Vua Gia Long

Lượt đọc: 2563 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương IV

 Người Pháp ra đi

- Thủy chiến tại Qui Nhơn

- Cái chết của Hoàng tử Cảnh

- Đánh chiếm thành Huế

- Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế

- Quân Nguyễn lấy lại thành Qui Nhơn

- Mặt trận ở xứ Đàng Ngoài

- Công trình hành chính của vua Gia Long

- Chính sách đối ngoại của vua Gia Long

- Chính sách thuộc địa của quận công Richelieu

- Sứ mệnh của ông Kergariou

- Sứ mệnh của Chaigneau

- Cái chết của vua Gia Long

Sự qua đời của Pigneau de Béhaine đã làm những người Pháp đi theo giám mục đến Đàng Trong cực kỳ buồn khổ. Họ mất đi ở giám mục, không chỉ một người bạn đáng kính mà còn một người thủ lĩnh nghị lực có uy tín to lớn đủ sức bảo vệ họ chống lại mối căm hận âm thầm của các võ tướng, ghen tị với họ vì họ có được sự tín nhiệm của Nguyễn vương và vì vị thế ưu đãi mà họ đạt được.

Nhiều người trong bọn họ đã từ lâu mong muốn về lại nước Pháp, nhưng vì tình cảm gắn bó với Pigneau de Béhaine níu giữ họ lại phục vụ cho Nguyễn Ánh, giờ đây lại nôn nóng khẩn khoản vương cho nghỉ ngơi và được vương chấp thuận với nhiều luyến tiếc.

Những người còn ở lại thì được vô số ân sủng, và chừng nào vua Gia Long186 còn sống thì chừng đó họ vẫn được trân trọng xem như những chiến hữu lão thành mà với họ không yêu cầu nào lại bị từ chối.

Trước di hài người bạn quá cố lừng lẫy, vương thể hiện một sự tôn trọng gần như tình phụ tử, khác xa với những điều lệ của nghi thức hoàng gia, quả tình Nguyễn Ánh đã nghe theo những tình cảm chân thật, nhưng vương cũng muốn xác định với thần dân sự quý trọng ở mức độ nào đối với nhóm người Pháp mà vương còn nợ họ một phần lớn công sức đối với cuộc phục hưng của mình. Vương làm tròn nhiệm vụ thành kính, vừa tính toán với hy vọng thu phục những người tận tụy trước đây thường vây quanh người quá cố.

Nhưng bỗng dưng nhiều người Pháp cảm thấy nhớ quê hương, và ít người trong bọn họ đáp ứng nguyện vọng của Nguyễn Ánh, vương buồn bã chứng kiến sự ra đi của những người tổ chức quan trọng của quân đội mình, ngay chính vào lúc sự có mặt của họ là cực kỳ cần thiết.

Quả thật quân Tây Sơn, vốn thoái chí nản lòng vì mất thành, nay cực kỳ hoan hỉ khi biết tin giám mục đã qua đời và Nguyễn Ánh thì rối ren lúng túng. Lúc ấy, Cảnh Thịnh nghĩ đến chuyện bỏ kinh thành [Qui Nhơn] cho Võ Tánh và tiến công về Gia Định. Nguyễn Ánh, trước nguy hiểm đe dọa tiêu diệt mọi cố gắng của mình thêm một lần nữa, không chịu để các vị trí của mình lại bị tấn công. Vương vội vàng tập trung quân và cấp tốc tiến quân về Qui Nhơn và chặn đứng đối phương trước khi chúng kịp xung trận.

Trong lúc ấy, đội quân bộ của tướng Thành lần lượt hạ các vị trí phòng thủ Qui Nhơn và kết nối được với Võ Tánh vẫn còn bị vây trong thành, hạm đội của Nguyễn Ánh xuất hiện trước cửa đầm187 ngày 1 tháng 3 năm 1801.

Lối vào đầm có nhiều dàn pháo mạnh mẽ án ngữ với tầm bắn đủ ngăn chặn mọi cuộc tấn công của các đại chiến hạm Đàng Trong, đồng thời bảo vệ đầm phá, nơi đang ẩn náu những tốp binh lính thiện chiến nhất có thể chống lại một cuộc đổ bộ bất ngờ.

Quân Tây Sơn không quên cuộc tập kích năm 1791, vì thế, bắt chước theo chiến thuật của Dayot, họ đã neo lại ba chiến thuyền lớn nhất để hỗ trợ mạnh mẽ hoạt động của pháo binh trên đất liền.

Trước những bố trí như thế, Nguyễn Ánh từ bỏ ý định tổng tấn công với tất cả lực lượng, vương chỉ mang theo mình hai mươi sáu thuyền chiến và chừng một trăm sà-lúp chở bốn ngàn người cùng tiến tới trước mặt quân địch. Họ đến trước bến tàu vào ban đêm, cho thuyền nhỏ chở quân đổ bộ xuống ở góc tứ giác của pháo binh địch [vùng ngoài tầm bắn], trong khi ấy các thuyền chiến, nhờ bóng đêm càng lúc càng dày đặc và nhờ gió biển thổi vào, lặng lẽ tiến đến gần các chiến hạm neo đậu trong vịnh để tấn công rồi đốt cháy.

Lối vào như thế trở nên thông thoáng, toàn bộ hạm đội của vương tiến vào trong đầm nơi mà quân Tây Sơn, vất vả vì gió ngược, tranh nhau trên những mảnh thuyền vỡ, quáng mắt vì những đám cháy, tìm cách kháng cự một cách tuyệt vọng, trong một cơn rối loạn lại càng gia tăng bởi cách bắn thiếu kiểm soát của chính pháo binh của mình. Trận chiến khốc liệt khắp mọi nơi, kẻ địch trên tàu vẫn còn hăng hái chống cự bằng pháo binh mãi cho đến tận khi hỏa hoạn bắt mồi đến thuốc súng, toàn hạm đội biến mất trong một cơn thiêu rụi hoàn toàn.

Những thiệt hại về phía Nguyễn Ánh là to lớn, nhưng thiệt hại phía quân Tây Sơn thì đau đớn hơn rất nhiều, không thể so sánh nổi. Hơn hai mươi ngàn quân của vua Cảnh Thịnh mất trong trận này, toàn bộ hạm đội, sáu ngàn đại bác và vô số khí giới khác, vàng và đá quý chất trên các chiến hạm. Chaigneau, người đã đóng góp to lớn vào chiến công rực rỡ này, kể lại sự việc như sau:

Jean Baptiste Chaigneau (1769-1832)

Ngôi nhà của J.B. Chaigneau ở Huế

“Chúng tôi vừa đốt cháy toàn bộ hạm đội địch, không sót một chiếc thuyền nhỏ nào. Đấy là trận chiến đẫm máu nhất mà quân Đàng Trong chưa hề gặp trước đây. Địch quân kháng cự tới chết và quân ta thì chiến đấu phi thường. Chúng tôi có quá nhiều thương vong, nhưng điều này chẳng là gì so với những thắng lợi mà vương đạt được. Các ông Vannier, Forsans và tôi đã có mặt ở đó và trở về toàn vẹn. Trước đây, tôi đã xem thường khi thấy hạm đội địch, nhưng tôi khẳng định là tôi đã sai lầm. Quân địch có những chiến hạm trang bị từ năm mươi tới sáu mươi đại bác cỡ lớn.

Quân Tây Sơn hẳn là rất bối rối, nhiều người muốn đầu hàng, nhưng họ bị từ chối. Vương cho phép họ trở về sống bình yên ở quê nhà và không được tham dự vào chiến tranh nữa.

Năm nay, chúng tôi không trở về Sài Gòn vì nhà vua đưa các chiến hạm đi thu thóc cho mình”.

Hạm đội Tây Sơn bị tiêu diệt vài ngày trước khi thành Qui Nhơn bị chiếm188, đó là nơi vinh danh các đại tướng Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt.

Cuộc chiến thắng lớn lao này bị giảm sút vì cái chết của Hoàng tử Cảnh, xảy ra vào ngày 20 tháng 3 năm 1801189. Barizy, người báo tin cho Đức cha Letondal về cái chết ấy đã nhận thức sáng suốt những hậu quả của sự mất mát này. Hoàng thái tử vốn được Giám mục Adran dạy dỗ, có những phẩm chất có thể miễn chấp các sai phạm và khuyết điểm của mình. Hoàng tử yêu mến những người Pháp và coi họ là những vị cứu tinh của gia tộc mình. Ít được học hành hơn em trai là Hoàng tử Đảm190, nhưng nhạy cảm hơn em mình, hoàng tử luôn theo đuổi mục đích hòa giải giữa sự cần thiết của một tôn giáo mang tính quốc gia với sự ích lợi trong việc ủng hộ công trình hợp nhất của Hội Thừa sai.

Nếu nối ngôi được, Hoàng tử Cảnh chắc chắn sẽ không cai trị đất nước mình với quyền lực và sự thông minh của vua Minh Mạng, nhưng chính sách của hoàng tử sẽ làm cho tương lai An Nam và các mối liên minh mà hoàng tử trù liệu bảo đảm được sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc mình.

Cái chết của hoàng tử không kéo theo một thay đổi rõ rệt nào về tình cảnh của những người Âu châu còn cư trú trong vương quốc. Những tình cảm của Nguyễn vương luôn luôn nồng nàn đối với những chiến hữu cùng phiêu lưu của mình. Nhưng ngay cả lòng nhân từ đó và sự an toàn của nó đều lệ thuộc vào đời sống của một con người mà chiến tranh, những bất hạnh và sự quá lạm đã làm hao mòn sớm trước tuổi. [Nguyễn Phúc] Đảm được phong hoàng thái tử bất chấp hậu duệ của anh cả mình191, công khai quy tụ quanh mình những vị quan hiềm thù nhất với đạo Thiên Chúa và với những quan niệm của Hoàng tử Cảnh. Hoàng tử Đảm bày tỏ rộng rãi ý định gửi trả về nước những giáo sĩ ngoại quốc, đóng các hải cảng, ngưng thương mãi với người Âu châu, xây dựng An Nam thành một cường quốc đặc biệt ở Á châu, đối lập với mọi ảnh hưởng Tây phương, phục hồi lại trong đất nước chủ nghĩa thuần túy hài hòa với những điển lệ Khổng giáo.

Nguyễn Ánh dường như đã không chống đối quan điểm khắt khe nghiêm ngặt của thái tử. Người ta còn dám nghĩ là vương đã bí mật khuyến khích một quan điểm chính trị mới mà những cam kết và lòng biết ơn thật sự với những người Pháp ngăn cản vương tự thân theo đuổi. Mặt khác, chiến tranh chưa kết thúc, quân Tây Sơn vẫn còn chiếm đất Phú Xuân, kinh đô của Đàng Trong. Nguyễn Ánh vẫn chỉ là chúa của vùng Nam bộ chừng nào ông chưa ra chiếm được kinh thành thiêng liêng kia. Như thế, mục đích vẫn chưa đạt được và để đạt được điều ấy, vương cần phối hợp mọi lực lượng mà vương có thể có được. Thế nên, vì lý do chính trị, cũng như bị thúc đẩy bởi những tình cảm cá nhân nên vương vẫn nể nang đối xử khéo léo với những bạn đồng hành cũ của Pigneau de Béhaine.

Hạm đội Tây Sơn đã bị tiêu diệt, nhưng Võ Tánh, từ hai năm nay vẫn bị vây trong thành Qui Nhơn đã kiệt sức kháng cự, quân đồn trú đã rã rời, thiếu lương thực và đạn được, không còn sức chống lại một cuộc tấn công dũng mãnh. Nguyễn Ánh do dự việc giải vây thành vì tướng Thành vừa mới chiếm Tourane trong khi đó, tướng Lê Văn Duyệt vẫn tiếp tục tiến quân vừa quan sát quân đội của vua Cảnh Thịnh. Đấy là cơ hội duy nhất để tấn công thành Phú Xuân, với điều kiện không để địch quân có đủ thời gian bảo vệ thành trì trước khi quân của vương kịp đến nơi. Nhưng vương còn lo ngại để lại đằng sau mình một chiến lũy mà quân Tây Sơn sẽ chiếm cứ sau khi vương rời đi, như thế là cắt đường trở về trong trường hợp cần lui binh. Tuy vậy, vương vẫn nhẫn nại, ra lệnh cho Võ Tánh ban đêm bỏ thành và đến hội quân với vương. Tướng Võ Tánh khuyên vương hãy để mình ở lại và cứ tiến quân thẳng ra Phú Xuân, trong lúc phần lớn quân địch phải còn ở lại đây để vây thành, không thể ra để tiếp viện.

