Vị Công Tước Anh Hào

Lượt đọc: 712 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

Mặc dù Ripley chỉ quấn mỗi chiếc khăn tắm, nhưng việc gần như trần truồng cũng chẳng đủ làm anh bối rối. Trái lại, anh sẵn sàng trả một trăm bảng chỉ để thấy lại biểu cảm trên khuôn mặt cô khi cô xông vào phòng anh. Anh đã bị cám dỗ khủng khiếp muốn quay người lại, không cần khăn tắm. Anh sẵn sàng trả hai trăm bảng để thấy phản ứng của cô khi đối diện trực tiếp.

May mắn thay, anh nhớ ra kịp lúc rằng cô là người đã được chọn của Ashmont. Dù là đùa hay không, một người đàn ông không thể tùy tiện khoe toàn bộ phía trước trần trụi trước mặt vị hôn thê của bạn thân.

Dù sao thì, cảnh tượng một người phụ nữ trong chiếc váy nổi bật, tóc bung xõa, thở hổn hển khi ngực phập phồng như biển động—và anh thì mới vừa tắm xong trong tình trạng không mặc gì—có thể khiến cậu nhóc nhạy cảm phía dưới anh nuôi hy vọng hão huyền, điều mà Ripley không muốn phải chịu đựng thêm phiền toái.

Có một điều trọng không kém: Như những lúc bình thường, Ashmont có thể sẽ coi một cảnh như thế này là trò đùa thú vị. Nhưng đây không phải là hoàn cảnh bình thường. Dù Ripley chưa từng có kinh nghiệm đối mặt với những tình huống kỳ lạ với vị hôn thê của bạn mình, anh nghi ngờ rằng ngay cả Ashmont cũng sẽ khó chịu khi vị hôn thê của mình nhìn thấy bạn thân cậu ta trong trạng thái lõa thể hoàn toàn.

“Con tàu đó đã rời bến rồi,” anh nói. “Chúng ta sẽ không quay lại.”

“Đừng có nói vớ vẩn,” cô nói. “Anh đã hỏi tôi vài lần liệu tôi có muốn—”

“Đó là trước đây,” anh nói. “Nhưng cô đi qua sông Tiber—”

“Là sông Rubicon, đừng có gây sự với tôi!”

“Con lắc đã được gieo,” anh nói. “Tôi sẽ đưa cô đến gặp bà dì, như chúng ta đã thỏa thuận, và cô ngừng thay đổi ý định mỗi năm phút đi.”

“Tôi không thay đổi ý định mỗi năm phút! Tôi chưa từng thay đổi nó. Cho đến bây giờ.”

“Chúng ta đã có kế hoạch—”

“Đó là kế hoạch của anh, và ai cũng biết kế hoạch của anh chẳng bao giờ hay ho gì.”

“Tôi đã khô ráo hoàn toàn rồi,” anh nói. “Có lẽ cô sẽ vui lòng giúp tôi giữ chút kín đáo và đưa áo choàng cho tôi?”

“Người hầu đâu rồi?” cô nói. “Không phải anh nên có cả tá người chạy lăng xăng làm theo lệnh mình sao?”

“Chỉ vài phút trước khi cô xông vào phòng này,” anh nói, “tôi sai họ ra ngoài xem chuyện gì xảy ra với bữa ăn và quần áo tôi mà đã đặt từ lâu. Thần thánh ơi, ngay cả khi đang dỗi, đầu bếp Chardot của tôi vẫn có thể làm ra một bữa tiệc trong một nửa thời gian họ lề mề. Còn có vài việc khác cần làm nữa. Có vẻ tôi đã đuổi họ đi đúng lúc. Người hầu quán trọ thì không thể giữ bí mật, dù mình có trả tiền hay dọa nạt bao nhiêu. Tôi nghi ngờ rằng tin tức về cảnh tượng hiện tại sẽ không được gia đình cô đón nhận tốt, và như tôi đã nói, tôi chán ngấy các cuộc đấu súng rồi.”

Mấy người may vá và các cô hầu sẽ nói chuyện, nhưng vì họ không tận mắt chứng kiến, anh có thể tận dụng lời đồn của họ. Anh cũng không lo ngại quá nhiều về việc Tiểu thư Olympia sẽ buột miệng. Anh cho rằng xác suất cô kể lể với đám người lạ rằng mình từng xông vào phòng một người đàn ông trong lúc anh ta đang tắm, chưa nói đến việc đó là Công tước xứ Ripley tai tiếng, là rất thấp.

Cô đỏ mặt. “Thế thì càng có lý do để chúng ta quay về, càng sớm càng tốt.”

“Không,” anh nói. “Áo choàng? Nếu quý cô có thể làm ơn. Thôi không sao, tôi tự lấy được.”

Cô ưỡn cằm lên, bước đến giường, giật lấy áo choàng mà đám người hầu đã đặt rất cung kính ở đó, quay lại và, với cánh tay duỗi thẳng, đưa nó ra cho anh.

Khi anh cầm lấy áo choàng, cô quay lưng lại. “Bây giờ tâm trí tôi tỉnh táo hơn nhiều rồi,” cô nói, “ý tưởng để mọi việc trong tay anh thật sự là một hành động tự hủy hoại.”

Anh nhìn ngắm phía sau lưng cô.

Bà Thorne đã chọn rất khéo. Chiếc áo choàng ren đen phủ qua vai Tiểu thư Olympia cực kì vừa vặn, không quá rộng cũng không quá hẹp, cân đối hoàn hảo với phần còn lại của dáng vóc cô.

Quả thật, cô có một tấm lưng đẹp. Anh đã chú ý điều đó hơn một lần trong quá khứ, cách cô đi lại, sự thiếu kiên nhẫn trong bước chân khiến một người đàn ông muốn chậm lại và giành trọn sự chú ý từ cô. Có lẽ đó chính là điều cuối cùng khiến Ashmont không thể cưỡng lại: lời thách thức mà cô mang đến—Tôi thách anh sở hữu được tôi.

