Ngày hôm sau, trong công ty buôn thảm Sinvosoglou một biến cố quan trọng xảy ra. Ông Aratoon Kebabian, một trong những khách hàng quan trọng từ Hoa Kỳ đến Constantinople để mua thảm. Một cơ sở buôn bán như của Công ty Sinyosoglou và Huynh Đệ phần lớn trông cậy vào một số khách hàng buôn sỉ hiếm hoi, mà hầu hết đều từ Mỹ sang. Vì vậy họ phải làm mọi cách để lấy lòng những khách hàng đó.
Stavros và một số phu khuân vác đang khiêng một cuốn thảm Sarouk. Stavros im lặng và suy tư. Một người phu giục chàng.
Ông Aleko: “Mau lên. Mau lên một chút đi nào.”
Ông qua sang ông Aratoon Kebabian, hết lời ca tụng: “Tôi để anh ba mươi tấm thảm Sarouk khổ 9x12 cho ông đó. Thử hỏi mấy đứa nhỏ coi.” Quay sang những người vừa khiêng bó thảm vào: “Đúng vậy không?”
Mấy người phu ầm ừ: “Thưa phải.”
Ông Aleko: “Ở sau kho đó! Đậy kín giống như trứng gà dưới bụng mẹ.”
Ông cầm một góc tấm thảm mà Stavros và mấy người phu vừa trải ra và kéo lại gần ông Aratoon Kebabian. Ông này đang ngồi trên ghế, như một ông vua, với chiếc nón rơm thay vương miện. Bên cạnh ông, đã bày sẵn một bàn con chất đầy những kẹo ngọt và một ống điếu thuốc nước (giống như thuốc lào của VN ta) mà thỉnh thoảng ông lại rít một hơi. Ông ta đã bảy mươi hai tuổi, nhưng trông trẻ hơn đôi chút – trừ vào buổi sang, trông ông già hơn. Trong tay ông cầm những trái bi mã não. Ông ăn bận như thể sắp sửa đi dự một buổi đua ngựa vậy.
Ông Aleko: “Ông thông thạo về thảm hơn tôi. Ông dư biết là ông chưa mấy khi trông thấy những tấm thảm đẹp như những tấm này. Ông thử sờ coi. Thật là mềm mại. Như tơ vậy.”
Rồi chợt ông Aleko đổi hướng. Với sự phụ giúp của Stavros và mấy người phu, ông cầm một góc thảm kéo lại phía bà Kebabian.
Ông Aleko: “Thưa bà, mời bà sờ thử coi tấm thảm Sarouk này.”
Ông Aratoon: “Bà ta không biết gì về thảm đâu, ngoại trừ sống nhờ vào tiền lời buôn thảm.”
Ông Aleko: “Cứ để bà ấy sờ thử coi cho biết. Bà sờ thử đi!” Quay sang Stavros: “Stavros, con ngủ gật sao? Mang tấm thảm lại đây đi. Hôm nay con làm sao vậy?”
Bà Sophia: “Ông đừng bận tâm làm gì. Tôi không thích thảm đâu.”
Bà ta không thích thảm, vậy nên ông Aleko dẫn Stavros đến giới thiệu: “Thưa bà, bà cho phép tôi giới thiệu với bà ông chủ tương lai. Một ngày kia tất cả đây sẽ thuộc về hắn. Stavros Topuzoglou, con rể tương lai của tôi. Stavros, lại đây con, hôn tay bà Kebabian đi.”
Bà Sophia Kebabian là một người đàn bà bốn mươi bốn tuổi ngăm ngăm, mảnh khảnh, yểu điệu, sang trọng, xa xăm. Da mặt bà hồng hào như vừa uống rượu. Bà để ý thấy Stavros có vẻ tư lự.
Bà Sophia: “Cháu không cần phải hôn tay tôi.”
Ông Aleko: “Dĩ nhiên. Bên Mỹ người ta không làm việc đó. Vậy bà chỉ vẽ cho nó bên Mỹ người ta làm sao. Xin bà tin tôi. Cậu con rể tương lai của tôi mơ ước được đi Mỹ”.