Quan lại Tây Sơn, 1793 - tranh vẽ của hoa sĩ William Alcxander.

Nguyễn Ánh, do tình thế thúc đẩy, quyết định theo đuổi chiến dịch và phải hy sinh Võ Tánh. Vương phái tướng Nguyễn Văn Thành đến trấn giữ ở vùng đèo Hải Vân để phòng ngừa mọi bất ngờ và tập trung tại Tourane các đơn vị sẽ tham dự chiến dịch mới. Vương kỹ lưỡng tiếp tế cho hạm đội, ra lệnh cho tướng Nguyễn Công Thái dẫn mười ngàn quân tiến về Phú Xuân trong lúc chính vương nhổ neo lên đường cùng hạm đội.

Ngày 11 tháng 6 năm 1801, vương thả neo ở cửa biển dẫn vào sông Hương, trong khi đó quân của tướng Thái đã đến dưới chân thành.

Tất cả mọi chiến hạm và ba mươi pháo thuyền lập thành một hạm đội có nhiệm vụ khóa chặt lối đi nằm ở phía tây của đầm [Cầu Hai], phần còn lại của hạm đội chỉ gồm những thuyền nhỏ thì trấn giữ trước Cửa Ông192.

Sáng ngày 12, các chiến thuyền trong tư thế chiến đấu vượt lối vào của ông và lập tức chịu đựng hỏa lực của các công sự trên bộ, các chiến thuyền vẫn tiến lên mặc dầu có sự rối loạn do đại bác địch dội trên hàng quân, nhưng rồi mắc cạn vào những bãi cát ngầm, phơi mình trước pháo binh địch bắn ráo riết. Vương hoảng sợ, lệnh cho binh sĩ nhảy xuống nước để tập trung lại trên bờ trong lúc các chiến thuyền bị mắc cạn trả đũa cực lực bằng tất cả hỏa lực sẵn có. Các pháo thuyền được gấp rút gọi đến, vượt qua được rào cản, vào tận bên trong con sông và đổ bộ binh sĩ đằng sau công sự pháo đài đầu tiên nơi hỏa lực đang dồn dập lên nhóm thuyền mắc cạn.

Tướng Nguyễn Văn Trị, người chỉ huy bảo vệ chiến lũy Cửa Ông193, ra bên ngoài công sự để tiêu diệt nhóm người mà chiến thuyền mới cho đổ bộ, bỗng bị tấn công từ phía sau bởi toán quân [do Lê Văn Duyệt chỉ huy] tăng cường đổ bộ từ các pháo thuyền, tướng Trị bị bắt và đưa đến trình diện Nguyễn vương.

Ngày 13, nhờ vào thủy triều lên, các chiến thuyền hết mắc cạn, tiến ngược dòng sông theo sau là đội chiến đấu với các thuyền nhẹ. Quân địch tiến đến phía đội thuyền, giáp mặt mà không khai hỏa trước. Cuộc chiến đấu ngắn ngủi nhưng đẫm máu. Quân Tây Sơn đột ngột ngưng chiến khi thấy trên nóc những pháo đài bị quân đổ bộ tấn công đã tung bay cờ hiệu của Nguyễn vương.

Đến chiều, vương ngược dòng đi lên với toàn bộ lực lượng, đến cập bến sông kế bên những cung điện của tổ tiên mình.

Dân chúng kinh hoàng quỳ phục chờ đợi quyết định của người chủ mới, với quân đội vây quanh trong sự im lặng thiêng liêng. Nguyễn vương xúc động sâu xa, trầm ngâm hồi lâu trước các cung điện nhà Nguyễn. Cuối cùng, sau khi gửi đến dân chúng đang bất động chờ đợi vài lời trấn an, vương ra lệnh cho các tướng trở lại thuyền và vương cũng thế, trong khi các đội bảo vệ ở lại trấn đóng trong các phố phường để bảo vệ dân chống bọn cướp bóc.

Sáng hôm sau, vương phái các đội tiền vệ tinh nhuệ nhất đuổi theo những kẻ đào tẩu với hy vọng bắt được vua Cảnh Thịnh. Nhưng nhà vua đã rút lui với hai ngàn chiến binh trung thành nhất và sáu mươi thớt voi, theo đường núi mà đạo quân chiến thắng không dám phiêu lưu rượt đuổi.

Binh tướng xứ Đàng Ngoài và hầu hết xứ Đàng Trong đã đi theo Nguyễn vương trong những ngày đen tối cũng như đẹp trời đều chờ đợi lúc vương trả lại ngai vàng cho hậu duệ nhà Lê mà nhân danh điều ấy, vương đã lôi kéo về dưới lá cờ của mình nhiều gia tộc lớn của vương quốc. Vương đã cho đồng đội mình thấy rằng cuộc chiến mà vương thực hiện chống lại Tây Sơn như là một sứ mạng thiêng liêng mà mục đích là tiêu diệt những kẻ nổi loạn để phục dựng lại sức mạnh của những chủ nhân chính thống của quốc gia.

Tuy nhiên, khi sức kháng cự của đối phương càng lúc càng yếu, thì tham vọng của vương từ bấy lâu chỉ giới hạn ở mức nắm lại quyền sở hữu lãnh địa họ Nguyễn ở Đàng Trong, nay thúc đẩy vương trải rộng ra xa hơn sự chinh phục của mình vốn phải khó nhọc mới có được nhờ vào sự thành công gian khổ của quân đội.

Việc chiếm thành Phú Xuân lẽ ra có thể chấm dứt được chiến tranh nếu vua Cảnh Thịnh chịu chấp nhận để mất kinh đô. Lúc ấy, một thỏa ước sẽ công nhận việc phân chia vương quốc, và người ta có thể nghĩ rằng hai đối thủ sẽ nhắc lại dòng họ Lê, để mà dưới uy quyền có tính danh nghĩa của dòng họ ấy, hai bên sẽ chia nhau quyền lực thật sự.

Nhưng Cảnh Thịnh, khi trở về miền Bắc, lại dấy quân để tiếp tục chiến tranh, buộc Nguyễn vương phải sẵn sàng chiến đấu. Bị lôi kéo bởi những sự kiện, vương thấy một điềm báo trước trong việc bó buộc phải tiếp tục cuộc chiến. Bởi lẽ Cảnh Thịnh không muốn quyết định hòa bình mà dân chúng hết lòng kêu gọi, vương dứt khoát chỉ dừng chiến tranh sau khi chiếm được thủ phủ xứ Đàng Ngoài, hang ổ cuối cùng của Tây Sơn, và phục hồi lại sự thống nhất vương quốc giúp cho riêng dòng họ mình có thể nối lại truyền thống bị gián đoạn trong một thế kỷ rưỡi trước đây vì tham vọng vô bờ của họ Trịnh.

Tháng 6 năm 1802, Nguyễn vương tự xưng hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long.

Bản đồ Gia Định năm 1815, dưới thời Gia Long, do Trần Văn Học vẽ.

Gia Long là chủ nhân của xứ Đàng Trong và Nam bộ, đã chiếm lại được cung điện nhà Nguyễn, đã trả lại cho dòng họ tài sản của tổ tiên mình. Nhưng việc lên ngôi của nhà vua thay nhà Lê bị phần lớn thần dân mình xem như một cuộc tiếm vị làm mờ đi vẻ rực rỡ của vinh quang. Những người ấy đã từng tận lực phục vụ nhà vua, nay phát biểu mạnh mẽ sự bất bình của mình và những sự phân rẽ xảy ra chung quanh hoàng đế có tác động sâu xa đến dân chúng.

“... Một chủ đề khác của mối lo ngại - Cha Langlois đã viết như thế ngày 3 tháng 9 năm 1803 - là có vẻ như có ít sự đồng tình giữa các đại thần. Lại thêm, những người xứ Đàng Ngoài từ lâu mong mỏi sau khi chúa Đàng Trong ra đi và được giải phóng khỏi ách bạo quyền mà họ đã chịu đựng dưới sự cai trị của những kẻ nổi dậy, giờ đây tỏ ra không mấy bằng lòng về vị vua mới bởi lẽ họ chờ đợi người này sẽ đưa lên ngai vàng ở xứ Đàng Ngoài một hoàng thân của dòng họ Lê xưa kia đã cai trị vương quốc và bị quân nổi dậy ở xứ Đàng Trong [Tây Sơn] đánh đuổi. Đấy là điều mà nhà vua đã hứa hẹn và chính trong kỳ vọng ấy mà một số đông người Đàng Ngoài đã đi theo nhà vua, có người theo đã từ rất lâu, có kẻ từ ba hay bốn năm nay, và có người chỉ vừa mới đây. Trong tất cả các chỉ dụ nhà vua chứng nhận và các biên bản nhà vua thông qua, nhà vua không hề tự xưng là vua, mà làm mọi thủ tục ấy dưới danh nghĩa vua nhà Lê, niên hiệu Cảnh Hưng, dầu vua ấy đã qua đời từ lâu rồi. Nhà vua đã cư xử như vậy cho đến tháng 6 vừa qua là lúc nhà vua tự phong hoàng đế lấy niên hiệu Gia Long. Điều này làm nhiều người dân Đàng Ngoài bất bình và gây lo ngại rồi sẽ có cuộc nổi dậy nào đấy, nhất là khi nhà vua sẽ trở vào Đàng Trong và hẳn là vua sẽ thường xuyên ở đấy...”.

Những tâm trạng của đám quần thần và những xầm xì của dân chúng làm vua Gia Long rất lấy làm lo ngại. Nhà vua xoa dịu quân đội bằng tiền bạc, ban thưởng rộng rãi cho các quan, chấp thuận cho những kẻ nổi loạn được hưởng ân xá hoàn toàn, làm thỏa mãn dân chúng bằng cách miễn thuế và lao dịch, đồng thời phiên chế binh sĩ của Tây Sơn vào quân đội. Sau đấy nhà vua hướng về phía triều đình Bắc Kinh, gửi một sứ bộ với nhiều tặng phẩm, sang dâng biểu xin sắc phong194. Hoàng đế Trung Hoa đón tiếp trọng thể các chức sắc của phái bộ, nhưng mãi đến hai năm sau mới chuẩn y khi vua Gia Long bắt đầu tổ chức lại hành chính của một đất nước rất thường xuyên và rất mau chóng bị đảo lộn vì những tranh cãi giữa các thủ lĩnh.

Tuy nhiên, nếu kể từ đây nhà vua yên lòng về sự trung thành của các vùng ở miền Trung, thì vẫn chưa phải là chủ nhân của xứ Đàng Ngoài mà ở đấy Cảnh Thịnh đang tổ chức lại quân đội. Mặt khác, Võ Tánh đã tuẫn tiết195 sau khi trao cho quân địch thành Qui Nhơn, làm cho Phú Xuân nằm giữa hai mối đe dọa từ phía bắc cũng như từ phía nam.

Thế nên vua Gia Long quyết định chấm dứt tình trạng ấy. Nhà vua phái Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt với một lực lượng tăng cường người Xiêm La đông tới năm ngàn người đến bao vây lại thành Qui Nhơn đang được hai tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng trấn giữ. Tình hình của đội quân phòng thủ trở nên gay go. Đến lượt họ bị thiếu thốn mọi tiếp tế, và chẳng bao lâu cạn kiệt nguồn dự trữ, phải đang đêm bỏ thành rút đi. Đội quân bị bao vây gồm ba ngàn người đã rút được lên núi phía Lào mà không bị quân vua Gia Long đuổi kịp, theo ra Bắc gặp vua Cảnh Thịnh.

Vào tháng 7, hoàng đế rời Phú Xuân tiến quân ra Bắc. Ba đạo quân lần lượt tiến chiếm Nghệ An, Thanh Hóa, vượt đèo Tam Điệp dễ dàng, chiếm Ninh Bình, Cau-Châu (?), Nam Định và vào thành Thăng Long sau hai mươi bảy ngày kể từ lúc vượt biên giới phía bắc Đàng Trong.

Cảnh Thịnh, tự thấy không còn cách gì để kháng cự, chạy trốn lên vùng núi phía bắc cùng với các em, nhưng bị chặn lại và bị bắt giao nộp cho quân nhà vua. Người anh lớn tuổi nhất [Quang Thùy] trong số anh em, chỉ huy tiền quân của đội hộ tống Cảnh Thịnh, bị giết chết trong khi đánh nhau với dân miền núi phía bắc. Những người còn lại trong gia đình cũng như các trọng thần của Tây Sơn đều bị bắt trói giải về trước mặt nhà vua chiến thắng. Nhà vua phong Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành cai quản mười một trấn phía bắc.

Từ đấy, vua Gia Long cai trị nước Việt Nam thống nhất.

