọng lắm.
“Tôi tự nhủ mình không nên ‘Chê của cho’,” cô nói.
“ ‘Của’ gì?” Ripley hỏi. “Cậu ta thích cô. Thế chưa đủ sao?’
Cô lắc đầu. “Điều đó không hợp lý.”
Có lẽ cô cực kỳ thiển cận. Nếu cô không mang cái nhãn ĐỘC DƯỢC trên người, Ripley chắc đã theo đuổi cô từ nhiều năm trước rồi.
“Điều đó hoàn toàn hợp lý,” anh nói. “Nếu cô là đàn ông, cô sẽ hiểu. Nhưng vì cô là phụ nữ—”
“Hôm nay tôi đã đến thư viện để tìm hiểu về chuyện này—”
“Cô đợi đến tận ngày cưới,” anh nói. “Không, không chỉ ngày cưới, mà ngay lúc cô lẽ ra phải nói ‘Con đồng ý.’ Cô chờ đến khoảnh khắc mà cô hoàn toàn say xỉn, một trạng thái mà rõ ràng là không quen thuộc với cô.
“Tôi đã cố không nghĩ về nó rồi, nhưng nó làm tôi rất khó chịu,” cô nói. “Anh đã bao giờ cố không nghĩ về điều gì đó chưa?”
“Tôi hiếm khi phải cố gắng.”
“Anh chỉ đơn giản làm nó biến mất?”
“Đúng thế.”
“Làm một công tước thích thật,” cô nói.
“Phải,” anh nói.
Làm một công tước quả thực tốt hơn nhiều so với việc làm con trai của một công tước, theo kinh nghiệm của anh và bạn bè. Anh không chắc liệu ba người cha của họ có phải là những ông bố tệ nhất quý tộc Anh hay không, nhưng chắc chắn họ nằm đâu đó trong số những ứng cử viên hàng đầu cho danh hiệu này.
“Tôi không thể làm vậy,” cô nói. “Điều đó giống như cố gắng xua một con muỗi vo ve quanh đầu. Và những thứ không hợp lý lại là những con muỗi dai dẳng nhất. Nhưng tất cả những gì tôi tìm thấy đều đưa đến một phép tính: hai cộng hai. Hoặc hai cộng hai cộng hai cộng một. Bảy người chúng tôi, và chỉ có một cô gái. Và họ—bất kể ai đã nói hay lừa anh ta kết hôn—chắc hẳn đã bảo là, ‘Ồ, có con gái nhà Gonerby đó. Không thể đòi hỏi nguồn giống tốt hơn đâu. Cơ hội tuyệt vời để có một người thừa kế và vài người dự phòng trong trường hợp bất trắc.’ “
“Biết tính Ashmont, tôi thấy lý thuyết đó khó mà tin nổi.” Tất nhiên, vấn đề huyết thống sẽ có phần liên quan, vì đó thường là kết quả của việc ăn nằm với nhau, trừ khi người ta cực kỳ cẩn thận. “Cô đang đánh giá quá cao khả năng tư duy của cậu ta đấy. Cậu ta chú ý đến cô chỉ vì cô tử tế với cậu ta một lần, nếu tôi không nhầm.”
“Tử tế!” Cô nói. “Chẳng lẽ đứng nhìn anh ta bị xe ngựa cán qua à?”
“Thế là nhanh nhạy đấy. Và còn rất khéo léo nữa.”
“Tôi có một ông anh trai và năm thằng em! Họ lúc nào chẳng ngã nhào chỗ này chỗ nọ. Tôi chỉ phản ứng theo bản năng thôi.”
“Nhưng Ashmont lại thấy đó là hành động cao cả, đặc biệt khi cô còn đưa cậu ta về nhà. Trên đường đi, có vẻ cậu ta đã có dịp quan sát kỹ lưỡng, và thế là cô lọt vào mắt xanh. Vì cô là một tiểu thư đàng hoàng, kết hôn là lẽ dĩ nhiên,” Và có vẻ tiểu thư đàng hoàng này hứa hẹn mang lại cho Ashmont một cuộc sống sôi động hơn mong đợi.
