Như Olympia có thể đoán trước, tất cả mọi người tại Sư tử Bạc đều nhận ra Công tước xứ Ripley.
Họ sẽ nhận ra bất cứ ai trong nhóm “Những Kẻ Bất Hảo” ấy.
Hình ảnh của họ đã xuất hiện trên khắp các báo lá cải. Họ xuất hiện gần như hàng ngày trên tờ Foxe’s Morning Spectacle, ấn phẩm bê bối được yêu thích nhất London, và trong các tranh biếm họa trưng bày tại cửa sổ nhiều tiệm in.
Cố giữ kín đáo khi đi cùng anh là chuyện không tưởng, Olympia nhận ra.
Mà, giữ kín đáo trong bộ váy cưới nhếch nhác, trông không khác gì một con chuột chết đuối hay xác một con tàu đắm chính con chuột ấy không kịp thoát ra, cũng chẳng thể nào thực hiện được.
Việc khiến Ngài Công tước làm bất kỳ điều gì ngoài ý muốn của anh cũng bất khả thi, cô nghĩ. Ví dụ như việc đứng trên đôi chân của chính mình, cô buộc phải đợi cho đến khi anh chịu để cô làm thế.
Thật ra, cô không hoàn toàn khó chịu khi được anh nhấc ra khỏi bãi nước và bế lên cầu thang, lướt qua hàng trăm ánh mắt theo sau. Dù rằng cô sẽ cố giữ đầu ngẩng cao—dẫu cô là con gái của một bá tước—cô không hề tự tin mình có thể bước đi một cách duyên dáng.
Mặc dù không thích lắm việc xuất hiện công khai trong tình trạng ướt nhẹp và lấm lem như thế này, điều sợ nhất là để người khác nhận ra rằng cô đang say. Cô lo rằng nếu cô tự bước đi, kéo theo cả “hàng tấn sông Thames” trên người, khán giả sẽ lập tức kết luận như vậy.
Đây là lần đầu tiên từ khi còn bé, một người đàn ông bế cô trong vòng tay. Nhưng cô không cảm thấy mình nhỏ bé như một đứa trẻ, và cảm giác này khác hẳn khi được cha, chú hay ông của mình bế. Ý thức về sức mạnh, kích thước, và hơi ấm từ cơ thể anh đánh mạnh vào giác quan của cô. Cô muốn vô cùng được nép đầu vào lồng ngực anh.
Chắc chắn là do rượu brandy, cô tự nhủ. Tưởng rằng bị sóng của thuyền hơi hất tung vào dòng Thames sẽ đủ để tỉnh rượu, nhưng rõ ràng là không.
Cuối cùng, anh đặt cô xuống trong sảnh tiếp đón của quán trọ. Đôi chân cô run rẩy vô lý trong khi anh nói chuyện với ông chủ quán, yêu cầu hai phòng, cả hai đều có lò sưởi, nước nóng để tắm, và quần áo khô.
Phải mất một lúc tâm trí cô mới bình tĩnh lại để hiểu chuyện đang diễn ra.
“Lò sưởi?” cô hỏi khi ông chủ quán đã rời đi. “Vào thời điểm này trong năm á?”
“Cô muốn bị viêm phổi à?” anh nói.
“Đến lúc họ nhóm lò xong, chúng ta cũng đã tắm rửa và thay đồ rồi,” cô nói. “Đấy là nếu họ tìm được quần áo. Anh nghĩ họ sẽ tìm quần áo cho chúng ta bằng cách nào hả?”
“Cũng như cách họ sẽ nhóm lò thôi,” anh nói. “Họ làm cách nào thì cũng không phải việc của tôi.”
“Thật khó hiểu tại sao chưa ai tìm cách giết anh trước đây,” cô nói. “Anh luôn cư xử kiểu này à?”
“Không,” anh đáp. “Cô là cô dâu đầu tiên bắt cóc tôi. Tất nhiên, người ta sẽ nghĩ là tôi đã đưa cô đi. Điều này chính ra lại thuận lợi cho chúng ta đấy.”
“Không thuận lợi cho tôi,” cô nói. “Tôi không thể—” Cô định nói Tôi không thể bị mang tiếng là bị đưa đi, nhưng câu đó nghe thật vô lý. Trên thực tế, cô đã cùng Công tước xứ Ripley bỏ trốn, và đó sẽ là những gì báo chí sẽ viết, vụ bê bối sẽ lan rộng, và những bức tranh biếm họa về sự kiện này sẽ được nhiều họa sĩ vẽ theo trí tưởng tượng của họ. Những bức tranh đó sẽ rất lòe loẹt.
Cô cố nhìn theo hướng tích cực. Chưa bao giờ trong những giấc mơ hoang đường nhất, cô nghĩ mình sẽ xuất hiện trong cửa sổ các tiệm in.
Trong bất kỳ giấc mơ nào khác của ai đó, cô cũng chưa từng nghĩ đến điều này. Theo cô biết, chưa từng có ai được bầu chọn là Cô Gái Buồn Tẻ Nhất của Mùa vũ hội nhiều lần như Tiểu thư Olympia Hightower.
Nhưng mặt khác, cô đã làm bẽ mặt gia đình mình. Bôi nhọ họ. Bôi nhọ chính mình. Khiến bản thân không còn khả năng kết hôn.