Quả thật, đất nước bị tàn phá, dân chúng sống lầm than, nghe nhiều ta thán chứng tỏ âm ỉ một sự sửa soạn nổi dậy, những kẻ lưu vong trước kia thấy rằng sự yên ổn của mình chỉ có thể có được bằng cách vĩnh viễn dập tắt, hàng phục họ Lê và họ Trịnh, giam họ vào một kiếp sống tối tăm không lối thoát.

Nhiệm vụ của hoàng đế là rất nặng nề. Vương quốc điêu tàn, việc cai trị vô tổ chức, nhiều vùng miền trọn vẹn rơi vào trong hỗn loạn. Tất cả điều ấy đòi hỏi những cải tổ khẩn cấp mà hoàn cảnh và tình trạng tài chính gây ra những khó khăn để thực hiện.

Một số tác giả đã trình bày triều đại Gia Long như một giai đoạn trật tự ổn định và cần lao. Chính vì họ đã rút ra những định kiến ấy trong việc đọc biên niên sử được viết - có thể nói như thế - theo lệnh của triều đình Huế. Những tài liệu gần đây được công bố của cha [Léopold] Cadière, ngược lại, chứng minh cho chúng ta thấy rằng nhà vua bị ngập lút đầu trong những sự kiện. Có vẻ như nhà vua đã hao mòn sức lực của mình trong việc hoàn thành nhiệm vụ quân sự mà nhà vua đảm đương, sau đó còn phải gắng sức chịu đựng một tình trạng những sự vụ mà chỉ có thời gian mới mang lại sự lắng dịu thanh thản.

Năm năm sau khi lên ngôi, trật tự chỉ mới được ổn định tương đối trong hành chính của vương quốc. Vua Gia Long đã hết sức tập trung mọi sức lực, mọi tài nguyên quốc gia, gạt qua một bên những viện cớ mà Trung Hoa tạo ra để từ chối lễ tấn phong. Nhưng dưới vẻ bề ngoài hợp nhất, gắn bó do các vùng miền cố tạo ra, sự hỗn loạn vẫn còn ngự trị, vẫn tồn tại bởi sự tái tổ chức quá vội vã thiếu chặt chẽ.

“Các tầng lớp dân chúng”, năm 1807 Chaigneau đã viết như thế, “sống rất lầm than. Nhà vua và các quan lại đã làm mất lòng dân theo cách gây phẫn nộ nhất. Công lý được tính bằng tiền. Người giàu có thể tấn công kẻ nghèo mà không bị trừng phạt bởi lẽ y chắc chắn rằng, với tiền bạc, công lý sẽ đứng về phía của y. Đến nỗi tôi nhìn vương quốc như một con bệnh đang chịu một cơn đau dữ dội, hoặc cơn đau sẽ giết chết con bệnh, hoặc làm thay đổi chứng bệnh...”.

Bản cáo trạng này có thể tỏ ra quá nghiêm khắc nếu nó không được ủng hộ bởi Đức cha Véren196, người mà tính khách quan không bè phái và sự cẩn thận không thể gây sự hoài nghi. Mối liên lạc thư tín riêng tư giữa những người đương thời dưới triều hoàng đế Gia Long, được viết ngày này qua ngày khác mà không lo ngại đến hậu quả, cho phép chúng ta tin rằng nhà vua, trước khi lo lắng xoa dịu những thảm họa do chiến tranh gây nên, đã từng xem tổ quốc mình như là một vùng đất bị chinh phục. Nhà vua đã nhầm lẫn, đem buộc trong cùng một cuộc trừng phạt mục đích của những kẻ thù và lý do của dân chúng bị các thủ lĩnh thúc đẩy vào những cuộc phiêu lưu tàn bạo. Nhà vua đã trao chính sự vào tay những kẻ bất xứng, gạt ra khỏi hệ thống hành chánh những dòng họ lớn có thể hỗ trợ quyền lực của mình bởi ông lo sợ, ban thưởng hậu hĩ cho lính tráng bằng mồ hôi nước mắt của người dân.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng một tình hình đầy sự cố như thế không thể làm mờ đi cái vinh quang hẳn nhiên xán lạn của hoàng đế. Gia Long, vị vua châu Á đã hành xử như một vị vua châu Á. Khi thì uyển chuyển, khi thì khiêm tốn, thoắt ẩn thoắt hiện, tuyệt vời và tàn độc, nhà vua mang dấu ấn của thời đại mình và những thử thách hoang đường của cuộc sống phi thường.

Lên ngai vàng sau nhiều năm chiến đấu, thất vọng và đau đớn thể xác, nhà vua trả thù không thương xót những kẻ địch đã buộc mình phải trải qua một tuổi trẻ bi thảm trên những hòn đảo hoang. Đã sống như một chiến sĩ, ông nắm lấy vương quyền và trừng phạt bằng tư cách của một chiến sĩ. Dân chúng tin rằng ông giữ mối khinh bỉ sâu xa đối với những thủ lĩnh từng hống hách thống trị đám dân thường thụ động.

Tâm lý của nhà vua vượt qua hiểu biết của những người châu Âu chung quanh mình bởi lẽ họ tìm đến phục vụ nhà vua vì quyền lợi cá nhân hoặc tôn giáo. Tất cả bọn họ đều quy những vấn đề thời đại thành những câu hỏi về con người hay dòng họ.

Việc hoàng đế Trung Hoa sắc phong cho người chủ mới của đất Việt Nam đã chính thức hóa sự tiếm ngôi. Nhưng nếu Nam kỳ vẫn trung thành theo hậu duệ của các đời chúa Nguyễn, thì Bắc kỳ không bao giờ chấp nhận hoàn toàn quyền lực của họ Nguyễn, và ta có thể nói rằng quyền lực của hoàng gia được mau chóng củng cố bởi không có một thủ lĩnh nào xuất hiện để chiêu tập những kẻ bất mãn. Các cuộc nổi dậy, bị các vua Gia Long và Minh Mạng dễ dàng trấn áp, không hề có mối liên hệ gắn kết với nhau. Trước hết vì dân chúng mệt mỏi và vị vua cũ đã chết trước khi lấy lại đủ sức mạnh để tranh ngôi báu.

Các vùng miền ở Việt Nam vốn bị phân rẽ trong gần một thế kỷ bởi tranh chấp chính trị đã tạo nên những tập quán, những quan niệm và những luật lệ khác biệt, đối diện với những nỗ lực của nền một hành chính kể từ lúc đó là duy nhất trên khắp lãnh thổ để thống nhất sự phát triển. Vua Gia Long phải đấu tranh trong nhiều năm trước khi áp đặt lên dân tộc những luật lệ hà khắc và nếu không có điều này thì không thể có một đời sống quốc gia ổn định. Kết quả này, nhà vua chỉ có được vào lúc ông trao lại cho người kế vị [Minh Mạng] di sản nặng nề của vinh quang của mình.

Hoàng Việt luật lệ.

Nguồn: nomfoundation.org

Công trình hành chính cần thiết, được vua Gia Long thực hiện muộn màng, cuối cùng cũng đã đưa vào khuôn khổ đời sống xã hội của đất nước vốn đã bị rối loạn sâu xa vì những cuộc nội chiến, tan nát sau chiến tranh. Bộ luật mới197 là một sao chép vội vã những quy tắc do chế độ nhà Thanh áp đặt lên Trung Hoa, với một số điều khoản được thu tóm lại và được vua Minh Mạng lúc nắm quyền biên cải mới mẻ hơn. Tất cả các chỉ dụ vùng miền, mọi chỉ thị địa phương đều bị hủy bỏ bởi Bộ luật [Gia Long] năm 1812 và chỉ lưu giữ lại những truyền thống chung của mọi người dân An Nam. Vua Gia Long gắn bó nhất trong việc thiết lập lại trong dân chúng sự tôn trọng các cơ chế gia đình, nền móng của kỷ luật quốc gia ở một nước châu Á và trả lại uy quyền cho ngai vàng, điều mà các vua nhà Lê đã không biết bảo vệ để chống lại các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Những chiếu chỉ của triều đình ít bắt nguồn từ mối quan tâm đến việc chấm dứt sự rối loạn vẫn còn tồn tại trong hành chính sau mười năm hòa bình, cho bằng sự quan tâm ổn định uy quyền của dòng họ đang trị vì, bằng cách tán dương những đạo đức truyền thống của dòng họ, bằng cách khép chặt định chế của vương quốc vào trong một hệ thống những quy định lễ nghi làm cho định chế ấy mang đặc tính hầu như là tôn giáo.

Vua Minh Mạng cũng lẫn lộn giữa tầm quan trọng của một dân tộc với uy thế của một quân vương, nhưng nhà vua bù đắp và hoàn tất tốt đẹp công trình của tiên vương bằng cách kết hợp mật thiết sự tồn tại của các thuộc quốc với sự tồn tại của Việt Nam. Nhà vua nghĩ đến việc áp đặt lên những sắc tộc vùng xa bằng nhiều sắc lệnh hợp thời, những truyền thống, tập quán và ngay cả tiếng Việt, đồng thời duy trì bền vững trên vùng biên giới sự bảo hộ của chính quyền An Nam [Việt Nam, năm 1839 đổi thành Đại Nam]. Nhà vua ép buộc các nước nhỏ phụ thuộc phải chấp thuận một loại quy tắc về quyền bá chủ gắn bó với những cơ chế của vương quốc và công trình xây dựng luật pháp mạnh mẽ ấy cho đến nay vẫn còn chứng minh được khả năng khoa học chính trị của nhà vua.

Luật pháp của một dân tộc cần thiết phải khế hợp với phong tục, với tôn giáo, với những cần thiết và với ý tưởng được tạo nên từ cuộc sống của dân tộc ấy. Bộ luật Gia Long, mặc dầu có phần sao chép lại luật Trung Hoa và có lẽ việc sao chép lại luật ấy tạo ra sự hài hòa giữa những quan niệm của những nhóm dân sống trên khắp ba miền hành chính của vương quốc và tạo ra mối dây kết tụ họ với quyền lực của nhà vua.

Pháp chế An Nam có thể chia làm ba phần: những quy chế của vương quốc và những điều lệ của lục bộ, một bộ luật hình sự, những điều luật không được pháp điển hóa.

“Đức hoàng đế”, Luro đã viết như vậy, “theo cách hiểu của người An Nam, vừa là hoàng đế, vừa là vị vua thẩm phán, vừa là vị giáo chủ tối cao. Ngài là cha mẹ của dân. Ngài là kẻ học thức uyên bác nhất vương quốc, có nghĩa là kẻ tuân thủ trung thành nhất học thuyết Khổng Phu tử. Chỉ riêng ngài là người đại diện, người được ủy nhiệm của Trời, chỉ mình ngài có quyền đại diện quốc gia để dâng đồ hiến tế lên Thượng đế, là hoàng đế tối cao của mọi vật và mọi linh hồn. Chỉ mình ngài trong vương quốc của mình được gọi là Thiên tử, danh hiệu tượng trưng cho sự thần phục các ý niệm tôn giáo truyền thống và bổn phận của người con. Danh hiệu này không hề bao hàm một ý tưởng kiêu ngạo hay đồng hóa với thiên tính thần thánh. Đấy chỉ là cái tên hoàn toàn mang tính thành kính mô tả sự lệ thuộc vào hoàng đế tối cao và bổn phận thực thi đạo lý mà hoàng đế tối cao là vị thần linh kiểu mẫu”.

Xã hội An Nam được tổ chức theo chế độ tập quyền nếu ta nhìn thông qua những cơ chế làng xã, là một xã hội quân chủ nếu ta xem xét mối quan hệ giữa thần dân và người nắm giữ quyền lực tối thượng. Quyền lực của nhà vua là tuyệt đối, cơ cấu pháp luật không đặt ra một vai trò trung gian nào giữa nhà vua và người dân, nhưng trong thực tế, nhà vua chấp thuận để cho các quan có quyền trông nom mình, các quyền tự do trong làng xã, trong hành chính và trong tư pháp, vốn là quyền ưu tiên của tập đoàn có sở hữu tài sản được đặt ra giữa nhà vua và khối bình dân.

Vương triều gồm có tứ trụ triều đình, lục Bộ, Hội đồng Tư vấn [du Conseil privé], Cơ Mật viện và các thành viên cao cấp có nhiệm vụ điều khiển những công việc khác nhau. Triều đình nhóm họp hai lần mỗi tháng với sự có mặt của nhà vua để giúp nhà vua hiểu rõ tình hình và để các quan nhận chỉ thị từ nhà vua.

