VƯƠNG TRIỀU TUDOR CUỐI CÙNG

Lượt đọc: 1259 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN II
*KATHERINE*
baynard, london baynard, london

Chị gởi em, Katherine ngoan của chị, quyển sách này. Dù bìa của nó không được dát vàng, nhưng bên trong nó còn quý hơn cả ngọc ngà châu báu. Em ạ, đó là cuốn sách về các quy luật của Đức Chúa Trời: Kinh Thánh và Ý nguyện Cuối cùng48* mà Ngài đã để lại cho chúng ta, những kẻ khốn khổ, để dẫn dắt chúng ta trên con đường đến với niềm hân hoan vĩnh cửu. Nếu em đọc nó bằng một tâm trí tốt đẹp và với lòng sốt sắng cao nhất, nó sẽ đưa em đến cuộc sống đời đời bất tử.

48* . Testament and Last Will.

Nó sẽ dạy em cách sống và hiểu rằng em phải chết... Nó sẽ giúp em có được nhiều hơn là những thứ của cải em sở hữu từ đất đai, tài sản vật chất của cha chúng ta... vì của cải đó rồi sẽ rời khỏi tay em, nếu không phải bởi kẻ trộm thì cũng bởi vì chúng sẽ mục ruỗng đi...

Trong giờ phút lâm chung này, hãy vui mừng vì thân xác chị sẽ mục rữa để được trở nên tinh tuyền, vì chị tin rằng chị thà mất đi cuộc đời trần tục này để được sống hạnh phúc muôn đời.

Tạm biệt em, em gái ngoan của chị, hãy đặt trọn niềm tin vào Chúa, đấng luôn luôn nâng đỡ em.

Chị yêu thương của em,

Jane Dudley

Tôi đọc với nỗi hoài nghi ngày càng lớn về lời dạy này, dù đó là lời từ biệt duy nhất tôi có từ người chị thân thương của mình. Tôi đọc lại lần nữa và lần này tôi tức giận. Tôi thực sự không biết chị ấy nghĩ tôi sẽ làm gì với bức thư đầy thống khổ này. Tôi không biết chị ấy nghĩ bức thư này mang lại điều gì tốt lành cho tôi. Tôi chỉ muốn nói rằng nếu tôi là kẻ sắp chết, tôi sẽ không viết một lá thư như thế cho em gái nhỏ Mary của chúng tôi. Viết thế mà cũng viết! Làm thế nào điều đó có thể an ủi em ấy được chứ? Tôi đọc đi đọc lại dù mắt tôi đau nhức vì khóc đến nỗi tôi không còn nhìn thấy nét chữ nắn nót của chị ấy. Không một chữ nào bị gạch bỏ hay tẩy xóa. Chị ấy không khóc trong khi viết nhưng tôi đang khóc như mưa khi đọc nó. Chị ấy không viết nguệch ngoạc một cách tuyệt vọng trong nỗ lực cuối cùng để nói lời tạm biệt tôi, cô em gái ngưỡng mộ và yêu quý chị ấy biết nhường nào. Chị ấy không bận tâm gì đến việc nói cho tôi biết rằng chị ấy yêu tôi, rằng chị ấy nghĩ về tôi, rằng trái tim chị ấy như vỡ vụn vì chúng tôi sẽ không còn được cùng nhau trưởng thành. Chúng tôi sẽ không còn là những cô gái quyền quý trong cung điện để vui đùa cười nói khúc khích với nhau trước mặt những người ngưỡng mộ chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ được các quý phu nhân đọc truyện cổ tích cho nghe nữa. Chị ấy viết ra những dòng chữ thanh tao này một cách tự nhiên và bằng sự thông tuệ của người có học không một chút ngập ngừng. Tất cả là về Chúa, Đấng Tối Cao, như thường lệ.

