Vua Gia Long

Lượt đọc: 2562 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương III

 Giám mục Bá Đa Lộc ở Paris

- Hiệp ước 1787

- Giám mục Bá Đa Lộc và de Conway

- Giám mục Bá Đa Lộc trở về xứ Đàng Trong

- Những người Pháp phục vụ cho Nguyễn Ánh

- Những cuộc chinh phạt ở Qui Nhơn

- Cái chết của Nguyễn Huệ

- Những bất hòa của nhà Tây Sơn

- Cái chết của Nguyễn Nhạc

- Bao vây thành Nha Trang

- Bao vây thành Qui Nhơn

- Cái chết của Giám mục Bá Đa Lộc

- Công trình của Giám mục Bá Đa Lộc

Trước khi Pigneau de Béhaine đến được Paris, Bộ trưởng Bộ Hải quân đã lệnh cho kỹ sư Lamotte nghiên cứu vấn đề xứ Đàng Trong. Kỹ sư là người rất am hiểu những sự việc ở châu Á, nơi ông đã lưu trú nhiều năm. Lamotte, trong một báo cáo trình ngày 28 tháng 1 năm 1786, đã mạnh mẽ ủng hộ kế hoạch của giám mục. Ông làm thấy rõ những lợi ích khi nước Pháp, với tư cách liên minh, thâm nhập vào trong một xứ sở giàu có tràn ngập những vật hạng quan trọng cần thiết cho nền thương mãi thuộc địa. Ông đánh giá cao vùng Tourane, hải cảng trung tâm giữa Trung Hoa, Philippines và Malacca, nơi mà sự giao thông và trao đổi thương mãi rất năng động, được xem như một vị trí hàng đầu có khả năng thực hiện một cuộc tranh đua thắng lợi với nền thương mãi Anh quốc, về quan điểm chiến lược, vùng Nam bộ xứ Đàng Trong, với những miền phụ cận, án ngữ con đường mà tàu bè phải đi qua để vào các cảng Trung Hoa, sau khi bắt buộc thừa nhận quần đảo Poulo-Condor158 được nhà vua An Nam tặng với quyền sở hữu tuyệt đối cho nước Pháp. Ngoài ra, việc thiết lập một căn cứ quân sự tại Hội An cho phép tổ chức hàng loạt đội tuần tra biển mà nhờ đó chúng ta sẽ chặn được nhánh thương mãi sinh lợi nhất của những đối thủ cạnh tranh Anh quốc và Bồ Đào Nha.

Hoàng hậu Marie-Antoinette đồng tình với báo cáo viên, chia sẻ sự tín nhiệm của mình với các ông Dillon và Lomenie de Brienne là những người thoạt tiên phản đối kế hoạch của Giám mục Adran. Vua Louis XVI đón tiếp Hoàng tử Cảnh với thiện tâm mà vẻ trẻ tuổi vô tư lự rất thích hợp với sự tò mò thích thú của các cận thần. Phái bộ xứ Đàng Trong đã tạo nên một biến động sôi nổi đầy thiện cảm, những lễ hội được tổ chức để vinh danh hoàng tử. Trong những dịp ấy, Hoàng tử Cảnh có mặt bên cạnh thái tử Pháp mà cậu thường chia sẻ những trò chơi. Châu Á trở thành mốt năm ấy, được Léonard thừa nhận và sáng tạo ngay cả một kiểu tóc theo lối Trung Hoa mà các mệnh phụ thanh lịch mang nó suốt cả một mùa!

.

Hoàng đế Pháp Louis XVI (1776).

Vào ngày yết kiến vua Louis XVI, 6 tháng 5, Pigneau de Béhaine nhấn mạnh sự cần thiết trong việc đấu tranh chống lại ưu thế của người Anh ở Ấn Độ, nơi mà nước Pháp chỉ có vài thương điếm với tầm quan trọng càng ngày càng giảm sút. Giám mục trình bày việc liên minh với xứ Đàng Trong trước hết là để ngăn ngừa sự chiếm đóng của người Anh. Việc chiếm đóng này, trong trường hợp chiến tranh, sẽ cấm tất cả các quốc gia khác đi ngang qua, khiến cho hạm đội Anh quốc trở thành chủ nhân duy nhất của con đường hàng hải dẫn đến Trung Hoa. Giám mục đặt nhà vua trước chọn lựa có tầm quốc gia, giữa hai lối mà tình hình hải ngoại không phải là điều duy nhất được đặt ra: “hoặc lớn mạnh hoặc ra đi”. Cuối cùng, giám mục còn nhấn mạnh rằng để vị thế của nước Pháp được củng cố, phải lập tức chiếm Poulo Condor, Tourane và Hà Tiên.

Vua Louis XVI sau nhiều do dự đã chấp thuận và cho phép giám mục nghiên cứu việc soạn thảo thỏa ước tương trợ mà vua xứ Đàng Trong cầu khẩn.

Thỏa ước này với lời lẽ đã được nhà vua cân nhắc suy nghĩ lâu dài, cho phép nước Pháp thâm nhập với tư cách quốc gia liên minh vào trong một xứ sở mà ở đó không một quốc gia phương Tây nào đã gây được ảnh hưởng.

Vua Louis XVI cam kết hỗ trợ Nguyễn Ánh “theo cách hiệu quả nhất”. Nhà vua hứa gửi bốn chiến hạm chở một đội pháo binh hùng hậu cùng với đội quân một ngàn năm trăm người được trang bị trong tình thế thời chiến. Nhà vua sẽ hỗ trợ vua xứ Đàng Trong vào mọi lúc khi vị vua này gặp khó khăn trong việc chiếm cứ lãnh thổ. Nguyễn Ánh “trong lúc chờ đợi sự giúp đỡ rất quan trọng mà Đức vua rất Thiên Chúa giáo sẵn sàng thực hiện”, nhường cho Đức vua cũng như cho Hoàng gia Pháp quốc quyền sở hữu tuyệt đối và chủ quyền của hòn đảo nơi có hải cảng chính của xứ Đàng Trong gọi là Hội An [Tourane]159. Lại thêm, người Pháp có quyền dựng trên đất liền mọi cơ sở mà họ cho là có ích, cho việc hải hành cũng như việc thương mãi, để trông coi, sửa chữa hoặc đóng mới các thuyền bè.

Nhường hoàn toàn chủ quyền đảo Poulo-Condor cho vua nước Pháp mà thần dân của nước này sẽ được hưởng tự do trọn vẹn về thương mãi trong khắp xứ Đàng Trong, loại trừ những người châu Âu khác.

Tóm lại, những quy định trong thỏa ước là rất quan trọng vì nó nhắm vào hoạt động của người Anh có khả năng xảy ra để chống lại những cơ sở mới của người Pháp. Vua xứ Đàng Trong cam kết trợ giúp binh lính, thủy thủ, thực phẩm, tàu bè, trong trường hợp người Pháp bị tấn công liên quan đến sự bình yên của Tourane và đảo Poulo-Condor, cũng như trong trường hợp người Pháp có chiến tranh với một cường quốc châu Âu hoặc châu Á. Như vậy, nước Pháp, nhờ vào một khoản kinh phí và một nỗ lực không đáng kể, chiếm được những lợi thế quá sức mong đợi. Từ đấy, nước Pháp sẽ làm chủ con đường đi Trung Hoa, hất cẳng mọi đối thủ cạnh tranh trong thương mãi ở châu lục này, dẫu đó là người Anh, người Hà Lan hay người Bồ Đào Nha. Các vùng đất được nhượng trọn vẹn chủ quyền cho chúng ta có thể đền bù trong chừng mực nào đó sự mất mát nhục nhã các nhượng địa của chúng ta ở Ấn Độ. Và cuối cùng, những quy định phụ thêm vào thỏa ước Versailles cho phép chúng ta từng bước can thiệp vào nội chính đất nước ấy, thông qua sự truyền bá Đức tin Thiên Chúa giáo, sự mở rộng mạng lưới mậu dịch, thu thuế hải quan ở cửa sông đối với tàu bè lưu thông nội địa v.v...