Tứ trụ triều đình là những lão tướng, những cựu phó vương [kinh lược], những nhà ngoại giao trước đây được gọi đến bên cạnh nhà vua, vì những kiến thức của họ và những đóng góp họ đã từng thực hiện cho đất nước, để làm nhà vua hiểu rõ vấn đề quốc gia hơn nhờ những lời khuyên của họ. Các vị trọng thần này không có trách nhiệm cụ thể mà chỉ mang các danh hiệu danh dự của Cần Chánh, Văn Minh, Võ Hiển, Đông Các198 là tên bốn điện bao quanh cung vua.

Các thượng thư Bộ Lại, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công, Bộ Lễ, Bộ Hộ điều hành quốc gia dưới sự kiểm tra của Nội các. Nội các chỉ đơn giản dựa trên số phiếu bầu chọn để chứng duyệt hoặc loại bỏ quyết định của các bộ.

Nội các cũng như Cơ Mật viện có những quyền hạn được xác định bởi những quy tắc bất biến. Các tổ chức này không bao gồm các hoàng thân, vì lẽ những người này bị gạt ra khỏi công vụ bởi một nguyên tắc nghi ngại chính thức, nhưng các đại quan được nhà vua cử vào những nơi này cũng chỉ được trả lời các câu hỏi do chính nhà vua đặt ra.

Để tưởng thưởng các công thần đã giúp vua đánh bại Tây Sơn, đã theo vua trong cơn hoạn nạn, vua Gia Long đặt ra một đẳng cấp quý tộc mới gồm bảy hạng. Đẳng cấp ấy mang tên Minh Nghĩa Công thần, có nghĩa là đẳng cấp dành cho người có công trạng và trung thành vang dội.

Từ hạng thứ nhất đến thứ năm, danh hiệu quý tộc ấy mang tính kế thừa và cứ mỗi đời kế thừa tiếp theo thì giảm xuống một bậc. Người mang hạng năm truyền danh hiệu của mình cho đời kế thừa và chỉ dành cho con trai trưởng đến hết triều đại nhà Nguyễn. Nguyên tắc kế thừa dành cho hạng năm này tạo nên một cải cách khác với truyền thống. Vì thế vua Minh Mạng, không thuận theo ý nguyện của vua cha, đã loại bỏ hệ thống đẳng cấp Minh Nghĩa Công thần này, lo rằng sẽ hình thành một giai cấp quý tộc truyền từ lưu tôn có khả năng một ngày kia làm nguy hại đến vương quyền.

Dân chúng sống trong làng xã, được các thân hào điều hành và bảo vệ. Sự bình đẳng giữa các người dân là tuyệt đối, bởi lẽ người An Nam không thừa nhận những phân biệt xã hội nào khác ngoài những sự trọng vọng gắn liền với chức vụ và do đó với những công trạng được chính quyền thừa nhận.

Dân trong xã được chia ra hai hạng: có đăng ký và không có đăng ký. Nhưng sự phân hạng này không tương ứng vào một cách phân cấp nào mang tính xã hội. Người có đăng ký là những điền chủ, thương gia, người giàu có, vì tình trạng có tài sản của mình, chịu đóng mọi loại thuế và cũng vì lẽ đó gánh vác các chức vụ làng xã. Những người không đăng ký là những người nghèo, nhưng không có rào cản nào phân biệt họ với những người dân khác. Bằng chứng là quá rõ ràng vì không gì cấm cản họ tham dự vào các cuộc thi văn chương và trở thành quan lại.

Xã là một cá thể tinh thần. Xã có thể chiếm hữu, quản trị, thu mua, nhưng xã chỉ có thể tham gia quyền thu hoa lợi những tài sản của xã trong một thời gian nhất định. Xã phân phối các loại thuế, thu thuế, bảo đảm an ninh cho khu vực. Các thân hào được bầu bởi những người dân có đăng ký đến tuổi được đi bầu và ngồi cạnh các bô lão mà tuổi tác đã cho họ có quyền tham dự vào hành chính của nội bộ xã. Xã trưởng là một thành viên thực thi các hoạt động, do các đồng nghiệp của mình chọn ra, có nhiệm vụ bảo đảm mối quan hệ giữa Hội đồng các thân hào và chính quyền địa phương. Cơ quan này thừa nhận chức danh của xã trưởng bằng cách cấp một văn bằng chứng nhận và một khuôn dấu. Xã của An Nam, một đơn vị mang tính vừa tôn giáo, vừa chính trị và hành chính, nên nó là một loại đơn vị có tính cộng hòa, tự trị dưới sự kiểm soát của các quan địa phương và ta có thể so sánh với các thành quốc thời trung cổ ở châu Âu. Xã luôn luôn đặt dưới sự che chở của một vị thần và đền thờ của xã là nơi cử hành mọi lễ hội thờ cúng, vừa là nơi lưu giữ bài vị tổ tiên của mỗi gia đình199.

Mọi người dân An Nam đều được đăng ký trong xã của mình suốt đời, ngay cả lúc vì công vụ, họ phải sống xa quê gốc của mình. Dầu ở xa họ vẫn luôn luôn được tính đến ở quê nhà. Điều này đã thiết lập rõ ràng cương vị xã trước hết là một cương vị cá nhân.

Còn có ở trên xã, một tập hợp có được quyền tự trị thật sự. Đó là tổng, do một Cai tổng điều khiển, được bầu giữ chức vụ trong một thời hạn không ấn định. Nhiệm vụ của Cai tổng là bảo vệ các quyền lợi của tổng mình trước cấp hành chính quan lại và bảo đảm việc thực hiện các mệnh lệnh nhận được từ trên. Tổng trở thành một cách hiển nhiên trung gian giải quyết những tranh chấp giữa các xã, và trong nhiều trường hợp, nhờ sự can thiệp của tổng, tránh khỏi phải cầu cứu đến tòa án cấp huyện.

Khá là khó khăn để sắp xếp các điều khoản của Bộ luật An Nam vì sự vội vã bao trùm việc soạn thảo và vì những quy định của đạo luật là nhiều vô kể. Nhưng vì việc nghiên cứu về luật pháp không hề có ở An Nam, nên việc áp dụng các chỉ dụ chỉ giao cho những vị quan chỉ huy các nhiệm sở lớn, được đào luyện nhờ đã thực hành lâu ngày việc khảo sát loại văn bản rối rắm tối nghĩa này. Điều này nhằm giới hạn những bất cập do sự thiếu minh bạch trong văn bản là dễ dàng nhận ra.

Dẫu sao người ta có thể nghiên cứu luật An Nam dưới hình thức một bộ sách gồm hai cuốn. Cuốn thứ nhất gồm Bản các Đề mục [comprend la table des articles], các quy tắc để phân biệt nghĩa của tám ký tự đặc biệt có tầm quan trọng trong những văn bản luật, và các điều lệ liên quan đến đời sống gia đình, đến việc tôn trọng các cơ chế, đến mối tương quan giữa những thành phần thuộc quyền xét xử, đến những cách thi hành. Cuốn thứ hai liệt kê những trường hợp áp dụng năm hình phạt bằng roi, gậy, khổ sai, lưu đày và tử hình. Các hình phạt ấy đều có thể được chuộc bằng tiền, cũng có thể được án treo hoãn thi hành án sau một năm có thể gia hạn lại. Mỗi điều lệ bao hàm một phê chuẩn hình sự được cân nhắc tùy theo những cá nhân mà điều lệ ấy nhằm vào, bởi lẽ nhà lập pháp An Nam không cần phải liên kết những chỉ dụ với những nguyên tắc tư pháp. Những bắt buộc ấy không có tính cách tổng quát mà chiếu theo những trường hợp riêng biệt, tập hợp thành các thứ hạng, rồi từ đó có thể rút ra những ý tưởng tổng quát.

Luật pháp áp dụng cho tất cả mọi thần dân của hoàng đế cũng như đối với những người nước ngoài đang có mặt trong lãnh thổ. Quan tòa nhất thiết phải xử họ nếu không thì bị truy tố vì tội không chịu xét xử. Tương tự như vậy, vị quan cố tình làm chậm tiến độ của vụ án cũng sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.

“Công lý” cha de Rhodes đã viết như thế, “cai trị ở đây cũng hiệu quả hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới. Chính nhà vua cấp lương cho tất cả thẩm phán và cấm họ không được thiên vị, cho dù ở bất kỳ vụ án nào, làm cho không một ai phải tiêu tốn gì để bảo vệ quyền của mình. Thế nên không có sự rườm rà về thủ tục cũng như văn bản làm tiêu tốn các bên bằng tiền bạc hay bằng mánh khóe thầy kiện. Tất cả những chuyện ấy đều xa lạ đối với những người ngoại đạo mà ta gọi là man rợ. Tôi để cho quý vị suy nghĩ về điều mà họ sẽ nói về chúng ta nếu họ hiểu thế nào là lệnh của cung đình và những mánh khóe thầy kiện ở đất nước ta!...”.

Những án buộc tội tử hình đều để nhà vua quyết định, hoặc thi hành án hoặc treo án, hoặc giảm tội vào lúc chung thẩm. Trong trường hợp đầu, sự kháng án được đệ lên nhà vua ba lần khác nhau, mục đích để tránh những nguy cơ vua thiếu tập trung lưu ý hoặc bực bội cáu kỉnh. Trong trường hợp thứ hai, việc phán xử sẽ được tiến hành vào năm sau và rất ít trường hợp nhà vua vẫn ban lệnh xử tử tội nhân sau nhiều lần hoãn thi hành án.

Luật pháp An Nam không đòi hỏi các hợp đồng phải được soạn thảo theo những hình thức và quy tắc riêng biệt. Những tặng dữ được xem ở dạng chính thức khi có sự có mặt của gia đình, của các thân hào và được đóng dấu của xã. Các việc mua bán được thừa nhận bởi những văn bản chính thức hoặc bằng văn bản ký tự không có thị thực công chứng. Nhưng trong khi những trao đổi mua bán động sản luôn luôn bằng lời nói, thì quyền sở hữu các tài sản bất động sản chỉ được thừa nhận bằng văn bản.

Khác với điều xảy ra ở nhiều dân tộc phương Đông, việc bán một vật của người khác với mục đích đền bù là bị cấm ở An Nam và ác ý trong trường hợp ấy đưa đến những trừng phạt nặng nề. Luật pháp chấp thuận một hình thức bán có cho chuộc lại tương đương cho tới một mức nào đấy của việc cầm cố. Quy ước này được áp dụng cho các động sản và chấp thuận quyền sở hữu động sản mà không vì thế việc hưởng thụ thành quả làm giảm bớt giá món nợ ban đầu. Điều này không hoàn toàn là một việc bán cho chuộc lại, vì việc mua lại có thể đẩy lùi đến sau năm năm mà không để cho người sở hữu có quyền trở thành chủ nhân của tài sản nếu giấy đòi nợ không được thu hồi trong những thời hạn thích hợp.

Việc bán một động sản hay một bất động sản được thực hiện dưới những điều kiện thay đổi tùy theo hoàn cảnh và với thời hạn trả tiền được thỏa thuận. Vua Minh Mạng giới hạn đến ba mươi năm là thời kỳ mà tài sản được bán sẽ được đăng ký dưới tên của chủ tài sản.

Luật Gia Long không ghi một phân biệt cụ thể nào giữa các tài sản động sản và bất động sản. Quyền sở hữu tài sản mặc dầu không được xác định vẫn là quyền tuyệt đối, nhưng Nhà nước có thể truất quyền sở hữu mà không đền bù vì những mục đích lợi ích công cộng, vì đất đai thuộc về nhà vua, không gì có thể viện dẫn quyền ngược lại. Việc sở hữu đất đai trong thực tế được áp dụng theo một điều khoản mặc định về tính tạm thời, và không phải chỉ từ triều vua Minh Mạng mà việc sở hữu đất được xác định nhờ việc đăng ký vào địa bạ, điểm khởi đầu của một chế độ thuế khóa phân bổ một cách sáng suốt.

Nền tảng của tổ chức xã hội là cơ chế gia đình, bắt nguồn từ học thuyết của Khổng Phu tử. “... Người cha của gia đình - luật pháp nói như thế - không có một bổn phận nào đối với vợ con, họ bị bỏ mặc trước lương tri và sự quan tâm của người cha. Người cha được xem như người chủ của vợ và các con mình, nghĩa là vợ con thì thuộc sở hữu của người cha. Trong bảy trường hợp được chỉ định, người chồng có thể bỏ vợ mình để lấy một người mới. Người chồng phải xem vợ là kẻ dưới, như một người hầu hạ khiêm tốn hoặc như một đứa trẻ cần phải canh chừng. Người chồng có thể trừng phạt vợ nếu người vợ đáng bị như thế. Người chồng có quyền cưới nhiều vợ... Người cha của gia đình là người chủ tối cao của các con mình, người cha có thể yêu cầu các con mình thể hiện sự tôn trọng và phục tùng bằng mọi phương cách, biến chúng thành nô lệ, bán chúng đi, cưới hỏi cho chúng mà không cần sự đồng ý của chúng”.

