Những giọng nói mà Tiểu thư Olympia và Công tước xứ Ripley nghe thấy trong khu vườn thuộc về các anh em trai của cô, hai người nhỏ tuổi nhất đang tìm cách ngăn cản người anh cả. Âm mưu này diễn ra như sau:
Khi Ngài Ludford rời khỏi phòng trẻ, Clarence hét lên, “Drew, nhanh lên! Mau cản anh ấy lại!”
Andrew lao ra khỏi phòng học và chạy nhanh về phía cầu thang, Clarence chạy sát phía sau người anh cả.
“Để chị ấy đi đi!” Clarence hét. “Anh đừng có bắt nạt chị ấy nữa, anh là đồ hống hách!”
Điều này thực sự không công bằng với Ludford. Không chỉ vì anh không hống hách hơn bất kỳ người anh cả nào mà còn bởi anh đã nhiều lần nhận trách nhiệm và thậm chí là chịu phạt thay cho những trò nghịch ngợm của các em mình.
Khi Ludford quay lại trừng mắt nhìn Clarence, Andrew chớp ngay cơ hội, phóng lên cầu thang trước họ. Thằng bé lao xuống cầu thang, băng qua một hành lang, qua một cánh cửa, rồi tiếp tục chạy xuống một trong vô số cầu thang phụ của ngôi nhà cổ. Thề rằng sẽ xử lý đám em sau, Ludford đuổi theo, hoặc cố gắng làm vậy.
Clarence, người đang đuổi theo Ludford xuống cầu thang chính, vượt qua anh ở tầng một trước khi phóng về phía hành lang của người hầu. Thấy có khách đang đứng gần cửa phòng khách và không muốn gây chú ý thêm cho những lời đồn vốn đã lan xa, Ludford chọn con đường thận trọng và đi theo cậu em trai.
Họ đi ngang qua một vài người hầu trên đường xuống tầng trệt, nhưng chẳng ai bất ngờ. Đám người hầu đã quen với cảnh những đứa trẻ hiếu động chạy nhảy khắp nơi.
Khi Ludford đến khu vườn, Andrew đã dẫn trước một khoảng khá xa, còn Clarence chỉ chậm hơn chút đỉnh.
“Cẩn thận, Olympia!” Andrew hét lên. “Bầy chó săn đang đuổi theo chị đấy!”
Clarence tiếp tục la hét, theo kiểu như vậy, hét vang như thể những kẻ thù nham hiểm đang truy lùng chị gái mình, thay vì chính anh trai họ, người chỉ muốn hỏi xem chuyện gì đang xảy ra.
Vấn đề của Ludford lúc này là cô em gái đã đọc quá nhiều tiểu thuyết phiêu lưu lãng mạn cho mấy cậu nhóc trong phòng trẻ. Giờ đây, bọn trẻ tự đọc và nghĩ ra những kế hoạch phức tạp với các pha hành động rùng rợn và những tình huống thoát chết trong gang tấc giữa các hiệp sĩ quả cảm, người Viking, hải tặc, kẻ cướp đường, và vân vân.
Phải mất một lúc Ludford mới nhận ra các em mình đã dẫn anh đi lòng vòng. Anh chẳng nhớ rõ đường trong khu vườn trong Dinh thự Newland, còn bọn trẻ thì thuộc nằm lòng vì mỗi lần đại gia đình ghé thăm, chúng lại được thả tự do.
Khi anh đến được cổng sau của khu vườn, hai thằng “tiểu quỷ” đang bám lấy cánh cổng sắt chạm khắc, nhìn chằm chằm ra con phố phía ngoài.
Ludford cũng nhìn theo.
Cả em gái anh lẫn Ripley đều không thấy đâu.
Sau khi thốt ra một loạt lời nguyền rủa dành cho các em mình, và bất chấp việc quần áo sang trọng trong ngày cưới bị hư hại, Ngài Ludford trèo qua bức tường và lao nhanh xuống Phố Horton.
*
“Không phải tàu hơi nước,” Ripley nói. “Hiện tại, hành khách đang mải chen lấn, la hét, tranh giành lên tàu, chẳng ai thèm để ý đến chúng ta. Nhưng khi họ đã ổn định, họ sẽ tìm thứ gì đó để làm trò tiêu khiển, và chúng ta sẽ trở thành tâm điểm, với cô là ngôi sao chính.”Anh nắm tay Tiểu thư Olympia, kéo cô về phía những người chèo thuyền đang tụ tập bên bậc thang cầu Battersea.
Chiếc khăn quàng cổ từng hoàn hảo và những đường xếp nếp tinh tế trên áo sơ mi anh giờ đã xộc xệch. Áo khoác và quần đều lấm lem bùn đất và vệt mưa. Đôi giày vốn không được thiết kế để dầm mưa dãi nắng giờ đầy vết xước và bùn đấy.
Dẫu vậy, anh vẫn là một người đàn ông, và hơn thế, là một công tước. Suy nghĩ của người khác chẳng mấy quan trọng... dù anh thực sự ghét việc mình không có mũ.
Còn cô thì không phải đàn ông, càng không phải công tước.
Chiếc váy cưới của cô lấm đầy bùn đất, vương cỏ xanh và ướt sũng mưa. Đôi giày nhỏ xinh giờ đã cáu bẩn. Tấm mạng che mặt rách nát, nhàu nhĩ buông thõng trên tay cô. Cô còn để đầu trần, bất chấp lớp keo vuốt tóc, mái tóc ẩm ướt của cô bắt đầu xoăn tít lên, rối bời như thể cố tình gây sự chú ý.
Rồi còn đôi kính kia – nằm ngay ngắn trên sống mũi nhỏ nhắn, trông nghiêm nghị đến kỳ lạ giữa “mớ đổ nát” của bộ trang phục cưới.