Hiện tại, tấm lưng ấy thẳng băng và bất khuất. Ồ, cô sẽ khiến Ashmont phải chú ý.

Nhưng chưa phải lúc này.

Ripley không thể đưa cô trở lại Ashmont ngay bây giờ. Thật ra anh có thể, nhưng điều đó sẽ khiến mọi thứ trở nên quá dễ dàng. Công Tước có Gương Mặt Thiên Thần cần phải nỗ lực thực sự, nhiều hơn những gì được cho là tán tỉnh. Bằng một tai nạn may mắn, cậu ta đã tìm thấy một Nữ Công tước xứ Ashmont hoàn hảo. Nhưng cậu ta sẽ không đánh giá đúng giá trị của cô nếu không phải cố gắng nhiều hơn.

“Cô làm tôi đau lòng đấy,” Ripley nói khi anh khoác chiếc áo choàng vào. “Tôi nổi tiếng với các kế hoạch của mình.”

“Tôi sẽ không phủ nhận phần nổi tiếng,” cô nói. “Báo chí chẳng thích gì hơn là viết về các kế hoạch của anh. Chi tiết từng chút một. Để tôi xem nào. Có bữa tiệc tối khi anh thay tất cả gương trong phòng ăn và phòng khách bằng những chiếc gương méo mó.”

“Thật tiếc là cô không thấy,” anh nói. “Buồn cười lắm, nhìn khách khứa lảo đảo từ chỗ này sang chỗ khác, dù còn chưa uống giọt rượu nào.”

Những chiếc gương đó đã khiến một số vị khách say rượu ói mửa khắp nơi, nhưng niềm vui đó hoàn toàn đáng giá so với việc phải thay thảm và vài chiếc ghế. Ripley đã cười đến mức phát ốm. Cũng như hai người bạn của anh.

“Rồi còn bữa tiệc tối anh tổ chức cho những người nói lắp,” cô nói.

“Không phải ý tôi,” anh đáp. “Đó là ý tưởng của Blackwood. Nhưng tôi đã giúp cậu ta tìm và tập hợp họ lại một chỗ. Không phải việc dễ dàng đâu. Nhưng cuộc trò chuyện hôm đó thật đáng giá.”

“Thật tàn nhẫn,” cô nói.

“Nói để cô biết nhé, những vị khách đều thấy nó buồn cười,” anh đáp. “Họ cười đến rớt khỏi ghế, và càng cười thì họ càng khó nói chuyện hơn. Một khái niệm mà cô sẽ không hiểu—không nói chuyện.”

“Tôi không nghi ngờ gì việc rượu đã giúp sức cho họ.”

“Tất nhiên rồi. Chúng tôi không bao giờ phục vụ rượu kém chất lượng.”

“Dù sao thì, tôi đang rất tỉnh táo, và sẽ không ngoan ngoãn làm theo những gì Công tước xứ Ripley nói chỉ vì ngài bảo vậy,” cô nói. “Thực tế, hành động ngược lại có vẻ hợp lý hơn nhiều.”

“Sau tất cả chuyện này, cô sẵn sàng quay về với vẻ mặt rũ rượi và đuôi cụp giữa hai chân, như một kẻ bỏ trốn hối lỗi à?” anh nói.

Điều đó hoàn toàn không ổn chút nào. Ashmont cần cô phải táo bạo, thách thức và, nói chung, phải khó chiều.

“Điều này thật sai trái, sai ở nhiều cấp độ đến mức tôi nhức đầu khi cố đếm chúng,” cô nói.

“Nhức đầu là một tác dụng phụ được biết đến của việc uống quá nhiều rượu brandy,” Ripley nói.

“Tôi đã làm bẽ mặt gia đình mình,” cô nói. “Và dù tôi biết sự từ chối của mình sẽ chẳng làm tổn thương Ashmont, nhưng tôi đã làm anh ta mất mặt trước công chúng. Lòng tự tôn của anh ta sẽ bị tổn thương, và đó là điều bất công mà anh ta chẳng làm gì—đối với tôi—phải hứng chịu.”

Nhưng kế hoạch Ripley nghĩ ra quả là rất tốt.

Một kế hoạch hoàn hảo. Cho Ashmont. Cho cô.

Vậy mà...

Cô ấy tử tế lắm, Ashmont đã nói tối qua, giọng cậu ta ngập ngừng như không tin vào điều mình đang nói.

Mọi người không tử tế với Những Kẻ Bất Hảo. Người ta làm những gì được yêu cầu hoặc trả tiền để làm. Người ta tâng bốc, cố quyến rũ, phớt lờ, chịu đựng, hoặc thuyết giảng. Không ai nghĩ rằng một công tước nổi tiếng là tên phóng đãng lại cần đến hay trân trọng sự tử tế.

Ripley nhớ lại tối qua—hay đúng hơn là sáng sớm nay—khi Ashmont vui vẻ nói về chuyện kết hôn, giao phó cho Ripley nhiệm vụ đảm bảo mọi việc diễn ra suôn sẻ.

Bắt cóc cô dâu—đó chính là điều sẽ xảy ra bây giờ, khi cô muốn quay về—rốt cuộc không phải là cách để mọi chuyện diễn ra suôn sẻ.

“Tốt thôi,” anh nói. “Tôi sẽ đưa cô trở lại.” Nhưng trên đường quay về, anh sẽ gợi ý một vài điều về việc chăm sóc và quản lý Đức ngài Ashmont.

“Cảm ơn,” cô nói, rồi bắt đầu bước ra cửa.

“Nhưng chúng ta sẽ không dùng con thuyền chết tiệt đó,” anh nói với theo lưng cô. Lưng thẳng, đầy quyến rũ của cô.

Cô nhún vai, đôi vai cũng không kém phần quyến rũ, rồi bước ra ngoài.