Nhưng không, cô không thể nghĩ đến hậu quả ngay lúc này, kẻo phát điên mất. Tâm trí cô hiện giờ vốn đã không ổn định rồi.
Từng chuyện một.
Một cô hầu gái xuất hiện để đưa họ đến phòng.
*
Ripley theo sau Tiểu thư Olympia lên cầu thang, tự nhủ rằng cảnh tượng cô dâu rơi khỏi thuyền là kiểu việc mà một người có thể mong đợi xảy ra trong một chuyến phiêu lưu. Không phải rằng đó là dạng “giải trí” anh sẽ mong chờ với một phụ nữ đoan trang—nhưng thật ra, anh cũng chẳng có nhiều kinh nghiệm với kiểu người đó.May mắn thay, sự cố xảy ra sớm trong chuyến đi, gần một quán trọ mà anh từng lui tới nhiều lần. Đúng là anh và bạn bè thường hành xử không mấy tốt đẹp ở đây, cũng như tại nhiều nơi khác. Nhưng họ vẫn luôn thanh toán mọi thiệt hại.
Quán Sư tử Bạc có một tài khoản riêng dành cho anh. Điều này không có gì lạ đối với một quý ông thường xuyên rong ruổi trên những con đường của nhà vua để tìm kiếm các cuộc vui: các trận đấu quyền anh, đô vật, đua ngựa, đua thuyền, và mọi trò cá cược khác.
Điều lạ thường là đại diện của công tước luôn thanh toán các khoản nợ—không phải vào các ngày theo quý, hoặc nửa năm, hoặc hàng năm, hay theo truyền thống hào phóng của giới quý tộc… không bao giờ thanh toán—mà là hàng tháng.
Tất cả các khoản nợ đều được thanh toán đầy đủ mỗi tháng.
Sự “lập dị” nho nhỏ này khiến mọi người giữ im lặng và hợp tác. Thay vì đóng chặt cửa và cửa sổ lại, treo biển Đi câu cá hay Đóng cửa cho đến khi có thông báo mới khi nghe tin anh sắp tới, tất cả các thương gia đều mở rộng cửa, chạy ra chào đón anh với vòng tay rộng mở, và đôi khi, với cả các cô con gái của họ.
Làm công tước thật tuyệt, nhưng làm một công tước giàu có thì càng tuyệt hơn.
Tiền bạc thường giải quyết được mọi vấn đề.
Nó sẽ sớm giải quyết được cả vấn đề hiện tại, và Ripley sẽ đưa cô dâu của Ashmont đến Twickenham đúng giờ.
Cô sẽ không bị cảm lạnh hay viêm phổi.
Dù sao thì cũng đang là tháng Sáu, không phải tháng Mười Một. Thời tiết ôn hòa, và cô chỉ rơi vào nước sâu chưa đến hai feet (~60cm).
Anh bắt đầu nhận ra nước đang nhỏ giọt trên cầu thang khi cô leo lên.
Tâm trí anh trở về hiện tại, và anh nhận ra cô bị ướt từ đầu đến chân. Chắc chắn cả váy lót cũng đều ướt sũng. Nếu không, váy ngoài của cô không thể dính chặt vào phần mông và đùi như vậy.
Anh nhớ lại cảm giác thân thể cô áp sát vào mình, và cảm giác khi bế cô lên quán trọ.
Dĩ nhiên là anh nhớ. Anh là đàn ông, và cô là một phụ nữ trẻ với thân hình đầy đặn.
Và dĩ nhiên cô đầy đặn. Ashmont sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện theo đuổi kiểu phụ nữ khác.
Và bởi vì Ashmont đã theo đuổi và gần như chinh phục được cô, sự đầy đặn đó thuộc về cậu ta. Điều đó là hợp lý. Không còn nghi ngờ gì nữa, cô là chính xác những gì cậu ta cần. Tiểu thư Olympia sẽ không bao giờ để cậu ta chà đạp lên mình. Ngược lại, có khi cô lại chà đạp lên cậu ta, mà chắc hẳn là cực kì thú vị...
Nhưng thôi nghĩ việc đó sẽ thú vị thế ra sao đi, Ripley tự nhắc nhở khi trí tưởng tượng của anh bắt đầu lạc lối. Đó không phải là suy nghĩ hữu ích trong lúc này.
Hiện tại, điều anh cần, trước tiên, là một lần tắm rửa sạch sẽ, thứ hai là một cái mũ—và họ tốt nhất nên tìm được thứ phù hợp. Thứ ba, anh cần—một cách hoàn toàn hợp lý và tự nhiên sau nhiều tháng kiêng cữ không tự nhiên—một phụ nữ đầy đặn, và người đó không phải thuộc về một trong những người bạn thân nhất của anh. Hai điều đầu sẽ được giải quyết sớm, và điều thứ ba sẽ được lo vào tối nay, anh tự hứa với bản thân.
Trong khi chờ đợi, là một người đàn ông và chắc chắn không phải một vị thánh, anh không tự nhủ rằng phải ngừng nhìn vào những mắt cá chân lấm bùn của Tiểu thư Olympia.
*
Ripley chờ đến khi Tiểu thư Olympia an toàn trong phòng, với hai người hầu của quán trọ, Molly và Jane, canh giữ bên trong.Anh đã dặn dò họ trước rằng quý cô vừa trải qua một buổi sáng đầy thử thách và không được tỉnh táo như mong muốn. Do đó, anh mong họ phải giữ tỉnh táo và cẩn trọng thay cho cô ấy.