“Đúng vậy, dĩ nhiên rồi,” cô nói, chỉnh lại gọng kính dù nó chẳng hề lệch. “Như thế này, chúng ta chỉ làm phiền những người chèo thuyền. Có thể nói với họ rằng chúng ta bị cướp đường chặn lại trên đường đến lễ cưới.”
“Chúng ta không nói gì cả,” anh đáp. “Nhiệm vụ của họ là đưa chúng ta đến nơi cần đến, nhiệm vụ của chúng ta là trả tiền.”
Ánh mắt anh quét qua những con thuyền đang neo đậu dọc bờ, và dừng lại ở một chiếc nhỏ có bốn mái chèo. Những người chèo thuyền đã căng một tấm bạt che mưa.
Anh dẫn cô tiến về phía đó.
“Nhưng nếu có người đuổi theo thì sao?” cô hỏi. ““Nếu nhận được sự đồng cảm từ người chèo thuyền, họ sẽ ít có khả năng phản bội chúng ta hơn.”
“Tiền bao giờ cũng nói to hơn,” anh đáp.
Việc bị phản bội không làm anh bận tâm. Phân nửa thế giới này nhận ra anh, và khó ai không chú ý đến cô. Người ta sẽ bàn tán. Nhưng miễn là cô an toàn ở Twickenham trước khi trời tối, Ripley hoàn toàn có thể xử lý phần còn lại.
Đúng là lần này không phải trò chơi khăm đơn giản nhất anh từng làm. Có quá nhiều yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát, mà Ashmont chính là vấn đề lớn nhất. Ai biết được liệu cậu ta đang uống say hơn hay đã chìm vào cơn mê mệt. Điều đó tăng khả năng gia đình cô đang trên đường truy lùng, một tình huống thật kém thú vị.
Ripley không thích nghe những lời cáo buộc hay yêu cầu giải thích. Anh chưa bao giờ thấy cần phải giải thích bất cứ điều gì, kể cả với bản thân.
Họ đến chiếc thuyền mà anh đã chọn. Nhờ tiền mặt sẵn có và phong thái của một công tước khiến chẳng ai dám hỏi han, anh nhanh chóng thu xếp mọi việc.
Rồi anh phải đưa cô lên thuyền.
Việc này lẽ ra không khó. Những chiếc thuyền của dân chèo trên sông Thames đều có phần mũi dài và hẹp, giúp hành khách bước lên mà không bị ướt.
Ripley đã chọn một chiếc thuyền lớn, dành cho nhiều hơn hai người, với những tay chèo trông vừa khỏe mạnh vừa đáng tin nhất trong số những người đang chờ khách.
Cô nhìn chằm chằm vào chiếc thuyền nhỏ và hỏi, “Là nó sao?”
“Chiếc thuyền của Ngài Thị trưởng đang bận, không tiện phục vụ,” anh đáp. Du thuyền của tôi, lần cuối cùng tôi nghe, thì là đang ở Worthing. Đây chính là thuyền của chúng ta.
Hai tay chèo nhìn họ đầy hứng thú. Việc họ im lặng chứng tỏ số tiền Ripley đưa ra đủ lớn để đổi lấy sự nhanh chóng và kín tiếng. Thuyền chèo sông Thames vốn không nổi tiếng với sự rụt rè.
“Trông nó có vẻ thấp sát mặt nước,” cô nói.
“Đó là thiết kế của nó,” anh trả lời. “Để tăng độ ổn định và… Thôi, để tôi giải thích về khoa học đóng thuyền sau. Bây giờ, cứ bước lên đi. Và cố đừng ngã trước khi đến chỗ ngồi. Nếu cô có ngã, cô cũng không chết đuối đâu, vì nước ở đây không sâu. Nhưng sẽ có người phải vớt cô lên, và mặc dù tôi không nghĩ mình có thể ướt thêm nữa, tôi cũng chẳng muốn lội vào đống bùn kia.”
Tất nhiên, anh sẽ làm nếu cần. Anh không thể để hai gã chèo thuyền thô kệch này động vào cô được.
“Tôi thấy hơi chóng mặt,” cô nói.
“Có phải cô đang định quay lại và nằm nghỉ cho thoải mái không?”
“Mơ đi.”
“Chắc chứ?”
Nếu cô không chắc, anh sẽ đưa cô quay lại. Anh có thể nói tất cả chỉ là một trò đùa tai tiếng khác của đám “Những Kẻ Bất Hảo” rồi để mọi chuyện kết thúc ở đó. Điều đó chắc chắn không thú vị bằng việc để Ashmont đuổi theo cô đến tận Twickenham. Nhưng ngay cả Ripley cũng không đi xa đến mức làm cô bất tỉnh chỉ để thực hiện một trò đùa công phu hơn.
“Đến giờ mà quay lại thì thật ngớ ngẩn,” cô nói.
“Đúng thế,” anh đáp. “Và cô không nghĩ việc mình đứng đây thay vì—giả dụ nhé – đang dự tiệc cưới, là điều hơi thiếu khôn ngoan sao?”
Cô ngước lên nhìn anh. “Anh nghĩ vậy à? Anh không thấy gì bất thường khi mình đang cũng đứng đây với tôi sao?”
“Hoàn toàn bình thường,” anh đáp.
“Thật ư?”
“Chẳng phải cô đã bảo tôi cô là một tiểu thư gặp nạn sao?” anh nói. “Tôi là hiệp sĩ trong bộ áo giáp sáng ngời của cô đây.”
Cô nhướn mày.
“Một sự thay đổi thú vị,” anh nói.
“Tôi không gọi đó là thay đổi,” cô đáp. “Với anh, tôi gọi đó là…” Cặp lông mày hạ xuống, nhưng đôi mắt cô lóe lên tia hài hước. “Ngày tận thế.”
“Cô định bước lên thuyền, hay muốn tôi làm điều mà một kẻ đói khát, chẳng mấy lịch thiệp, có thể làm, đó là quẳng cô xuống dưới nước?” anh nói.
