VƯƠNG TRIỀU TUDOR CUỐI CÙNG

VƯƠNG TRIỀU TUDOR CUỐI CÙNG

Lượt đọc: 1258 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN I
*JANE*
bradgate house, groby, leicestershire mùa xuân năm 1550

Tôi yêu cha vì tin rằng người là bất tử, và tôi cũng thế. Chúng tôi được Chúa chọn để bước đi trên con đường của Người. Chúng tôi sẽ không bao giờ lạc lối khỏi sự che chở của Người. Chúng tôi không phải tìm chỗ cho mình trên thiên đàng bằng cách hối lộ Chúa bằng lời nói, hành động hay dâng những món của lễ xa xỉ. Chúng tôi không phải ăn bánh thánh mà giả vờ là thịt, uống rượu nho mà nghĩ là máu. Chúng tôi biết điều xuẩn ngốc đó chỉ dành cho những kẻ mê muội và là cái bẫy đối với những con chiên ngoan đạo nhưng ngu dốt. Hiểu biết này là niềm tự hào và là vinh quang của chúng tôi. Chúng tôi tin rằng, cũng như ngày càng có nhiều người tin rằng, chúng tôi đã được cứu rỗi và tất cả mọi người đều được như thế. Chúng tôi không lo sợ gì, vì chúng tôi không bao giờ chết.

Thành thật mà nói, cha tôi rất trần tục: trần tục một cách tội lỗi. Tôi ước gì người cho tôi được gột rửa linh hồn người, nhưng thường người chỉ nói: “Đi đi, Jane, đi mà viết cho những người bạn của chúng ta, những nhà cải cách tôn giáo Thụy Sĩ. Cha còn nợ họ một bức thư – hãy viết giúp cha”.

Cái sai của cha tôi là người luôn lảng tránh các buổi thuyết giảng giáo lý, nhưng đó chỉ là tội lơ là không chủ ý. Tôi biết ông dành cả trái tim và tâm hồn mình cho chân giáo1*. Tuy nhiên, tôi phải luôn nhớ rằng người là cha tôi và tôi phải vâng lời người, bất luận ý kiến hay quan điểm riêng của tôi thế nào. Đức Chúa Trời, Đấng nhìn thấy mọi sự, mới là người phán xử tối cao. Nhưng Người đã nhìn thấy cha tôi và đã tha thứ cho ông. Cha tôi được cứu rỗi nhờ đức tin của người.

1* . True religion.

Tôi e rằng mẹ tôi sẽ không được cứu khỏi hỏa ngục, và em gái tôi, Katherine, chín tuổi, nhỏ hơn tôi ba tuổi, gần như chắc chắn không bao giờ được Chúa cho sống lại ngày sau. Nó ngốc không thể tưởng tượng. Nếu mê tín, có lẽ tôi đã tin rằng nó bị quỷ ám, thật vô phương hy vọng! Còn Mary, cô em út bé bỏng của tôi, sinh ra đã mắc tội tổ tông2* mà không có cách chi được giải thoát. Em ấy đẹp như một bản sao thu nhỏ của Katherine. Người em ấy bé xíu như búp bê. Lẽ ra mẹ tôi đã đưa em ấy đi thật xa để nuôi dưỡng cách biệt khỏi chúng tôi, để chúng tôi không xấu hổ vì em ấy, nhưng bởi cha tôi quá thương đứa con út bé bỏng của người, nên em được ở lại cùng chị em chúng tôi. Em ấy không phải là một đứa ngốc. Em ấy học giỏi, thông minh, nhưng chẳng có ý niệm gì về ơn Chúa; em ấy không phải là một trong những người được Chúa chọn, như cha và tôi. Một người như em ấy, người mà sự trưởng thành đã bị hủy hoại bởi quỷ Satan – cần đặc biệt sốt sắng nguyện cầu mới mong được cứu rỗi. Tôi nghĩ một đứa trẻ năm tuổi còn quá nhỏ để chối bỏ thế giới – nhưng hãy nhớ rằng mới bốn tuổi tôi đã học tiếng Latin cơ đấy – và Chúa Giêsu của chúng tôi khi ở vào tuổi tôi đã vào đền thờ Do Thái và đàm luận với các đạo sĩ. Nếu người ta không đi theo con đường của Chúa từ khi còn nằm nôi thì khi nào họ mới bắt đầu chứ?

2* . Theo giáo lý Thiên Chúa giáo, con người chịu “Tội tổ tông” do Adam và Eve gây ra vì phản nghịch Chúa và bị đuổi ra khỏi Vườn Địa đàng.

Tôi bước vào đường học hành lúc còn rất bé. Có lẽ tôi là đứa trẻ nhỏ tuổi nhất đi học trên toàn Vương quốc Anh. Tôi được nuôi dạy trong môi trường tân giáo vốn được ưa thích bởi các học giả vĩ đại và Hoàng hậu Kateryn Parr. Có lẽ tôi là đứa học trò trẻ nhất và là cô gái có học thức nhất châu Âu cũng nên. Tôi không nghĩ rằng dì tôi, Công chúa Elizabeth, là học trò đúng nghĩa, bởi vì có nhiều người được gọi nhưng ít người được chọn. Elizabeth tội nghiệp không có dấu hiệu của việc được lựa chọn, và chuyện học hành của dì ấy rất tầm thường. Dì ấy muốn được xem là người thông minh, muốn làm vui lòng các gia sư và muốn tự mình tỏa sáng. Tôi thậm chí phải giữ mình để không mắc tội kiêu ngạo, mặc dù mẹ tôi bảo – tuy có phần thô bạo – rằng tôi nên giữ mình trước hết để không biến thành một kẻ gàn dở. Nhưng khi tôi giải thích với bà rằng dì ấy đang phạm tội, bà đã xách tai tôi và dọa dần cho tôi một trận. Tôi sẵn sàng chịu đòn vì lòng tin của mình, như Thánh nữ Anne Askew đã từng chịu như vậy, nhưng tôi nghĩ một lời xin lỗi sẽ làm vui lòng Chúa hơn, thế là tôi nhún gối cúi mình ngồi vào bàn ăn tối, nơi có một chiếc bánh lê nướng thơm lừng, món yêu thích của tôi.

Thực sự không dễ gì làm một ngôi sao sáng tại Bradgate. Đó là một nơi ngụ cư hết sức trần tục của đại gia đình chúng tôi. Một tòa nhà nguy nga tráng lệ bằng gạch đỏ trông như Cung điện Hampton3* với cổng chính to lớn sừng sững nằm giữa khu rừng Charnwood rộng lớn. Chúng tôi nắm mọi quyền lực cao nhất của hoàng gia. Mẹ tôi4* là con gái của Công chúa Mary Tudor5*, về sau là Hoàng hậu Pháp quốc, người em gái được sủng ái của Vua Henry VIII, vì vậy mẹ tôi thuộc hàng kế vị ngai vàng nước Anh sau những người con của Đức Vua6*, gồm người cậu họ Edward và hai người dì họ của tôi, Công chúa Mary và Công chúa Elizabeth, những người thừa kế thuộc hàng sau em trai mình, Hoàng tử Edward7*. Điều này biến chúng tôi trở thành gia tộc quan trọng bậc nhất nước Anh và chúng tôi không bao giờ quên điều đó. Chúng tôi có hơn ba trăm người hầu chỉ để phục vụ năm thành viên gia đình. Chúng tôi có một chuồng ngựa đầy những con ngựa đẹp và sở hữu những cánh rừng quanh dinh thự cùng các trang trại, làng mạc, sông ngòi và ao hồ ngay trung tâm nước Anh.

3* . Cung điện Hampton là cung điện hoàng gia ở Richmond, London, gần sông Thames. Hoàng gia Anh không còn sinh sống tại cung điện này từ thế kỷ 18.

4* . Mẹ Jane Grey là Frances Brandon. Frances Brandon là con của Mary Tudor với người chồng sau, Charles Brandon, công tước Suffolk.

5* . Vua Henry VII (1457 – 1509) cưới Elizabeth xứ York (1466 – 1503) và sinh ba con: Arthur Tudor Hoàng tử xứ Wales; Henry Tudor, tức Vua Henry VIII; và Mary Tudor, tức bà ngoại của Jane Grey.

6* . Tức Vua Henry VIII (1491 – 1547).

7* . Tức Vua Edward VI (1537 – 1553).

Chúng tôi có con gấu để làm mồi nhử khi đi săn, được nhốt trong hầm gấu riêng, và chúng tôi có sân chọi gà riêng. Dinh thự của chúng tôi là một trong những dinh thự lớn nhất vùng trung tâm nước Anh, được thiết kế với một đại sảnh cao rộng có phòng hòa nhạc một bên và chính điện ở phía bên kia. Vùng nông thôn đẹp nhất nước Anh là của chúng tôi. Tôi được dạy rằng tất cả đất đai này thuộc về dòng họ chúng tôi, cũng như chúng tôi chính là nước Anh.

Tất nhiên, giữa mẹ tôi và ngai vàng là ba người con hoàng tộc: Vua Edward, 12 tuổi như tôi, và ngài cai trị với sự trợ giúp của một thừa tướng; kế đến là hai Công chúa Mary và Elizabeth, những người chị của ngài. Đôi khi mọi người không xem hai công chúa là người thừa kế ngai vàng, vì cả hai đều không ra gì và bị chính cha mình từ chối. Thậm chí họ cũng không được xem là thành viên hoàng tộc nhưng vì lòng bác ái Kitô giáo của Hoàng hậu Kateryn Parr đáng kính, vụ việc của họ được mang ra tòa để họ được thừa nhận. Không may là, Công chúa Mary (xin Chúa tha thứ cho dì ấy) bị tuyên là một Kitô hữu theo Công giáo La Mã nên bị xem là kẻ dị giáo, và dù tôi buộc phải yêu thương dì ấy như những người ruột thịt, thật khiếp khi tôi phải ở trong ngôi nhà của họ, nơi dì ấy thường bỏ ra hàng giờ mỗi ngày để thờ phụng Chúa, như thể dì ấy đang sống trong tu viện chứ không phải trong một vương quốc Cải cách, vì phần lớn nước Anh dưới thời Vua Edward theo Tin lành Kháng cách8*.

8* . Tin lành nói chung thường được dùng để chỉ một cộng đồng các giáo hội khởi phát từ cuộc cải cách tôn giáo bắt đầu vào thế kỷ XVI bởi Martin Luther, tu sĩ Dòng Augustino. Mục tiêu ban đầu của Luther là kêu gọi cải cách từ bên trong Giáo hội Công giáo La Mã, về sau ông tách rời khỏi Giáo hội Công giáo và thành lập Giáo hội Luther. Cũng thời kỳ này tại châu Âu, nhiều người có quan điểm tương tự Luther cũng bắt đầu tách khỏi Công giáo La Mã và thành lập các giáo phái khác nhau. Họ được gọi dưới tên chung là Kháng cách (Protestantismus, gốc từ tiếng Latin protestatio) hay còn gọi là Tân giáo để phân biệt với cựu giáo là Công giáo La Mã. Bốn nhánh chính hiện nay của Kitô giáo là Công giáo Rôma, Kháng cách, Chính thống giáo Đông phương, và Chính thống giáo Cựu Đông phương.

Tôi không muốn nói đến Công chúa Elizabeth. Tôi không bao giờ muốn thế. Những gì tôi nhìn thấy ở dì ấy đã quá đủ đối với tôi trong thời gian hai chúng tôi sống bên cạnh Hoàng hậu Kateryn Parr và Thomas Seymour9*, vị vương phu trẻ của bà. Tất cả những gì tôi muốn nói là Elizabeth phải biết xấu hổ về bản thân mình và dì ấy phải trả lời trước Chúa về những chuyện dì ấy đã làm. Tôi nhìn thấy tất cả. Tôi chứng kiến những cuộc đuổi bắt, dỗi hờn và đùa giỡn của dì ấy với chồng của người mẹ kế. Dì ấy đã đưa Thomas Seymour – một con người vĩ đại – vào sự bất cẩn dẫn đến cái chết. Dì ấy phạm tội đam mê sắc dục và ngoại tình từ trong trái tim mình nếu không muốn nói là từ trên giường của Thomas. Dì ấy có tội về cái chết của Thomas khi gọi anh ta là kẻ tạo phản và đưa anh ta lên đoạn đầu đài. Dì ấy muốn anh ta nghĩ mình là người yêu và là chồng của dì ấy, và cả hai đều là người thừa kế ngai vàng. Lẽ ra dì ấy không nên nói nhiều như thế. Dì ấy không cần phải nhiều lời. Tôi đã nhìn thấy dì ấy ở bên cạnh anh ta như thế nào và tôi biết dì ấy đã bắt anh ta làm những gì.

9* . Tức Nam tước Seymour (c. 1509 – 1549) xứ Sudeley.

Nhưng không, tôi không phán xét. Tôi sẽ không bao giờ phán xét. Đó là vì Chúa. Tôi phải có ý nghĩ khiêm nhường, cái nhìn khoan dung và lòng trắc ẩn đối với những kẻ có tội. Dẫu vậy, tôi chắc chắn rằng Chúa cũng không thèm nhìn đến dì ấy bất kể dì ấy có cầu xin từ hỏa ngục vì đã quá muộn cho sự không thanh khiết, không chung thủy và những dục vọng thấp hèn của mình. Chúa và tôi sẽ thương hại dì ấy, nhưng tôi muốn để dì ấy bị trừng phạt mãi mãi.

Dù sao thì, kể từ khi hai Công chúa Mary và Elizabeth bị tuyên bố không đủ tư cách thừa kế ngai vàng, hai người chị cùng cha khác mẹ10* với Hoàng tử Edward ít có đòi hỏi pháp lý hơn so với con gái của Hoàng hậu Mary11*, người em gái được Vua Henry sủng ái, hay chính xác mà nói, là mẹ tôi12*.

10* . Henry VIII có sáu người vợ và ba người con chính thức. Con gái cả, Công chúa Mary (1516 – 1558) là con của ông với Katherine xứ Aragon; con giữa, Công chúa Elizabeth (1533 – 1603) là con với Anne Boleyn (c. 1501 – 1536); con út, Hoàng tử Edward, sau này là Vua Edward VI, là con với Jane Seymour (c. 1508 – 1537).

11* . Tức Hoàng hậu Mary Tudor (1496 – 1533), vợ Vua Louis XII của Pháp, bà ngoại của Jane Grey.

12* . Con gái của Hoàng hậu Mary tức là Frances Brandon (1517 – 1559), mẹ của Jane Grey.

Và đây chính là lý do, cái lý do sâu xa vì sao điều đó lại quan trọng đến mức mẹ tôi phải nghiên cứu Đức tin Cải cách13* và gạt sang một bên mọi sự xa hoa phù phiếm bề ngoài. Bà phải tránh xa các lễ hội hay tiệc tùng, bà chỉ nên khiêu vũ với những phụ nữ thuần khiết nhất của hoàng gia và không nên cưỡi con ngựa đẹp nhất của mình rong ruổi suốt ngày khắp vương quốc để săn đuổi mọi thứ như một con mãnh thú đói mồi. Những khu rừng rộng lớn xung quanh nhà chúng tôi vang vọng tiếng còi săn bắn của bà, đồng cỏ được phát quang sạch sẽ để tìm thú săn. Những con chó bị vồ chết trong hầm gấu, những con bò cái bị chọc tiết ngay bên ngoài cửa bếp. Tôi e rằng bà là người đầy ham muốn xác thịt (dòng họ nhà Tudor rất đam mê nhục dục), tôi biết rằng bà rất kiêu hãnh (dòng họ Tudor sinh ra đều là những bạo chúa), và bất cứ ai cũng có thể thấy bà là người rất xa hoa và cực kỳ ưa thích những lạc thú trần tục.

13* . Reformed Faith: Đức tin Cải cách thuộc về Thần học Calvin, gọi theo tên của nhà cải cách tôn giáo John Calvin, hệ thống thần học và phương pháp ứng dụng đức tin vào đời sống Cơ đốc, đặt trọng tâm vào quyền cai trị tối cao của Thiên Chúa. Tin lành Kháng Cách đôi khi được gọi là “Đức tin Cải cách”, “Truyền thống Cải cách”, hay “Thần học Cải cách”. (Theo Wikipedia)

Tôi phải cảnh báo bà vì điều đó, nhưng khi tôi nói với gia sư của tôi rằng tôi rất căng thẳng với ý định nói cho mẹ tôi biết rằng bà đang mắc tội, ít nhất là tội kiêu ngạo, nóng nảy, tham ăn, ham mê xác thịt và tham lam, ông đáp lại một cách cương quyết: “Công nương Jane, thực lòng là, thôi, tốt nhất là cô đừng nói”. Tôi biết ông ấy sợ bà, cũng như mọi người khác sợ bà, thậm chí cha tôi cũng thế. Điều đó càng cho thấy bà có tội vì những tham vọng không dành cho phụ nữ và vì nhiều thứ khác nữa.

Đáng ra tôi cũng sợ bà như những kẻ yếu đuối khác, nhưng tôi phải tuyên xưng đức tin của mình. Thực sự là thế. Cũng không dễ dàng gì nếu bạn là người theo Tin lành Kháng cách. Lòng can đảm đối ở những người theo Công giáo La Mã là điều rất dễ dàng – vì mỗi kẻ ngốc nghếch ấy đều có hàng tá những thứ hướng dẫn và khích lệ họ: các biểu tượng bên trong nhà thờ, tranh kính trên cửa sổ, các nữ tu, các vị linh mục, ca đoàn, của lễ, những giọt rượu nho mùi vị váng cả đầu nhưng họ lại tự huyễn hoặc mình là có vị mặn của máu Đức Kitô. Song tất cả đều là phù phiếm và hư vô. Tôi biết rằng tôi đang tuyên xưng đức tin của mình, bởi khi tôi quỳ gối nguyện cầu bên trong ngôi giáo đường trắng tinh mát lạnh trong thinh lặng, tôi nghe thấy tiếng Chúa nói với tôi, dịu dàng như một người cha yêu thương. Tôi tự đọc kinh, không ai đọc nó thay tôi, và tôi nghe Lời Chúa vọng lại với tôi. Tôi cầu xin sự khôn ngoan và khi tôi cất tiếng, tôi biết nó nằm ngay trong từng lời từng chữ trong Kinh Thánh. Tôi là người hầu việc của Ngài và kẻ tuyên xưng Ngài – đó là lý do tại sao mẹ tôi thường rất sai lầm khi hét toáng lên rằng: “Vì tình yêu của Chúa, hãy đem cái bộ mặt học giả kênh kiệu ấy biến khỏi đây ngay. Hãy ra ngoài kia mà săn bắn đi trước khi mẹ tự tay tống cổ con ra khỏi thư viện đấy!”.

Thật là sai lầm! Tôi cầu xin Chúa tha thứ cho bà, cũng như tôi đã tha thứ cho bà. Nhưng tôi biết Ngài sẽ không quên sự sỉ nhục mà tôi, kẻ tôi tớ của Ngài, phải chịu; và tôi cũng sẽ không quên điều đó. Tôi dẫn một con ngựa trong chuồng ra ngoài nhưng không đi săn. Thay vào đó, tôi đi cùng em gái Katherine, theo sau chúng tôi là một đoàn người. Chúng tôi có thể cưỡi ngựa rong ruổi khắp nơi cả ngày mà vẫn không đi hết đất đai của chúng tôi. Chúng tôi băng qua những cánh đồng và những vùng ngoại ô, nơi có những đồng yến mạch xanh rì, dày đặc đang lớn nhanh như thổi; chúng tôi chọn những bãi cỏ ngập sâu để lũ ngựa được uống nước trong. Chúng tôi là dòng dõi hoàng gia, là những người hạnh phúc nhất ở vùng nông thôn nước Anh, chúng tôi được thừa hưởng tất cả những thứ đó.

Hôm nay, không hiểu vì lý do gì, mẹ tôi trông rất vui và tôi được bảo phải mặc bộ đầm mới, bộ đầm nhung đỏ thẫm được gởi đến từ London vào tuần trước, với một chiếc mũ trùm đầu và cổ tay áo đen tuyền vì chúng tôi phải tiếp đón các vị khách quý ở bữa ăn tối. Tôi hỏi vị tổng quản14*của chúng tôi và ông nói rằng đó là cựu Hộ Quốc công15* Edward Seymour, Công tước xứ Somerset. Ông ấy bị tống giam vì tội bất trung nhưng hiện đã được phóng thích và được gọi lại vào Hội đồng Cơ mật. Rõ ràng chúng tôi đang sống trong một thời kỳ rất nguy hiểm.

14* . Lord Chamberlain: người phụ trách công việc gia đình của Hoàng gia Anh.

15* . Lord Protector: Hộ Quốc công.

“Và ông ấy mang theo con trai của mình”, vị tổng quản nói và nheo mắt với tôi, như thể tôi là một cô gái dễ bị lừa phỉnh bởi loại tin tức đó.

“Ôi, thú vị làm sao!”, cô em gái Katherine cả tin của tôi thốt lên.

Tôi nén tiếng thở dài và nói rằng tôi sẽ đọc sách trong phòng ngủ trong giờ sửa soạn y phục cho bữa tối. Nếu tôi đóng cánh cửa ngăn giữa phòng ngủ của tôi và phòng chung của chúng tôi, có thể Katherine sẽ hiểu ý mà không vào.

Nhưng không có tác dụng.

Ngay lập tức, có tiếng gõ cửa và em ấy thò cái đầu ngây ngô của mình vào phòng riêng của tôi và nói: “Ồ! Chị đang học à?”. Cứ như thể tôi đang làm gì khác không bằng!

“Vâng, đó là lý do chị đóng cửa.”

Em ấy không biết đùa chút nào cả. “Chị nghĩ gì về Công tước Somerset, người đang đến đây?”. Katherine hỏi trong khi đường đột bước vào phòng tôi dù không được mời. Mary bám ngay theo sau, như thể phòng tôi là phòng chờ của hoàng gia và bất cứ ai cũng có thể vượt qua người giữ cửa nếu họ ăn mặc tươm tất một chút.

“Em dám mang con khỉ kinh tởm ấy vào đây à?”, tôi cắt ngang khi nhìn thấy con khỉ Nozzle đang ngồi trên vai em ấy.

Katherine trông có vẻ sốc. “Tất nhiên rồi. Ngài Nozzle16* đi cùng em khắp mọi nơi, trừ những lúc em ghé thăm con gấu tội nghiệp, nó sợ gấu”.

16* . Nozzle là tên chú khỉ cưng của Katherine. Nozzle tiếng Anh nghĩa là mũi, mỏ.

“Không, nó không được vào đây! Nó xé nát sách vở của chị mất!”

“Không đâu, nó sẽ ngồi trong lòng em. Nó là một quý ngài mỏ khẹc biết điều đấy!”

“Đem nó ra ngoài!” “Em không đem.”

“Mang nó đi, chị ra lệnh đấy!”

“Chị đừng làm thế với em.”

“Chị là người lớn nhất ở đây và đây là phòng của chị.”

“Còn em là người xinh đẹp nhất và em đang đến thăm chị một cách rất lịch sự mà...”

Chúng tôi gấu ó nhau. Katherine khoe với tôi sợi dây xích bằng bạc mà em ấy tròng quanh cái cổ màu đen xám của con khỉ. “Jane, làm ơn đi mà! Em sẽ giữ chặt nó”, em ấy hứa.

“Em sẽ giữ nó cho chị!”. Mary đề nghị, và giờ đây tôi có hai kẻ đang gào lên bênh vực con khỉ, con vật đáng ghét không được vào phòng của tôi.

“Ồ thôi nào, hãy biến ngay!”, tôi nói một cách giận dữ. “Cả hai em nữa!”. Nhưng thay vào đó, Katherine quay lại và vẫy Mary ngồi vào cái ghế nơi con khỉ, không lớn hơn một con búp bê, đang ngồi, và nở một nụ cười với tôi bằng tất cả sự dịu dàng trên đời. “Không! Hãy đi đi!”

“Em sẽ đi ngay, sau khi em hỏi chị câu này”. Katherine rất mãn nguyện vì em ấy đang dùng lại chiêu cũ của mình như thường lệ. Em ấy đẹp lạ lùng, và nhạy cảm như ngài “Mũi khẹc” vậy.

“Tốt! Hỏi và biến ngay nhé!”, tôi nghiêm nghị nói.

Katherine hít một hơi. “Chị biết vì sao Công tước Somerset lại đến đây không?”.

“Không!”

“Nhưng em biết. Sao chị lại không biết? Chị là người rất, rất thông minh cơ mà!”

“Chị không muốn biết”, tôi gằn giọng.

“Em nói cho chị biết này. Tất cả những gì chị biết toàn là sách vở.”

“Sách vở à?”, tôi lặp lại như một đứa trẻ ngây thơ. “Đúng là chị biết ‘sách vở’, nhưng nếu muốn biết mọi tin tức trên đời, chị sẽ hỏi cha, người sẽ cho chị biết tất cả. Chị không cần đi nghe lỏm cha mẹ hay từ bọn người hầu hóng hớt”.

Em ấy nhảy phóc lên giường tôi như thể sẽ ở lại cho đến giờ ăn tối và duỗi thẳng người nằm lên gối của tôi như thể em ấy sắp sửa ngủ ở đây. Con khỉ Nozzle cũng tự tìm chỗ thoải mái cho mình bên cạnh em ấy trong khi gãi gãi bộ lông bóng mượt bằng những ngón tay xương xẩu bé xíu của nó.

“Nó có chấy rận không đấy?”, tôi hỏi.

“Có, nhưng không phải chấy rận”, Katherine trả lời bâng quơ. “Thế thì mang nó ra khỏi giường chị ngay lập tức!”

Đáp lại, Katherine bế nó vào lòng. “Đừng lo! Em có chuyện này rất hay. Họ đến để làm lễ đính hôn cho chị!”, em ấy thông báo. “Thấy chưa! Em biết thế nào chị cũng nhảy chồm lên cho mà xem!”.

Tôi chỉ hơi nhổm người lên một chút trong khi giữ một ngón tay đánh dấu vị trí đang đọc trong cuốn sách. “Em nghe tin này từ đâu?”.

“Mọi người đều biết cả!”. Em ấy đáp, nghĩa là tin đồn từ những người hầu, như tôi đã tiên đoán. “Mà này, chị thật may mắn! Em nghĩ Ned Seymour là anh chàng đẹp trai nhất trên đời”.

“Ừ, em thì gì cũng thích.”

“Anh ấy có đôi mắt đẹp thế cơ mà!”

“Chắc chắn anh ấy có mắt, nhưng chúng không có sức hút, mà chỉ để nhìn thôi.”

“Và có nụ cười đáng yêu. Em nghĩ anh ấy mỉm cười như bất cứ ai khác, nhưng em không phiền khi nhìn anh ấy. Anh ấy cưỡi ngựa rất cừ, ăn mặc đẹp và là con trai của người quyền lực nhất nước Anh. Không có dòng họ nào vĩ đại hơn dòng họ Seymour. Không ai giàu có hơn họ. Họ giàu có hơn chúng ta. Họ thậm chí còn ở hàng thừa kế gần ngai vàng hơn cả chúng ta.”

Tôi nghĩ, nhưng tôi không nói ra, rằng sự vĩ đại của một dòng họ không phải là sự đảm bảo cho Thomas Seymour, người bị chặt đầu cách đây một năm vì Elizabeth, và thậm chí người anh trai cũng không thể cứu anh ta. Người anh trai, người tự bảo hộ mình, sau đó bị thất sủng và giờ đây đang cố gắng gây dựng lại quyền lực.

“Ôi, đứa con đẹp trai của Đức Vua!”, em ấy thở dài.

Như thường lệ, em ấy đang nghĩ ngợi lung tung. “Ông ấy không còn là vua nữa; vị trí của ông ấy đã bị phế truất”, tôi sửa em ấy. “Hội đồng Cơ mật17* được điều hành bởi Đức ông John Dudley, Chủ tịch Hội đồng18*. Nếu em muốn lập liên minh với những người kế vị, thì đó là dòng họ Dudley”.

17* . Privy Council: Hội đồng Cơ mật.

18* . Lord President: Chủ tịch Hội đồng Cơ mật.

“Vâng, ngài ấy vẫn là cậu của vua, còn Ned vẫn là Bá tước vùng Hertford.” “Là Edward Seymour”, tôi sửa em ấy.

“Mặc kệ Edward hay Ned! Ai thèm quan tâm!”

“Và mọi người nói rằng chị sẽ đính hôn với anh ta?”, tôi hỏi.

“Vâng”, em ấy đáp gọn lỏn. “Và khi kết hôn, chị phải ra đi lần nữa. Em sẽ nhớ chị lắm. Dù chị luôn phàn nàn rằng em là đứa ngu ngốc, nhưng có chị ở đây vẫn tốt hơn. Em từng rất nhớ chị hồi chị sống với Hoàng hậu Kateryn Parr. Thành thực mà nói, em đã rất vui lúc bà ấy chết – dù rất tiếc thương bà – bởi vì em chỉ mong chị trở về nhà với chúng em”.

“Đừng đi, Jane”, Mary đột nhiên hét lên, chẳng ra phẩm cách của một công nương.

Mặc dù Kinh Thánh nói rằng mỗi môn đệ phải rời khỏi nhà mình, từ bỏ anh chị em, cha mẹ mình để đi rao giảng lời Chúa, tôi khá xúc động khi nghe những lời này. “Nếu chị được gọi đến một nơi tuyệt vời trên thế giới, chị phải đi em ạ”, tôi nói với em ấy. “Người cậu họ của chúng ta, Vua Edward, là một quan tòa công minh, và chị rất vui khi sống ở đó. Nếu Chúa kêu gọi chị đến bất cứ nơi nào, chị sẽ vâng lời và sẽ là hình mẫu cho những ai tìm kiếm. Và khi đến lượt em, chị sẽ chỉ cho em biết phải cư xử như thế nào nếu em làm đúng theo những gì chị bảo. Thực lòng mà nói, chị cũng nhớ em, và cả Mary bé bỏng, nếu chị phải ra đi”.

“Chị sẽ nhớ Mũi khẹc chứ?”. Katherine hỏi với niềm hy vọng trong khi bò ra khỏi giường và bế con khỉ đưa về phía tôi để khuôn mặt bé choắt buồn rười rượi của nó áp gần sát mặt tôi.

Tôi nhẹ nhàng gạt tay em ấy ra: “Không!”.

“Vâng, khi nào đến lượt em lấy chồng, em mong gặp được người đẹp trai như Ned Seymour”, em ấy nói. “Và em cũng không thấy có vấn đề gì nếu trở thành Bá tước Phu nhân Hertford”.

Tôi nhận ra rằng đây sẽ là tên và tước hiệu mới của tôi, và khi cha Ned qua đời, Ned sẽ trở thành Công tước xứ Somerset còn tôi sẽ trở thành công nương. “Ý Chúa sẽ được thực hiện đối với em cũng như đối với chị”, tôi nói và nghĩ về những chiếc lá dâu trên vương miện của một công tước phu nhân và sự mềm mại của chiếc vương hiệu nặng trịch trên cổ áo tôi.

“Amen”, Katherine mơ màng nói, như thể em vẫn đang nghĩ đến nụ cười của Ned Seymour. “Ồ, Amen!”.

“Chị rất nghi ngờ việc Chúa có thể biến em thành một nữ công tước”, tôi nói.

Em ấy nhìn tôi, đôi mắt xanh biếc mở rộng, làn da của em ấy, nhợt nhạt như tôi, giờ đang ửng hồng. “Ôi, hãy cầu nguyện cho em”, em nói một cách tin tưởng. “Chị có thể mang đến cho em một bá tước nếu chị cầu nguyện cho em, Jane. Chị rất gần với Chúa mà, chị chắc chắn có thể xin Chúa cho em một bá tước. Hãy cầu xin Ngài ban cho em một người thật đẹp trai vào”.

Nói về mong ước của Katherine, tôi phải thừa nhận rằng Ned Seymour dễ thương như mọi thành viên khác nhà Seymour. Anh ta nhắc tôi nhớ về ông chú Thomas của anh ta, người tốt bụng nhất mà tôi từng biết, phu quân của gia sư của tôi, Hoàng hậu Kateryn Parr trước khi Elizabeth hủy hoại hạnh phúc của họ. Ned có mái tóc nâu với đôi mắt màu hạt dẻ. Trước kia tôi chưa bao giờ để ý thấy đó là đôi mắt đẹp, nhưng cô em tôi đã nói đúng, anh ta có nụ cười ấm áp và khó cưỡng. Tôi hy vọng là anh ta không có những ý nghĩ tội lỗi đằng sau vẻ ngoài sáng chói ấy. Anh ta được nuôi dưỡng trong cung điện cùng với Đức Vua, người họ hàng của tôi, vì vậy chúng tôi biết nhau, chúng tôi cùng nhau cưỡi ngựa, cùng nhau học khiêu vũ, và thậm chí cùng học hành với nhau. Anh ta có lối suy nghĩ giống tôi – như tất cả chúng tôi đều như thế – và tất cả những người trẻ thông minh lanh lợi đều theo Tin lành. Tôi xem anh ta là một người bạn như mọi người khác trong cung điện. Anh ta là người ủng hộ nhiệt thành cho đức tin Kháng cách và đương nhiên chúng tôi cũng chia sẻ cùng nhau đức tin ấy. Tuy nhiên, phía sau lòng nhiệt thành của anh ta là một đầu óc sâu sắc và nghiêm khắc. Vua Edward người cậu họ của tôi là người trí tuệ và nghiêm nghị như tôi, vì thế chúng tôi rất thích đọc sách cùng nhau. Nhưng Ned Seymour làm cả hai chúng tôi phải bật cười. Anh ta chưa bao giờ tỏ ra thô lỗ – Đức Vua cậu họ tôi không muốn trêu đùa anh ta – nhưng anh ta rất hóm hỉnh và có sức hút khó cưỡng; sự đáng yêu được thừa hưởng từ dòng họ Seymour ấy giúp anh ta rất dễ kết bạn bất cứ nơi nào anh ta đến. Anh ta là người có thể làm bạn mỉm cười mỗi khi gặp mặt, thật thế đấy!

Tôi ngồi cùng các phu nhân bạn của mẹ tôi trong bữa tối, anh ấy ngồi cùng với các quý ông của bố mình. Bố mẹ chúng tôi ngồi ở bàn đầu trên tất cả, nơi có thể bao quát và nhìn xuống chúng tôi. Khi tôi nhìn thấy chiếc cằm nghiêng quá mức tự hào của mẹ mình, tôi nhớ ra rằng người cuối cùng sẽ là người đầu tiên, và người đầu tiên sẽ là người cuối cùng, vì rất nhiều người được gọi, nhưng chỉ ít người được chọn. Cụ thể ở đây là mẹ tôi, tôi chắc chắn rằng bà không bao giờ được lựa chọn; khi nào tôi trở thành công tước phu nhân, tôi sẽ ở vị trí cao hơn bà, và bà sẽ không bao giờ được phép la mắng tôi nữa.

Sau khi các bàn tiệc được dọn xong, các nhạc công bắt đầu chơi và tôi được lệnh phải khiêu vũ cùng những quý bà của mẹ tôi và với cô em gái Katherine của mình. Tất nhiên, Katherine thích xoay tròn người xòe rộng váy và thường nâng nó thật cao để em ấy khoe đôi giày đẹp và đôi chân thoăn thoắt của em ấy. Em ấy luôn nhoẻn miệng cười hướng về chiếc bàn trên cùng, nơi Ned đang đứng phía sau ghế của cha mình. Tôi phải xin lỗi mà nói rằng có một lần anh ta nháy mắt với chúng tôi. Tôi nghĩ cái nháy mắt đó hướng về cả hai chúng tôi, nhưng không hướng thẳng vào Katherine. Tôi rất vui vì anh ấy đang xem chúng tôi khiêu vũ – nhưng tôi không nghĩ rằng anh ấy nên nháy mắt.

Sau đó là màn khiêu vũ tập thể và mẹ tôi ra lệnh tôi kết đôi với Ned. Mọi người đều cho rằng chúng tôi trông thật đẹp đôi dù anh ấy cao hơn tôi cả một cái đầu. Tôi nhỏ bé và xanh xao; thật ra không có cô gái nào trong dòng họ Grey chúng tôi có khổ người to lớn; nhưng tôi rất vui vì mình mảnh mai dịu dàng chứ không hùng hổ mạnh bạo như Công chúa Elizabeth.

“Em nhảy đẹp lắm!”. Ned nói với tôi khi chúng tôi bước ra khỏi sàn nhảy và chờ một cặp đôi khác để kết thúc phần của họ. “Em có biết tại sao bố anh và anh ở đây không?”.

Điệu vũ tách chúng tôi ra trong chốc lát và tôi có thêm thời gian để tìm ra một câu trả lời tương xứng với phẩm giá của mình.

“Không, em không biết”, là câu trả lời mà tôi có thể thốt ra.

Anh ấy nắm tay tôi khi chúng tôi tiến về cuối hàng. Chúng tôi đứng thẳng và vòng tay lên cao thành hình mái vòm và anh ta mỉm cười với tôi trong khi những người khác cúi chào như khích lệ. “Họ muốn hai ta kết hôn”, anh ta hân hoan nói. “Điều này đã được chấp thuận. Chúng ta phải trở thành vợ chồng”.

Chúng tôi đứng đối diện nhau trong khi một cặp vũ công khác đang di chuyển về phía cuối hàng, vì vậy anh ta có thể thấy phản ứng của tôi khi nghe tin này. Tôi cảm thấy hai gò má mình nóng lên, và tôi cố kiềm chế để không chồm lên như một kẻ ngốc đang háo hức. “Lẽ ra cha em phải nói với em điều này, chứ không phải chàng”. Tôi nói cứng.

“Em có vui không, khi cha em thông báo tin đó?”

Tôi nhìn xuống để anh ta không thể đọc vị những gì tôi nghĩ. Tôi không muốn để lộ đôi mắt nâu vốn đang bừng sáng của mình như đôi mắt của anh ấy. “Em vâng Lời Chúa mà nghe lời cha em”, tôi nói.

“Vậy em có vui lòng vâng lời cha và đồng ý làm vợ anh?” “Rất vui lòng!”

Cha mẹ tôi rõ ràng tin rằng tôi là người cuối cùng được hỏi ý, vì đến tận ngày hôm sau tôi mới được gọi đến phòng của mẹ tôi, trong khi Edward và cha anh ta sắp sửa rời đi với những con ngựa đang đứng chờ trước cửa, hương mùa xuân Anh quốc ùa vào lâu đài mang theo tiếng hót hân hoan của những chú chim đang tán tỉnh nhau.

Tôi có thể nghe thấy tiếng những người hầu lấy yên cương dưới sảnh chính trong khi tôi đang quỳ gối trước mặt cha mẹ mình, và mẹ tôi khẽ gật đầu với người hầu ngầm bảo họ đóng cửa lại.

“Con sẽ kết hôn với Edward Seymour”, mẹ tôi nói nhanh. “Cha mẹ đã đồng ý, tuy chưa lập thành văn bản. Trước tiên, chúng ta cần xem liệu cha cậu ấy có thể quay lại Hội đồng và làm việc với John Dudley. Dudley là người quyền lực nhất hiện giờ. Chúng ta phải nhìn thấy rằng Seymour sẽ làm việc với ông ấy và quyền lực sẽ trở lại với nhà Seymour”.

“Trừ phi xảy ra vấn đề khác...”, cha tôi nói trong khi nhìn mẹ tôi đầy ý nghĩa.