Giá như ý chí của vua nước Pháp kiên định hơn, thì cơ sở của chúng ta ở Đông Dương đã được thực hiện không trở ngại và Trung Hoa, một thế kỷ sau đó, không thể lấy cớ bá chủ để gây thất bại cho việc chiếm đóng của chúng ta, bằng cách chấp thuận cho vua Tự Đức một sự bảo hộ mà trước kia Pháp đã từng bỏ lỡ đối với người sáng lập ra triều đại nhà Nguyễn.

Nhưng vua Louis XVI lại quyết định giao việc thực hiện các điều khoản trong thỏa ước cho bá tước de Conway160, người kế nhiệm Charpentier de Cossigny ở Pondichéry. Nhà vua không phải không biết đã giao cho một kẻ bất tài sứ mạng khó khăn trong việc thiết lập uy tín của nước Pháp ở một đất nước mà vị thống đốc lạ lùng kia công khai tuyên bố thiếu hẳn tiền đồ. De Conway, gốc người Ái Nhĩ Lan đã chiến đấu ở Mỹ năm 1777. Quốc hội Mỹ phong cho ông hàm thiếu tướng, nhưng sự chống đối công khai của ông ở Washington làm phật lòng ghê gớm các chiến hữu buộc ông phải giã từ quân đội. Lúc trở về Pháp, với sự hỗ trợ của đồng minh Brienne, ông được bổ nhiệm chức phụ tá chỉ huy quân sự, và sau khi Versailles được yên ổn, trở thành chỉ huy trưởng đội quân đồn trú tại Ấn Độ.

Đức vua không thích de Conway, biết ông ta là người mưu mô, hung hăng và khoe khoang, và được nguyên soái de Castries viết thư nhắc nhở. Mặc dầu thế, Đức vua vẫn dùng ông này để làm vui lòng Bộ trưởng [Montmorin], và những huấn thị mật, liên quan đến sự vụ xứ Đàng Trong đều được gửi đến de Conway. Những huấn thị ấy yêu cầu de Conway ngưng chiếu cố Nguyễn Ánh nếu một khi các quốc gia châu Âu khác ủng hộ hoặc chống đối ông hoàng mất ngôi kia. Giám mục Adran không hề hay biết tầm vóc quyền hạn ban cho de Conway, nên sẽ chỉ trích gay gắt thái độ của ông ta và hai bên sớm nảy ra tranh chấp dữ dội.

Ông de Montmorin vừa mới gỡ ra được những sự việc rầy rà của nước Hà Lan một cách khá nhục nhã. Là đồng minh của Cộng hòa Pháp, Hà Lan đã cùng chiến đấu với nước này chống lại người Anh. Thế mà, những người ủng hộ nhà Orange161 đã khích động vua nước Phổ can thiệp. Vua Louis XVI hoảng sợ vì việc xâm chiếm bất ngờ xứ Hà Lan, đã bỏ rơi nước đồng minh của mình để tránh một cuộc chiến tranh với vua Phổ Frédéric Guillaume II. Hoàn cảnh này gây khó cho Bộ trưởng [Bộ Ngoại giao, tức de Montmorin] trong việc ủng hộ một cuộc phiêu lưu ở châu Á và đó là cách giải thích về sự cẩn trọng vô cùng của ông - về sau có kẻ nói đó là thái độ giả dối, nước đôi - trong việc điều hành một công việc đòi hỏi nhiều sáng kiến mạnh mẽ.

Một huấn thị thứ hai được gửi tới de Conway ngày 2 tháng 12 năm 1787, viết rằng “Hoàng thượng muốn yên tâm về những nghi ngờ mà bản thân Ngài không giải quyết được, bằng vào dấu hiệu về sự tin cậy lớn nhất vào sự khôn ngoan của bá tước de Conway là người mà Hoàng thượng dám trao trọn quyền thực hiện cuộc viễn chinh, hoặc trì hoãn việc thực hiện mệnh lệnh của Ngài, tùy theo những thông tin tình hình mà ông ta thu lượm được”.

Quả như Cultru đã viết, một chính sách được thảo luận tại Versailles với một người như Giám mục Adran, một chính sách mà người ta đặt cược tất cả với số tiền một trăm ngàn piastre, mà kết cục, nếu thuận lợi, sẽ cho chúng ta một vị trí không đâu sánh kịp, không xa nước Trung Hoa và eo biển Sonde; và nếu bất lợi thì sự việc cũng không trở thành một thảm họa vì chúng ta lúc ấy làm chủ tình thế để rút ra khơi. Cuối cùng, mọi cơ hội đã có thể được tính toán chính xác nhờ vào những thông tin mà Văn khố lưu trữ của Công ty Đông Ấn và những thư từ của d’Entrecasteaux cung cấp. Vậy mà tất cả mọi chuyện ấy lại do một Bộ trưởng [Bộ Ngoại giao] thiếu quyết đoán trao quyền chỉ huy cho một sĩ quan tầm thường [de Conway] vừa mới đến đất Ấn Độ, nơi mà y chưa bao giờ phục vụ. Nói rằng người ta phó thác cho y những chi tiết thực hiện kế hoạch thì quá đáng, nhưng đặt dưới quyền phán đoán của y ngay cả nguyên tắc thực hiện, thì điều này cho thấy tầm vóc của chính quyền Louis XVI.

Giám mục Adran lên tàu Dryade với đứa trẻ do ông giám hộ vào tháng 11 năm 1787. Có một sĩ quan hải quân đi theo với nhiệm vụ đưa Hoàng tử Cảnh về lại với thân phụ và nhân thời gian lưu trú ở xứ Đàng Trong thu nhặt thông tin khả dĩ giúp vị chỉ huy cuộc viễn chinh mà trên nguyên tắc do Đức vua gửi đến giúp Nguyễn Ánh.

Giám mục cập bến tại Pondichéry ngày 18 tháng 5 năm 1788. Ông trao cho bá tước de Conway huân chương và văn bằng xác nhận hàm trung tướng do Đức vua ban, và sự thăng chức này là nhờ chính Pigneau de Béhaine khẩn khoản xin cho. Nhưng như thế giám mục đã phạm sai lầm lớn khi tạo cho viên thống đốc cảm giác chịu ơn về chuyện thăng chức. Conway cám ơn qua loa và tiếp đó bàn bạc về vấn đề khắc sâu trong tim giám mục. Conway hỏi giám mục về những tài nguyên của đảo Poulo-Condor, liệu có thể kiếm ra bò để kéo xe và súng đại bác không v.v... rồi sau đó viết thư gửi Bộ trưởng [de Montmorin]:

“Tôi đã không muốn hỏi giám mục về những cơ sở dành cho bệnh viện, kho quân nhu, về lương thực, về phương tiện để duy trì thông tin liên lạc của chúng ta, bởi lẽ tôi nhận ra rằng giám mục luôn luôn cung cấp những lời khẳng định chứ không hề có chứng cớ và tôi chỉ làm cho giám mục bối rối chứ không rút ra được một chỉ dẫn nào thỏa đáng”.

Những mật lệnh mà thống đốc có trong tay cho phép ông ta toàn quyền hành động. Bộ trưởng lại ra lệnh cho ông không được quyết định điều gì trước khi có đủ mọi thông tin cần thiết. Thế nên ông lợi dụng điều ấy để chơi đùa trên chữ nghĩa của những huấn thị. Nếu là một sĩ quan bình thường nào khác, trong trường hợp ấy, hẳn đã có thể đưa ra một hoạt động sáng tạo, nhưng ở đây ông de Conway thì không có gì nữa để chờ mong; đã là trung tướng, ông chẳng ước ao gì hơn và do đó, không hào hứng điều đến một xứ độc địa một đội quân mà ông cho rằng chẳng bõ bèn gì.