Cô liếc nhìn cây cầu gỗ, thứ đã đứng vững bất chấp mọi định luật vật lý – và thẩm mỹ – suốt sáu mươi năm qua. Nó được xây ở một góc nghiêng khó chịu với dòng chảy của sông và có tới mười tám cột trụ hẹp. Thuyền bè thường xuyên va vào nó. Như nhiều người đã nhận xét, cầu Battersea được xây để tiện lợi cho người đi trên cầu và gây bất tiện cho kẻ đi dưới cầu.
Cây cầu duy nhất trên sông Thames có thể sánh ngang về sự bất tiện và ngớ ngẩn là cây cầu tiếp theo, ở Putney.
“Hoặc chúng ta cứ đứng đây chờ,” Ripley nói. “Nếu chờ đủ lâu, Ashmont có thể xuất hiện để cứu cô khỏi tay tôi.”
Anh nhìn lại đám đông đang đợi tàu hơi nước. Chưa có dấu hiệu nào cho thấy bị truy đuổi. Nhưng thời gian không chờ đợi. Họ đã đi xe ngựa bao lâu? Nếu cưỡi ngựa hoặc dùng xe riêng, Ashmont có thể đi nhanh hơn – nếu (a) anh ta còn tỉnh táo, (b) anh ta ráp nối được vài manh mối, và (c) anh ta rút ra được kết luận hiển nhiên.
Nói cách khác, khả năng không cao lắm.
Khi Ripley quay lại nhìn cô dâu, anh thấy cô đang chăm chú quan sát mình. Đôi mắt cô giờ trông xanh thẳm.
“Không,” cô nói. “Con xúc xắc đã lăn. Định mệnh của tôi đã định. Hôm nay tôi sẽ không cưới ai và thế là xong.”
Tốt. Không còn đường lui nữa. Tuyệt. Không quay lại hứa hẹn sẽ thú vị hơn rất nhiều.
“Anh sẽ giúp tôi lên chứ?” cô hỏi. “Hay anh muốn đứng nhìn tôi ngã vào thuyền?”
“Nhìn cô ngã chắc chắn sẽ vui hơn,” anh nói. “Vấn đề là, điều đó sẽ khiến mấy tay chèo và người đứng xem thích thú, mà chúng ta đã gây đủ sự chú ý rồi.”
“Chẳng phải đó là điều anh luôn theo đuổi sao,” cô nói, “thu hút sự chú ý? Hay điều đó chỉ là vô tình? Vì nếu không, điều đó có nghĩa là anh thực sự nghĩ về nó và... “ Cô nhíu mày. “Thôi, tốt hơn là không nên tưởng tượng xem chuyện gì diễn ra trong đầu anh. Dù sao thì, tôi cũng không muốn suy nghĩ quá nhiều vì suy nghĩ quá nhiều khiến tôi mệt. Có phải đó là một nghịch lý không nhỉ?”
“Đừng tưởng tượng. Cũng đừng suy nghĩ gì nữa. Chỉ cần—”
“Nó cũng giải thích khá nhiều về hành vi của một số quý ông mà tôi sẽ không tiện nêu tên. Tác động của các loại đồ uống có cồn—”
“Lên thuyền ngay,” anh cắt ngang.
Ripley nắm lấy khuỷu tay cô và dẫn cô tới phần mũi thuyền. Phần này thì dễ. Nhưng sau đó là những bước đi loạng choạng, những câu lầm bầm bằng tiếng Pháp, chiếc khăn voan lòa xòa bay tứ tung, lớp váy quấn lấy chân anh, và vài lần va chạm chẳng mấy tao nhã giữa cô dâu và phù rể.
Trong vài phút hỗn loạn, anh phải dồn hết sức để không ngã khỏi thuyền, không bật cười, hoặc – tệ hơn – không làm gì đó quá đỗi thiếu đứng đắn. Rốt cuộc, anh không chỉ là một người đàn ông, mà còn là người ít khi chịu hành xử đúng mực.
Cuối cùng, anh cũng giúp cô ngồi vào chỗ dưới mái che thô kệch.
Chiếc bạt phía trên, có lẽ từng được dùng để đựng cá hay nạo vét sông, vẫn còn ám mùi không mấy dễ chịu. Váy cô phồng lên quanh người anh, và một cơn gió mạnh thổi tung chiếc khăn voan, làm nó quấn lên mặt anh.
Anh gạt nó ra đúng lúc cô cũng kéo nó đi, khiến ngón tay họ khẽ chạm vào nhau.
Cô bối rối, quay mặt đi, nhìn chăm chăm vào dòng nước.
Tâm trí anh vẫn quanh quẩn khoảnh khắc cô loạng choạng ngã vào rồi rời khỏi vòng tay mình khi leo lên thuyền. Và cả mùi hương thoang thoảng từ mái tóc cô nữa.
Đúng là một dòng suy nghĩ vớ vẩn.
Ngay khi chuyện này kết thúc, anh sẽ tìm đến một góa phụ vui tính hay một cô nhân tình để chữa trị thứ đang ám ảnh mình.
Anh cố nghĩ đến… mũ.
Anh ước gì mình có một chiếc, và tự hỏi liệu có thể tìm được thứ gì đó tạm dùng được trong thời gian ngắn hay không.
Cuối cùng, con thuyền cũng rời bến, và mọi suy nghĩ rời rạc trong đầu anh tan biến theo làn gió sông.
Lúc này đây, điều Công tước xứ Ripley cảm nhận – không mấy bất ngờ – là một sự nhẹ nhõm.
*
Dinh thự NewlandNgài Ludford phát hiện Công tước xứ Ashmont ở trong phòng ăn, cúi đầu trên một chậu nước lớn, trong khi Công tước xứ Blackwood thì đang dội nước lạnh lên đầu anh ta.
“Khỉ thật, lạnh quá,” Ashmont càu nhàu.
Blackwood dừng tay.
“Đừng dừng lại,” Ashmont nói. “Phải làm cais đầu tôi tỉnh táo đã.”