Mẹ tôi nói: “Không, cậu ấy chắc chắn sẽ lấy một công chúa nước ngoài”. Tôi biết ngay rằng họ đang nói về Vua Edward, người đã tuyên bố công khai rằng mình sẽ kết hôn với một công chúa ngoại quốc và đưa nàng lên làm hoàng hậu. Chính tôi cũng chưa bao giờ nghĩ điều gì khác, mặc dù một số người nói rằng tôi sẽ là một hoàng hậu tuyệt vời, và tôi sẽ là ánh sáng và là ngọn hải đăng cho một tôn giáo Cải cách mới và thúc đẩy cải cách tôn giáo ở một đất nước đang chết một nửa con tim ngay lúc này. Tôi muốn chắc chắn rằng tôi luôn cúi đầu và không nói một lời nào.

“Nhưng chúng rất hợp nhau”, cha tôi khẩn khoản. “Cả hai đều học cao biết rộng, cả hai đều rất ngoan đạo. Jane của chúng ta sẽ là một người thừa kế hợp pháp của Kateryn Parr. Chúng ta nuôi dưỡng con vì điều này. Hoàng hậu Kateryn đã dạy dỗ con bé vì điều này”.

Tôi có thể cảm thấy đôi mắt của mẹ đang nhìn tôi dò xét, nhưng tôi không nhìn lên. “Con bé sẽ biến triều đình thành tu viện mất!”, bà nói và cười lớn.

“Ánh sáng của cả thế giới”, cha tôi nghiêm nghị đáp lại.

“Em nghi ngờ điều đó sẽ xảy ra. Nhưng dù thế nào, quý cô Jane, cô có thể xem rằng mình đã hứa hôn với Edward Seymour cho đến khi cha mẹ nói điều gì khác”.

Cha tôi đặt tay vào khuỷu tay tôi và nâng tôi đứng dậy. “Con sẽ là một công nương, hay hơn thế nữa”, người hứa với tôi. “Con có biết điều tốt đẹp hơn là gì không? Đó là ngai vàng của nước Anh!”.

Tôi lắc đầu. “Mắt con đang hướng về chiếc vương miện trên trời”, tôi nói với cha trong khi mặc kệ tiếng cười khàn đục thô thiển của mẹ âm vang bên cạnh.

LÂU ĐÀI SUFFOLK, LONDON

MÙA XUÂN NĂM 1553

Như thể chuyện tôi không trao trái tim mình cho Ned Seymour đẹp trai để thành vợ chồng là điều đã được định trước. Việc trở lại nắm quyền lực của cha anh ta chỉ kéo dài trong một quãng thời gian ngắn ngủi và kết thúc bằng cái chết của chính ông ấy. Ông ấy bị bắt vì âm mưu chống lại John Dudley, bị buộc tội và sau đó bị xử tử vì tội phản bội. Người đứng đầu dòng họ đã chết và dòng tộc này một lần nữa bị hủy hoại. Người vợ kiêu hãnh nổi tiếng của ông, Anne Stanhope, người từng phạm tội khi quân khi đẩy gia sư của tôi, Hoàng hậu Kateryn, sang một bên để bước vào trước trong bữa ăn tối, trở nên góa bụa và bị giam trong ngục thất. Ned không phải ra tòa nào cả. Tôi may mắn thoát được cuộc hôn nhân với một chàng trai trẻ – bất kể đôi mắt anh ta có đẹp đến thế nào – giờ đây là đứa con bị thất sủng của kẻ phản bội.

Như thể mọi chuyện phải thế khi tôi không bao giờ để tham vọng của cha tôi đi vào lời cầu nguyện của tôi, mặc dù tôi không thể không biết rằng tất cả các vị tu sĩ Kháng cách, tất cả các tín đồ Tin lành và mọi vị thánh sống ở Anh đều muốn tôi kết hôn với nhà vua và dẫn dắt vương quốc của những kẻ hành hương về đến ngôi nhà đích thực của chúng tôi trên thiên đường. Không phải Vua Edward, cậu họ tôi, khăng khăng nói rằng mình sẽ kết hôn với một người ngoại quốc có dòng dõi hoàng tộc; nhưng rõ ràng là cậu ấy không thể chịu đựng một công nương theo Công giáo La Mã. Trong tất cả các cô gái Tin lành, tôi là người phù hợp nhất, tận hiến cho tôn giáo mà cậu và tôi cùng theo, từng là bạn của cậu thời thơ ấu và là con gái của một công nương có cùng dòng máu19*.

19* . Anne Stanhope và Edward là họ hàng. Mẹ của Jane Grey là em dâu họ của Vua Edward. Bà ngoại của Jane là con vua Henry VII (1457 – 1509).

Hơn thế nữa, cha tôi đã ra lệnh cho tôi được dạy phép giao tiếp – một kỹ năng hoàng gia – và tôi chọn học tiếng Ả-Rập và tiếng Do Thái cổ cùng với tiếng Latin và tiếng Hy Lạp. Nếu ơn trên gọi tôi phải nhận lấy vương miện, tôi sẽ luôn sẵn sàng. Tôi được sống với Hoàng hậu Kateryn Parr và tôi nhận ra rằng một phụ nữ có thể vừa là bậc trí giả vừa là một nữ hoàng. Trên thực tế, tôi được chuẩn bị tốt hơn bà. Nhưng tôi sẽ không để mình mắc vào tội ham muốn vương miện.

Các chị em của nhà vua không theo gương tôi cả trong học hành lẫn sự tận hiến cho Chúa. Tôi ước gì họ đã làm thế. Họ làm tất cả những gì họ có thể để duy trì địa vị trong hoàng tộc và gia tộc của họ trước mắt thế gian chứ không phải trước mặt Chúa. Không ai trong số các họ hàng hoàng tộc của tôi sống trong ánh sáng lời Chúa như tôi. Công chúa Mary là một con chiên Công giáo La Mã quyết đoán, còn Elizabeth thì chỉ có Thiên Chúa mới biết những gì dì ấy tin. Người thừa kế trực hệ khác, Mary xứ Scots, cũng là một con chiên Công giáo La Mã, được nuôi dưỡng trong sự xa xỉ đầy tội lỗi của hoàng gia Pháp. Còn Margaret Douglas, con gái của bà dì20* Margaret của tôi, người kết hôn với một người Scotland, được mang đến Yorkshire, cũng được cho là một người theo Thiên Chúa giáo La Mã.

20* . Great-Aunt.

Nhưng Công chúa Mary là người thừa kế ngai vàng gần nhất và chúng tôi nhất nhất phải tôn trọng dì ấy, bất kể chúng tôi nghĩ gì về đức tin tôn giáo của dì ấy. Mẹ tôi và vợ của John Dudley đi xe ngựa cùng Công chúa Mary khi dì ấy vào London bằng sự phô trương thanh thế hùng mạnh như để nhắc nhở mọi người rằng dì ấy là người thừa kế ngai vàng, và rằng họ là bạn bè rất tốt của nhau.

Nhưng đối với gia đình chúng tôi, tôi từ chối mặc quần áo đính đầy trang sức và đi cùng xe ngựa của Mary. Tôi sẽ không khoe khoang bản thân bằng một chiếc mũ trùm đầu thêu gấm thêu hoa lộng lẫy. Nhưng dì ấy gửi cho tôi những bộ áo choàng với hy vọng mua được tình yêu thương thân thích của tôi. Tôi bảo thị nữ Anne Wharton của dì ấy rằng tôi không thể chịu được khi nghe người ta nói rằng một kẻ vô tích sự như Công chúa Elizabeth lại được khen ngợi vì ăn mặc khiêm tốn hơn tôi. Tôi sẽ không mặc gì ngoài bộ y phục tinh tươm nhất. Chỉ có duy nhất một nhà thần học hoàng gia của nước Anh, người sẽ thừa kế nhà cải cách, Hoàng hậu Kateryn Parr, người sẽ phụng sự để dẫn dắt Giáo hội Cải cách, và người đó sẽ là tôi. Tôi không nên được nhìn thấy ăn mặc phóng khoáng vui nhộn hơn Elizabeth, và tôi không nên nổi loạn trong cỗ xe của người Công giáo La Mã.

Đó là cái kết của tình yêu thương họ hàng. Tôi không tin rằng Công chúa Mary có tình cảm sâu sắc đối với tôi, bởi vì tôi đã từng sỉ nhục cái Mặt Nhật21* pha lê khổng lồ chứa bánh thánh trên bàn thánh trong giáo đường của dì khi hỏi người thị nữ của dì ấy rằng tại sao cô ấy lại hiến dâng cho nó. Tôi dự định thách đấu với linh hồn của cô ấy – mời cô ấy tham gia vào một buổi cầu nguyện thánh thiện, nơi cô có thể giải thích rằng cô, là một tín hữu Kitô giáo, tin rằng bánh mì chính là thân thể của Chúa Giêsu Kitô. Rồi tôi chỉ cho cô ấy thấy rằng đó chẳng qua chỉ là mẩu bánh mì mà Chúa Giêsu muốn các môn đồ của Ngài hiểu rằng Ngài đang cho họ ăn bánh trong Bữa Tiệc Ly, bánh thật, và mời họ cầu nguyện cho Ngài. Ngài không hề nói rằng đó là thân thể của Ngài. Ngài không nói thế theo nghĩa đen. Chắc chắn là thế, kẻ ngốc nào cũng nhận ra điều đó!

21* . Mặt Nhật là tiếng Việt dùng để dịch từ Latin ostensorium hay từ tiếng Anh monstrance, là một đồ thánh dùng đựng bánh thánh để tín hữu tôn thờ trong lễ Chầu Mình Thánh Chúa Kitô. Mặt Nhật có nghĩa là Mặt Trời vì nhìn cấu tạo bên ngoài, vật ấy hình tròn, có nhiều tia như tia sáng mặt trời tỏa ra xung quanh.

Tôi nghĩ đó sẽ là một cuộc tranh luận cực kỳ thú vị và nó sẽ đưa cô ấy đến sự hiểu biết thực sự. Nhưng không may thay, mặc dù tôi biết chính xác những gì tôi định nói, cô ấy đã không đáp lại như tôi mong đợi. Cô ấy không nói theo những gì tôi nghĩ, cô ấy chỉ nói rằng cô ấy đang tận hiến cho Ngài, người đã tạo ra tất cả chúng ta – một câu trả lời hoàn toàn vô nghĩa.

“Làm thế nào?”. Tôi hỏi, thoáng bối rối. “Làm sao mà Ngài có thể ở đó để tạo ra tất cả chúng ta, còn người làm bánh thì lại tạo ra Ngài?”.

Chuyện này xuất hiện thật không đúng lúc chút nào, và Chúa phải tha thứ cho tôi rằng tôi không tạo ra cuộc tranh luận bằng cách lặp đi lặp lại quan điểm của tôi ba lần, như được dạy trong bài học về thuật hùng biện của tôi. Tôi làm điều này tốt hơn trong phòng ngủ của mình hơn là trong nhà thờ Công giáo tại Beaulieu, và điều này chỉ có thể lý giải là do ma quỷ bảo vệ chính nó, còn Anne Wharton nằm trong cái móng vuốt đầy lông lá của nó.

Tôi trở về phòng riêng để tập nói lần nữa trước gương. Tôi nhìn thấy một khuôn mặt nhợt nhạt và mái tóc màu đồng hun cùng những vết tàn nhang nhỏ xíu trên mũi mà sợ rằng chúng làm hỏng vẻ đẹp dịu dàng của tôi. Làn da nhợt nhạt của tôi giống như món đồ sứ tinh xảo nhất ngoại trừ đám bụi22* mùa hè nước Anh như những hạt giống bé xíu rơi xuống từ những cây liễu. Tôi cực kỳ thuyết phục khi tôi đóng cả hai vai trong cuộc tranh luận một mình: Tôi tỏa sáng như một thiên thần khi chiến đấu với linh hồn của Anne Wharton tưởng tượng. Nhưng Anne Wharton ngoài đời thì không thể thuyết phục.

22* . Ý nói những nốt tàn nhang trên gương mặt của Jane.

Tôi thấy người ta rất khó thay đổi; mà sao họ ngốc thế không biết! Thật khó mà hoán cải kẻ có tội. Tôi đã thử luyện vài dòng cho chính mình và tôi thấy mình mạnh mẽ như một nhà truyền giáo. Nhưng trong khi tôi luyện bài tranh luận, Anne Wharton đến gặp Công chúa Mary và kể cho dì ấy nghe những gì tôi đã nói, và công chúa biết tôi là kẻ thù truyền kiếp đối với đức tin của dì ấy, và điều đó thật đáng tiếc, vì dì ấy luôn tử tế và yêu thương tôi trước đây. Giờ đây dì ấy khinh miệt tôi vì đức tin của tôi, mà dì ấy xem như một lỗi lầm. Đức tin xuất chúng của tôi là lỗi lầm ư? Nhưng tôi phải tha thứ cho điều đó.

Tôi biết rằng dì ấy sẽ không tha thứ hay quên đi điều này, vì vậy tôi không cảm thấy thoải mái khi đi cùng mẹ tôi trong cỗ xe với Công chúa Mary, nhưng ít nhất Công chúa Elizabeth còn ở vị thế tồi tệ hơn. Dì ấy thậm chí không dám bước ra sân vì sự nhục nhã của mình đối với Thomas Seymour. Nếu là dì ấy, tôi nghĩ mình sẽ xấu hổ đến mức chỉ muốn độn thổ. Mọi người đều biết tỏng dì ấy là nhân tình của Seymour. Sau cái chết của vợ, anh ta thú nhận rằng anh ta định cưới Elizabeth và đoạt lấy ngai vàng. Cầu mong Chúa cứu nước Anh khỏi tay Elizabeth bê tha trơ trẽn! Cầu mong Chúa cứu nước Anh khỏi tay một nữ hoàng Công giáo như Mary! Cầu mong Chúa phù trợ nước Anh nếu như Edward băng hà mà không có con trai nối dõi để đất nước này chọn một người theo Thiên Chúa giáo La Mã, một công nương Pháp, tức là mẹ tôi!

Công chúa Mary không ở lại lâu. Cung điện của em trai23* dì ấy không phải là một nơi vui vẻ. Đức Vua Edward, người cùng tuổi nhưng ở vai cậu họ tôi, bị ho chưa hết. Tôi có thể nghe thấy tiếng khò khè trong lồng ngực cậu ấy khi tôi ngồi bên cạnh và đọc Plato – một triết gia mà cả hai chúng tôi đều yêu thích – cho cậu ấy nghe, nhưng cậu ấy nhanh chóng mệt mỏi và cần phải nghỉ ngơi. Tôi thấy nụ cười ẩn giấu của cha tôi khi ông quan sát thấy tôi đang đọc bằng tiếng Hy Lạp cho nhà vua của nước Anh, nhưng mọi người khác chỉ lo lắng rằng cậu ấy trông có vẻ ốm nặng.

23* . Tức Vua Edward VI.

Edward vẫn gắng gượng dự buổi thiết triều nhưng sau đó phải về giường nghỉ ngơi. Các nghị viên và chưởng khế24* đi vào đi ra phòng ngủ của Đức Vua và có tin đồn lan truyền rằng cậu ấy đang tìm người kế thừa và viết di chúc. Tôi nghĩ chuyện này thật khó tin. Cậu ấy chỉ mới mười lăm tuổi – hai chúng tôi cùng tuổi – tôi không thể tin rằng cậu ấy đang làm di chúc. Cậu ấy quá trẻ để chết. Chắc chắn trong mùa hè đang đến cậu ấy sẽ khá hơn và trong tiết trời ấm áp cậu ấy sẽ hết ho và khỏe trở lại. Tôi nghĩ rằng nếu cậu ấy đến Bradgate và ngồi chơi trong vườn, đi dạo dọc theo bờ sông hay đi thuyền trên những hồ nước rộng và đẹp của chúng tôi, chắc chắn cậu ấy sẽ khỏe lại. Di chúc của cậu ấy có thể được lưu trữ trên những tờ giấy lớn của nghị viện và sẽ rơi vào quên lãng. Cậu ấy sẽ kết hôn, có con trai và tất cả mọi tính toán về người nối ngôi dù được tán thành bởi những người ủng hộ nhà vua rồi sẽ bị lãng quên. Cậu ấy sẽ kết hôn với một nàng công chúa tuyệt vời từ châu Âu với một gia tài lớn, và tôi sẽ trở thành bạn của cô ấy và là một đại phu nhân trong triều đình, có lẽ là một nữ công tước. Có lẽ tôi sẽ cưới Ned Seymour bất kể cha anh ta bị thất sủng. Anh ta có thể giành lại tước vị, còn tôi vẫn là một nữ công tước nổi tiếng và sáng chói trước những kẻ không xứng đáng xung quanh mình.

24* . Cố vấn pháp luật, luật sư.

CUNG ĐIỆN GREENWICH

MÙA XUÂN NĂM 1553

Triều thần xuôi dòng sông Thames đi Greenwich, nơi đến yêu thích của mọi người nhằm thoát khỏi mọi tiếng ồn và mùi vị của London, nơi có cái cầu cảng vàng bị ngập nước một bên bởi thủy triều lên xuống ngày hai lần, nhưng sáng lấp lánh như một bờ biển ánh kim. Nó như tấm gương phản chiếu vương quốc thiên đàng, chỉ có điều là không có sự hiện diện của Chúa. Cha và tôi được đi cùng với nhà vua trên chiếc long thuyền, nhưng Edward thì nằm bẹp dí trên long sàng, người quấn đầy chăn lông và run lẩy bẩy như đang lên cơn sốt. Khi tiếng đại bác chào mừng vang lên từ cung điện và các tàu cũng bắn đại bác đáp lễ sau khi neo đậu, cậu ấy có vẻ nao núng trước tiếng đại bác và quay khuôn mặt nhợt nhạt của mình đi hướng khác.

“Liệu cậu ấy có bình phục không?”, tôi khẽ hỏi. “Cậu ấy trông tệ quá; nhưng cậu ấy sẽ khá hơn vào mùa hè phải không ạ?”.

Cha tôi lắc đầu, gương mặt tối sầm. “Cậu ấy đã viết di chúc”, ông nói. Tôi nghe có sự phấn khích trong giọng nói run run của cha. “Cậu ấy đã chọn người thừa kế ngai vàng của mình”.

“Có phải ngai vàng sẽ được trao cho người kế vị lớn tuổi nhất không cha?” “Tất nhiên, người đó phải là Công chúa Mary. Nhưng làm thế nào cô ấy có thể là nữ hoàng trong khi đã tuyên thệ tuân phục Giáo hoàng La Mã?

Làm thế nào cô ấy có thể trở thành nữ hoàng khi cô ấy chắc chắn sẽ kết hôn với một người nước ngoài theo Công giáo La Mã và đặt ông ấy lên trên chúng ta? Không, nhà vua đã làm điều đúng; cậu ấy đã vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời và đã loại Mary ra khỏi danh sách kế vị – giống như cách cha cậu ấy đã làm”.

“Liệu Đức Vua có nói ra tên người kế vị không?”, tôi hỏi. “Luật có bắt phải thế không ạ?”.

“Nếu ngai vàng là tài sản của cậu ta, hiển nhiên cậu ta có quyền nêu tên người kế vị”, cha tôi nói, giọng đủ nhỏ để chàng trai đang run rẩy trong chăn lông không thể nghe được, nhưng trong giọng nói của ông có gì đó cho thấy ông sẽ không chịu đựng sự mâu thuẫn. Đây là những lập luận đang được bàn tán ở mọi ngõ ngách trong cung điện. “Vương miện là tài sản: cũng như tất cả chúng ta đều có tài sản riêng của mình. Mỗi người có quyền tự do định đoạt tài sản của mình và họ có quyền chọn người thừa kế; Henry VIII đã chọn những người thừa kế của mình. Và điều quan trọng nhất – một người trẻ tuổi như Edward, được nuôi dưỡng bằng thứ tôn giáo Cải cách, không bao giờ có một ý nghĩ về Công giáo La Mã trong đầu, sẽ không nhường ngôi của mình cho một người đầy tớ của La Mã. Cậu ta sẽ không chấp nhận điều đó – và John Dudley sẽ đảm bảo rằng cậu ta sẽ không làm vậy”.

“Thế thì ai?”, tôi hỏi nhưng nghĩ rằng có lẽ tôi biết câu trả lời.

“Đức Vua và các quân sư của ngài hẳn thích những người thừa kế hàng gần nhất và cùng tôn giáo Cải cách, người nào có con trai thì có quyền thừa kế ngai vàng.”

“Có phải là một cậu bé nhà Tudor?”

Cha tôi gật đầu. Điều này giống như một lời nguyền đối với dòng dõi này. Nhà Tudor phải có con trai để nối ngôi, nhưng chuyện đó cực kỳ khó xảy ra. Sáu người vợ của Vua Henry chỉ sinh được cho ông một con trai duy nhất là Edward. Chị gái của ông, Margaret, chỉ có một đứa con trai, James, người sinh ra Nữ hoàng Mary của Scotland, sống ở Pháp và được hứa hôn với thái tử. Con gái của Margaret là một lãnh chúa Scotland và cả hai đều theo Công giáo La Mã và có lẽ bất hợp pháp. Còn Henry Stuart là con trai của Margaret Douglas, vì vậy khó mà tới lượt. Người em gái được sủng ái của Vua Henry25*, Nữ hoàng Mary Tudor26*, là bà ngoại của tôi, đã được Đức Vua đưa tên vào danh sách kế vị; và con gái bà, tức mẹ tôi27*, vẫn còn sống. Mẹ tôi có ba cô con gái, và chắc chắn không sinh thêm đứa nào nữa. Công chúa Elizabeth (chị của Vua Edward), người đang hẹn hò với một kẻ hoang đàng trong hoàng tộc và hầu như không có của hồi môn, thì không có kế hoạch đám cưới nào! Riêng người chị cả, Công chúa Mary28*, thì được hứa hôn nhưng đã từ chối gần như tất cả các vị vua ở châu Âu. Rõ ràng là dòng họ Tudor không chỉ không có con trai ở hàng chúng tôi, mà còn không có chút triển vọng nào là sẽ có.

25* . Tức Henry VIII.

26* . Mary Tudor (1496 – 1533): là con gái Vua nước Anh Henry VII và Elizabeth xứ York. Bà là người vợ thứ ba của Vua Louis XII và làm Vương hậu nước Pháp.

27* . Tức Frances Brandon.

28* . Mary Tudor (1516 – 1558) hay Mary I: là con gái cả của Vua Henry VIII, nằm trong danh sách kế vị chính thống. Nhưng khi cha bà hủy hôn với mẹ bà, Catherine xứ Aragon để cưới Anne Boleyn, Mary bị xem là con bất hợp pháp, bà bị tước đi khả năng thừa kế Vương vị của cha. Sau khi xử tử Anne Boleyn và cưới Jane Seymour, nhà vua có người con trai tên Edward do Jane sinh ra, về cơ bản Mary hoàn toàn không còn khả năng kế vị, cùng với em gái Elizabeth Tudor. Năm 1547, em trai của Mary là Edward lên ngôi, tức Edward VI của Anh. Tuy vậy, nhà vua có sức khỏe không được tốt và không có khả năng sinh được người kế vị.

“Nhưng không ai trong chúng con có đứa con nào”, tôi nói và nghĩ rằng tất cả chúng tôi đều thuộc dòng dõi hoàng tộc. “Nếu họ muốn ngai vàng được truyền cho một cậu bé Tudor, thì chẳng có ai cả. Thậm chí không ai trong năm người chúng con đang được hứa hôn và tất nhiên không ai trong chúng con đã kết hôn”.

“Và đó là lý do tại sao con sẽ là người đó”, cha tôi nói nhanh. “Kết hôn nhé? Ngay lập tức!”.

“Con ấy à?”

“Tất cả các con!”

“Ý cha là Công chúa Mary và Công chúa Elizabeth?”

“Không! Chỉ các con của cha mà thôi: Con, Katherine và Mary.”

PHILIPPA GREGORY CUNG ĐIỆN GREENWICH

MÙA XUÂN NĂM 1553

Katherine không làm được gì trong việc giúp chúng tôi chống lại kế hoạch bất ngờ này. Mẹ tôi ra lệnh cho em ấy tiến hành một cuộc viếng thăm hoàng cung chớp nhoáng, và Katherine bị choáng ngợp bởi những căn phòng xa hoa rộng lớn, những người hầu, đồ ăn thức uống hoàng gia và những chiếc áo choàng của em ấy. Em ấy mặc cho quý ngài Nozzle chiếc áo choàng Tudor xanh lá và mua một con mèo trắng muốt có thắt nơ. Tất nhiên em ấy gọi nó là “Nơ” và đưa nó đi khắp mọi nơi bằng cách đặt nó bên trong túi áo choàng của em ấy. Sự tiếc nuối duy nhất của em ấy là bị tách khỏi những con ngựa và con gấu ở Bradgate. Em ấy từng hy vọng có thể thuần hóa con gấu bằng lòng tốt của mình để nó có thể trở thành một con vật thích nhảy múa thay vì giết người. Em ấy không bị khiếp sợ như những cô gái trinh nguyên trước khả năng bất ngờ của một cuộc hôn nhân; trái lại, em ấy rất vui.

“Em phải kết hôn à? Ồ, ngợi khen Chúa! Cảm ơn Chúa! Cuối cùng điều đó cũng đến!”

“Với ai? Cho ai? Ai hả?”, tôi lạnh lùng hỏi.

“Em không cần biết! Mà với ai thì đã sao nào? Em sẽ kết hôn với ai? Chị nói cho em biết đi!”

“Công tử Henry Herbert”, tôi đáp ngắn gọn. “Con trai của Bá tước xứ Pembroke”.

Mặt Katherine bỗng đỏ ửng như gấc. “Ồ! Anh ta thật đẹp trai!”, em ấy hít thở mạnh. “Và còn rất trẻ, độ tuổi như chúng ta chứ không phải là một đống xương khô cũ kỹ”. Em ấy hôn và nói với chú chim nhỏ, con vật cưng đang đậu trên các ngón tay em: “Chị sẽ kết hôn đấy! Và kết hôn với một chàng công tử đẹp trai!”. Chú chim nhỏ khẽ kêu chíp chíp như thể nó hiểu cô chủ đang nói gì. Thế rồi Katherine đặt nó lên vai, nó xòe đuôi giữ thăng bằng và nghiêng đầu sang một bên nhìn tôi, đôi mắt sáng rỡ vui mừng như cô em gái tôi.

“Vâng”, tôi bình thản nói. “Chàng rất dễ thương”.

“Và chàng rất ngoan đạo”, em ấy nói cốt để tôi vui. “Chàng là cháu trai của Hoàng hậu Kateryn Parr. Chắc chắn là chị sẽ thích chàng”.

“Sự thực là, chị thích chàng.”

“Ôi hạnh phúc làm sao!”, Katherine xoay người tại chỗ như thể chân em cần nhảy múa để biểu lộ niềm vui. Chú chim nhỏ vỗ cánh cố bám chặt vào vai em ấy. “Và em sẽ là một nữ bá tước!”.

“Vâng”, tôi nói khô khan, “và cha anh ta sẽ bị khóa chặt vào một liên minh với cha chúng ta và với John Dudley, Công tước xứ Northumberland”.

Em ấy không nghĩ đến điều này, rằng ba con người quyền lực nhất nước Anh, ba nhà lãnh đạo của Tôn giáo Cải cách, cùng đồng lòng gả chéo những cô con gái của mỗi người trong số họ để ngăn chặn sự phản bội của người kia. Sự tin tưởng lẫn nhau là cực kỳ ít ỏi và phản trắc đến mức họ chấp nhận đánh đổi con cái mình để làm bằng, giống như Abraham đã đưa Isaac lên núi để hiến tế cho Đức Chúa Trời.

“À, mà chị sẽ kết hôn với ai?”, Katherine ngừng xoay và hỏi. “Họ mang ai đến cho chị? Người đó có thuộc nhà Seymour không?”, em ấy thở hổn hển. “Ồ! Không phải Đức Vua đúng không? Nói cho em biết đi! Hãy nói với em rằng chị sẽ không kết hôn với Đức Vua và trở thành Hoàng hậu Jane chứ?”.

Tôi lắc đầu và liếc nhìn về phía cửa. “Im lặng nào. Có chuyện này là do Đức Vua đang bệnh nặng. Hy vọng lớn nhất của họ là cho Đức Vua thấy rằng một trong chúng ta có con trai để Đức Vua có thể chọn đứa trẻ đó làm người thừa kế của mình. Họ muốn cả hai chị em chúng ta lập gia đình ngay lập tức, có con, và cho Đức Vua thấy cậu bé là người thừa kế của mình”.

“Em có thể là mẹ của nhà vua nước Anh à?”, Katherine hét toáng lên. “Là em sao? Không phải chị sao? Nếu em sinh con trai trước chị thì sao hả?”.

“Vâng, có lẽ.”

Em chắp hai tay và cười hân hoan. “Thế chị kết hôn với ai?”. “Guildford Dudley”, tôi đáp gọn lỏn.

Em gái tôi chưng hửng. “Thế không phải Ned Seymour à? Lẽ nào họ đổi vai với nhau? Và chị sẽ phải sinh một cậu nhóc cho nhà Dudley sao?”.

“Vâng.”

“Một đứa cao nhồng?” “Đúng, tất nhiên rồi.”

“Một anh chàng bám váy mẹ?” “Vâng, Guildford.”

“Ồ, nếu thế thì thật thất vọng!”, Katherine nói. “Chị không thích điều đó đâu! Đứa con trai áp út của một công tước mới được phong à? Chị không muốn gỡ những chiếc lá dâu ra khỏi mũ của cậu ta đâu!”29*.

29* . Mũ Công tước (Duke) có tám lá dâu, mũ Hầu tước (Marquess) có bốn lá dâu và bốn viên ngọc trai, mũ Bá tước (Earl) có hai lá dâu và tám viên ngọc trai, mũ Nam tước (Baron) có mười sáu viên ngọc trai. Mũ có nhiều lá dâu hơn thể hiện tước vị cao hơn. (ND)

Tay tôi ngứa ngáy như muốn tát vào cái mặt ngu ngốc của Katherine. “Đây không phải là chuyện thích hay không thích”, tôi nói dằn từng tiếng, “mà là cha chúng ta muốn liên minh với Lãnh đạo tối cao của Hội đồng. Đó là quyết tâm của cha chúng ta, rằng chị em mình sẽ cưới và có con để ông cho Đức Vua thấy rằng những người thừa kế của người sẽ được nuôi dưỡng trong Đức tin Cải cách. Cho nên thậm chí Mary bé bỏng cũng bị mang đi hứa hôn với Arthur Grey, con trai Nam tước xứ Wilton đấy!”.

Em ấy hét lên. “Baron mặt sẹo? Kẻ xấu xí ấy sao?”

“Đúng vậy!”

“Nhưng Mary chỉ mới tám tuổi! Còn Arthur phải đến hai mươi!”

“Mười bảy thôi”, tôi nói cộc lốc. “Nhưng dù sao chăng nữa, Mary vẫn còn quá nhỏ để kết hôn, và em ấy quá bé. Nếu em ấy chưa trưởng thành thì làm sao sinh nở được? Em ấy hiểu rõ điều đó đến tận xương tủy. Chị không nghĩ rằng em ấy có thể sinh con. Đó là một sai lầm lớn. Mary quá nhỏ, em thì quá trẻ, chỉ có chị được hứa hôn với Ned Seymour trước Chúa. Cha mẹ chúng ta đã hứa gả chúng ta, nhưng chị không biết đám cưới sẽ diễn ra như thế nào. Chị không tin rằng đó là ý Chúa. Em phải cùng chị nói chuyện với cha mẹ”.

“Không phải em!”, em ấy láu lỉnh nói. “Em không định đối đầu với mẹ đâu. Nếu em có Nozzle bên cạnh, em sẽ đứng về phía ủng hộ chị khi chị nói lý lẽ với mẹ; nhưng em không thể một mình đối mặt với mẹ được”.

“Như thế cha mẹ sẽ không gả em cho một người lạ! Họ sẽ không gả em trong khi em vẫn còn là một đứa trẻ!”, tôi thốt lên.

“Ồ, em có thể kết hôn với Herbert”, em ấy đoan chắc với tôi. “Em không quá bé. Mọi việc nên cứ tiến triển như thế. Em không phản đối điều đó. Chị có thể từ chối nếu muốn, riêng em thì vẫn muốn kết hôn”.

“Không ai trong ba chị em mình cưới bất cứ ai!”, tôi lớn giọng.

Có một sự im lặng, rồi em ấy bĩu môi với tôi. “Ồ, Jane, đừng làm hỏng bất cứ điều gì! Làm ơn đừng!”. Em ấy bấu vào tay tôi, và con chim nhỏ lại kêu chiêm chiếp như muốn phụ họa thêm.

“Chị sẽ cầu nguyện về chuyện này. Chị phải lắng nghe Chúa.”

“Nhưng nếu Chúa đồng ý với chị thì sao?”, em ấy phụng phịu. “Khi nào Ngài mới muốn mọi điều tốt đẹp cho chúng ta?”.

“Thế thì chị phải đi nói với cha rằng chị có những mối nghi ngờ.”

Cha không gặp riêng mình tôi vì tự thân điều đó cảnh báo rằng tôi sẽ không được lắng nghe. Cha sợ tài thuyết phục của tôi: “Ồ, vì lòng thương xót, xin đừng để con bé tiếp tục nói nữa”, mẹ tôi luôn nói thế những lúc ấy.

Tôi đi vào phòng khánh tiết hoàng gia như Daniel vào hang sư tử30*. Vua Edward không có trong triều mà đang nằm sau những cánh cửa đóng kín trong phòng riêng, hoặc thậm chí ẩn dật ở trong gian phòng phía sau đó – vừa là phòng đọc vừa là phòng ngủ. Ở đây, triều đình tiến hành công việc bình thường như thể không có gì bất ổn cả. Hầu tước xứ Northampton, William Parr, và Elizabeth, vợ ông, khẽ gật đầu chào tôi với một nụ cười bí ẩn, như thể đã họ biết hết mọi thứ – và có lẽ thế thật. Tôi lịch sự chào đáp lễ và càng cảm thấy không dễ chịu chút nào.

30* . Kinh Thánh Cựu ước (Daniel 6: 1-28) viết rằng Daniel được vua Darius xứ Medes rất quý trọng trí tuệ của ông nên đặt ông làm vị đệ nhất thừa tướng của Medes. Điều này khiến các quan khác ganh tị và lập kế hoạch hãm hại ông. Họ xúc xiểm và đề nghị vua Darius ban hành một đạo luật rằng trong vòng 30 ngày, không ai được thỉnh cầu bất cứ điều gì lên bất cứ thánh thần nào, ngoại trừ nhà vua. Ai bất tuân sẽ bị ném vào hang sư tử. Daniel, như thường lệ, cầu nguyện Thiên Chúa của mình hằng ngày, và bị bắt đưa tới vua. Vua dù yêu quý Daniel nhưng không thể làm khác, cho bỏ ông vào hang sư tử. Kỳ lạ thay, ông không bị chúng xé xác. Nhà vua nghĩ có lẽ Thiên Chúa của Daniel đã cứu ông. Sau đó, vua hạ lệnh bắt những kẻ giả dối ném vào hang sư tử. Bầy sư tử liền nhào tới, xé xác họ ra từng mảnh cho tới khi họ chỉ còn là những khúc xương.

Mẹ và cha tôi đang chơi bài với Ngài William Cavendish và vợ ông ấy, Elizabeth, bạn thân của mẹ tôi, thường gọi là dì Bess. Chiếc bàn họ chơi bài được đặt khuất dưới cửa sổ để họ có chút riêng tư trong một không gian nhộn nhịp. Cha mẹ tôi ngước nhìn lên khi tôi đi ngang qua đám đông. Tôi nhận ra rằng mọi người nhường đường cho tôi. Tin tức về vụ hứa hôn của tôi với con trai của Chủ tịch Nghị viện ắt đã lan truyền khắp nơi và tầm quan trọng của tôi cũng tăng lên cùng với tin tức ấy. Mọi người đều thể hiện sự tôn trọng đối với nhà Dudley. Họ có lẽ là một dòng họ mới, nhưng rõ ràng họ có khả năng chiếm lấy quyền lực và nắm giữ nó.

“Hòa nhé”, mẹ tôi nói và đặt xuống một quân bài, đồng thời lơ đễnh khoát tay ban phước lành trên đầu của tôi khi tôi khuỵu gối cung kính cúi chào bà.

Dì Bess trao cho tôi một nụ cười ấm áp. Tôi là đứa cháu yêu của bà và bà hiểu rằng một phụ nữ trẻ phải tạo phong cách riêng trên cõi đời này bằng ánh hào quang của chính mình.

“Tôi có con đầm31* này”, cha tôi nói và xòe tay ra.

31* . Queen: con Đầm (Hoàng hậu) trong bài tây.

Mẹ tôi cười lớn. “Có lẽ tận cùng các hoàng hậu32* mới là quan trọng!”. Rồi bà quay sang tôi, ra chiều thích thú.

32* . Nguyên văn: “And perhaps queens count, after all!”. Tác giả chơi chữ, ý nói Henry Grey đang sắp đặt hôn nhân để ba cô con gái của ông làm hoàng hậu.

“Gì thế, Jane? Có muốn chơi không? Con có muốn đặt cược cái vòng cổ của con không?”

“Đừng trêu con bé”, cha tôi lập tức can thiệp vừa khi tôi định mở miệng khước từ để không vướng vào tội cờ bạc.

“Có chuyện gì thế? Con yêu? Con muốn gì nào?”

“Con muốn nói chuyện với mẹ, chuyện riêng tư thôi ạ”, tôi nhìn mẹ và nói.

“Con có thể nói ngay đây”, bà nói như ra lệnh. “Tới gần đây nào”.

Một cách lịch thiệp, ngài William và phu nhân đứng lên và lui về một phía trong khi tay bà ấy vẫn cầm những quân bài của mình để có thể quay trở lại trò chơi tội lỗi không chút chậm trễ. Cha tôi ra hiệu cho các nhạc công chơi đàn và nửa tá phụ nữ bắt đầu bắt cặp bước ra khiêu vũ. Ngay lập tức các quý ông cúi chào và tham gia cùng họ. Trong tiếng ồn ào của điệu nhảy, không ai có thể nghe tôi nói với mẹ: “Thưa cha, thưa mẹ, con tin rằng con không thể được hứa hôn với Guildford Dudley. Con đã cầu nguyện và con chắc chắn thế”.

“Sao lại không?”. Mẹ tôi hỏi, chẳng mảy may phân tâm khỏi ván bài của bà khi mắt vẫn nhìn chằm chằm vào các quân bài trên tay và đẩy mấy quân K vào đống bài giữa bàn mà chẳng đoái hoài gì đến tôi.

Dì Bess lắc đầu như muốn nói rằng mẹ tôi nên để tâm đến tôi hơn. “Con đã được ơn trên định đặt trước rồi”, tôi nói một cách cứng rắn. Cha tôi liếc nhìn gương mặt nhợt nhạt của tôi. “Ồ không, không phải thế chứ!”.

“Hãy tin con”, tôi nói. “Tất cả chúng ta đều nói con sẽ kết hôn với Ned Seymour. Rằng chúng con đã hứa hẹn bằng lời với nhau”.

“Chưa thành văn bản mà”, mẹ tôi xen vào. Quay sang cha tôi, bà nói: “Em sẽ sinh cho anh một Đức Vua nữa. Em đã nói với anh là con bé sẽ cư xử thế này mà”.

“Lời nói cũng có giá trị như văn bản”. Tôi nói với cha tôi, rằng lời nói của ông, một tín đồ Tôn giáo Cải cách, chính là một lời nguyện thề trước Chúa. “Chúng ta đã giao ước, và cha đã lập giao ước đó. Ned nói với con, vì cha anh ta bảo anh ta làm thế, và con đã đồng ý”.

“Thế mẹ có hứa không?”. Mẹ tôi hỏi, đột nhiên quan tâm. “Con đã nhận lời cậu ấy chưa? Con có nói ‘Em đồng ý’ không?”.