Bà Sophia: “Này ông Sinyosoglou, ông không cần phải rao hàng với tôi, ông nên rao hàng với chồng tôi.”
Stavros cảm thấy thích bà ta. Lối xử sự của bà hợp ý chàng. Ông Aleko cười gượng gạo. Ông không quen gặp những người đàn bà “nói lại” với ông.
Bà Sophia nói tiếp với ông Aleko: “Ông chồng tôi sẽ mua hàng của ông. Ông ta chỉ hành hạ ông chút đỉnh chơi vậy mà.”
Một khay thức uống được chuyền đến mời mọi người. Ông Aratoon băn khoăn nhìn bà vợ, xem bà có cầm không.
Bà Sophia: “Không. Không. Xin cảm ơn…”
Ông Aleko: “Bà làm ơn chỉ bày cho nó bên Mỹ người ta làm sao?”
Bà Sophia: “Ồ…”
Bà ta chìa bàn tay ra. Stavros ngập ngừng đưa tay cầm.
Bà Sophia: “Không phải vậy. Anh cầm lấy tay tôi. Thế này. Đúng rồi. Lắc đi. Như thế này.”
Stavros: “Bên Mỹ người ta làm vậy sao? Ý tôi muốn nói là giữa đàn ông và đàn bà?”
Bà Sophia: “Dĩ nhiên.”
Ông Aleko vui mừng thấy bà Sophia thích chàng trai, nói: “Tất cả mộng lớn trên đời đó là được đi Mỹ. Bà thử tưởng tượng coi.”
Bà Sophia: “Có gì đâu. Nhiều người đã thực hiện.”
Ông Aleko: “Nhưng một cậu trai như thế này! Trời đất!”
Stavros suýt quay sang cự nự với ông. Bà Sophia để ý đến cử chỉ đó. Rồi chợt ông Aleko nhận thấy chuyện gì đổi khác sau lưng ông, và quay lại chạy về phía ông Aratoon, đang tính bỏ đi.
Ông Aleko: “Ông Aratoon, ông đi đâu đó?”
Ông Aratoon: “Đến giờ ăn rồi. Cái bụng tôi là cái đồng hồ của tôi”.
Stavros khẽ quay sang bà Sophia: “Bà là người Mỹ?”
Chàng chưa bao giờ được trông thấy một người đàn bà dạn dĩ, tự do. Chàng nhận xét người đàn bà trước mặt, bị lôi cuốn bởi những cử chỉ, bộ điệu, quần áo, nước hoa của bà ta. Đối với chàng, bà ta là nước Mỹ.
Bà Sophia: “Vâng. Tôi sinh ra ở đây, nhưng ông Kebabian đem tôi sang Mỹ, hai mươi lăm năm trước đây, khi tôi lấy ông ấy và tôi…”
Bà kéo tấm màn phru mặt lên. Bà nhìn chàng. Chàng nhìn bà ta.
Ông Aratoon: “Sophia, bà có đi không?”
Bà Sophia: “Không. Tôi không đi đâu.”
Ông Aleko: “Ba phải đi mới được. Họ đang chờ chúng ta ở nhà hàng Abdullah. Tôi đã nói với ông quản lý. Hẳn bà đã nhìn thấy mặt ông ta khi tôi xướng danh Ông Bà Aratoon Kebabian.” Ông ta quay sang ông Aratoon. “Tất cả những món mà ông từng dùng ở đó và tỏ ý thích, thì hôm nay đều dọn sẵn. Bà phải đi mới được.” Rồi lại quay sang bà Sophia: “Trông bà gầy đi”.
Ông Aratoon: “Bà ta không chịu ăn. Tôi đã cưới một người đàn bà, vậy mà bây giờ, coi đó!”
Bà Sophia: “Tôi không thích ăn khi không thấy đói.”
Stavros mỉm cười với bà ta. Chàng nhận ra đây là một người đàn bà dám phản kháng, một đồng đội.