Sự khinh suất của de Montmorin [Bộ trưởng Ngoại giao], người tin rằng một kẻ bất tài ở Pondichéry sẽ hiểu những vấn đề của xứ Đàng Trong hơn là một người khôn ngoan ở Paris, đã bị chỉ trích vì phương cách mà viên thống đốc dùng để thu lượm thông tin. Trong thực tế, Conway đã phái hai tàu DryadePandour đi thám thính vùng bờ biển xứ Đàng Trong. Nhưng việc làm ấy chỉ để thỏa mãn dư luận quần chúng. Không đợi báo cáo của các thuyền trưởng, ông ta đã tự ý gửi đến bộ trưởng bản tổng kết cuộc trao đổi với Pigneau de Béhaine ngày 18 tháng 6 năm 1788. Lá thư riêng đã phủ nhận hết những cáo buộc của ông ta. Thư viết rằng giám mục đã cung cấp cho ông những thông tin có tình tiết rõ ràng về quân đội xứ Đàng Trong. Điều ấy không ngăn ông có kết luận: “Chẳng kiếm được lợi lộc gì ở xứ Đàng Trong và ở Ấn Độ cũng chẳng hơn gì! Chỉ là những vùng đất độc địa, không thể ở được, nơi chỉ có sự nghèo khổ và không phải là quá sớm để bỏ rơi nó cho người Anh mặc tình muốn làm gì thì làm”.

Những lối đánh giá như thế nói lên được phẩm chất của tác giả. Đã có một Silhouette162 bức bách Dupleix, nay lại có một Conway khiến sự thiết lập của nước Pháp trên Đông Dương chậm đi một thế kỷ.

Giám mục Adran, không hề hay biết gì về quyền hạn ban cho Conway, trở nên nôn nóng. Ông yêu cầu viên thống đốc phải hành động, thực hiện những điều khoản của thỏa ước có mang chữ ký của Đức vua. Nhưng trước những câu trả lời trì hoãn của người đối thoại, ông cao giọng, nổi giận, làm cho cuộc tranh chấp, mãi cho đến trước đó hãy còn kín đáo, mang một kiểu cách gai góc mà không gì có thể xoa dịu được. Ông viết thư cho bộ trưởng để phàn nàn. Cùng lúc ấy Conway lại gửi những ta thán của mình đến Montmorin, nói bóng gió rằng sự việc có thể trở thành một kiểu chiến tranh tôn giáo: “Giám mục Adran ghen tị sự tín nhiệm mà các thừa sai khác vây quanh kẻ tiếm ngôi [Tây Sơn] có thể có được”, “cuộc tranh chấp giữa những thầy tu”, Conway đã viết như vậy. Còn Voltaire khi nói đến cuộc tranh chấp giữa người Anh và người Pháp ở Ấn Độ thì gọi là “cuộc cãi cọ giữa những con buôn”. Thư của thống đốc Pondichéry gửi đến Versailles được ông Luzerne, tân bộ trưởng của Bộ Hải quân đón nhận. Sau khi đọc thư ấy trước Hội đồng Cố vấn, bộ trưởng đề nghị bãi bỏ cuộc viễn chinh ở xứ Đàng Trong, vì giới hạn về tài chính cũng như ông tin vào những xác quyết của Conway. Hội đồng thuận theo ý kiến của bộ trưởng và nhiều lệnh đã được gửi đến bá tước de Conway không những để ngăn không một việc gì được quyền thực hiện chiếu cố đến Nguyễn Ánh, mà còn các đơn vị đồn trú tại Ấn Độ phải được rút đi và các đội quân ấy phải về tập trung tại Ile de France. Mối lo ngại về một cuộc chiến với người Anh, trong lúc nước Pháp không còn trông cậy đến người Hà Lan mà họ vừa mới phản bội nữa, làm mờ đi mọi phán đoán của bộ trưởng. Conway trở về Ile de France và thay quyền d’Entrecasteaux ở đấy.

Không phải như một số tác giả đã viết, nhất là P. Louvet, rằng những biến cố gây ra bởi giai đoạn khởi đầu của Cách mạng đã khiến Versailles dẹp bỏ vấn đề xứ Đàng Trong, thực sự đó là do sự thiếu hiểu biết và sự bất lực của chính phủ Louis XVI.

Pigneau de Béhaine, người đã được thống đốc Pondichéry cung cấp phương tiện để trở về Pháp, công khai phản đối một chính sách khiến cho đất nước phải hổ thẹn vì đã nuốt lời hứa với một vị vua ngoại quốc. Giám mục tuyên bố thay vì bỏ cuộc, chính ông sẽ tổ chức một cuộc viễn chinh.

Giám mục lên tàu La Méduse ngày 15 tháng 6 năm 1789 với bốn tàu chở hàng đi cùng, do các thương gia ở Pondichéry và Ile de France thuê vì họ sẵn lòng ủng hộ giám mục hơn bao giờ hết.

Thủy thủ đoàn bao gồm những đào binh từ hải quân hoàng gia, bị lôi cuốn vì những hứa hẹn dành cho họ, và vì tính thích phiêu lưu thường có ở những người đi biển. Hầu hết các sĩ quan đều làm việc trong ngành thương mãi. Đó là Olivier Puymanel, người xây dựng các pháo đài theo kiến trúc Vauban mà quân Pháp một thế kỷ sau sẽ rất kinh ngạc khi nhìn thấy163, đó là Dayot người sẽ chỉ huy hạm đội của Nguyễn Ánh tiêu diệt hạm đội Tây Sơn, Laurent Barizy đại tá lục quân, Julien Girard, Jean Guillon, Vannier164, kỹ sư Le Brun, de Forsant [hoặc de Forçant], Guilloux, Tardivet, Malespine, Magon de Médine, Lefèvre, vài năm sau có thêm các bác sĩ giải phẫu như Desperles, Despiaux. Chaigneau chỉ rời Việt Nam165 vào năm 1822166. Nhờ vào đội quân đầy quyết tâm và mạo hiểm kia mà quân đội Nguyễn vương, được tổ chức theo lối Âu châu, được trang bị pháo binh hoàn hảo, với một hạm đội vận hành thông thạo, sẽ biến một Nguyễn Ánh đào tị thành Đại Hoàng đế Gia Long.

Trong thời gian Pigneau de Béhaine vắng mặt lâu dài ấy, vị thế của Nguyễn Ánh đã được cải thiện. Sau hai năm lưu trú tại Vọng Các, Nguyễn Ánh không ngừng chuẩn bị chuyến trở về xứ Đàng Trong với những người đi theo đã bắt đầu hy vọng trở lại. Vương gửi gia đình sang đảo Phú Quốc để tránh những can thiệp của vua Xiêm và đổ bộ xuống Hà Tiên, gấp gáp chuẩn bị một đội quân với những người tình nguyện mà sức mạnh duy nhất của họ là nhiệt tình.

Nguyễn Lữ, người trẻ nhất trong anh em Tây Sơn, và vì Lữ mà vương quyền xứ Đàng Trong tan nát, đánh mất cơ hội chiến thắng kẻ thù dai dẳng để mang lại chiến thắng vĩnh viễn. Các tướng thúc giục Lữ tấn công quân Nguyễn Ánh, sáng suốt hứa hẹn với chủ tướng một cuộc thắng lợi mau chóng và dễ dàng. Nhưng Lữ do dự, suy nghĩ, làm mất thời gian, gây phật lòng chư tướng vì sự bất nhất và sợ hãi của mình. Cho đến khi Lữ quyết định hành động thì Nguyễn vương, sau khi chiếm lấy Long Xuyên, đã chinh phục cả vùng Cửu Long, rồi hăng hái tiến quân đe dọa Gia Định, nơi mà những kẻ trung thành đang đợi tin quân của vương để nổi dậy. Kẻ tiếm ngôi hoảng sợ, kéo về ẩn náu tại Biên Hòa, rồi trốn chạy về Qui Nhơn mà không giao chiến. Các tướng của Lữ thất vọng, kháng cự yếu ớt, thoạt tiên đã đẩy lui quân Nguyễn Ánh, nhưng cuối cùng đã để thành Sài Gòn bị bao vây, thất thủ vào ngày 7 tháng 9 năm 1788.