“Con đã nói thế này: ‘Hoàn toàn đồng ý!’”.

Mẹ tôi cười lớn trong khi cha tôi đứng dậy khỏi bàn, chụp lấy tay tôi và kẹp nó vào dưới nách ông rồi kéo tôi đi khỏi mẹ và các vũ công. “Nào hãy nghe đây”, cha nói nhẹ nhàng, “Người ta kháo nhau về một cuộc đính hôn và chúng ta đồng ý rằng điều đó có thể diễn ra. Nhưng ai cũng biết chuyện này phụ thuộc vào sự trở lại quyền lực của Seymour. Không ai trong các con gái của cha phải kết hôn trừ phi đó là vì lợi ích của dòng họ chúng ta.

Và bây giờ mọi thứ đã thay đổi. Seymour đã chết, vợ ông ấy vẫn còn trong ngục vì tội phản bội, còn con trai ông ấy đã mất quyền thừa kế. Không có giá trị gì trong bất cứ mối liên hệ nào với họ. Con có thể tự thấy điều đó, một cô gái thông minh như con phải nhìn thấy nơi này đang được cai quản bởi John Dudley. Đức Vua không muốn ngồi trên ngai vàng đến già khọm đâu. Thật đáng buồn nhưng chúng ta phải đối mặt với chuyện này. Ngài sẽ trao ngai vàng của mình cho bất cứ ai trong dòng họ có con trai, theo tôn giáo Cải cách, để kế vị mình. Một trong ba các con sẽ có con trai, và một trong các con sẽ là nhiếp chính nữ hoàng cho đến khi cậu bé trưởng thành. Sau đó, nó sẽ lên ngôi. Hiểu chưa nào?”.

“Thế Elizabeth thì sao ạ?”. Tôi hỏi, mặc dù điều này trái ngược thâm tâm tôi không muốn đưa dì ấy lên cao. “Dì ấy cũng theo tôn giáo Cải cách. Dì ấy thuộc hàng thừa kế hàng thứ nhất”.

“Không phải dì ấy. Không có kế hoạch kết hôn nào dành cho dì ấy, và chắc chắn dì ấy sẽ không được phép tự chọn chồng, sau những gì dì ấy đã làm với Thomas Seymour. Cha nghĩ dì ấy đã cho chúng ta thấy rằng tất cả những gì thuộc về bản chất của mình còn rất xa để trở thành một người khôn ngoan thuần khiết”. Cha tôi tự cho phép mình cười gằn một tiếng. “Một đứa con trai thuộc dòng họ Tudor là điều chúng ta muốn; không phải con gái, điều đó không tốt cho chúng ta. Đức Vua – Cầu Chúa ban phước lành cho ngài ấy – hy vọng sống đủ lâu để thấy người thừa kế của mình được rửa tội trong một nhà thờ Cải cách. Chúng ta không mong đợi điều này, chúng ta không chuẩn bị cho điều này, nhưng sức khỏe Đức Vua không tốt và ngài muốn thu xếp chuyện này ngay. Con có thể thực hiện ước nguyện của ngài ấy. Đó sẽ là việc làm rất thánh thiện để vấn an Đức Vua. Con phải kết hôn với Guildford Dudley, sinh con với cậu ấy và Đức Vua tin rằng ngài sẽ có hai người trẻ tuổi, được nuôi dưỡng trong đức tin Cải cách, bên cạnh hai người cha giàu kinh nghiệm để khuyên dạy chúng, và một cậu bé nằm nôi sẽ xuất hiện để thừa kế ngai vàng. Con hiểu không?”.

“Cậu ấy bệnh nặng đến thế sao?”, tôi không tin.

“Dù sao chăng nữa, ngài ấy vẫn muốn biết ai sẽ là người kế vị mình trong trường hợp ngài ấy chết trước khi có thể kết hôn và sinh được con trai.”

“Thế con trai của một trong chúng con sẽ là người thừa kế của Đức Vua sao?”

“Đúng vậy, ngài không có con trai nối dõi”, cha tôi đáp.

Chuyện này như một viễn cảnh rất xa xôi. “Nhưng con đã hứa rồi”, tôi nói. “Cha cũng đã nói với Ned Seymour rồi cơ mà”.

“Hãy quên chuyện đó đi”, cha tôi đáp ngắn gọn. “Edward Seymour đã chết, và Ned con trai ông ấy đang ở với người giám hộ, người sẵn sàng thủ tiêu cậu ấy nếu cần. Đừng nói thêm gì nữa về chuyện này. Con phải vâng lời cha, Jane ạ, hoặc con sẽ bị buộc phải tuân lệnh đấy!”.

Mẹ tôi, sau một hồi chờ đợi chán nản, tiến về phía cha tôi.

Tôi lấy hết can đảm nói: “Xin hãy tha thứ cho con!”. Tôi nói với cả hai. “Con đã cầu nguyện về điều này, và con tin rằng con không thể kết hôn với bất cứ ai mà không được giải phóng khỏi lời hứa của con với cựu Bá tước Hertford. Con đã thưa chuyện với cha mẹ và cha mẹ đã nói chuyện với nhà Seymour. Không có lời thề nào, nhưng Chúa nhìn thấy và nghe thấy tất cả. Con không thể giả vờ rằng con đã không nói thế”. Nước mắt chực trào cùng sự bất tuân, tôi vừa nói vừa nhìn người cha yêu thương của tôi lúc này đang phân vân và gương mặt vô cùng cương quyết của mẹ tôi.

“Con không thể trái lời chúng ta”, mẹ tôi nói thẳng thừng, “vì chúng ta là cha mẹ con, và chúng ta sẽ làm cho con biết vâng lời”.

LÂU ĐÀI DURHAM, LONDON

THÁNG 5 NĂM 1553

Tất nhiên bà nói đúng. Và như thể để nhấn mạnh tầm quan trọng của dòng họ Dudley, tôi sẽ phải ở trong dinh thự lớn của họ tại London, Lâu đài Durham, và đám cưới của tôi sẽ được tổ chức ở đó. Đây sẽ là một đám cưới tập thể vì sẽ có ba cô dâu: tôi; em gái tôi, Katherine; và Katherine nhà Dudley, người sẽ cưới Henry Hastings, chàng trai mười tám tuổi và là con của Bá tước xứ Huntingdon. Em gái Mary bé bỏng của tôi đã chính thức hứa hôn, nhưng đám cưới và đời sống vợ chồng của em ấy được hoãn lại cho đến khi em ấy trưởng thành. Mọi người đều có vẻ rất hài lòng về điều này, mặc dù cũng như tôi, họ phải thừa nhận rằng đây là những con người ưu tú của nước Anh và họ đang thành lập một liên minh qua dòng máu của con cháu họ. Tôi tự hỏi liệu có phải tôi là người duy nhất cầu xin Chúa cho tôi biết lý do tại sao ba người đàn ông này cần phải đảm bảo chắc chắn về nhau. Họ sẽ phải đối mặt với mối nguy hiểm nào nếu họ không khóa chặt nhau bằng những cuộc hôn nhân? Tại sao tất cả sáu người chúng tôi đều phải cưới ngay và tổ chức trong cùng một buổi lễ? Em gái tôi, Katherine, nghĩ rằng đây là lợi thế của nó vì rõ ràng nó đẹp nhất trong ba cô dâu. Và đó là mối bận tâm duy nhất của nó.

Trang phục từ tủ áo hoàng gia được gởi đến mỗi ngày, đồ trang sức từ ngân khố hoàng gia cũng được mang đến cho chúng tôi mượn, châu ngọc được cho tặng. Đức Vua, người cậu họ của tôi, quá yếu để tham dự đám cưới, nhưng cậu ấy gửi cho chúng tôi hàng khối lụa là gấm vóc đủ màu sắc, thêu vàng thêu bạc với hoa hồng, khăn voan tím và trắng, cùng khúc lụa trùm đầu đính mười ba viên kim cương lớn, mười bảy viên ngọc trai tuyệt đẹp và một dây đai vàng. Sân triều được sơn lại và treo cờ: sẽ có một cuộc thi đấu. Tất cả thần dân London có tinh thần hiệp sĩ sẽ được mời đến dự bữa tiệc tối hoành tráng được các đầu bếp chuẩn bị nhiều ngày trước đó. Sẽ có hàng chục món ăn được phục vụ, các vòi phun nước ở sân trung tâm sẽ chảy đầy rượu vang, hàng trăm người sẽ ngồi ăn tối trong những bộ trang phục đẹp nhất của họ và hàng ngàn người sẽ xem họ. Tôi sẽ là trung tâm của sự chú ý, một người thừa kế ngai vàng dòng họ Tudor, trang phục lộng lẫy như một công chúa, đang kết hôn với một chàng trai nhà Dudley.

“Ôi, thiên đường chính là đây!”. Katherine nói, trên tay cầm chiếc khăn quàng tím lụa tơ tằm và gương mặt đỏ ửng.

“Không, không phải vậy đâu”, tôi nói với em ấy. “Thật là dị giáo khi nói thế!”

“Hoành tráng như Lễ Phục sinh còn gì!”. Mary nói, giọng bỗng nghẹn lại bởi cái bánh ngọt mà em ấy đang cố tọng vào miệng.

“Không phải việc của em!”, tôi nói. “Em đã được hứa hôn, nhưng chưa cưới đâu nhé. Đừng có tham ăn như thế, và đứng thẳng người lên nào!”.

Một cách ngoan ngoãn, Mary sửa thẳng lưng lại trong khi Katherine đang xoay vòng tròn cuộn mình trong tấm vải bạc. Chúng tôi đang chờ đợi các thợ may đến. Thợ may trưởng của hoàng gia đã gởi đến nhiều nhung lụa và Katherine đã chọn được một số vải ren vô giá, phủ lên đầu em ấy như một tấm màn voan. “Không còn gì xa hoa phù phiếm hơn!”, tôi chua chát nói.

“Ồ, em đã yêu chàng mất rồi”, Katherine hoan hỉ. “Hôm qua chàng đến trao cho em một dây chuyền vàng tuyệt đẹp và chàng ấn mạnh vào tay em khi rời đi. Chị nghĩ ý chàng muốn nói gì?”.

“Mẹ cũng hay ấn tay chị như vậy”, tôi nói, và cho em ấy thấy mấy vết bầm tím trên cổ tay tôi. “À, mẹ nói rằng đó là tình yêu”.

“Đó là tình mẫu tử”, Katherine khẳng định.

Mary trông thật nghiêm trang sau tấm mạng che mặt. Mẹ của chúng tôi, các gia sư của chúng tôi, các nhũ mẫu và cả cha chúng tôi đều từng đánh từng đứa trong chúng tôi, lúc này hay lúc khác. Chỉ có gia sư của tôi, John Aylmer, là có quyền đối với tôi nhưng ông không bao giờ dùng roi vọt với tôi. Tôi nói với ông rằng đó là lý do tôi thích học.

“Đây là điều tốt nhất có thể xảy ra với chúng ta”, Mary nói như vẹt những gì em ấy đã được bảo. “Nó đặt chúng ta vào hàng thừa kế ngai vàng”.

“Khó mà là điều tốt nhất đối với em”, tôi nói với nó. “Em không thể hạ sinh nhà vua của nước Anh!”.

Mary hơi đỏ mặt. “Em là đứa con gái như mọi người khác”, em ấy nói. “Trái tim em cũng lớn như của chị, và không nghi ngờ rằng rồi em sẽ lớn và cao lên”.

Sự can đảm kiên định của Mary luôn khiến tôi tan chảy. Tôi dang tay ra về phía em ấy và chúng tôi ôm lấy nhau. “Dù sao thì chúng ta cũng không thể không vâng lời cha mẹ”, tôi nói qua cái đầu nhỏ nhắn, thấp tè của em ấy.

“Chị không yêu chàng sao? Dù chỉ một chút?”, Katherine thở dồn.

“Chị sẽ yêu anh ta sau khi bọn chị cưới nhau”, tôi lạnh lùng nói. “Chị phải yêu anh ta thôi, bởi chị phải cam kết như thế trước Chúa”.

Các chị em gái của tôi rất thất vọng về phần chuẩn bị cho đám cưới. Họ kỳ vọng lễ cưới sẽ được cử hành bằng tiếng Latin và đầy những lời nguyện thề long trọng không thể diễn tả, nhạc và kèn trumpet hoành tráng, ngập tràn trong những lời ban phước lành và ân sủng, thấm đẫm trong những làn nước thánh vẩy xuống và ngào ngạt trong khói trầm hương. Thay vào đó, lễ cưới được tổ chức giản dị theo nghi thức tôn giáo của tôi và tôi rất mừng là nhà Dudley là một gia đình trần tục đã cải đạo theo tân giáo ngay khi Đức Vua ban cho thần dân của mình Kinh Thánh và các nhà truyền giáo lập tức truyền bá lời Chúa. Sự thanh khiết của đám cưới của chúng tôi là một lời chỉ trích sống động đối với Công nương Mary, người nhất quyết không tham dự buổi lễ chính cũng như hai ngày lễ phụ ngay sau đó. Dì Margaret Douglas của chúng tôi cũng không được mời. Bà đang ở Scotland thăm Không-Ai-Cả33*, người mà bà gọi là cha. Kể từ khi chính tay John Dudley cấp cho bà giấy phép ra khỏi vương quốc, tôi nghĩ rằng ông muốn tống khứ bà ấy đi nơi khác cho khuất mắt mình.

33* . Nobody.

Tôi không ăn mặc như một tín đồ Kháng cách, mặc dù tôi đã tuyên thệ. Tôi mặc bộ áo choàng màu tím hoàng gia thêu kim tuyến vàng có đính kim cương và ngọc trai. Họ xõa rộng mái tóc màu hạt dẻ của tôi trùm ngang vai và tràn qua khỏi thắt lưng tôi. Đây là lần cuối cùng tôi ăn mặc thoải mái như một thiếu nữ. Đến lúc này tôi là cô dâu lớn nhất và Katherine, với mái tóc vàng và áo choàng thêu kim tuyến bạc, là cô dâu đẹp nhất. Nhưng tôi không ganh tỵ về trang phục hay vẻ bề ngoài của em ấy. Nếu có chút hiểu biết, em ấy sẽ nhận ra đây chỉ là một màn diễn trần tục.

Thế rồi họ tổ chức khiêu vũ và cưỡi ngựa đấu thương. Có hai nhóm mang mặt nạ khác nhau: một nhóm đàn ông và một nhóm phụ nữ. Có cả những người chơi đàn và nhạc sĩ. Nhà Dudley mời tất cả bà con dòng họ mình đến tham dự và mở toang cổng lâu đài lớn của họ để mọi người dân London đều có thể vào xem sự huy hoàng của chúng tôi. Cả bữa tiệc diễn ra như vô tận và chỉ bị phá hỏng bởi vụ ngộ độc thức ăn. Có món nào đó đã bị ôi thiu làm nhiều khách bị ói mửa đến phát bệnh, và một vài món bị để nguyên không ai đụng tới. Nhiều người ăn uống vô độ ngay ngày đầu tiên đã phải gửi lời xin lỗi vì không thể đến vào ngày thứ hai. Phu nhân Dudley, mẹ chồng của tôi, cực kỳ xấu hổ vì phải dành cả nửa ngày nằm rên rỉ trong phòng riêng vì bị tiêu chảy. Tôi không nghĩ rằng đó là một dấu chỉ, vì Chúa đã phán bằng lời rất thánh của Người – chứ không phải qua các vì sao hay những giọt mồ hôi hay dầu thơm. Nhưng tôi nghĩ đó là một lời quở trách mạnh mẽ đối với cha mẹ tôi, rằng đám cưới của tôi sẽ làm đảo lộn dạ dày của các vị khách quý – cũng như nó đã làm tôi phát ốm.

Chúng tôi là những cặp so le. Arthur Grey xứ Wilton, vị hôn phu của Mary, đứa em còi cọc của tôi, trông như một cái tháp cao nghễu nghện phía trên em ấy. Anh ta là một chàng trai trẻ nhưng nghĩ mình như một người đồng hành của cha. Tuy nhiên, anh ta lại quá lớn tuổi để có thể làm người bạn cùng chơi đùa với cô em gái Mary bé bỏng của tôi; em ấy thì còn quá nhỏ để làm vợ anh ta. Tôi nghĩ Mary không bao giờ có thể ăn nằm với một người đàn ông và mang thai khi mà xương sống của em ấy đã bị xoắn vặn từ lúc mới sinh. Tất nhiên, Arthur Grey sẽ lẳng lặng ghét bỏ em ấy. Tôi tạ ơn Chúa rằng cả hai phải sống xa nhau một vài năm và em ấy sẽ sống tại nhà với mẹ chúng tôi. Tôi nghĩ rằng rồi đây họ sẽ hủy hôn trước khi em ấy phải về nhà chồng.

Em chồng tôi, Katherine Dudley, là một kẻ vô tích sự. Em ấy được gả cho Henry Hastings, một học giả và cận thần của triều đình. Anh ngắm cô dâu nhỏ bé đang nhấp nha nhấp nhổm của mình với nụ cười kiên nhẫn nhưng sẽ sớm phai mòn. Quý ngài Henry Herbert, chồng của em gái Katherine của tôi, con trai của Bá tước vùng Pembroke, không mở miệng nói với ai một lời trong suốt cả hai ngày. Cậu ta trắng bệch như một xác chết và nhìn ốm yếu đến đứng không nổi. Người ta nói rằng họ phải lôi cậu ta ra khỏi giường lâm chung mặc cho cậu thề rằng mình không thể bước nổi tới bàn thờ. Cậu ta chỉ mới mười lăm tuổi. Tôi hy vọng rằng cậu ta không làm cho em gái tôi trở thành góa phụ trước khi em ấy được làm vợ. Rõ ràng là họ không thể thành thân đúng nghĩa trong khi em ấy còn quá trẻ và cậu ta quá đau yếu, thế nên em ấy đã tránh được thử thách đang dồn lên tôi. Ba kẻ đồng hành khó có thể thành thân này chỉ làm tôi cảm thấy tồi tệ hơn. Tôi là đứa duy nhất có thể làm dâu và làm vợ, trên thực tế và cả lý thuyết.

“Em không biết tại sao mặt chị lại đuỗn ra như thế”, Katherine, cô em ngốc nghếch của tôi nói. “Chị biết khi đã cưới là phải cưới đúng nghĩa. Em cũng vậy, nếu anh ta không bị ốm như thế”.

“Em cũng vậy!”, Mary nói. “Em khác”, tôi nói với Mary.

“Sao lại không?”, em ấy bướng bỉnh nói.

Tôi quá mệt mỏi để tranh luận với em ấy. “Và em còn quá trẻ”, tôi nói với Katherine.

“Không, em không còn trẻ”, em ấy đáp. “Và này, chị chắc chắn cũng không”. Em ấy đưa tay chỉnh lại chiếc khăn cột tóc cho tôi như ám chỉ rằng tôi bây giờ đã là một phụ nữ có gia đình. “Thôi nào, chị sẽ là người đầu tiên bước vào phòng tân hôn đấy. Chị thật là may mắn!”.

Tôi cảm thấy bị ép buộc một cách bất công khi mẹ tôi và mẹ chồng tương lai cùng tất cả phụ nữ trong dòng họ xuất hiện ở cửa và “áp tải” tôi đến tận buồng tân hôn, đứng nhìn bọn người hầu cởi xiêm y cho tôi rồi đột ngột bỏ tôi ở lại cùng với tân lang của mình.

Không phải anh ta khó chịu, dù nói theo cách nào. Anh ta là một người trẻ đẹp với khuôn mặt ưa nhìn và đôi mắt xanh sáng. Anh ta cao hơn hẳn tôi. Thậm chí tôi đứng chưa đến vai anh ta và tôi phải ngước cổ mỗi khi nhìn anh ta. Dù cao thế nhưng anh ta rất nhẹ nhàng trên đôi chân của mình – một người khiêu vũ giỏi, người ta nói vậy. Anh ta biết cưỡi ngựa, đi săn, đấu kiếm, đúng những gì mà một người như anh ta cần phải biết. Anh ta được nuôi nấng trong một gia đình ngoan đạo và có học. Nếu chúng tôi không cưới nhau, tôi dám cược rằng chuyện nhỏ chuyện to gì anh ta cũng hỏi ý kiến mẹ. Cậu bé nhiều tuổi này sẽ luôn nhìn mẹ thậm chí trước cả khi cậu ta định mở miệng, đi, đứng hay nằm, ngồi.

Anh ta không phải là lựa chọn của tôi, anh ta sẽ không bao giờ là lựa chọn của tôi, và tôi e rằng mình có thực sự tự do lựa chọn trước mặt Chúa trong chuyện cưới anh ta hay không. Nhưng vì chúng tôi đã kết hôn với nhau, tôi không nên nói gì chống lại anh ta. Một người vợ ngoan phải biết vâng phục. Anh ta được đặt làm chồng tôi như Adam là chồng Eva. Tôi phải vâng lời anh ta, bất luận tôi nghĩ thế nào về các nhận định của anh ta.

Đêm động phòng của chúng tôi diễn ra thật tồi tệ và đau đớn đúng như tôi chờ đợi. Tôi thậm chí không nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu tôi kết hôn với Edward Seymour, mặc dù anh ta có thể tự tin hơn Guildford và có lẽ sẽ không làm tôi có cảm giác mình là một con ngốc không biết phải làm gì trong đêm đầu tiên. Điều khó cho tôi là tôi không có một cuốn sách nào nói về chuyện giường chiếu, ngoại trừ việc miêu tả thứ cảm giác hết sức trừu tượng. Không cuốn nào nói gì về sự đau đớn trong đêm đầu tiên, ngoại trừ nỗi đau tội lỗi. Không ai trong số họ cảnh báo tôi rằng điều tồi tệ nhất là sự khốn khổ khi một người lạ đang cố làm chuyện đó với mình – không ai trong chúng tôi biết chính xác chuyện này nên được thực hiện như thế nào, nhưng khi trục trặc xảy ra thì lại đổ lỗi cho tôi. Tôi thậm chí còn không biết rằng không có điều gì sai cả, ngoại trừ lúc bạn sẽ bị đau và sau đó là sự nhớp nháp kinh tởm. Anh ta không bị dục vọng hay tình cảm kích động và tôi cũng thế. Tôi chờ đợi cho đến khi anh ta ngủ say và trỗi dậy nguyện cầu được ban sức mạnh để chịu đựng chuyện này, như tôi phải gánh chịu mọi thứ khác trong vực sâu thống khổ này, ở nơi mà Chúa đã an bài.

Cuối cùng, các vị khách cũng chào tạm biệt ra về. Katherine đến nhà mới của em ấy tại Lâu đài Baynard để đưa chồng trở lại giường bệnh và chăm sóc anh ta như một người mẹ, vì mẹ ruột của anh ta đã chết. Cha và mẹ tôi về lại Lâu đài Suffolk cùng Mary bé nhỏ; còn tôi bị bỏ lại trong một ngôi nhà xa lạ bên đám gia nhân đang dọn dẹp đống hỗn độn sau bữa tiệc kéo dài hai ngày cùng với mẹ chồng tôi đang ở lỳ trong phòng riêng. Chồng tôi thì mệt mỏi và câm lặng nhưng bà chẳng có mặt ở đây để dạy anh ta biết phải nói hay làm gì.

Sáng hôm sau tôi được phép về với gia đình nhưng chỉ được đến Lâu đài Suffolk. Tôi thèm được nhìn thấy những cánh đồng mùa hè ở Bradgate, nhưng tôi phải sống tại London.

“Mẹ anh nói rằng em có thể về nhà nếu em muốn”, chồng tôi nói một cách kém nhã nhặn. “Nhưng mẹ cũng bảo anh phải ăn tối với nhà em vào ngày mốt và nghỉ qua đêm ở nhà em”.

“Tất cả sách vở của em đều ở bên đó”, tôi nói, cố tìm lý do cho mình. “Em cần phải về nhà để học”.

“Mẹ anh bảo em có thể làm thế.”

Tôi không hỏi anh ta rằng họ có mong tôi trở lại sớm không. Tôi nghĩ tốt hơn là tôi không nên biết. Có lẽ tôi sẽ về thăm ngôi nhà ở London của chúng tôi và ở đó cho đến mùa hè, và nếu bệnh tình Đức Vua tiến triển tốt, John Dudley và các con trai của ông có thể tham dự mà không có vợ họ đi cùng, và như thế tôi có thể đi Bradgate. Ý nghĩ rằng tôi có thể về nhà, đi xe ngựa trong rừng và nhìn thấy mùa màng đang kỳ thu hoạch, đi dạo dưới trăng và đi thuyền trên hồ là thứ duy nhất giúp tôi giữ tâm hồn bình yên trong những ngày đầu tiên của cuộc hôn nhân. Nói đúng hơn là ý nghĩ đó và những cuốn sách của tôi. Tôi luôn có thể mở sách ra và giấu mình trong đó, thế giới riêng của tôi.

Ý định đi Bradgate gặp mẹ như một kẻ trốn chạy khỏi một nơi còn tồi tệ hơn dưới ngôi nhà của bà làm tôi lần đầu tiên hiểu ra những gì Đức Chúa Trời đã nói với Eva: Ta sẽ làm tăng đau buồn của ngươi, ngươi phải mang nặng đẻ đau và sinh con, ngươi phải phục tùng chồng ngươi và hắn sẽ cai trị ngươi. Quả thật, làm phụ nữ thật buồn; và Eva cho chúng ta thấy rằng làm vợ còn tệ hơn nữa.

Phu nhân Dudley và mẹ tôi thống nhất rằng tôi có thể sống với cha mẹ tôi ở Lâu đài Suffolk, miễn là tôi thường xuyên ghé thăm nhà Dudley và ăn tối cùng họ. Những tuần đầu tiên của cuộc hôn nhân đã diễn ra như thế. Nhưng Phu nhân Dudley đã phá vỡ sự sắp đặt này bằng cách về phòng riêng trước bữa ăn tối, vì Guildford và tôi ngồi im lặng một cách chướng mắt. Bà nói: “Bây giờ con phải gửi quần áo và toàn bộ đồ dùng của con về đây, Jane. Con phải ở lại đây đêm nay và những ngày còn lại. Con phải sống ở đây kể từ giờ phút này”.

Tôi đứng dậy và nhún người trước mặt bà. “Con nghĩ con phải về nhà ạ”, tôi đáp. “Mẹ con đang chờ con tối nay”.

Bà lắc đầu. “Mọi thứ đã thay đổi rồi. Cha chồng con đã viết thư cho mẹ bảo rằng con phải sống ở đây. Con phải ở đây với chúng ta. Chúng ta phải sẵn sàng”.

Guildford, ngay lập tức chạy đến bên mẹ anh ta ngay cái nhìn đầu tiên của bà, quỳ trước mặt bà và bà đặt tay ban phước lành trên cái đầu xoăn của anh ta. “Chúng ta phải sẵn sàng hở mẹ? Tình hình Đức Vua tệ hơn rồi sao?”, anh ta hỏi dồn.

Phu nhân Dudley lầm bầm khó chịu vì sự bướng bỉnh đến mức ngây thơ của tôi. “Để chúng ta yên”, bà ấy nói với các cô hầu gái đang đi vào. “Ngồi xuống đi, Jane. Guildford, con trai ngoan của mẹ, đến đây với mẹ nào”.

Anh ta đứng nép sau bà, giống như con khỉ Nozzle bám chặt lấy Katherine, nhìn thẳng vào mặt tôi trong khi mẹ anh nói: “Đức Vua, cầu Chúa ban phước cho người, đang trở nên tệ hơn. Ít nhất con cũng biết rằng ngài ấy bị ốm nặng chứ?”.

“Tất nhiên con biết ạ. Con thường đến viếng thăm người.”

“Bây giờ ngài ấy tệ hơn. Các ngự y nói rằng ngài sẽ không qua khỏi mùa hè này.”

“Mùa hè này ư?”. Không thể nhanh thế được! Tôi nghĩ nhà vua có thể sống đủ lâu để kết hôn và sinh con. Thật không thể tưởng tượng khi họ nói rằng chúng tôi có thể mất ngài ấy trong năm nay. “Chúa ban ân sủng cho người”, tôi thì thầm cầu nguyện, và bị sốc. “Con không biết. Nhưng làm sao lại thế được? Con nghĩ người chỉ...”.

“Không quan trọng”, bà ấy cắt lời tôi. “Bây giờ điều quan trọng nhất là di chúc”.

Thực ra, điều quan trọng nhất là phần hồn bất tử của người. Nhưng lúc này tôi không thể nói với bà.

“Đức Vua đã thay đổi di chúc”, bà nói, có phần đắc thắng. “Đã thay đổi. Và toàn thể nghị viện đã thề thi hành các thay đổi đó”. Bà liếc nhìn lên Guildford trong khi anh ta mỉm cười nhìn xuống bà. “Cha con đã nhìn thấy bản di chúc sửa đổi rồi”, bà nói. “Người đã sẵn sàng cho mọi thứ”. Rồi bà quay lại phía tôi. “Đức Vua đã loại bỏ hai người chị cùng cha khác mẹ của mình ra khỏi hàng thừa kế”, bà nói rất nhanh, phớt lờ sự ngạc nhiên đến mức thảng thốt của tôi.

Tôi đứng lên, như thể tôi cần phải đứng vững để lấy can đảm tranh luận với bà.

“Không thể như thế được”, tôi nói chậm rãi.

Tôi biết Công chúa Mary là người thừa kế tiếp theo; dù bà theo tôn giáo nào thì cũng không ai có thể phủ nhận quyền thừa kế của bà. Những người thừa kế không thể được lựa chọn ngẫu nhiên. Ngai vàng không thể cho ai thì cho. Đức Vua, người họ hàng của tôi, biết rõ điều đó và cả vương quốc này biết rõ điều đó. Bất kể cha tôi nói gì, không thể có chuyện Đức Vua tự chọn người thừa kế của mình. Nhà Tudor không có con trai. Đức Vua không thể bảo rằng ngài thích người anh em họ này hơn người anh em họ khác.

“Được chứ!”, phu nhân Dudley nói. “Rồi cô sẽ biết điều đó như một thực tế hiển nhiên sau khi nhà vua băng hà”.

Bất ngờ tôi nhận ra đây là một sự phản bội. Thật là phản trắc khi nói về cái chết của nhà vua; và chắc chắn đó cũng là sự phản bội khi nói những điều chống lại các công chúa.

“Con nghĩ tốt hơn con nên về nhà”, tôi nói.

“Cô phải ở lại đây”, bà gằn từng tiếng. “Giờ không phải lúc để cô về nhà mẹ đẻ”.

Một cách khinh bỉ, tôi nhìn thẳng mặt con trai bà, người rõ ràng không bao giờ phải chạy đến bên mẹ vì anh ta luôn luôn ở dưới cánh của bà.

“Cô phải ở đây để chồng ta đưa cô vào trong Tháp”, bà ấy giải thích.

Tôi thở hổn hển. Người cuối cùng bị đưa vào Tháp bởi chồng bà đã kết thúc ở đó với cái đầu treo lủng lẳng trên nóc nhà: Edward Seymour.

“Không, đồ ngốc!”, bà nói một cách bực tức. “Cô sẽ phải đến Tháp sau khi nhà vua băng hà. Cô sẽ phải được người ta nhìn thấy ở đó. Chồng ta muốn giữ an toàn cho cô”.

Đơn giản đến mức không thể tin được, và thật nực cười để tôi phải bỏ công suy nghĩ. Tôi biết rằng cha và mẹ tôi sẽ không bao giờ cho phép tôi bị đưa đến Tháp bởi John Dudley.

“Con về nhà đây”, tôi nói cương quyết và bước ra cửa. Tôi sẽ không can dự vào việc này. Thuyền của tôi đang đợi tôi ngoài bến, người của tôi đang đợi tôi ở sảnh. Không ai có thể ngăn tôi trở về nhà để báo với mẹ tôi rằng gia đình Dudley đã hóa điên, vì họ nghĩ rằng họ có thể thay đổi quyền kế vị, và họ muốn giam tôi vào Tháp.

“Chặn nó lại!”, mẹ Guildford ra lệnh cho anh ta.

Anh ta tiến tới và nắm cổ tay tôi. Tôi xoay tròn trượt khỏi anh ta. “Để tôi đi!”. Tôi phun nước bọt, và thế là anh ta rụt người lại như thể con mèo của Katherine bất ngờ nhảy bổ vào và cào vào mặt anh ta.

Không chờ đến cơ hội thứ hai, tôi thoát ra khỏi phòng và chạy thật nhanh. Tôi chạy xuyên qua cung điện, tôi thét muốn khản cả giọng giữa những hành lang dài hun hút, “bỏ hết đi!”, và tôi cười lớn vì được tự do.

Lâu đài Suffolk, london tháng 6 năm 1553

Tôi nhận ra rằng mẹ tôi đang trong cơn giận dữ trước cả khi tôi bước vào phòng và có cơ hội để nói với bà rằng tôi bị Phu nhân Dudley bạc đãi. Bà lồng lộn đi lên đi xuống phòng riêng, cha tôi thì đang ngồi bên bàn, im lặng quan sát bà, những ngón tay của ông đan vào nhau, nét mặt nghiêm trọng. Bà đang quay tròn khi tôi bước vào với gương mặt trắng bệch.

“Họ đã nói với con như thế ư?”, cha tôi hỏi.

“Vâng ạ, Phu nhân Dudley đã nói thế”, tôi khẽ đáp. “Nhưng con không hiểu. Con đã ra đi ngay lập tức, thưa cha”.

“Nói cho nó đi!”, mẹ tôi ra lệnh cho cha. “Nói cho nó biết John Dudley đã làm gì và ông đã đồng ý mọi chuyện!”.

“Ngày càng rõ ràng đối với Đức Vua và tất cả chúng ta rằng ngài ấy không sống đến ngày có con”, cha tôi nói với tâm trạng nặng nề. “Các ngự y còn e rằng thậm chí Đức Vua còn không kịp nhìn thấy con trai của con được sinh ra”.

“Và với việc Công chúa Mary và Công chúa Elizabeth đã bị gạt sang một bên, tôi sẽ là người thừa kế tiếp theo”, mẹ tôi nói chen vào.

“Ngự y nói chỉ tính bằng tuần thôi, không phải tháng đâu.” “Ôi Chúa lòng lành! Sớm vậy sao?”, tôi thì thào.

“Tôi sẽ thừa kế ngai vàng trong vài tuần nữa, chứ không phải đến mấy tháng sau!”, mẹ tôi rướn mày nói to.

“Nhưng Đức Vua đã quyết định tìm người thừa kế là nam, sớm nhất có thể”, cha tôi tiếp tục nói và đè bẹp tiếng kêu la phản kháng của bà. “Và Đức Vua muốn trao quyền cho mẹ con – vì lợi ích của vương quốc – để truyền lại cho thế hệ tiếp theo, cho con và các em của con – và cho các thế hệ sau đó, con trai của con, Jane ạ”.

“Nhưng cha từng nói rằng...”

“Vì vậy, ngài đã tôn con lên làm nữ hoàng, và bất kỳ đứa con trai nào con sinh ra sẽ được chọn làm vua, người kế vị sau con. Ngài không thể tấn phong cho đứa bé chưa được sinh ra, vì vậy ngài đã chọn con”.

“Và toàn thể Hội đồng, bao gồm cả cha con, đã ký thuận điều này!”. Mẹ tôi gào lên. “Ngoại trừ tôi! Họ dẹp tôi sang một bên! Và giờ họ lại mong tôi đồng ý! Họ đã đến gặp Đức Vua và kiến nghị bất chấp ý kiến của tôi!”.

“Tôi không thấy chúng ta có thể làm gì khác”, cha tôi kiên nhẫn nói. “Tôi đã nói rất cương quyết về trường hợp của bà, nhưng đó là lựa chọn của riêng Đức Vua để chúng ta có được một vị vua trong vòng một thế hệ”.

“Điều đó sẽ đặt cháu nội của John Dudley lên ngôi báu!”, mẹ tôi bùng nổ sự tức giận. “Đó là lý do tại sao ông ấy đưa cả Nghị viện nhằm lấn át nguyện vọng của Đức Vua! John Dudley đã âm mưu ngay từ đầu: Jane được trao vương miện nữ hoàng trong nhà của tôi và Guildford Dudley đứng bên cạnh nó, và lũ anh em thằng Dudley sẽ trở thành quận công! Trong khi tôi – con gái của Vương hậu Pháp, cháu gái của Đức Vua nước Anh – lại bị bỏ qua. Và ông nói rằng tôi phải đồng ý với điều đó sao?”.

Cha tôi trầm lặng quan sát bà. “Không ai phủ nhận dòng máu hoàng tộc của bà”, ông nói. “Đó là lý do Đức Vua chọn Jane là người đầu tiên để truyền ngôi. Quyền thừa kế của bà đã được chuyển đến con gái chúng ta và bà sẽ trở thành Hoàng Thái hậu, người quyền lực thứ hai chỉ sau con gái chúng ta”.

“Con cần phải cầu nguyện về điều này”, tôi nói với cha. “Chuyện này có gì đó không đúng. Đức Vua còn có các chị gái của ngài nữa”.

“Đức Vua đã cầu nguyện và tất cả chúng ta đã cầu nguyện”, ông nói. “Chúa nói với ngài rằng đó là cách duy nhất để dòng họ Tudor giữ được ngai vàng”.

“Và con phải sống với anh ta à?”. Tôi hỏi, nghĩ đến những sự lóng ngóng vụng về đến đau lòng của Guildford. “Con phải mang thai một người thừa kế của dòng họ Tudor, và sinh hạ một cậu bé Tudor trong khi năm bà vợ khác không thể?”.

“Nếu đó là ý Chúa”, cha tôi nhắc tôi. “Và con sẽ là người đứng đầu Giáo hội Anh. Hãy nghĩ về điều đó, Jane. Hãy nghĩ về điều đó”.

Tôi đi cầu nguyện. Em gái Mary bé nhỏ của tôi tìm thấy tôi đang quỳ gối trong nhà nguyện và nhìn chằm chằm vào bức tường trắng phía sau cái bàn trống của bệ thờ. Xung quanh chúng tôi là những đường nét mờ nhạt từ những bức tranh các vị thánh được treo trên những bức tường vôi bong tróc tựa như những bóng ma đang vờn quanh. Đó từng là những bức tranh tươi sáng và đầy cảm hứng khi nhà nguyện được xây và người ta cần những thứ này bởi họ không có Kinh Thánh và không được phép cầu nguyện trực tiếp với Chúa. Tôi phải làm bất cứ điều gì để cứu vương quốc mình khỏi quay trở lại vào thời kỳ đó, nô dịch cho một giáo hoàng xa xôi trong vai một nữ hoàng theo Công giáo La Mã chuyên giảng đạo cho những thần dân ngu muội bằng những lời dối trá.

“Nữ Công tước Northumberland, mẹ chồng của chị, đã gửi đến cho chị...”, Mary thì thầm.

Em ấy đứng bên cạnh tôi trong khi tôi đang quỳ và đầu em ấy chỉ cao ngang đầu tôi. “... một trong những người hầu của bà ấy để nói với mẹ chúng ta rằng chị phải trở về nhà họ ngay lập tức. Bà ấy nói chị không vâng lời và điều đó sẽ hủy hoại công sức của tất cả mọi người nếu chị không cư xử đúng khi họ cần đến chị”.

Tôi bướng bỉnh ngước lên nhưng không nhúc nhích: “Chị sẽ không đi đâu cả”.

“Mẹ bảo chị không phải đi, rằng chị cứ ở lại đây, và Phu nhân Dudley nói trong trường hợp đó bà sẽ giữ Guildford ở nhà của bà, và chị sẽ bị cho là một người vợ bất phục tùng và kỳ quặc.”