Cô lắc đầu. “Tôi biết có gì đó mờ ám hơn. Tôi không phải kiểu phụ nữ khiến đàn ông mê mẩn đến mức mất trí.”
Rất có thể cô đúng. Nếu không nhờ mánh khóe của bác Fred, Ashmont có lẽ đã quên bẵng cô từ lâu. Nhưng Ripley không định nói ra điều đó. Anh cân nhắc việc gợi ý vài chiêu giúp cô đối phó với Ashmont… nhưng rồi lại thôi. Cô thông minh. Chắc cô sẽ tự tìm cách.
Cô sẽ bất ngờ đấy, Ripley nhún vai.
“Tôi là kiểu người cưới vì lý do thực tế,’ cô nói, giọng. “Để quán xuyến một gia đình lộn xộn, đảm đương mọi thứ, sinh con nối dõi, và thêm vài đứa phòng khi có chuyện.”
“Ashmont không nghĩ xa thế đâu,” Ripley đáp.
Cô nhìn ra ngoài cửa sổ. “Nhưng anh biết đấy…” Nước mắt lại bắt đầu chảy xuống sống mũi cô. “Chúng tôi cũng gặp phải những bi kịch của mình, vì đáng lẽ phải có chín anh chị em, nhưng không được. Điều đó thực sự rất khó khăn cho cả Mẹ và Cha. Tôi không tin về việc Ashmont có thể là nguồn an ủi trong mấy tình huống như thế. Và tôi biết mọi người sẽ nói gì với Ashmont. Họ sẽ nói, ‘Không cần lo lắng về con chim cúc cu trong tổ’ (ám chỉ sự chắc chắn về con cái trong gia đình là con ruột của người chồng.). Không có chút nghi ngờ nào rằng chưa ai từng… đ-đụng vào c-cô ấy.”
Cô bắt đầu nức nở to hơn.
Ripley gõ ngón trỏ lên đầu gối mình. Cơn khóc lóc vẫn tiếp diễn.
Điều này thật sự làm anh không thoải mái.
“Có vẻ chúng ta đã bước vào giai đoạn bi lụy,” anh nói.
“Đúng, tôi nghĩ anh biết điều đó.” Cô dùng mảnh ren vô dụng để lau mặt. “Không phải tôi mong đợi sự đồng cảm hay thậm chí là chút hiểu biết nào từ anh đâu.”
“Tôi đang cố hết sức,” anh nói. “Nhưng mà, cô biết đấy, não tôi...”
“Phải, tôi biết,” cô nói. “Y hệt của anh ta, ít nhiều—mặc dù ít hơn thì thật khó mà tưởng tượng. Dù sao thì, tôi nghĩ mình đã sẵn sàng để hy sinh rồi—tôi biết hầu hết mọi người sẽ nói coi việc trở thành một nữ công tước là sự hy sinh đúng là nực cười thật sự.”
“Tôi chính là một trong số họ,” anh nói.
“Cứ như thể tôi quan tâm anh nghĩ gì ý,” cô đáp.
“Tôi suy sụp rồi,” anh đáp lại.
“Không hiểu sao tôi lại đang cố giải thích nữa,” cô nói. “Chắc chắn anh ta đã nói hết những gì cần nói, và anh ta có sức thuyết phục đến đáng sợ, tôi cũng có lý do để đồng ý. Tôi tưởng mình sẵn sàng rồi. Nhưng hôn nhân là một Dấu Hỏi Lớn. Bạn nghĩ bạn đã hiểu người khác, đặc biệt là kiểu người như anh ta, người mà luôn là chủ đề bàn tán khắp nơi, nhưng làm sao có thể hiểu hết được? Tôi biết anh định nói gì.”
“Tôi rất nghi ngờ điều đó,” anh đáp. Anh vẫn không hiểu cô đang muốn nói về cái gì.
“Anh sẽ nói rằng tôi lẽ ra phải hỏi anh ta tại sao lại chọn tôi—và đừng bảo là vì anh ta thích tôi, vì chẳng ai thích tôi cả.”