“Nhưng không cần làm thế vì đám cưới đâu,” Ludford chen vào. “Vì có vẻ như sẽ chẳng có đám cưới nào cả. Olympia đã bỏ trốn cùng bạn anh rồi.”
Cái đầu tóc vàng của Ashmont ngẩng lên đột ngột, làm nước bắn tung tóe lên Blackwood, người lập tức bước lùi lại và buông một câu chửi không mấy nhã nhặn.
“Cái quái gì thế?” Ashmont thốt lên.
“Con bé đã bỏ trốn, và Ripley đi cùng nó. Họ lên một chiếc xe ngựa trên High Street, nhưng chẳng ai biết họ đi đâu hết.”
Những chiếc xe ngựa thuê thường có thể quay ngược hoặc đi vòng để tránh những đoạn đường thường xuyên bị tắc nghẽn. Không biết Ripley đã chỉ thị cho người đánh xe đi hướng nào nên không thể đoán được họ đang ở đâu.
“Tôi nghĩ anh biết Ripley định đi đâu,” Ludford nói. “Hoặc anh ta sẽ làm gì.”
Ashmont và Blackwood nhìn anh, rồi nhìn nhau.
Lúc đó, một người đàn ông cao, tóc vàng sáng, trung niên bước vào phòng. Khuôn mặt điển trai, thanh tú của ông ta thể hiện rõ sự thuộc dòng họ Beckingham.
“Bác Fred,” Ashmont lên tiếng. “Có chuyện rất buồn cười vừa xảy ra.”
Ngài Frederick Beckingham nhướng một bên mày. “Thật vậy sao. Lẽ ra giờ này cháu phải cưới vợ rồi chứ.”
Ludford kể lại những gì anh vừa chứng kiến.
Ngài Frederick nhìn cháu mình. “Đừng nói đây là một trò đùa của cháu nhé.”
“Không phải cháu,” Ashmont nói. “Là của Ripley.”
“Rõ ràng là,” Blackwood nói. “Như tôi định nói với Ludford, không cần phải lo. Họ sẽ không đi xa. Họ chỉ biến mất đủ lâu để gây náo động thôi.”
“Thật vậy không?” Ngài Frederick hỏi. “Ta phải thú nhận là ta rất bối rối không hiểu tại sao Tiểu thư Olympia lại đồng tình với chuyện đó.”
“Phải đấy, tại sao chứ?” Ludford nói. “Con bé từng nói rằng cả ba anh chẳng đáng giá gì cả.”
“Cô ấy chắc chắn phải nghĩ tôi có chút giá trị,” Ashmont nói. “Cô ấy đã đồng ý lấy tôi mà, đúng không?”
“Như cháu nói vậy,” Ngài Frederick đáp.
“Nhưng giờ nó bỏ đi rồi,” Ludford nói.
“Cô ấy không bỏ đi,” Ashmont nói. “Ripley dụ cô ấy tham gia trò đùa. Anh không nhận ra à?”
“Tôi cứ tưởng anh mới là người nghĩ ra những trò đùa,” Ludford nói.
“Không phải lúc nào cũng vậy,” Blackwood nói. “Ripley đã nghĩ ra vài trò khá hay. Vấn đề là, như Ludford thông minh hỏi, Ripley sẽ đưa cô ấy đi đâu? Chắc chắn là ở gần đây. Cậu ta sẽ không muốn tạo ra… ờm… những rắc rối lớn.”
“Nếu anh ta phá hỏng danh tiếng của em gái tôi, tôi sẽ giết anh ta đấy,” Ludford nói. “Đó chắc chắn là một rắc rối lớn.”
“Anh phải xếp sau Ashmont,” Blackwood nói.
“Chết tiệt, đúng rồi,” Ashmont gầm lên. “Tôi đã làm tất cả mọi việc, tán tỉnh các thứ, và tôi xứng đáng có được cô dâu của mình. Tên khốn đó. Cứ làm bộ như vô can—và tôi lại còn nhờ cậu ta lo liệu mọi thứ nữa chứ.”
“Cậu có nhờ đâu,” Blackwood nói. “Cậu ra lệnh cho cậu ta.”
“Cậu mới ra lệnh ý,” Ashmont đáp. “Cậu nói . . .” Anh dừng lại, cau mày. “Tôi quên rồi. Nhưng nếu cậu ta không muốn làm, thì nên nói thẳng, thay vì đi cướp cô dâu của tôi.”
“Ta có thể tưởng tượng ra nhiều thứ,” Ngài Frederick nói. “Nhưng việc Ripley cướp Tiểu thư Olympia thì không nằm trong số đó.”
“Nếu anh ta cướp con bé, thì sao lại đuổi theo nó trong vườn làm gì?” Ludford hỏi. “Nếu anh ta muốn cướp nó đi, thì sao không vác con bé qua vai, đại loại vậy?”
Đôi mày tuyệt đẹp của Ashmont nhíu lại. “Tôi phải thừa nhận, chuyện đó làm tôi rất bối rối.”
“Chắc chắn là vậy rồi,” Ngài Frederick nói. “Thay vì bắt bộ não phải làm việc quá sức vì câu đố này, ta khuyên cháu nên đưa cô gái đó trở lại, càng sớm càng tốt.”
“Trong lúc đó, chúng ta phải nói gì với bố mẹ tôi đây?” Ludford hỏi. “Và cả các khách mời đám cưới nữa?”
“Ta sẽ nói chuyện với bố mẹ cậu,” Ngài Frederick đáp. “Ta sẽ đảm bảo với họ rằng Ashmont đã nắm rõ tình hình và sẽ giải quyết ổn thỏa. Chúng ta sẽ bảo với các khách mời rằng Tiểu thư Olympia không được khỏe. Giờ thì, nếu tất cả có thể để ta nói chuyện riêng với cháu ta.”
Những người khác rời đi.
Ngài Frederick hạ giọng, hỏi, “Cháu đã làm gì?”