Ông Aratoon: “Ông coi. Bà ta cãi lại tôi. Họ làm hư bà ta. Cái ngày bà trở thành công dân Mỹ là bà trở nên hư.” Quay sang vợ: “Này, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập chỉ là chuyện chính trị. Không dính dự gì đến đàn bà hết”. Rồi quay sang ông Aleko: “Thôi. Chúng mình đi. Hết hy vọng nơi bà ra.” Rồi với bà vợ: “Tôi để xe lại cho bà dùng.”
Ông đi ra.
Bà Sophia đang đi phố mua sắm, và mang nhiều gói đồ.
Stavros: “Tôi có thể giúp bà mang những món đồ này về khách sạn của bà không?”
Bà Sophia: “Tại sao không. Được. Cám ơn anh.”
Bà Sophia và Stavros đi vào căn phòng của ông bà Kenbabian trong khách sạn PeraPalace. Bà thích thú trước viễn cảnh một cuộc phiêu lưu, đóng vai một người phụ nữ sang trọng, quí phái. Họ dược một cô tớ gái người Đức đón.
Bà Sophia: “Bertha, chào ông…”
Stavros: “Topouzoglou.”
Bà Sophia: “Anh dùng cơm trưa?”
Stavros: “Thưa không. Không dám phiền.”
Bà Sophia: “Bertha!”
Stavros: “Sợ phiền bà”.
Bà Sophia: “Có gì phiền đâu.”
Stavros: “Tôi không thích ăn khi tôi không đói.”
Bà Sophia: “Ờ…Tất cả mọi người Hy Lạp đều được dạy phải từ chối hai lần. Tôi không chịu tin anh, cho đến lúc nào anh từ chối lần thứ ba. Anh dùng gì. Anh thật dễ thương.”
Stavros: “Không. Tôi không dùng gì đâu.”
Nhưng chàng không tỏ ý muốn đi ra. Do dự. Chàng mỉm cười lúng túng. Bertha đang bận bịu với rương quần áo ở phía sau.
Stavros: “Cả một tủ áo? Đi đâu bà mang theo cả? Tôi có thể…?”
Bà Sophia: “Bertha. Chỉ cho ông này xem đi.”
Stavros đến xem xét cái rương quần áo.
Stavros: “Mỹ! Mỹ!”
Bà Sophia mỉm cười. Chàng trai quì xuống bên rương quần áo.
Bà Sophia: “Chỗ này đựng giày. Anh thấy không?”
Stavros: “Bà có tạp chí nào từ Mỹ không? Hình ảnh nhật báo?”
Bà Sophia: “Có chớ. Anh muốn xem không?”
Stavros mỉm cười, gật đầu.
Stavros: “Bà cho phép tôi?”
Một lúc lâu sau. Bà Sophia nằm trên giường trong phòng ngủ, uống nước ngọt. Bertha đi vào. Bà Sophia nói nhỏ “Bertha”. Bertha “Dạ, thưa bà.” Bà Sophia: “Nó còn ở đó không/”
Bertha: “Thưa bà còn.”
Bà Sophia đứng lên, bước ra cánh cửa căn phòng ngủ và phòng khách. Bà mở nhè nhẹ. Stavros đang ngồi dưới sàn, vẫn chăm chú vào tờ tạp chí. Rồi chàng nhìn thấy một chiếc nón rơm của ông Aratoon. Chàng nhón gót đi lại gần, đội lên. Chàng ngắm bóng mình trong gương, nhấp nháy mắt.
CHàng trai làm cho bà Sophia xúc động. Tại sao? Bà không rõ. Nhưng chàng đánh thức một cái gì trong tâm hồn bà tưởng đã chết từ lâu. Bà uống nước ngọt, rồi bước lại bàn trang điểm, ngồi xuống, nhìn vào gương. Nếu ánh mắt có lời nói, thì người ta có thể nghe: “Tôi vẫn còn xinh đẹp vào lứa tuổi của tôi.” Bà lại uống thêm ngụm nước.
Stavros ngồi xuống sàn, nhìn vào tờ tạp chí, thì cửa mở và ông Aratoon đi vào.
Ông Aratoon hỏi, lúc đi vào phòng ngủ: “Anh vẫn còn ở đây?”