*

Thời gian ngắn sau

Olympia ngồi đó, cố gắng ăn một chiếc sandwich, trong khi Molly và Jane chỉnh sửa tóc cho cô. Từ chỗ ngồi, cô có thể thấy chiếc váy cưới và mạng che mặt phản chiếu trong gương trang điểm.

Những người hầu đã trải chúng ra để hong khô trước lò sưởi. Đó là nơi những bộ đồ bị rách nát và lấm bẩn nằm lăn lóc, như xác chết cho cơ hội duy nhất để kết hôn một cách vẻ vang và cứu lấy các anh em trai khỏi hai vị phụ huynh đang ngày càng sa sút tài chính.

Cô chẳng muốn nghĩ ngợi thêm về những gì mình đã làm sáng nay, nhưng cô đâu phải một công tước. Không như Ripley, cô không thể gạt những chủ đề khó chịu ra khỏi tâm trí theo ý muốn.

Anh dường như tin rằng vẫn còn cơ hội thứ hai, và anh hẳn biết rõ cách xoay xở trong những vụ bê bối. Nhưng ngược lại, chẳng công tước nào trong nhóm “bộ ba tai tiếng” được xếp vào danh sách Những Bộ Óc Vĩ Đại Nhất Thế Giới. Và nếu xét thêm khả năng, Ashmont lại càng không thể đoán trước được. Người ta chẳng bao giờ biết khi nào trò đùa thực tế tiếp theo hay cuộc ẩu đả mới sẽ xảy ra. Tước vị, vẻ ngoài, và sự duyên dáng đã giúp anh ta tồn tại cho đến một hay hai năm nay, nhưng các bà chủ tiệc ở London cuối cùng cũng chán ngấy hành vi xấu của anh ta và bắt đầu gạch tên khỏi các danh sách khách mời.

Nhỡ đâu anh ta không cho cô cơ hội thứ hai thì sao?

Không phải là cô chắc chắn mình muốn cơ hội đó... nhưng nếu nhìn vào mặt sáng của việc anh ta từ chối, vẫn còn Ngài Mends.

Ở thời điểm này, Ngài Mends có thể dường như bớt đáng sợ hơn trong mắt cha mẹ cô. Đó là nếu ông vẫn còn muốn cầu hôn. Biết đâu, ông ta đã tìm được một phụ nữ khác sẵn sàng trở thành thủ thư của mình.

Đúng là ông ta già và hay dạy đời. Đúng là cha mẹ cô đã giận dữ đến mức gần như phát điên khi nghĩ đến việc gả cô con gái duy nhất, quý giá của họ cho một người gần như đủ tuổi làm ông nội cô. Nếu Olympia thực sự yêu ông ta, có lẽ cô đã cố thuyết phục họ. Nhưng cô chỉ yêu sách của ông ta thôi.

Dù cha mẹ cô từ chối lời mời đến thăm thư viện của Ngài Mends, cô cảm giác như đã quen thuộc với nó qua những gì cô đọc được và lời kể của ông. Dù ông ta buồn bã thừa nhận rằng nó không thể so sánh với thư viện của cố Công tước xứ Marlborough hay Roxburghe, một cuốn danh mục ông cho in riêng đã khiến cô gần như ngất lịm: Psalmorum Enchiridion (một loại sách kinh thánh), trong chiếc bìa tuyệt đẹp của Clovis Eve dành cho Marguerite De Valois, những tác phẩm từ thư viện của Maioli...

Dẫu vậy, chỉ vài ngày sau khi cha mẹ cô từ chối Ngài Mends, Olympia đã có cuộc gặp định mệnh với Công tước xứ Ashmont.

Và giờ đây...

Một cuộc gặp định mệnh với cặp mông trần của Công tước xứ Ripley. Và những bộ phận khác... cùng nhận thức rằng Công tước xứ Ashmont chắc chắn cũng có những bộ phận trần trụi, và cả Ngài Mends nữa. Nhưng chỉ nghĩ đến sự thân mật hôn nhân với một trong hai người này đã khiến cô muốn bật khỏi ghế—thậm chí có thể lao ra khỏi cửa sổ.

Đúng lúc đó, cánh cửa mở ra và Công tước xứ Ripley bước vào, dáng điệu nhàn nhã.

Cô gạt hết những hình ảnh kia khỏi đầu và tập trung vào thực tại, vào người đối diện, bởi vì anh đang đứng đó, và cô không thể nhìn thấy gì khác.

“Vẫn chưa xong à?” anh hỏi.

“Chưa,” cô đáp. “Và anh không được giục tôi. Tôi và cả đội quân phụ nữ này đã làm mọi thứ nhanh nhất có thể. Thật bất công khi đàn ông, những người không có quy trình ăn mặc phức tạp như thế này, lại phàn nàn về thời gian chúng tôi cần. Anh không nhớ phải mất bao lâu để gỡ cái thứ kia ra khỏi đầu tôi à?” Cô gật đầu về phía chiếc vương miện cô dâu và mạn che mặt bị bỏ quên. “Anh nghĩ việc khôi phục lại chút vẻ bình thường cho mái tóc của tôi có thể làm trong chớp mắt sao?”

“Tôi thấy cô lại đến giai đoạn cáu kỉnh rồi,” anh nhận xét.

Đó là cách nói nhẹ nhàng nhất.

“Ngài Công tước à, liệu có khả năng nào, hay tôi đòi hỏi quá nhiều, rằng Ngài có thể cố gắng bớt gây khó chịu hơn một chút—chỉ một phần rất nhỏ thôi được không?”

“Quá nhiều đấy,” anh đáp. “Cô nghĩ sao?” Anh làm một cử chỉ vuốt ve bộ đồ của mình, khiến hình ảnh mà cô không thể xóa khỏi tâm trí càng thêm rõ nét: hình ảnh anh không mặc gì cả.

Nghiên cứu anh không tốt cho cô, chắc chắn là vậy. Cô đã làm điều đó quá chăm chú lúc nãy, và không chắc mình có thể hồi phục được không.