Anh chắc chắn rằng rất nhiều người đàn ông đã phải lòng cô. Nhưng điều anh không hiểu là tại sao không ai chiếm lấy cô cho đến bây giờ. Không phải tất cả đàn ông đều giống “Những Kẻ Bất Hảo”. Có rất nhiều người thực sự muốn kết hôn và dành cả đời để tìm ra cô gái phù hợp.
Anh rút chiếc khăn tay trong túi và đưa cho cô. “Đúng vậy, cậu ta không giống những gã khác,” anh nói.
Anh nhìn ra ngoài cửa sổ xe. Trời vẫn đang mưa.
Lo âu trước ngày cưới, anh tự nhủ. Thật ra, tất cả chỉ có vậy thôi.
Anh nhìn chiếc váy dính đầy bùn của cô và những ngón chân lấm lem trong đôi dép. Anh tính toán quãng đường qua sông đến Twickenham và thời gian sẽ mất, trừ khi có sự cố, điều mà anh biết rõ là không thể tránh khỏi.
Sau khi xem xét mọi yếu tố, kế hoạch của cô có thể thực hiện được. Anh đánh giá xác suất rất cao là sẽ đưa cô an toàn đến tay người dì trong vài giờ, trước khi trời tối. Danh tiếng của cô sẽ được giữ gìn. Thực tế, việc chạy trốn khỏi Ashmont có thể còn làm tăng thêm danh tiếng đó. Cũng như việc Ashmont đuổi theo cô, điều mà cậu ta chắc chắn sẽ làm. Với tính cách chiếm hữu và bướng bỉnh, cậu ta sẽ làm mọi cách để đưa cô trở lại. Và xã hội sẽ vô cùng hào hứng khi thấy một quý cô cuối cùng cũng khiến cậu ta phải chịu trách nhiệm. Hẳn Quý ngài Frederick sẽ rất thích đây.
Vốn quen với những người phụ nữ có tiếng xấu, Ashmont đã làm hỏng những việc đơn giản nhất. Cậu ta chưa bao giờ phải nỗ lực, như Ripley và Blackwood thường phải làm.
Thật ra, họ chẳng mấy khi liên quan đến phụ nữ đoan chính, những người dường như khó khăn hơn nhiều. Càng tốt, đến lúc một người phụ nữ khiến Lucius Luscious phải nỗ lực rồi.
Cô gái này đã khiến cậu ta phải cố gắng trong việc tán tỉnh, rõ ràng là thế. Trong cả đám cưới. Và cô ấy sẽ tiếp tục khiến cậu ta phải cố gắng trong cuộc hôn nhân sau này nữa.
Về phần lấy lại cô dâu, Đức ngài sẽ cần một chút chỉ dẫn, nhưng chắc chắn là không khó khăn gì.
Tiểu thư Olympia dường như không hoàn toàn phản đối việc kết hôn với cậu ta. Nếu không phải vì rượu brandy, cô ấy có thể đồng ý rồi. Nhưng rượu mạnh có thể ảnh hưởng đến một số người theo cách này, những vấn đề nhỏ trở nên phóng đại đến mức không tưởng. Và những giải pháp ngu ngốc lại trông có vẻ như là ý tưởng tuyệt vời.
Trong số tất cả những người, Ashmont hiểu rõ điều này nhất.
Và thử nghĩ mà xem, sẽ thú vị thế nào khi thấy anh ta cố gắng quản lý cô dâu này?
“Dì cô là người đàng hoàng, phải không?” Ripley hỏi. “Không phải kiểu kỳ quặc hay quá táo bạo? Không có thói quen đốt gối vào những lúc kỳ lạ, hoặc lén lút qua lại với hầu cận hay kỵ sĩ, kiểu đó?”
Cô lau mắt và mũi. “Dì tôi cũng có chút táo bạo—ít nhất là theo lời dì Lavinia và mẹ tôi. Tuy vậy, dì Delia vẫn đủ đàng hoàng để thỉnh thoảng tiếp đón Nữ hoàng.”
“Vậy sao bà ấy không đến dự đám cưới?”