Nhiệm vụ của họ là ngăn chặn bất kỳ nỗ lực nào của quý cô nhằm trèo ra cửa sổ hoặc đột ngột thay đổi kế hoạch của hành trình. Họ phải lo cho cô sạch sẽ, khô ráo, ăn uống đầy đủ, và mặc quần áo mới. Dưới bất kỳ tình huống nào, họ cũng không được để cô khuất khỏi tầm mắt. Nếu chẳng may cô thoát khỏi họ, họ phải báo cho anh ngay lập tức. Anh sẽ ở phòng kế bên.
Sau khi xử lý mọi khả năng có thể xảy ra, Ripley đợi đến khi cánh cửa đóng lại sau lưng bộ ba, rồi gọi bà chủ quán trọ.
“Gửi ai đó đến chỗ thợ may bà Thorne,” anh nói. “Hãy đảm bảo bà ấy hiểu rằng quý cô vừa gặp tai nạn và cần quần áo mới ngay, thật nhanh. Chúng tôi không có thời gian để lãng phí.”
Bà chủ quán vội vã rời đi.
Rồi anh khoanh tay tựa vào khung cửa phòng mình.
Đây là một chiêu anh học được qua kinh nghiệm: Người ta sẽ làm việc nhanh hơn khi có một quý tộc to lớn và đáng sợ đứng chờ họ hoàn thành nhiệm vụ.
Những người hầu lục đục mang củi và xô than vào.
Thêm người nữa mang theo bình nước nóng.
Dẫu vậy, anh vẫn chờ. Thời gian trôi qua. Quần áo của anh từ ướt sũng chuyển sang thành một lớp da thứ hai dính sát vào người.
Anh bước ra hành lang nhìn xuống sân quán trọ. Dựa vào một cột chống, anh quan sát hoạt động bên dưới. Trong không khí ẩm ướt, quần áo anh dần từ sũng nước chuyển sang ẩm ướt.
Cơn chán nản và sốt ruột của anh càng lúc càng tăng thì thấy ba phụ nữ cuối cùng vội vã bước vào sân. Người sang trọng nhất trong cả ba ngước lên nhìn anh đầy lo lắng.
Anh gật đầu.
Bà ấy bắt đầu leo lên cầu thang, hai người đi cùng theo sát phía sau, mang theo những bọc lớn được quấn trong vải muslin.
Chỉ đến lúc đó anh mới bước vào phòng mình.
*
Trong căn phòng rộng lớn của Olympia, một ngọn lửa bùng cháy trong lò sưởi.Vào tháng Sáu.
Hai bình lớn đầy nước nóng được mang đến gần như cùng lúc khi ngọn lửa bắt đầu nhảy múa trên những cục than.
Mặc dù quán trọ Sư tử Bạc là một nơi bận rộn, hai cô hầu gái làm việc quá sức vẫn được phân công chăm sóc cho một quý cô lôi thôi lếch thếch.
Rất nhiều người hầu khác—gần như tất cả nhân viên của quán trọ và có lẽ cả những người hàng xóm—chạy tới chạy lui để phục vụ yêu cầu của Đức Ngài.
Thật vậy, làm công tước quả là điều tuyệt vời.
Hoặc, chính xác hơn—và Olympia là một người thường rất cẩn thận—nếu bạn định rơi xuống sông trong bộ váy cưới của mình, thì tốt nhất là nên ở cạnh một công tước khi điều đó xảy ra.
Cô tự trách mình vì đã ngã khỏi thuyền.
Cô cũng bực mình vì đã để anh khiến cô mất bình tĩnh theo bất kỳ cách nào.
Cô lẽ ra không nên đấu khẩu với anh. Điều cô nên làm là tập trung vào việc mình đang làm và để ý đến đường đi khi có thể rời khỏi thuyền một cách duyên dáng.
Nhưng thay vào đó, cô lại làm một điều ngu ngốc và cuối cùng bị một trong những công tước tai tiếng nhất khắp Vương quốc Anh bế dọc phố High Street của Putney—trước toàn bộ người dân, những người chèo thuyền, phu xe, khách lữ hành, những đứa trẻ lang thang và cả lũ chó—nói ngắn gọn là tất cả mọi người—và vào khách sạn.
Cô cảm thấy nóng bừng khắp người, thậm chí là cả trong đầu.
Hy vọng đó là do ngọn lửa vô lý—vào tháng Sáu!—và những nỗ lực của các cô hầu, những người đang kỳ cọ cho cô từ đầu đến chân. Để tâm trí khỏi mường tượng ra những bức tranh biếm họa về sự việc vừa qua, cô cố gắng tập trung, hết sức có thể, vào bước tiếp theo.
Mặc dù tác dụng của rượu brandy dường như đã giảm cũng như đầu óc cô không còn mờ mịt như trước, nhưng cô phải mất một lúc mới xác định được bước tiếp theo nên là gì.
Cô sẽ nói gì với dì Delia đây?
Trời ơi, phải bắt đầu từ đâu mới được?
Nhưng Olympia phải bắt đầu từ đâu đó. Nhìn vào mặt tích cực, việc soạn thảo một lời giải thích thỏa đáng—nhất định phải có—sẽ giúp cô giữ đầu óc bận rộn và có ích.