Tất nhiên, ngay sau khi đọc lại bức thư lần nữa, tôi biết mình phải làm gì. Tôi không vo tròn và ném nó vào lò lửa trong cơn phẫn nộ vì buồn đau tột độ, dù đó là ý nghĩ đầu tiên đến với tôi. Tôi sẽ làm những gì chị ấy muốn. Chị ấy thậm chí không cần phải nói vì chị ấy biết tôi hiểu rõ. Chị ấy không cần phải hủy hoại sự thánh thiện của mình bằng một hướng dẫn thực hành tầm thường. Tôi biết chị ấy muốn gì mà chẳng cần chị ấy nói ra. Tôi phải gửi bức thư này, một bức thư đầy băng giá không hề đề cập đến tình chị em, cho những người mà chị ấy gọi là những người bạn quan trọng ở Thụy Sĩ để họ in và phát hành nó đến tất cả mọi người. Mọi người sẽ đọc nó và bảo rằng đó là một lá thư tuyệt vời của một con chiên ngoan đạo, rằng cô gái này là một vị thánh. Quả là những lời khuyên nhủ khôn ngoan dành cho em gái mình và chắc chắn rằng đức tin của chị ấy đã đưa chị ấy lên thiên đường. Thật may mắn cho tất cả chúng ta vì được ban phước bằng sự có mặt của chị ấy trên cõi đời này.

Sau đó tất cả mọi người sẽ tung hô ngưỡng mộ Jane và trích dẫn lá thư chết tiệt này mãi mãi. Họ sẽ in nó ở Anh và Đức và Thụy Sĩ như một phần của trí tuệ vĩ đại của Jane Grey, là bằng chứng nói rằng chị ấy là một cô gái trẻ đặc biệt mà sự tưởng nhớ dành cho chị ấy sẽ tiếp diễn từ đời này sang đời khác và cuộc đời chị ấy là một bài giảng sống động cho giới trẻ. Nếu có ai đó nghĩ đến tôi, chắc họ sẽ nghĩ rằng tôi là một cô gái ngu ngốc vô tích sự mới nhận bức thư cuối cùng của một người tử vì đạo. Nếu Mary Magdalene49* đến ngôi mộ trống vào buổi sáng Phục sinh và không nhận ra người làm vườn là Đức Giêsu đã sống lại thì bà ấy đã hủy hoại phép lạ Phục sinh mãi mãi. Tôi sẽ là bà ấy, người đóng vai phụ trong cảnh vĩ đại nhất, nhưng hoàn toàn thất bại trong vai chính của mình. Nếu Mary Magdalene vấp phải đá tảng và nhảy dựng lên ôm lấy ngón chân thì tôi cũng thế. Mọi người sẽ nhớ về Jane hiển thánh chứ không ai nhớ đến tôi – đứa em gái ngu ngốc, người nhận bức thư tuyệt vời cuối cùng của chị ấy. Không ai nghĩ rằng tôi muốn và xứng đáng được nhận một lá thư cuối cùng, một bức thư thích hợp và mang tính cá nhân. Và cũng không ai nghĩ đến cô em gái Mary của chúng tôi, người thậm chí còn không nhận được lời nào từ Jane.

49* . Mary Magdalene: vị thánh nữ được cả Tân Ước quy điển và Tân Ước ngụy thư miêu tả là một môn đệ của Chúa Giêsu. Bà cũng được Công giáo La Mã và Chính Thống giáo Đông phương xem là thánh với ngày lễ mừng vào 22 tháng 7. Tên của bà có nghĩa là “Mary thành Magdala”, một thị trấn nhỏ ở Galile nằm bên bờ tây của hồ Tiberia.