“Bà ấy bị ốm nhẹ nên không thể đi lại được. Đó là những gì bà viết cho mẹ tôi, ít nhất là vậy. Tôi không chắc bà có thực sự muốn đến không. Bà thấy Dinh thự Newland quá ồn ào với lũ trẻ cứ chạy qua chạy lại suốt ngày. Bà cũng cảm thấy như vậy về Dinh thự Gonerby —nơi hiện giờ còn hỗn loạn hơn nữa, vì công trình sửa chữa.”
“Nhưng bà ấy thực sự có mặt ở nhà khi chúng ta đến đó chứ?”
“Cô gật đầu, và chiếc mũ đội đầu trượt xuống thấp hơn. Cô nhăn mặt. “Anh không thể mong tôi trả lời mấy câu tò mò đó trong khi tóc tôi đang bị giật ra từng sợi. Trừ khi anh thích áp dụng các phương pháp của Tòa án Dị giáo. Nếu anh không giúp tôi tháo thứ này ra khỏi đầu—ngay lập tức—thì tôi không thể chịu trách nhiệm cho hậu quả đâu.”
“Cô vừa đe dọa tôi à?” anh nói. “Bởi vì trông cô chẳng đáng sợ chút nào, đến mức tôi có thể chết vì cười quá nhiều.”
Cô đẩy lại cặp kính, vốn chỉ trượt xuống một khoảng nhỏ trong cơn bão nước mắt. Cô nhìn anh chằm chằm, hoặc ít nhất là cố gắng làm vậy trong trạng thái chếnh choáng của mình.
“Thôi khỏi đi,” cô nói. “Nếu việc này quá khó với anh, tôi sẽ tự xử lý. Nhưng nếu có gì bay ra và đập vào mặt, thì đừng có mà trách tôi.”
“Đó là lý do khiến cô không tự làm à?” anh nói. “Vì sợ kiểu tóc của cô phát nổ sao?”
“Tôi không có gương,” cô nói. “Tôi không thể nhìn thấy đỉnh đầu—hay bất cứ phần nào của đầu mình. Nhưng thôi, anh cứ tiếp tục việc của anh đu, đừng để ý đến tôi nữa.”
Cô giơ tay lên, bắt đầu lần mò vào phần đỉnh của chiếc mũ. Động tác đó khiến cơ thể cô chuyển động một cách rất đặc biệt, làm anh nhớ đến những vũ công Ai Cập trong một buổi biểu diễn nào đó mà anh từng xem ở một nhà hát nào đó. Cuối cùng, cô cũng tháo được một chiếc ghim cài tóc, nhưng nó trượt khỏi tay và rơi xuống đống rơm. Cô lẩm bẩm gì đó.
Mất một chiếc ghim cài tóc không phải là chuyện lớn. Dì của cô chắc chắn có cả đống.
Nhưng những chuyển động kia khiến anh nhớ lại cách cô quằn quại khi anh bế cô lên khỏi vũng bùn—gợi nhắc bản năng giống nòi trong anh, một cách sống động đến khó chịu, nhất là sau khoảng thời gian dài thế này…
Đúng rồi. Anh sẽ để chuyện sống trong cảnh cô đơn suốt mấy tháng qua lại giải quyết sau. Tối nay, thật ra là vậy. Sau khi vấn đề về cô dâu được xử lý xong.
Ripley sẽ để cô an toàn bên cạnh bà dì. Chỉ cần chút thúc đẩy và vài gợi ý rõ ràng, Ashmont sẽ quay lại đón cô.
Đây là một trò đùa thú vị, kiểu mà Ashmont rất thích thú—sau khi cậu ta bình tĩnh lại. Dù gì thì cậu ta cũng đã từng bày không ít trò tương tự.
“Tôi quyết định sẽ giúp cô,” Ripley nói. “Tôi muốn chợp mắt một lát, nhưng điều đó là không thể khi cô cứ nhảy nhót và lẩm bẩm chửi rủa như thế.”
“Tôi không—”
“Tôi hiểu tiếng Pháp, cô biết đấy. Đến một mức độ nhất định. Tất cả những từ chửi thề đều nằm trong giới hạn đó.”