Cô cố gắng giải quyết vấn đề này trong khi Molly và Jane lau người cho cô bằng khăn ấm và giúp cô mặc áo choàng. Olympia vẫn tiếp tục thử và loại bỏ các lời giải thích khi họ đặt cô ngồi xuống một chiếc bàn trang điểm nhỏ và bắt đầu chải tóc cho cô.
Họ kiên nhẫn gỡ rối từng nút tóc thì người thợ may xuất hiện.
Phải, một người thợ may thực sự, mang theo hai cô thợ phụ, cùng một đống quần áo trông như cả cửa hàng di động.
Tất cả họ cúi chào rất sâu. Người thanh lịch nhất trong nhóm tự giới thiệu là bà Thorne, trong khi hai người phụ tá bận bịu mở các gói đồ và trải quần áo ra giường.
“Chúng tôi rất đau lòng khi nghe về tai nạn của quý cô!” thợ may nói. “Dù thế nào tôi cũng đã vội vã đến đây để xem có thể giúp được gì, ngay cả trước khi nhận được tin nhắn của Đức Ngài. Thật may mắn là chúng tôi có sẵn một vài bộ quần áo gần hoàn thiện và hai bộ trưng bày. Việc điều chỉnh kích cỡ là chuyện nhỏ, tôi xin đảm bảo với quý cô. Chúng tôi sẽ giúp quý cô sẵn sàng trong chớp mắt, và tôi tin rằng quý cô sẽ không thất vọng. Dù nơi đây không phải là London, nhưng mẫu mã của chúng tôi đều đến từ Paris, và tôi chắc rằng các thợ phụ của tôi—Ồ, tôi xin lỗi, thưa cô. Để tôi giới thiệu cô Ames và cô Oxley. Tôi tin rằng quý cô sẽ thấy họ không thua kém bất kỳ ai ở London.”
Olympia thường xuyên tranh cãi kịch liệt với mẹ về tủ quần áo của mình, để mặc cho thợ may phải đứng ra thương lượng. Cô hoàn toàn có thể hình dung được những giờ làm việc miệt mài mà các thợ may phải bỏ ra để làm hài lòng những khách hàng quá mức giàu có và khó tính. Cô cũng không tin rằng bất kỳ thợ may nào ở đây có thể sánh kịp những người thợ ở London về sự bền bỉ và khả năng chịu đựng áp lực, chưa kể đến việc bị đối xử tệ bạc.
Về trình độ kỹ năng của những người hiện tại: lúc này, mối bận tâm chính của cô chỉ là mặc một bộ váy không thấm đầy bùn. Cô không quan tâm nếu các đường khâu có bị lệch đi chăng nữa.
Tuy nhiên, nếu nói ra điều đó, cô sẽ làm tổn thương cảm xúc của thợ may.
Cô nói: “Cảm ơn bà đã đến đây nhanh như vậy.”
Ripley đã búng tay và ra lệnh chuẩn bị quần áo, và đây là kết quả.
Một trong những người hầu của quán trọ đã chạy ra ngoài Putney và đến tiệm may của bà Thorne. Và bà đã bỏ dở mọi việc để làm theo lệnh của Đức Ngài.
Điều này hoàn toàn không có gì kỳ lạ, Olympia tự nhủ. Được tuyên bố rằng cửa hàng của mình được một công tước lui tới là một vinh dự lớn. Phần lớn các chủ tiệm, đặc biệt là ở những ngôi làng, sẽ làm điều giống như bà Thorne.
Nhưng thực sự, liệu anh có cần được nuông chiều thêm nữa không, khi hắn đã quá quen với việc được chiều chuộng rồi?
“Tôi hy vọng bà không phải đóng cửa tiệm của mình,” Olympia nói.
“‘Không hề, thưa cô,” bà Thorne đáp. “Thật tử tế khi quý cô nghĩ đến điều đó, nhưng mọi thứ đã được sắp xếp ổn thỏa, và tiệm của tôi sẽ được chăm sóc cho đến khi chúng tôi quay về. Không phải là tôi không sẵn sàng đóng cửa, nếu cần thiết. Nhưng nếu quý cô không phiền bị gián đoạn—chỉ một chút thôi, mong cô có thể đứng lên để chúng tôi lấy số đo.”
Olympia đứng dậy, và ngay lập tức bị bao quanh.
Trong lúc những người phụ nữ nâng cái này, cái kia lên so với cô, Olympia tự hỏi quần áo họ mang đến là của ai. Phải, có thể một hoặc hai món là hàng trưng bày, mặc dù thường thì trong tiệm chỉ có các bản vẽ thời trang hoặc những mảnh vải được xếp khéo léo để trưng bày ở cửa sổ.
Một thợ may khó lòng giữ sẵn một kho quần áo, chờ khách hàng đến. Quần áo thường được may theo yêu cầu.
Mặt khác, nếu, chẳng hạn, một số khách hàng có tài khoản lớn và nổi tiếng về việc trả tiền đúng hạn—hoặc các công tước—yêu cầu thứ gì đó gấp rút, thì thợ may có thể sẽ sửa lại quần áo vốn dành cho một khách hàng khác.
Bà Thorne bày ra một chiếc áo lót chemise và một chiếc corset.