“Cháu chẳng làm gì cả, chết tiệt. Cháu không hiểu vì sao cô ấy lại hoảng lên. Nếu đúng là cô ấy bị hoảng loạn. Chứ không phải vì Ripley bày trò.”
“Ta đã nói với cháu—”
“Bác không cần nói đâu, thưa bác. Cháu đã gặp cô ấy rồi, tự mình thấy rõ. Một cô gái tuyệt vời. Chính xác là người cháu muốn, nên cháu đã nói với bác như vậy. Và không một lời nhận xét hay tiên đoán chẳng hay ho nào của bác ngăn được cháu, đúng không?”
“Ta ước rằng lời nói của ta có thể khiến cháu suy nghĩ lại về hành vi của mình.”
“Cháu không làm gì cả!”
“Ta chỉ có thể hy vọng rằng đó là sự thật, và vấn đề này chỉ nhỏ nhặt như cháu nghĩ—vì nếu cháu để mất cô gái này, Lucius, cháu có thể sẽ không bao giờ có cơ hội khác,” Ngài Frederick nói. “Cháu có thể không nghĩ vậy bây giờ, nhưng vài tuần, vài tháng, hay vài năm nữa, cháu sẽ nhận ra mình hối tiếc—”
“Cháu sẽ không hối tiếc gì hết. Cháu sẽ đưa cô ấy về và sửa chữa mọi thứ—bất kể cái gì đang sai—và càng ở đây nghe bác giáo huấn, cô ấy càng đi xa hơn.”
“Với Ripley.”
“Cô ấy an toàn với cậu ta,” Ashmont nói.
“Ta mong là thế, vì lợi ích của cháu.”
“Cậu ta là bạn cháu,” Ashmont nói. “Một tên quỷ láu cá, nhưng là bạn cháu—và chúng cháu sẽ sớm giải quyết mọi chuyện xong xuôi, và chuyện này rồi sẽ thành một trò cười, cháu cược bất cứ thứ gì.”
*
Khi chiếc thuyền rời khỏi cầu Battersea, mưa phùn đã chuyển thành sương mù nhẹ. Bờ sông trông dịu dàng hơn, và có thể, một số người—không phải Ripley—sẽ cho rằng nó trông thật lãng mạn. London như đang tan ra rồi tái hình thành, những tòa nhà lẽ ra phải quen thuộc lại mờ ảo, đầy bí ẩn. Hoặc có lẽ sự bí ẩn là, chúng không còn bẩn thỉu như thường lệ, nhờ vào lớp sương mỏng manh.Dù vậy, anh không gặp khó khăn gì trong việc nhận ra những đứa trẻ lang thang lội xuống bờ sông bùn lầy, lục lọi.
Dẫu sao thì, London cũng không khác biệt mấy, về nghèo đói và ô uế, so với bất kỳ thành phố lớn nào khác.
Sự thật là, anh đã rất nhớ nó.
Anh gần như chưa kịp đặt chân vào thành phố thì lại phải lên thuyền.
Hiện tại, điều đó chẳng phải là ý tưởng tồi.
Một phần vì ngày cưới của Ashmont hóa ra không nhàm chán như anh nghĩ. Một phần vì Ripley có được cô dâu, mà anh chưa từng nghĩ đến việc cướp đoạt cô. Nhưng giờ thì cô ở đây, và lời hứa về một cuộc phiêu lưu, và họ đang ở trên sông, xa rời với mọi người.
Tất cả những gì anh phải làm là đưa cô đến Twickenham an toàn. Đi bằng thuyền sẽ mất từ hai đến ba giờ. Tuyến đường trên bộ có quãng đường ngắn hơn, nhưng giao thông tắc nghẽn có thể làm họ chậm lại.
“Đây là nhà thờ Battersea,” cô nói. “Mọi thứ trông thật khác biệt khi nhìn từ góc này. Tôi chỉ từng đi sông bằng tàu hơi nước hoặc du thuyền, chưa bao giờ ở gần mặt nước đến vậy.”
Như thể những lời cô vừa nói đã gọi nó tới, một tàu hơi nước lao qua, vung vẩy sóng mạnh. Khi anh vươn tay ra để giữ cô lại, sóng mạnh làm thuyền rung lắc dữ dội, và anh suýt nữa đã ngã xuống. Anh nguyền rủa một câu, sau đó đứng vững lại và nắm lấy tay cô, nhưng không, đó không phải tay cô. Đó là cái phồng trong tay áo cô.
Cô dường như không nhận ra. Cô đang bám chặt vào thành thuyền. Khuôn mặt thì trắng bệch như chính bộ váy cưới.
Khi chiếc thuyền ổn định trở lại, anh lấy lại nhịp thở, mặc dù tim vẫn đập rất mạnh. Nếu cô ngã xuống sông...
Nhưng cô đã không ngã. Không ai cả ngã cả.
“Ít nhất thì chuyến đi trên sông này cũng không nhàm chán,” anh nói.
“Thật khác biệt khi ta ở gần mặt nước như này,” cô nói trong trạng thái run rẩy.
“Đừng ngồi sát mép quá,” anh nói. “Và đừng bị say sóng.”
Cô nhìn lên anh. Đôi mắt cô dường như đã mất đi màu sắc và trở nên xám, giống như sương mù. “Sao không ai nghĩ ra việc đó nhỉ? Chỉ cần ra lệnh cho một người đừng bị say sóng. Vậy là có tác dụng luôn.”
Cô nói bình thản, nhưng vẫn giữ chặt tay vào thành thuyền.
“Tôi quyết định rồi,” anh nói. “Lúc đầu tôi còn tự hỏi Ashmont đang làm gì. Nhưng giờ thì rõ ràng cậu ta thật may mắn khi tìm được đúng thứ cậu ta cần.”
Màu sắc trở lại trên mặt cô. “Tôi không quan tâm liệu tôi có phải là thứ anh ta cần không. Câu hỏi là liệu anh ta có phải là thứ tôi cần hay không.”