Chàng trai không biết trả lời làm sao. Nhưng ông Aratoon không chờ trả lời, đã đi thẳng vào phòng ngủ.
Chẳng hiểu vì một lý do nào đó, Stavros cảm thấy có lỗi. Và hơi lo sợ. Chàng lắng nghe.
Ông Aratoon: “Nó vẫn còn ở lại đây sao?”
Bà Sophia trả lời nhỏ: “Phải. Để nó dùng cơm tối với chúng ta, rồi đưa chúng ta đi xem vũ.”
Stavros nhìn lên. Bà Sophia bước ra cửa phòng ngủ.
Bà Sophia: “Anh biết một nơi nào chúng ta có thể xem vũ được không?”
Stavros: “Dĩ nhiên tôi có biết.”
Chàng mỉm cười. Bây giờ chàng biết bà ta thích chàng.
Sau đó, trong một hộp đêm, những vũ công luân phiên khiêu vũ trước đám nhạc công. Trước chiếc bàn đặt trên sân khấu, bà Sophi đang ngồi uống nước. Ông Aratoon thì đang ăn lấy ăn để như thể là buổi trưa bị nhịn đói. Nhạc tới một chỗ nghỉ.
Bà Sophia nói với Stavros: “Tôi muốn nhìn anh khiêu vũ.”
Stavros mỉm cười. Rồi không nói thêm tiếng nào, chàng đi ra sàn nhảy. Chàng ném vài đồng tiền lên sàn. Họ bắt đầu trổ một bản mạc mới, và chàng khiêu vũ một mình.
Sophia nhìn chàng. Ông Aratoon dùng hết thức ăn, nhìn tay ông bám đầy dầu ô liu và mỡ, và đứng lên đi rửa tay.
Stavros vừa khiêu vũ vừa đi về phía bà Sophia, bây giờ ngồi một mình. Vừa khiêu vũ trước mặt bà, theo những điệu nhịp nhàng, chàng vừa phát âm những tiếng khe khẽ, hướng về bà có vẻ say đắm, mời mọc. Đôi má bà nóng bừng. Bà đưa hai bàn tay che má. Những giọt nước mắt nhè nhẹ tràn xuống. Bà bưng ly uống.
Lát sau, một nhạc sĩ độc tấu một bản nhạc cổ truyền. Ông Aratoon đã gục đầu ngủ trên bàn. Stavros và Sophia nói chuyện qua ông Aratoon ngồi ở giữa. Bây giờ bà Sophia đã hơi say, say một cách nhẹ nhàng, thấm thía. Trong lời bà nói ra, có một cái gì chua chát, u mặc.
Bà Sophia: “Tôi được mười tám tuổi, lúc cha tôi nói với tôi: Lấy ông ta đi.” Bà chỉ ông Aratoon, đang ngủ. “Tôi chưa bao giờ được phép nhìn cái của lạ đó một mình, một người đàn ông. Cho đến lúc gặp ông ta.” Bà ta lai gật gù với một chút diễu cợt hướng về phía ông chồng đang ngủ. “Ngay ngày hôm sau lễ cưới, ông ta đem tôi đi Mỹ. Và trước khi tôi biết ra, thì tôi đã có hai đứa con trai. Rồi sau đó, chuyện gì nữa? Ông ta đã có những gì ông ta muốn. Còn tôi…thành một người đàn bà đi vào tuổi già, với hai con trai, và một ông chồng có tiền của, đêm nào cũng đánh bài. Tôi chưa bao giờ sống tuổi hai mươi của mình. Hay tuổi hai mươi mốt, hay tuổi hai mươi hai của tôi vẫn nằm sâu kín trong tôi, chờ đợi đó, như một bào thai chờ ra đời. Anh biết không? Làm sao anh biết được?”
Bà không thể nói tiếp. Vì bà đang khóc. Stavros nhìn bà thương hại. Bà nhìn chàng – một tia nhìn khao khát, nương tựa. Chàng cúi mình qua bàn, cầm bàn tay bà, lật ngửa, rồi đặt môi lên đó. Chàng đứng lên, sắp bước đi, chợt đặt tay lên vai bà, chỗ gần gáy.