Chúng đẹp đến mức đáng kinh ngạc, khác hoàn toàn với bất cứ thứ gì Olympia từng thấy trước đây. Chiếc áo chemise, làm từ loại vải lanh tốt nhất, được thêu bằng chỉ lụa màu sắc và viền ren dọc theo cổ áo và mép tay áo. Chiếc corset, làm từ loại vải đắt tiền không kém, thậm chí còn gây sốc hơn. Nó được may bằng màu hồng và đen. Viền hồng được thêu dọc theo phần xương sống ở mặt trước. Có dây buộc màu hồng để điều chỉnh khu vực ngực, được thắt thành những chiếc nơ hồng nhỏ xinh. Ngay cả dây buộc phía sau cũng màu hồng!
Olympia chưa từng mặc—hoặc thậm chí nhìn thấy—bất kỳ loại đồ lót nào ngoài màu trắng suốt cả cuộc đời mình.
Cô hẳn đã tỏ vẻ kinh ngạc như đúng cảm xúc của mình, vì bà Thorne nhanh chóng nói, “Một số khách hàng của chúng tôi là các quý cô London.”
“‘Thật vậy,” Olympia đáp. Cô tự hỏi loại quý cô London nào lại đặt đồ lót quá mức kiểu cách và rất Pháp như vậy.
Cô tự nhủ rằng điều đó không quan trọng.
Cô cần quần áo sạch, khô, và nếu đồ lót trông phù hợp hơn cho một nhà thổ, thì điều đó cũng không đáng ngạc nhiên, xét đến ai là người đặt chúng.
Tâm trí luôn quá năng động của cô vẽ ra hình ảnh một nhà thổ, theo phong cách hậu cung Thổ Nhĩ Kỳ. Ở đó, những phụ nữ có thân hình giống như trong các bức tượng Hy Lạp và La Mã, hoặc có lẽ như trong các bức tranh của Rubens, nằm dài trên đệm và thảm trong bộ đồ lót ren thêu đầy màu sắc. Những người đàn ông như Ripley sẽ thong thả bước vào và…
Tốt nhất là không nên tưởng tượng điều đó.
Tốt hơn là nên dàng điều đó cho các nhà biếm họa. Chắc chắn họ sẽ vẽ con gái duy nhất của ngài Gonerby trong chiếc corset đỏ tươi và váy lót màu rượu vang.
Trời đất, vẻ mặt của cha cô khi ông thấy những bức tranh ấy—
Không, cô không được nghĩ về điều đó nữa.
Cô nhìn vào mặt tích cực. Luôn luôn có mặt tích cực, dù đôi khi phải tìm thật kỹ và dùng đến kính lúp hoặc kính hiển vi.
Và mặt tích cực là…
Danh hiệu Cô Gái Buồn Tẻ Nhất của Mùa vũ hội sẽ biến mất.
Trong khi cô suy nghĩ về nhà thổ và hình ảnh mới của mình trong mắt công chúng, các cô gái đã giúp cô cởi áo choàng, mặc áo chemise và quần lót. Họ buộc ruy băng, xếp bèo nhún, và làm phẳng vải với sự cẩn thận như thể những món đồ lót này được làm bằng lụa và kim cương.”
Dây đai của chiếc corset cần được chỉnh sửa, nhưng cô Oxley nhanh chóng bắt tay vào việc, tháo chỉ và khâu lại một cách điêu luyện. Trong khi đó, bà Thorne giao cho cô Ames nhiệm vụ sửa lại chiếc váy lót.
Olympia bị cuốn hút. Ở London, các thợ may chuyên nghiệp thường bị giấu kín trong một phần khác của cửa hàng. Khi họ xuất hiện, đó chỉ là để trưng bày một món đồ hoặc hỗ trợ người thợ may chính. Cô chưa từng thấy họ thực sự làm việc. Tốc độ mà kim của họ bay lượn, tạo ra những đường khâu nhỏ xíu, trông thật phi thường với cô.
Cô luôn thấy sách thú vị hơn việc may vá.
Tuy nhiên, cô không có nhiều thời gian để quan sát, vì họ cần phải nhanh chóng mặc đồ cho cô. Các cô hầu giúp cô mang vớ và buộc dây nịt, vừa làm vừa xin lỗi vì vội vàng: “Nhưng Đức Ngài bảo chúng tôi phải nhanh lên, và ngài tốt bụng lắm, thưa cô, nên chúng tôi—”
“Tốt bụng!” Olympia nói.
“Ồ, đúng vậy!” Molly đáp. “Tôi sẽ xấu hổ nếu làm ngài ấy thất vọng.”
“Tốt bụng!” Olympia nhắc lại. “Lần đầu tiên tôi nghe thấy điều này. Ngài ấy đã làm gì? Đừng nói với tôi là nhặt những chú chim bị thương và chăm sóc chúng. Hoặc cứu mèo con khỏi chết đuối? Đúng là thế, phải không?”
“Nhưng thực sự, thưa cô—”
“Tốt bụng,” cô nhắc lại. “Ripley. Tôi thề, thật khó chịu khi gắn từ đó cho anh ta.. Và cả hai tên công tước ngớ ngẩn kia nữa. Không, vô ích thôi. Tôi không thể nào dung hòa ý nghĩ đó được.”