Người đàn ông An Nam, tốt bụng, hiền lành, thành thật, thực sự là người chủ tuyệt đối của gia đình mình, nhưng y thực hiện quyền mà luật pháp giao phó với một sự nhẫn nại độ lượng và tự nhiên. Như người Trung Hoa, như những người châu Á nói chung, y tự nhận mình là chủ của người vợ vì y đã mua cô ta, vì y đã trả tiền hồi môn, nhưng thỉnh thoảng y sửa sai cô ta lúc cô hãy còn trẻ, đấy là điều chắc chắn, như văn chương bình dân vốn không thiếu điều mỉa mai từng tuyên bố, bởi lẽ đấy là luận chứng duy nhất mà phần lớn phụ nữ An Nam thừa nhận có một sức mạnh có tính thuyết phục quyết định.

Người cha yêu sâu sắc con cái mình. Nhưng con cái lại phục tùng một kỷ luật nghiêm khắc. Chúng không bao giờ chiếm chỗ của người cha ở bàn ăn, chúng chỉ trình diện trước mặt người chủ gia đình với những biểu hiện của sự kính trọng đã được luật lệ xác định tỉ mỉ.

Việc đa thê, được luật pháp thừa nhận, là rất hiếm trong dân chúng khi đã có một con trai thừa kế. Trái lại, việc đa thê là thường xuyên khi người vợ vô sinh, lúc ấy người chồng chọn, với sự đồng ý của người vợ chính vẫn là nữ chủ nhân không tranh cãi của gia đình, một hầu thiếp mà vai trò duy nhất là mang lại cho gia đình nhiều con trai, nhờ đó việc thờ cúng tổ tiên được tiếp tục.

Đạo thờ cúng tổ tiên chắc chắn đã rất phổ biến ở châu Á vào những giai đoạn mà Ấn Độ và Trung Hoa chưa lập thành quốc gia. Giả thuyết này tuy thế cũng chưa được chứng thực. Nhưng cũng khá hợp lý khi nghĩ rằng những dân tộc có mối quan hệ thường xuyên, sống trên cùng một lục địa, thì thường tuân theo những tín ngưỡng chung. Dẫu sao đi nữa, những pháp điển gia tộc mà từ đó thiết lập quyền thừa kế, đòi hỏi mọi người, để được cứu rỗi trong thế giới khác, phải để lại trong thế giới này một đứa con trai có khả năng dâng lên những phẩm vật hiến tế cho thần linh. Phải đợi ít nhất ba thế hệ đi qua để tổ tiên được giải thoát. Với một đứa con trai, người cha đạt đến vương quốc của nhiều cõi. Với đứa con trai của con trai, y đạt đến cõi vĩnh hằng. Với đứa con trai của đứa cháu trai ấy, y đạt đến cõi Trời. Người chết mà không có con trai bị loại khỏi cõi Trời. Nếu con trai chết không có người nối dõi, thì tổ tiên rơi xuống địa ngục mà con gái không cách nào có thể hoàn thành những nhiệm vụ cúng tế.

Mọi đứa con đều chính thức, người vợ đầu là mẹ hợp pháp của tất cả con cái. Con cái chịu tang cha và người mẹ đầu trong vòng ba năm và chỉ chịu tang một năm với người mẹ thứ hai.

Hình phạt dành cho chuyện ngoại tình là kinh khủng. Luật Gia Long buộc những tội phạm phải bị voi giày hoặc ném xuống sông, lưng trói vào nhau trên một bè tre.

Luật pháp không thừa nhận một khả năng thừa kế nào cho con cái. Người cha có thể quyết định theo ý mình toàn thể tài sản của y mà không có một kiểm soát nào của nhà nước. Trong thực tế, tài sản của cha mẹ luôn luôn được chia sẻ đồng đều, sau khi những tài sản không thể bị tước bỏ dành cho việc thờ cúng đã giao cho người con trai trưởng.

Đám cưới bị hủy bỏ khi có một người chết, khi có sự vắng mặt quá ba năm, khi có sự thỏa thuận chung, khi người phụ nữ bỏ trốn hay bị trả về lại gia đình. Việc trả về được thực hiện trong bảy trường hợp quy định sau đây: vô sinh, kém tư cách, thiếu lễ độ với bố mẹ chồng, ăn cắp, ghen tuông, nói xấu, bệnh tật làm người phụ nữ không đủ điều kiện sinh sản. Sự khắc nghiệt của bảng liệt kê này được giảm bớt nhờ sự xoa dịu của một số ngoại lệ, thánh hóa theo cách nào đấy công việc làm chung và những khổ sở cùng gánh chịu, tạo cho người vợ những bảo đảm tinh thần từ một quan niệm cao. Vì thế người phụ nữ chỉ có thể bị trả về nếu đã chịu tang người chồng được ba năm. Nếu người chồng, nghèo lúc mới bắt đầu lấy vợ, đã cùng nhau làm lụng khó nhọc để có tài sản và rồi cùng hưởng chung với nhau, nếu người vợ cuối cùng không còn cha mẹ thì có thể đón con gái về nhà. Việc ly dị trong thực tế là rất hiếm hoi và ta có thể khẳng định rằng việc ấy không bao giờ xảy ra với người vợ đầu, bởi lẽ thay vì thực hiện một thủ tục mà sự lo xa của nhà lập pháp làm cho, trong hầu hết trường hợp, trở thành không phù hợp, người đàn ông An Nam chọn cách gửi về lại gia đình cha mẹ người phụ nữ mà cách đối xử trở nên không chịu nổi đối với người chồng, mà không vì thế mối quan hệ vợ chồng bị cắt đứt vì sự xa cách ấy.

Xã không có một sổ hộ tịch nào cả và không một quyết định nào bắt buộc người dân phải khai báo việc sinh con của họ. Con gái thì không bao giờ phải trình diện, nhưng con trai được mang ra trình trước các vị thân hào để về sau chúng sẽ tham gia vào những quyền lợi cũng như trách nhiệm trong làng. Việc không có văn bản không gây ra một bất tiện nào cả, vì các loại thuế và nghĩa vụ quân sự không phân bổ trên từng đầu người mà trên từng xã.

Mục đích của việc cưới hỏi, ngay cả mục đích của cuộc sống đối với người An Nam là có con trai, để sau khi chết, chúng biết thực hiện việc thờ cúng truyền thống tưởng niệm người đã mất. Lúc người đàn ông không có khả năng tự nhiên để tạo giống, y sẽ bù đắp bằng việc có con nuôi. Y sẽ tìm một cậu trai trong gia đình, một cháu trai hoặc một người trong họ, một cậu bé có cùng chung tổ tiên với mình. Chỉ khi trong trường hợp y không thể khép chặt bằng cách ấy mối quan hệ gia đình sẵn có, thì y đành phải đưa về nhà mình một đứa bé ngoài gốc gác. Đứa bé được nuôi gia nhập hoàn toàn vào gia đình mới và sẽ mang tên họ của gia đình này. Người cha ruột của cậu bé bàn giao mọi quyền của mình cho cha nuôi, là người cha duy nhất kể từ lúc đó được luật pháp thừa nhận.

Quan niệm tôn giáo ấy về gia đình làm nền tảng cho các điều luật dân sự có mục đích chỉnh đốn những quan hệ giữa những công dân với nhau. Quan niệm ấy còn bền bỉ trong tập quán hơn là trong luật được viết ra và nó tạo nên ảnh hưởng sâu đậm lên phong tục của quốc gia.

Vậy nên, người An Nam chịu khuất phục từ thuở rất ấu thơ uy quyền không kiểm soát của cha mình, rồi từ đó được chuẩn bị để chịu đựng với sự kính trọng uy quyền của tập thể những thân hào trong làng mình, xem những mệnh lệnh của hoàng đế, người cha của quốc gia và người truyền ý đến các thần linh là thiêng liêng.

Vậy nên, Luật Gia Long nổi bật với cơ chế gia đình, nơi mà uy quyền của người cha là hầu như vô giới hạn, bằng việc cho phép đa thê, tình trạng không có khả năng có con, tính bình đẳng của mỗi người con trong xã hội, cho dầu chúng là chính thức hay ngoại hôn, sự gắn bó vào sở hữu chung của gia đình được ấn định bằng việc không thể tước bỏ tài sản dành cho việc thờ cúng, sự phụ thuộc tuyệt đối của con gái, quyền tự do để lại di chúc, bằng khả năng nào đó trong việc mua lại một bất động sản được chuyển nhượng.

An Nam vào đời Gia Long còn gắn bó với giai đoạn Cộng đồng đại gia đình trong lúc ở nước Pháp chúng ta “quyền sở hữu cá thể và tính độc lập cá nhân đã tồn tại từ thời thống trị La Mã, tính ra đã hơn hai ngàn năm.

Chúng ta đã làm gì cho dân tộc mà chúng ta không hay biết này? Những luật lệ nào chúng ta đã áp đặt lên dân tộc này sau cuộc thôn tính? Chúng ta đã hướng dẫn dân tộc này đến sự tiến bộ hay sự cưỡng bức, xa rời những phương hướng truyền thống của nó mà không hề hay biết?” (Cultru, Histoire de la Cochinchine française (Lịch sử xứ Nam kỳ thuộc Pháp)).

Bộ luật năm 1818200 mặc dầu còn thiếu sót, đã thích ứng tuyệt vời với tính cách của người An Nam vốn trọng lễ nghi, khách sáo, đam mê uy quyền nhưng lại hành xử với lòng tốt. Dân chúng, với những phong tục giản dị của mình, tìm thấy trong những điều khoản của bộ luật mới sự an toàn mà họ đã chờ đợi để ổn định lại đời sống. Vua Gia Long, người nắm giữ quyền lực tối cao được thừa nhận kể từ lúc đó, có thể yên tâm theo đuổi những hoạt động ngoại giao.

Chính sách của vua Gia Long mang những đặc trưng rất khác biệt tùy theo đối tượng của nó là vị chủ tể chính thống của An Nam [tức Trung Hoa], hay là các lân quốc có khi ngang hàng, có khi thấp kém hơn, hoặc với các quốc gia phương Tây. Tất cả những chứng thư của chính sách ấy đều bộc lộ một khuynh hướng đồng hóa các sức mạnh thứ yếu và mong muốn tránh mọi liên quan với những quốc gia được tổ chức chặt chẽ hơn.

Đối diện với Trung Hoa, vua Gia Long giữ gìn mọi quyền lợi của vương quốc, nhà vua bảo vệ những quyền hạn của mình vừa giữ những cơ hội củng cố ngai vàng vì nhà vua cảm nhận cần thiết phải là một nhân vật chính trị mạnh mẽ của triều đại. Tuy nhiên, nếu nhà vua ủng hộ tham vọng rằng các cuộc chiến đấu trước đây đã được thánh hóa, và nếu mọi gắng sức của nhà vua hướng đến sự vĩ đại của đất nước trong khuôn khổ của một chỉ đạo mang tính cơ hội, thì nhà vua cũng không dùng sức mạnh để tấn công và hủy hoại nền độc lập của các dân tộc yếu kém mà với họ nhà vua đã tự phong là người bảo hộ hiển nhiên.

Trong suốt nhiều năm, Nguyễn Ánh đã chiến đấu để giành lại cơ đồ, những quốc gia chư hầu của An Nam, ngoại trừ Cao Miên, vẫn luôn luôn trung thành với hiệp ước thừa nhận bá quyền đã nối kết họ với triều đại nhà Lê.

Việc bảo hộ của An Nam trên các quốc gia chung quanh thực ra không khó để thực hiện, cũng không nặng nhọc để chịu đựng và cũng không có một ép buộc nào đã từng là cần thiết để giữ các quốc gia ấy dưới sự bảo hộ mà họ thích nghi không chút khó khăn.

Những bộ tộc sống dọc theo biên giới vương quốc tạo thành một vành đai bảo vệ chống ngoại xâm, tạo điều kiện cho việc trông coi lãnh thổ đôi khi còn lơ là, ngăn chặn những cuộc xâm lấn hăng hái như thể chính sự an toàn của họ bị đe dọa. Ngược lại, người bảo vệ dành cho họ một sự độc lập hầu như là toàn vẹn và chỉ tạo một ảnh hưởng nhẹ nhàng và hòa bình.