Lần đầu tiên trong đời, bà Sophia cảm thấy bàng hoàng, nồng cháy. Đôi mắt bà lim dim. Tất cả thân thể bà run rẩy trong một khích động sâu xa. Bà cố gỡ bàn tay ra, nhưng không được. Rồi bà đành để cho cơn xúc động chiếm đoạt lấy toàn thân bà. Bà trở lại phía bên kia, yếu ớt, xa xăm. Bà từ từ gỡ bàn tay ra.
Bà Sophia nhìn Stavros – trách móc? Bà chưa bao giờ bị một ai lôi cuốn. Và cũng chưa bao giờ nghĩ rằng có thể có ai lôi cuốn được. Bà quay sang ông chồng. Vài sợi tóc dài mà ông thường dùng để dấu chỗ hói trên đầu xỏa xuống. Bà dịu dàng vuốt lên. Bản nhạc cổ truyền tại nó. Bà nhìn ông Aratoon với ánh mắt dịu dàng mà bà chưa bao giờ có trước đây. Bà đã thoát khỏi ông. Bà mỉm cười, rồi quay sang Stavros, bây giờ với giọng thẳng thắn, đột ngột: “Đem ông ta về thôi.”
Trong văn phòng hãng tàu vận tải Lloyd của Đức, một tấm vé được đóng dấu bằng một cái dập xuống mạnh và nhanh của cái máy kiểm. Người trưởng phòng trao tấm vé cho gã thư ký. Gã thư ký trao tiền cho người trưởng phòng. Rồi gã thư ký cầm tấm vé, đi lại quầy bán vé trao cho Stavros.
Cuối cùng chàng đã cầm trong tay tấm vé tầu đi Mỹ! Chợt những cục giấy vo tròn đạp vào đầu chàng. Chàng nghe những tiếng cười rộn sau lưng.
Ngồi lom khom sát vách sau lưng chàng, có tám đứa nhỏ ngồi xổm thành hàng dọc, cùng lứa tuổi, cùng tình trạng y phục giống nhau: rách rưới và tràn đầy hy vọng. Chúng cười nhăn nhó như đàn khỉ.
Mấy hôm nay, sự giận dữ của Stavros dễ bộc phát. Chàng quay người lại. Rồi chợt chàng nhận ra một trong mấy đứa là Hohannes. Hắn đưa tay làm hiệu với chàng. Stavros đi lại phía hắn.
Stavros: “Anh? Anh cũng đi?” Hohannes gật đầu. “Có phải tôi đã nói với anh là đừng bỏ cuộc? Sao, chuyện gì xảy ra cho anh?”
Hohannes: “Ông này. Ông ta đem tất cả chúng tôi đi.”
Một người đàn ông to béo, ông Demos Agnostis đang đứng bên quầy vé, mua vé hạng chót cho tám cậu trai.
Stavros xúc động bất ngờ: “Tất cả các anh đều đi hết sao?”
Hohannes: “Ông ta có một chỗ đnáh giày ở thành phố Nữu Ước, và…”
Hohannes lại lên cơn ho, không thể nói tiếp được.
Một đứa con trai khác: “Ông ta trả tiền vé cho chúng tôi. Tàu Kaiser Wilhelm.”
Stavros: “Làm sao? Các anh làm gì…?”
Một cậu trai: “Chúng tôi làm thuê cho ông ta. Hai năm không lương.”
Stavros: “Thế à?”
Người ta có thể nhận thấy những dấu hiệu của một sự giằng co trong tâm hồn Stavros. Thèm thuồng? Tiếc hận? Tại sao bỗng tim chàng như nặng trĩu?
Stavros: “Này ông ta có chịu thuê thêm một người nữa không?”
Hohannes: “Không. Ông ta chỉ thuê tám đứa thôi. Tôi có đến tiệm buôn của anh nói cho anh biết, nhưng gặp anh đang bước lên xe ngựa với mấy người sang trọng.” Hắn đưa tay làm một cử chỉ mô tả cái bụng phệ. “Ăn uống no nê. Ăn uống no nê. Vì vậy tôi nghĩ có lẽ…”
Đột nhiên, cái mặt nạ tự mãn của Stavros lại được mang vào: “Dĩ nhiên! Hai năm làm việc không ăn lương. Như nô lệ. Các người tưởng tôi là loại người gì? Lạy chúa!”