Các cô hầu mỉm cười, và một trong các thợ may cười khúc khích. Bà Thorne lườm cô, và cô gái lại cúi đầu vào công việc của mình.
“Tôi biết người ta nói Đức Ngài là một kẻ hoang dã, thưa cô, và đúng là như vậy,” Jane nói.
“Những trò quậy phá,” bà Thorne nói, lắc đầu.
Tuy vậy, Olympia thoáng thấy một nụ cười bao dung.
“Nhưng khi cha tôi bị ốm, Đức Ngài đã gửi bác sĩ đến, thưa cô,” Molly nói. “Và ngài còn trả tiền phí nữa.”
“Người ta có thể nói bất cứ điều gì về các Đức Ngài—và những trò quậy phá của họ!” Jane nói. “Nhưng bất cứ thứ gì bị phá vỡ, cháy rụi, hoặc rơi xuống sông—hoặc bất cứ ai bị liên luỵ—họ đều trả tiền.”
“Chăn ga giường lần đó,” Molly nói. “Toàn máu, tôi thề. Dù vậy, chúng tôi nghĩ mình có thể giặt sạch—”
“Toàn máu?” Olympia hỏi.
“Các cuộc đấu súng,” cô Ames nói.
“Im ngay,” bà thợ may ngắt lời.
“Đức Ngài có nhắc đến đấu súng,” Olympia nói.
“Cánh đồng Battersea, cô biết đấy,” cô Ames nói. “Thỉnh thoảng là Putney Heath.”
“Nhưng thường thì các quý ông đi xuôi dòng một chút,” Jane nói. “Để được vá víu lặng lẽ.”
“Thường không quá đẫm máu, nhưng lần đó thì—”
“Công tước Ashmont—”
“Khi tôi nhìn thấy máu, tôi nghĩ Ngài Stewkley đã bắn văng tai ngài ấy!”
“Nhưng chỉ là một vết cắt trên đầu thôi, Đức Ngài nói, và ngài ấy cười phá lên! Như thể chẳng có gì.”
“Và Đức Ngài Ripley nói rằng vết thương ở đầu chảy máu như lợn—”
“Chảy máu như quỷ, là lời của Đức Ngài,” Jane sửa lại.
“Giữ mồm giữ miệng đi,” bà Thorne nói.
“Không phải vì tôi đâu,” Olympia nói. “Tôi có sáu anh em trai.”
“Con trai thì vẫn là con trai, chúng ta đều biết mà,” bà Thorne nói.
“Chính xác hơn là những cậu nhóc nhỏ hoang dại,” Olympia nói. “Tôi không chắc họ có bao giờ thực sự văn minh không. Tôi chỉ ngạc nhiên vì họ sống đủ lâu để trưởng thành. Còn cuộc đấu súng nào khiến Ngài Stewkley suýt thổi bay tai Công tước xứ Ashmont?”
“Chuyện đó lâu lắm rồi,” bà Thorne trả lời với vẻ nghiêm khắc khi những người khác định mở miệng. “Gần mười năm trước, tôi nghĩ thế.”
“Lâu thế rồi cơ á?” Jane hỏi.
“Dù sao đi nữa, họ khi ấy còn rất trẻ, gần như chỉ là những cậu học sinh,” bà Thorne nói. “Tôi chắc chắn chẳng ai nhớ được chuyện đó xảy ra vì lý do gì. Và tôi cũng chắc chắn rằng chúng ta còn nhiều việc phải làm hơn là lãng phí thời gian buôn chuyện về quá khứ xa xưa.” Bà nhìn mọi người phụ nữ khác với ánh mắt cảnh báo.
Chủ đề này nhanh chóng khép lại, và mọi người tập trung vào công việc trong khi Olympia nghiền ngẫm những thông tin mới thu thập được.
Người ta luôn cố gắng che giấu các cuộc đấu súng vì chúng bất hợp pháp, nhưng hoàn toàn che giấu là điều gần như không thể. Tuy nhiên, Olympia không thể nhớ được điều gì cụ thể về Ashmont và Ngài Stewkley.
Điều đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Bộ ba “Những Kẻ Bất Hảo” đã tạo ra vô số vụ bê bối đến nỗi việc lôi ra một vụ—từ cả một thập kỷ trước—cũng giống như gỡ mật đường ra khỏi tóc một cậu bé.
Ý nghĩ về mật đường khiến Olympia nhận ra rằng mình đang đói.
“Tôi tự hỏi liệu ai đó có thể mang cho tôi chút đồ ăn không,” cô nói.
“Chắc chắn rồi, thưa cô,” Jane đáp. Cô vội vã rời khỏi phòng.
Những người còn lại mặc cho Olympia chiếc corset nghịch ngợm, chỉnh sửa lần cuối, và buộc dây chặt lại. Tiếp đến là váy lót, phù hợp với các món đồ còn lại.
Rồi cuối cùng là chiếc váy.
Olympia chỉ lơ đãng nhận thức được rằng mình đang mặc một khối lụa màu hồng với nơ và ren, nhưng tâm trí cô lúc này chỉ nghĩ đến thức ăn, mong rằng cô hầu sẽ nhanh chóng quay lại. Một mẩu bánh mì, phô mai, hoặc một cái bánh quy cũng được.
Nhưng không, Olympia đã đến cùng với Công tước xứ Ripley, người mà dường như được phong thánh ở nơi này, và anh là đầu bếp đang chuẩn bị rùa, tôm hùm, và cả một con bê béo.