Tôi nhìn chăm chăm vào em gái tôi. “Chị phải vâng lời chồng chị. Chị đã thề làm vợ của anh ta”, tôi nói trong khốn khổ.

Đôi mắt của Mary mở to trên khuôn mặt nhợt nhạt của nó. “Đó là những gì mẹ nói”.

“Mẹ khăng khăng bắt chị phải quay lại?”

“Chị phải đi”. Mary gật đầu. “Mẹ nói đó là ước muốn của bà”.

Tôi đứng dậy. Tôi cảm thấy mệt mỏi rã rời như người cậu họ của tôi, nhà vua, người đang chống chọi với bệnh tật để giành giật cuộc sống của mình trong khi mọi người lại đang cãi nhau về di sản của cậu ấy. “Thế thì chị sẽ đi”, tôi nói. “Chúa biết điều gì sẽ đến tiếp theo”.

Lòng tôi quặn thắt trong khi trở lại nhà Dudley bằng thuyền. Tôi có thể nhìn thấy anh chồng cao lớn của tôi đang đứng đợi trên bến thuyền, và khi chiếc thuyền nhẹ nhàng cập vào bờ đá, anh ta hơi nghiêng người cúi chào. Khi tấm ván được bắc và những người lái thuyền đã buộc dây thừng, anh ta đưa tay cho tôi nắm để bước lên bờ. Tôi liếc nhìn các ô cửa sổ trống của căn nhà như đang nhìn xuống khu vườn và dòng sông. Tôi nghĩ họ đang quan sát tôi và không hài lòng chút nào về chuyện này.

“Vâng, cha tôi bảo tôi ra đón cô”, anh ta nói. “Cha đang nhìn chúng ta từ cửa sổ đấy. Cha muốn gặp cô trong phòng ngay lập tức”.

“Tôi không khỏe”, tôi nói. “Tôi bị ốm”.

“Điều đó không làm cô thoát được đâu”, anh ta nói không chút cảm thông. “Cha vừa trở về từ Điện Westminster thì biết cô đã đến Suffolk. Điều đó trái với ý muốn của cha, ngược yêu cầu của mẹ, và chống lại lệnh của tôi”.

“Tôi thực sự không khỏe”, tôi nói với anh ta. “Tôi cần về phòng. Tôi không thể gặp ai. Hãy nói cha thứ lỗi cho tôi, nói với cha rằng tôi cần nằm nghỉ”.

“Tôi sẽ nói với mẹ”, anh ta nói, “Nhưng có lẽ bà ấy sẽ vào phòng cô và làm cô khốn đốn đấy”. Anh ta e dè như một đứa trẻ không vui đang cảnh báo người khác. “Cô không được khóa cửa đấy nhé! Cô biết rồi đấy! Không có chìa khóa. Nếu cô đi ngủ, bà ấy cũng đến và dựng cô dậy”.

“Bà ấy không thể đánh tôi”, tôi nói pha chút giễu cợt. “Ồ không, thực tế là, bà ấy có thể làm thế”.

Anh ta quay lưng và bỏ tôi lại ở đó, trong vườn, một mình với những người hầu của tôi, cho đến khi một trong số họ bước tới đỡ tay tôi và đưa tôi về phòng.

Trong tích tắc, đúng như con trai bà dự đoán, Phu nhân Dudley mở cửa phòng tôi, bước vào mà không cần gõ cửa, nhìn tôi với vẻ mặt đầy cảm thông. “Con bị ốm vào buổi sáng trước hôn lễ phải không?”, bà ấy hỏi. “Vâng ạ”, tôi đáp. Tôi gắng gượng ngồi dậy nhưng trong sự ngạc nhiên tột độ của tôi, bà ấy ấn tôi nằm xuống.

“Không, cứ nằm xuống và nghỉ ngơi đi nào. Thế con có bị chóng mặt không?”

“Có ạ!”

“Vú con có cảm giác tưng tức không?”

Tôi thấy câu hỏi này rất riêng tư khi nó đến từ bà mẹ chồng hỏi cô con dâu mà mới đây bà không hề có chút quan tâm, tôi đỏ mặt và không trả lời.

“Kỳ kinh sắp tới của con là khi nào?”

Tôi chưa bao giờ để ý điều này – đôi khi nó đến muộn, đôi khi cũng không thấy. “Con nghĩ tuần này, hoặc có lẽ tuần trước cũng nên”.

Khuôn mặt cau có của bà ấy bỗng co giật lạ lùng, tôi hiểu bà ấy đang xúc động. Bà ấy nắm lấy tay tôi. “Con cần nghỉ ngơi”, bà ấy nói với giọng dịu dàng. “Nghỉ đi, con yêu”.

Có tiếng ồn ào trong sân bên ngoài cửa sổ phòng tôi khi đoàn tùy tùng nhà Dudley tiến vào sân và hô vang đón chào các cỗ xe và những người lính. Tiếng ồn đập vào đầu tôi và tôi xoay mặt ra khỏi ô cửa sổ sáng lòe.

“Con có thể đến dinh thự ở Chelsea mà nghỉ ngơi”, bà ấy đề nghị. “Con thích ở đó, phải không nào?”.

Tôi từng sống ở đó với Hoàng hậu Kateryn Parr khi bà mới trở thành góa bụa và đang viết cuốn sách của bà. Đó là nơi tôi yêu thích nhất trên đời. “Con thích ở đó”, tôi nói. “Nhưng cha bảo rằng con phải ở đây!”.

“Ồ, không, không, không. Con có thể đến đó trong khi chúng ta chờ đợi tin tức,” bà nói. “Guildford có thể đến đó thăm con, và chồng ta sẽ báo tin tức cho con. Những người hầu của con có thể đi cùng con”. Bà ấy mỉm cười trong khi vỗ vỗ đôi tay lạnh lẽo của tôi. Bà ấy chưa bao giờ nhẹ nhàng với tôi như vậy trước đây. “Ở đó con được yên tĩnh và ăn uống tốt. Mẹ đã sinh mười ba đứa, mẹ biết mà”, bỗng dưng bà tâm sự.

Lẽ nào người đàn bà điên rồ này đang nghĩ rằng tôi có thai, rằng tôi đang mang cháu nội của bà trong mình? Vâng, sao cũng được, tôi không muốn tranh cãi với bà ấy, không, nếu bà ấy đưa tôi đến Chelsea mà không có Guildford.

“Mẹ sẽ bảo họ chuẩn bị phòng ốc cho con”, bà ấy nói. “Con có thể đi bằng thuyền của chúng ta ngay khi chúng được chuẩn bị sẵn sàng. Con thấy không, mẹ chăm sóc con tốt như thế! Giờ hãy nghỉ ngơi đi nhé!”.

Tôi nhắm mắt lại và khi mở mắt ra, bà ấy đã đi tự bao giờ.

LÂU ĐÀI MANOR, CHELSEA

THÁNG 7 NĂM 1553

Thật khó có thể tin rằng người bạn của tôi, thầy của tôi, người gần như là mẹ của tôi, Hoàng hậu Kateryn, lại không ở đây với tôi tại Chelsea. Cứ mỗi lần tôi đưa mắt ra khỏi trang sách tôi mong nhìn thấy bà ngồi sau bàn làm việc, đọc và ghi chép.

Đây là nhà bà, và tôi là đứa cháu yêu của bà, đứa cháu mà bà tạo nên trong hình ảnh của bà và được yêu dấu như con gái bà. Chúng tôi thường đi dạo trong vườn, rong chơi trong rừng, ngồi bên sông, và ngày nào cũng như ngày nào chúng tôi đọc sách trong những căn phòng xinh xắn nhìn xuống khu vườn và dòng sông. Nếu nhớ không khí những buổi lễ hội đông người và sự phấn khích của những buổi thiết triều, bà cũng không bao giờ tỏ ra bất kỳ dấu hiệu nào. Ngược lại, bà sống theo phong cách bà hằng mong muốn: một phụ nữ học vấn uyên thâm, cách xa cái thế giới đầy tội lỗi ngoài kia, hạnh phúc với người đàn ông mà bà yêu, và cuối cùng được tự do tận hiến bản thân để học hành và cầu nguyện. Chính từ thư viện này bà gửi bản thảo những quyển sách của mình tới các nhà in. Nơi đây, bà đã mời những học giả đương thời vĩ đại nhất đến thuyết trình. Giờ tôi cảm thấy như thể bà vừa bước vào khu vườn, hoặc đi dọc theo hành lang và tôi có thể nhìn thấy bà bất cứ lúc nào, điều đó làm tôi cảm thấy an tâm. Cuộc sống mà bà tạo ra cho bản thân mình ở đây cũng chính là cuộc sống mà tôi muốn: sự bình an của trí tuệ34*.

34* . Scholarly peace.

Trong giai đoạn yên ắng này, tôi chọn đọc tất cả những gì có thể về những người lùn, vì tôi nghĩ rằng em gái Mary của tôi không phải nhỏ xương, thiếu cân hoặc chậm lớn để cha tôi lấy đó làm lý do giữ em ấy ở nhà. Tôi sợ rằng em ấy sẽ không bao giờ cao thêm; và tôi tự hỏi tại sao điều đó lại xảy ra. Tôi hầu như không học được gì từ các triết gia Hy Lạp, nhưng ở Ai Cập cổ đại có những vị thần lùn, và có vài người lùn dòng dõi cao quý. Tôi viết cho Mary về điều này nhưng không đề cập đến hành vi của những người lùn ở các hoàng gia La Mã. Không có thông tin nào trong đó phù hợp với một phụ nữ trẻ là con gái của người thừa kế ngai vàng. Thật vậy, tôi đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra điều đó trong thư viện của Kateryn Parr.

Tôi sống gần như một mình ở đây trừ những người hầu của tôi. Cách ngày Guildford lại cưỡi ngựa đến thăm và nói cho tôi biết những tin tức anh ta biết – nhưng chẳng nhiều nhặn gì – và sau đó quay về nhà, nơi họ đang canh giữ một cách ích kỷ người cậu họ khốn khổ của tôi, nhà vua đang hấp hối. Đôi khi Guildford ăn tối với chúng tôi nhưng thường thì anh ta ăn cùng bố mẹ mình và ngủ ở nhà anh ta. Những người hầu của tôi hỏi tôi có nhớ anh ta không – một người chồng rất đẹp trai và mới cưới – và tôi cho họ một nụ cười nhẹ và nói rằng “Không có gì đặc biệt”. Tôi không bao giờ nói rằng thật là nhẹ nhõm khi không có sự hiện diện nặng nề của anh ta trên giường của tôi, đổ mồ hôi vào tấm khăn trải giường của tôi và làm nghiêng phần còn lại chiếc giường của tôi bởi sức nặng của anh ta. Anh ta phải để ý đến tôi, cũng như tôi phải chịu đựng anh ta; chúng tôi được ràng buộc với nhau bởi giáo luật và mệnh lệnh của cha mẹ chúng tôi; nhưng tôi không hiểu tại sao phụ nữ làm điều đó vì khoái lạc, hoặc thậm chí họ tìm kiếm nó, thực lòng tôi không thể tưởng tượng được.

Nhưng tôi nhớ rằng Hoàng hậu Kateryn luôn cảm thấy hạnh phúc nhất vào những buổi sáng khi Thomas Seymour xuất hiện trên đôi chân trần trong phòng bà ấy. Tôi biết mẹ tôi luôn có những khoảng thời gian vui vẻ với cha tôi, và Phu nhân Dudley rõ ràng luôn dâng hiến bản thân một cách quá lố cho cha chồng của tôi. Có lẽ đây là điều tôi sẽ cảm nhận được khi tôi trưởng thành hơn và mạnh mẽ hơn. Có lẽ, vì là thú vui xác thịt, nên bạn phải có rất nhiều thịt để cảm thấy vui thú. Nếu tôi không cảm thấy tồi tệ vì đau bụng và đang bị sốt, có lẽ mọi chuyện sẽ tốt hơn chăng? Nhưng tôi không thể tưởng tượng được rằng khi tôi béo và khỏe lên, liệu tôi có luôn thèm muốn ăn nằm với một Guildford vụng về, hay tôi sẽ bật cười khúc khích khi anh ta chạm vào người tôi không nhỉ?

Đây là lần duy nhất tôi phát hiện ra rằng những cuốn sách của tôi đã làm tôi thất bại. Một vài tài liệu của người Hy Lạp có khát quát về chuyện con cái nhưng tất cả đều nói về chu kỳ kinh nguyệt. Có một số hình ảnh kinh hoàng về một đứa trẻ được cắt dây rốn rứt ra từ người mẹ đã chết, và rất nhiều bí tích được ban bởi Chúa Thánh thần cho một trinh nữ – nhưng cũng có một số tác giả đặt câu hỏi làm thế nào những phép màu đó có thể xảy ra. Tuy nhiên, dường như không ai thực sự hiểu và viết bất cứ điều gì đáng giá về một người đàn bà thực sự. Nó tựa như tôi, và những người cùng giới tính của tôi, chỉ tồn tại như một biểu tượng. Sách vở không nói gì về sự pha trộn kỳ lạ của nỗi đau và sự xấu hổ mà Guildford và tôi phải đau khổ cắn răng chịu đựng với nhau trong giây phút mà người khác gọi là thăng hoa, đầy đam mê và khoái lạc. Họ không nói gì về việc làm thế nào một em bé được tạo ra từ sự kết giao thân xác đầy đau đớn này. Tôi không nghĩ có ai đó biết chính xác về điều này, và tất nhiên, tôi cũng không dám hỏi ai.

Guildford nói chuyện với tôi vào buổi sáng, rằng bệnh tình của Đức Vua đã được thông báo cho toàn thể Nghị viện và Giáo hội đang cầu nguyện cho sự hồi phục của ngài. Công chúa Mary và Elizabeth được mời vào triều khi cả hai đều đang ở nhà mong tin về Đức Vua.

“Họ có đến không?”, tôi hỏi.

“Anh không biết”, anh ta nói. “Cha anh mới biết”. “Sắp có chuyện à?”, tôi hỏi anh ta.

“Anh không biết. Cha anh mới biết”. “Sao anh không hỏi cha anh?”

Anh ta bật cười ngộ nghĩnh. “Không. Em có hỏi cha em về mưu mô của ông ấy không?”.

Tôi lắc đầu.

“Ông ấy nói gì đó với John và Ambrose hoặc Robert”. Guildford nêu tên những người anh em của mình.

“Họ đang bàn tính với nhau, họ biết chuyện sắp xảy ra. Họ lớn tuổi hơn anh. Họ được phép tham gia chuyện đại sự và được khoác quân phục ra trận. Họ có thể khuyên cha vì cha nghe họ. Còn anh chỉ là...”, anh ta bỏ lửng.

“Anh là gì?”

“Mồi để bắt em thôi”, anh ta nói, giọng cứng rắn như thể anh ta đang xúc phạm cả hai chúng tôi. “Miếng mồi ngon cho một con cá hồi ngu ngốc”.

Tôi lưỡng lự, phớt lờ sự thô bạo và nỗi đau trong giọng nói của anh ta. “Nhưng làm sao chúng ta biết mình phải làm gì?”.

“Sẽ có người bảo chúng ta”, anh ta nói. “Khi họ muốn, họ sẽ tìm tới chúng ta. Họ sẽ bắt cả mồi lẫn cá!”.

Đây là lần đầu tiên tôi có cảm giác anh ta là đàn ông, dù chưa đầy hai mươi tuổi, tuy nhiên anh ta buộc phải tuân theo sự sắp đặt của gia đình, cũng như tôi phải vâng lời cha mẹ mình. Đây là lần đầu tiên tôi thấy anh ta lo lắng về những âm mưu đối với chúng tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nghĩ rằng: chúng tôi rơi vào cùng cảnh ngộ. Tương lai của chúng tôi là sẽ ở bên nhau, sống cùng nhau, cùng đối mặt với bất cứ chuyện gì xảy ra. Và tôi trao cho anh ta một nụ cười e thẹn. “Chúng ta chỉ biết chờ đợi thôi sao?”.

Thật ngạc nhiên, anh ta chạm vào tay tôi, như thể thấu hiểu cảm giác chim lồng cá chậu của tôi, giống như con gấu ở Bradgate, chờ đợi những con chó săn lao đến. “Chúng ta phải chờ thôi”, anh ta xác nhận.

Mary Sidney, chị gái của Guildford, đến vào buổi chiều. Cô ấy mặc áo choàng và trùm đầu kín mít như thể cô ấy là một nữ anh hùng trong một trong những bài thơ cô ấy yêu thích, đôi mắt màu xanh đậm của cô ấy sáng lên vì phấn khích, thân hình mảnh khảnh trông như đang run rẩy.

“Em phải đến đó!”. Cô ấy nói thì thầm mặc dù chúng tôi đang ở một mình với nhau trong phòng riêng của tôi, ngoại trừ những người hầu của tôi đang ngồi bên ô cửa sổ bắt những tia sáng mặt trời cuối cùng trong ngày chiếu xuống những trang sách họ đang đọc.

“Cha chị bảo chị đến đây à?”

“Vâng!”, cô ấy hào hứng. “Em phải đến đó ngay lập tức!”.

“Em không được khỏe”, tôi nói. “Em ốm suốt, như thể đang bị đầu độc vậy”.

“Tất nhiên em không bị đầu độc. Giờ em phải đến đó.” Tôi ngần ngại. “Còn đồ đạc của em, sách vở của em...”.

“Chỉ là một chuyến viếng thăm thôi. Em không cần mang theo gì cả. Phải đi ngay.”

“Như vầy à? Không mang theo gì sao?” “Vâng! Đúng!”

Những người hầu của tôi mang áo choàng và mũ ra cho tôi. Không có cả thời gian để tôi thay đổi xiêm y. Tôi lấy chiếc áo choàng lông quấn quanh người khi đã ở trên thuyền vì những cơn gió lạnh trên mặt nước đen ngòm.

“Đi nào!”, Mary Sidney nói. “Nhanh lên!”.

Chiếc thuyền của nhà Dudley đang đợi chúng tôi, nhưng cờ hiệu đã được buộc lại. Chúng tôi lên thuyền mà không nói một lời nào, thuyền nhanh chóng rời đi trong im lặng và bắt đầu lướt nhanh. Ngay lập tức, tôi nghĩ rằng họ phạm sai lầm vì đang đi sai hướng: ngược dòng ra khỏi thành phố về phía tây. Tôi không hiểu. Nếu bệnh tình của Đức Vua, người cậu họ khốn khổ của tôi tệ hơn thì chúng tôi phải đến thăm cậu ấy tại Cung điện Greenwich chứ, nghĩa là phải đi xuôi dòng. Nhưng chúng tôi đang đi ngược dòng và con thuyền nhích lên từng thước một. Mary và tôi ngồi cạnh nhau trên ghế dưới mái thuyền, người xô tới xô lui theo nhịp chèo. Tôi ôm lấy bụng và cảm nhận có một nỗi sợ hãi hoặc buồn nôn, hoặc cả hai, đang âm ỉ bên trong.

“Chúng ta đi đâu thế?”, tôi hỏi. “Syon House”, cô nói.

Tôi thở dồn. Syon House là nơi Katherine Howard từng bị giam giữ trước khi bị đưa vào Tháp và bị chặt đầu.

“Giờ đó là nhà của cha chị”, Mary nói với vẻ không kiên nhẫn, như thể cô ấy đoán tôi đang lo. “Ông ấy muốn gặp chúng ta ở đó”.

“Để làm gì?”

Cô ấy lắc đầu. “Chị không biết”. Rồi cô ấy sửa bộ ngồi lại ngay ngắn, hai tay đút vào áo choàng và phóng mắt nhìn qua đầu những người chèo thuyền và mặt sông đang sẫm tối dần trong ánh chiều buông khi con thuyền lướt qua những khu rừng và những cánh đồng hai bên bờ sông. Chúng tôi đi ngang những đầm nước làm lũ diệc đập cánh xào xạc bay lên co mình trên những ngọn cây cao. Chúng tôi đi qua những đồng cỏ sình lầy nơi lũ gia súc đang oằn mình lội bùn gặm cỏ và gầm ghè nhìn chúng tôi như thể chúng tôi đang làm vẩn đục nguồn nước uống của chúng chứ không phải bởi những bàn chân móng guốc nặng nề của chúng gây ra. Chúng tôi vượt qua những cánh rừng rậm nơi có những rặng cây nghiêng mình soi bóng xuống dòng sông phản chiếu đầy những cành và nhánh, rừng xanh tiếp nối đồng xanh. Những tia nắng cuối cùng trong ngày chuyển sang màu xám, Mary xốc lại cho thẳng chiếc áo choàng lông trên vai tôi trong khi mảnh trăng non đầu mùa vừa ló dạng phía sau chúng tôi ném xuống mặt nước phẳng lặng những ánh vàng yếu ớt tựa như ma trơi thúc giục chúng tôi thẳng tiến tới sự hủy diệt của mình.

“Có thực là chị không biết tại sao họ gửi tin này cho em không?”. Tôi hỏi Mary, thật khẽ khàng để bầu trời đen tối kia có cố cũng không nghe thấy được.

Cô lắc đầu như thể mình cũng không dám phá vỡ sự tĩnh lặng. Một con cú bỗng kêu lên từng hồi và tôi nhìn thấy nó xuất hiện, trắng toát như một bóng ma, đôi cánh dày dang rộng chao từ cây này sang cây khác, và rồi chúng tôi lại nghe tiếng nó kêu, đầy tang tóc.

Chúng tôi đi như thế hàng giờ và cuối cùng cô ấy nói: “Kia kìa!”, và tôi nhìn thấy ánh đèn hắt ra từ một ngôi nhà.

Đó là Syon House.

Syon House, Isleworth tháng 7 năm 1553

Họ nhanh nhẹn buộc thuyền vào bến, bắc ván và cúi đầu chào khi chúng tôi bước lên bờ. Có những gia nhân cầm đuốc dẫn đường trên lối đi dài hun hút đến ngôi nhà lớn. Cha chồng tôi đã cho xây lại tu viện cũ thành một ngôi nhà riêng, nhưng ông đã để lại toàn bộ các bức tường và những phù điêu bằng đá trên những khung cửa sổ đẹp, nhưng lãnh đạm và nhợt nhạt dưới ánh trăng, nhờ vậy tôi nghe rất rõ lời thánh ca thì thầm và tiếng cầu kinh của các nữ tu âm vang từ mọi ngóc ngách trong ngôi nhà của họ.

Chúng tôi đi qua những tảng đá như thể chúng không là gì: chỉ là những cái răng trên hộp sọ của một đấu trường cổ. Chúng tôi không để ý các bức tượng mục nát đã rơi xuống, một mũi tên vàng trên thảm cỏ, một miếng đá được chạm khắc như một nhánh thường xuân, và nắp của một quan tài. Mary Sidney không nhìn ngang liếc dọc và tôi cũng thế khi chúng tôi đi xuyên qua đống đổ nát của đức tin xưa cũ, leo lên vài bậc tam cấp nhỏ và bước qua những cánh cửa lớn ngày càng đi sâu vào trong cho đến khi chúng tôi đến một gian phòng dài, ảm đạm, được ốp gỗ, có lẽ là phòng của nữ tu viện trưởng dùng để huấn thị những nữ tu ngoan ngoãn của bà. Giờ đây nó trống rỗng vô hồn với những viên đá lạnh ngắt trong căn phòng đá khổng lồ, và ánh sáng duy nhất xuất phát từ một cây nến có giá đỡ kiểu cách với ánh lửa bập bùng được đặt cạnh một chiếc ghế bành trông có vẻ nặng nề. Trên những vách tường gỗ là những khoảng trống phai màu để lại sau khi người ta đem những bức tranh thánh tích đi, đúng như lời đã nói, thật đáng nguyền rủa kẻ nào tạo ra những hình tượng mục ruỗng làm ô uế thanh danh Chúa; nhưng quả thật điều đó làm cho gian phòng trông thật thảm hại.

Tôi nhìn Mary và nói: “Mọi người đâu rồi? Tại sao chúng ta lại đến đây?”.

“Chị không biết”, cô đáp; nhưng giờ đây tôi biết chắc chắn cô ấy đang nói dối.

Cô ấy tiến về phía cửa và mở nó ra nghe ngóng. Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng xoong chảo khua và tiếng nói từ nhà bếp phía xa, nhưng những căn phòng lớn mở ra đại sảnh khổng lồ thì im lìm. Mary đóng cửa lại và nhìn tôi, như thể đang tự hỏi cô ấy nên làm gì với tôi. Tôi quàng chiếc áo choàng chặt hơn quanh cái thân thể mỏng mảnh của mình và nhìn lại cô ấy.

“Mắt em to thật!”, cô ấy nói bâng quơ. “Đừng sợ. Em phải can đảm lên”.

“Em không sợ”, tôi nói dối. “Chị trông mạnh mẽ thật đấy!”.

Đức tin của tôi lúc này phải phù trợ tôi như đã từng làm tôi cảm thấy an toàn trên giường mình ở Bradgate. Tôi biết rằng Chúa ở bên tôi. “Hỡi Chúa con, con đã kêu cầu Người, xin hãy chữa lành cho con”, tôi thinh lặng nguyện cầu.

“Ôi Chúa tôi”, Mary nói một cách thiếu kiên nhẫn. “Em chỉ đi ăn tối với cha chồng thôi mà!”. Rồi cô ấy kéo một cái ghế đến cạnh cái lò sưởi khổng lồ. Sau một giây lưỡng lự, tôi bắt chước làm theo và chúng tôi ngồi đối diện như đôi bạn già đang tán gẫu với nhau. Cô ấy ném vào lò một ít gỗ mồi và vài súc gỗ, dù không tăng được tí nóng nào nhưng ánh lửa nhấp nháy cũng đẩy bóng tối xa hơn đôi chút vào góc nhà.

“Có phải là về Đức Vua không?”, tôi thì thầm. “Vâng”, cô ấy đáp.

“Và người đã phong em làm nữ hoàng?”

Cô ấy mím môi như để giữ kín lời trong miệng mình. “Liệu như thế... có quá sớm không?”, tôi hỏi tiếp.

Cô ấy gật đầu như thể quá khủng khiếp khi phải nói ra bằng lời. Chúng tôi lại ngồi trong im lặng và sau đó thì cửa mở ra và một người hầu nam trong bộ đồng phục nhà Dudley xuất hiện. “Đức ngài muốn gặp cô trong đại sảnh”, anh ta nói.

Mary và tôi theo anh ta xuống cầu thang. Anh ta mở toang cánh cửa đôi và chúng tôi đi vào trong căn phòng tràn ngập ánh sáng. Ngay lập tức tôi bị lóa mắt bởi những ngọn nến và ánh lửa lấp lánh. Căn phòng đông nghịt những người đàn ông quyền quý của vương quốc và những cỗ xe tam tứ mã vẫn không ngừng kéo đến. Sự giàu có của họ được thể hiện bằng những món trang sức gắn trên mũ và từng chuỗi dây chuyền vàng nặng trĩu đổ xuống những khuôn ngực đồ sộ, béo núc như lũ bồ câu Pouter Anh Quốc35*. Tôi nhận ra nửa tá gương mặt quen trong số họ: Anh chồng ốm yếu của Katherine không có mặt, nhưng cha anh ta, William Herbert, đang ở đây và ông anh vợ ông, William Parr, Hầu tước xứ Northampton, đang đứng bên cạnh ông ấy; Francis Hastings và Henry FitzAlan đang nói chuyện với nhau trong một nhóm nọ nhưng họ im bặt khi nhìn thấy chúng tôi. Chúng tôi bước vào căn phòng bỗng dưng nín lặng và cha chồng tôi, John Dudley, khẽ gật đầu với Mary như thể cảm ơn chị ấy về sứ mạng đã hoàn thành, và sau đó người này nối tiếp người khác bỏ mũ ra khỏi đầu và đứng lặng yên. Tôi nhìn quanh, có ý mong đợi Đức Vua, hoặc Công chúa Mary, đang đi vào sau tôi. Nhưng chính John Dudley, Công tước xứ Northumberland, người quyền lực nhất trong Hội đồng, hạ mũ nạm ngọc và cúi mình rất thấp trước tôi rồi nói: “Đức Vua đã băng hà. Xin Chúa cứu rỗi linh hồn bất tử của người. Người đã đặt cô làm người kế vị. Giờ cô là Nữ hoàng. Cầu Chúa ban phước và phù hộ Nữ hoàng”.

35* . English Pouter Pigeon hay bồ câu thổi kèn Anh Quốc. Người ta cho rằng loài này được thuần dưỡng từ loài bồ câu núi.

Tôi nhìn ông ấy, mặt trắng bệch, và ngu ngốc nghĩ rằng tất cả chỉ là một giấc mơ: chuyến đi dài trên sông đến ngôi nhà câm lặng vào cuối hành trình, chiếc lò sưởi lạnh tanh, và giờ đây những con người danh giá này đang nhìn tôi như thể tôi biết phải làm gì sau khi họ trao cho tôi một danh vị bội phản.

“Cái gì thế này? Gì thế này?”, là tất cả những gì tôi có thể thốt ra.

“Giờ cô đã là Nữ hoàng”, John Dudley lặp lại. Ông ta nhìn quanh căn phòng. “Chúa phù hộ Nữ hoàng!”.

“Chúa phù hộ Nữ hoàng!”. Bọn họ đồng thanh hô lớn, miệng mở to, khuôn mặt bừng đỏ như thể tất cả cùng hô thì có thể biến mọi thứ thành sự thật vậy.

“Gì thế này?”, tôi lặp lại lần nữa. Tôi nghĩ rằng tôi cần tỉnh táo trong giây phút nực cười này. Tôi muốn nằm trên giường của tôi tại Chelsea. Có lẽ tôi sẽ nói với Guildford về giấc mơ khủng khiếp này và anh ta sẽ cười về chuyện này.

“Cho mời phu nhân của tôi”, John Dudley hạ giọng nói với người đang đứng ở cửa, và chúng tôi chờ đợi trong sự im lặng nặng nề. Không ai bắt được ánh nhìn của tôi dù mọi người đang nhìn về tôi. Tôi tiếp tục suy nghĩ: Họ muốn tôi làm gì? Rồi tôi cầu nguyện: “Lạy Cha, xin cho con biết con phải làm gì. Hãy cho con một dấu hiệu”. Sau đó, mẹ chồng tôi, Phu nhân Dudley, bước vào và mẹ tôi đi bên cạnh bà ấy. Tôi cảm thấy được an ủi nhưng nhìn thấy hai đối thủ không đội trời chung trong một đồng thuận bất ngờ, tôi càng sợ hãi hơn. Elizabeth Parr cũng đến và đứng bên cạnh chồng bà, Hầu tước xứ Northampton, với gương mặt sáng bừng nhưng đanh lại.

Mẹ tôi nắm chặt đôi tay lạnh của tôi, có phần thô bạo. “Jane này, Đức Vua, người anh họ của mẹ đã băng hà”, bà nói to như thể đang tuyên xưng dòng máu hoàng tộc của bà trước cả khán phòng.

“Edward đã băng hà ư?”

“Phải, và cậu ấy đã phong con làm Nữ hoàng”. Bà không cầm lòng được và nói thêm: “qua quyền bảo trợ của mẹ”.

“Ôi Edward đáng thương! Ôi! Edward!”, tôi thốt lên. “Người có ra đi trong an lành không? Có phải do bệnh tình của người không? Có ai ở đó đọc kinh cầu nguyện cho người không?”.

“Không quan trọng!”, mẹ chồng tôi xen ngang như không muốn lãng phí thêm thời gian cho linh hồn của người cậu họ tôi. “Người đã phong con làm Nữ hoàng”.

Tôi nhìn vào khuôn mặt đầy quyết tâm của bà ấy. “Con không thể”, tôi nói gọn lỏn.

“Con phải làm được”, mẹ tôi lặp lại. “Giờ phút cuối, Đức Vua đã chọn chúng ta vào hàng kế vị. Con nhận thừa kế qua mẹ”.

“Nhưng Công chúa Mary thì sao?”

“Cô ta được xác nhận là đứa con hoang trong di chúc của chính cha cô ta đấy. Ngoài ra, chúng ta không bao giờ chấp nhận một nữ hoàng theo Công giáo La Mã”, Phu nhân Dudley ngắt lời. “Không bao giờ”.

“Thế còn Công chúa Elizabeth?”, tôi thì thầm.

Lần này, không ai trong họ buồn trả lời. Tôi thậm chí cũng không kể tên Nữ hoàng Mary xứ Scots, mặc dù cô ấy cũng có quyền thừa kế như chúng tôi.

“Con không thể làm điều này”, tôi thì thầm với Phu nhân Dudley và ngờ vực nhìn khắp gian phòng đầy người. “Thực sự là con không thể”.

“Con phải làm!”

Rồi từng người một các thành viên hội đồng hoàng gia khuỵu gối cho tới khi đầu họ ngang vai tôi và tôi cảm thấy như thể tôi bị bao vây bởi những chú lùn cả quyết, khổ người không cao hơn cô em gái tí hon của tôi.

“Xin đừng!”, tôi nói một cách khổ sở. “Hỡi các ngài, các ngài đừng làm thế!”. Tôi có thể cảm nhận được những giọt nước mắt đang lăn dài trên gương mặt tôi, vì người cậu họ tội nghiệp của tôi, người chết trẻ, và vì tôi, người đang lẻ loi trong căn phòng khủng khiếp này với những con người khủng khiếp đang quỳ gối cùng những phụ nữ không hề có ý giúp đỡ tôi. “Xin đừng mà, tôi không làm được”.

Như thể tôi không hề nói gì, cứ như là họ bị điếc khi phải từ chối, và họ càng quỳ xuống thấp hơn. Đúng là cơn ác mộng. Rồi họ đứng lên, lần lượt từng người tiến đến, cúi đầu hôn tay tôi. Tôi muốn rụt tay lại nhưng mẹ tôi đã quàng tay ôm lấy lưng tôi từ phía sau trong khi tay kia giữ chặt nách tôi. Phu nhân Dudley nắm tay tôi và chìa ra để các quý ông xa lạ này có thể ấn đôi môi dày của họ lên nắm tay đang nắm chặt của tôi. Tôi khóc nghẹn ngào, nước mắt chảy dài hai bên má, nhưng không ai thèm để ý đến điều đó. “Tôi không thể, Công chúa Mary phải được kế vị. Không phải tôi!”, tôi than thở.

Tôi vùng vẫy trong vòng kìm kẹp của họ. Tôi nghĩ họ sẽ lôi tôi lên đoạn đầu đài. Tôi từng thách thức người dì họ Mary một lần khi tôi lăng mạ đức tin của dì ấy. Tôi không dám làm lại lần nữa. Tuyên bố nhận ngai vàng là một hành động phản bội và có thể bị trừng phạt bằng cái chết. Tôi không dám làm điều đó. Tôi không can dự vào chuyện này!

Cánh cửa của gian phòng bỗng mở toang và cha tôi cùng Guildford bước vào. “Cha ơi!”, tôi bật khóc như gặp được cứu tinh. “Hãy bảo họ rằng con không thể làm Nữ hoàng đi cha!”.

Ông đến bên tôi và tôi cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm vì được giải cứu. Tôi nghĩ ông sẽ cứu tôi khỏi cơn khốn quẫn này và bảo họ rằng mọi thứ là không thể được. Nhưng ông cũng như họ, cúi người trước tôi, như ông chưa bao giờ làm trước đây, và nói với giọng nghiêm nghị: “Jane, con đã được phong làm Nữ hoàng bởi Đức Vua quý mến đã khuất của chúng ta. Đó là quyền của người và con có bổn phận chấp nhận quyền thừa kế mà người đã ban cho con. Đó là nghĩa vụ Chúa phó thác cho con”.

Tôi hét sâu trong cổ. “Không! Không! Không đâu, cha! Không!”.

Mẹ tôi siết chặt vai tôi và lắc nhẹ. “Yên nào! Yên nào!”, bà gằn giọng. “Con được sinh ra cho điều này. Con phải vui mừng lên!”.

“Làm sao con có thể?”, tôi nấc nghẹn. “Con không thể! Con không thể!”. Trong cơn điên loạn, tôi nhìn những khuôn mặt nghiêm nghị hầu tìm kiếm ai đó có thể hiểu và đứng về phía tôi. Guildford tiến đến gần hơn và nắm lấy tay tôi. “Can đảm lên nào!”, anh ta nói. “Đây là cơ hội lớn cho chúng ta. Thật tuyệt vời! Anh rất hãnh diện về em!”.

Tôi nhìn anh ta, trống rỗng, như thể anh ta đang nói bằng tiếng Nga. Ý anh ta là sao? Anh ta vừa nói gì thế? Anh ta nở một nụ cười trẻ thơ, thả tôi ra rồi tiến về phía mẹ mình. Không ai quan tâm đến sự khước từ của tôi, không ai nghe thấy tôi nói rằng tôi không nhận ngai vàng.

Họ sẽ tấn phong tôi bất kể tôi đồng ý hay không. Tôi như một con thỏ kẹt chân trong bẫy. Tôi có thể vùng vẫy, tôi có thể thét gào, nhưng không ai, không gì có thể cứu giúp tôi.

THÁP LONDON

THÁNG 7 NĂM 1553

Tôi vận áo choàng nhung xanh thêu chỉ vàng. Chắc là họ đã bí mật cho may nó theo số đo của tôi và chờ đợi ngày này. Khi họ quấn vạt trên chiếc áo quanh eo tôi, tôi cảm giác nó thít chặt như cái nút nơ thắt trên cổ áo tôi. Đó là khi tôi biết chắc chắn rằng đây là sự kế vị không có gì ngạc nhiên từ người cậu họ đang hấp hối, một hành động nhất thời; rõ ràng kế hoạch này đã được sắp đặt một thời gian; thợ may đã được cung cấp số đo của tôi phải hàng tháng trước. Cha chồng tôi, John Dudley, người đứng đầu hội đồng, hẳn đã đứng ra chỉ đạo vụ may đo này, ngay cả cha tôi cũng đồng ý, tất cả các thành viên Hội đồng đã thề ủng hộ, và cuối cùng người cậu họ yếu đuối đáng thương Edward của tôi “Tự” ra quyết định và “Lệnh” cho họ quay lưng chống lại chị gái Mary của mình, người thừa kế hợp pháp ngai vàng.

Mẹ tôi đồng ý từ bỏ quyền kế vị và chuyển ngay cho tôi. Bà sẽ phải vật vã với niềm kiêu hãnh của mình trong nhiều tuần tiếp theo. Tất cả bọn họ rồi phải tự vấn lương tâm mình trong nhiều tháng ròng – nếu họ còn có nó. Nhưng tôi phải mang nỗi sợ hãi này tới Chúa và vật lộn với sứ mạng được Chúa giao phó chỉ trong vài ngày, và bây giờ tôi phải mặc chiếc áo choàng mới màu xanh thêu chỉ vàng, bước lên long thuyền, ngồi trên ngai vàng dưới mái vòm bằng vàng và được đưa đến Tháp trong cờ xí hoàng gia phấp phới để chuẩn bị cho lễ đăng quang.

Tôi đã từng đi thuyền hoàng gia như người đồng hành với người cậu họ của tôi, Đức Vua Edward, nhưng giờ đây tôi ngồi ngay giữa ngai vàng và cảm nhận rõ những cơn gió lạnh từ dòng sông táp vào người trên vị trí trống trải này. Khi thuyền cập bến, có hàng trăm người đứng dọc bờ sông và bên trong Tháp nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi cảm thấy xấu hổ trong khi bước lên bờ và tiến về Cổng Sư tử dưới cờ xí rợp trời. Tôi ngạc nhiên nhận ra rằng tôi rất vui vì có Guildford đi bên cạnh trong nỗi kinh hoàng đơn độc của tôi. Anh ta nắm tay tôi cùng bước đi, và sau đó lui lại để tôi đi trước một chút, đẹp như thể chúng tôi đang khiêu vũ trong đám cưới của mình. Tôi vui vì cái mái vòm trên đầu như che chắn tôi khỏi tầm nhìn của Chúa vì tôi đang bước về phía phản bội. Mẹ tôi đi ngay phía sau tôi, tay cầm đuôi chiếc áo choàng của tôi, lúc kéo sang trái, khi sang phải như một bác nông dân đang cố điều khiển con ngựa chứng của mình cày bằng được những đường rãnh thật sâu vào đất.