“Cậu ta là một công tước,” anh nói. “Đó là tất cả những gì một người phụ nữ mong muốn.”
Từng ngón tay cô từ từ rời khỏi thành thuyền. “Tôi nói với bản thân điều đó ít nhất một trăm lần rồi,” cô nói. “Kỳ lạ là nó chẳng thể làm tôi bớt lo lắng đi.”
“Thật tiếc là cô không uống thêm chút rượu brandy,” anh nói. “Chắc là cái đó sẽ giúp cô. Cô chỉ mới đến giai đoạn liều lĩnh thôi. Thêm một chút nữa, cô có thể đã vào giai đoạn dễ bảo và hài lòng rồi. Cũng may là tôi nhớ ra một điều: Về giai đoạn... tính toán lại tất cả những gì đã qua—”
“Tôi đâu biết có quy tắc gì về việc say rượu đâu,” cô đáp.
“Vậy thì nghe người có kinh nghiệm nói đây,” anh nói. “Nếu cô vẫn muốn say mặc dù tôi đã bảo cô đừng làm vậy, thì ít nhất cô cũng phải làm điều đó ra ngoài thành thuyền. Nhưng phải giữ chặt lấy, nếu không cô sẽ rơi xuống và chết đuối mất. Và tôi sẽ phải giải thích dài dòng, thay vì làm theo kế hoạch đơn giản nhưng rất thông minh của mình để cứu vãn tình thế.”
“Anh có kế hoạch à?”
“Tôi có vài kế hoạch. Một trong số đó là đi vòng qua Portsmouth rồi ra biển.”
“Ah, kế hoạch chuồn đi thật khéo,” cô nói.
“Tôi đã cân nhắc và bỏ qua nó,” anh nói. “Tôi vừa mới trở lại. Không có thời gian để hồi phục sau khi phải đối mặt với những người ngoại quốc.”
“Tôi muốn gặp người ngoại quốc,” cô nói. “Tôi chỉ muốn gặp toàn những người ngoại quốc thôi.”
“Vậy thì lấy Ashmont đi rồi bắt cậu ta đưa cô ra nước ngoài,” anh nói. Anh hình dung cô sẽ leo lên những bậc thang ở Vườn Boboli tại Florence và ngắm nhìn toàn cảnh thành phố. Anh tự hỏi mắt cô sẽ đổi màu như thế nào khi lần đầu tiên nhìn thấy những tòa palazzi ven kênh đào Venice. Anh cũng tưởng tượng cô ngồi trong gondola (thuyền đi lại ở Venice), trong chiếc felze (một loại thuyền khác) sang trọng, kín đáo… và anh nghĩ tốt nhất là không nên tưởng tượng những chuyện có thể xảy ra trong những chiếc thuyền nhỏ đó.
“Tôi nghĩ đến chuyện đó rồi,” cô nói. “Tôi còn cân nhắc các ưu điểm. Lặp đi lặp lại. Thư viện ở nhà anh ta tại Nottinghamshire, tôi phải thừa nhận, là một điểm mạnh trong tính toán của tôi. Và nếu tôi có bỏ sót điều gì, thì dì Lavinia sẵn sàng bổ sung thêm. Dì ấy bảo tôi sẽ có mọi thứ tôi muốn, mặc dù tôi nghĩ điều đó còn tùy vào những gì người ta muốn. Dù sao thì tôi cũng không hiểu làm sao mà Ashmont vẫn chưa bị ngập trong nợ nần. Nhưng cha tôi và chú Henry đã kiểm tra kỹ lưỡng những chuyện đó. Chú Henry thực hiện điều đó, chứ cha tôi thì chẳng hiểu gì về số học, trừ khi đó là con số trong bảng đua ngựa.” Cô thở dài. “Ashmont không tiêu hết gia tài của mình. Anh ta còn làm tăng thêm nữa.” Cô đưa tay lên trán. “Thế giới này chắc sẽ nghĩ tôi phát điên rồi.”
Nếu Ripley hiểu gì về thế giới, chắc chắn mọi người sẽ đổ lỗi cho Ashmont. Quỷ tha ma bắt, Ripley cũng đổ lỗi cho Ashmont. Cậu ta là một công tước giàu có, đẹp trai. Cậu ta sinh ra đã quyến rũ, trong khi người khác phải học để có được sự quyến rũ ấy. Lẽ ra cậu ta phải khiến cô mềm nhũn. Cô đáng ra phải vui sướng ngất ngây trong ngày cưới của mình, chứ không phải tìm cách trốn tránh nỗi lo bằng rượu brandy.
Ngốc nghếch.
“Suy nghĩ lại chưa?” Anh nói. “Chúng ta có thể về Dinh thự Newland ngay trong nháy mắt.”
“Không, tôi vừa vượt qua sông Rubicon rồi (ám chỉ không thể quay đầu). Và nhìn xem ta đã đi xa cỡ nào này.” Cô đưa một ngón tay run rẩy lên. “Kia là cầu Putney. Tôi có thể nhận ra nó từ bất cứ đâu.”
“Ừ, ở đó có một quán—” Anh ngừng lại. Anh đã đi vắng hơn một năm nay rồi. “Gần đây có động đất gì không?” anh hỏi những người lái thuyền.
“Không, thưa Đức Ngài,” một người trả lời, trong khi người còn lại chỉ nhìn anh mà không nói gì.
“Vậy tôi cho là quán Sư tử Bạc ở Putney vẫn còn hoạt động chứ?” Ripley hỏi.
“Vẫn còn đấy, thưa Đức Ngài,” người nói chuyện nhiều hơn đáp lại.
“Chúng tôi sẽ dừng lại ăn ở đó,” Ripley nói. Chuyến đi này sẽ phải rẽ vào High Street, lâu hơn một chút so với việc ghé vào quán ven sông, nhưng người ta không thể dẫn phụ nữ vào những quán rượu tầm thường.