Việc ăn uống dường như đã giúp cô tỉnh táo hơn, dù cô không dám chắc, vì không có cơ sở để so sánh. Với đầu óc tỉnh táo hơn đôi chút, cô càng nhận thức rõ hơn về sự hiện diện thể chất mạnh mẽ của anh.

Hình ảnh chú ngựa đực mà cô từng xem trong một lần phối giống lại xuất hiện trong đầu.

Ngừng lại, ngừng lại ngay.

Hãy lý trí lên, cô tự nhủ. Hãy nhìn vào sự thật. Sự thật đơn giản là khó có thể làm ngơ trước sự hiện diện thể chất của một người đàn ông khi người ta đang ngồi và nhìn lên anh ấy.

Cô hạ ánh nhìn và từ dưới hàng mi, lướt qua từ đầu đến chân anh: từ đôi vai rộng căng lên lớp áo khoác đen, xuống chiếc áo sơ mi xếp nếp và áo gi-lê sọc, rồi nhanh chóng lướt qua chiếc quần trắng đến đôi giày đen đã mòn. Anh cầm một chiếc mũ trong tay phải.

Cô nhìn chằm chằm vào chiếc mũ và cố gắng giữ tâm trí bận rộn bằng cách nhớ tên các loại mũ của đàn ông và cố xác định xem đây là loại nào.

“Đương nhiên là không vừa,” anh nói. “Chuyện đó khỏi phải bàn, với thời gian gấp gáp như thế này, dù thợ may đã làm hết sức. Loại len này chắc chắn không phải thứ tôi chọn, và vải lanh thì ở mức xoàng xĩnh.”

Cô cố gắng hình dung anh như một ma-nơ-canh trong cửa hàng. Một ma-nơ-canh ăn mặc kỳ quặc. “Cũng không đến nỗi tệ,” cô nói. “Tôi đồng ý là chẳng cái nào vừa vặn cả, nhưng ít nhất thì chiếc quần cũng che được mắt cá chân anh. Và nếu anh không phải nhấc phụ nữ lên rồi quăng vào thuyền hay sông, thì đường may của áo khoác chắc cũng sẽ chịu được.”

“Nhưng tuyệt tác ở đây,” anh nói, bước tới gần, khiến những người phụ nữ khác phải lùi lại.

Anh dừng trước tấm gương lớn và đội chiếc mũ lên đầu. Nhíu mày, anh nghiêng mũ qua bên này, rồi bên kia, cuối cùng thử đội thẳng.

“Thảm họa,” anh nói. “Trông tôi như một nhân viên ngân hàng. Nhưng nó là chiếc duy nhất gần như vừa đầu tôi. Làm thế nào mà người ta có thể mua được mấy thứ này mà không cần đặt may nhỉ?”

“Anh không giống nhân viên ngân hàng chút nào,” cô nói. “Kể cả khi anh đội mũ của người chèo thuyền, anh cũng không giống họ. Anh trông như một quý tộc… “ Cô dừng lại một chút. “Đang cải trang. Dù là một màn cải trang không mấy thuyết phục.” Cô phẩy tay, giọng có chút bông đùa. “Cũng tạm được. Anh có mặc gì đi chăng nữa thì vẫn sẽ cao lớn, bảnh bao, và—”

“Bảnh bảo—”

“Đàn ông lúc nào cũng được cho là vậy, ngay cả khi họ đã đứng tuổi và bắt đầu phát phì,” cô tiếp tục. “Đàn ông có thể bạc tóc, có thể sập xệ thoải mái mà chẳng ai phàn nàn. Còn phụ nữ chúng tôi thì chỉ được phép trông tươi trẻ cho đến khoảng hai mươi tuổi là cùng. Sau đó, chúng tôi trở thành những bà già xấu xí.”

Những người phụ nữ xung quanh cô phản đối.

“Qúy cô hôm nay hơi khó ở,” Ripley nói với họ. “Các cô đã làm rất tốt. Quý cô trông không đến nỗi già cỗi như mọi ngày. Giờ thì, nếu mọi người có thể ngừng tỉ mẩn với tóc tai, chúng tôi thật sự cần phải đi ngay. Quý cô đang háo hức lên đường rồi.”

Cô quả thật muốn rời đi. Nhưng câu hỏi là, đi đâu bây giờ?

“Đúng thế,” cô nói.

*

Bảnh bao.

Chưa ai từng nói với Ripley như vậy trước đây.

Chắc hẳn cô vẫn còn say. Vì không quen uống rượu, cô không tỉnh táo nhanh như những người có kinh nghiệm. Hơn nữa, cô là một tiểu thư, một trinh nữ.

Nhưng cách cô nhìn Ripley qua hàng mi không giống với những gì người ta mong đợi từ một trinh nữ ngây thơ. Ai mà ngờ rằng cô tiểu thư mọt sách lại có thể dùng ánh mắt nửa che nửa đậynhư thế, khiến một người đàn ông cảm thấy bứt rứt khó chịu. Rõ ràng, Ripley còn nhiều điều phải học về những tiểu thư mọt sách.

Tuy nhiên, anh không phải bứt rứt lâu. Cô hơi nghiêng đầu, ánh lửa lấp lánh trên cặp kính của cô, và anh không thể thấy đôi mắt đó nữa.

Không phải anh cần nhìn thấy, anh tự nhủ.

Cô đã thấy quá đủ ở anh rồi, và anh cũng không cần phải thấy thêm gì từ cô. Trong hoàn cảnh hiện tại, tốt nhất là không nên. Sau một thời gian dài sống như thầy tu mấy tháng qua, anh lại dễ dàng bị khuấy động hơn bao giờ hết.

Anh sẽ giải quyết căn bệnh này ngay tối nay. Ngay khi anh đưa cô dâu trở về với chú rể.