Khi chúng tôi đã vào trong Tháp, tôi thấy càng có nhiều đám đông hơn đang chào đón tôi. Đứng trong nhóm phụ nữ là cô em gái Katherine của tôi. Ánh nhìn thảng thốt của em ấy chạm vào mắt tôi.

“Ồ, chị Jane”, em ấy nói.

“Con phải chào chị ấy là ‘Thưa Nữ hoàng’”, mẹ tôi bối rối nói và vung đuôi áo choàng của tôi như thể bà đang vung roi vào mông con ngựa bất kham của bà.

Katherine cúi mái tóc vàng trong sự vâng phục nhưng liếc nhìn lên tôi, đôi mắt xanh của em ấy mở to kinh ngạc khi tôi đi qua. Em ấy nối bước đằng sau tôi cùng đức lang quân có gương mặt nhợt nhạt bị gắn vào cuộc đời em ấy. Chúng tôi tiến vào cung điện và tôi đỏ mặt lúng túng khi nhận ra rằng chúng tôi đang thô lỗ tiến vào các phòng riêng của Edward, vào nhà nguyện hoàng gia, vào phòng ngủ hoàng gia. Tôi không nghĩ tôi có thể sống ở đây. Tôi chắc chắn sẽ không ngủ ở đây – làm sao tôi có thể ngủ trên giường của Đức Vua chứ! Mọi thứ thuộc về Đức Vua đã bị vội vã mang đi và sàn nhà đã được lau dọn, và những món đồ vật mới được mang vào, như thể Đức Vua đã qua đời hàng tháng trước chứ không phải chỉ mới bốn ngày. Nhưng bất luận điều gì, tôi vẫn cảm thấy như thể ngài ấy có thể bước vào bất cứ lúc nào và tôi thật hổ thẹn khi bị bắt gặp đang ngồi trên ghế của ngài ấy.

Nhưng giờ chúng không còn là phòng riêng của Edward, chúng phải là của tôi, và khi chúng tôi đứng đó, lúng túng vì bị đặt nhầm chỗ thì cửa các tủ y phục bỗng mở toang trước mặt và từng hàng thẳng tắp những bộ áo choàng và đồ trang sức được lấy ra từ kho trang phục và kho báu hoàng gia. Tất cả những bộ áo váy xinh đẹp mà Hoàng hậu Kateryn Parr từng mặc đều ở đó. Tôi nhớ những thứ của bà trong số chúng. Cái mũ là của Anne xứ Cleves, những viên ngọc trai của nhà Seymour, những chiếc khăn trùm kiểu Pháp của Anne Boleyn, tác phẩm bằng vàng Tây Ban Nha của nữ hoàng đầu tiên, người đã chết trước khi tôi chào đời. Những chiếc áo choàng duy nhất vừa với tôi là những chiếc nhỏ xinh xắn từng thuộc về Katherine Howard, người bị chặt đầu vì phản bội khi chị ấy chỉ mới hơn tôi vài tuổi thì bị ép phải kết hôn giống như tôi, được tôn làm nữ hoàng trước khi chị ấy là một người phụ nữ trưởng thành.

“Ồ, những đôi giày đẹp!”. Guildford thốt lên và chỉ cho tôi thấy những đường thêu và những viên kim cương đính trên mũi giày.

“Tôi không mang giày của người chết”, tôi rùng mình nói. “Vậy cắt lấy kim cương đưa cho anh”, Guildford cười.

Anh ta lao vào lục lọi các tủ y phục như chó con nghịch đồ chơi. Mẹ anh ta mỉm cười độ lượng trong khi anh ta loay hoay đặt cái mũ nạm ngọc cho ngay ngắn trên đầu mình và vung vẩy tấm áo choàng nhung trên vai.

Katherine trố đôi mắt xanh nhìn tôi. “Chị ổn chứ?”, em ấy hỏi tôi.

“Để chúng yên đó”, tôi tức giận nói với Guildford. “Tôi không mặc đồ lông thú và mang trang sức cũ”.

“Sao lại không?”, anh ta hỏi ngược lại. “Chúng là đồ đạc của hoàng gia mà. Tại sao chúng ta không phải là những người sang trọng nhất nhỉ? Còn ai có quyền cao hơn chúng ta?”.

Tôi quay sang Katherine. “Chị nghĩ chị ổn”, tôi nói ngập ngừng. “Em thế nào?”.

“Họ nói em là người thừa kế của chị”, em đáp, giọng yếu ớt. “Họ nói rằng em là nữ hoàng tiếp theo sau chị”.

Tôi không thể nào kiềm chế được nữa, tôi hét to thành tiếng: “Em sẽ lên ngôi nếu chị chết chứ gì?”.

Khuôn mặt em ấy giống như một con búp bê, đông cứng nhưng xinh đẹp, trống rỗng và vô lý trí. “Em mong là không”, em nói một cách yếu ớt, “vì cả hai chúng ta”.

Rồi em ấy đút hai tay vào túi áo choàng.

“Em có mang con mèo Ribbon theo không?”, tôi hỏi. Em lắc đầu đáp “Em không được phép”.

William Paulet, lão Hầu tước của Winchester tiến về phía trước với chiếc hộp da bịt vàng các góc và có khóa bản lề bằng vàng. Tôi nhìn ông ấy như thể ông ấy đang mang đến cho tôi một con rắn lục bên trong.

“Thần nghĩ điện hạ cần thử vương miện”, ông ấy nói với nụ cười móm trên cái miệng không răng. “Xin hãy thử nó!”.

“Tôi không muốn!”, tôi kêu lên trong sự tức giận bất ngờ. Đó là vương miện của Edward. Không có chút nghi ngờ nào trong tâm trí tôi rằng nó phải được Công chúa Mary đội lên đầu tiếp theo. “Tôi không đội nó!”.

“Thế thì anh sẽ đội”, Guildford đột ngột nói. “Đưa nó cho tôi. Tôi sẽ thử”.

“Chúng ta sẽ làm một cái khác cho ngài”, vị hầu tước già nói và mỉm cười với chồng tôi. “Cái này quá nhỏ so với ngài. Nó đã được Anne Boleyn đội khi làm lễ đăng quang”.

Chuyện này có gì đáng hơn bị nguyền rủa? Vị nữ hoàng cuối cùng đội nó đã chết trong vòng ba năm sau khi người ta đặt nó trên đầu bà. Tôi nắm tay Guildford và lôi anh ta ra xa cái hộp đang mở với chiếc vương miện vàng dát đầy châu báu. “Anh không được nhận vương miện”, tôi nói thầm với anh ta. “Chỉ khi nào Nghị viện thỉnh cầu, và tôi ban nó thì anh mới được nhận. Anh không nằm trong danh sách thừa kế của Edward, mà là tôi. Nếu tôi là nữ hoàng, thì anh là chồng tôi, chứ không phải là một vị hoàng đế”.

“Guildford là chồng của nữ hoàng”, mẹ anh ta cắt lời tôi trong khi đi theo sau chúng tôi. “Nó phải được trao vương miện hoàng thân36* bên cạnh con”.

“Không”. Tôi cảm thấy muốn điên vì điều này còn tồi tệ hơn cả chuyện tôi đang chiếm đoạt ngai vàng. Ít ra tôi cũng là người thuộc dòng dõi Tudor. Tôi, ít ra còn trong hàng thừa kế hợp pháp. Ít ra hàng thừa kế của dòng họ tôi cũng được nêu rõ trong di chúc của Vua Henry. Còn Guildford chỉ là cháu nội của một viên thu thuế bị hành hình vì tội phản bội. Anh ta không thể lên ngôi: ý tưởng này thật kỳ quặc. Nó xúc phạm các hàng thừa kế của hoàng gia.

36* . King consort: hoàng thân, hay phu quân của Nữ hoàng.

“Người cậu họ của tôi, Đức Vua Edward, đã chỉ định tôi tiếp quản ngôi báu qua mẹ tôi. Nếu các người trao vương miện cho Guildford, rõ ràng các người không hành động theo luật lệ của hoàng tộc, mà từ tham vọng tội lỗi. Cậu họ tôi đã được Chúa chọn làm vua. Còn tôi được chọn thừa kế cậu ấy. Tôi là một thành viên của dòng họ Tudor và là nữ hoàng. Còn Guildford chẳng là gì khác hơn một người mang họ Dudley”.

“Rồi cô sẽ thấy Dudley là dòng họ vĩ đại nhất trên đời! Rồi cô sẽ hiểu rằng chồng ta là người tạo ra nhà vua!”, mẹ anh ta lồng lộn quanh tôi. “Chúng ta cho cô làm nữ hoàng, và chúng ta sẽ cho Guildford làm vua!”.

“Không phải thế! Tôi mới là người nhường quyền kế vị cho Jane!”, mẹ tôi cất giọng và nhanh chóng đến bên tôi. “Chính Jane mới là người sẽ lên ngôi, chứ không phải con trai bà!”.

“Giờ thì nhìn xem những gì cô đã gây ra này!”, Guildford rít lên giận dữ. “Cô thật là ngu ngốc! Tôi là chồng cô! Tại sao cô không trao vương miện cho tôi? Tôi là chủ nhân của cô, cô đã thề sẽ vâng lời tôi cơ mà, tôi có thể là ai nếu không phải là vua trong khi cô là nữ hoàng? Nhìn đi! Cô đã làm phiền lòng mẹ tôi rồi đấy!”.

“Tôi không thể làm thế! Tôi đã cầu nguyện về điều này, Guildford. Chúa đã gọi tôi đến nơi này. Tôi không muốn, nhưng tôi có thể thấy rằng Ngài đã gọi tôi để thử thách đức tin của tôi. Nhưng Ngài không gọi anh. Ngài chưa từng gọi anh. Anh không phải là người thừa kế, mà là tôi”.

Mặt trắng bệch vì thịnh nộ, anh ta không tìm được lời nào để trả lời tôi. “Đồ bất tuân!”, anh ta nhổ nước bọt vào tôi. “Rõ ràng là thế! Đúng là đồ phản bội! Thảo nào cả nhà mày cũng thế!”.

“Đừng có ăn nói như thế!”, mẹ anh ta rít với theo khi anh ta quay gót rời khỏi phòng. Bà ấy ném vào anh ta một cái nhìn giận dữ rồi vội vã đuổi theo. Tôi bị bỏ lại với cơn giận run người và đau đớn trước cái hộp đã mở với vương miện của Anne Boleyn đặt trên bàn trước mặt tôi và em gái tôi, mắt đang mở to và nhìn chằm chằm vào tôi.

Hầu tước xứ Winchester, người đầu têu chuyện này bằng lời hứa ngu xuẩn là dành vương miện cho Guildford, quay sang dượng tôi, Henry FitzAlan, Bá tước xứ Arundel, và William Herbert, cha chồng của Katherine, rồi nhướng mày như có ý hỏi làm sao vương quốc này lại được cai trị bởi một gia đình gấu ó nhau như thế. “Tôi đồ rằng tất cả mọi việc đã được tán thành?”, ông ta hỏi một cách khôn khéo.

“Đã được tán thành”, cha chồng của Katherine nói nhanh. Ông ta là người không muốn gặp khó khăn; đây cũng là âm mưu của ông ta. Con trai ông ta, đang đứng ngay bên cạnh, gật đầu xác nhận như thể anh ta biết tất!

“Nhưng tôi chưa đồng ý”, tôi nói. Đột nhiên tôi cảm thấy bàn tay của Chúa vươn qua đầu mình. Tôi bất ngờ lấy lại tâm trí. Tôi không phải là kẻ ngốc và tôi biết điều đúng đắn cần làm ở đây. Tôi không còn bị ngập chìm trong sợ hãi mà tôi có thể nhìn thấu mọi chuyện theo cách của tôi. “Tôi chấp nhận vương miện, vì đó là ý muốn của Chúa và tôi có thể thực hiện công việc của Người. Nhưng ơn gọi ấy không dành cho Guildford. Chính tôi mới là người kế vị của Vua Edward, xin Chúa ban phước cho người. Còn Guildford, chồng tôi, là thân vương bên cạnh tôi”.

Tôi cảm nhận hơn là nhìn thấy rằng em gái Katherine của tôi đã được kéo lại gần tôi hơn, như thể xác nhận cô ấy là người thừa kế của tôi, rằng chúng tôi thuộc dòng dõi hoàng tộc và đương nhiên được thừa kế ngai vàng. Chúng tôi không phải là những kẻ ngu ngốc hay bù nhìn. Chồng tôi không thể được phong vương; chồng Katherine cũng không!

“Nhưng con ta phải có một tước hiệu”, cha chồng của Katherine buột miệng nói một cách đầy toan tính. “Ít nhất cũng phải là một tước hiệu hoàng gia, sau tất cả...”.

Ông ta không nói hết câu, nhưng mọi người đều biết ông ta ngụ ý rằng, suy cho cùng, thật khó mà nói rằng Công tước Northumberland đã làm tất cả mọi chuyện chỉ để nhìn thấy con gái của Henry Grey lên ngôi.

Thực ra, ai quan tâm đến tôi chứ! Sự bằng lòng của tôi mang lại lợi lộc gì cho nhà Dudley chứ? Ít nhất Guildford phải được nhận một danh hiệu từ công sức mà họ đã bỏ ra cho tới hôm nay, gia đình họ muốn có phần của mình. Chớ treo bắp non trước miệng bò, vì nhà Dudley gồm toàn những con bò tham ăn.

“Tôi sẽ phong anh ta là công tước”, tôi nói. “Đó là một tước hiệu hoàng gia. Anh ta sẽ là Công tước xứ Clarence”.

Vị công tước cuối cùng xứ Clarence bị chết đuối trong một thùng rượu nho tại chính nơi đây vì sự phô trương của ông ta, nhưng tôi không quan tâm liệu họ có ý định so sánh như thế hay không.

Tôi ngủ cùng Katherine, em gái tôi, trên chiếc gường dành cho vua. Một trong những người hầu của tôi nằm trên chiếc đệm gai dưới sàn nhà cạnh chúng tôi, những chiếc chăn lụa cùng chảo than bằng vàng giữ ấm cho tôi, tấm nệm được xăm khắp nơi đề phòng trường hợp có kẻ ám sát ẩn nấp bên dưới. Guildford không đến với tôi. Sáng hôm sau cơn đau bụng của tôi trở nên tồi tệ hơn. Khi thức dậy tôi nhận ra rằng mình đã đến kỳ kinh nguyệt và tôi đang ra máu.

Katherine nhảy ra khỏi giường và lột bỏ tấm trải. “Ôi kinh quá!”, em ấy nói. “Chị sao thế? Chị không nhớ kỳ kinh của chị à?”.

“Không”, tôi nói. “Không phải lúc nào cũng đúng kỳ. Ai mà biết bây giờ chị lại bị chứ?”.

“Chị đúng là không thể chọn lúc nào và nơi nào thích hợp hơn sao!” “Vâng, thật khó mà chọn đúng được!”. Tất nhiên, chuyện này xưa nay chưa từng xảy ra trong phòng ngủ của nhà vua: chưa bao giờ có một nữ hoàng sống trong căn phòng này và trên chiếc giường này. Tất cả các hoàng hậu đều sống trong cung riêng của mình.

Katherine và tôi phải bỏ các tấm trải giường bẩn ra để giặt và vết loang trên tấm lụa trông thật kinh tởm. Tôi xấu hổ khủng khiếp. Chúng tôi phải bảo họ mang tới những chiếc váy lót sạch và nước để tôi rửa ráy. Họ mang vào nhiều bình nước nóng và khăn thơm. Tôi xấu hổ đến nỗi khi đến nhà nguyện, tôi úp mặt vào lòng bàn tay tôi và cầu nguyện rằng Chúa hãy để tôi chảy máu đến chết và được giải thoát khỏi nghĩa vụ khủng khiếp này.

Ngay khi tôi đến phòng khánh tiết và ngồi lên ngai vàng, tôi nhận được một tin báo từ mẹ chồng tôi. Người hầu của bà đi vào và nghiêng mình cúi chào thật thấp – kiểu cúi chào của hoàng gia – rồi đứng thẳng dậy và thưa với tôi rằng Lệnh Bà, Nữ Công tước Northumberland xin phép vắng mặt buổi thiết triều sáng nay, và rằng bà và con trai, ngài Guildford đang nghỉ tại nhà riêng của họ ở Syon.

“Bởi vì ta không phong anh ta làm vua à?”, tôi hỏi thẳng thừng.

Cô người hầu chớp chớp mắt trước sự thẳng thừng của tôi. “Ngài Guildford của chúng tôi nói rằng ‘công tước’ thôi thì không xứng, và nếu ông ấy không được xem là vua thì rõ ràng ông ấy không thể kết hôn với nữ hoàng”.

“Anh ta định từ bỏ hôn nhân với ta sao?”, tôi hỏi một cách hoài nghi. Mặt cô ấy bỗng đỏ bừng với nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Cô ấy lại khuỵu gối cúi thật thấp lần nữa trong khi mắt nhìn như đóng đinh vào sàn nhà.

Một lần nữa tôi cảm thấy một quyết tâm sôi sục bên trong vì nhận ra rằng Chúa đang làm việc thông qua tôi. Người cho tôi sức mạnh và sự thông tuệ. Tôi quay sang dượng Henry FitzAlan của tôi, Bá tước xứ Arundel, lúc này đang đứng cạnh tôi. “Xin hãy đến gặp chồng tôi và nói với anh ta rằng Nữ hoàng ra lệnh anh ta phải có mặt tại sân triều”, tôi nói như rít qua kẽ răng. “Và nói với Lệnh Bà rằng tôi cũng muốn gặp bà ấy ở đây. Không ai trong họ có thể rời đi mà không được phép. Họ nên biết rõ điều đó”.

Ông ấy nghiêng mình cúi chào tôi và rời khỏi phòng. Tôi nhìn quanh các quý tộc khác; một số trong họ đang cố che giấu nụ cười mỉm của mình. Tôi biết rằng tôi sẽ xấu hổ vì máu của tôi lại chảy ra và nhuộm đỏ tấm áo choàng nếu tôi không về phòng thay đồ ngay lập tức. Tôi nhìn Katherine cầu cứu nhưng em ấy nhìn tôi trơ trơ như chẳng có chuyện gì. Em ấy không biết phải làm gì. “Chị không được khỏe”, tôi nói. “Chị cần trở về phòng riêng”.

Tất cả họ đều quỳ xuống khi tôi đi qua, và những người hầu của tôi bước theo sau. Tôi nén cơn đau nơi bụng dưới và bước đi trong tư thế ngốc nghếch như nghiêng hẳn về một bên, cố gắng không để cho máu chảy ra. Tôi buộc mình phải về đến phòng ngủ hoàng gia và không được khóc vì cơn đau và sự giận dữ cho đến khi cánh cửa phòng đóng sập lại phía sau và chỉ còn tôi một mình.

Tôi chưa bao giờ ra máu nhiều như thế, tôi chưa bao giờ cảm thấy yếu ớt như thế. “Ta đang bị đầu độc”, tôi thì thầm với người hầu gái khi cô ấy thu dọn những mảnh khăn đẫm máu và thứ nước ố màu. “Có điều gì đó trục trặc một cách khủng khiếp”.

Cô ấy nhìn tôi, miệng há hốc kinh ngạc. Cô ấy không biết phải làm gì. Suốt đêm qua cô ấy đã hầu hạ Nữ hoàng Anh, và giờ thì tôi bảo rằng tôi bị đầu độc. Không ai biết mình phải ứng xử thế nào!

THÁP LONDON

LONDON, THÁNG 7 NĂM 1553

Mọi thứ chỉ tệ hơn chứ không tốt lên. Người anh rể Robert Dudley đẹp trai đầy tội lỗi của tôi đã thất bại trong việc bắt giữ Công chúa Mary – hay Quận chúa Mary như tất cả chúng tôi giờ đây phải gọi bà như thế. Anh ta đang đi tuần vòng quanh Norfolk trên một cỗ xe được kéo bởi những con tuấn mã để đảm bảo rằng không ai đến giúp bà; nhưng anh ta không bắt giam bà.

Một nửa giới quý tộc nói với tôi rằng bà chắc chắn sẽ trốn sang Tây Ban Nha và điều này phải được ngăn chặn bằng mọi giá vì bà sẽ mang về một đạo quân theo Công giáo La Mã tấn công, hủy hoại chúng tôi và tàn phá cả nước Anh. Một nửa khác thì nói rằng bà phải được phép ra đi, xem như bị lưu đày mãi mãi và không còn ai lãnh đạo cuộc phản kháng chống lại tôi. Nhưng thay vì một trong hai lựa chọn này, bà lại làm điều tệ hại nhất đối với chúng tôi, điều duy nhất không ai có thể tiên đoán rằng một người phụ nữ dám làm: bà nâng cao chuẩn mực bản thân tại lâu đài nguy nga của mình ở Kenninghall và viết thư cho Nghị viện bảo rằng bà mới là nữ hoàng thực sự và họ sẽ được tha thứ vì tội phản bội nếu họ thừa nhận bà ở London và trao ngai vàng cho bà ngay lập tức.

Đây là điều tồi tệ nhất đối với sự chính danh của cuộc cải cách. Tôi biết rằng Chúa không muốn bà chiếm ngai vàng, và rằng tất cả những lời hứa của bà cho phép tất cả các tôn giáo được hoạt động, và không buộc tội dị giáo đối với những Kitô hữu ngoan đạo của nước Anh, những người vừa mới nhìn thấy ánh sáng, là một phần công việc của quỷ dữ để đi ngược lại tất cả những gì Hoàng hậu Kateryn Parr đã tin tưởng, Edward đã đạt được, và tôi đã thề sẽ tiếp tục. Công chúa Mary không thể đưa đất nước này trở lại với Công giáo La Mã và phá hủy cơ hội để chúng tôi tạo ra một vương quốc thần thánh. Tôi bị ràng buộc bởi Chúa để chống lại bà, và tôi nhấn mạnh rằng phải có người nào đó dẫn quân đi bắt bà. Nếu bà phải bị nhốt trong Tháp vì tội phản quốc thì cứ làm. Bà có mọi cơ hội để hiểu rõ hơn về Lời Chúa. Bà đã được học với Kateryn Parr như tôi, nhưng bà mắc hết lỗi lầm này đến lỗi lầm khác. Nếu chúng tôi bắt bà và Hội đồng bảo rằng bà phải chết vì tội phản quốc, chống lại ngai vàng, chống lại tôi, thì cứ tiến hành. Tôi sẽ có mọi can đảm để giao bà, và tất cả những kẻ dị giáo, lên đoạn đầu đài. Tôi không phải là mắt xích yếu ớt trong đạo quân hùng mạnh của Chúa. Tôi đã được ơn gọi, tôi đã được Chúa chọn, tôi sẽ chịu khổ nạn như một kẻ tử đạo vì Đức Giêsu Kitô, chứ tôi không được kêu gọi để tìm kiếm quyền lực và tận hưởng lạc thú trong cõi đời này.

Tôi quỳ hàng giờ liền nguyện cầu được ơn linh hướng trong phòng của tôi. Cô em gái Katherine quỳ bên cạnh, kế bên là em út Mary của chúng tôi. Katherine không hiệp thông làm một với Chúa Thánh thần mà đang ngủ gật cho tới khi tôi thúc khuỷu tay vào mạng sườn cô ấy, cô ấy mới bật ra tiếng “Amen”. Cũng không sao! Tôi phải tin cậy vào Chúa và phải thành tâm. Katherine là người đồng hành và là em gái tôi. Cô ấy có thể ngủ, giống như Thánh Phêrô từng ngủ quên trong đêm Chúa Giêsu bị bắt và tử nạn trên thập giá sau đó.

Đáp lời tuyên bố của Công chúa Mary về việc đòi quyền kế vị, Hội đồng tuyên bố tôi là Nữ hoàng nước Anh và tất cả các đại diện37* của Nữ hoàng được phái đến mọi miền đất nước để đảm bảo mọi người đều biết rằng Đức Vua đã qua đời và tôi là người kế vị. Các bố cáo được dán khắp London; các nhà thuyết giáo truyền đạt thông tin cho giáo dân của họ từ bục giảng.

37* . Lord Lieutenant là tên gọi người đại diện cá nhân của vua/nữ hoàng Anh tại các đơn vị hành chính của Vương quốc Anh. Nhiệm vụ chính của họ là tổ chức đón tiếp chính thức một thành viên của hoàng gia khi họ viếng thăm.

“Có ai phản đối không?”, tôi hỏi cha tôi một cách căng thẳng.

“Không, không, không một lời nào!”, ông trấn an tôi. “Không ai muốn người Tây Ban Nha chà đạp chúng ta, không ai muốn quay trở lại với các luật lệ của Giáo hoàng La Mã”.

“Công chúa Mary hẳn phải có những kẻ ủng hộ trong nước”, tôi lo lắng nói.

“Quận chúa Mary”, ông sửa lại cho tôi. “Con có thể nghĩ thế – nhưng không ai đứng lên vì bà ấy, dù họ có nghĩ đó là chuyện riêng tư. Tất nhiên, đất nước này đến phải tan nát dưới tay những kẻ theo Công giáo La Mã, nhưng Hội đồng không tuyên thệ trung thành với bà ấy. John Dudley đã có kinh nghiệm cai trị khá lâu và ông ấy đã sẵn sàng cho điều này, miễn là người Tây Ban Nha đừng cố can thiệp vào”.

“Chúng ta cần phải tập hợp quân đội”. Tôi không biết làm thế nào để triệu tập binh lính.

“Chúng ta đang làm như vậy”, ông nói. “Cha sẽ chỉ huy họ”.

“Không”, tôi bất ngờ nói. “Cha ạ, thật lòng là con không thể làm được nếu không có cha. Đừng để con một mình với nhà Dudley, đừng để con một mình với Guildford cùng ông bố bà mẹ kinh khủng của anh ta. Đừng để con ở đây chỉ với mẹ và hai em gái của con mà không có ai bênh vực con trước Hội đồng. Mẹ chẳng bao giờ nói gì chống lại Phu nhân Dudley. Còn Katherine có cũng như không. Mary thì quá nhỏ. Con cần có ai đó bên cạnh con”.

Ông do dự. “Cha biết mẹ con muốn cha không làm gì chống lại chị họ bà ấy, Công chúa Mary, và cha cũng không phải là người nắm quân đội”.

“John Dudley phải biến đi!”, tôi hét lên. “Tất cả là âm mưu của ông ta. Và ngoài ra, ông ta đã dập tắt cuộc bạo loạn Kett mới chỉ bốn năm về trước. Ông ta phải là người ra đi”.

“Đừng quá lo lắng như thế!”, cha tôi nói, ánh mắt thận trọng nhìn khuôn mặt đỏ bừng và giọng nói cao vút lên của tôi. Ông nhìn về phía những người hầu của tôi và khẽ gật đầu với mẹ tôi như bảo bà cần phải giúp tôi bình tĩnh trở lại.

“Con không lo lắng”, tôi nói nhanh. Tôi phải trấn an tất cả mọi người, mọi lúc. “Con chỉ cần gia đình mình ở quanh con. Guildford có mọi người trong gia đình anh ta kề bên: anh em trai ủng hộ anh ta, mẹ anh ta ở đây, cha anh ta làm tất cả vì anh ta. Tại sao triều đình đầy rẫy nhà Dudley, còn cha thì bị đuổi đi để chỉ có một mình con cùng Katherine, Mary và mẹ?”.

“Cha sẽ ở lại với con, đừng giận dữ. Chúa ở cùng chúng ta và con là nữ hoàng. Quân của John Dudley sẽ bắt Công chúa Mary, dù bà ấy có tới Lâu đài Framlingham và xưng vương ở đó.”

“Quận chúa chứ”, tôi nhắc cha tôi. “Quận chúa Mary. Còn nữa, đó không là vương triều của bà ấy, mà là của con”.

John Dudley tổ chức một bữa tiệc chia tay linh đình trước khi rời London, một sự kết hợp lạ lùng giữa sự phô trương tội lỗi và nỗi sợ tội lỗi. Bài phát biểu của ông ta không có chút khí phách. Tôi đã đọc nhiều sách và biết rằng một người đàn ông chuẩn bị lên đường bảo vệ đức tin và nữ hoàng của mình thì phải tỏ rõ khí thế oai phong lẫm liệt. Thay vì tuyên bố sự đúng lúc trong hành động và sự chắc chắn trong chiến thắng của mình, ông ta lại cảnh báo mọi người rằng ông ta đang mạo hiểm cuộc sống và danh tiếng của mình, ông ta lan truyền một sự lo lắng thực sự thay vì một niềm tin, dù là giả tạo.

Guildford và tôi ngồi cạnh nhau nhìn xuống sảnh thiết triều, tấm lụa huy hiệu hoàng gia choàng ngang ghế của tôi, chứ không phải của anh ta. Ghế của tôi cao hơn ghế của anh ta. Chúng tôi ngồi thế vì cha anh ta đe dọa Hội đồng rằng anh ta sẽ quay lưng chống họ nếu họ phản lại anh ta. Đây không phải là loại diễn văn mà Caesar đã thực hiện trước khi ông ấy và quân đội của mình hát khúc khải hoàn trước công chúng La Mã. Tôi nói đại ý thế với Guildford.

“Những người này khó mà là các bảo dân quan La Mã38* trung thành”, anh ta trả lời một cách cay độc. “Không kẻ nào trong số họ đáng tin cậy. Bất cứ kẻ nào trong số họ cũng sẽ quay đầu ngay lập tức nếu họ nghĩ rằng mình đang ở về bên thất thế”.

38* . Roman tribune: (sử học) hộ dân quan, La Mã bảo dân quan (người được dân bầu để bảo vệ cho dân).

Tôi sắp sửa giải thích lý do tại sao anh ta sai thì cha anh ta bất thình lình quay về phía chúng tôi, làm một cử chỉ hùng hồn và bắt đầu nói về tôi. Ông ta nói với họ rằng tôi là nữ hoàng do sự kích động của họ, rằng tôi bị ép lên ngai hơn là theo ý muốn của chính tôi. Guildford và tôi nháy mắt với nhau như một cặp cú con trong tổ. Thế còn số phận đã được Chúa định của tôi thì sao? Thế còn quyền truyền ngôi báu (cho tôi) của Đức Vua người cậu họ của tôi thì sao? Thế còn quyền thừa kế chính đáng của mẹ tôi, được bảo vệ bởi di chúc của Đức Vua Henry Nhân từ, được truyền lại cho tôi thì sao? Cha của Guildford nói như thể việc tôi lên ngôi là một âm mưu chứ không phải ý muốn và hành động của Chúa; và nếu là âm mưu, thì đó chính là sự phản bội.

John Dudley kéo quân theo hướng đông bắc đến Suffolk, còn chúng tôi bị bỏ lại London lo việc triều chính, nhưng mọi việc diễn ra như một màn kịch vụng về hơn là thực sự cai trị cho đến khi chúng tôi biết rằng Quận chúa Mary đã bị bắt. Guildford không tranh cãi về tên gọi hay tước hiệu của mình, nhưng dùng bữa riêng mỗi ngày trong vị thế của một vị vua ngồi dưới lọng vàng với năm mươi món ăn được phục vụ trong khi quần thần ngồi khắp sân triều rộng lớn để tạo ấn tượng về sự vĩ đại của anh ta. Đôi khi tôi cảm thấy thật điên người khi nghĩ rằng anh ta đang tiếm quyền tôi, một âm mưu trong một âm mưu, một tội lỗi bên trong một tội lỗi khác. Anh ta và đồng bọn của mình chè chén bét nhè và náo loạn. Tôi có thể nghe thấy tiếng la hét và ca hát ầm ĩ trong khi tôi đang ăn tối cùng các thị nữ trong phòng riêng. Chuyện này đã đi quá xa, vì ăn uống quá độ là mối nguy hiểm tiềm tàng cho sự cứu rỗi, nhưng tệ hơn nữa là Guildford luôn nhận được tin tức từ cha và anh của anh ta trước khi những tin tức ấy được báo đến tôi, Nữ hoàng Anh Quốc.

Chính anh trai của anh ta, ngài Robert, là người dấy binh chống Quận chúa Mary ở Norfolk; chính cha anh ta, John Dudley, là người đang đưa quân từ London đi Framlingham. Một cách rất tự nhiên, cung của Guildford là nơi những người đàn ông đến và hỏi thăm tin tức; còn cung của tôi gồm toàn phụ nữ và chúng tôi dễ dàng bị bỏ qua. Không phải tin tức không đến với tôi; chúng đến, mọi người đều biết họ phải báo cáo với nữ hoàng, nhưng trước đó họ dừng lại để nói với những người đàn ông. Dĩ nhiên, cung của nữ hoàng thì phải có phụ nữ, nhưng làm sao tôi có thể trở thành một nữ hoàng cầm quyền nếu tôi không là trung tâm của một hội đồng gồm toàn những người đàn ông?

Đây là một thách đố mà tôi đã không lường trước được. Tôi nghĩ rằng một khi tôi nhận vương miện vua Anh thì tôi sẽ có quyền lực của nhà vua nước Anh. Giờ đây tôi hiểu ra rằng nắm quyền như một nữ hoàng là điều hoàn toàn khác. Đàn ông có thể quỳ gối tuyên thệ khi nhậm chức, nhưng họ không dành cử chỉ thể hiện lòng trung thành đó đối với một phụ nữ và thật lòng mà nói, tôi rất nhỏ bé, thậm chí dù có Chúa ngự trên vai, tôi cũng chẳng cao lớn hơn.

Và, những người này không đáng tin cậy. Ngay đêm sau khi John Dudley dẫn quân đi, tôi nghe rằng William Paulet, Hầu tước Winchester, người từng nhanh nhảu một cách ngu ngốc đề nghị trao vương miện cho Guildford, đã bỏ về nhà riêng ở London mà không được phép. Còn cha chồng của Katherine, William Herbert, cũng tìm cách chuồn đi. Tôi không chấp nhận sự bất tuân chống lại ý muốn của Chúa như thế này, và ngay lập tức cho truyền tin đến vị hầu tước bảo ông ta trở lại vị trí của mình.

Tôi triệu tập Hội đồng Cơ mật và bảo với họ rằng tôi sẽ khóa tất cả các cổng vào Tháp London mỗi chiều tối và yêu cầu tất cả các thành viên Hội đồng phải ở bên trong. Tôi ra lệnh tất cả các phu nhân và thị nữ phải ở bên cạnh tôi, kể cả các em gái tôi, mẹ tôi và mẹ chồng tôi, kể cả chồng tôi. Họ đã đưa tôi lên ngai vàng nên họ phải luôn ở bên cạnh ngai vàng của tôi. Chỉ khi chúng tôi đứng bên nhau, hiệp thông cùng các vị thánh ở trên trời, chúng tôi mới chiến thắng, vì John Dudley đang kéo quân đến chỗ Quận chúa Mary như lũ ma quỷ tự tôn xưng mình.

William Herbert rón rén bước vào phòng khánh tiết trước nửa đêm. Tôi vẫn thức đợi. Mẹ tôi, mẹ chồng tôi cùng thức với tôi. Cả Guildford cũng ở với chúng tôi và lần đầu tiên tỏ ra nhẫn nại. Con trai của Herbert, trông vẫn xanh xao và ốm yếu, bước vào sau ông ta. Katherine em gái tôi bám sát gót người chồng trẻ. “Anh phải ở lại đây, quý ngài của ta”39*, tôi bất ngờ nói. “Chúng ta cần anh ở đây trong trường hợp có tin tức đến. Có thể chúng ta phải triệu tập Hội đồng ngay lập tức”.

39* . Nguyên văn: “You have to stay here, my lord”.

Anh ta khẽ cúi chào nhưng không nói gì. Anh ta không có lựa chọn nào khác.

“Và tôi mong nhìn thấy em gái tôi luôn đi cùng anh”, tôi nói. “Anh không được đưa em ấy đi mà không có sự cho phép của tôi”.

Tôi không thể ngăn mình nhìn lướt qua mẹ tôi để xem liệu bà có đồng ý với tôi hay không. Bà gật đầu, cả Phu nhân Dudley cũng ra một cử chỉ nhẹ tỏ vẻ đồng ý. Mọi người đều hiểu rằng chúng tôi phải gắn kết với nhau.

“Không ai được rời đi”, Guildford lặp lại, như thể tôi chưa nói rõ điều đó. “Đó là ý muốn của cha tôi”.

Chúng tôi phải làm việc cùng nhau, chúng tôi không được mất đoàn kết. Chúng tôi là những chiến binh của Chúa – chúng tôi phải bước đều – đó là lý do Hội đồng tồn tại, và tất cả chúng tôi đồng ý rằng họ phải viết thư cho Đức ngài Richard Rich, người đã thề trung thành với tôi, nhưng bây giờ đã biến mất, để nhắc nhở ông ấy rằng ông ấy phải luôn luôn trung thành. Các địa hạt thuộc Norfolk đang dao động, vùng phía đông đang trở nên không chắc chắn. Họ sợ rằng các thủy thủ trên tàu đang neo đậu trong cảng sẽ tuyên bố ủng hộ Mary. Họ tổ chức cuộc họp, gửi thư, nhưng sau đó vào buổi sáng Katherine đến phòng tôi và kéo tay áo tôi trong khi tôi đang viết, mực vấy khắp trang giấy.

“Xem em đang làm gì kìa! Có chuyện gì thế?”, tôi hỏi.

“Chúng em phải đi”, em ấy thì thầm. “Em phải đi ngay bây giờ. Bố chồng em nói như vậy”. Em ấy chỉ cho tôi chú khỉ cưng của mình trong vòng tay của em ấy. “Em phải cho Nozzle vào lồng của nó. Nó cũng phải đi”.

“Em không được đi. Chị đã nói với anh ta, chị đã nói với tất cả mọi người. Em cũng ở đó, em đã nghe thấy rồi mà. Tất cả mọi người phải ở lại.”

“Em biết chị đã bảo họ”, em ấy nói. “Đó là lý do tại sao em đến với chị bây giờ”.

Tôi nhìn em ấy. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn Katherine và coi em ấy không phải là một cô em gái phiền toái, một phần trong bức tranh quen thuộc của lâu đài Bradgate, như một bông hồng phai nhạt trong khu vườn mà tôi đi qua mỗi ngày, mà là một cô gái bằng xương bằng thịt, có thật như tôi, một phụ nữ trẻ và đang phải chịu thống khổ như tôi. Tôi nhìn vào gương mặt trắng bệch và đôi mắt u tối đầy cảm xúc của em ấy và những căng thẳng mà em ấy thể hiện, nhưng tôi cảm thấy không chút cảm thông mà chỉ là sự khó chịu.

“Em sao vậy? Sao trông em thảm não thế?”

“Họ sẽ đi cùng chúng em!”, em ấy nói một cách khốn khổ. “Mà rất đông đấy! Hội đồng của chị – Hội đồng Cơ mật ấy – họ đến để đi cùng chúng em tới lâu đài Baynard. Họ đã đồng ý với cha chồng em, William Herbert, là sẽ gặp nhau ở đó. Họ đang rời bỏ chị và đứng về phe ông ta. Em xin lỗi, Jane. Em không thể ngăn họ...”. Em ấy khẽ nhún vai và bước đi. Rõ ràng, em ấy không thể ngăn các quý tộc làm điều mà họ đang nghĩ là thích hợp vào lúc này. “Em đã nói rằng họ không nên”. Em ấy nói một cách yếu ớt.