“Dừng lại ư?” cô nói. “Chúng ta không có thời gian để anh làm vấy bẩn mấy cô phục vụ quán trọ vô tội đâu. Tôi tưởng anh đang rất muốn tống khứ tôi đi mà.”
“Cô không thể mong tôi đi cùng cô đến Twickenham với cái bụng đói meo được,” anh nói.
“Vậy tôi có thể để anh ở lại và tiếp tục một mình không?” cô hỏi. “Tôi không có tâm trạng tham gia vào việc làm vấy bẩn những người chủ quán ngây thơ hôm nay, và tôi cần có việc gì đó để làm trong khi anh lãng phí thời gian với các cô hầu gái.”
“Chúng ta sẽ ăn gì đó,” anh nói. “Cả hai chúng ta. Hoặc cô có thể nhìn tôi ăn.”
“Không phải anh đang vội à.”
“Có phải bữa tối trong lâu đài Windsor đâu mà,” anh nói. “Chúng ta còn cần ít thời gian hơn chuyến xe thư cho phép hành khách ăn trưa. Cô nên ăn gì đó đi. Như vậy sẽ ít bị đau đầu hơn. Người có kinh nghiệm đang lên tiếng, nhớ không?”
*
Olympia không nhớ lần cuối mình ăn là khi nào. Cô cũng không nhớ được nhiều thứ khác. Một loạt ý nghĩ thường ngày dường như không ở đúng chỗ trong đầu cô, và thế giới xung quanh cũng chẳng nằm ở vị trí đúng đắn của nó.
Công tước có lẽ không đề nghị sai. Nếu cơ thể không được nuôi dưỡng, trí óc sẽ yếu đi. Hơn nữa—mặc dù có cho cô cả thế giới hay cả vương miện kim cương, cô cũng không dám thú nhận với anh ta—cô tin rằng mình đang hơi say. Đó là lời giải thích hợp lý duy nhất cho sự hỗn độn trong não cô.
Đầu óc cô vốn được cho là có tổ chức và thực tế. Đến mức đáng chê trách, theo lời mọi người nói. Thế mà bây giờ, tâm trí cô lại hoàn toàn rối loạn và phi thực tế.
Cô cần ăn. Việc đó sẽ không mất nhiều thời gian. Sau đó, họ có thể tiếp tục cuộc hành trình của mình, cơ thể tràn đầy năng lượng, và cô sẽ có thể suy nghĩ rõ ràng hơn về bước đi tiếp theo và xa hơn nữa.
“Tôi muốn một chiếc bánh sandwich,” cô nói. “Họ có bán sandwich không?”
“Tôi là một công tước,” anh trả lời.
“Đúng vậy, chắc chắn là họ có sandwich,” cô nói. Nếu không có, thì họ sẽ tìm cách kiếm được nó, dù thế nào đi nữa. Làm công tước thật tốt, đặc biệt là khi anh to lớn và trông đầy quyền lực.
Không phải cô sợ hãi anh. Anh là một trong “Những Kẻ Bất Hảo” và vì thế, khá là ngốc. Nhưng anh là một gã ngốc quyền lực. Và là đàn ông. Ngay cả trên một chiếc thuyền đủ rộng cho nhiều hành khách, anh vẫn chiếm gần hết không gian. Anh ngồi với đôi chân duỗi dài, như thể đang nằm lười biếng trên một chiếc ghế sofa trong hậu cung Thổ Nhĩ Kỳ. Tâm trí cô bỗng tưởng tượng anh trong bộ áo sơ mi rộng và chiếc quần vải... rồi cô chợt nghĩ đến những điều Mẹ đã nói về đêm tân hôn.
Không phải là điều gì gây sốc. Olympia từng lén đi theo vài người anh em trai của mình và xem một con ngựa giống leo lên một con ngựa cái. Trông có vẻ khá khó chịu cho ngựa cái và đầy nỗ lực với ngựa đực, nhưng chắc chắn với con người thì sẽ khác...
... Và cô không muốn nghĩ về những điều như vậy, nhất là khi đang ở gần với người đàn ông to lớn, hơi thô lỗ này... hay nghĩ đến bất kỳ lúc nào... và thật sự, cô đang rất đói.
Những người chèo thuyền cập bến. Cô sốt ruột nhìn họ cất mái chèo. Cô muốn nhảy ra khỏi thuyền ngay, nhưng Ripley đã giữ lấy khuỷu tay cô. Không mạnh. Anh không hề dùng sức. Nhưng dù vậy, cái nắm nhẹ nhàng đó vẫn giữ cô ngồi yên trên ghế.
Cô không chắc anh đã làm thế nào, nhưng cô đoán rằng điều đó có liên quan đến việc anh là một công tước.
“Đợi đã,” anh nói. “Hãy để họ xuống trước và giữ cho thuyền ổn định.”
Cô đợi, nhận thức rõ ràng về bàn tay to lớn đang giữ lấy cánh tay mình, trong khi những người chèo thuyền từ từ rời xuống, rồi còn quay lại để giữ phần mũi thuyền.
“Được rồi,” Ripley nói, thả tay cô ra. “Cẩn thận đấy.”
“Thuyền đã lên đất liền rồi,” cô nói. “Chính xác là đất ẩm.”
“Không phải toàn bộ con thuyền,” anh nói. “Mũi thuyền vẫn—”
“Vâng, vâng, tôi thấy rồi.” Cô vội vàng thu lại khăn mạn mặt và đứng lên. Khi cô bước về phía trước, thuyền bắt đầu lắc lư.
“Cẩn thận,” Ripley nói.
Cô quay lại nhìn anh. “Tôi không thể ngăn cái thuyền lắc lư được,” cô nói. “Như anh vừa nói, thì một phần của nó vẫn ở dưới nước, mà nước thì—”
“Đi ở giữa thuyền đi,” anh nói.
“Tôi đang ở giữa mà.”
Cô thở hắt ra, bực mình, quay người lại và bước về phía trước đúng lúc anh kêu lên, “Không!”