Nếu Jane không chết, tôi sẽ rất tức giận với chị ấy về chuyện này. “Hãy hiểu rằng em phải chết”! Viết thế mà cũng viết, nhất là cho một đứa em gái nhất mực yêu thương chị ấy! Nếu chị ấy còn sống, tôi sẽ đến Tháp ngay bây giờ và đập vào cái đầu bên dưới cái mũ trùm đen của chị ấy và túm tóc chị ấy mà giật vì đã viết một bức thư vô tâm như thế cho em gái mình, là tôi – cho tôi! Lại còn nói tôi nên vui mừng vì đã mất tất cả của cải và nhà cửa, rằng tôi nên vui mừng vì có quyển Kinh Thánh trong tay, là thứ quý hơn cả châu cả ngọc. Làm như thể tôi yêu Kinh Thánh hơn ngôi nhà đáng yêu của chúng tôi. Ôi, Kinh Thánh thay vì Bradgate! Làm như thể ai cũng nghĩ như chị ấy vậy. Làm như thể tôi không thích châu báu và những thứ đẹp đẽ xung quanh và xem chúng quan trọng hơn mọi thứ khác trên đời! Làm như thể chị ấy không biết điều này vậy; như thể chị ấy chưa từng cười nhạo tôi vì sự phù phiếm ngớ ngẩn hàng trăm lần trước đây!

Và rồi tôi nhớ ra, một cơn nấc nghẹn kinh hoàng lạnh ngắt quặn thắt cả lòng tôi khi cái mũ trùm đầu của chị ấy rơi xuống và đầu chị ấy lìa khỏi cổ. Nếu tôi nắm mớ tóc dài của chị ấy mà kéo lên, có lẽ đầu chị ấy sẽ đong đưa như một quả bóng buộc vào đầu một sợi dây thừng. Tôi thấy mình đang gào thét, hơi thở hổn hển và đưa hai tay bịt chặt lấy miệng cho đến khi tôi hoàn toàn bất tỉnh.

Tôi ngủ trong trạng thái kiệt sức cùng cực trên giường của tôi trong căn nhà yên tĩnh. Chồng tôi, Henry, không nằm cùng tôi. Tôi nghĩ anh ta sẽ không bao giờ ngủ cùng tôi. Tôi nghĩ anh ta thậm chí còn bị cấm gặp tôi. Chắc chắn chúng tôi không được ở cùng nhau kể từ khi Nữ hoàng Mary trở lại London trong chiến thắng của mình. Tôi tưởng tượng cả nhà Herbert đang tuyệt vọng ra sức dẹp bỏ cuộc hôn nhân này sang một bên để giải phóng mình khỏi thế bất lợi khủng khiếp khi chị của vợ mình bị chặt đầu vì tội phản bội. Cả nhà họ sẽ viết những lời thú tội và thề rằng họ hầu như không biết gì về gia đình nhà Grey chúng tôi. Mới chín tháng trước đây thôi, đó là một cuộc hôn nhân huy hoàng, tiếp theo là bắt bớ, và bây giờ tôi đang rối như tơ vò. Tôi ở phòng của mình và khi ăn tối tôi phải ngồi cùng bàn với những người hầu. Tôi cúi mặt và mong rằng không ai nói chuyện với tôi, vì tôi thậm chí còn không biết tên của tôi là gì. Liệu tôi có còn là Katherine Herbert hay không? Hay tôi là Katherine Grey như trước kia? Tôi không biết tôi phải là ai, tôi không biết tôi phải nói gì. Tôi nghĩ an toàn nhất là tôi không nói gì cả.

Tôi phải cầu nguyện cho cha tôi nhưng tôi không biết lời cầu nguyện nào được phép. Tôi biết chúng tôi không được cầu nguyện bằng tiếng Anh nữa, và mọi nghi thức liên quan đến thánh lễ cũ đều bị nghiêm cấm. Tôi hiểu tiếng Latin khá tốt – chứ không phải tôi hoàn toàn ngờ nghệch – nhưng thật kỳ quặc khi tôi phải cầu nguyện bằng một thứ tiếng mà hầu hết mọi người không thể hiểu. Vị linh mục đang quay lại cộng đoàn tín hữu của mình và cử hành thánh lễ như thể đó là một bí mật giữa ông và Chúa và điều này thật quái dị đối với tôi, người được nuôi dưỡng và lớn lên trong sự hiệp thông với mọi người và tất cả họ đều cùng dâng bánh mì và rượu. Giờ đây người ta lầm bầm đáp lời vị linh mục, nhưng không chắc chắn gì về những từ ngữ lạ lùng. Không ai biết thần thánh là gì, không ai biết điều gì đúng điều gì sai, và không ai biết tôi là ai – thậm chí cả tôi cũng vậy.