Cùng với những suy nghĩ không đứng đắn thường thấy ở một người đàn ông chẳng mấy đạo đức, những điều này cứ lởn vởn trong đầu anh khi anh kiên nhẫn đứng chờ, chân gõ nhịp, để các cô hầu đội chiếc mũ lên đầu Tiểu thư Olympia và buộc dây ruy băng cho ngay ngắn. Khi nghi lễ đội mũ cuối cùng cũng kết thúc, và bộ đồ cô dâu được gói lại trong vải lanh, anh vội vàng đưa cô ra khỏi phòng, rồi ra khỏi khách sạn, cuối cùng đến sân trọ nơi một chiếc xe ngựa đứng chờ sẵn.

“Xe ngựa chở thư!” cô kêu lên.

“Cô nghĩ tôi sẽ mua vé xe thư công cộng à?” anh đáp. “Vào giờ này sao?”

“Nó sẽ đưa chúng ta đến Twickenham chứ?” cô hỏi.

*

Ripley khoanh tay, nghiêng đầu sang một bên và chăm chú nhìn cô. Trong ánh sáng nhạt nhòa của buổi chiều, đôi mắt anh thẫm lại, mang màu xanh của một khu rừng tuyết tùng.

Olympia chỉnh lại kính và ngẩng cao cằm. “Tôi quyết định là anh nói đúng.”

Đôi mắt xanh lục của anh híp lại.

“Về việc quay lại với đuôi cụp giữa hai chân,” cô nói. “Tôi không phải là kẻ hèn nhát.”

“Tôi cũng không nghĩ vậy,” anh đáp. “Có thể chỉ là do thiếu quyết định thôi.”

“Tôi thừa nhận là tôi đã không suy nghĩ thấu đáo,” cô nói. “Dẫu vậy, người ta cũng có thể lập luận rằng nên lắng nghe bản năng của mình. Tôi muốn nói chuyện với dì Delia trước khi trở về—nếu tôi có trở về. Tôi tin rằng dì là người thích hợp nhất để khuyên nhủ tôi. Tất cả những người khác chỉ nhìn thấy tiêu đề, OLYMPIA, CUỐI CÙNG CŨNG KẾT HÔN, VỚI MỘT CÔNG TƯỚC. Thành thật mà nói, tiêu đề đó cũng đã ám ảnh trong đầu tôi, làm ảnh hưởng đến sự sáng suốt này.” Cô ngoảnh đi.

Có quá nhiều thứ làm lu mờ suy nghĩ của cô. Tương lai của các anh em cô. Chính tương lai của cô nữa.

Cả Ashmont nữa. Chưa từng có ai theo đuổi cô nhiệt tình như vậy. Thật ra, chưa từng có ai theo đuổi cô cả, nếu không tính việc Ngài Mends cứ thao thao bất tuyệt về mấy cuốn sách của ông ta. Khi Ashmont nhìn cô bằng ánh mắt xanh da trời chân thành đó, như thể anh ấy không thấy ai khác trên thế giới, và còn tăng hiệu ứng bằng cách nhắc đến bộ sưu tập sách đồ sộ của ông nội mình—một bộ sưu tập mà cô biết có thể sánh ngang với của các Công tước xứ Roxburghe và Marlborough—thì quả thật rất khó giữ được cái đầu lạnh.

Không giống như trường hợp của Ngài Mends, Olympia tận mắt thấy thư viện của Ashmont ở trang viên tại Nottinghamshire rồi. Cha cô đã đưa cô đi cùng để xem ngựa. Khi đó, Ashmont đang học nội trú. Chính bác của anh, người giám hộ, Ngài Frederick Beckingham, đã ân cần đưa Olympia bé nhỏ—cô khi ấy không quá mười hai tuổi—đi tham quan ngôi nhà. Sau khi thấy thư viện, cô không còn hứng thú với phần còn lại của ngôi nhà nữa, khiến các quý ông không khỏi bật cười.

“Twickenham,” Ripley nói, kéo cô về hiện tại.

“Phải,” cô đáp.

Anh im lặng trong một khoảng thời gian rất lâu. Olympia siết chặt tay—không phải cô nghĩ mình có cơ hội thắng trong bất kỳ cuộc chiến nào với anh—nhưng như một tín hiệu rằng cô luôn sẵn sàng đối đầu, dù cô biết mình có chút bướng bỉnh.

Cô tự nhủ tốt nhất là không bao giờ uống rượu brandy nữa.

“Được rồi,” anh nói. “Lên xe đi.”

Cô thở phào nhẹ nhõm và tiến về phía xe.

Người đánh xe đang hạ bậc thang và mở cửa xe thì một tiếng kêu đau đớn vang lên, tiếp theo đó là tiếng hét khác, vọng khắp sân trọ.

Quay về phía âm thanh, Olympia thấy gần lối vào sân, một người đàn ông gầy gò, mặt đỏ gay, đang giơ roi lên trước một con chó run rẩy, có vẻ là một chú chó săn sói hoặc tương tự.

Một làn sương đỏ bừng lên trước mắt cô.

Cô quên mất Ripley. Cô quên luôn cả Twickenham. Trước khi kịp suy nghĩ, cô đã bước nhanh về phía cảnh tượng đó, giọng nói vang lên đầy kiên quyết, tay chỉ thẳng vào người đàn ông, rồi xuống đất. “Anh. Bỏ nó xuống. Ngay lập tức.”

*

Tên ác ôn khựng lại. Con chó thu mình xuống, nằm bẹp xuống đất.

Trong giây lát, Ripley cũng khựng lại, ngẩn người.

“Bây giờ,” quý cô nói. Cô đang tiến về phía kẻ cầm roi, không chạy nhưng bước đi nhanh và không thể cản được, giống như—Ripley không biết phải so sánh với gì. Một thứ không thể ngăn lại, không lay chuyển như Định mệnh. Thật nực cười. Cô, trong chiếc mũ với những bông hoa rực rỡ trên đỉnh, một chiếc áo choàng ren đen bay phấp phới trên vai, và những dải ruy băng tung bay khi cô tiến tới. Một món bánh ngọt trang trí, có lẽ vậy. Một kẻ thù không đội trời chung, hoàn toàn không.