Chiếc thuyền chao đảo dữ dội. Cô vung tay để giữ thăng bằng, còn Ripley lao về phía cô, hét lớn. Và rồi bàn tay anh đưa ra, cô cố nắm lấy, nhưng nó chỉ cách một chút xíu ngoài tầm với. Rồi cô ngã xuống, và tiếp theo là một cú té đầy bùn đất, kèm theo tiếng nước bắn tung tóe.
*
Anh chửi thề và lại chửi.Anh nhảy ra khỏi thuyền, gạt những người chèo thuyền đang định bước tới. Anh lội vào lớp bùn nhão đến chỗ cô, nơi cô đang ngồi, trông vô cùng ngạc nhiên, trong khoảng một gang nước đục ngầu.
“Cô nhất định phải ngã ra khỏi thuyền mới được à?” anh nói.
“Tôi đâu có cố tình!” Cô cố đứng lên, nhưng chỉ càng trượt sâu hơn vào lớp bùn.
“Tôi đã bảo rồi—”
“Chính anh làm tôi phân tâm.”
“Tôi chỉ đang cảnh báo cô.”
“Thật khó chịu khi cứ bị người khác nói như thể mình chẳng có chút đầu óc nào. Thôi, khỏi phiền anh,” cô nói thêm khi anh chìa tay ra. “Tôi có thể tự leo ra khỏi cái vũng nước này.”
Đám đông bắt đầu tụ tập. Chỉ một lát nữa thôi, những người hiếu kỳ sẽ kéo ra từ các quán rượu ven sông.
“Cầm lấy tay tôi,” anh nói.
“Tôi có thể vịn vào thuyền,” cô đáp.
Anh nắm lấy tay cô và bắt đầu kéo cô lên, nhưng đúng lúc đó, cô giật tay ra, chân anh trượt, và cả hai ngã nhào xuống nước.
Tiếng cười rộ lên từ bờ.
Anh nhìn cô.
Chiếc mạn che chết tiệt vẫn quấn quanh tay cô, kiểu tóc anh vừa sửa cho cô thì đang dần xổ tung. Cú ngã khiến nước bùn bắn lên mặt và kính cô. Cặp kính giờ thì chắc chắn đã lệch hẳn.
Anh cảm thấy cơn cười đang trào lên, nhưng rồi nhận ra rằng cả hai đều đang ngồi trong nước. Nếu không làm gì, cô có thể bị cảm nặng, hoặc tệ hơn.
Anh lẩm bẩm chửi thề, tự kéo mình dậy khỏi lớp nước lầy, rồi bước lại gần cô. Anh cúi xuống, túm lấy cô dưới cánh tay—hôm nay đã mấy lần rồi nhỉ?—và nhấc cô lên. Ngay khi cô vừa đứng thẳng, cô lại loạng choạng và suýt ngã lần nữa.
Lần này, anh kéo cô sát vào người mình. “Cô định tự dìm mình chết đuối à?” anh nói. “Nếu vậy thì sẽ khôn ngoan và dễ dàng hơn nếu nhảy từ trên cầu xuống—nhớ là ở giữa sông, không phải gần bờ.”
Cô đẩy anh ra. “Làm ơn tránh xa tôi ra!”
Cô ướt nhẹp, dính đầy bùn và phảng phất mùi sông nước. Anh nhận ra điều này. Anh cũng nhận ra cơ thể mềm mại, đầy đặn của cô đang áp sát vào mình. Tâm trí anh bắt đầu làm điều mà tâm trí mọi đàn ông thường làm trong những tình huống như thế này: nhường chỗ cho một sức mạnh mạnh mẽ hơn, nằm thấp hơn trong cơ thể.
“Không,” anh nói. Chỉ với một từ đó, chút lý trí trở lại, và hình ảnh Ashmont hiện lên trong đầu anh—đang đợi cô dâu với vị mục sư.
Cô là cô dâu của Ashmont.
Ashmont đã chọn cô và cậu ta xứng đáng có được cô. Cô là người hoàn hảo cho cậu ấy.
Khi cô còn đang vùng vẫy, Ripley đổi trọng tâm, bế thốc cô lên. Một cô dâu chạy trốn, ướt nhẹp, lấm lem bùn đất, đang hét toáng trong tay anh.
Những người xem bên bờ vỗ tay hò reo. Anh đã quen với khán giả rồi. Anh chỉ gật đầu đáp lại.
“Ôi,” cô nói. “Anh đúng thật là nực cười.”
“Cô vừa ngã chổng mông xuống sông xong mà vẫn dám nói thế à.”
Cô không phải kiểu người mảnh khảnh nhẹ tênh, như thể chỉ cần một làn gió nhẹ cũng làm gãy xương. Cô là một phụ nữ đầy đặn, với những đường cong nữ tính được phân bố tuyệt hảo. Nhưng anh đã từng đối phó với những con ngựa bất kham và kéo người bạn to lớn, nặng nề hơn nhiều ra khỏi các quán rượu, nhà thổ, thuyền, xe ngựa, chuồng ngựa, vân vân. Hơn nữa, anh là kiểu người thiên về hành động hơn là suy nghĩ. Bế cô lên con dốc thoai thoải và bước vào con phố chính không phải là việc gì quá khó khăn.
Cô vừa nói vừa cằn nhằn hoặc gì đó suốt chặng đường.
Anh không nghe. Anh cũng chẳng bận tâm. Anh phải giữ tâm trí mình không nghĩ đến trọng lượng của cô hay hình dáng cô, vì từ đó mọi chuyện sẽ dẫn đến việc anh có những ý tưởng không hay trong cái “đầu nhỏ” vốn thích làm chủ tình hình khi có phụ nữ ở gần.
Anh tập trung vào điều duy nhất mình cần làm.
Anh phải đưa cô đến Twickenham—còn sống, nếu có thể—và khiến Ashmont đến đó cưới cô.
Mọi chuyện không thể đơn giản hơn, anh tự nhủ.