Họ đưa cha tôi ra xét xử và lại buộc tội ông. Tôi nghĩ trước đây Nữ hoàng đã tha tội cho ông một lần, liệu bà ấy có tha tội ông lần nữa? Vì đó là cùng một vụ? Sao lại không? Nếu phản bội không phải là quá tồi tệ lần đầu tiên, nó có tệ hơn nhiều khi lặp lại không? Tôi không gặp mẹ tôi nên không hỏi được liệu bà có hy vọng cứu được chồng mình như lần trước, bởi vì tôi không đi đâu cả. Tôi không rời lâu đài Baynard. Tôi không biết tôi có được phép ra ngoài không, nhưng tôi nghĩ là không.

Không ai hỏi tôi xem tôi có muốn đi đây đó thăm viếng ai không. Không ai dẫn tôi đi bất cứ đâu bằng thuyền hay chí ít mời tôi đi dạo bên ngoài cùng họ. Không ai hỏi liệu tôi có muốn cưỡi ngựa không. Không một ai nói chuyện với tôi ngoài những người hầu. Tôi thậm chí không biết liệu những lính gác ở cổng ngoài có mở cửa cho tôi nếu tôi đi về phía họ. Tất cả những gì tôi biết là: tôi là một tù nhân trong ngôi nhà của chồng tôi. Tất cả những gì tôi biết là tôi đang bị quản thúc tại gia, đối mặt với tội mưu phản. Tuyệt nhiên không ai nói gì với tôi cả.

Thực ra, cũng không có ai đi đâu. Không ai đi ra ngoài ngoại trừ cha chồng tôi, người hay vội vội vàng vàng khoác lên mình chiếc áo choàng đẹp nhất và gấp rút vào triều để ngồi vào hội đồng xét xử rất nhiều người là đồng minh của ông chỉ mới vài tuần trước. Giờ đây họ bị buộc tội mưu phản và bị treo cổ từng người một tại mọi ngã tư trong thành. Chính Elizabeth, người em cùng cha khác mẹ với Nữ hoàng Mary, người thừa kế, theo tất cả những gì tôi biết, kẻ mưu phản giấu mặt kín nhất, cũng bị nghi ngờ phản bội. Tôi e rằng họ cũng sẽ chặt đầu cô ấy. Vì họ dám chặt đầu Jane, người ngay từ đầu không bao giờ muốn nhận ngai vàng, nên tôi thấy họ không có lý do gì phải do dự khi chặt đầu Elizabeth, người luôn muốn có vương miện, vốn là một kẻ hư hỏng, vô tích sự và là trung tâm của mọi chuyện đàm tiếu.

Thậm chí tôi cũng không gặp Mary. Em ấy đang ở nhà chúng tôi ở London, Lâu đài Suffork cùng với mẹ tôi. Tôi không gặp bất cứ ai ngoại trừ cha chồng tôi và người được gọi là chồng tôi trong bữa ăn tối và tại nhà nguyện, nơi chúng tôi cầu nguyện bốn lần một ngày, lẩm bẩm những từ ngữ kỳ lạ hết lần này đến lần khác cho đến lúc lên đèn dưới ánh chiều tà. Họ không nói chuyện với tôi, nhưng cha chồng tôi nhìn tôi như thể ông ấy rất ngạc nhiên vì tôi vẫn còn ở đây, và ông ấy không hiểu tại sao.