Nguyễn Ánh báo tin thắng trận cho cha Liot đang ở Xiêm, khẩn khoản hỏi thăm tin tức Giám mục Adran mà vương cho rằng đã về lại Pondichéry với quân đội mà vua nước Pháp hứa hẹn.

“Chúng tôi đã chiếm hoàn toàn vùng đất Ba Giồng, Sài Gòn, Bến Nghé, Đồng Nai, Bà Rịa. Vì thế lục quân và thủy quân của địch kinh hoàng chạy trốn. Chúng thâm nhập các cửa sông, gây nhiều thiệt hại cho dân chúng và cướp lấy lương thực. Thế nên chúng tôi vẫn còn tập trung các đội thủy quân để chỉ trong một trận đánh sẽ thắng lợi gấp đôi và chúng tôi sẽ vĩnh viễn tránh khỏi mọi lo âu. Đấy là những hoạt động quân sự đã qua của chúng tôi... Nếu các chiến thuyền và các đội lục quân và thủy quân của nước Đại Tây đã tập trung đầy đủ, thì nên báo trước cho chúng tôi... Trong việc quân sự, cần nhất là phải nhanh chóng và đừng bao giờ trễ nải kéo dài, vì sợ rằng lúc gió ngược nổi lên, binh sĩ và lương thực sẽ càng ngày càng cạn kiệt...”.

Nguyễn vương vẫn còn bị nỗi lo ám ảnh về một cuộc phản công của Tây Sơn. Nhưng anh em nhà này bị chia rẽ vì những tranh cãi gia đình, không hề thực hiện một cố gắng nào để chiếm lại những vùng đất đã mất. Nguyễn Huệ, người thứ hai trong ba anh em thì bận công việc ở Đàng Ngoài. Nguyễn Nhạc, anh cả, lo ngại những tham vọng của em, chăm chút củng cố vị trí của mình ở Qui Nhơn. Mặc dầu thế, Nguyễn Ánh, vốn không quên bài học từ những thất bại trước đây, vẫn cảm thấy sự mong manh của thành công như hồi năm 1782. Sự im lặng của Pigneau de Béhaine làm vương lo lắng, vương sốt ruột mong chờ tin tức của giám mục; cuối cùng tin cũng đến vào tháng 5 với thỏa ước Versailles mà giám mục đã phê chuẩn ngay tại chỗ các điều khoản. Mọi kỳ vọng của vương rơi rụng lúc được thông báo về những trở ngại do bá tước de Conway dựng lên. Những lá thư nhận được từ Pondichéry làm vương nản lòng. May thay, kẻ địch không biết chuyện ấy để lợi dụng. Vương lại nghĩ đến việc cầu viện người Hà Lan thì Giám mục Adran trở về dẫn đầu một đội quân nhỏ mà chính ông đã tuyển mộ và trang bị.

Họa đồ thành phố Sài Gòn vẽ năm 1795 bởi kỹ sư Pháp Lebrun, bên trong có thành Sài Gòn do Đại tá công binh Olivier de Puymanel xây xong năm 1790.

Kể từ đây, Nguyễn vương sở hữu một hạm đội thật sự, với nhiều súng ống đạn được, nhiều thủy thủ, sĩ quan, bác sĩ... tạo nên khung sườn cho một đội quân lợi hại mà nhờ đó vương khôi phục thực sự sức mạnh của triều Nguyễn. Vương hãnh diện nhìn ngắm những chiến thuyền đẹp đẽ đỗ im lìm trên sông, những chiến binh tập luyện theo lề lối phương Tây dưới sự điều khiển của những sĩ quan người Pháp. Xưởng vũ khí luôn luôn nhộn nhịp. Olivier de Puymanel bố trí pháo đài xung quanh thành, và dưới bóng mát của chúng, người dân mua bán yên lành. Trên bờ kênh, gần trại lính, Théodore Le Brun mở một xưởng đóng tàu với một đám đông thợ mộc luôn luôn bận rộn. Người Hoa ở Chợ Lớn được yên tâm, đến giúp đỡ vương bằng những hoạt động không mệt mỏi của họ. Các vùng chung quanh đều yên ổn, thuế thu được vào ngân khố một cách dễ dàng. Lực lượng Tây Sơn, phía bên kia biên giới, dường như đã bỏ rơi vĩnh viễn ý đồ chiếm cứ vùng Nam bộ. Các sĩ quan Pháp, vừa tích cực hoạt động chuẩn bị cho chiến dịch, lại đồng thời lo toan những lợi ích cá nhân với khá nhiều thành công như lá thư sau đây của Olivier de Puymanel gửi cho cha Letondal, linh mục quản lý Hội Truyền giáo tại Manille chứng minh:

“Tôi gửi qua ông Linéa gỗ trắc và gỗ hồng đến Đức cha Agier. Nếu tôi có quen biết trước ông Piron thì tôi đã nhờ ông ấy lo việc này, cho dầu đấy chỉ là số lượng nhỏ. Tôi hy vọng rằng tiền bán số gỗ trên sẽ thỏa mãn rộng rãi những hợp đồng của tôi với Đức cha và với Đức cha Agier, ngay cả với ngài Rochor, người láng giềng của Đức cha. Tôi đã hứa với ngài Rochor 17,5 piculs167 cau để đổi lấy số tachos còn lại, ông ấy không thể bán tháo tachos đi với những thứ khác mà không thua lỗ. Nhiều người Đàng Trong đã làm tôi thất vọng, tôi không có một cân cau nào và tôi đã tin có thể thay vào đó cho ông ta 1,5 piculs sagen168 mà tôi được biết rằng đang ở giá cao nhất. Bởi lẽ ngài ấy không chịu nghe phải trái, tôi đã buộc bỏ bớt 1,5 piculs, là tiền khấu trừ cước vận chuyển với giá 9 mas169 mỗi picul, và những chi phí... và các phí tổn khác. Thế nên, tôi tin rằng ông ấy không có gì để phàn nàn về tôi nữa. Đức giám mục Adran chắc chắn đã nói rõ cho Đức cha biết là tôi đã hoàn tất mọi giấy tờ Đức cha đã gửi đến giám mục. Tôi ao ước được tham dự vào các hội ban của Đức cha. Nếu Thiên Chúa cho phép tôi được dự phần vào danh sách của Đức cha, thì tôi sẽ hết sức hạnh phúc làm tròn bổn phận”.

Đọc lá thư này rất bổ ích. Nó hé lộ một khía cạnh khá là ít biết về đặc tính của thiên sử thi này. Đồng đội của Giám mục Adran không phải là những dũng sĩ. Nếu họ bỏ rơi việc phục vụ Đức vua để đi theo giám mục trong một cuộc phiêu lưu mà tóm lại khá mờ mịt đối với tinh thần của người phương Tây thì bởi lẽ trước hết, họ muốn rút ra từ đó những lợi ích vật chất và tức thì. Sự hào hiệp thông minh và mang tính chính trị sâu xa của thủ lĩnh của họ không thâm nhập được vào trong tâm hồn của những người lính thô lỗ, đơn giản, tham lam và hoang phí vừa là những chiến sĩ can trường vừa là những con buôn lão luyện.