*
Nhờ cơn mưa và lớp bụi bẩn tích tụ hàng thập kỷ trên cửa sổ, bên trong xe ngựa tối tăm chẳng khác nào một hầm mộ. Dù vậy, Olympia vẫn có thể nhìn thấy Công tước xứ Ripley rõ ràng. Khó mà không nhận ra anh, khi anh chiếm gần hết không gian trong xe.Cô nhận thức rõ hơn mức mình muốn về đôi chân dài của anh, duỗi thẳng ra, chỉ cách chân cô vài inch.
Cô rời tay khỏi chiếc mũ chùm đầu và nhìn về phía anh. Dù khuôn mặt anh chìm trong bóng tối, cô vẫn có thể nhận ra sống mũi dài, cao đầy uy nghiêm cùng những đường nét góc cạnh trên gò má và quai hàm. Cô biết đôi mắt anh màu xanh lục.
Cô đã nhận ra nó ngay từ Mùa vũ hội đầu tiên của mình, khi họ được giới thiệu với nhau, và cô cảm thấy vô cùng lúng túng. Một phần là vì anh quá… choáng ngợp. Cô biết anh không cao lớn hơn Ashmont. Tất cả ba Kẻ Bất Hảo đều là những người đàn ông cao ráo, cường tráng. Và tất cả, chắc chắn, đều chẳng hề cư xử đúng mực. Nhưng ánh nhìn của Ripley mới là thứ khiến cô có cảm giác như mình chưa mặc đủ quần áo. Nụ cười như sói của anh là thứ khiến cô cứng họng.
Nhưng đó là khi cô còn non nớt và thiếu tự tin.
Hồi đó, ba vị công tước được coi là khá ngông cuồng nhưng vẫn vô cùng đáng khao khát. Tuy nhiên, họ luôn tránh xa Chợ Hôn nhân. Hiếm khi nào họ xuất hiện gần những tiểu thư xinh đẹp và nổi bật.
Vì lý do đó, những lần Olympia nhìn thấy Ripley qua nhiều năm hầu như chỉ là từ xa. Qua một phòng khiêu vũ đông đúc. Trên lưng ngựa hoặc xe ngựa ở Hyde Park. Trong các sự kiện công cộng như đua thuyền hoặc đua ngựa. Suốt năm vừa qua, cô không gặp anh lần nào, vì anh đang ở nước ngoài.
Dựa trên quan sát hiện tại, cô nhận thấy anh chẳng thay đổi gì. Anh vẫn giữ ánh mắt lười biếng khiến cô cảm thấy gai người. Ánh mắt đó lẽ ra chẳng nên khiến cô có cảm giác như vậy, vì nó không tiết lộ bất cứ điều gì. Người ta thường nói đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Trong trường hợp của anh, cửa sổ ấy đã đóng kín. Mà có lẽ thế lại tốt hơn.
Dù có để lộ cửa sổ tâm hồn đi nữa, cô cũng chẳng thể nào đoán được tâm trạng của anh. Hiện tại, đầu óc cô hoàn toàn không đáng tin cậy. Mỗi khi cố gắng suy nghĩ, những ý nghĩ ấy cứ nhảy múa, trốn chạy khỏi tầm với của cô.
Thêm nữa, chiếc mũ chùm đầu khiến việc suy nghĩ trở thành một điều đau đớn.
Cứ từ từ giải quyết từng việc một, cô tự nhủ. Khi đến cầu Battersea, cô sẽ đối mặt với chuyện tiếp theo, bất kể đó là gì. Lúc này, điều quan trọng nhất chỉ là rời đi. Khỏi tất cả mọi người.
“Ngồi sát mép ghế và nghiêng người về phía tôi,” Ripley nói.
Giữa sự lắc lư của xe ngựa và ảnh hưởng của rượu brandy, cô không chắc mình có thể giữ thăng bằng. Nhưng cô nhất định sẽ không thừa nhận điều đó với anh. Như hiện giờ, cô chắc rằng anh đang cười nhạo mình. Dẫu sao thì, anh cũng chẳng nổi tiếng vì sự nghiêm túc. Và, công bằng mà nói, trông cô lúc này cũng chẳng ra dáng đoan trang chút nào.