Mãi đến khi bà Thorne khoác lên vai cô một chiếc áo choàng đen, Olympia mới thực sự chú ý. Cô nhìn xuống phần thân áo và váy.
Cô bước ra khỏi vòng tay của các người phụ nữ và tiến thẳng đến gương. Những người còn lại đi theo, đứng quanh bóng phản chiếu của cô như một khung hình với những gương mặt đang cười.
“Hoàn hảo!” bà Thorne thốt lên.
“Hoàn hảo,” những phụ tá đồng thanh.
“Hoàn hảo,” Molly thở hổn hển. “Ồ, tôi chưa từng thấy thế này bao giờ.”
“Cá là cô chưa,” Olympia đáp.
Cô chỉnh lại kính, bước mạnh mẽ đến cửa, và mở toang ra.
Mặc kệ tiếng kêu thất vọng từ phía sau, cô tiếp tục bước thẳng đến căn phòng bên cạnh.
Cô không gõ cửa, cũng không dừng lại để suy nghĩ. Cô đẩy cửa ra, bước vào, và đóng sầm cửa lại phía sau.
“Đây có phải là trò đùa của ngài không?” cô nói. “Bởi vì…”
Cô bất chợt đối diện với một tấm lưng cơ bắp, phần hông rắn chắc, và đôi chân dài, lực lưỡng của một người đàn ông cao hơn sáu feet, hoàn toàn trần truồng, đang đứng trong một chiếc chậu lớn trước lò sưởi.
Anh bất động, và Olympia lẽ ra nên quay đầu—hoặc tốt hơn, nên bước ra khỏi phòng với một chút phẩm giá.
Rõ ràng là cô vẫn chưa hoàn toàn tỉnh táo, vì tất cả những gì cô có thể nghĩ đến là sự khác biệt giữa một người đàn ông trưởng thành không mặc gì—nghĩa là thật sự không mặc gì—và một cậu bé trần trụi.
Cổ của anh, bờ vai của anh và... cơ bắp, dường như là vô tận. Trời ơi, đôi tay anh. Đôi tay đã bế cô lên khỏi dòng sông.
Cô đã từng thấy tượng đá cẩm thạch của những người đàn ông khỏa thân. Ai mà chưa từng cơ chứ? Cô đã thấy những bức vẽ nữa. Nhưng anh thì sống động, rất sống động. Dù đứng im như vậy, anh vẫn thở, và cô có thể thấy chuyển động nhẹ nhàng của cơ vai và cơ lưng. Làn da không phải là đá cẩm thạch hay trắng bệch như giấy mà là màu vàng óng trong ánh lửa trong phòng. Ánh sáng hổ phách lấp lánh trên lớp lông tối màu dọc theo tay và chân dưới của anh, và tất cả mọi thứ đó—anh—hoàn toàn không giống như một bức tượng... và hơi nóng đang tràn ngập khắp người cô, khiến việc hít thở trở nên khó khăn hơn bình thường.
“Tôi đáng lẽ phải biết,” anh nói. Anh bắt đầu quay lại.
Cô cũng định quay lại, hướng về phía cửa, nhưng tay chân cô từ chối hợp tác, và cô không thể rời khỏi phòng một cách trang nghiêm trước khi anh với lấy chiếc khăn được treo trên ghế gần đó và quấn quanh người mình. Không phải hoàn toàn. Đôi vai rộng, phần lớn lưng, và phần dưới chân của anh vẫn còn hiện rõ. Anh bước ra khỏi chậu và đứng, nước nhỏ giọt xuống tấm thảm.
Cô ngẩng cằm lên và giả vờ giữ vẻ bình tĩnh mà cô hoàn toàn không cảm thấy.
“Anh có thể lắm,” cô nói. Cô tự nhủ rằng mình đã hai mươi sáu tuổi, không còn là một cô nữ sinh—đã bảy năm dài trôi qua—và... và... điều gì đã khiến cô xông vào đây cơ chứ?
Chiếc váy.
“Nó là kiểu Pháp,” cô nói.
“Gì cơ?”
Anh quay lại, và giờ cô được nhìn toàn cảnh phía trước của chiếc cổ khỏe khoắn, bờ vai và phần thân trên. Sự ấm áp ùa đến cô từng đợt, và cô cảm thấy quai hàm mình bắt đầu hạ xuống.
Trời đất ơi, anh ấy... vóc dáng đó... thật... lực lưỡng. Cô vẫn còn đang cố gắng phục hồi sau cảnh phía sau. Phía trước... xương quai xanh của anh... lồng ngực...
Ngừng trố mắt đi, đồ ngốc.
Cô tự ép mình nhìn chằm chằm xuống bộ trang phục của mình, mặc dù thực tế đây là bộ váy ban ngày đẹp nhất, nổi bật nhất mà cô từng mặc.
“Nó là kiểu Pháp,” cô nói, vẫy tay một cách hơi run rẩy về phía chiếc váy. “Và tôi sẽ không nói với anh về thứ ở bên dưới vì chắc chắn anh đã biết rồi, nhưng tôi muốn anh biết rằng tôi hoàn toàn nhận thức được chính xác nó là gì.”