“Em e rằng họ sẽ tuyên bố lập Quận chúa Mary làm nữ hoàng.” Tôi nhìn em ấy, kinh ngạc. “Gì cơ?”.

Em ấy nhìn tôi. “Em cũng phải đi”, em nói. Rõ ràng, em ấy phải phục tùng anh chồng trẻ và người cha muôn vàn quyền lực của anh ta.

“Em không được đi.”

“Chúng ta có thể hỏi ai đó được không?” Thật lố bịch. “Hỏi ai? Hỏi gì chứ?”

“Chúng ta phải làm gì? Chúng ta có nên bắn tin và hỏi Roger Ascham?”

“Quân sư à? Em nghĩ ông ấy có thể làm gì? Giờ đến lượt Hội đồng Cơ mật của chị chạy trốn cùng bố chồng em, và tuyên bố ủng hộ một tín đồ Thiên Chúa giáo La Mã làm nữ hoàng?” “Em không biết sao nữa”, em ấy sụt sùi.

Tất nhiên em ấy không biết. Em ấy chẳng bao giờ hiểu gì cả.

“Cha chúng ta phải nói chuyện với họ”, em ấy thì thầm. “Hội đồng Cơ mật ấy. Cha phải bảo họ đừng kéo đến Lâu đài Baynard và quay sang chống lại chị. Em không thể làm thế”.

“Thế à, em đi bảo cha nói với họ thế đi! Tìm cha tới đây mau!”

“Không, cha không làm đâu, em đã hỏi rồi, cả mẹ cũng vậy!”

“Thế còn chị thì sao?”, tôi hỏi. Lần đầu tiên tôi thấy mắt em ấy ngân ngấn nước.

“Em không nghĩ chị phải đến đó”, em ấy nói. “Đến lâu đài Baynard với tất cả mọi người ư?” Em ấy nuốt nghẹn.

“Đi xin lỗi Quận chúa Mary sao? Rằng đó là lỗi của chị? Và chị phải đi à? Đừng có ngốc như thế!”, tôi giận dữ nói.

“Nghĩa là em và chị phải nói đó là một sai lầm? Nghĩa là chị phải nghe em và nói rằng em không có ý đó ư? Nghĩa là họ sẽ đưa em lên làm nữ hoàng sao?”

Tôi thấy em ấy bấu chặt lấy chiếc áo khoác chú khỉ cưng của em ấy, như thể nó cũng có thể làm chứng.

“Không đời nào!”

Em ấy lắc đầu. “Em không nghĩ chị có thể làm được”, em ấy nói, đưa cho tôi cái khăn tay chết tiệt và bước ra khỏi phòng mà không nói thêm một lời nào.

Tôi nhìn quanh và nhận ra một vài người trong số phụ nữ chúng tôi đã vắng mặt từ buổi cầu nguyện sáng nay. Cung của tôi đang vắng dần; mọi người đang rời bỏ tôi. “Không ai trong các người được rời khỏi đây!”, tôi ngẩng cao đầu và ra lệnh, như thể họ đang âm mưu trốn khỏi hoàng cung ngay khi tôi bước ra khỏi phòng. Đây là sự bất tín, đó là đức tin giả tạo. Tôi nghĩ rằng phụ nữ rất không biết trọng danh dự. Tôi ghét họ vì điều đó, nhưng hiện tại tôi không thể làm gì chống lại họ. Tôi không thể tưởng tượng làm thế nào họ có thể sống với chính mình, làm sao họ có thể cầu nguyện. Chúa sẽ trừng phạt họ vì bất tín đối với tôi, con gái yêu của Người.

Các nhà máy chà xát của Chúa làm việc chậm, nhưng chúng sẽ chà xát ra trò, những người phụ nữ cao ngạo này và những ông chồng bất trung của họ rồi sẽ thấy.

Chúng tôi vào bữa ăn tối như thường lệ. Guildford ngồi cạnh tôi trên một chiếc ghế thấp hơn, chiếc khăn hoàng gia choàng qua tôi. Tôi nhìn khắp lượt, không có tiếng trò chuyện, dường như không ai cảm thấy ngon miệng. Tôi khẽ nhún vai. Tất cả bọn họ đều muốn thế này mà, sao giờ lại hối hận về hành động của mình? Liệu họ có biết rằng cuộc đời này đầy nước mắt và tất cả chúng ta đều là những kẻ tội lỗi khốn nạn?

Cánh cửa lớn ở cuối hành lang mở ra và cha tôi bước vào, dáng đi cứng đờ như thể đầu gối của ông đang đau. Tôi nhìn lên nhưng ông không mỉm cười với tôi. Ông tiến về phía tôi. Tiếng nói chuyện im bặt và căn phòng trở nên tĩnh lặng lạ thường trong khi ông bước tới.

Ông đứng trước mặt tôi, miệng mấp máy nhưng không phát ra lời nào. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ông trong tình cảnh như thế này trước đây, tôi bỗng lạnh sống lưng vì linh cảm rằng có điều gì rất khủng khiếp sắp xảy ra. “Cha?”, tôi hỏi. Rồi đột nhiên, ông rướn người lên và nắm chặt một góc khăn choàng hoàng gia giật mạnh đến nỗi những cái móc giữ cho nó ngay ngắn trên ghế của tôi lệch cả sang bên va vào nhau lách cách.

“Cha!”. Tôi hét to, và ông đi vòng quanh tôi.

“Nơi này không thuộc về con. Con phải trả lại cho triều đình”, ông bất ngờ nói.

“Gì cơ ạ?”

“Con phải cởi bỏ áo choàng hoàng gia và bằng lòng với một cuộc sống riêng”

“Gì thế cha?”. Tôi lặp lại lần nữa, nhưng giờ tôi đang cố kéo dài thời gian. Tôi đoán rằng chúng tôi đã thua, và ông chọn lối hành xử kỳ lạ này – giống như một kịch sĩ hơn là một người cha đang nói chuyện với con gái yêu của mình – để người ta có thể mật báo rằng ông đã tự tay giật lấy tấm choàng hoàng gia xuống. Hoặc có lẽ sự đe dọa của họ đã làm ông lung lạc; nhưng chúng không làm tôi thất bại; chúng không bao giờ làm tôi thất bại.

“Con sẵn lòng từ bỏ hơn là chấp nhận”, tôi nói. “Vì sự vâng phục cha và mẹ, con đã phạm tội nặng”.

Ông trông như bị choáng váng, như thể cái lọng phía trên đang nói, hoặc từ chỗ Guildford, người đang nhìn chằm chằm bên tôi.

“Con phải từ bỏ vương miện”, cha tôi nói lại lần nữa, như thể tôi đang tranh luận về việc giữ nó, và ông ra khỏi phòng trước khi tôi kịp trả lời. Ông không cúi chào.

Tôi đứng dậy từ ngai vàng và bước ra khỏi chiếc lọng bị xé toạc. Tôi về phòng riêng và các thị nữ bước theo sau. Tôi thấy một người trong số họ dừng lại nói chuyện với người hầu của cha tôi.

“Chúng ta sẽ cầu nguyện”, tôi nói ngay khi cửa đóng lại.

“Xin tha thứ cho tôi”, một người nói từ phía sau. “Nhưng cha cô đã truyền thông điệp rằng chúng tôi có thể rời đi ngay bây giờ. Tôi có thể sắp xếp đồ đạc và về nhà không?”.

Trong sự tĩnh lặng của căn phòng vắng vẻ, tôi có thể nghe tiếng reo hò từ bên ngoài cổng Tháp. Những người đàn ông trong thành ra lệnh cấp rượu vang đỏ qua những vòi phun nước và những kẻ xuẩn ngốc đang say rượu và la hét: “Chúa phù hộ Nữ hoàng”. Tôi đi tìm cha tôi. Ông biết tôi nên làm gì. Có lẽ ông sẽ đưa tôi về nhà ở Bradgate.

Thoạt tiên tôi không tìm thấy ông. Ông không có mặt trong cung hay các phòng hoàng gia phía sau, cũng không có ở phòng khánh tiết hay các phòng riêng. Ông không ở trong khu của Guildford, nơi lần đầu tiên có sự yên tĩnh. Ngay cả Guildford cũng lặng thinh, anh ta đang chơi bài với nửa tá những người hầu cận. Họ đứng bật dậy khi nhìn thấy tôi. Tôi hỏi Guildford liệu anh ta có nhìn thấy cha tôi ở đâu đó không và anh ta đáp rằng không.

Tôi không dừng lại để hỏi tại sao anh ta trông nhợt nhạt và căng thẳng, tại sao những người bạn ồn ào của anh ta hôm nay lại yên lặng bất thường.

Tôi chỉ muốn tìm cha tôi. Ông không có mặt ở Tháp Trắng, vì vậy tôi ra ngoài và chạy băng qua thảm cỏ tới nhà nguyện Thánh Phêrô những mong ông đang cầu nguyện một mình trước cái bàn thờ nhỏ bé, tĩnh lặng nơi ấy; nhưng ông cũng không có ở đó. Phải mất khá lâu để đi bộ đến chuồng ngựa và khi tôi bước vào, tôi nghe thấy những tiếng chuông từ nhà thờ Thánh Phaolô đổ dồn và ngày càng hối hả, tiếng chuông báo tin chứ không phải báo giờ như thường lệ. Sau đó tất cả các chuông khác cùng hòa vào thành một bản hợp xướng, như thể tất cả những chiếc chuông của London đều đang vang lên cùng lúc. Bên ngoài tường thành tôi có thể nghe thấy tiếng la hét và reo hò. Lũ quạ tan tác lao ra khỏi những ngọn cây trong vườn thượng uyển và những mái vòm khắp trên Tháp London và chao liệng huyên náo thành đàn như một đám mây đen tiềm ẩn đầy sấm sét. Tôi bịt lấy hai tai hòng ngăn tiếng chuông đang đổ liên hồi, rền vang không dứt và nỗi sợ hãi bất thình lình về những con quạ đang kêu. Tôi nghe chính mình nói một cách giận dữ: “Ta không hiểu những tiếng ồn này nghĩa là gì!”. Nhưng kỳ thực là tôi biết.

Tôi chạy vào sân chuồng ngựa như một cô gái khốn khổ, tay ôm lấy đầu, váy bê bết bùn đất, và nhìn thấy cha tôi đang đứng trên bục gỗ chuẩn bị trèo lên lưng ngựa. Tôi chạy đến trước con ngựa và nắm lấy dây cương nơi cổ nó.

“Có chuyện gì thế, thưa cha?”, tôi phải hét lớn để át tiếng chuông. Cửa chuồng ngựa bật mở và nửa tá ngựa đột ngột phóng ra, không yên cương. “Nhân danh Chúa, chuyện gì đang xảy ra thế này?”.

“Chúng ta thua rồi”, ông nói, cúi người xuống từ yên ngựa và đặt tay lên đầu tôi, như thể ông đang chúc lành cho tôi lúc chia tay. “Con gái tội nghiệp của cha, đó là một cuộc mạo hiểm lớn, nhưng chúng ta đã thua”.

Tôi vẫn không hiểu ông nói gì. Tôi nghĩ tôi không hiểu gì cả. Tôi không nghe được gì. Đó mới là vấn đề: tôi không thể nghe được những gì ông nói. Tiếng chuông quá lớn và lũ quạ quá ồn ào. Có lẽ tôi đã nghe nhầm ông chăng.

“Chúng ta thua gì ạ? Con biết chúng ta đã rút lui. Con biết bà ấy đang phòng thủ ở Framlingham. Đã có một trận chiến à? Quân của John Dudley đã bị đánh bại sao?”

“Không có trận đánh nào cả. Bà ấy đã thắng mà không cần rút gươm khỏi vỏ. Cả London đang tung hô Mary bất chấp mọi thứ cha đã làm cho con. Đó là lý do tại sao họ đang rung chuông mừng chiến thắng”, ông đáp.

Tôi thả tay ra khỏi dây cương và lảo đảo bước khỏi con ngựa to lớn. Cha tôi ngay lập tức nắm lấy nó như một tín hiệu rằng ông muốn rời đi. Không nói thêm lời nào, ông thúc ngựa lao về cửa chuồng đang mở và tôi chạy theo ông.

“Nhưng cha đang làm gì thế?”, tôi hét lên với ông. “Cha! Cha định đi đâu?”.

“Cha chỉ có một mình”, ông nói, như thể điều đó giải thích mọi thứ. “Cha đi đâu?”, tôi hỏi lại.

“Cha đi tuyên bố ủng hộ Mary là nữ hoàng, sau đó cha sẽ xin bà ấy tha thứ.”

Tôi chạy bộ theo bên cạnh con ngựa của ông khi ông tiến ra cổng, nhưng tôi không theo kịp và bị tụt lại dần. Cánh cổng được để mở và tôi có thể nhìn thấy bên ngoài mọi người đang khiêu vũ trên đường phố và ôm chầm lấy nhau, tung những đồng xu lên trời, họ đu mình trên cửa sổ hét xuống phố báo tin cho những người bên dưới. Cùng lúc, toàn bộ những cái chuông kinh dị của hàng trăm nhà thờ đồng loạt đổ vang rền khắp London.

“Cha, dừng lại đã! Chờ con với! Con phải làm gì đây?”

“Cha sẽ cứu con”, ông hứa với tôi và sau đó phóng ngựa qua cổng hòa vào đám đông trước khi ai đó kịp nhận ra ông là cha của cô gái vừa được phong làm Nữ hoàng nước Anh chưa đầy hai tuần trước đó.

Tôi đứng bất động nhìn theo ông. Ông sẽ cứu tôi: điều đó an ủi tôi phần nào. Ông ra đi để cứu tôi. Chúng tôi phải chịu sự đảo nghịch lớn nhưng cha tôi sẽ làm cho mọi thứ đúng trở lại. Tôi phải đợi ở đây và ông sẽ quay lại cho tôi biết tôi phải làm gì lúc này. Bất cứ điều gì chúng tôi làm ở đây – và bây giờ dường như mọi chuyện đối với tôi như một giấc mơ khi bạn thức dậy và chỉ biết cười, đem cơn ác mộng cầu nguyện với Chúa vì điều đó thật kỳ lạ và điên loạn – bất cứ điều gì chúng tôi đang làm ở đây, đều đã kết thúc. Hoặc bằng mọi giá, tôi cho rằng mọi thứ đã kết thúc. Trừ phi, trừ phi chuyện này là tạm thời và chúng tôi sẽ phục hồi lại tất cả.

Cha tôi sẽ cứu tôi như ông đã hứa. John Dudley sẽ lên kế hoạch. Tốt hơn tôi nên trở về cung và chắc chắn rằng không ai khác được rời đi. Chúng tôi không muốn người ta thấy chúng tôi rối loạn. Chúng tôi không muốn bị cho là Laodicean, một dân tộc bị nguyền rủa vì sự thờ ơ lãnh đạm; chúng tôi không muốn làm hổ danh Chúa chúng tôi trước mắt kẻ thù của Người. Tốt hơn tôi phải trông như thể tin tưởng chắc chắn vào hai người cha của tôi, dưới đất cũng như trên trời.

Tôi bắt đầu nghĩ như thể họ đã tôn xưng tôi làm nữ hoàng một ngày như một ông vua bù nhìn, một kẻ ngốc đội vương miện giấy, trong khi tôi nghĩ rằng tôi là một nữ hoàng thực thụ. Cây quyền trượng của tôi rất nặng và trọng trách của tôi rất lớn. Tôi bắt đầu nghĩ rằng tôi đang hành động dại dột. Tôi lo sợ rằng mọi người đang cười nhạo tôi.

Tôi sẽ chết vì xấu hổ nếu đúng như vậy. Tôi có thể chịu đựng bất cứ điều gì ngoại trừ sự tẽn tò, vì vậy tôi phải ở trong phòng của tôi và ra lệnh cho các phụ nữ khác ở lại cạnh tôi, còn những người đàn ông của Guildford thì ở lại cung của anh ta. Tấm choàng hoàng gia bị cha tôi ném xuống đất nhưng tôi không bảo ai đặt nó lại vị trí cũ. Ngai vàng bị lấy đi mà không ai nói lời nào, con dấu hoàng gia thì thất lạc đâu đó, các chìa khóa của Tháp đã biến mất khỏi móc, và phòng của tôi chẳng còn gì.

Giờ đây tôi thấy mình quá chậm chạp trong việc giữ những người phụ nữ ở lại với tôi. Cũng giống như vào cuối mùa hè tại Bradgate tôi bỗng nhìn thấy những con chim én đang chao liệng ngày một nhanh quanh pháo đài và sau đó đột nhiên biến mất tăm, thậm chí tôi còn không biết chúng rời đi khi nào. Giống như lũ chim én, những người phụ nữ bất ngờ biến mất khỏi phòng tôi. Tôi không biết họ ra đi; tôi không thấy họ ra đi. Ngay cả mẹ tôi cũng biến mất nhanh như chớp. Bà dẫn Mary đi mà không nói một lời với tôi. Tôi nghĩ về bà còn tệ hơn tôi nghĩ về Katherine, vì ít nhất Katherine xơ xác đã đến gặp tôi nói rằng em ấy sẽ ra đi. Những phụ nữ duy nhất còn lại trong Tháp là vài bà vợ vụng về chậm chạp, bọn người hầu, vợ của viên quan canh giữ Tháp vốn sống ở đây, và mẹ chồng tôi, Phu nhân Dudley. Bị bỏ rơi ở đây, bà ấy trông rất kinh khủng, giống như một con cá voi nằm trên bãi biển giá lạnh, vô tình mắc cạn. Bà ấy ngồi trên ghế, hai tay trống không, không có Kinh Thánh để đọc, không có đồ để đan vá. Một phụ nữ nhàn rỗi với những âm mưu giữa đống đổ nát quanh mình.

“Mẹ có nghe tin tức gì từ cha không?”, tôi hỏi.

“Ông ta đã đầu hàng tại Cambridge. Đầu hàng trước những kẻ tự hào gọi ông ấy là chủ soái của họ chỉ một ngày trước đó”, bà run lên, giọng thống thiết.

Tôi vội gật đầu, như thể điều này rất có ý nghĩa với tôi, như thể tôi đang nghe bà ấy, nhưng điều này vượt xa sự hiểu biết của tôi. Tôi chưa bao giờ đọc cuốn sách nào dạy tôi cách hành xử trước những tình huống đảo điên như thế này. Tôi còn không nghĩ rằng trên đời có một sự đảo ngược như vậy. Sử sách không hề có! Một thất bại hoàn toàn không tốn một hòn tên mũi đạn? Không có chút phòng thủ hay phản kháng nào sao? Một đạo quân rầm rộ tiến bước, nhưng trở về trong lặng lẽ không kèn không trống? Chuyện này giống cổ tích hơn là lịch sử.

“Vâng, con phải về nhà”, tôi quyết định. Giọng tôi nghe đầy quyết tâm, nhưng trong thâm tâm tôi hy vọng bà sẽ đưa tôi đến nhà bà ở London, hoặc yêu cầu tôi đợi ở đây để cha tôi đến cứu.

Bà lắc đầu. “Con không thể. Họ đã đóng cổng Tháp”, bà nói. “Con nghĩ ta sẽ ở đây với con trong khi ta có thể rời đi sao? Con từng là nữ hoàng; nhưng bây giờ con là một tù nhân. Con đóng chặt cửa để nhốt người của con ở đây. Giờ thì họ đóng chúng lại để giữ con bên trong. Con sẽ không bao giờ nhìn thấy nhà của con một lần nào nữa. Chúa sẽ phán xét mọi chuyện”.

“Con mới là người phán xét điều đó!”. Tôi đáp và quay người đi ra khỏi phòng đến cung của Guildford.

Không còn gì ngoài sự trống trải. Tôi dừng lại ở ngưỡng cửa khi cơn buồn nôn ập đến vì mùi thịt nướng ôi thiu. Một vài người đàn ông túm tụm bên lò sưởi phía xa xa. Vài người hầu đang thu dọn ly tách và bát đĩa bẩn. Guildford ngồi một mình trên chiếc ghế lớn của anh ta, tấm khăn choàng nghiêng ngả sang một bên, cái nọ chồng cái kia. Anh ta giống như một chú hề đóng vai vua, nhưng là một ông vua không quần thần.

“Mọi người đi hết rồi”, tôi nói với anh ta khi anh ta đứng dậy cúi đầu chào tôi.

“Chúng ta đi chứ?”, anh ta hỏi. “Mẹ tôi có nói chúng ta có thể về nhà không?”. “Bà nói họ đã khóa cổng thành để giữ chúng ta lại, và họ đã bắt cha anh”. Anh ta kinh ngạc. “Lẽ ra tôi phải cảnh báo cha”, anh ta nói. “Tôi nên đi với cha. Ước gì tôi đã đi cùng ông, ở bên cạnh ông như đứa con trai đúng nghĩa của ông!”.

“Anh say rồi”, tôi nói thô bạo. “Và anh chẳng còn biết gì cả!”.

Anh ta gật đầu, như thể đây là thông tin thú vị. “Em nói đúng”, anh nói với tôi. “Đúng cả hai điểm. Tôi say. Và, tôi không biết gì”. Anh ta cười khùng khục. “Em có tin một nửa London sẽ uống say mèm tối nay, và họ không biết gì không? Đặc biệt là, họ sẽ không biết gì về chúng ta, nhà Dudley?”.

Guildford say khướt nhiều ngày liền trong cung của mình ở Tháp Beauchamp nơi anh ta bị giam cầm mà không có quần thần hay bạn bè xung quanh ngoài hai người hầu giúp kéo anh ta ra khỏi giường vào buổi sáng và quẳng trở lại vào buổi tối. Anh ta không được phép ra ngoài, vậy nên tôi cho rằng anh ta là một tù nhân cho đến khi nào Quận chúa Mary ân xá chúng tôi. Mẹ chồng tôi im lặng thức trắng đêm trong phòng tôi. Bà là người đồng hành kém cỏi.

Tôi đọc sách. Thật kỳ lạ, tôi không có gì để làm cả. Tôi không được rời khỏi Tháp, mọi cánh cửa đều đóng lại, nhưng bên trong tường thành, tôi có thể đi khắp nơi tùy thích – lội xuyên thảm cỏ tới nhà nguyện, phòng tranh tượng, vườn thượng uyển, khu chuồng ngựa. Tôi thích đi bộ trên tường thành giữa các tòa tháp nhìn ra sông vào buổi tối. Không khí mát lành làm cơn đau bụng của tôi dịu lại. Tôi vẫn còn trong kỳ kinh, tôi vẫn còn đau. Tôi như bị đầu độc. Tôi không nghĩ tôi sẽ khỏe lên chừng nào cha tôi chưa đưa tôi quay về Bradgate. Tôi bắt đầu mơ mình được ở trong căn phòng ngủ nhìn ra hồ ở nhà mình, nhưng rồi tôi thức dậy và nghe tiếng thấy ồn của thành phố và ánh sáng chan hòa của bầu trời buổi sáng và nhận ra rằng tôi đang ở cách xa nơi đó lắm lắm.

Tôi nghe tiếng huyên náo từ cổng Tháp Byward và nhìn qua gờ tường để xem ai đang đi vào. Họ là những tù nhân bị dẫn giải bởi một lính canh, và phải có đến nửa tá. Tôi có thể nghe thấy tiếng la ó của đám đông bên ngoài cổng thành, rồi mọi thứ chìm vào im lặng khi cánh cửa đóng sập lại. Tôi chỉ có thể nhìn thấy khuôn mặt của người tù đi đầu. Ôi lạy Chúa, đó là cha chồng tôi, John Dudley, đang kiêu hãnh bước đi, đầu ngẩng cao với mũ trên tay. Và giờ tôi nhận ra các con trai của ông trong đoàn người bị thất sủng. Tôi cảm ơn Chúa lòng lành vì cha tôi không có trong số họ. Nhà Dudley đã bị bắt và cha tôi được tự do. Ông sẽ gặp người họ hàng của chúng tôi là Công chúa Mary và giải thích mọi chuyện thực hư thế nào, và xin giải thoát cho tôi. Tôi cảm ơn Chúa rằng chính nhà Dudley là những kẻ đầu têu tất cả chuyện này. Đó là âm mưu của họ và mọi người đều biết điều đó. Họ đã tham vọng ủ mưu mấy năm qua và bây giờ họ sẽ bị đưa vào ngục thất, và họ sẽ bị trừng phạt đích đáng.

Đoàn người bị chia ra. Cha chồng tôi được đưa đến Tháp St. Thomas qua cổng trên mặt nước, còn các con trai ông được đưa đến Tháp Beauchamp để ở cùng phòng với người anh em Guildford của họ. Tôi nhìn họ đi xuống các bậc thang, cúi đầu bước vào dưới vòm cửa thấp và tôi không chút động lòng – hay thương cảm hay sợ hãi đối với họ. Có chút động tay động chân khi John Dudley buộc phải khom mình bước xuống bậc thang để được ở với con trai của mình. Tôi có thể nhìn thấy người trẻ nhất, Henry, đang khóc. Tôi cho rằng Guildford phải rất vui khi được ở cùng các anh em của mình, nhưng anh ta sẽ thấy rằng say rượu và chẳng biết gì sẽ không cứu được anh ta khi mà cả cha anh ta cũng đã bị bắt.

Tôi nghĩ tốt hơn tôi nên trở về cung của mình, nhưng khi đến đó tôi thấy rằng quần áo và sách của tôi đã bị chuyển đi. Giờ đây tôi phải sống trong nhà của Nathaniel Partridge, viên quản Tháp. Đó là một ngôi nhà đẹp, nhìn về phía trong qua vườn thượng uyển, hướng về phía Tháp Trắng. Phòng của tôi khá lớn và thoải mái. Tôi vẫn có ba hầu gái và một hầu nam. Điều này không có gì khác đối với tôi, tôi nói với bà Partridge, vợ của viên chúa ngục: “Ngoại cảnh không có ý nghĩa gì đối với tôi. Khi tôi còn những cuốn sách và còn đọc thì tôi có thể cầu nguyện, tôi không cần thứ gì khác”.

Bà ấy hơi cúi chào, không phải kiểu chào mà bà thường sử dụng trước khi nhà Dudley bước vào trong tư thế bị bắt. Tôi thấy điều này rất khó chịu, nhưng sau đó tôi nhớ rằng đó chỉ là ngoại cảnh, và tôi không quan tâm.

“Hãy để tôi một mình”, tôi khẽ nói. “Tôi cần phải viết”.

Tôi nghĩ tôi nên viết rõ nhận định của mình về những ngày qua và gửi nó cho Công chúa Mary. Tôi nên giải thích với bà rằng tất cả những gì đã xảy ra không phải việc tôi làm, và, nếu những trăng trối cuối cùng của Vua Edward − người cậu họ tôi bị phớt lờ, thì tôi bằng lòng trở thành chủ đề bàn tán một lần nữa, và để cho bà trở lại làm người thừa kế, nói đúng hơn là được phong làm nữ hoàng. Là thành viên dòng dõi Tudor, chúng tôi đã nhìn thấy, và Chúa cũng biết, bấy nhiêu đổi thay đã là quá đủ. Mẹ bà đã bị gạt sang bên với cáo buộc hôn nhân giả mạo và tước hiệu bị thu hồi. Chính bà đã từng là Công chúa và sau đó là Quận chúa Mary hai lần trong đời. Công chúa Mary của muôn dân sẽ hiểu rằng tước hiệu của tôi có thể bị lấy đi dễ dàng như nó từng đã được áp đặt lên tôi và lương tâm của tôi rất trong sáng.

Ngày hôm sau, tôi nghe tiếng ồn ào bên dưới cửa sổ phòng ngủ của tôi. Áp mặt vào cửa sổ lạnh ngắt, tôi chỉ kịp nhìn thấy đó là chàng trai trẻ Henry Hastings, người chồng yếu đuối của Katherine Dudley, và có vẻ như anh ta đang rời Tháp Beauchamp, nơi các chàng trai nhà Dudley bị giam giữ. Anh ta đang cười và bắt tay của một người đàn ông khác, người rõ ràng đã đến với trát phóng thích anh ta. Vị cai quản Tháp, Ngài John Gage, đứng một bên, mũ trong tay. Rõ ràng, Henry trẻ tuổi lại một lần nữa là một người quan trọng, không còn bị buộc tội mưu phản như những người anh em vợ mới của mình. Tất nhiên, Công chúa Mary là người có lòng thương xót với bạn bè, và Henry có liên quan đến gia sư của bà, Margaret Pole, người đã chết ngay tại đây, nơi mà lúc này họ đang vui vẻ trao cho nhau những lời tán dương. Henry phải rất vui mừng khi được rời khỏi Tháp, nơi từng là một chốn không may mắn cho gia đình anh ta. Khi tôi nhìn anh ta rời đi dọc theo cổng chính, tôi thấy một người khác đang tiến vào.

Họ đi qua nhau mà không có lấy một cử chỉ dù nhỏ nhất của sự quen biết, vì vậy tôi đoán đó phải là một người xa lạ, và tất nhiên Henry Hastings sẽ không có bất cứ cử chỉ nhìn nhận nào cho bất cứ ai bước vào trong. Giống như chồng tôi, người tự nói rằng mình say mèm và chẳng biết gì, những người khác cũng không biết gì và không nhận ra ai là ai trong những ngày đầy biến động này. Những người có mối liên hệ với nhà Dudley càng muốn chứng tỏ rằng họ không biết gì và chẳng nhận quen biết ai cả. Henry Hastings sẽ là một người xa lạ đối với bất cứ ai đang bước vào Tháp: cha ruột của anh ta đang bị giam tại đây, hoàn toàn bị bỏ mặc. Thật không an toàn khi nói rằng mình biết ai đó. Và thế là xong – Henry đi qua người mới đến mà không hề liếc nhìn, ngoại trừ một cử chỉ nhẹ như tách mình càng xa người nọ càng tốt, và hơi quay đầu một chút sang hướng khác để ánh mắt họ không gặp nhau.

Mỉm cười với màn kịch cay đắng này, tôi nhìn anh ta đi khỏi và sau đó chú ý tới người mới đến. Lúc đầu tôi không nhận ra ông ấy. Đầu cúi xuống, bước đi chậm rãi, ông ấy trông giống như những người đang bước vào trong thành: dường như họ không còn sinh khí, cố thu mình đến mức nhỏ bé nhất có thể, như những chú lùn, như họ đã từng cúi chào sát đất trước tôi.

Người mới này là ai, tại sao lại gấp gáp bước vào nhà ngục như thế? Đó có thể là ai trong số nhiều quân sư tự phong của tôi, những người bị buộc phải đối mặt với những điều sai trái mà họ đã làm? Tôi chỉ có thể nhìn thấy đỉnh đầu và gáy ông ấy nhưng tôi cảm thấy chắc chắn rằng tôi biết người này – đôi vai xuôi của ông nhìn quen quen, bước chân chậm rãi của ông cũng rất đỗi thân thuộc. Rồi tôi thét lên. Bất thình lình, tôi đấm vào tấm kính cửa sổ dày cộp và tay tôi đau nhói. Tôi hét to nhưng ông không nghe thấy tôi. Người đàn ông sa cơ lỡ vận này là người duy nhất tôi có thể tin tưởng: “Cha! Cha! Cha ơi!”.

Tôi xin cho cha tôi được ở cùng tôi, nhưng tôi đúng là ngu ngốc: ông không còn là một vị khách quý của hoàng gia nữa và tôi cũng không còn là một nữ hoàng có quyền tự do sử dụng cung điện. Tôi đang bị quản thúc và ông là một tù nhân bị tống ngục. Tôi nhận ra rằng mọi thứ đã thay đổi: tất cả mọi thứ. Không những ông không thể sống với tôi, mà tôi cũng không được phép gặp ông. Tôi yêu cầu được gặp mẹ tôi.

“Bà thậm chí không có mặt ở London”, viên quản ngục, ngài Partridge, lúng túng nói. “Tôi rất tiếc phải nói với cô rằng, thưa...”. Ông ta lắp bắp không biết gọi tôi bằng tước hiệu gì. “Dù sao thì... bà ấy đã đi khỏi đây”.

“Mẹ tôi đang ở đâu?”, tôi hỏi. “Bà có ở nhà không?”.

“Bà ấy không có ở nhà cô”, ông ta nói chậm và cẩn thận chọn từng lời. “Bà ấy đã đi gặp Nữ hoàng để cầu xin sự tha thứ”.

Tôi thở phào nhẹ nhõm gần như muốn khóc. Tất nhiên rồi! Mẹ tôi sẽ nói chuyện với người chị họ để xin ân xá cho cha tôi. Ngợi khen Chúa! “Bà sẽ cho gọi tôi và cha tôi đến. Chúng tôi sẽ được trở về nhà ở Bradgate”.

“Thật ra, tôi hy vọng thế.” “Nữ hoàng đang ở đâu?”

Ông ta nhìn vẻ nghi ngờ như đang nghĩ rằng tốt hơn là tôi không nên biết. “Bà ấy đang đến”, ông ta nói. “Bà ấy đang trên đường đến London, rất thong thả. Bà ấy đang từ từ đến đây”.

“Tôi cũng muốn gặp bà ấy”, tôi nói một cách can đảm. Suy cho cùng, bà là họ hàng nhà tôi. Tôi từng là đứa cháu được bà cưng chiều. Bà biết rằng tôi không cùng đức tin với bà, nhưng bà vẫn cho tôi những chiếc áo choàng đẹp. Giờ đây tôi ước gì trước kia tôi khoan dung hơn trước lối suy nghĩ sai trái của bà. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn là những người họ hàng của nhau. Tôi nên nói chuyện với bà. Sẽ tốt hơn cho tôi nếu tôi giải thích trực tiếp với bà. Tôi đang nghĩ ra một lời biện hộ, nhưng tôi có lẽ nên gặp bà để xin lỗi.

Ông ta nhìn xuống mũi đôi ủng đang mang của mình; ông ta nói mà không nhướng mắt lên: “Tôi sẽ nói với họ rằng cô yêu cầu được diện kiến Nữ hoàng. Nhưng tôi được lệnh không được thả cô ra”.

“Trừ phi chính Nữ hoàng cho đòi tôi”, tôi nói.

“Vâng, mong đến lúc đó”. Ông ta đáp, nhưng không có sự tự tin như tôi, dù tôi đang giả vờ như thế.

THÁP LONDON

THÁNG 8 NĂM 1553

Tôi liên tục nhìn qua cửa sổ, ngóng trông, giống như một đứa trẻ bị bỏ rơi, nhưng tôi không nhìn thấy cha tôi lần nào nữa, mặc dù tôi thấy càng nhiều người trong vương triều ngắn ngủi của tôi bị bắt giải vào Tháp. Sau đó, ngày qua ngày, tôi thấy họ, từng người một, lại bước ra. Gần như tất cả họ đều được phóng thích. Tất nhiên Nữ hoàng là người nhân từ. Tại sao lại không chứ? Bà không những đã dẹp tan cuộc nổi loạn nông nổi này mà còn giành lại được sự tung hô ca ngợi của công chúng về những điều bà có thể không bao giờ, với tư cách của một kẻ dị giáo, xứng đáng có. Bà nên cảm ơn những kẻ thù của mình hơn là trừng phạt họ, vì họ đã thống nhất vương quốc cho bà. Bà bắt họ phải trả giá đắt – từng người một sẽ trả cho bà bằng cả một gia tài.

Tôi nghĩ một cách khôi hài rằng bà không có nhiều lựa chọn ngoài lòng nhân từ. Nếu bà xử tử tất cả mọi người trong Hội đồng Cơ mật, những người từng quỳ gối trước tôi, thì bà sẽ không còn cái gọi là Hội đồng Cơ mật trong tay nữa. Mỗi quý tộc của nước Anh đều tôn xưng tôi là nữ hoàng; bà không có cách nào khác ngoài việc thả họ ra. Thay vì chặt đầu họ, bà sẽ gây quỹ, giống như cha và ông của bà đã từng làm: phạt họ và bắt họ phụng sự bà bằng những hình phạt khủng khiếp trên tài sản của họ.

“Cha của cô đã được thả rồi”, thị nữ của tôi báo tin cho tôi sau buổi cầu nguyện sáng.

“Thật à? Làm sao cô biết?”

“Ông đã rời đi trong đêm, cô hầu gái của nhà Partridge nói với tôi.” “Ông trốn thoát à?”, tôi lắp bắp. Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra. “Không. Ông được thả. Nhưng ông đã quyết định rời đi lặng lẽ trước khi cổng thành được mở vào lúc bình minh. Cô hầu gái nhà Partridge nghĩ rằng cô muốn biết cha cô đã an toàn. Cô ấy theo tôn giáo Cải cách như cô. Cô ấy tự hào vì được đi mua bia và bữa ăn tối cho ông. Cô ấy nghĩ rằng thật là vinh dự khi phục vụ một con người vĩ đại, dám mạo hiểm cuộc sống của mình cho đức tin Cải cách”.

Tôi gật liên hồi như một con búp bê nhỏ bị đánh vào đầu. Gật, gật, và gật. Tôi đi đến góc phòng tôi dành riêng cho việc cầu nguyện và mở Kinh Thánh ra đọc. Tôi quỳ xuống và cảm ơn Chúa vì sự an toàn của cha tôi, vì lòng nhân từ của nữ hoàng, và vì sự thuyết phục của người phụ nữ vĩ đại, mẹ tôi. Có lẽ bà đã phải hứa với cả thế giới này bằng mọi giá bà phải xin được lệnh ân xá hoàng gia cho chồng mình. Tôi rất vui vì bà có sức thuyết phục và bà đã cứu được cha tôi. Cha tôi an toàn, đó là điều quan trọng nhất. Tôi mừng khôn xiết. Tôi không cho phép tự hỏi mình rằng tại sao cha đã không đến gặp tôi trước khi rời đi, hoặc tại sao tôi không được phóng thích cùng với ông. Tôi biết rằng cha mẹ tôi, những người luôn luôn yêu cầu sự vâng phục của tôi, sẽ cho người đưa tôi đến bên họ ngay khi có thể. Tôi biết rằng chúng tôi sẽ lại đoàn tụ với nhau. Tôi biết rằng chúng tôi sẽ sống tại nhà tôi, ở Bradgate. Không ai có quyền lấy nó khỏi chúng tôi, không ai có quyền cấm tôi bước vào phòng ngủ của mình, cả khu vườn, cánh đồng, khu rừng, và thư viện với hàng trăm cuốn sách. Chỉ có Chúa mới biết, trong sự thương xót của Người, tôi vui mừng đến nhường nào khi được ở đó.

Thời tiết mùa hè nóng lên. Phòng của tôi lạnh và ẩm ướt vào ban đêm, nhưng nóng như lò bánh mì vào độ hai giờ chiều. Tôi được phép đi bộ trong khu vườn kín trước nhà Partridge hoặc đôi khi đi bộ cùng bà Partridge trên tường thành nhìn ra sông. Vào lúc hoàng hôn từng cơn gió thổi vào từ biển. Khi ngửi thấy mùi muối trong làn gió mát lành, tôi bất ngờ cảm thấy như bay bổng, như thể tôi có thể bay vút lên cao như những con chim hải âu đang hát vang. Tôi cảm thấy như thể tôi có thể dang đôi cánh của tôi và bay cùng chúng. Thành phố có vẻ yên tĩnh. Tôi ngạc nhiên. Tôi nghĩ rằng người theo tôn giáo Cải cách không thể sinh ra một nữ hoàng theo Công giáo La Mã. Tôi nghĩ thế nào họ cũng lại nổi dậy chống lại bà; nhưng có vẻ như sự kết hợp của Công chúa Mary và quyền lực ngầm của Tây Ban Nha cùng sức mạnh ẩn chứa của những kẻ chống Kitô đã làm được điều mà các cố vấn của tôi đã thề là không thể làm được – đó là đưa một phụ nữ Công giáo La Mã lên ngai vàng cải cách của nước Anh mà không gặp một sự chống đối nào.