Quan trọng hơn, cô cần tháo bỏ cái thứ kinh khủng trên đầu mình ra. Nó khiến cô cảm thấy như đang đội một cái tháp đồng hồ.
Cô ngồi sát mép ghế và nghiêng người về phía anh.
Rồi cô suýt bật dậy khỏi ghế, bởi những ngón tay dài của anh luồn vào tóc cô, chạm đến da đầu khi anh thăm dò. Những nếp viền ở cổ tay áo của anh khẽ chạm vào mặt cô, gợi nên cảm giác ngưa ngứa. Cô nhận ra mùi vải ẩm và một mùi khác—nước hoa hay xà phòng cạo râu gì đó, mang một nét nam tính nồng nàn.
Ngay lúc đó, cô nhớ lại—và cảm giác cũng trở lại—cảnh tượng khi anh dùng tay nâng cô lên khỏi đống bùn lầy… Kích thước bàn tay anh, cảm giác từ sức mạnh của anh… thân hình to lớn của anh… lưng cô tựa vào một lồng ngực cứng như đá. Ấm áp. Rồi đôi tay dài đó lại lồng vào nhau để cô bước lên… và sau đó là nắm lấy cổ chân cô.
Anh không phải anh em trai cô. Cô từng được các anh em trai giúp trèo qua tường rào, nhưng anh thì hoàn toàn khác. Anh là người mà chỉ cần nhìn vào một cô gái thôi cũng khiến cô có cảm giác như quên mặc quần áo. Anh chẳng có gì giống một người anh—và việc nhớ lại lời giải thích lộn xộn của mẹ về chuyện xảy ra trong đêm tân hôn càng không giúp cô giữ được sự bình tĩnh lúc này.
Olympia chỉ muốn thoát xác.
Nhưng không. Cô không cho phép bản thân nghĩ về việc Công tước xứ Ripley có thể đã nhìn thấy gì khi cô đứng trên vai anh. Chỉ mới nghĩ đến chuyện nghĩ về điều đó thôi đã khiến cô chóng mặt. Càng chóng mặt hơn. Và vô cùng bất an.
“Đừng cựa quậy nữa,” anh nói.
“Tôi đâu có,” cô đáp.
“Cô ngồi yên không được à,” anh nói. “Tôi phải lần mò bằng tay vì trong này quá tối, chẳng thể nhìn thấy gì. Tôi không làm được nếu cô cứ nhúc nhích như thế.”
“Tôi có kiểm soát được việc xe ngựa cứ lắc lư đâu,” cô nói. “Với lại, tôi thấy cực kì khó chịu.” Đó vẫn còn là nói giảm nói tránh. Cô cảm thấy như có gai đâm khắp người. Nóng bức. Và rối bời.
“Tôi đang cố làm nhanh nhất có thể rồi, nhưng người hầu gái hay thợ làm tóc của cô giấu đám ghim ở chỗ quái quỷ nào vậy. Cái thứ này được dán chặt lại à?”
“Không, chỉ là hàng ngàn cái ghim và một chút keo pomatum thôi.”
“Đưa tay ra đi, tôi sẽ đưa ghim cho cô,” anh nói. “Chắc là không cần giữ lại đám cành lá đỗ quyên này chứ? Hiện tại, cô làm tôi nhớ đến Ophelia sau khi rơi xuống nước.”
“Mạn che mặt bị vướng vào mọi thứ,” cô nói. Rồi cô nhận ra điều anh vừa nói. “Anh biết Hamlet à?”
“Tôi thích tất cả các vở kịch của Shakespeare,” anh nói. “Nhiều cảnh bạo lực và những trò đùa tục tĩu.”
Chẳng có gì ngạc nhiên cả.
Cô đưa tay ra. Ngón tay anh chạm nhẹ vào tay cô khi anh thả vài chiếc ghim xuống, để chúng lăn trên da. Cô ước gì mình đã đeo găng tay trước khi rời đi. Nhưng vấn đề là, cô phải quay lại phòng để lấy chúng, mà chắc chắn sẽ có người chờ sẵn ở đó: mẹ cô, dì Lavinia. Olympia sẽ bị mắc kẹt. Lúc đó thì đúng là không còn đường lùi.