Ấy vậy mà mọi người đàn ông trong sân trọ đều ngừng lại khi nghe giọng nói của cô. Tất cả bọn họ, bao gồm cả Ripley, đều phản ứng với âm thanh đó. Đơn giản, đó là Giọng nói của Quyền lực, dù anh không chắc mình từng nghe người phụ nữ nào sử dụng nó hiệu quả như vậy. Có lẽ là chị gái anh. Hoặc Dì Julia.

Mặc dù kẻ chịu sự bất mãn của cô trông có vẻ lì lợm và ngang bướng như bất kỳ tên côn đồ say xỉn nào Ripley từng biết, gã vẫn hạ tay cầm roi xuống. Tuy nhiên, gã không di chuyển, chỉ đứng đó, cảnh giác nhìn quý cô đang tiến tới.

“Đưa cho tôi,” cô nói. Cô chìa ra bàn tay đeo găng thanh mảnh.

“Ý tôi là,” gã lắp bắp.

Tiểu thư Olympia không cử động, không nói thêm một lời, chỉ đứng đó với bàn tay giơ ra, chờ đợi.

Gã trao roi cho cô.

Ripley suýt reo lên, nhưng bản năng bảo rằng tình hình này rất mong manh. Mọi chuyện có thể trở nên nguy hiểm trong nháy mắt. Khi Ripley tiến lại gần hơn, cố gắng kín đáo nhất có thể với một người cao hơn sáu feet đang ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, gã kia lên tiếng, và một làn hơi rượu nồng nặc bốc ra.

“Ý tôi là, đó là con chó của tôi, đồ quỷ quái,” gã nói. “Và nó đã khiến tôi tốn cả đống tiền, cái con vật đáng nguyền rủa đó. Họ bảo nó ngoan ngoãn. Được huấn luyện để—để săn bắn. Đúng là ba hoa xằng bậy.”

“Anh đã đánh một con vật dễ thương,” cô nói. “Bằng roi. Anh có muốn thử cảm giác đó không?” Cô giơ roi lên như thể sắp quất.

Gã kia đưa tay lên phòng vệ. “Ê! Tôi đâu có—” Gã lảo đảo nhưng kịp đứng vững vào phút cuối.

“Tôi thực sự bị cám dỗ để cho anh một bài học,” cô nói. “Cho anh nhớ đời. Nhưng như vậy thì thật bất lịch sự.”

Cô nhìn con chó. “Lại đây,” cô nói.

Con chó đứng lên.

“Đồ quỷ quái!” gã hét. “Cô không thể—đó là con chó của tôi!”

Cô khẽ ra hiệu và con chó đi theo cô.

“Sam!” gã chủ hét. “Mày lại đây, nếu không tao sẽ—”

“Anh sẽ không làm gì cả,” Tiểu thư Olympia nói. “Anh không xứng đáng để nuôi một con chó.”

“Cô không được lấy chó của tôi! Tôi sẽ kiện các người!” Gã nhìn quanh. “Có ai gọi cảnh sát đi! Đó là con chó của tôi, và khi nó không nghe lời, tôi phải dạy dỗ nó. Không phải chuyện của ai khác.”

Gã bảo hành động vật gào thét về những tên trộm, kẻ phá rối, cảnh sát và đủ thứ trên đời. Mọi người đổ ra khỏi phòng cà phê ở tầng trệt. Khán giả tràn ra hành lang nhìn xuống sân trọ.

“E hèm,” Ripley lên tiếng.

Đang tiến tới chiếc xe ngựa, với con chó bên cạnh, Tiểu thư Olympia dừng lại và ngẩng lên nhìn anh, vẻ ngạc nhiên. “Ồ,” cô nói. “Anh đây rồi.”

“Chúng ta sẽ không mang theo nó,” anh nói.

“Không thể để nó lại với kẻ đó,” cô nói. “Đánh một con vật dễ thương! Bằng roi! Và đó không phải là một cú quất nhẹ để cảnh cáo, hay quất xuống đất để gây chú ý. Gã khiến con chó kêu lên—anh nghe thấy mà—và đây là một con chó săn sói. Chúng là loài chó vô cùng yên lặng.”

Ripley có thể nhận ra đó là giống gì. Một con chó của thợ săn trộm. Một kẻ săn mồi thầm lặng. Nó đứng sát cô, bên cạnh bàn tay cầm ro. Con vật run rẩy.

“Họ đang lấy trộm chó của tôi!” gã chủ la lên. “Ai đó ngăn họ lại đi!”

“Đừng cư xử ngu ngốc nữa, Bullard,” ai đó hét lên. “Đó là Công tước xứ Ripley. Một công tước, đồ ngu. Ngài ấy có thể làm bất cứ điều gì ngài ấy muốn.”

“Ngài ấy không được lấy con chó của tôi! Để tình nhân của ngài ấy làm bẩn tay hộ. Tôi muốn con chó của tôi!”

Ripley thở dài. Dĩ nhiên rồi. Lúc nào cũng phải có một gã bợm rượu lắm lời, nói sai điều cần nói. Lúc nào cũng phải có một tên ngốc phát ngôn những lời mà không thể bỏ qua.

Anh quay lại phía Bullard và cất lời, giọng điềm tĩnh, dễ chịu, mà tất cả những ai quen biết anh đều nhận ra ngay đó là Giọng Nói của Cái Chết—hoặc ít nhất là Giọng Nói của Nỗi Đau Trầm Trọng, “Anh vừa nói cái gì?”

*

Ripley nói một cách lười biếng, thờ ơ.

Dù vậy, những sợi lông ở gáy Olympia dựng đứng lên và cô cảm nhận được, với sự chắc chắn của một cô gái lớn lên trong môi trường toàn đàn ông, những xung động của bản năng nam giới muốn tiêu diệt những người đàn ông khác.