Hohannes: “Với tôi như thế cũng tốt lắm rồi. Ờ, mà anh cũng đi nữa?”
Stavros: “Phải. Đừng lo cho tôi. Cùng trên một chuyến tàu nữa chớ. Cùng trên một chuyến tàu với nhau cả.”
Hohannes: “Làm sao anh kiếm ra đủ tiền? Phải rồi – anh có những bạn bè giàu có.”
Stavros: “Phải. Tôi có những bạn bè giàu có.”
Căn phòng trọ của Stavros thật là trơ trụi. Vài tấm chiếu trải ra ở một góc là giường nằm. Ngoài món đó ra không còn đồ đạc gì khác. Chàng ngồi lom khom dựa sát tường. Chàng không rời cái vị trí phòng thủ đó. Trước mặt chàng chỉ có hai đồ vật: một gói quần áo, và bên cạnh, cái tấm vải nệm che vai của phu khuân vác.
Thomna: “Nhưng còn linh hồn của anh, linh hồn bất diệt của anh?”
Stavros: “Cho mục nát luôn!”
Thomna: “Stavros, anh đừng nói vậy có tội.”
Stavros: “Cái trò có tội với không có tội đó là chuyện riêng của những bọn giầu sang. Em có thể khoái trò đó. Anh thì không.”
Thomna: “Nhưng anh xuất thân từ một gia đình gia giáo.”
Stavros: “Phải. Và bây giờ cả nhà đang chờ một tin mừng, phải, ít ra cũng một chút tin mừng.”
Thomna: “Nhưng cha anh. Cha anh sẽ nói sao?”
Stavros: “Anh không muốn trở thành như cha anh. Anh không muốn trở thành như cha em. Anh không muốn cái đời sốn gia đình đầm ấm này.”
Chàng đã nổi khùng. “Tất cả những người đàng hoàng này, họ chịu ở lại đây để sống nhục nhã. Anh chán ngấy cái đời sống gia đình quá yên ổn này rồi: Những bọn đi nhà thờ đều đặn, bố thí cho người nghèo đều đặn cũng chỉ biết sống trong đê nhục. Những kẻ khả kính, những kẻ lịch sự, những cử chỉ đẹp đẽ! Nhưng tôi, tôi phải đi. Tôi sắp đi. Dù có thế nào, dù có ra sao cũng mặc.”
Sau cùng,chàng dừng lại, lấy được bình tĩnh, giọng nói dịu dàng hơn, nhưng vẫn cứng rắn:
“Anh veiets thơ mời em đến đây bởi vì anh muốn nói cho em biết sự thật, trước khi anh đi. Cái sự thật về con người thật của anh, để em không còn nghĩ đến anh nữa.”
Nàng không trả lời, nhìn những đồ vật trên sàn phòng.
Thomna chỉ tấm vải phủ vai của phu khuân vác, hỏi: “Cái này là cái gì vậy? Anh đem theo sao?”
Stavros: “Dĩ nhiên. Không thể trông cậy vào ai, hay vào cái gì được. Với cái đó, sang Mỹ, anh có thể kiếm ăn được.”
Chàng vuốt ve tấm vải phủ vai của phu khuân vác một cách trìu mến.
Thomna nói bằng giọng dịu ngọt. Bây giờ nàng đành chấp nhận: “Xin Chúa che chở anh.”
Stavros: “Anh biết sẽ không bao giờ có thể gặp được một người nào như em”.
Thomna bật khóc: “Stavros, người yêu của lòng em, của linh hồn em, rồi biết anh sẽ ra sao?”
Và bây giờ, lần đầu tiên trong bao nhiêu năm tháng, Stavros cảm thấy tâm hồn mình mềm yếu. Giọng chàng dịu ngọt, và đầy hy vọng: “Anh tin rằng…Anh tin rằng sang Mỹ…Anh tin rằng anh sẽ được rửa sạch.”