Các bộ tộc ấy, không quan tâm về đặc điểm được thừa nhận của mình, luôn luôn tôn trọng vương quốc An Nam, và tính hữu dụng do sự tồn tại của họ nhờ vào vị trí địa lý, cho phép họ trông cậy vào sức sống phong phú của dân tộc bá quyền, để nâng đỡ sự chuyển hóa phát triển khó nhọc của mình.

Các cửa ngõ An Nam đều được coi giữ nghiêm ngặt bởi liên quan đến an toàn của những người bảo vệ, nhưng không thu được lợi lộc nào khác ngoài chức phận bá quyền khá là mơ hồ mà An Nam áp đặt lên các bộ tộc lệ thuộc của mình, và thực ra, bằng một sự tính toán cực kỳ khéo léo, vuốt ve bản tính chiến đấu của họ với đủ biện pháp để thúc đẩy họ chống lại tốt hơn những cuộc xâm chiếm có khả năng xảy ra, mà bản thân An Nam không phải lo lắng bị đe dọa bởi sức sống do mình duy trì ở những bộ tộc phụ thuộc dễ bảo ấy.

Chuyện bình thường khi một tình trạng sự việc như thế đã tồn tại không chút hỗn loạn và không một chư hầu nào lợi dụng cơ hội có chiến tranh nổ ra ở An Nam để trút bỏ ách cai trị quá nhẹ nhàng và ích lợi ấy. Trái lại, họ vẫn trung thành với các vua chúa chính thống, từ chối mọi giúp đỡ, mọi cứu trợ cho Tây Sơn, cấm không cho họ đi qua đất mình và cấm mọi liên lạc thư tín mà phe nổi loạn gửi đến Xiêm La hay Miến Điện.

Việc nhà Nguyễn lên ngôi nắm quyền bính tối cao được các dân tộc ấy hân hoan đón nhận. Họ lập tức tái thực hiện với vua Gia Long hiệp ước đã ký kết với các chúa trước đây, nêu thêm một chứng cứ về lòng trung thành của họ, giúp đỡ quân đội nhà vua dập tắt mọi chống cự của các thủ lãnh nổi loạn cuối cùng. Sau cuộc chinh phục Đàng Ngoài, nhà vua tưởng thưởng các bộ tộc lệ thuộc chu đáo của mình bằng cách sắc phong danh hiệu thủ lãnh bộ tộc và ban danh phẩm hoàng gia cho các hoàng tử nước Lào.

Nếu thái độ của nước Lào và các cộng đồng bộ tộc thứ yếu khác không tạo cho vua Gia Long chút lo ngại nào, thì ngược lại, những quan hệ với Cao Miên và với Xiêm La buộc nhà vua phải có một hoạt động ngoại giao mạnh mẽ và cẩn thận, tỉ mỉ.

Những đoàn kiều dân đầu tiên mà các chúa An Nam thành lập ở Cao Miên đã khởi đầu một chính sách hòa nhập mà họ phải bền bỉ theo đuổi suốt trong hai thế kỷ, bằng cách cắm mốc - ta có thể nói như thế - lên những vùng đất đáng ao ước.

An Nam bị ép chặt giữa núi và biển, từ rất sớm đã phải vươn mình ra các vùng đất trù phú phía tây để giải quyết việc gia tăng dân số bằng cách hòa nhập với các dân tộc hiền hòa chỉ biết phản kháng yếu ớt. Đây là điểm chung trong lịch sử chính trị và dân tộc học của nhiều dân tộc luôn coi đó như là một giải pháp địa lý tự nhiên, những quốc gia có biên giới lãnh thổ dễ dàng bị xâm phạm thường là những quốc gia không đông dân.

Vào năm 1621, vua nước Cao Miên là Chey Chettah II, chồng của một công chúa An Nam201, đã nhờ sự cứu viện của quê vợ mà chặn đứng được một cuộc viễn chinh của người Xiêm La đe dọa ngai vàng. Để cảm tạ sự cứu nguy, và do người vợ có nhiều ảnh hưởng đến ông xúi giục, nhà vua chấp thuận cho bố vợ quyền đặt định ở vùng Sài Gòn những đội nông dân và thương gia người Đàng Trong. Việc sở hữu một cách hòa bình một mảnh đất Cao Miên lần đầu hẳn đã cho phép các chúa An Nam sau đó gây ảnh hưởng tới nội bộ của nước láng giềng, tạo nên một căn bản khởi đầu cho những cuộc di dân liên tục sau đó.

Để làm tiện việc di dân người trong nước đến các khu di trú, chính quyền An Nam lệnh cho các giới chức quan lại tại Bình Thuận tăng cường việc di dân, đồng thời giao cho các quan lại nhiệm vụ kiểm tra hành chính những cộng đồng được tổ chức ở bên ngoài biên giới ấy. Những quyền hạn quá riêng biệt của tổng trấn Bình Thuận, trong khi buộc ông ta phải liên tục lấn sang vùng đất của Cao Miên, đã cho thấy rõ nét ý định của An Nam sao cho Cao Miên không dám phản đối gay gắt. Nhưng những phản đối ấy, mà các vua Cao Miên không thể dựa vào một biểu hiện quân sự nào, không ngăn được An Nam mở rộng và đến thế kỷ XVII, các thuộc địa của An Nam trong vùng đồng bằng sông Mékong nhiều đến nỗi vua Krom-Rothabal phải tìm cách giới hạn sự phát triển ấy bằng một điều lệ dứt khoát. Chính quyền An Nam khi đó coi các biện pháp khống chế kia là nhắm vào người An Nam, không khác gì một sự xúc phạm đến vương quyền, đã dùng quân sự buộc vua Cao Miên phải thừa nhận quyền bảo hộ của An Nam (1658)202.

Năm tiếp theo, giới quý tộc Cao Miên do bà quả phụ của vua Chey Chettah II xúi giục, nổi dậy chống lại Chan, nhà vua Hồi giáo, và cầu cứu Hiền vương. Chúa Hiền gửi một đạo quân sang trợ giúp đám nổi dậy, do quan trấn thủ Phú Yên chỉ huy. Chan bị bắt và bị giải ra Quảng Bình. Chúa Hiền trả tự do cho Chan với điều kiện Chan phải lo liệu một khoản cống nạp vĩnh viễn.

Cùng lúc ấy, để thúc đẩy việc hòa nhập dòng giống, An Nam gửi qua các nước láng giềng tất cả người Hoa đã bị bắt giữ từ những trận chiến trước đấy, cũng như những tù nhân tội dân sự. Những di dân mới này, trở thành thần dân An Nam, nhận đất ở Biên Hòa và Mỹ Tho203, nhờ vào một sắp đặt khéo léo, tuân thủ quyền cai trị của tỉnh Bình Thuận.

Sự có mặt của những dân khai hóa lạ lùng trên vùng đất mới

Chẳng bao lâu làm phật ý người địa phương, họ bất lực trong việc ngăn chặn những hoạt động quá mức của đám người mới đến, và gây nên những xung đột trầm trọng. Nhưng vào lúc có những phản đối đầu tiên của chính quyền bảo hộ, năm 1691, Hiền vương đáp lại bằng cách gửi quân đội đến tận cửa Oudong và sáp nhập đồng bằng sông Cửu Long với Sài Gòn204.

Những vùng đất mới của An Nam xuất hiện ngày càng đông nông dân đến từ những vùng phía bắc của Đàng Trong, họ di dân tới đó, còn người Cao Miên dần dà thoái lui đến tận vịnh Xiêm La.

Chính sách nội thẩm, thấm sâu, dần dà lan đến tận Hà Tiên, nơi mà người Hoa tên là Mạc Cửu, sau khi đã rời Trung Hoa để trốn khỏi sự thống trị mới của vua Mãn Thanh, đã thành lập với sự hỗ trợ của người An Nam, một thuộc địa bao gồm vùng Khum205 Kompong-Thom và đảo Phú Quốc. Quyền cai trị của công quốc ấy được dâng tặng lên chúa Đàng Trong mà Cao Miên không dám phản đối chút nào (1716)206.

Vào thời kỳ ấy, An Nam đã là chủ nhân của các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Trà Vinh, Sóc Trăng, Châu Đốc. Bị đánh bại tại Kompong-Chang [Kompong Chhnang], nhưng An Nam không mất một phần đất nào đã chinh phục nhờ vào sự thảm bại của thủy quân Xiêm La trước người Hoa Mạc Cửu trong vùng biển Hà Tiên.

Việc vài kiều dân bị tàn sát đã cung cấp cho chúa An Nam một cái cớ mới để chiến tranh với Cao Miên, với cuộc chiến lần thứ tư đó, quyền sở hữu vĩnh viễn các vùng Mỹ Tho, Vĩnh Long và Sa Đéc của An Nam được thừa nhận207.

Chính vì như vậy mà vùng Nam bộ (Basse Cochinchine) ra đời, được cai trị, phát triển dưới thời các chúa Nguyễn cho đến thời kỳ Tây Sơn nổi dậy.

Những rối loạn làm phân tán lực lượng của chúa Nguyễn ngăn cản cơn suy thoái chậm rãi của vương quốc Cao Miên, nhưng lại kích thích Xiêm La thừa cơ sự hỗn loạn mà chính quyền An Nam đang còn vật lộn để nắm lấy vị trí ưu thế tại Cao Miên.

Năm 1782, vua Cao Miên là Ang Non208 bị giết, Xiêm La gửi một đạo quân sang Cao Miên để ổn định trật tự, nhưng hai tướng chỉ huy đạo quân Xiêm lại nổi loạn, mang quân về Băng Cốc và tự tuyên bố, một người làm vua, còn người kia là tể tướng được quyền kế tập, sau khi giết chết chủ nhân của mình, kẻ tiếm ngôi Phya Tak209.

Sự quan tâm đầu tiên của họ lúc vừa mới lên ngôi là giúp đỡ Ang Eng210, hoàng tử trẻ tuổi con của Ang Non [II], mà ngôi vị vua của người này vẫn còn bị tranh cãi giữa các đại quan của vương quốc. Một đạo quân Xiêm do phó vương Ben tự thân chỉ huy đã giúp hoàng tử lên ngôi vua của cha mình và giúp nhà vua trẻ chinh phục vùng Bassac, bất chấp những phản đối của một số trong các công quốc Lào vì phần đất này đã thuộc về họ.

Việc can thiệp này đã ngầm thừa nhận sự phụ thuộc của Cao Miên vào Xiêm La. Vua Ang Eng, để tưởng thưởng những giúp đỡ của phó vương Ben, giao phó cho người này quyền cai trị các tỉnh Battambang, Angkor và các huyện ở phía tây. Nhưng kẻ này nhanh chóng bác bỏ uy quyền chính thống của chủ nhân mình, y tự phong là chư hầu của triều đình Băng Cốc, là đối tượng mà sau khi qua đời y sẽ trao lại tài sản lãnh địa của mình211. Nguyễn Ánh, quá bận rộn vì công việc tại Đàng Trong, chỉ có thể phản đối những tham vọng của Xiêm La về những vùng Siem-Reap và Battambang vừa mới bị cắt rời khỏi Cao Miên. Tiếp theo đó, Nguyễn Ánh không ngừng nổi dậy chống lại chia cắt lãnh thổ của vương quốc mà ông đã tuyên bố là người bảo hộ chính thống duy nhất. Và vấn đề này mãi cho đến nay vẫn còn giữ lấy sắc thái đứng trên mặt hình thức dễ gây tranh cãi.

Ngay khi xứ Đàng Ngoài được bình định, vua Gia Long tiếp tục dùng lại chính sách của nhà Lê đối với Cao Miên. Nhà vua thiết lập lại sự kiểm soát của chính quyền An Nam đối với chính sự của chư hầu này thông qua trung gian một nhân vật được triều đình ủy quyền tại Sài Gòn212.

Vị quan được ủy quyền này là mối liên hệ cần thiết giữa Người bảo hộ và Người được bảo hộ, người này ký xác nhận những chiếu chỉ của vua Cao Miên và giám sát việc thi hành các đính ước tượng trưng, theo đó Cao Miên cứ mỗi ba năm lặp lại lễ thần phục của chư hầu đối với quốc vương An Nam.

Dầu sao, chỉ vào năm 1813, sau những thương thảo khó khăn và ngay cả mang tính đe dọa, vua Gia Long mới buộc được vua Xiêm La ký kết một thỏa thuận thừa nhận công khai sự phụ thuộc của Cao Miên vào An Nam. Đó cũng là thời kỳ thành lập thủ đô Cao Miên ở tại Phnom Penh.