Tôi dành mỗi buổi chiều để học và mỗi buổi tối để viết. Tôi không phàn nàn gì về ngôi nhà nhỏ hay khu vườn bên dưới, với cổng vào hướng ra bãi cỏ dẫn đến Tháp trắng sừng sững phía trước. Tôi có thể sống trong thế giới riêng của mình như một tu sĩ dòng kín. Tôi đang dịch một bản mới sách Thánh vịnh và viết bức thư tuyên xưng sự vô tội của mình đối với Nữ hoàng. Tôi nghĩ tôi phải giải thích với bà rằng nếu bà đã thả tất cả mọi người trừ các cố vấn cấp cao của tôi – John Dudley và các con trai của ông – thì bà cũng nên phóng thích tôi. Bà đã tha thứ cho mẹ tôi, người có dòng dõi hoàng gia mà nhờ đó tôi được đưa tôi lên ngôi, người thực sự ở hàng thừa kế ngai vàng gần hơn tôi. Một khi bà đã phóng thích mẹ chồng tôi, Phu nhân Dudley, người khăng khăng rằng tôi phải nhận lấy vương miện, thì bà cũng có thể thả tôi. Thật vô lý nếu bà không làm vậy.

“Mẹ chồng chị đã đến gặp Nữ hoàng Mary”, Katherine thì thầm với tôi trong một trong những chuyến thăm viếng hiếm hoi của em ấy để mang cho tôi những chiếc khăn và đồ vệ sinh cá nhân, vì tôi vẫn còn đau bụng dưới và vẫn còn chảy máu đôi chút. Con khỉ Nozzle ngồi thăng bằng trên vai em ấy, hai tay che lấy khuôn mặt tối tăm của nó. “Nữ Công tước Dudley đã đến gặp Nữ hoàng Mary; nhưng Nữ hoàng không muốn tiếp bà ấy”.

“Không!”, tôi mất tập trung như một ả giang hồ trên cảng cá đang bị người ta dè bỉu. Tôi nhận ra sự lấp lánh giả tạo của niềm kiêu hãnh của dòng họ. “Không! Không phải thế! Có phải bà ấy biết rằng Nữ hoàng đã gặp mẹ chúng ta không?”.

“Vâng, tất nhiên mẹ chúng ta thuộc dòng dõi hoàng tộc và là người được Nữ hoàng họ hàng của chúng ta sủng ái. Nhà Dudley có dòng máu hoàng tộc à?”, em ấy cười.

“Tất nhiên là không; nhưng ông ấy là một công tước.”

Katherine lắc đầu. “Không lâu nữa đâu. Em nghĩ họ sẽ tịch thu tài sản và cả tước hiệu của ông ấy”.

“Nhưng tại sao? Nữ hoàng đã chẳng tha thứ cho bao nhiêu người đấy sao?”

“Ông ấy đã làm chuyện khủng khiếp”, Katherine nói huỵch toẹt. “Chị có hiểu ý em...”.

Em ấy mệt mỏi nhìn tôi, mắt mở to, như thể tôi, người được học hành, đọc nhiều sách và được giáo dục tốt hơn em ấy, phải biết những lời em ấy sẽ không nói. Em ấy đặt tay lên Nozzle đang ngồi trên vai em ấy và nó nắm lấy tay em ấy như thể được an ủi.

Tôi nhìn em ấy với gương mặt lạnh như tiền và rồi thấy những giọt nước mắt chảy ra từ đôi mắt xanh của em ấy.

“Jane! Chị phải biết chứ!”

“Chị thề với em là chị không hiểu ý em muốn nói gì! Mắt em nhìn chị chằm chằm như thế thì chị hiểu làm sao chứ?”

“Bởi vì ông ta là kẻ phản bội”, em ấy thì thầm. “Ông ta cố đưa một nữ hoàng giả lên ngai vàng. Đó là tội khi quân, phản quốc, và trái ý Chúa. Mọi người đều nói ông ta phải chết bởi vì ông ta là kẻ phản bội. Không phải ông ta chỉ gửi giấy tờ kêu gọi hoặc viết thư như cha chúng ta, cũng không phải là lời nói, mà ông ta đã có hành động rõ ràng. Ông ta đã lập quân đội riêng và chống Nữ hoàng, và các con trai ông ta đã dùng gươm giáo để tôn xưng một nữ hoàng giả. Tất cả bọn họ sẽ bị xử tử. Họ phải chịu hình phạt thôi”.

Tôi nhìn em ấy trân trân. “Chết à? Toàn bộ anh em nhà Dudley?”.

Tôi không nghĩ năm chàng trai trẻ nhà Dudley có thể chết. Không thể có chuyện người cha mưu lược của họ không biết cách thương lượng trên đường ra đoạn đầu đài. Anh em nhà Dudley có tầm quan trọng sống còn và cha họ quá khôn khéo. Không ai trong số họ phải chết. “Và, chị cũng thế, Jane”, Katherine nói, giọng chậm rãi, như thể em ấy đang hình dung ra điều gì đó sẽ đến với cô em gái bé bỏng của chúng tôi, Mary. “Chị biết điều đó mà, đúng không nào? Vì chị là nữ hoàng giả mà họ đã dựng lên. Nhà Dudley phải chết vì tuyên lập một nữ hoàng giả, và chị là người đó. Vì vậy họ đang nói với nhau rằng chị cũng phải chết”. Tôi nhìn đứa em gái xinh đẹp của mình, người duy nhất dám đưa ra lời nói dối khủng khiếp này. “Ôi, không, họ không thể giết chị”, tôi sốc vì em ấy dám nói ra điều này.

“Em biết!”, em ấy hoàn toàn đồng ý với tôi. Con khỉ Nozzle cũng gật gật đầu theo. “Trong thâm tâm em nghĩ họ không thể làm điều đó. Nhưng sự thật là, Jane, họ nói rằng họ sẽ làm”.

Katherine là một đứa ngốc và tôi đã biết điều này từ lâu. Tôi thậm chí không tranh cãi với em ấy; vì nói làm gì với em ấy những trích dẫn mà em ấy đơn giản là không hiểu. Tôi thà nói chuyện với con khỉ hoặc con mèo của em ấy còn hơn. Tôi biết tôi đã không làm gì khác ngoài việc vâng lời cha mẹ, và sau đó phục tùng chồng tôi và cha mẹ anh ta. Đó không thể gọi là phản bội được! Không có tội gì ở đây cả! Đó là một sứ mạng mà Chúa giao phó: Hãy tôn kính cha mẹ ngươi để được sống đời đời trong khu vườn mà Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi.

Nữ hoàng Mary40* – người được học với Hoàng hậu Kateryn Parr như tôi, và cả bốn chúng tôi, Kateryn, Mary, Elizabeth và tôi đều là những người thích đọc sách – vì thế bà sẽ hiểu theo cách hiểu của tôi. Tôi sẽ “sống đời đời” trên mảnh đất này vì tôi đã tôn kính cha mẹ tôi. Thật là mâu thuẫn nếu tôi bị kết án tử hình vì đã nghe lời cha mẹ. Điều đó là chối bỏ Kinh Thánh, và không ai, không gì được làm thế.

40* . Tức Mary I (1516 – 1558).

Tôi đã viết xong lời giải thích của tôi cho Nữ hoàng, và khi tôi hoàn toàn hài lòng với ngôn phong, ngữ pháp và sự rõ ràng rành mạch trong tất cả các trang, tôi gửi cho bà. Tôi hy vọng bà sẽ đọc nó và đồng ý với lời lẽ của tôi và ra lệnh phóng thích tôi. Tôi nói rõ với bà rằng tôi không biết tại sao Mary Sidney lại đưa tôi đến Syon House, và có lẽ chính bà cũng không biết tại sao. Tôi không muốn vương miện, và đến giờ vẫn vậy. Vì họ đã lý giải với tôi về tính hợp pháp và sự đúng đắn của hành động ấy nên tôi đã làm hết sức có thể. Tôi không thấy có gì khác mà họ có thể trông đợi ở tôi.

Tôi phải nghe lời cha mẹ tôi và đi theo logic của vấn đề. Khi chuyện đó xảy ra, tôi nghĩ đó là điều đúng nhưng tôi không thể bị chê trách vì nghĩ rằng công việc của Đức Chúa Trời sẽ được thực hiện tốt nhất bởi một nữ hoàng chịu học Lời của Ngài, tuân theo các luật lệ của Ngài và không lệ thuộc hay phục tùng La Mã. Tuy nhiên, tôi không giải thích điều đó với Nữ hoàng, bởi vì tôi biết rằng bà sẽ không đồng ý, và lời thật thường mất lòng, dù thậm chí lý lẽ ấy là không thể bắt bẻ.

Tôi viết rất dài và nói với Nữ hoàng mới rằng tôi đã được khuyên – thực sự là bị ra lệnh – nhận lấy vương miện bởi những người cho rằng họ lớn hơn và khôn ngoan hơn tôi. “Lỗi cũng không phải hoàn toàn do chính cháu”, tôi viết – bằng ngôn phong nhã nhặn nhất có thể, dù rằng tất cả triều thần và tất cả các cố vấn hiện tại của bà từng là của tôi. Tôi không ngần ngại trách John Dudley hay vợ hoặc con trai của ông ấy; quả thực, tôi muốn chỉ ra rằng tôi đã bị ốm kể từ khi tôi bị buộc phải sống với gia đình họ, có thể tôi đã bị đầu độc.

Trong khi chờ đợi câu trả lời của bà, tôi tiếp tục đọc và dịch sách. Tôi yêu cầu gửi nhiều sách hơn cho tôi. Tôi cần tham khảo ý kiến của các bậc trí giả trong khi làm việc nhưng thật khó chịu vì một vài trong số những quyển sách tôi yêu cầu lại không có sẵn, bởi vì Giáo hoàng đã phán quyết rằng chúng là sách cấm và không ai được mang chúng đến cho tôi. Cấm! Họ đang cấm những cuốn sách viết về Kinh Thánh bởi các nhà phê bình sâu sắc về Lời Chúa. Đây là cách những kẻ chống Kitô chiếm lĩnh tâm trí con người, cả nam lẫn nữ. Đây là cách các bạo chúa chính trị được trợ giúp bởi tôn giáo. Cũng không có gì quá ngạc nhiên khi tôi không thể có trong tay tác phẩm tôi cần để tham khảo, vì vậy tôi phải trích dẫn từ trí nhớ và ghi chú bên lề các trang viết để kiểm tra lại chúng khi tôi được thả và trở về thư viện của mình tại Bradgate, nơi tôi có thể đọc mọi thứ tôi muốn. Tôi cố gắng không để bị phân tâm bởi tiếng ồn kinh khủng từ thành phố, tiếng reo hò và kèn trumpet cùng chuông nhà thờ rền vang. Tôi cố gắng trau chuốt lời văn của mình và lần giở từng trang văn phạm Hy Lạp mà tôi đang nghiên cứu. Lúc này tôi có thể nghe thấy tiếng hét của những người học việc và tiếng phụ nữ rú lên vì vui thích. Dù không lên tường thành để nhìn xuống nhưng tôi có thể tưởng tượng đám lộn xộn đang diễn ra dưới phố. Tôi không thực sự muốn nhìn thấy người họ hàng của tôi tiến vào London qua Cổng Tháp trong khúc khải hoàn và phóng thích những người được bà sủng ái khỏi nơi giam cầm. Tôi chỉ hy vọng rằng bà sẽ cho gọi tôi sớm.

Tôi hiểu rằng những kẻ có tội sẽ bị xét xử và tử hình trước khi Nữ hoàng xá tội cho tôi. Nhưng tôi ước rằng tôi không phải nhìn thấy cảnh các linh mục giả dối và thậm chí chính lão già chống Kitô, Stephen Gardiner, kẻ thù của tôn giáo Cải cách, kẻ bức hại Hoàng hậu Kateryn Parr, bước vào nhà nguyện tại Tháp để cử hành thánh lễ cho những kẻ phản bội. Tôi lấy cái nệm lót dưới gối và tôi tựa lưng vào cửa sổ, ngẩng mặt vào bức tường đá lạnh để cầu nguyện cho linh hồn bất tử của mình trong khi lão già xấu xa cử hành thánh lễ ca ngợi Chúa và làm những trò ma thuật và dị giáo trong nhà nguyện nơi tôi vừa mới cầu nguyện trực tiếp với Chúa, mà không cần bất cứ ai mặc lễ phục xướng đáp trước cái bàn thờ bí mật và vung vẩy trầm hương hay rảy nước thánh.

Không phải ai cũng nghĩ như tôi. Cha chồng tôi, John Dudley, khước từ đức tin của mình, xưng tội, và tự hạ mình trước miếng bánh của kẻ làm bánh và rượu nho của kẻ chưng cất rượu mà vờ là mình và máu Chúa Kitô với hy vọng làm đẹp lòng Nữ hoàng để đổi lấy thêm vài năm sống nhục thay cho vinh quang trên chốn thiên đường. Bánh mì từ thợ làm bánh, rượu vang từ hầm rượu – nhưng kẻ dị giáo khốn nạn cho rằng đó chính là mình và máu thật của Chúa. Đây không phải là đức tin của chúng tôi. Nó chỉ là mê tín và tà thuật. Ông ta đã đánh mất linh hồn bất tử của mình cho nỗ lực thảm hại hòng mua lại mạng sống. Họ đưa ông ta cùng Ngài John Gates, người từng phụng sự ông ta, và Ngài Thomas Palmer, người đã không làm gì hơn một trăm người khác ra khỏi Tháp Hill và chặt đầu họ như những tên tội phạm thứ dân.

Tôi vô cùng sốc. Tôi không thể than khóc cho John Dudley, tôi không có lý do để đau buồn cho ông ấy. Cha chồng tôi vào giờ cuối cùng đã cải đạo theo Công giáo La Mã và thế là ông đã chết một cái chết khủng khiếp vì đã phản bội đức tin Cải cách của Đức Vua quá cố, người họ hàng của tôi, một sự bội phản còn tồi tệ hơn cả tội phản bội mà ông ấy đã nhận. Vào giờ cuối ông ấy nghĩ mình cần đổi một vài ngày còn lại của cuộc sống tội lỗi của mình để lấy sự vĩnh hằng chốn thiên đường, nhưng ông ấy lại chọn sai lần nữa, hệt như ông ấy đã từng làm với tôi.

“Chị còn trẻ”, tôi nói với Katherine, người đến thăm tôi mà không báo trước, “Nhưng chị không từ bỏ đức tin của chị vì tham sống! Nhưng cuộc sống của ông ấy thật ngọt ngào, ông ấy muốn giữ nó mãi, em có thể nói...”.

“Không, em sẽ không nói thế.”

“Vì vậy, có lẽ ông ấy nghĩ rằng việc hy sinh linh hồn mình là đáng giá, em sẽ nói rằng...”

“Thành thực mà nói, em không...”

“Ông ấy không quan tâm cái giá ông ấy phải trả. Thật vậy, lý do là tốt; thay vì ông ấy phải sống trong xiềng xích ngục tù.”

Em ấy cắt ngang tôi và nói liền một mạch không kịp thở. “Em sẽ không nói bất kỳ điều gì về chuyện này! Nhưng em có thể hiểu tại sao người chồng và người cha của những đứa con trai khôi ngô tuấn tú như thế, người không bao giờ muốn rời bỏ họ, lại thề bất cứ điều gì để giữ mạng sống của mình”.

“Chúa nói rằng bất cứ ai chối bỏ Ngài trước mặt người khác, Ngài cũng sẽ từ chối họ trong vương quốc của Cha Ngài”, tôi đáp thẳng thừng.

“Nhưng khi Nữ hoàng tha thứ cho chị, chị sẽ phải cầu nguyện cùng bà”, Katherine nhắc nhở tôi. “Em đã làm rồi. Em ngồi phía sau bà và làm theo tất cả những gì bà ấy làm. Thành thật mà nói, Jane, điều đó không có gì khác biệt với em. Đứng lên, quỳ xuống và làm dấu thánh chứ có gì đâu. Tại sao mấy trò đó lại quan trọng? Chị sẽ không tuyên bố chống lại thánh lễ, chị hứa nhé? Chị sẽ làm tất cả những gì họ yêu cầu, chị nên cúi đầu khi họ nâng bánh thánh nhé”.

“Đó là cám lợn. Bánh thánh, thứ mà em đang gọi ấy, là cám lợn!”. Tôi nói nhát gừng trong khi em ấy áp lòng bàn tay lên mặt và nhìn tôi một cách cầu khẩn qua kẽ tay.

“Jane...”, em ấy thì thầm. “Gì?”

“Chị sẽ nói chuyện với chính mình trên đoạn đầu đài.”

“Chị sẽ không bao giờ chối bỏ Chúa của chị”, tôi nói đầy kiêu hãnh. “Jane này...”, em ấy gọi tôi lần nữa.

“Gì?”

“Em không muốn mất chị.”

Tôi bị phân tâm bởi sự cọ quậy trong túi em ấy. “Em có gì trong đó vậy?”. “Ribbon, chú mèo con của em. Em mang nó theo vì nghĩ rằng có thể chị muốn có nó làm bạn.”

Em ấy lôi ra khỏi túi con mèo trắng có đôi mắt xanh. Nó mở miệng ngáp khoe cái chóp mũi và cái lưỡi màu hồng. Nó nhếch nhẹ hàm răng nhọn hoắt và thả lỏng bốn chân trong lúc ngủ.

“Chị không thích mèo con”, tôi nói.

Em ấy trông thất vọng một cách khôi hài. “Nó không thể làm bạn với chị sao? Em chắc chắn nó không phải là kẻ dị giáo”.

“Đừng có ngốc thế!”

THÁP LONDON

THÁNG 11 NĂM 1553

Chính là lệnh của người được gọi là Nữ Hoàng Nhân từ này mà chúng tôi, những tù nhân từng chối bỏ các trò dị giáo và theo Chúa Phục sinh, sẽ bước đi giống như Ngài đã làm trước dân chúng. Tôi biết chính bà mới là người đáng hổ thẹn bởi chiếc mặt nạ này chứ không phải tôi. Tôi không sợ bị buộc tội mưu phản và tôi mừng vì điều này. Tôi có thể đưa ra lời tuyên thệ ngay trên bến tàu, tôi có thể là một Daniel41* đến để phán xét. Tôi đã sẵn sàng. Tôi sẽ bị xét xử với một tá tù nhân còn lại tại Đại sảnh đường London như một sự bêu riếu trước công chúng mà bà có thể bày ra. Bà không nhận ra rằng, đối với tôi, điều đó là rất thánh. Tôi rất vinh dự được đi bộ từ Tháp đến Đại sảnh đường Guildhall để chịu xét xử. Làm sao tôi dám hổ thẹn khi Chúa Giêsu đã không hổ thẹn khi mang thập giá của Ngài. Bà nghĩ sẽ đem tôi ra trước công chúng để họ phỉ báng tôi, nhưng đây sẽ là cuộc tử vì đạo của tôi và tôi rất vui khi làm điều đó.

41* . Tiên tri Daniel, Kinh Thánh Cựu ước.

Các con đường từ Tháp London đến Guildhall được bố trí đầy lính tráng. Lũ tù nhân chúng tôi được dẫn đầu bởi tên đao phủ, đi theo sau là Tổng Giám mục Thomas Cranmer, vị tu sĩ thánh thiện đã đưa cho chúng tôi cuốn kinh cầu nguyện bằng tiếng Anh, cũng là người đã dịch các bài Thánh vịnh cùng với Hoàng hậu Kateryn kính yêu của tôi. Ông bị giam trong Tháp vì chống lại việc Nữ hoàng đưa Thánh lễ Công giáo La Mã vào cử hành trong Tháp. Ông là thầy dạy của tôi với Hoàng hậu Kateryn, tôi biết ông rất rõ. Tôi có niềm tin mạnh mẽ rằng nếu ông đi sau cái rìu, thì Chúa đi ngay trước đó. Tôi hãnh diện được đi sau một người tốt. Tôi sẽ theo ông tới cổng thiên đường.

Nhưng thật không may, tôi không được bước theo bước chân của ông, vì ngay sau ông là chồng tôi, Guildford, xanh nhợt và rõ ràng đang khiếp đảm, và ngay sau anh ta là tôi, được hộ tống bởi hai thị nữ. Đằng sau chúng tôi là hai người khác nhà Dudley: Ambrose và Henry. Ít ra trông họ còn có phẩm giá và có phần thách thức.

Tôi mặc bộ đồ đen, đội mũ trùm đen rìa có gắn đá quý và khoác trên vai chiếc áo choàng đen. Tôi cầm trên tay quyển kinh cầu nguyện để mở và đọc nó trong khi bước đi, dù những dòng chữ nhỏ li ti như nhảy múa trong mắt tôi. Thực lòng mà nói, tôi không nhìn thấy gì cả. Nhưng điều đó không quan trọng. Tôi thuộc nằm lòng những bài kinh cầu nguyện. Điều cốt yếu là tôi đang cầm nó trong tay, đang đọc nó và bất cứ ai nhìn vào đều thấy rằng tôi trông cậy Lời Chúa, như đã được nói bởi Đức Chúa Con, như được viết trong Kinh Cựu ước, như được dịch bởi Hoàng hậu Kateryn và tôi. Tôi không trông cậy vào những tiếng lầm rầm đọc kinh của các linh mục hay những buổi lễ dài lê thê bằng tiếng Latin đón chào tôi tại Guildhall. Tôi được cứu rỗi bởi đức tin của tôi trong Ngôi Lời, chứ không phải bởi những cái làm dấu thánh hay rảy nước thánh hay những bộ lễ phục cầu kỳ và nghi thức xông trầm hương đang diễn ra trước khi các quan tòa bước vào, làm dấu thánh và thì thầm nói “Amen” cũng như làm mọi thứ có thể cho mọi người thấy rằng đây là vấn đề Công giáo La Mã chống lại tôn giáo Cải cách, dối trá chống lại sự thật, dị giáo chống lại Đức Chúa Trời, cừu chống dê, và họ chống lại tôi.

Phiên tòa không là gì ngoài một cuộc độc diễn vô nghĩa của những người đã biết rõ mọi chuyện nhưng giờ đây không dám nói ra, và biết rõ tương lai của họ phụ thuộc vào việc họ chối bỏ nó hôm nay. Tất cả đều dối trá. Tôi không được nói, dù chỉ để thừa nhận. Không có cơ hội nào cho tôi giải thích sức mạnh của Lời Chúa.

Các quan tòa, những người cũng có tội như bị cáo, tuyên án tất cả các tù nhân phải chết, phải bị lôi đến nơi hành hình để treo cổ, và sau đó bị mổ bụng và moi ruột ra, rồi chặt cả tay chân họ. Đây đúng là treo lên, câu rút và xẻ thịt từng phần, và chính xác như một vụ đóng đinh trên cây thập giá. Vụ hành hình sẽ diễn ra trên Tháp Hill, đúng ra họ nên đổi tên nó lại thành Đồi Calvary42*. Tôi nghe tuyên án và không hề run sợ vì đơn giản tôi không tin những gì họ nói. Người bạn và cố vấn yêu quý nhất của Hoàng hậu Kateryn bị tùng xẻo vì tội dị giáo. Đó là Thomas Cranmer, người đã xức dầu thánh cho Vua Henry trong phút lâm chung. Ông ấy đã viết Sách Khấn nguyện Chung43*. Làm thế nào ông lại là một kẻ dị giáo cho được? Làm sao con gái của người bạn của ông dám tuyên án mổ bụng, moi gan móc ruột ông ra?

42* . Đồi Calvary, hay Đồi Golgotha, tiếng Do Thái là Gulgōleܪ, nơi Đức Giêsu bị đóng đinh trên cây thập tự.

43* . The Book of Common Prayers.

Đối với tôi, vị trí của tôi còn tồi tệ hơn và cũng trái ngược không kém. Họ tuyên tôi phải chết bằng một trong hai cách, hoặc bị chặt đầu như một kẻ phản bội, hoặc lên giàn hỏa thiêu như một kẻ dị giáo trên Tháp Xanh. Tôi nghe những lời dối trá họ nói và những kiểu chết họ lấy ra đe dọa tôi, nhưng mặt tôi lạnh như băng. Anne Askew, một nữ thường dân, bị thiêu đến chết trên cọc tại Smithfield vì bảo vệ đức tin của tôn giáo chúng tôi. Họ nghĩ rằng Đấng Cứu Chuộc của chúng tôi, Đấng phò trợ cô ấy, sẽ bỏ rơi tôi sao? Họ nghĩ rằng tôi không dám tử vì đạo? Tôi dám đấy – còn họ?

Tôi có đức tin. Tôi nghĩ họ sẽ tuyên án nhưng sẽ trì hoãn cho tới khi mọi thứ trở nên yên tĩnh và mọi người quên đi tất cả, họ sẽ thả hết chúng tôi về nhà: Thomas Cranmer, anh em nhà Dudley, và tôi. Bản án tử hình chỉ là cái cớ để đe dọa người khác câm nín và vâng phục. Đó không phải là số phận của tôi. Tôi sẽ chờ đợi, tôi sẽ học, tôi sẽ không sợ hãi. Thời gian sẽ trôi qua, tôi sẽ được phóng thích và về nhà ở Bradgate. Tôi sẽ lại được ngồi bên bàn làm việc của mình dưới ô cửa sổ mở toang và nghe tiếng chim hót trên những rặng cây và tận hưởng hương thơm của cỏ khô trong làn gió hè. Katherine, Mary và tôi sẽ lại chơi trốn tìm với nhau trong rừng.

“Chị không sợ”, tôi nói với Katherine. “Vâng, thế thì chị điên rồi!”

Tôi nắm tay em ấy làm chiếc áo choàng của em ấy bị kéo mạnh. Cái giỏ em ấy đang đặt trên đầu gối, đầy hoa quả, đong đưa như thể nó là một đứa bé, đứa cháu trai mà em ấy sẽ không bao giờ có từ tôi.

“Chị không sợ, bởi vì chị biết rằng cuộc sống này chỉ là dòng chảy của những giọt nước mắt mà chúng ta phải vượt qua”, tôi nói với em ấy một cách hùng hồn. “Phúc cho những người có đức tin trong anh em, vì đường đến Nước Trời nằm ngay trong lòng anh em. Trên hành trình vượt qua khổ đau, hãy sử dụng nó như một giếng nước và các hồ chứa sẽ được tràn đầy”.

“Gì thế?”, em ấy hỏi trong hoảng loạn. “Chị đang nói gì thế?”.

Tôi kéo em ngồi cạnh tôi trên ghế bên cửa sổ. “Chị đã sẵn sàng”, tôi nói với em ấy. “Chị sẽ không vấp ngã đâu”.

“Hãy xin Nữ hoàng tha tội!”, em ấy buột miệng nói. “Mọi người khác đã làm điều đó. Chị không cần phải từ bỏ tôn giáo của chị, chị chỉ cần nói rằng chị xin lỗi vì cuộc nổi dậy. Bà đã đọc bức thư của chị. Bà biết đó không phải là lỗi của chị. Hãy viết cho bà một lần nữa và nói với bà rằng chị biết mình đã sai, rằng chị sẽ hủy bỏ cuộc hôn nhân của chị, chị sẽ tham dự thánh lễ, và sau đó chị có thể sống yên tĩnh tại Bradgate. Em sẽ sống với chị, và chúng ta sẽ hạnh phúc”.

“Đừng bao giờ nghĩ đó là điều lạ

Dù bây giờ tôi đang gặp họa

Bởi nếu phúc bất trùng lai

Họa sẽ rơi ngay vào bạn”.

Em gái tôi hét lên. “Chị nói gì vậy? Chị vừa nói gì thế?”. “Đó là một bài thơ chị từng viết.”

Em bóp vặn hai tay mình trong đau đớn và bất lực. Tôi cố gắng nắm lấy em ấy, nhưng em ấy giãy ra và đi đến cửa. “Em nghĩ chị điên thật rồi!”, em ấy kêu lên. “Điên vì không biết tìm đường sống!”.

“Linh hồn chị đã ở trên thiên đường”, tôi nói một cách điềm tĩnh. “Không, không phải thế”, em ấy nói bằng sự thông minh sắc sảo của một cô em gái. “Chị nghĩ rằng bà ấy sẽ tha thứ cho chị mà không cần chị xin lỗi. Chị nghĩ rằng chị sẽ giành chiến thắng nơi John Dudley đã thất bại. Chị nghĩ rằng chị sẽ tuyên xưng đức tin của chị và mọi người sẽ ngưỡng mộ chị sao, giống như gia sư Roger Ascham đã làm ư? Và giống như con người kỳ quặc ở Thụy Sĩ ư?”.

Em ấy đã lột trần tôi. Tôi tức điên vì sự xúc phạm đến người thầy tinh thần Henry Bullinger của tôi. “Em đang ganh tị với chị!”. Tôi nhổ vào em ấy. “Em nêu tên những con người vĩ đại, nhưng em chưa bao giờ hiểu được những lời dạy của họ”.

“Ganh tị vì cái gì?”, em ấy lên giọng. “Về chuyện này ư?”. Vừa nói em ấy vừa vung tay chỉ gian phòng thông nhau có trần thấp như ngục thất nhìn ra những khu vườn kín có bức tường thành cao vòi vọi phía xa xa. “Chị đang bị giam cầm, bị kết án tử hình, chồng chị cũng là tử tù. Không có gì để em ganh tị cả! Em muốn sống. Em muốn kết hôn và có con. Em muốn mặc những bộ áo váy đẹp nhất và được khiêu vũ! Em muốn sống. Và em biết chị cũng muốn thế. Không ai muốn chết vì đức tin của họ vào tuổi mười sáu. Đây là nước Anh! Nó là đất nước của người họ hàng Nữ hoàng của chúng ta. Bà ấy sẽ tha thứ cho chị, cũng như bà đã tha thứ cho cha chúng ta. Chỉ cần chị xin bà tha thứ và cho chị về nhà ở Bradgate và cho chúng ta được hạnh phúc! Hãy nghĩ về phòng ngủ của chị và những cuốn sách của chị ở nhà. Hãy nghĩ về dòng sông nơi chúng ta thường đi chơi thuyền trên đó!”.

Tôi quay khỏi em ấy như thể tránh khỏi sự cám dỗ em ấy đang treo trước mặt tôi. Có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu tôi nghĩ em ấy là một sự cám dỗ trần tục, một vật hình mặt người bé xíu, chứ không phải là một cô gái tóc vàng xinh đẹp với những ước muốn đơn giản và những hy vọng ngốc nghếch. “Không”, tôi nói. “Bởi, những ai muốn cứu mạng mình, thì sẽ mất; còn những ai sẵn sàng từ bỏ mạng sống vì Ta, thì sẽ được”.

Tôi nghe thấy tiếng rít khe khẽ khi em ấy đối mặt với cánh cửa và đấm vào nó để mở ra. Em ấy không được dạy cách tranh luận như tôi được dạy từ tấm bé; em ấy học nhưng không hiểu. Dường như em ấy chẳng thuyết phục được tôi trong bất cứ chuyện gì, ôi, cô em gái ngốc nghếch của tôi. Nhưng tôi cảm động bởi những giọt nước mắt của em ấy. Tôi sẽ an ủi em ấy nếu tôi có thể, nhưng tôi đã được ơn kêu gọi. Tôi không quay sang em ấy, nhưng tôi nhắc nhở em ấy rằng:“Vì ta đến để tạo ra con trai chống cha, và con gái chống lại mẹ chồng mình”.

“Mẹ”, em ấy nói, tiếng nói như tắt nghẹn phía sau tay áo của em ấy. Em ấy đang lau nước mắt. Tôi ngạc nhiên khi thấy mình ôm vai em ấy và xoay người em ấy lại đối mặt với tôi. “Em vừa nói gì?”.

“Mẹ”, em lặp lại. “Đó là con trai chống lại cha và con gái chống lại mẹ mình, chứ không phải mẹ chồng mình! Chị nói sai vì chị ghét Phu nhân Dudley. Câu chị trích dẫn vừa rồi cho thấy điều đó, Jane. Đây không phải là Lời của Đức Chúa Trời. Đây là cách chị cố lấy lại phần mình đối với nhà Dudley. Chị hy vọng rằng Nữ hoàng sẽ tha thứ cho chị mà không cần thay đổi đức tin của chị, và sau đó thì, John Dudley, người đã chết vì từ bỏ đức tin của mình, trông như một kẻ hèn nhát và một kẻ dị giáo còn chị thì can đảm mạnh mẽ hơn ông ấy”.

Tôi nổi cơn thịnh nộ trước lối suy nghĩ đơn giản của em ấy. “Chắc chị phải tử vì đạo vì sự ngu ngốc của em mất! Em chẳng hiểu gì cả! Thật ngạc nhiên khi em biết Kinh Thánh, nhưng em sử dụng nó một cách sai lầm để lung lạc đức tin của chị. Hãy biến đi ngay, và đừng trở lại đây nữa”.

Em ấy quay sang tôi và đôi mắt xanh của em ấy long lên sự tức giận đặc trưng của dòng họ Tudor. Em ấy có niềm tự hào của dòng họ chúng tôi, cũng như tôi vậy. “Chị không xứng đáng với tình yêu em dành cho chị”, em ấy nói bằng thứ logic ngớ ngẩn của riêng mình. “Nhưng dù chị thế nào em vẫn yêu chị. Bởi vì em thấy những rắc rối chị đang mắc vào nhưng vì chị quá thông minh nên không nhận ra”.

THÁP LONDON

THÁNG 02 NĂM 1554

Tôi nghĩ Nữ hoàng sẽ phóng thích tôi vào Lễ Giáng sinh, nhưng mười hai đêm đến rồi đi và trong khi phần còn lại của vương quốc bị buộc phải chào mừng sự ra đời của Chúa bằng một Thánh lễ Latin. Tôi ca ngợi Chúa như một Kitô hữu ngoan đạo bằng những lời cầu nguyện và ăn năn, soi chiếu tâm hồn. Không có người ngoại giáo nào mang theo cây thông xanh, không có diễn kịch hay sùng bái thần tượng, và không có thức ăn hay đồ uống thừa mứa. Thật ra, tôi không nghĩ rằng trước đây tôi từng giữ nề nếp Giáng sinh tốt đến mức này – cả ngày tôi hoàn toàn dành để cầu nguyện và suy ngẫm về sự ra đời của Đấng Cứu Chuộc, và đọc Kinh Thánh. Không có quà tặng hay tiệc tùng và đó là cách tôi luôn muốn để tận hưởng mùa Giáng sinh. Tôi chưa bao giờ được cho phép một sự thanh sạch biệt lập thế này trước kia. Tôi rất vui khi được ở một mình và ăn chay cầu nguyện.

“Nhưng làm chi mà khổ thế!”, Katherine than vãn. Em ấy đến từ nhà chúng tôi ở London, mang theo những món quà của cha mẹ tôi, và một cái mũ trùm đầu mới từ tủ quần áo của riêng em ấy. “Jane, chị không có được dù chỉ một nhành cây nhựa ruồi sao? Thậm chí cũng không có lấy một khúc gỗ Noel trong lò sưởi nữa?”.

Em ấy thả ra một chú chim cổ đỏ đã được thuần dưỡng mà em mang theo. Nó bay đến đậu ngay trên cái dầm đỡ phía trên cửa sổ và cất tiếng hót lảnh lót như hỏi rằng tại sao không có cây thông và nhạc Giáng sinh.

Tôi không buồn trả lời mà chỉ liếc nhìn xuống em ấy cho đến khi tôi nhìn thấy đôi môi em ấy run rẩy và phát ra những tiếng nói yếu ớt: “Nói đi, chị có thấy mình quá cô độc không?”.

“Không!”, tôi đáp, dù sự thật là tôi rất cô độc.

“Chị phải nhớ chúng em chứ, những đứa em của chị, nếu chị không thèm nhớ mẹ của chúng ta.”

“Chị bận học”. Nhưng việc đó không thay thế cho các cuộc trò chuyện được, dù là những cuộc nói chuyện vui đùa ngốc nghếch của những cô gái ngây thơ. “Nhưng, em nhớ chị”, em ấy mạnh dạn nói, thế rồi em ấy sà vào lòng tôi và úp khuôn mặt đầy nước mắt vào cổ tôi khóc nức nở. Tôi không đẩy em ấy ra mà càng ôm chặt em ấy hơn nữa. Tôi không nói “Chị cũng nhớ em” vì e rằng điều đó khiến cả hai chúng tôi cùng khóc nhiều hơn. Ngoài ra, tôi đang sống như một tông đồ của Chúa. Tôi không nên nhớ nhung gì cả. Tôi đã có Kinh Thánh bên mình nên tôi không cần gì khác. Nhưng tôi vẫn giữ chặt em ấy, như thể tôi đang ôm một con chó con: cảm giác được an ủi mặc dù vô nghĩa.

“Em có một bí mật muốn kể với chị”, em ấy nói, gò má ướt đẫm chạm vào tai tôi.

“Kể đi!”. Chúng tôi không ở một mình nhưng người hầu của tôi đang ngồi ở một khoảng cách vừa phải, bên cạnh cửa sổ lấy ánh sáng để may vá. Vì vậy, Katherine có thể thì thầm vào tai tôi và cô ta sẽ nghĩ rằng chúng tôi đang ôm nhau khóc tỉ tê.

“Cha đang lập một đạo quân”. Tin này đến với tôi như sét đánh ngang tai. Tôi hầu như không nghe hết lời em ấy. Tôi cố giấu nét mặt thảng thốt của mình và hỏi. “Để cứu chị?”.

Tôi trông như thể đang khóc trên vai Katherine mặc dù tôi phải kiềm chế bản thân để không nhảy cẫng lên vì vui sướng. Tôi luôn biết rằng cha tôi sẽ không để tôi ở đây. Tôi luôn biết rằng nếu mẹ tôi không thể thuyết phục được Nữ hoàng Mary thả tôi ra, thì cha tôi sẽ lấy tôi lại bằng vũ lực. Tôi luôn biết rằng không ai trong họ chịu để tôi ở đây. Tôi là con gái cả của họ, và là người thừa kế Nữ hoàng Anh quốc. Tôi không phải không là gì cả và có thể dễ dàng bị lãng quên.

“Có nguy hiểm lắm không?”, tôi hỏi.

“Ồ, em không nghĩ thế”, em gái tôi thì thầm. “Không ai muốn Nữ hoàng Mary nữa. Không phải từ bây giờ khi bà ấy kết hôn với hoàng tử Tây Ban Nha”.

Tâm trí tôi quay cuồng. Tôi không biết gì về điều này. “Bà ấy kết hôn à?”. “Với Philip của Tây Ban Nha.”

“Liệu sẽ có một cuộc nổi dậy chống lại ông ta không? Và họ sẽ đưa chị lên ngôi thay cho bà ấy!”

“Em nghĩ vậy”, Katherine nói, vẻ mơ hồ. “Em nghĩ kế hoạch là thế”.

“Đó không phải là cuộc nổi dậy vì Elizabeth, đúng không?”. Tôi hỏi, đột nhiên nghi ngờ.

“Ồ, không”, em ấy nói. “Elizabeth đã trở thành một tín đồ Công giáo La Mã. Em ấy đã yêu cầu Nữ hoàng gửi các thánh giá và chén thánh cho nhà thờ của mình, và em ấy đã cho các giáo sĩ của mình mặc áo thụng và áo lễ”.

Ngốc như Katherine cũng không thể hiểu sai những dấu hiệu như thế này. “Em có chắc chắn rằng cha sẽ đến cứu chị không?”.

Em ấy gật đầu. Em ấy đã nắm rõ thực tế này. “Em chắc chắn”.

Chúng tôi buông nhau ra và mắt em ấy sáng lên, má em ấy đỏ bừng. “Hãy đem chú chim đi với em”, tôi cảnh báo em ấy. “Em biết chị không thích chúng mà”.