Mặt khác, Pigneau de Béhaine khuyến khích họ duy trì những quan hệ với người nước ngoài để nâng cao uy tín của giám mục. Trong khi các tướng lĩnh An Nam giải sầu bằng trò chơi ba-quan, thì sĩ quan người Pháp buôn bán từ Madras đến Hongkong những sản phẩm trong xứ, đấu tranh thắng lợi chống những kẻ cạnh tranh người Anh và Hà Lan.

Chính nhờ hoạt động thương mãi của các chiến binh thương gia này mà chúng ta biết được nhiều người châu Âu từ thời kỳ ấy, đã có mặt trong những thương điếm ở châu Á và tự ý theo dõi một cách thích thú những hoạt động của người Pháp ở Đông Dương.

Miền Nam bộ xứ Đàng Trong vào thời kỳ ấy duy trì một liên lạc thường xuyên với Hongkong, Goa, Hải Nam, Manille, Malacca, Madras. Chỉ cần vài người phương Tây quả quyết và năng động đủ để mang đến cho đất nước khốn khổ vì cuộc nội chiến này một sự đổi mới thịnh vượng và an lành.

Nhưng định mệnh tưởng chừng ưu đãi Nguyễn Ánh hóa ra lại xoay chiều chống lại ông lần nữa.

Nguyễn vương quyết định chủ động tấn công, hành quân đến Qui Nhơn, là đất của Nguyễn Nhạc, trải rộng quyền lực của mình đến tận Phú Xuân, vì thuở đó tham vọng của vương mới chỉ đến mức ấy. Vương chưa dám mơ vào đến Thăng Long bằng cửa Đại Hưng [nguyên văn: Porte du Milieu], mà chỉ mong lấy lại tài sản của dòng họ, duy trì được việc thờ cúng tổ tiên trong những đình miếu mà chính họ đã dựng nên. Chỉ là hoàn cảnh về sau sẽ thúc đẩy Nguyễn vương phục hồi lại việc thống nhất vương quốc đồng thời kết nối các vùng miền phía bắc vào lãnh địa trước đây của dòng họ.

Nguyễn vương chuẩn bị ra lệnh mở chiến dịch thì lại phải án binh bất động vì dân chúng nổi dậy chống lại áp bức lao động khổ nhọc. Trong khi đó nhóm người Pháp, phẫn nộ vì thái độ thù hằn rõ rệt của các quan tướng, dọa sẽ rời nhiệm sở.

Tình thế trở nên gay go, một số người cho rằng tuyệt vọng, tìm kế dung thân bằng cách đầu hàng quân địch; những kẻ khác rút lui về miền quê, mang theo những người của mình đi cùng, trở về làm ruộng.

Pigneau de Béhaine lo lắng không kém Nguyễn vương. Hoạt động của giám mục gắn liền với hoạt động của vương. Sự tồn vong của sự nghiệp mà giám mục kiên trì thực hiện bằng mọi giá tùy thuộc vào sự thành công của vương. Cuối cùng, trách nhiệm của giám mục gắn liền sâu xa với nước Pháp và Tòa Thánh Vatican buộc rằng những nỗ lực của giám mục không kết thúc bằng thảm họa.

Giám mục dùng mọi uy tín của mình để xoa dịu cuộc xung đột, trước tiên là níu giữ lại những người đồng hương đang chuẩn bị mang về lại đất Pháp những chiếc tàu đẹp đẽ của hạm đội non trẻ, rồi thuyết phục Nguyễn vương dùng những biện pháp an ninh khẩn cấp. Nông dân bị buộc phải lao động trong những công trình xây dựng, được trả về ruộng đồng để cấy lúa. Một khi nguyên nhân chính của cuộc phản loạn tiêu tan, giám mục hướng sự tức giận của vương vào đám quan lại bất tài hoặc mắc lỗi. Quân đội bị răn đe, ngừng mọi than vãn.

Cuộc báo động nóng hổi này làm Nguyễn Ánh suy nghĩ và hủy chuyện xuất binh thảo phạt năm ấy. Vương thanh lọc hàng ngũ tướng sĩ, gạt đi những kẻ rụt rè nhút nhát, giao những chức vụ quan trọng cho những người tận tụy bảo vệ mình lúc hiểm nguy, bắt binh sĩ phải phục tùng một kỷ luật sắt, khuyến khích lòng hăng hái của họ bằng những hứa hẹn tưởng thưởng hào phóng.

Nguyễn vương bảo vệ người châu Âu khỏi những gièm pha công kích của quan lại bằng cách ban cho họ những phẩm trật kèm theo những quyền lợi riêng biệt. Cuối cùng, vương cố kết một cách thân ái dân chúng mỗi ngày một đông hơn với sự nghiệp của mình bằng cách khéo léo ưu đãi những sự quy đạo trong các dòng họ lớn.

Kể từ đó, được yên tâm rồi, Nguyễn Ánh cất quân ra trận. Nhưng Giám mục Adran ốm nặng, không thể đi theo. Vương lẽ ra có thể mau chóng chinh phục được toàn bộ Đàng Trong nhờ có một đạo quân mạnh mẽ, kỷ luật, dưới sự điều khiến của những chỉ huy khôn khéo. Nhưng lòng kiêu ngạo bốc lên khi thấy sức mạnh của mình khiến vương chia nhỏ một cách vụng về các đội quân, không chịu nghe những ý kiến của Laurent de Barizy đang lo sợ trình bày, gây hết sai phạm này đến sai phạm khác, để bị đánh bại rồi phải vội vã rút về Sài Gòn. Đến nơi, vương phải dùng ba mươi ngàn binh sĩ để giữ các pháo đài bảo vệ vương chống lại quân rượt theo.

“Cuộc chiến đấu của nhà vua luôn luôn trong trạng thái ấy”. Chaigneau đã viết như thế về chuyện này. “Năm trước Nhà vua đã hụt mất một cơ hội tốt mà lẽ ra đã thâu tóm được toàn xứ một cách dễ dàng. Nhà vua đã đến tận hang ổ địch, chúng đang bị chia rẽ và không hề chờ quân của Ngài, đến nỗi chúng hoàn toàn bị bất ngờ. Nhưng Nhà vua đã không biết lợi dụng tình thế. Theo chiến dịch vừa qua, tôi rất sợ rằng Nhà vua sẽ không bao giờ làm chủ được đất nước”170.

May mắn là quân Tây Sơn không xuất hiện, nhưng một lần nữa dân chúng nổi dậy. Pigneau de Béhaine vừa mới hồi phục đã phải ngăn chặn cơn thịnh nộ của đám đông, xoa dịu người này, răn đe kẻ khác, thêm một lần nữa ông hỗ trợ triều đình bằng khả năng thu phục nhân tâm.

Năm 1789, ba đại chiến hạm với khoảng một trăm chiến thuyền lớn xuôi dòng sông Sài Gòn. Dayot, người chỉ huy hạm đội mang cờ hiệu của Nguyễn Ánh đi dạo khắp Malacca, Ấn Độ, Philippines, Tích Lan, trước sự ngạc nhiên lo ngại của người Anh và Hà Lan. Dayot mua khắp nơi vũ khí và đạn được cần thiết cho một cuộc tấn công mới đánh quân Tây Sơn. Olivier de Puymanel xây dựng các thành lũy trong khắp vương quốc, dự phòng một cuộc rút lui có thể xảy ra, đồng thời củng cố một đạo quân thiện chiến gồm sáu mươi ngàn người được huấn luyện theo chiến thuật Tây phương từ đấy đặt dưới quyền điều khiển của Nguyễn vương.

Năm 1791, vì cho rằng hoàng đế Thái Đức sẽ tấn công nên Giám mục Adran thúc giục Nguyễn Ánh hành động, vương quyết định đột kích thuyền bè mà đối phương đang cất giữ dự phòng trong cảng Qui Nhơn.