Rốt cuộc, vua Gia Long, nếu đã thiết lập được vai trò bá quyền của An Nam trên đất Cao Miên, thì lại tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ chư hầu của mình chống lại sự xâm lấn của Xiêm La và đã không ngăn nổi Xiêm La sáp nhập các tỉnh Siem-Reap và Battambang.

Những phản kháng mà Gia Long cũng như các vị vua kế tục đã thực hiện đều đặn vẫn chỉ là vô ích vì Xiêm La chỉ nhường bước trước một biểu hiện quân sự, điều mà các hoàng đế An Nam đã không hề quyết tâm.

Chính Pháp là quốc gia mà Cao Miên về sau sẽ phụ thuộc, không phải để khôi phục toàn bộ đất đai Cao Miên, vì vùng Nam bộ đã hầu như hoàn toàn Việt hóa dưới triều Nguyễn, rất nhanh chóng có một đặc tính dân tộc học riêng biệt kết hợp vùng này với quốc gia thuộc địa, mà để trả về cho vương quốc những tỉnh phía tây, cái nôi của lịch sử và truyền thống Cao Miên.

*

*         *

Trong tất cả những người Pháp đã đi theo Giám mục Adran ở xứ Đàng Trong, duy chỉ Chaigneau và Vannier là còn ở lại bên cạnh vua Gia Long. Barisy, bị kiệt sức vì khí hậu và những lao nhọc của một cuộc đời mâu thuẫn, chết năm 1802; Dayot, trở nên tệ hại đối với hoàng đế vì tính vô kỷ luật và nhất là bởi những quan hệ với người Anh mà ông trở thành đại diện tại Đông Dương của họ, đã chết trong một vụ đắm tàu năm 1809 lúc trở về Manille cùng với gia đình. Cuối cùng là de Forsans, qua đời hai năm sau đó, trong nỗi cô đơn dữ dội mà ông tự buộc mình, sau nhiều lần cãi cọ với các giáo sĩ thừa sai và những tranh biện với các quan trong triều.

Từ một nhóm nhỏ nhiệt tình, xưa kia do Pigneau de Béhaine hướng dẫn để phò tá một ông hoàng bôn tẩu, bấy giờ chỉ còn lại hai người đã già nua, cay đắng vì những thất vọng và những luyến tiếc về một tuổi trẻ hoang phí trên vùng đất xa lạ. Những chiến sĩ cũ của giám mục đã tản mát sau khi chiếm thành Qui Nhơn. Một số quay về Pháp sống ẩn dật bình yên, một số người khác nhận công việc trong hải quân Hà Lan, vẫn tiếp tục rong ruổi khắp nơi, đuổi theo những ảo vọng không bao giờ nắm bắt được.

Kiều dân Pháp, rút lại chỉ còn vài giáo sĩ thừa sai, không đóng vai trò gì trong những sự vụ của vương quốc. Chaigneau và Vannier vẫn còn nhiều trách nhiệm ở triều đình, nhưng nhà vua không gọi họ tham gia vào Hội đồng của nhà vua nữa vì sợ họ cung cấp cho nước Pháp những cái cớ cho một âm mưu tiếp cận.

Gia Long, lúc đó là hoàng đế, không hề quên sự phò tá của người Pháp đối với một Nguyễn Ánh lưu vong, nhưng ông không muốn những hứa hẹn với Louis XVI trong một thời khắc thảm họa lại bị chính phủ của Louis XVIII viện dẫn để đòi nợ trong khi thực tế rõ ràng chính phủ Pháp đã tự ý từ chối thực hiện thỏa ước. Hiệp ước ký kết năm 1787 không có một giá trị gì dưới mắt nhà vua bởi vì những điều khoản của nó đã không được thực thi, bởi vì nước Pháp đã không giữ một cam kết nào mà họ đã ký vào dưới sự vận động đầy trí tuệ của Pigneau de Béhaine.

Gia Long đã tưởng thưởng những người phương Tây từng giúp mình thành lập triều đại. Ông vui lòng thừa nhận những quyền hạn mà họ có được theo lòng khoan dung của mình, nhưng hết sức cảnh giác xem liệu nước Pháp viện cớ những đóng góp cá nhân này để đòi hỏi quyền lợi can thiệp chính thức mà de Conway thuở ấy đã chống đối một cách sai lầm hay không. Chaigneau không hiểu rõ tình huống ấy, ông trách hoàng đế về chính sách tự cô lập, tức giận vì thái độ dò xét của nhà vua và hoàng thái tử [Đảm] đối với các giáo sĩ của Hội Truyền giáo. Tuy vậy, họ vẫn tiếp tục rao giảng theo ý nguyện mà Gia Long buộc phải làm hài lòng hai người bạn già. Vua Minh Mạng cũng ám ảnh lo sợ sự can thiệp của một quốc gia phương Tây vào nội bộ An Nam, sau này ông thẳng thừng tỏ thái độ tàn nhẫn mà trước kia vua cha chỉ mới manh nha, bất chấp lòng biết ơn chân thành mà ông luôn mang đối với những kẻ đã bồi đắp nên sức mạnh của mình.

Những lo ngại của vua Gia Long không phải là không giải thích được. Nhiều lần, trong suốt những năm tháng đau đớn mà nước Pháp đã trải qua kể từ sự kiện 1789, sự vụ xứ Đàng Trong đã được nhắc đến ở Paris. Năm 1797, thuyền trưởng Larcher đệ trình lên Ban Đốc chính (Directoire) một kế hoạch thiết lập ở Đông Dương, đã được cha Chaumont nghiên cứu hầu như chính xác tại Luân Đôn. Kế hoạch gợi lại khái quát nhiệm vụ được ủy thác của Giám mục Adran, tính thiếu quyết đoán và sự do dự nước đôi của các bộ trưởng dưới thời Louis XVI đã làm vuột mất cơ hội thuận tiện nhất để làm giàu cho quốc gia bằng một thuộc địa mà sự thiết lập của chúng ta ít ra vào giai đoạn đầu sẽ được chính Nguyễn Ánh tạo cơ hội dễ dàng. Larcher đề nghị với Ban Đốc chính nương nhờ nước Tây Ban Nha, bạn đồng minh trong giai đoạn này, để chiếm Poulo-Condor và Tourane sau khi đã chặn lối biển Đông không cho người Anh vào. Không còn là vấn đề đến giúp Nguyễn Ánh nữa, mà là thực hiện một cuộc chinh phục thật sự gây thiệt hại cho người bản xứ.

Ban Đốc chính lúc ấy chuẩn bị một cuộc viễn chinh vĩ đại ở Ấn Độ. Họ quyết tâm tiêu diệt tận cùng sức mạnh Anh quốc trong vương quốc bao la ở châu Á của nước này, đồng thời Ban Đốc chính tìm cách thúc đẩy Ái Nhĩ Lan nổi dậy bằng cách hứa hẹn cho phe ly khai một viện trợ to lớn và cụ thể. Một hoạt động tại Đông Dương có thể cung cấp một căn bản quý báu cho một cuộc viễn chinh thứ hai sẽ chặn đứng hạm đội Anh quốc trong vịnh Bengale. Vì thế hoạt động này đã được nghiên cứu đến tận những chi tiết nhỏ. Kế hoạch của Bonaparte, như đã được trình bày trong Hồi ký ở Sainte Helene bao gồm việc đưa vào hoạt động một đạo quân 60.000 binh lính “cưỡi 50.000 lạc đà và 10.000 ngựa, chở theo thực phẩm đủ cho năm mươi ngày và nước uống cho sáu ngày”. Đạo quân ấy trong bốn mươi ngày phải đến Euphrate và trong vòng bốn tháng “đến giữa vùng dân Sikhs, dân Mahrattes và các dân tộc của Hindoustan, đang nôn nóng cởi bỏ ách thống trị...”.

Bất hạnh thay, sự “thất bại vinh quang” của mặt trận Ai Cập và việc tiêu tan hạm đội của chúng ta tại Aboukir, đã cứu Anh quốc khỏi mối nguy hiểm mà nước này chưa hề trải qua, buộc Ban Đốc chính phải dẹp qua kế hoạch của Larcher.

Năm năm sau, cựu thống đốc của Pondichéry, Charpentier de Cossigny, người từng ủng hộ Pigneau de Béhaine213, nhiệt tình khuyên nhủ Portalis tham gia vào Đệ nhất Tổng tài, không phải để dùng lại ý tưởng lớn lao của Giám mục Adran vì đã quá muộn để đề nghị với vua Gia Long một sự giúp đỡ mà ông không cần nữa, mà để ký kết một hiệp ước liên minh, với mục đích lấy lại ảnh hưởng nước Pháp đã mất đi từ khi giám mục qua đời. Cossigny tự nguyện ra đi, dầu đã lớn tuổi, để làm sứ giả đàm phán. Thế là, mười lăm năm sau cuộc du hành không kết quả của Pigneau de Béhaine, cựu thống đốc của Pondichéry nghĩ đến việc vượt trùng dương để sửa chữa lỗi lầm của de Montmorin. Nhưng các vai trò đã bị đảo ngược và Bonaparte, bị cuốn hút trong những sôi sục rộn ràng của châu Âu, hoãn lại việc can thiệp ngoại giao với An Nam. Chỉ đến năm 1813 thì vua Napoléon mới lệnh cho cố vấn quốc gia d’Hauterive tập hợp các tài liệu liên quan đến sự vụ xứ Đàng Trong. Những thông tin về vấn đề trên do Giám đốc Văn khố cung cấp thì cực kỳ mơ hồ: “Tôi nhớ đã nghe trước đây có nói đến xứ Đàng Trong và vào thuở ấy Giám mục Adran đã có viếng thăm Paris để cầu xin trợ giúp của nước Pháp. Việc thương lượng đã kéo dài... Giám mục sau đó đã đi xứ Đàng Trong. Tôi không dám bảo đảm chính xác những sự kiện ấy. Tôi chỉ trình bày chúng như một đối tượng của hồi ký...”.

Hoàng đế [Napoléon] nôn nóng truyền lệnh thực hiện những tìm kiếm mới trong văn khố của Bộ Hải quân và cuối cùng tìm được thư từ trao đổi giữa de Conway với La Luzerne. Nhưng sự sụp đổ của Đế chế đã làm chấm dứt mọi ý tưởng của một thời về việc can thiệp vào Đông Dương.

Kế hoạch tái tổ chức khu vực thuộc địa do nam tước Portal thực hiện, hẳn đã có tác dụng trước hết là khuyến khích các chủ tàu tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho thương mãi nước Pháp, để cạnh tranh với người Anh là người trong thực tế độc quyền vận chuyển hàng hóa từ nước ngoài vào. Những biện pháp thông minh mà chính phủ vua Louis XVIII thực hiện vào năm 1816 làm náo động trở lại sự đua tranh trong những hải cảng mà hoạt động của những hạm đội Anh quốc trước đây đã dập tắt trong những giai đoạn chiến tranh. Quận công de Richelieu214 kích thích sự trang bị tàu bè bằng cách miễn đi một số quyền hạn hải quan để chiếu cố đến những hàng hóa ngoại nhập và việc phân cấp một tiền thưởng quan trọng cho mỗi chuyến viễn hành trở về. Không cần đợi lâu những kết quả của chính sách này. Kể từ năm 1816, những chủ tàu ở Bordeaux gửi đến An Nam hai tàu lớn mà các thuyền trưởng nhận sứ mệnh tiếp xúc với chính quyền An Nam đồng thời thiết lập những quan hệ đều đặn với dân chúng sống trên bờ. Hai chiếc tàu này có tàu hộ tống của hoàng gia La Cybèle đi kèm, do thuyền trưởng de Kergariou chỉ huy, có nhiệm vụ giương cờ Pháp tại Viễn Đông và bảo vệ việc buôn bán của chúng ta trong trường hợp bất trắc215.

Quận công Richelieu nghĩ rằng việc triển khai hoạt động sẽ đánh thức ở vua Gia Long những kỷ niệm của năm 1787, nhưng trong lúc vội vã muốn thấy Cybèle ra khơi, ông [Richelieu] đã quên trao cho ông Kergariou một lá thư thừa nhận tư cách của thuyền trưởng lúc ông này xin diện kiến nhà vua. Lỗi lầm này làm cuộc hành trình của Kergariou trở thành vô ích.