Và phải. Cô đáng lẽ không nên chờ đến phút cuối mới thay đổi ý định. Cô đáng lẽ không nên đổi ý. Có chuyện gì không ổn với cô vậy?
Cô nhìn những cánh hoa—một vài cánh đỏ thẫm, số khác nhạt như màu hồng phấn—rơi xuống đống rơm. Những mảnh lá xanh bóng cũng khẽ khàng bay theo sau.
Cô đã làm gì thế này?
Không sao, không sao. Cứ từ từ giải quyết từng chuyện một.
*
Cô đã nhầm về số lượng ghim cài tóc.Ripley ước chừng phải có ít nhất mười ngàn cái. Nhưng một khi anh xác định được kiểu sắp xếp của chúng, anh bắt đầu tháo gỡ hiệu quả hơn. Từ mái tóc dày, óng ả của cô tỏa ra mùi hương hoa oải hương thoang thoảng, điểm thêm chút hương hương anh thảo. Đó là một mùi hương bất ngờ thuần khiết. Anh vốn quen với những mùi thơm đậm đà mà các nữ diễn viên, kỹ nữ, và những quý bà lừng lẫy của giới quý tộc thường dùng cho tóc mình.
Anh chợt nhận ra mình đang cúi đầu xuống gần hơn và lập tức ngửa ra sau.
Ngay cả khi làm một cách khéo léo, quá trình này vẫn rất lâu, không chỉ là việc tháo ghim cài tóc mà còn phải gỡ các bông hoa cam và lớp ren phức tạp mà không làm rối tung mái tóc của cô.
Một người phụ nữ mặc váy cưới chạy lung tung ngoài đường đã đủ tệ. Dù trong bất kỳ loại váy nào, nếu để tóc xõa, cô ấy sẽ bị xem là một kỹ nữ hoặc một kẻ điên.
Một quý cô không bao giờ để tóc xõa trừ khi chuẩn bị lên giường.
Tóc xõa đồng nghĩa với phụ nữ phóng túng.
Nói cách khác, cô sẽ trở thành mục tiêu để giải trí, dưới nhiều hình thức khác nhau.
Nhưng không phải với anh. Dù sao thì anh cũng chỉ là phù dâu bất đắc dĩ.
Anh không thể để cô đi bất cứ đâu mà không có anh.
Không phải việc đó hoàn toàn tệ. Cô khá thú vị. Và anh đang mong chờ giúp cô khiến Ashmont phát điên.
Tuy vậy, Ripley vẫn ước gì mình có cái mũ.
Ngay cả kẻ ăn mày thảm hại nhất cũng xoay xở được thứ gì đó để che đầu, dù có rách nát đến đâu. Nên không có gì ngạc nhiên khi Công tước xứ Ripley, người coi các quy tắc của Xã Hội như một cuốn sách hài, lại cảm thấy nhấp nhổm bên trong vì phải ra đường mà không đội mũ.
Tốt nhất là đừng nghĩ về cái đầu trần của mình.
Cũng đừng để tâm quá nhiều đến mùi hương tỏa ra từ tóc cô và cách nó gợi lên hình ảnh anh lười nhác trong một khu vườn đầy nắng ở Tuscany.
Nhưng chẳng có biệt thự nào ở Tuscany gần đây cả. Cũng không có bá tước phóng đãng nào ở đây.
Chỉ có cô dâu sắp cưới của Ashmont.
Và đây không phải Tuscany hay bất cứ thứ gì giống Tuscany.
Đây là London, nơi mưa rơi như một thói quen, còn Công tước xứ Ripley thì đang đóng vai thợ làm tóc trong một chiếc xe ngựa cũ kỹ, bẩn thỉu, lê lết về phía cầu Battersea.
Dù sao thì đây cũng là một trải nghiệm mới.