Dayot và Vannier tiên phong khởi hành dẫn đường cho hạm đội, tới trước cảng, họ neo đậu tàu lại đúng tầm của các pháo đài để chặn đường bắn cho phép các tàu chuyển quân tiến vào vịnh không bị nguy hiểm. Quân Tây Sơn kinh ngạc, không có đủ thời gian để vào vị trí chiến đấu. Kinh hoảng, họ kháng cự vụng về và trốn chạy mặc cho các thuyền bè và các cơ sở bị thiêu rụi không sao ngăn cản được.

Hai thuyền trưởng trở về Sài Gòn mang cho Nguyễn vương, cùng với nhiều chiến lợi phẩm là tin tức về cái chết của Nguyễn Huệ, xảy ra vào tháng 7171 trước đó.

Cái chết ấy gây một ảnh hưởng to lớn trên những sự kiện tiếp theo, vì con trai của Nguyễn Huệ là Cảnh Thịnh172 hãy còn rất trẻ, không đủ nghị lực cũng như trí tuệ để bảo toàn ảnh hưởng của vua cha đối với nhà Tây Sơn. Nhà vua trẻ không chậm trễ mở cuộc đấu tranh công khai với bác ruột của mình và đuổi Nguyễn Nhạc ra khỏi lãnh thổ của ông173.

Những sự kiện ấy đã khuyến khích Nguyễn Ánh theo đuổi thắng lợi của mình. Năm tiếp theo, Nguyễn vương long trọng chỉ định con trai mình làm người kế vị174, giao trấn giữ Gia Định, chịu dưới quyền chăm sóc tinh thần của Giám mục Adran đồng thời lệnh cho hoàng tử phải vâng lời giám mục như vâng lời phụ thân. Sau đó, tập trung mọi chiến thuyền, Nguyễn vương dong buồm ra Qui Nhơn trong khi hoàng thân Hội175, người anh em họ của vương cùng tướng Võ Tánh và Nguyễn Văn Trương176 theo đường bộ tiến chiếm Diên Khánh. Thành này đầu hàng ngay lập tức.

Nguyễn vương tiến vào hải cảng Qui Nhơn, nơi đây hệ thống phòng thủ hãy còn ngổn ngang vì cuộc tấn công của Dayot năm trước, chưa kịp tổ chức lại. Vương đẩy lùi quân địch về chiến lũy, trong khi ấy hoàng thân Hội đang tiến về Phú Yên, thình lình gặp quân của Nguyễn Nhạc chạy đến chặn lại. Nguyễn Ánh hay tin vội vàng kết hợp với bộ binh, phá tan hàng ngũ đối thủ lâu đời, buộc Nhạc phải rút về cố thủ trong thành Qui Nhơn. Hoàng thân Hội vây thành chặt chẽ, nhưng cuộc vây hãm kéo dài vì lỗi của Nguyễn Ánh khi cho rằng thành sẽ đầu hàng mà không kháng cự. Vương không nghe lời những người Âu đi cùng, để cho Nhạc có thời gian hòa giải với cháu mình, nhờ đó Nhạc có viện binh ba mươi ngàn người. Nguyễn Ánh kinh sợ khi thấy đạo quân ấy, phải bỏ vây thành và vội vàng rút về Nam bộ.

Được giải vây, Nguyễn Nhạc tìm cách tránh thoát lực lượng đồng minh mà mình có lý do để cho rằng có ý đồ đáng ngờ. Nhạc cố đẩy lực lượng ấy ra xa, không cho vào trong thành. Nhưng các tướng lĩnh của Cảnh Thịnh tuyên bố sẽ tấn công thành nếu các cửa không mở. Nhạc đành chịu nhịn, mời các quan hàng đầu vào trong thành, tuyên bố từ bỏ quyền lực, quyết định sống như một thường dân.

Như thế Cảnh Thịnh, cháu của Nguyễn Nhạc, trở thành chủ nhân của Bắc Hà và cả miền Trung.

Vài tháng sau Nhạc chết một cách bí hiểm, không trao lại cho con trai là Nguyễn Bảo177 những thành quả một đời phiêu lưu của mình (ngày 13 tháng 12 năm 1793).

Nhận thấy nỗ lực của địch càng lúc càng trở nên khẩn trương hơn và quân đội của Cảnh Thịnh đang tiến gần tới Nha Trang, Nguyễn Ánh bèn củng cố nhân lực và đạn được cho những đơn vị phòng vệ dưới sự chỉ huy của Hoàng tử Cảnh, người vừa mới được bổ nhiệm trấn thủ thành Diên Khánh. Lúc quân Tây Sơn đến thì thấy thành đã sẵn sàng chống trả mọi cuộc tấn công. Tuy nhiên, người trong thành không phải không run sợ khi thấy bốn mươi ngàn quân Tây Sơn sẵn sàng xung trận, với ba trăm thuyền buồm đảm bảo lương thực tiếp tế. Tướng Nguyên-Duyên giả nghi binh đánh lạc hướng địch nhưng không thành công. Sau đó, quân bị bao vây phải ẩn nấp trong các chiến hào. Giám mục Adran có mặt trong thành bị tấn công và động viên tinh thần các tướng sĩ. Ông là linh hồn của cuộc kháng chiến, điều khiển các công tác phòng thủ, bất chấp nguy hiểm vực dậy lòng tin cậy, đặt bày những mưu mẹo khiến địch hoang mang, làm thất bại các thủ đoạn của chúng và tổ chức một cuộc đột phá vòng vây mãnh liệt làm vô hiệu hóa mọi nỗ lực của kẻ thù.

Cha Lavoué, chứng nhân khách quan và bắt buộc của cuộc phiêu lưu quân sự này, còn giữ được từ cuộc náo động chiến tranh vây quanh mình một kỷ niệm tuyệt vời:

“Ba tháng sau khi Hoàng tử Cảnh đến Nha Trang thì quân địch xuất hiện. Tất cả mọi người đều phải cố thủ trong thành vừa mới được vội vã gia cố. Chắc chắn rằng nếu Đức cha (Giám mục Adran) không ở đó thì quân địch đã chiếm thành trong nháy mắt, bởi lẽ bảy ngàn binh tướng trong thành rất lo sợ khi thấy trước mặt một đạo quân thiện chiến bốn mươi ngàn người. Đạo quân này vây hãm thành mà ta không cách gì chống lại. Họ ném vào thành một số lượng hỏa cầu nhưng không gây thiệt hại gì cả, đại bác của họ cũng không gây nhiều thiệt hại. Mọi người đều hướng mắt nhìn về Đức cha và yên lòng khi thấy sự bình thản và yên ổn trên nét mặt của ông: ‘Đức thầy không lo sợ gì cả, thì cớ gì chúng ta lại lo sợ? - họ nói với nhau như vậy’. Những lời khuyên khôn ngoan và thận trọng của Đức Giám mục, và những mệnh lệnh ban ra đúng lúc làm bối rối quân Tây Sơn đến nỗi hai mươi ngày sau họ buộc phải bỏ cuộc vây hãm và tiu nghỉu rút lui”.

Ngày 12 tháng 7 năm 1796, cha Labousse kể rằng bên trên tường thành, quân phòng thủ đã bố trí một số “đại bác bằng gỗ sơn rất giống thật” mà Giám mục Adran đã cho đặt ở đó để dọa quân địch. Cũng có một số đại bác thật, nhưng không được dùng, theo lời khuyên của giám mục. Tóm lại, theo ý kiến của những nhân chứng Tây phương, cuộc bao vây thành Diên Khánh là một tác chiến quan trọng trong thời kỳ ấy. Nó cảnh báo Nguyễn Ánh và đe dọa chặn đứng mọi thành công mà các sĩ quan Pháp vừa mới bắt đầu sự phát triển. Nhưng thực ra, đó chỉ là một cuộc pháo kích đơn giản, không gây nhiều hậu quả nghiêm trọng và hành động của binh sĩ là tập trung thực hiện một cuộc xuất kích vào ngày 21 tháng 5, kéo theo sự rút quân của phe công thành, và thực hiện một số mưu kế.