“Đồ lót sao?” anh nói. “Vì nhìn chiếc váy này có vẻ quá—” Anh ra hiệu bằng tay còn lại không giữ khăn. “Quá nhiều so với một chiếc váy, với cái dáng rõ ràng không thể nào là dáng tự nhiên của cô. Với tất cả phần váy phồng lên và tay áo như thùng rượu thế này? Rõ ràng là thứ cô đang mặc bên dưới là một lượng lớn khung sườn kim loại.”
“Tâm trí đàn ông thật là kỳ diệu,” cô nói. “Nhưng đó không phải là vấn đề.”
“Tôi biết sẽ có một vấn đề,” anh nói. “Và là một người khiêm tốn, tôi không tin dù chỉ một giây rằng cô xông vào đây với mong muốn cuồng nhiệt được kỳ cọ lưng cho tôi.”
Cơn nóng bừng lan khắp mặt, cổ, và những nơi khác trên cơ thể cô mà đáng lẽ không được phép thu hút sự chú ý.
“Tư duy xuất sắc,” cô nói. Cô vung nhẹ chiếc áo choàng tuyệt đẹp được khoác trên vai mình. “Là thế này đây. Vàng đồng. Đen vàng đồng. Ít nhất thì phù hợp với một phụ nữ đã có chồng—không phải tôi nghi ngờ lớn rằng bất kỳ bà nội trợ nào mà tôi biết lại mặc đồ lót thêu đen và hồng. Và những chiếc nơ hồng! Tôi hỏi anh đấy.”
Đôi mắt anh cụp xuống, nhưng cô không cần nhìn. Cô cảm nhận được ánh nhìn của anh đang từ trên xuống dưới và lại từ dưới lên trên.
Da cô râm ran, giống như lần đầu tiên cô gặp anh, nhưng lần này mạnh mẽ hơn, mặc dù cô đã lớn hơn bảy tuổi và từng chứng kiến không ít những tay chơi lả lướt hành động. Dù chưa bao giờ những hành động đó liên quan đến cô.
“Nếu cô đang hỏi liệu tôi có thể thấy đồ lót của cô hay không, thì câu trả lời là không,” anh nói, giọng trầm hơn chút so với trước. “Và vì tôi không thể thấy gì khi cô dường như được che đậy rất kín—phải nói là kín hơn trước nữa—’
“Thôi quên đi,” cô nói. “Tôi không biết mình nghĩ gì khi cho rằng anh sẽ hiểu. Tôi sẽ cố gắng làm quen và tự nhủ rằng ít ra tôi cũng gây được chút thú vị, và có lẽ tôi đang quá đói để suy nghĩ một cách mạch lạc. Tôi là một người rõ ràng, anh biết đấy. Và nhàm chán. Tôi chưa từng mặc đồ đen vàng trong đời bao giờ!”
Cô bắt đầu quay đi, hướng về phía cửa ra mà đáng lẽ cô nên đi từ lâu.
“Đến lúc cô bắt đầu rồi đấy,” anh nói. “Màu đó hợp với cô.”
Cô quay lại. “Nó chẳng hợp với tôi chút nào. Nó quá nổi bật. Tôi không phải là người nổi bật.”
“Thật khó tin,” anh nói. “Bỏ trốn khỏi đám cưới và mọi thứ. Leo qua tường. Ngã khỏi thuyền. Dù người ta có thể nói gì về cô—và thú thật là tôi chưa chắc là nói gì—nhưng nhàm chán không nằm trong danh sách.”
Cô phẩy tay. “Đó không thực sự phải là tôi. Đó là Olympia trong những phút giây điên rồ.”
Anh nhướn một bên lông mày đen. “Phút giây điên rồ?”
“Điều tôi muốn nói là, tôi không còn hơi men nữa—”
“Theo tôi đánh giá, nó nhiều hơn một chút hơi men, và tôi là chuyên gia, nhớ chứ.”
“Nói chung thì, đó là một hành động ngu ngốc, và mặc dù tôi đã suy nghĩ rất nhiều, tôi không thể đưa ra bất kỳ lý do nào thông minh hay thậm chí có lý hơn.”
Nỗi hoảng loạn không phải là một lý do chính đáng. Đúng là thời gian giữa lúc tán tỉnh, chấp nhận lời cầu hôn, và đám cưới không nhiều. Đúng là cô đã để bản thân bị cuốn theo sự phấn khích của mẹ và dì. Nhưng những điều đó cũng không phải là lý do chính đáng. Có điều gì đó đã xảy ra với cô sáng nay, ngay cả trước khi uống rượu brandy, nếu không cô đã đụng đến nó.
Có thể brandy đẩy cô đi xa hơn, nhưng trong sự hiện diện của anh, hiệu ứng đó dường như vẫn còn tiếp tục, ngay cả khi rượu đã tan bớt.
Không, trong sự hiện diện của anh, mọi thứ đang trở nên tệ hơn.
Cô liếc nhìn chiếc váy và cố nén một cảm giác tiếc nuối. “Chúng ta nên quay về thôi.”
Có một khoảng lặng, và cô chờ đợi câu nói Tôi đã nói mà. Chẳng phải anh đã hỏi cô, vài lần, rằng cô có chắc muốn tiếp tục không? Chẳng phải anh đã chỉ ra rằng sẽ dễ dàng thế nào nếu quay lại sao?
“Quay về cái khỉ gió ý,” anh nói.