Cuối cùng, anh cũng tháo được chiếc mũ chùm đầu khỏi tóc cô mà không quá nhiều tiếng hét—từ phía cô hay phía anh. Nhưng hóa ra một vài lọn tóc tết là của cô, và phần tóc cuộn ở hai bên đã bung ra, nói chung thì, mọi thứ dường như bị rối hết lên. Anh vội vàng chộp lấy những chiếc ghim từ lòng bàn tay cô và chỉnh lại những lọn tóc lủng lẳng, không đẹp đẽ cho lắm, nhưng chí ít là được cố định lại
Cuối cùng, anh thả chiếc mũ và tấm mạn che lên đùi cô, rồi ngả người ra sau.
Cô nhìn xuống đống ren và hoa cam trên đùi mình.
“Đây là ren màu vàng, đắt lắm đấy,” cô nói. “Chắc chắn sẽ bán được gì đó ở tiệm cầm đồ. Đủ để trả tiền cho người chèo thuyền.”
“Tôi không mang chiếc mạn cưới của cô đi cầm đồ đâu,” anh nói.
“Tôi có yêu cầu anh làm vậy à? Tôi hoàn toàn có thể—”
“Hôm qua cô có thể làm được nhiều thứ,” anh nói. “Nhưng hôm nay không phải là hôm qua. Hôm nay cô say rượu. Cô đang mặc váy cưới. Nếu cô đi được một bước mà không có tôi, cô sẽ bị tấn công. Dù chuyện gì xảy ra, đó sẽ là lỗi của tôi, và không có từ nào đủ mạnh, cũng không có từ nào đủ để diễn tả sự chán chường của tôi khi phải nói về các cuộc đấu khẩu.”
Cô mở miệng—chắc chắn là để phản bác. Nhưng rồ lại khép miệng lại và nhìn xuống đống đồ trang sức đầu tóc đã được tháo dỡ.
Cô đang thay đổi suy nghĩ à? Anh có thể làm việc với điều đó, mặc dù—
“Anh mang đủ tiền để trả cho người chèo thuyền không?” cô hỏi. “Sau khi trả cho người lái xe ngựa? Dù anh là công tước, nhưng theo kinh nghiệm của tôi, các quý ông không mang nhiều tiền theo mình.”
Anh nhìn cô một lúc, nhìn những vết bẩn trên mũi cô và những vết ố trên kính mắt cô từ nước mắt hoặc mưa, và cả cách anh đã làm tóc cô rối tung.
Kể từ khi còn nhỏ, chưa bao giờ có người phụ nữ nào hỏi anh liệu anh có đủ tiền không. Để làm gì.
Điều đó khá là cảm động.
Nhưng đó không phải là nhiệm vụ của anh. Nhiệm vụ của anh là quản lý mọi chuyện để chúng kết thúc theo cách đúng đắn.
Cũng đơn giản thôi.
Đưa cô đến chỗ dì cô, khiến Ashmont tìm lại cô, và làm mọi người tin rằng đó chỉ là một trò đùa tinh quái đặc trưng của các công tước nhà họ.
“Thực ra, tôi mang theo tiền mặt sẵn cho tiền boa, hối lộ, và những thứ linh tinh khác,” anh nói. “Ashmont rõ ràng là quá… hào hứng… với việc kết hôn nên không nghĩ đến những chuyện tầm thường.”
“Hào hứng,” cô nói. “Đó là cách anh gọi sao? Tôi thì nghĩ anh ta đã say khướt khi ba người các anh xông vào tôi.”
“Chó chê mèo lắm lông,” anh nói.
Chiếc xe hackey dừng lại với một tiếng rầm, như đã làm nhiều lần trong suốt chuyến đi dài đằng đẵng. Ripley nhìn ra ngoài cửa sổ bẩn thỉu. Nhờ vào những vết trầy cáu bẩn, cảnh vật bên ngoài có thể là bất cứ thứ gì. Anh hạ cửa sổ xuống. Mưa đã giảm thành mưa phùn.
Người lái xe gọi lớn: “Cầu Battersea, thưa Đức ngài.”
“Chúng ta vẫn có thể quay lại,” Ripley nói.
“Không.” cô nói.