Năm 1799, Nguyễn Ánh trao quyền chỉ huy Nam bộ cho Hoàng tử Hy178 rồi đem quân ra Qui Nhơn một lần nữa179.

Quân đội chia làm ba đạo và sẽ tập trung lại dưới chân kinh thành cũ của hoàng đế Thái Đức. Cánh thứ nhất dưới quyền chỉ huy của tướng Thoại180 đi theo đường núi nước Lào để tuyển người bổ sung quân số và tập trung voi mà đơn vị đang cần. Đạo thứ hai, do tướng Thành181 chỉ huy tiến quân theo đường chạy giữa biển và dãy hoành sơn đầu tiên của Trường Sơn [de la Chaîne annamitique], băng qua vùng đất vương quốc Chàm trước đây, trong khi ấy tướng Thái182 và Hoàng tử Cảnh đánh địch ở những điểm trung gian.

Tướng Thành sau khi đánh lấy chiến lũy Ân Mỹ [nguyên văn: fort de An-Mi], may mắn đến kịp gần Qui Nhơn. Nơi ấy Nguyễn Ánh cùng Võ Tánh theo đường biển đã đến và đang chờ Thành.

Hai tướng nhận lệnh hợp đồng tác chiến. Họ tấn công dữ dội đồn Tam Tháp [nguyên văn: Tam-Thap], nơi được xem như chìa khóa của kinh thành, chiếm lấy căn cứ rồi đồn trú vững chắc nơi ấy. Quân Tây Sơn tìm cách chiếm lại vị trí ấy nhưng bị Lê Văn Duyệt tấn công từ đằng sau và bị nghiền nát tại Kỳ Đáo183.

Nguyễn Ánh đặt bộ chỉ huy của mình trên một cao điểm trông xuống chiến trường Kỳ Đáo, ở phía tây nam vị trí đóng quân của Lê Văn Duyệt và tự tin rằng rất an toàn với cách bố trí ấy, không cần phải bọc quanh mình bằng những lực lượng bảo vệ quan trọng. Tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu184 muốn khai thác sai lầm ấy để buộc vương phải bỏ vị trí. Khi đêm xuống, quân Tây Sơn trườn mình tiến theo những đường rãnh sườn đồi thì bỗng có một con nai bị xua khỏi chỗ núp hoảng hồn nhảy vọt ra khỏi mấy bụi rậm. Những binh sĩ đi đầu muốn làm yên lòng đồng đội, kêu lên: “Nai! Nai!” Nhưng những người đi sau nghe nhầm là “Đồng Nai”, tên dùng để gọi quân của Nguyễn Ánh. Cho rằng đã mất yếu tố bất ngờ, họ bỏ chạy tán loạn và bị quân của Nguyễn vương, nhờ sự náo động báo động, rượt đuổi.

Ngày hôm sau, thành đầu hàng. Nguyễn vương giao việc trông coi cho tướng Võ Tánh. Võ Tánh cô lập hoàn toàn vị trí này đối với thành Qui Nhơn lúc ấy vẫn còn trong tay địch.

*

*         *

Chính trong giai đoạn bao vây này thì Giám mục Adran qua đời, mòn mỏi vì thời tiết và những mệt mỏi của một thiên chức đặc biệt đầy sóng gió, vào lúc ông sắp trao cho Nguyễn Ánh vương quyền của một vương quốc Á châu, bị chia rẽ, mất thăng bằng bởi hai mươi lăm năm nội chiến và hỗn loạn.

Pigneau de Béhaine đã từng mơ về một tình hữu nghị Pháp - An Nam, có thể mang lại cho người Pháp một đền bù cho việc mất mát ở Ấn Độ. Thỏa ước mà giám mục khiến cho Louis XVI ký, chứa đựng cả một bài học; nó tránh cho chúng ta những hy sinh và những do dự bởi sự bành trướng của chúng ta ở châu Á xảy ra một cách bột phát, thiếu tinh thần liên tục, không có trước một kế hoạch chín muồi. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng nếu những quan niệm của Pigneau de Béhaine không được các bộ trưởng, mà hiểu biết về kinh tế làm họ không thể thực hiện kế hoạch của giám mục, nghe theo, cũng chính bởi vì nước Pháp bị thương tổn sâu xa nhất ở Âu châu, không cảm thấy bị thu hút vào những cuộc chinh phục xa xôi, với tâm trạng chấp nhận cuộc thử thách, chỉ khi nếu tại châu Âu vị trí của nước Pháp vượt trội và bất khả chiến bại và nếu nước Pháp không phải tập trung sức lực và nhân sự cho một cuộc bảo vệ tuyệt vọng lãnh thổ của mình.

Về sau, những nhân vật cầm quyền nước Pháp nhận thấy không thể thúc đẩy các lực lượng quốc gia hướng về một cuộc bành trướng thuộc địa chu đáo và liên tục. Trong ý thức của họ, trong những kinh nghiệm của nhà ngoại giao và nhà kinh tế, họ đã tiên cảm về sự cần thiết của chính sách này. Ngay cả có lúc họ nhận ra một cách rõ ràng những lý do [để thực hiện chính sách đó], nhưng họ không thể truyền đạt tầm nhìn xa ấy cho dân chúng vốn chỉ thấy lợi ích của mình dưới một góc hẹp và tức thời.

Dù gì đi nữa, hành động cá nhân của Giám mục Adran phải được nhìn như nguyên nhân ban đầu của việc can thiệp quân sự của chúng ta vào Đông Dương. Quả tình, chính điều khoản của thỏa ước năm 1787 nhường tất cả tài sản vịnh Tourane cho nước Pháp, cũng như hàng loạt những khủng bố đàn áp các giáo sĩ thừa sai dưới thời vua Tự Đức, trở thành cái cớ cho Chính phủ Pháp can thiệp vào nội tình nước An Nam.

Sự qua đời của Giám mục Adran đã gây xúc động mãnh liệt cho Nguyễn vương, vẫn là người yêu mến người bạn đồng hành lâu năm thời khốn khổ của mình, mặc dầu trong suốt cuộc sống, vương đã vây quanh mối quan hệ với giám mục bằng sự lập lờ nước đôi. Vương không giấu diếm rằng đã mang ơn Pigneau de Béhaine về ngai vàng và kể cả sự sống của mình. Vì thế vương đặc biệt tôn kính tưởng nhớ người đã khuất, tự bản thân cùng với gia đình đến viếng mộ phần của nhân vật mà người An Nam đến mãi hôm nay vẫn xem như người bạn lớn của dòng giống mình.

“Đức cha Pigneau de Béhaine là người bạn và là người hướng dẫn vua Gia Long185 đến sự thịnh vượng, sau khi yểm trợ và nâng đỡ vua từ cảnh bất hạnh, qua đời ngày 9 tháng 10 năm 1799”. Cha Lefebvre đã viết như thế. “Thi hài của Đức cha được ướp hương theo lệnh của Nguyễn vương, được đưa về Sài Gòn và giữ gìn trong một quan tài tuyệt đẹp trong hai tháng. Vào ngày định trước cho việc lễ tang, người ta thấy đám đông những tín đồ Thiên Chúa cũng như những người quý mến Đức cha đi theo đám tang cùng với các quan mặc lễ phục. Mọi người đều tỏ ra đau đớn và thành kính tưởng niệm. Nguyễn vương đã yêu cầu người ta làm cho Giám mục Adran mọi điều đạo Thiên Chúa cho phép và ra lệnh cấp cho các vị thừa sai mọi thứ mà họ có thể cần. Bản thân Nguyễn vương cũng đến dự lễ tang cùng với các tướng sĩ từ nhiều đơn vị khác nhau. Điều kỳ lạ là mẹ vương và em gái vương cũng đi theo đến tận mộ giám mục. Vệ binh của vương gồm mười hai ngàn người mang vũ khí đi hộ tống. Hơn một trăm voi cùng với lính đi kèm dẫn đầu và đoạn hậu đoàn đưa tang do chính hoàng thái tử chỉ huy theo lệnh của phụ vương. Pháo dã chiến được kéo theo đoàn đưa tang từ một giờ sáng đến chín giờ sáng. Tám mươi người được chọn để vác quan tài đặt trong một cỗ kiệu tuyệt đẹp. Trong buổi đưa tang có chừng năm mươi ngàn người, không kể những kẻ chỉ đứng quan sát, đi theo dọc hai bên đường kéo dài đến nửa dặm.