Hộ tống hạm Pháp vào tháng 12 năm 1817 vào đến Tourane và gặp hai tàu đã đến đấy trước và đang chuẩn bị quay về Pháp mà không thể bán được gì số hàng hóa trên tàu. Kergariou ngạc nhiên trước thái độ thiếu vồn vã của quan lại khi trả lời việc cầu thân của mình, ông khẩn khoản nhờ Vannier xin nhà vua một buổi triều kiến. Nhưng ông vấp phải một sự từ chối lễ độ. Vua Gia Long báo rằng rất tiếc không thể vi phạm luật lệ của vương quốc ngăn không cho nhà vua đón tiếp một thường dân. Tuy nhiên, nhà vua ban cho thuyền trưởng sự tiếp đón ân cần mà Chaigneau và Vannier cố gắng làm cho hấp dẫn: “Tôi rất vui”, Vannier đã viết cho ông Baroudel, “vì Kergariou tin chắc rằng sứ mạng của ông ấy thất bại không phải do tôi. Cố nhiên tôi rất muốn và hết lòng thu xếp để ông ấy có được một buổi triều kiến với đức vua. Nhưng những mánh khóe của chốn cung đình và sự ngờ vực của hoàng thái tử đã làm việc tiếp xúc không thành công, lấy cớ về những luật lệ trong nước, và về việc Kergariou không có thư của vua nước Pháp gửi cho đức vua An Nam, mà cũng không có lấy một lá thư của bộ trưởng Pháp gửi cho quan thượng thư nơi đây, để nói rằng không biết làm thế nào để đón tiếp v.v... Thật là một sự vong ơn của một ông hoàng đã mắc nợ người châu Âu, nhất là người Pháp, trong việc chinh phục lãnh thổ mình. Tôi thú thật rằng ông Chaigneau và tôi đã rất chán đất An Nam này và chúng tôi sắp sửa ra đi. Lại thêm, hoàng thái tử kế vị đã nói sẽ truy hại thánh giáo của chúng ta rồi... Vả chăng, nếu người ta không truy hại những người Thiên Chúa giáo, thì đó là bởi vì họ còn tôn trọng hai chúng tôi, nhưng mong rằng điều ấy không xảy ra. Nếu chúng tôi còn được tôn trọng trong vương quốc, thì người ta phải tưởng thưởng cho chúng tôi và cho phép chúng tôi ra đi. Điều ấy có thể có nghĩa rằng, ở An Nam, chúng tôi bị trả về. Theo sự trình bày này, ông có thể thấy rõ rằng sau khi nhà vua qua đời, sẽ rất khó khăn để chúng tôi còn ở lại thêm nữa. Sẽ không đúng về mặt chính trị nếu chúng tôi phàn nàn về nhà vua, bởi lẽ ngài luôn hết lòng với chúng tôi và tỏ ra coi trọng chúng tôi hơn cả mọi quan lại...”.

Vua Gia Long tránh né mọi cầu thân của quận công Richelieu. Lần đầu tiên không còn nghi ngờ gì nữa, với một sĩ quan Pháp trọng trách về một sứ mạng của chính phủ, nhà vua đã vừa tuyên bố rất dứt khoát ý muốn của mình tránh mọi mưu toan xích lại gần một quốc gia phương Tây.

Chaigneau không nhầm về việc này, ông cố tìm cách giảm bớt những tác dụng tồi tệ của việc thất bại này bằng cách xin nhà vua chấp nhận một chuyến tàu thương mãi khác để bù đắp vào những tổn thất mà các chủ tàu ở Bordeaux đã phải chịu. Vua Gia Long, mặc dầu có sự phản đối của hoàng thái tử Đảm, đã chấp thuận cho tàu thương mãi Pháp được tự do cập cảng Tourane. Ông Kergariou có vẻ bằng lòng và chuẩn bị ra khơi.

Tuy nhiên, quận công Richelieu vẫn muốn đeo đuổi kế hoạch của mình. Mục đích của ông không phải thành lập ở An Nam một thuộc địa mà việc khuếch trương vượt ra ngoài khuôn khổ của chính sách và những khả năng tài chính của chính phủ hoàng gia là người phải thanh toán một di sản quá nặng nề, mà để cung cấp cho việc trang bị tàu bè Pháp những phương tiện để tự phục hồi, đồng thời mở cho họ những hải cảng ở các biển miền châu Á. Ông không nản lòng thuyết phục vua Gia Long và viết thư cho Chaigneau yêu cầu chuẩn bị tình thế cho một thỏa ước mà ông vẫn khăng khăng tin là sẽ xảy ra. Ông làm cho Chaigneau tin tưởng ít nhiều bằng cách ban cho ông này huy chương Bắc đẩu Bội tinh.

Trong thời gian đó, những nhà buôn ở Bordeaux, phấn khởi vì những hứa hẹn mà Kergariou tuyên bố, đã trang bị hai chiếc tàu mới, LaroseHenri. Cả hai thuận lợi cập cảng Tourane với những hàng hóa trong danh sách do Vannier lập. Hàng hóa trên tàu được dỡ xuống bến miễn phí và được chấp thuận không bàn cãi gì, được trả tiền chu đáo và được thay thế chuyến hàng đã bán bằng một chuyến hàng trở về gồm trà, đường, tơ lụa sống, bạc thỏi. Chuyến đi thành công trọn vẹn và những thông tin do các thuyền trưởng mang lại làm cho Bộ trưởng [de Richelieu] vững tin trong những ảo tưởng của mình. Ông cho rằng đã đến lúc biến thái độ đúng đắn của nhà vua đối với các thương nhân Pháp thành một hiệp ước chính thức.

Vào lúc ấy Chaigneau muốn hồi hương, xin nhà vua nghỉ phép ba năm. Vua Gia Long chấp thuận bằng những lời lẽ thân ái nhất cho ông được phép được rời khỏi An Nam đồng thời bảo đảm rằng sẽ đón ông trở lại với cùng một sự trọng thị như trước, chứng thực những hứa hẹn bằng văn kiện theo đúng thể thức và giữ nguyên phẩm hàm cho ông.

Chaigneau lên tàu Henri tháng 11 năm 1819 và cập cảng Bordeaux tháng 4 năm 1820. Ông không hưởng kỳ nghỉ của mình bao nhiêu: vài ngày sau khi về nước, ông được nam tước Portal khi ấy là Bộ trưởng Bộ Hải quân gọi về Paris. Nam tước đón tiếp với nhiều trân trọng người bạn già của vua Gia Long, ghi chép với rất nhiều chú tâm những thông tin chính xác mà Chaigneau cung cấp về đất nước mà ông đã sống ở đấy hai mươi sáu năm, về sự giàu có của xứ sở, tính cách của hoàng đế, phong tục của dân chúng, tình hình chính trị của đất nước. Chaigneau không giấu những lo ngại đã nảy nở trong tâm trí về thái độ thù nghịch của hoàng thái tử [Đảm] đối với người châu Âu và đặc biệt đối với người Pháp. Ông trình bày hoàn cảnh bấp bênh của các giáo sĩ thừa sai, bị lúng túng trong hoạt động của Hội Truyền giáo bởi sự bất tín nhiệm của hoàng thái tử Đảm mà ảnh hưởng càng ngày càng lớn trong hệ thống hành chính của vương quốc trong khi sức khỏe của vua cha càng lúc càng giảm sút.

Ông không đợi điều gì tốt lành cho nước Pháp từ triều đại mới sẽ sớm kế vị, và ông không giấu điều đó với bộ trưởng.

Những thông tin ấy làm Portal thất vọng. Nhưng thúc đẩy bởi những chủ tàu ở Bordeaux, ông thôi thúc nhà vua quyết định gửi một đại diện có năng lực của chính phủ, có nhiệm vụ thương thảo một hiệp ước thương mãi.

Chaigneau cũng được chỉ định để hoàn thành vai trò tế nhị ấy. Ông được phong Lãnh sự của nước Pháp, ủy viên của đức vua216, tước hiệp sĩ Saint-Louis và lên tàu năm 1821, mang theo những quà tặng cho hoàng đế, những loại thuốc chủng và một bộ Bách khoa toàn thư năm 1760, để truyền bá ở Đông Dương những kiến thức về nghệ thuật và khoa học của phương Tây.

Lúc ông cập cảng Tourane vào tháng 6 năm 1821, thì ông phải gửi các quà tặng và ủy nhiệm thư cho các quan đại diện vua Minh Mạng vì vua Gia Long đã qua đời ngày 2 tháng 2 năm 1820.

Sự mất mát ấy đã lấy đi ở người Lãnh sự mới này mọi ảo tưởng cuối cùng mà ông gìn giữ cho giải pháp sứ mệnh của mình. Dẫu sao ông cũng tìm cách, trong dịp giới thiệu long trọng ủy nhiệm thư của vua Louis XVIII, làm cho vua Minh Mạng xem ra thích thú ý nguyện xích lại gần nhau được vua nước Pháp trình bày, và lợi ích mà An Nam rút ra được từ một hoạt động thương mãi hỗ tương. Nhưng hoàng đế đã tỏ rõ cho ông hiểu ý định không thực hiện một cam kết nào về vấn đề này. Chaigneau rút lui thất vọng.

Vua Minh Mạng nhấn mạnh thái độ của mình bằng cách từ chối thừa nhận như đã thấy, người đại diện của chính phủ Pháp mà nhà vua vẫn còn tiếp tục xem như một viên quan ở triều đình mình. Chaigneau hiểu ra rằng việc kéo dài thời gian lưu trú tại Đông Dương chỉ làm kích động tính nhạy cảm ngờ vực của nhà vua, xuống tàu về Pháp với Vannier217 sau khi xin được nghỉ việc vĩnh viễn. Việc xin nghỉ được chấp thuận không chút luyến tiếc.

Việc ra đi của Chaigneau làm chấm dứt đột ngột những quan hệ mà người Pháp đã duy trì trong ba mươi năm ở An Nam vì lợi ích lớn nhất cho triều đại mới. Cháu họ của Chaigneau có một thời là chưởng ấn của lãnh sự quán đã cố tìm cách trở về với vua Minh Mạng để tiếp tục thực hiện chức vụ của mình. Người cháu đã rời Manille nơi mà ông ấy có mặt năm 1825, cho rằng sự chống đối việc trở lại của ông bắt nguồn từ ý định xấu của những quan lại cấp dưới. Nhưng tàu của ông đi nhờ gặp tai nạn cách Tourane không xa. Ông được đón về với tư cách một kẻ đắm tàu và hoàng đế từ khước đón tiếp ông như một nhân viên của vua nước Pháp, vì ngại bị buộc phải chấp nhận những quyền tương tự với người Anh.

Thế là chấm dứt, bằng sự quay trở lại với những truyền thống phong tỏa, cuộc phiêu lưu lạ lùng nhất và cũng ít được biết nhất trong những cuộc phiêu lưu viễn xứ, qua đó hai chủng tộc rất khác biệt nhau đã đến gần với nhau mà không hề hiểu được nhau.

Có thể kết luận rằng vua Gia Long đã bị sức mạnh của những biến cố chính trị xô đẩy, buộc ông theo đuổi chính sách của các tiên vương bằng cách chú tâm gắn kết chặt chẽ sự nghiệp thống nhất vương quốc mà sự tương tranh của các dòng họ lớn có đặc quyền đã ngăn trở rất lâu dài.

Nhà vua đã tiếp tục công việc đồng hóa rất hòa bình ở Cao Miên bằng cách phân bổ di cư những nhóm nông phu mà ông duy trì dưới quyền quản lý của quan lại, đồng thời phát triển nguyên tắc luật ấy rất khôn khéo. Nhờ thế nhà vua gìn giữ cho những người An Nam cư trú trên đất nước ngoài những quyền hạn tư pháp rộng rãi như thể họ đã không hề vượt quá biên giới vương quốc.

Nhà vua đã xa lánh những người châu Âu với một thái độ nghi kị, tuy thế không từ chối những lợi ích vô vị lợi mà nhà vua có thể có được, đó là những đường nét cốt lõi của một chính sách mà vua Minh Mạng theo đuổi với một thái độ kiên định không lay chuyển.

Những người kế nghiệp vua Gia Long, trong cuộc kháng cự ngạo nghễ đối với mọi hoạt động quốc tế, tưởng rằng được an toàn trước những âm mưu của các cường quốc phương Tây nhờ vẻ ngoài hoa mỹ tráng lệ nhưng chao đảo của một tổ chức xưa cũ của họ. Họ không hiểu được rằng, sự bền vững của quyền lãnh đạo quốc gia trước hết đòi hỏi phải có sự hòa hợp của những nguyên tắc với sự vận động bất khả kháng của cuộc tiến hóa toàn cầu và chẳng bao lâu những thể thức lỗi thời trong đường lối ngoại giao của họ sẽ trở nên bất lực để giữ gìn ở An Nam bản sắc dân tộc và sự toàn vẹn bề mặt mà vì thế họ đã chiến đấu trong suốt nhiều thế kỷ qua.

« Lùi
Tiến »