Mặc dù là phái nữ, cô cũng cảm thấy những xung động tương tự. Cô khao khát đẩy Ripley ra khỏi đường và quất cho tên Bullard kia đến khi hắn khóc như một đứa trẻ. Vì sự an toàn của con chó, cô tự nhắc nhở mình phải bình tĩnh lại. Nhẹ nhàng, cô đặt tay lên đầu nó và nó tiến lại gần hơn.

“Anh nghe tôi nói chưa!” chủ của con chó quát lên. “Anh và cô nàng lộng lẫy của anh, cứ đi xung quanh bắt nạt mấy tên đàn ông quá lịch sự để đánh phụ nữ, rồi lại cướp chó của tôi. Anh không thể cứ đi mà mang nó đi như thể anh sở hữu cả thế giới này.”

“Đó là lần thứ hai anh xúc phạm cô ấy,” Ripley nói bằng giọng nhẹ nhàng, như mọi khi.

“Cô ấy là cô ta! Và còn lấy cả cây roi của tôi nữa cứ!”

“Đó là lần thứ ba,” Ripley nói. “Đây là cái giá tôi phải trả cho sự kiên nhẫn và nhẫn nại. Không còn cơ hội nữa. Anh sẽ gọi cô ấy là ‘quý cô’ và xin lỗi ngay lập tức.”

“Xin lỗi? Cô ta á? Nằm mơ đi! Tôi muốn chó của tôi!”

Ripley đánh hắn. Cú đánh cực kỳ nhanh và chính xác, thẳng vào bụng. Bullard gập người lại và ngã quỵ xuống.

“Xin lỗi,” Ripley nói. “Nhanh lên. Trong khi đôi găng tay này không lý tưởng lắm, tôi không muốn chúng dính máu đâu.” Anh dừng một chút, chờ Bullard lấy lại hơi thở.

“Cái này làm tôi bất ngờ đấy, tên trộm chó (nabber) khốn kiếp,” gã say nói, nhìn xung quanh. “Mọi người đều thấy anh làm thế rồi.”

Nhờ từ điển Lexicon Balatronicum của ông Grose, Olympia biết “trộm chó” là tên mà gã Bullard vừa dùng để mắng Ripley.

“Có vẻ như lời cảnh cáo của tôi không đến được tai anh nhỉ,” Ripley nói. “Vậy tôi sẽ nói rõ hơn. Nếu lời tiếp theo không phải là ‘Xin lỗi quý cô,’ anh sẽ khiến tôi phải làm tổn thương anh.”

“Thử đi!” Bullard giơ nắm đấm lên. “Thử xem, đồ bẩn thỉu—” Hắn tiếp tục mắng chửi bằng những lời rất thô tục.

Ripley đánh bay tay của gã, đủ mạnh để làm hắn mất thăng bằng, nhưng trước khi hắn kịp ngã, Ripley đã túm lấy cổ hắn, dùng đôi tay lớn của mình nhấc hắn lên khỏi mặt đất. Bullard vùng vẫy, cố gắng tóm lấy tay Ripley, nhưng vô ích, chỉ còn lại những lời khó nghe, chảy ra từ cổ họng nghẹt thở.

Giọng Ripley, bình tĩnh và dễ dàng truyền qua khoảng không tĩnh lặng của sân quán trọ, “Anh sẽ gọi cô ấy là quý cô và nói xin lỗi, hoặc tôi sẽ làm cuộc sống của anh trở nên không thể chịu nổi.”

“Điều đó thì sao? Anh giết tôi đi,” gã cộc lưỡi nói. “Anh sẽ bị treo cổ, và tôi sẽ gặp anh ở địa ngục.”

“Tôi sẽ không bao giờ giết anh,” Ripley nói. “Quá nhanh. Chẳng thú vị chút nào. Không, tôi nghĩ tôi sẽ bắt đầu với việc bẻ vài cái xương, rồi một vài cái nữa, cho đến khi có quá nhiều để bác sĩ có thể chữa được.”

Mặt Bullard chuyển sang tím, nhưng hắn vẫn kịp rên rỉ về sở thích của Ripley với những hành động bất thường với động vật.

“Thật là một tên phiền phức,” Ripley nói. “Có lẽ tôi sẽ thả anh xuống và xem chuyện gì sẽ xảy ra. Hy vọng tôi không vô tình dẫm lên đầu anh.”

“Cứ thử đi,” gã rên rỉ.

Ripley thả hắn xuống.

Bullard ngã xuống nền đá.

Olympia dự đoán rằng hắn sẽ bật dậy ngay lập tức. Một số người đàn ông không biết khi nào là lúc mình đã thua.

Có vẻ như việc rơi xuống đá cứng đã khiến hắn thức tỉnh. Bullard ôm cổ, nhưng không cử động gì thêm. Hắn nằm đó, mắt mở trừng trừng nhìn Ripley.

“Xong chưa?” Ripley hỏi.

Bullard gật đầu.

“Vậy thì xin lỗi đi.”

“Xin lỗi,” Bullard thều thào.

“Không phải xin lỗi tôi, tên ngu ngốc. Xin lỗi quý cô.”

“Xin lỗi... quý cô.”

“Rất tốt. Giờ thì biến đi.”

Bullard loạng choạng đứng lên. Hắn gọi con chó. Đuôi rũ xuống, đầu cúi thấp, con vật tiến gần về phía Olympia.

“Không,” Olympia nói. “Anh đã mất con chó rồi.”

“Sam là tài sản của tôi,” Bullard gào lên. “Nó phải đi với tôi!”

Olympia nhìn Ripley.

“Chúng ta sẽ không mang con chó đi,” anh nói.

“Chúng ta không thể bỏ nó lại,” cô nói. “Nó bị thương và sợ hãi.”

“Nó là chó của tôi! Tôi đã trả một món tiền khổng lồ cho con chó quái quỷ này! Các người không có quyền gì hết!”