Bắt chước những người Thiên Chúa giáo, vương ném một ít đất vào huyệt mộ và nói những lời vĩnh biệt cuối cùng vừa khóc nức nở.

Để tuân theo ý nguyện cuối cùng của Giám mục Adran, vương cho chôn cất giám mục ở một khu đất nhỏ mà giám mục sở hữu gần thành Sài Gòn và cho dựng một đài tưởng niệm do một họa sĩ Pháp vẽ và coi sóc công trình. Trong suốt nhiều năm, một đội lính danh dự liên tục canh gác khu vườn và ở Nam bộ kẻ nào muốn chơi đùa hay cư ngụ nơi ấy được cho là kẻ làm uế tạp chốn linh thiêng”.

Lý do quan trọng dẫn dắt Giám mục Adran, mục đích chi phối mọi nhận thức chính trị của ông và kết hợp chúng lại với nhau, chính là chuyện cải đạo của người An Nam, thông qua chuyện cải đạo của Hoàng tử [Cảnh] mà giám mục phục vụ. Lòng đầy kỳ vọng, giám mục đã thất vọng vì cách cư xử nước đôi của Nguyễn Ánh, vừa phải là người dàn xếp khéo léo tính nhạy cảm tự ái của một số quan lại và của một phần dân chúng, cố sức xoa dịu sự sợ sệt của một số người này lại vừa phải duy trì nhiệt tình của những người khác mà vương cần.

Không sẵn lòng từ bỏ phong tục thờ cúng tổ tiên, vương [nguyên văn: prince] làm ra vẻ như không thấy trở ngại nào cho việc cải đạo của mình ngoài những lời lẽ trong sắc chỉ của Giáo hoàng Benoit XIV. Một cách có dụng ý, vương bày tỏ sự ủng hộ đối với đạo thờ cúng tổ tiên.

“Mong rằng tập quán này có thể dung hòa với đạo Thiên Chúa”, vương nói như thế, “vì theo cách tôi thấy, không có những lý do thực sự có thể ngăn cản cả vương quốc chúng tôi trở thành tín đồ Thiên Chúa. Tôi đã cấm môn ma thuật và chiêm tinh mang tính phán xét, tôi xem việc thờ cúng thần thánh là sai lầm và mê tín, và nếu tôi còn chịu đựng các sư sãi, là vì tôi không muốn làm dân tôi bực tức. Chuyện một vợ một chồng cũng không phải là nguyên tắc mà chúng tôi phải khổ công thuyết phục lấy chính mình. Nhưng tôi thiết tha việc thờ cúng ông bà và theo cách tôi đã trình bày với Thầy, đối với tôi, việc ấy không có gì là kỳ cục. Điều này là căn bản của nền giáo dục của chúng tôi. Nó tạo nên cho các bậc phụ mẫu chúng tôi một uy quyền để cai trị gia đình được nề nếp. Thờ cúng tổ tiên đã trở nên phổ biến, lan rộng và ăn sâu. Tuy thế, tôi cũng mong ước như Thầy rằng điều này phải được thiết lập trên sự thật và ta phải tránh xa mọi sai lầm. Vậy nên, nếu tôi tuyên bố những tình cảm nói trên cho dân chúng, và làm cho họ hiểu rằng lễ nghi chỉ được thực hiện dưới góc độ thuần túy dân sự, rằng nếu họ tin là vì mục đích khác thì đó là sai lầm của họ... cách làm đó sẽ miễn thứ cho tín đồ Thiên Chúa và cho phép họ tuân theo tập quán thờ cúng tổ tiên chăng? Tôi cũng chấp nhận thay đổi các loại lễ nghi mà Thầy cho là mê tín, nhưng nếu tôi gạt bỏ đi tất cả, tôi sẽ làm tăng thêm mối nghi ngờ của dân chúng đối với cách suy nghĩ của tôi và có thể rằng, nếu họ tin tôi đã thay đổi tôn giáo thì họ rồi sẽ rất ít gắn bó với tôi. Tôi xin Thầy vui lòng để ý đến chuyện này và cho phép các tín đồ Thiên Chúa xích lại gần hơn chút nữa với phần còn lại của thần dân tôi. Lối cư xử ấy rất đáng mong ước trong đám dân thường, và trở nên cần thiết giữa những người đang giữ những chức vụ quan trọng trong quốc gia.

Quả tình, Thầy hiểu rằng ở những giai đoạn khác nhau, trong suốt trọn năm, nghi thức của triều đình quy định nhiều lễ lược và bản thân tôi bắt buộc phải có mặt ở đấy với tất cả tướng sĩ đi theo. Nếu phần lớn các tướng trong số họ theo đạo Thiên Chúa, thì trong những trường hợp ấy, không thể làm giống như họ, tôi sẽ bị bắt buộc thực hiện các nghi lễ ấy gần như chỉ một mình, và như thế tôi làm giảm giá sự uy nghiêm của ngôi vua. Nếu ngược lại Thầy có thể, kết hợp với tôi, trình bày cho thần dân tôi hiểu, điều mà tất cả những ai có suy nghĩ cũng đã tin tưởng, những tướng sĩ Thiên Chúa giáo cũng có thể đi theo tôi và cũng thờ cúng tổ tiên như những người khác, thì sẽ không có lý do gì mà gạt họ ra khỏi những địa vị hàng đầu của quốc gia”.

Cuộc cãi vã cũ rích về các nghi lễ, mà nửa thế kỷ trước La Mã đã điều chỉnh một cách vụng về, đã được vương khéo léo khai thác để chống lại những luận chứng nôn nóng của giám mục, bằng ý muốn luôn luôn gắn bó vào một nguyên lý xã hội và tôn giáo mà ông cho là căn bản. Vương hé lộ ước ao sự xích lại gần các thần dân Thiên Chúa giáo với thần dân ngoại đạo, mà bản thân ông không chọn một bên nào.

Vì vậy, ông Boisserand lấy lại quan niệm xưa cũ của các giáo sĩ dòng Tên, quyết định dùng một giải pháp trung gian, đó là giữ lại hình thức thờ cúng tổ tiên đồng thời loại trừ khỏi nghi lễ ấy mọi ý nghĩa tôn giáo. Ông viện dẫn những thực tế thần học và những lễ nghi đã xảy ra ngay ở Versailles, vào lúc nhà vua qua đời, trong nhiều ngày liên tục, người ta vẫn dọn cho nhà vua những bữa ăn như thể nhà vua còn sống.

Giám mục Adran đã chấp nhận sự dàn xếp ấy. Ông nhiều lần viết thư cho các giám đốc của Chủng viện ở Paris để trình bày một cách khoáng đạt và mới mẻ quan niệm của ông về vấn đề trên, thậm chí ông còn muốn thiết lập một nghi thức tế lễ kiểu Trung Hoa dành cho các dân tộc châu Á.

Cái chết đến bất ngờ khi giám mục đang suy tư, vào lúc mà sự cải đạo bí mật của hoàng thái tử mở ra tương lai của những niềm hy vọng đầy khích lệ.

« Lùi
Tiến »