Chờ được giải cứu, biết rằng người cha thần thánh và trần tục sẽ không quên đứa con gái yêu của mình làm tôi như thể đang đứng bên bờ vực của cuộc phiêu lưu lớn. Nó soi sáng những ngày tối tăm trong nơi giam cầm của tôi và làm cho lời cầu nguyện của tôi tha thiết hơn và ngập tràn hy vọng hơn là tâm trạng hối lỗi và mong được tha thứ. Tôi biết, tôi luôn biết một cách chắc chắn rằng, dân tộc Anh, sau khi được tự do hành động, tự do suy nghĩ, và tự do cầu nguyện trực tiếp với Đấng Cứu Chuộc của mình, sẽ không bao giờ trở lại làm nô lệ tâm trí và linh hồn cho Giáo hội Công giáo La Mã. Tôi luôn biết rằng họ sẽ đứng lên chống lại những kẻ phản Kitô ngay khi mọi thứ rõ ràng với họ rằng đức tin của họ đã bị phản bội. Đó chỉ là vấn đề thời gian, đó là vấn đề đức tin. Tôi phải chờ đợi và kiên nhẫn, như Ngài đã luôn kiên nhẫn.

Và hơn thế nữa: Tôi có thể cảnh báo Nữ hoàng Mary rằng bất cứ người chồng nào cũng muốn chiếm vương miện – vì điều đó vừa xảy ra với tôi. Đó là điều Guildford đã làm ngay khi họ vừa tuyên phong tôi là nữ hoàng. Người họ hàng Nữ hoàng mười một tuổi của chúng tôi, Nữ hoàng Mary của Scotland đang ở Pháp, sẽ nhận ra rằng vị hôn phu của mình rồi cũng sẽ chiếm đoạt quyền lực của cô, ngay khi anh ta đủ tuổi. Đức Chúa Trời đã đặt người chồng trên vợ mình. Họ sẽ lập tức tuyên bố vị trí của họ mặc dù vợ họ là nữ hoàng và phải được đặt cao hơn họ. Nữ hoàng Mary có thể đủ lớn để làm mẹ tôi nhưng tôi cảm thấy phải nói với bà ấy: đó là những gì đàn ông sẽ làm. Họ kết hôn với một phụ nữ ở vị trí cao hơn và ngay lập tức họ đố kỵ với vị trí của vợ, và ngay lập tức họ tiếm quyền vợ mình. Đây là lý do tại sao vương quốc này chưa bao giờ có nữ hoàng, mà chỉ có các quan nhiếp chính khi nhà vua đi vắng. Đây là lý do tại sao không có nữ công tước nào trong Hội đồng Cơ mật. Nếu một người đàn ông giành được vinh quang, thì đó là của anh ta; nếu một người phụ nữ chiến thắng, thì đó là của chồng cô ấy. Đây là lý do tại sao Nữ hoàng xử tử John Dudley, nhưng để tôi lại. Bà ấy đã đọc những gì tôi viết; bà ấy thấy rằng ngai vàng được tôi thừa kế nhưng ông ta đã tuyên bố nó cho con trai mình. Bà ấy phải lập tức biết rằng tôi có thể đúng nhưng Guildford lại tham lam. Lẽ ra tôi có thể cảnh báo bà ấy rằng bất cứ người chồng nào cũng ăn cắp quyền lực của bà ấy và rằng người Anh sẽ không bao giờ chấp nhận một ông vua Tây Ban Nha. Bà ấy trị vì chưa được tám tháng nhưng đã tự hủy hoại mình. Tôi rất lấy làm tiếc cho bà ấy, nhưng tôi không hề hối hận về việc cha tôi đang dấy binh chống lại bà ấy.

Tôi chờ đợi thời khắc được giải cứu, nhưng nó không đến. Tôi đợi Katherine đến và kể tôi nghe những chuyện đang xảy ra, nhưng cô ấy cũng không đến thăm tôi. Bỗng nhiên, tôi không được phép đi bộ trong vườn hay trên tầng thượng của tòa tháp, nhưng không ai cho tôi biết tại sao. Ban ngày bầu trời xám xịt, sương mù vây lấy mặt sông và mây sà xuống thấp. Tuy nhiên, tôi cũng không muốn đi bộ trong vườn, tôi nói với bà Partridge. Mùa này trong năm không gì phát triển được, cây cối thì trụi lá, thảm cỏ thì không còn gì ngoài bùn đất. Cũng không cần ai cấm đoán tôi. Tôi bị giam cầm bởi chính tiết trời đông lạnh giá, chứ không phải theo ý muốn của Nữ hoàng. Bà Partridge mím môi và không nói gì.

Tôi nghe thấy tiếng la hét và tiếng súng nổ từ đâu đó trong thành phố. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là cha của tôi, người đang dẫn quân đến cứu tôi. Những cuốn sách của tôi được xếp gọn gàng trên bàn, giấy tờ được buộc với nhau cẩn thận, tôi đã sẵn sàng để rời đi.

“Có chuyện gì thế?”, tôi bình thản hỏi bà Partridge.

Bà ấy làm dấu thánh như một cử chỉ tự nhiên để xua đuổi những điều xui xẻo.

“Chúa tha tội cho bà!”. Tôi nói ngay lập tức khi nhìn thấy cử chỉ khủng khiếp đó. “Bà làm gì mà vẫy tay kỳ quặc thế? Cử chỉ đó có tốt lành gì cho ai nào? Tại sao bà không vỗ tay xua đuổi quỷ Satan trong khi bà đang bị nó ám?”.

Bà ấy nhìn thẳng vào mắt tôi. “Tôi đang cầu nguyện cho cô” là tất cả những gì bà ấy đáp, và rời đi.

“Chuyện gì đang xảy ra thế?”, tôi hét lên. Nhưng bà ấy đã đóng sập cửa lại sau lưng mình.

Tháp London thứ năm, ngày 8 tháng 2 năm 1554

Tôi có một vị khách đến thăm. Đó là John Feckenham, người sùng bái thần tượng, thể hiện qua chiếc áo choàng lễ bằng len dài màu kem của ông ta, buộc chặt nơi thắt lưng bằng một chiếc nịt da, và một chiếc mũ trùm đầu màu trắng mà ông trẩy ngược lại sau đầu từ khuôn mặt vuông đỏ bừng của mình. Một tu sĩ dòng Benedict đến thăm tôi, kẻ tôi tớ hèn mọn của Chúa.

Ông ta thở hổn hển khi leo cầu thang phòng tôi. “Dốc đứng!”, ông ta cố giữ lấy hơi và nói được đúng một lời, rồi cúi đầu chào tôi. “Thưa Phu nhân Dudley, tôi đến để nói chuyện với cô, nếu cô cho phép”. Ông ta có âm giọng mạnh, giống anh hàng thịt hay bán sữa, chứ không giống như giọng nói tinh tế của các thầy học từ trường Cambridge của tôi. Ý nghĩ ấy làm tôi mỉm cười, như thể những người chăn bò mà đi giảng đạo.

“Tôi không cần sự hướng dẫn của người mù trong bóng tối”, tôi điềm tĩnh nói.

“Tôi có tin tức quan trọng cho cô”. Thật ra, nhìn ông ta như đang cúi đầu khi phải nói bất cứ điều gì với tôi. Tôi nghĩ về cha tôi, người đang trên đường đến đây với tôi, dẫn đầu đạo quân của mình, và tôi nghe có sự sợ hãi trong lòng. Tôi mong rằng không có gì sai. Nhưng chắc chắn là, nếu có gì trục trặc, họ đã không gửi đến cho tôi một linh mục dị giáo lạ lùng. Tại sao lại gửi đến một cố đạo dị giáo béo tốt có khuôn mặt tròn và giọng nói không bình thường? Chắc hẳn đó là để sỉ nhục tôi.

“Ai bảo ông báo tin cho tôi?”, tôi hỏi. “Ai bắt ông phải nhọc công lê thân lên đây báo tin tức quan trọng cho tôi?”.

Ông ta thở dài như thể đang buồn phiền và muốn nổ tung. “Tôi không ở đây để tranh luận lý lẽ với cô”, ông ta nói. “Hội đồng đã ra lệnh cho tôi báo tin cho cô và chính Nữ hoàng đã ra lệnh tôi đến giải phóng cô khỏi sự mê tín mà cô đang sa vào”.

“Để giải phóng tôi khỏi sự mê tín mà tôi đang sa vào ư?”, tôi lặp lại một cách lạnh lùng.

“Vâng.”

“Ông có bao nhiêu thời gian?”, tôi bật cười.

“Không nhiều”, ông ta trầm lặng đáp. “Họ đã xác nhận án tử hình của cô. Tôi rất tiếc. Cô sẽ lên đoạn đầu đài vào ngày mai. Chúng ta không còn nhiều thời gian, thưa Phu nhân Dudley”.

Tôi cảm thấy choáng váng vì những lời này. Tôi không thở nổi; bụng của tôi, vốn luôn nhộn nhạo bên trong, bỗng nhiên yên ắng lạ thường. Tôi dám nói rằng tim tôi hoàn toàn ngừng đập.

“Cái gì? Ông vừa nói gì?”

“Cha rất xin lỗi, con của cha”, ông ta nhẹ nhàng nói.

Tôi nhìn khuôn mặt to rộng, đỏ bừng của ông ta. “Gì cơ?”.

“Cô và phu quân của cô, Guildford Dudley, sẽ bị hành hình. Ngày mai.” Tôi thấy nước mắt ông ta rơi xuống. Những giọt nước mắt, sự vụng về, khuôn mặt đỏ au, và hơi thở nặng nề của ông ta còn thuyết phục tôi hơn cả những lời ông ta vừa nói.

“Ông nói là khi nào? Khi nào hả?”

“Ngày mai”, ông ta đáp. “Tôi có thể nói chuyện với cô về phần hồn bất tử của cô không?”.

“Ồ, đã quá trễ rồi”, tôi nói. Tôi không thể nghĩ thông suốt; có tiếng ồn trong tai tôi và tôi nhận ra đó là tiếng đập gấp gáp của trái tim tôi. “Ồ, không còn đủ thời gian để tham dự vào nhiều thứ như thế. Tôi không nghĩ... Tôi không nghĩ rằng...”. Sự thật là, tôi không nghĩ rằng Nữ hoàng họ hàng của tôi lại trở nên tham tàn như thế này; nhưng tôi thấy rằng thứ tôn giáo sai lạc của bà ấy đã làm bà ấy loạn trí mất rồi, như nó đang làm nhiều người điên loạn.

“Tôi có thể yêu cầu họ cho tôi thêm thời gian để cứu chữa linh hồn cô”, ông ta hy vọng. “Tôi có thể nói với họ những gì chúng ta trao đổi với nhau. Tôi có thể bảo đảm với họ rằng cô có thể ăn năn hối cải”.

“Được”, tôi nói. “Được rồi”. Thêm một ngày có thể cho cha tôi thêm thời gian để đến cứu tôi. Tôi phải sống để ông có thể cứu tôi. Mỗi ngày trôi qua ông càng đến gần hơn, tôi biết điều đó. Ông sẽ không làm tôi thất vọng. Tôi không được làm ông thất vọng. Thậm chí ngay lúc này có thể cha tôi đang chiến đấu ở phía nam dòng sông. Tôi phải ở đây khi ông dẫn quân băng qua cầu tiến vào Tháp.

THÁP LONDON

THỨ SÁU, NGÀY 9 THÁNG 2 NĂM 1554

John Feckenham xuất hiện vào lúc bình minh như ông ta đã hứa, mang theo hộp bánh thánh, rượu nho, chén thánh, khăn choàng lễ, nến, trầm hương, những thứ đồ gỗ và đồ chơi mà ông ta có thể mang ra làm rối trí những kẻ nhẹ dạ cả tin như một gã lang băm miệt vườn mua vui cho lũ trẻ ngốc nghếch. Tôi nhìn chiếc hộp gỗ rồi nhìn vào khuôn mặt lương thiện của ông ta.

“Tôi không định cải đạo để giữ lấy cái đầu trên cổ tôi đâu nhé!”, tôi nói. “Tôi đang nghĩ về linh hồn tôi”.

“Tôi cũng vậy”, ông ta từ tốn nói. “Và Nữ hoàng đã cho chúng ta ba ngày để nói về thần học”.

“Tôi luôn thích nghiên cứu và tranh luận.”

“Vậy hãy trao đổi với tôi ngay bây giờ”, ông ta nói. “Hãy giải thích cho tôi những gì cô hiểu từ những lời rất thánh này... Ngươi hãy cầm lấy mà ăn, này là mình ta phải chịu thương tích vì ngươi. Hãy làm điều này mà nhớ đến ta”.

Tôi suýt phì cười. “Ông không nghĩ rằng tôi luôn tranh luận về ý nghĩa của điều này gần như suốt cuộc đời tôi sao?”.

“Tôi biết điều đó”, ông ta đáp, giọng chừng mực. “Tôi biết cô được nuôi dưỡng trong lầm lỗi, người em gái khốn khổ của ta”.

“Tôi không phải em gái ông”, tôi sửa ông ta. “Tôi chỉ có hai em gái. Nếu tôi có một anh em trai thì bây giờ tôi đã không ở đây”.

Tôi nghe thấy tiếng loảng xoảng của lính canh tại Cổng Sư tử và tiếng ồn ào của nhiều người đang tiến vào Tháp. Tôi nghe tiếng hô đứng lên, và tiếng xôn xao của những người gác ngục. Tôi biết rằng tôi nhìn có vẻ thảng thốt.

“Tôi muốn nhìn xem...”

Ông ta không nhúc nhích khỏi chỗ ngồi của mình nên tôi cho rằng ông ta biết họ đang dẫn giải ai vào Tháp. Tôi bước nhanh tới cửa sổ và nhìn qua khu vườn. Tôi nhận ra cha tôi, người cha tội nghiệp của tôi, và một đoàn người tơi tả, tay bị trói, vũ khí biến mất, không còn ngựa và rõ ràng bại trận.

Tôi quay lại Feckenham. “Cha tôi bị bắt à?”, tôi hỏi. “Ông đến đây để cho lời khuyên nhưng ông đã không nói với tôi điều này, điều mà tôi không biết, nhưng tôi cần phải biết!”.

“Ông ấy lại phản bội”, ông ta nói thẳng. “Ông ấy và Ngài Thomas Wyatt đã cố dẫn quân tiến vào London”. “Để cứu tôi!”, tôi nói trong cơn giận dữ bất ngờ ập đến. “Ai dám trách ông vì đã cố cứu con trong khi tôi bị tuyên án tử và vì ông đã yêu tôi cho đến trọn đời? Tôi là đứa con được yêu quý của ông, sùng đạo như ông và hiểu biết như ông. Làm sao một người như thế lại để con gái mình chết mà không vươn tay cứu? Không ai có thể đòi hỏi ở ông điều gì nhiều hơn thế”.

Chúng tôi im lặng trong giây lát. Tôi đối mặt với ông ta, mặt tôi đỏ bừng đầy nước mắt, còn ông ta có vẻ phật ý, giống như một gã hàng thịt chuyên ăn gian từng miếng xúc xích ngoài chợ. Ông ta gục đầu xuống và mớ tóc nhuốm bạc chảy dài trên đôi má nọng phính của ông ta.

“Ông ấy không đứng lên vì cô”, ông ta nói khẽ, và những lời ông ta nói tựa như một hồi chuông báo tử. “Không phải vì cô, phu nhân thân mến ạ. Ông ấy nổi dậy để đưa Công chúa Elizabeth lên ngôi. Và vì thế họ sẽ xử tử ông ấy. Cha rất lấy làm tiếc, con của cha ạ”.

“Ông dấy quân vì Elizabeth sao?”, tôi không thể tin được. Tôi từng nhiều lần bảo cha tôi Elizabeth là loại người nào rồi cơ mà. Tại sao ông lại đứng lên vì dì ấy, đức tin của dì ấy thật mong manh và làm khách nhà dì ấy thật không đáng tin cậy.

“Vâng!”

“Nhưng tại sao lại giết tôi khi cha tôi dấy binh ủng hộ Elizabeth?”, tôi thì thầm. Và rồi, tâm trí tôi bỗng mở ra: “Điều này vô lý! Thật phi lý!”.

Một nụ cười mỉa mai trên miệng ông ta như nói với tôi rằng ông ta đồng ý là thế. “Các cố vấn Tây Ban Nha của Nữ hoàng muốn chứng minh rằng không ai có thể sống sót nếu chống lại họ”, ông ta tự sửa lại, “chống lại Nữ hoàng”.

Tôi không quan tâm. Tất cả những gì tôi quan tâm là cha tôi. “Ông không đến đây vì tôi ư? Ông không bao giờ có ý định cứu tôi? Tất cả vì Elizabeth, chứ không phải vì tôi ư?”.

Feckenham biết rằng đây là điều tồi tệ nhất. “Lẽ ra cô đã được thả, tôi chắc chắn là thế”. Ông ta nhìn thấy miệng tôi trễ xuống và những giọt nước mắt giận dữ tuôn ra. “Chúng ta không biết âm mưu này cho đến khi họ thừa nhận. Chúng ta hãy cầu nguyện cùng Cha trên trời, Đấng yêu thương con hết mực, Người luôn ở bên cạnh con”.

“Vâng”, tôi nói trong vụn vỡ, và chúng tôi quỳ gối cùng đọc Kinh Lạy Cha44* bằng tiếng Anh, lời cầu nguyện mà chính Chúa Giêsu đã dạy, rằng Đức Chúa Trời là “Cha của chúng tôi”. Tôi có một Cha trên trời dù có thể tôi không có cha trên mặt đất. Feckenham cầu nguyện bằng tiếng Latin, còn tôi cầu nguyện bằng tiếng Anh. Tôi không nghi ngờ gì về việc ông ấy và tôi đều được Chúa lắng nghe.

44* . Kinh Lạy Cha (Pater Noster) là lời cầu nguyện được biết đến nhiều nhất trong Kitô giáo. Mặc dù có nhiều quan điểm thần học, đức tin và sự tôn kính khác nhau làm chia cắt tín đồ Kitô giáo song phần lớn họ đều cho rằng Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện do chính Chúa Giêsu dạy.

Tháp London thứ bảy, ngày 10 tháng 2 năm 1554

Họ buộc tội cha tôi và ông sẽ bị xét xử về vai trò của mình trong kế hoạch đó. Đó là một âm mưu tạo phản lớn và suýt thành công. Họ định đưa Elizabeth lên ngai vàng và kết hôn với Edward Courtenay, anh em họ của Plantagenet, một trong những người thuộc dòng tộc chúng tôi và là một trong những con chiên ngoan đạo của chúng tôi. Tất nhiên, Elizabeth từ chối mọi hiểu biết trong chuyện này. Được dạy dỗ chu đáo như thế, bà ấy đã dễ dàng chứng minh mình vô tội một cách ngoạn mục. Nhưng âm mưu này đã khiến người dì họ của chúng tôi, Nữ hoàng Mary45*, phải xem tất cả các cô gái trong dòng họ đều là mối đe dọa: cả Elizabeth em bà, tôi, Katherine, thậm chí cả Mary46*, Margaret Douglas và Mary xứ Scots47* ở Pháp – bất cứ ai trong chúng tôi đều có thể được tôn phong làm Nữ hoàng Anh Quốc hơn bà. Tất cả chúng tôi đều có cơ hội ngang nhau, và tất cả chúng tôi đều đáng ngờ.

45* . Tức Mary Tudor (1516 - 1558) hay Mary I, Nữ hoàng Anh và Ireland từ tháng 07/1553 – 17/11/1558, chị gái của Elizabeth Tudor (1533 - 1603) và Vua Edward III (1537 – 1554). Elizabeth Tudor kế vị chị gái mình là Mary I làm Nữ hoàng Anh và Ireland từ 17/11/1558 – 24/03/1603, ngày bà qua đời.

46* . Tức Mary Grey, em gái út của Jane Grey và Katherine Grey.

47* . Mary xứ Scots (1542 - 1587) là con của Hoàng hậu Mary xứ Guise (1515 - 1560 ) và Vua James V (1512 – 1542) của Scotland.

Tôi đau đớn đến mức khi có tiếng gõ cửa và John Feckenham bước vào, tôi như trút đi một gánh nặng. Khuôn mặt đỏ au của ông ta nhăn nhở một nụ cười, cặp lông mày to đậm của ông ta nhướng lên như thể e rằng mình không được chào đón.

“Vào đi”, tôi nói cộc lốc. Tôi hít một hơi và nói những gì tôi đã chuẩn bị: “Vì tôi đã được ban cho những ngày này để nói chuyện với ông, mặc dù tôi có than khóc vì gánh nặng này, tôi xem đó là sự tuyên xưng Thiên Chúa vì những sự tốt lành hơn bao giờ hết mà Ngài đã dành cho tôi”.

“À, cô đã chuẩn bị kỹ”, ông ta nói, ngay lập tức nhận ra lời mào đầu của tôi cho một cuộc tranh luận mới. Ông ta đặt cuốn sách của mình lên bàn và tự ngồi xuống, như thể ông ta biết rằng việc đấu tranh với phần hồn của tôi sẽ là công việc đầy khó khăn đối với một kẻ dị giáo lầm lạc như ông ta.

THÁP LONDON

CHỦ NHẬT, NGÀY 11 THÁNG 2 NĂM 1554

Mẹ tôi và Katherine được phép vào thăm cha tôi. Katherine để cha mẹ chúng tôi ở lại một mình với nhau – như họ luôn muốn thế – và đến phòng tôi.

Em ấy không biết phải nói gì với tôi. Tôi không có gì để nói với em ấy. Chúng tôi ngồi trong im lặng, nhìn nhau. Em ấy khóc thút thít, chốc chốc lại nấc nghẹn sau ống tay áo. Vì em ấy ngồi rất gần và nhìn tôi chằm chằm với đôi mắt ngấn nước, tôi không thể học, viết hay cầu nguyện gì cả. Tôi thậm chí cũng không suy nghĩ được gì. Tôi như bị cuốn vào niềm hối tiếc, nỗi sợ hãi và đau buồn của em ấy, giống như bị rơi vào thùng bơ vậy. Tôi cảm thấy mình như bị lên men. Tôi không muốn trải qua ngày cuối cùng của mình như thế này. Tôi muốn viết một bài phản biện những gì tôi và John Feckenham đã trao đổi với nhau, về sự chiến thắng của tôi trước suy nghĩ sai lạc của ông ta. Tôi muốn chuẩn bị thật kỹ bài phát biểu của mình khi lên đoạn đầu đài. Tôi cần suy nghĩ một cách lý trí chứ không để bị cuốn vào những cảm xúc như thế này.

Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng ồn ào của những chiếc xe ngựa chở gỗ tới dựng đoạn đầu đài và những người thợ đang hét nhau tìm kiếm đồ nghề của mình và hướng dẫn những chiếc xe ngựa đi vào bãi cỏ. Theo từng tiếng va chạm của gỗ vào những viên đá lót đường, từng tiếng cưa và từng tiếng búa nện, người Katherine run lên bần bật, khuôn mặt xinh xắn của em ấy trắng bệch như sữa đã tách kem, đôi mắt của em ấy càng tăm tối hơn.

“Chị sẽ chết để bảo vệ đức tin của chị”, tôi nói với em ấy.

“Không, chị chết vì cha đã tham gia cuộc nổi dậy chống lại Nữ hoàng”, em ấy bật ra thành lời. “Chứ không phải vì lỗi của chị!”.

“Đó có thể là những gì họ nói”, tôi trả lời một cách điềm tĩnh. “Nhưng Nữ hoàng đã quay lưng lại với những người theo chính đạo đến nước Chúa và phá vỡ lời hứa của mình rằng mọi người có quyền tự do tín ngưỡng theo ý chí của riêng họ. Bà ấy đang ném đất nước này vào tay của Tòa thánh La Mã và giới quý tộc Tây Ban Nha. Vì vậy, bà ấy quay lưng lại với chị vì đức tin của chị và đó là lý do tại sao chị sẵn sàng tử vì đạo”.

Katherine vỗ vào hai tai mình. “Em không nghe theo kẻ phản bội”. “Em không bao giờ chịu nghe bất cứ điều gì!”

“Cha đã đánh mất tất cả”, em ấy nói. “Chúng ta sẽ bị hủy diệt”.

“Của cải thế gian. Chỉ là những thứ ngoại thân thôi em ạ! Chúng không có nghĩa gì đối với chị”, tôi nói.

“Bradgate! Bradgate mà không có ý nghĩa gì với chị sao? Sao chị lại nói thế? Đó là nhà của chúng ta mà!”

“Em nên hướng tâm trí mình đến nhà của Cha chúng ta ở trên trời.” “Jane”, em ấy van nài, “hãy nói với em một điều tốt đẹp, một điều mến thương giữa hai chị em chúng ta trước khi em tạm biệt chị!”.

“Không!”, tôi đáp cụt ngủn. “Chị phải giữ vững tâm trí cho cuộc hành trình và đích đến huy hoàng sắp tới của chị”.

“Chị muốn gặp Guildford trước khi chết chứ? Anh ấy yêu cầu được gặp chị. Chồng của chị ấy? Chị có muốn hai người ở bên nhau lần cuối không? Anh ấy muốn nói lời tạm biệt với chị đấy!”

Mất hết kiên nhẫn, tôi lắc đầu trước tình cảm ủy mị đến bệnh hoạn của em ấy: “Không! Không đời nào! Chị không muốn gặp ai khác ngoại trừ Feckenham”.

“Một linh mục Dòng Benedict à?”, em ấy rít lên. “Tại sao chị lại gặp ông ta mà không phải là Guildford?”.

“Vì Feckenham biết chị là một người tử vì đạo”, tôi đáp nhanh. “Trong tất cả, chỉ có ông ấy và Nữ hoàng Mary hiểu rằng chị chết vì đức tin của mình. Đó là lý do tại sao chị sẽ chỉ gặp ông ấy mà thôi. Đó cũng là lý do tại sao ông ấy sẽ đi cùng chị đến đoạn đầu đài”.

“Nếu chị thừa nhận rằng chuyện này không liên quan gì đến đức tin của chị mà chỉ là cuộc bạo động của cha chúng ta vì Elizabeth – thì chị sẽ không phải chết!”.

“Đó là lý do tại sao chị sẽ không nói chuyện với em hay Guildford”, tôi bất ngờ nổi điên không còn ra thể thống gì nữa. “Chị sẽ không nghe bất cứ ai muốn chị xem đây là sự điên loạn của một kẻ xuẩn ngốc dẫn đến cái chết của con gái mình, một con tin bị giam cầm. Vâng! Lẽ ra cha đã cứu được chị, nhưng thay vào đó ông lại đứng lên vì một con tin khác và thất bại của ông đã đem án tử đến cho chị!”. Tôi bị cuốn vào cơn thịnh nộ và đau buồn. Tôi lớn giọng và gào thét với em gái tôi. Tôi nghĩ rằng mình cần phải bình tĩnh lại. Tôi phải bình tâm. Đó là lý do tại sao tôi không thể tranh luận về những thứ vật chất thấp hèn với những người trần tục. Đó là lý do tại sao tôi không thể chịu đựng được khi nhìn thấy em ấy, hay bất cứ ai trong số họ. Đó là lý do tại sao tôi phải suy nghĩ chứ không cảm nhận.

Em ấy nhìn tôi, mắt và miệng mở to. “Cha đã hủy hoại chúng ta”, em ấy thều thào.

“Chị không chết vì điều đó”, tôi rít lên. “Chị là kẻ tử vì đạo, không phải vì một tai nạn ngu ngốc. Chị sẽ không bao giờ chết, và cha cũng sẽ không bao giờ chết. Cha và chị sẽ gặp nhau trên thiên đàng”.

Tôi viết cho cha tôi. Tôi luôn biết rằng Người không bao giờ chết và giờ đây tôi đang bắt đầu cuộc hành trình của mình. Tôi tin rằng tôi sẽ gặp ông vào cuối hành trình.

Con nguyện cầu Chúa ban phước lành cho cha... dù Chúa đã đẹp lòng khi lấy đi hai đứa con của cha, chồng của con và chính bản thân con. Nhưng xin cha đừng nghĩ rằng cha đã mất chúng con, mà hãy tin rằng chúng ta, khi từ giã cõi đời trần thế này, sẽ được sống đời đời. Về phần con, như con hằng tôn vinh ân sủng Người, con sẽ cầu nguyện cho cha từ một thế giới khác.

THÁP LONDON

THỨ HAI, NGÀY 12 THÁNG 2 NĂM 1554

Hai trong số những người hầu của tôi, bà Ellen và Elizabeth Tylney, đứng cạnh tôi nơi cửa sổ, chờ đợi tin tức xác nhận rằng người chồng mới cưới được tám tháng rưỡi của tôi đã chết. Họ kéo tôi ra khỏi cửa sổ rồi ôm lấy vai tôi như thể tôi vẫn còn bé bỏng, như thể tôi không nên nhìn thấy sự thật. Viên phó quan cai quản Tháp, John Brydges, đang đứng ở cửa, mặt nghiêm nghị cố làm ra vẻ không cảm thấy gì. “Để cho tôi xem”. Tôi vung vai khỏi họ. “Tôi không sợ chết”. Tôi muốn họ biết rằng ngay cả trong vực sâu tăm tối của tử thần tôi cũng không sợ hãi. Tôi muốn họ biết rõ điều đó.

Chúa phù trợ tôi, nhưng tôi vẫn bị sốc khủng khiếp khi chiếc xe đẩy lạch cạch quay lại từ đoạn đầu đài Tháp Hill và đi ngang qua ô cửa sổ của tôi. Tôi biết chồng tôi đã bị chặt đầu, nhưng tôi không mường tượng được rằng phần cơ thể không đầu sẽ ngắn hơn những gì tôi nhớ về anh ấy. Thật đáng thương, giống như quang cảnh lò sát sinh nơi những gã đồ tể cắt cổ, lột da, xẻ thịt những con thú đẹp đẽ. Chỉ có duy nhất một người đàn ông được nằm trên giường của tôi, người đối với tôi như một mối hiểm họa, nhưng quyền lực. Anh ấy nằm đó, bị cắt rời, giống như một cuốn sách bị cấm với những chương hồi bị hủy bỏ. Họ úp khuôn mặt đẹp trai của anh vào một cái giỏ và ném xác anh lên mớ rơm vấy máu. Tôi không được chuẩn bị cho cảnh kinh dị này. Tôi luôn nghĩ chết là được về nơi ánh sáng của niềm hạnh phúc vĩnh hằng, chứ không phải trong trạng thái không khác gì một con vật bị giết mổ, đầy máu, hay sự cứng đờ của một cơ thể quen thuộc.

“Guildford”, tôi thầm gọi tên anh ấy như nhắc nhở chính mình rằng đó là chàng chứ không phải một người đóng thế nào cả.

Tên đao phủ, trong bộ áo choàng đen và mũ trùm đầu cao màu đen càng làm cho cái đầu vô diện của hắn ta trông càng chết chóc, bước đi nặng nề phía sau cổng hậu. Chiếc xe đi vào nhà nguyện, tên đao phủ tiến lên đứng cạnh cái đoạn đầu đài mới được dựng lên trên bãi cỏ, hai tay khoanh trước ngực trên cây rìu của anh ta, đầu cúi xuống. Bắt đầu rồi đấy! Tôi nhận ra rằng hắn ta ở đây, không phải là một phần của cuộc hành xác Guildford, mà với một mục đích khác. Hắn đến để chặt đầu tôi. Mặc dù tôi nghĩ rằng mình đã sẵn sàng cho cái chết, nhưng nó vẫn làm tim tôi ngừng đập. Thời khắc của tôi đã điểm. Dù bất công – phải nói là vô cùng phi lý và mâu thuẫn – giờ đến lượt tôi bị thu nhỏ, bị làm cho nhỏ bé lại, bị chặt đầu.

Tôi dừng lại để viết vào cuốn kinh nguyện cho John Brydges. Tôi viết rất dài và bị lạc lối trong khoảnh khắc cuối cùng này. Tôi là chính mình. Ngôi Lời không bao giờ chết. Tôi nghĩ: Ban đầu là Ngôi Lời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời là Ngôi Lời. Tôi hiểu rằng thân thể của tôi sẽ chết nhưng lời nói của tôi vẫn sống. Thi thể đầy máu của Guildford làm tôi run rẩy – nhưng tôi vẫn tin rằng Ngôi Lời không bao giờ chết. Gia sư và người hướng dẫn tôi, Hoàng hậu Kateryn Parr hiểu điều này. Bà đối mặt với cái chết không chút sợ hãi. Tôi cũng sẽ làm đúng như vậy.

“Bởi vì ta, một người vô cùng giản dị, khao khát viết một quyển sách để đời”, tôi bắt đầu.

Tôi viết như chưa từng được viết. Tôi nghĩ đó là phẩm giá chân chính. Tôi viết một đoạn, và thêm một đoạn nữa, rồi ký tên. Feckenham nhìn tôi rồi nhẹ nhàng nói: “Cô không thể viết thêm nữa. Đã đến giờ rồi”.

Tôi đã sẵn sàng. Tôi phải sẵn sàng. Không còn gì để viết nữa. Tôi đã viết một bản ghi nhớ những gì tôi đã đàm luận với Feckenham. Tôi đã viết cho Nữ hoàng, cha tôi và cả Katherine. Bây giờ, cuối cùng, tôi viết lời từ biệt và tôi đã hoàn thành công việc của mình. Tôi trong áo choàng đen và cầm quyển kinh nguyện mở sẵn trong tay. “Tôi đã sẵn sàng”, tôi nói và chợt nhận ra sự đê tiện đáng thương, và nói thêm: “Hãy khoan! Chờ đã! Tôi còn một việc phải làm! Chỉ một khắc, một giây, một nhịp đập nữa thôi...”.

John Feckenham dẫn đường và tôi cầm cuốn kinh nguyện của tôi – cuốn kinh nguyện bằng tiếng Anh – trước mặt. Tôi cố gắng đọc nó trong khi bước xuống cầu thang hẹp, qua khu vườn nhỏ, ra khỏi cổng và chầm chậm tiến về đoạn đầu đài trên thảm cỏ. Tất nhiên, tôi không thể nhìn thấy chữ gì trong sách lúc chúng tôi đi xuống cầu thang, hoặc trên đường đi qua khu vườn. Ai có thể làm được điều đó chứ! Nhưng một lần nữa hình ảnh đó cho mọi người thấy rằng tôi đang bước ra đoạn đầu đài với cuốn kinh nguyện – bằng tiếng Anh – mở trên tay trước mặt tôi. Chính Hoàng hậu Kateryn Parr đã dịch những lời nguyện này từ tiếng Latin. Chính tôi đây, người đang bước lên đoạn đầu đài với bằng chứng về sự công chính của mình ngay trong tay tôi. Đây là cơ hội tuyên xưng đức tin. Tôi sẵn sàng chết vì nó. Tôi sẽ chết cho Ngôi Lời trong tay tôi.

Những người hầu của tôi đi theo sau, kẻ khóc nức nở, người khóc sụt sùi. Tôi mong mọi người thấy rằng tôi không khóc lóc như họ. Tôi mong rằng mọi người nhìn thấy tôi đang cầu nguyện trên từng bước đi, cuốn kinh nguyện mở trước mặt, sự hiện diện của tôi rất thánh thiện và cho thấy tôi tin chắc vào sự phục sinh. Tất cả chúng tôi leo lên bậc thang bắc lên đoạn đầu đài và đứng tụm vào nhau trên sàn. Chỉ rất ít người đến để xem cuộc tử vì đạo của tôi. Tôi ngạc nhiên vì số lượng ít ỏi đó. Tôi nói chuyện với họ. Tôi lo rằng giọng tôi sẽ run lên nhưng thực tế không xảy ra như thế. Tôi cầu nguyện cho lòng thương xót và nói với tất cả mọi người một cách rõ ràng rằng tôi sẽ được cứu bởi lòng thương xót của Chúa – chứ không phải nhờ lời cầu nguyện của linh mục hay qua các buổi lễ được trả tiền để hát thánh ca. Tôi xin mọi người cầu nguyện cho tôi trong khi tôi còn sống. Tôi muốn họ hiểu rằng tôi không cần những lời cầu nguyện sau khi tôi chết đi vì tôi sẽ lên thẳng thiên đàng. “Không qua lửa luyện tội”, tôi muốn nói thêm như thế, nhưng mọi người đều biết đó là ý muốn của tôi.

Tôi đọc Kinh Thương xót bằng tiếng Anh, vì Đức Chúa Trời có thể hiểu tiếng Anh và thật là mê tín khi cho rằng Ngài phải được nguyện cầu bằng tiếng Latin. John Feckenham đọc theo tôi bằng tiếng Latin, và tôi nghĩ ngôn ngữ mới đẹp làm sao, mới ngọt ngào làm sao hôm nay, chúng rõ ràng và hòa quyện với nhau trong làn sương mù ẩm ướt cùng bầy hải âu chao lượn gọi nhau inh ỏi trên mặt sông. Tôi nhớ rằng tôi chỉ mới mười sáu tuổi và tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy dòng sông này lần nào nữa. Tôi không thể tin rằng tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy những ngọn đồi của Bradgate lần nữa, hoặc những con đường mà Katherine và tôi thường đi bộ dưới những hàng cây, hoặc được cưỡi con ngựa già của tôi trên cánh đồng, hoặc nhìn thấy con gấu già bị nhốt dưới hầm của tôi. Cuộc cầu nguyện kéo dài một cách kỳ lạ, dường như vô tận, và tôi ngạc nhiên khi nó cuối cùng nó cũng kết thúc và tôi phải tháo bỏ mọi thứ: găng tay, khăn tay và cuốn kinh nguyện của tôi. Các thị nữ của tôi phải chuẩn bị cho tôi về điều này, hình ảnh cuối cùng của hoàng gia. Họ cởi mũ trùm đầu của tôi, được viền bằng những hạt cườm đen, và tháo cổ áo tôi. Đột nhiên, thời gian như vút qua nhanh trong khi tôi có nhiều điều muốn nói, rằng tôi muốn chắc chắn rằng tôi đã thấy trước thời khắc này. Tôi chắc chắn có những lời cuối cùng muốn nói, những kỷ niệm tôi cần ôn lại. Nhưng tất cả mọi thứ bỗng diễn ra quá nhanh.

Tôi quỳ xuống. Tôi nghe giọng nói đều đều của Feckenham bên tai. Thế rồi họ bịt mắt tôi trước khi tôi kịp nhìn thấy những cánh hải âu đang chao liệng trên trời cao. Tôi muốn nhìn thấy các tầng mây, tôi muốn nhìn thấy rõ ràng bầu trời lần cuối. Đột nhiên, tôi biết sợ và tôi đang rơi vào vùng trống rỗng của chiếc băng bịt mắt giữa ban ngày.

“Tôi phải làm gì? Đây là đâu?”. Tôi hét lên trong hoảng loạn, và sau đó có người nắm lấy hai tay tôi đặt lên súc gỗ vuông, cứng, lạnh, gồ ghề và bảo tôi rằng số của tôi đến đây là hết. Thế giới ô trọc là đây. Đây là vật trần tục nhất và cuối cùng trên cõi đời này mà tôi chạm vào. Tôi bấu chặt khối gỗ, thậm chí cảm nhận được cả thớ của nó. Tôi phải cúi xuống đặt đầu tôi vào đó. Tôi nhận ra cái băng đen bịt mắt đã ướt đẫm nước mắt tôi, mềm và nóng, áp chặt bờ mi tôi. Chắc là tôi đã khóc và khóc rất nhiều, nhưng ít nhất cũng không ai nhìn thấy điều đó. Bất kể điều gì xảy ra tiếp theo, tôi tin rằng đó không phải là cái chết, vì tôi sẽ không bao giờ chết.

« Lùi
Tiến »