“Anh không có quyền gì với nó,” cô nói. “Anh đã đánh mất nó khi tấn công một sinh vật vô tội. Anh mất nó rồi.”

“Lên xe đi,” Ripley nói.

“Tôi sẽ không bỏ lại con vật này cho hắn,” cô nói. “Ngay khi chúng ta đi, hắn sẽ trừng phạt nó vì những gì anh đã làm với hắn.”

“Đó là con chó của tôi, đồ khốn!”

“Chúng ta sẽ không mang con chó đi,” Ripley nói với Olympia. “Nếu cô không nhận thấy, con vật này không phải là một con chó Bắc Kinh. Nó không thể ngồi trong lòng cô được. Cái xe ngựa chỉ đủ chỗ cho hai người, vừa vặn thôi.”

“Nó có thể ngồi trong thùng xe,” cô nói. “Trong cái lồng.”

“Đồ cưới của cô đang ở trong cái lồng đó,” anh nói.

“Con chó có thể dùng nó làm đệm. Chẳng phải tôi sẽ không mặc lại bộ đồ đó nữa sao?”

“Đó là con chó của tôi, đồ khốn!”

“Im đi,” Ripley nói với Bullard. “Cô ấy và tôi đang thương thảo.”

“Các người không thể mang chó của tôi đi! Nó đã tốn của tôi—”

“Anh là một tên phiền phức vô cùng,” Ripley nói. Anh nhìn quanh sân quán trọ. “Ai đó làm cho hắn biến đi đi.” Anh làm động tác xua xua về phía Bullard.

“Đó là con chó của tôi—”

Tất cả những gì Bullard định nói bị cắt ngang khi hai người xem mạnh mẽ kéo hắn về một góc sân xa.

Ripley quay lại với Olympia. “Nếu chúng ta mang con chó đi, thì đó là con chó của cô,” anh nói. “Khi tôi để cô lại với dì của cô, tôi sẽ để nó lại. Rõ chưa? Một khi chúng ta mang nó đi, sẽ không có thay đổi gì đâu, vì tôi không định bỏ nó dọc đường hay tìm cho nó một ngôi nhà khác hay nhận nuôi nó. Cô hiểu chứ?”

“Rồi,” cô nói, tim đập mạnh. “Cảm ơn anh đã giải thích dễ hiểu, phòng khi bộ óc của tôi không đủ sáng suốt để hiểu được điều đó.”

“Tốt,” anh nói.

Anh rời đi để nói chuyện với Bullard, người đang vật lộn với hai người cố giữ hắn ta lại. Một cuộc tranh luận dài tiếp theo, với giọng Bullard vang lên đầy phẫn nộ rồi từ từ chìm xuống thành những lời lầm bầm.

Không lâu sau, một người hầu từ trong quán trọ đi ra với vài chiếc chăn. Anh ta mang chúng đến thùng xe và phủ lên gói đồ cưới của cô, được gói gọn gàng.

“Cái đó có ổn không, hay là chúng ta thuê một chiếc xe ngựa riêng cho thú cưng mới của cô?” Ripley nói. “Và có cần vài người hầu để chăm sóc nó không?”

“Cái đó ổn rồi,” Olympia nói.

Ripley bật lưỡi và con chó săn nhìn anh, tai dựng đứng. Ripley chỉ vào chiếc lồng. Con chó nhảy vào đó. Nó dùng chân đẩy các chiếc chăn và xoay vài vòng cho đến khi mọi thứ được sắp xếp vừa ý. Sau đó, nó nằm xuống.

Con chó được huấn luyện rất tốt. Rõ ràng vấn đề không phải ở con vật.

Cô liếc nhìn Bullard, người đứng đó, miệng há hốc, nhìn từ con chó sang cô rồi lại sang Ripley.

“Lên xe đi,” Ripley nói. “Ngay bây giờ.”

*

Ripley quan sát khi cô bước lên xe ngựa, dáng vẻ yểu điệu ẩn trong một cơn lốc nhẹ nhàng của ren, ruy băng, và những bông hoa khẽ đung đưa.

Anh liếc nhìn lại sân quán trọ lần cuối, chỉ để đảm bảo rằng Bullard không bất thình lình lao ra gây thêm rắc rối. Quá nhiều phiền phức cho một ngày rồi.

Sau đó, Ripley tiến đến phía sau xe để kiểm tra con chó. Anh phát hiện vài vết hằn trên da, nhưng may mắn là không có máu. Tên đê tiện ấy chưa kịp gây thương tích nghiêm trọng.

Ripley cúi xuống, vuốt ve con chó và thì thầm vài lời an ủi vu vơ. Dưới bàn tay anh, sự run rẩy của nó dần dịu lại.

“Mày may mắn lắm đấy, biết không?” Ripley nói, giọng trầm đều. “Thời điểm của mày quá hoàn hảo.”

Con chó liếm vào găng tay anh. “Không nhỏ dãi,” Ripley nói, rụt tay lại. “Ngay cả trên cái găng tay đáng ghét này. Và tuyệt đối không được nôn dọc đường.”

Đã xong.

Con chó giờ đã yên.

Cô dâu tương lai của Ashmont thì an toàn và nguyên vẹn. Không ai mất mạng. Không giọt máu nào bị đổ. Dẫu vậy, Ripley chắc chắn rằng Bullard sẽ có một loạt vết bầm đau nhức nhớ đời.

Dù cảm giác hài lòng len lỏi, Ripley biết mình cần chút thời gian để thật sự trấn tĩnh, để không phải hối tiếc vì đã không đập gã Bullard thành cám.

Anh hít sâu một hơi, rời con chó, bước lên xe ngựa, và ra hiệu cho người đánh xe khởi hành.

Chiếc xe vừa lăn bánh, Ripley còn chưa kịp yên chỗ thì Tiểu thư Olympia đã bật dậy, quàng tay qua cổ anh.

“Ôi, anh thật là tuyệt!” cô thốt lên đầy hào hứng.

Rồi cô hôn anh.

« Lùi
Tiến »