Tôi không cho ông ấy có lý do gì để than phiền. Tôi làm ra vẻ ngoan đạo như thể tôi là một nữ tu dòng kín – một nữ tu dòng kín rất e dè. Đó không phải lỗi của tôi! Tôi sinh ra và được nuôi dưỡng trong tôn giáo Cải cách và tôi học tiếng Latin để học hành tấn tới, chứ không phải để lẩm bẩm nói theo mấy ông linh mục. Tôi biết ngữ pháp Latin, nhưng tôi không bao giờ thuộc được những lời cầu nguyện bằng thứ tiếng này. Vì vậy, các bài Thánh vịnh và các ơn phước cũng vô nghĩa đối với tôi như thể chúng bằng tiếng Do Thái cổ. Tôi cúi đầu thì thầm những lời nghe rất thành kính. Tôi đứng lên quỳ xuống và làm dấu thánh theo mọi người xung quanh. Nếu không vì quá đau buồn, chắc tôi sẽ chán đến chết đi được. Khi họ thì thầm với tôi, ngay trước lễ Matins, rằng cha tôi đã bị chặt đầu cùng với những kẻ phản bội khác, tôi cảm thấy kiệt sức hơn là bất hạnh, và tôi không biết phải cầu nguyện thế nào cho cha. Tôi nghĩ rằng vì Nữ hoàng Mary lên ngôi, ông phải qua luyện ngục50* và chúng tôi cần xin lễ cho linh hồn ông được mau lên thiên đàng. Nhưng tôi không biết phải xin lễ ở đâu trong khi các các tu viện vẫn đóng cửa im lìm. Tôi không biết có thật là có luyện ngục hay không, vì chị Jane của tôi nói rằng không có nơi nào như thế cả.

50* . Purgatory: Luyện ngục hay Tòa luyện tội, nơi nằm giữa thiên đàng và địa ngục, dành cho những linh hồn cần được “thử thách, tôi luyện” thêm trước khi được lên thiên đàng.

Tôi chỉ cảm thấy rất, rất mệt mỏi vì điều này, và tất cả những gì tôi thực sự quan tâm là khi nào tôi có thể ra ngoài, và khi nào tôi mới được hạnh phúc trở lại. Tôi nghĩ rằng điều này có nghĩa là tôi, như Jane nói, hoàn toàn không có ân điển của Chúa Thánh Thần. Trong khoảnh khắc, tôi nghĩ tôi sẽ nói với chị ấy rằng chị ấy đã đúng và tôi là một kẻ phàm tục, và buồn một cách không thể lý giải. Nhưng rồi tôi nhớ ra rằng tôi sẽ không bao giờ còn được nói với chị ấy về bất cứ điều gì thêm một lần nào nữa, và có lẽ đó là lý do tại sao tôi buồn.

Thật không thể tin nổi, mẹ tôi – người không có chút gì là thiên thần trên đời này – lại đem đến một phép màu thực sự. Bà tham dự không ngừng nghỉ các buổi thiết triều, cầu xin Nữ hoàng rằng chúng tôi, những nạn nhân vô tội với tham vọng của cha tôi, rằng gia đình nhỏ còn lại của ông ấy, đáng được tha thứ. Mẹ tôi van nài thiện ý của Nữ hoàng như thể đó là một con nai sừng tấm, để rồi cuối cùng mang nó ra bờ vịnh và cắt cái cổ họng lông lá của nó. Một khi Jane đã mất và không còn là trung tâm bất đắc dĩ của bất kỳ cuộc nổi loạn nào, một khi cha tôi đã chết và đã được chôn, Nữ hoàng sẽ trả lại chúng tôi một trong những ngôi nhà của chúng tôi, Beaumanor, gần Công viên Bradgate, và toàn bộ công viên Loughborough đẹp đẽ đầy muông thú của chúng tôi, và chúng tôi được sống giàu có một lần nữa.

“Còn con gấu thế nào?”, tôi hỏi mẹ khi bà nói với tôi về sự xá tội phi thường này.

“Con gấu nào?”

“Con gấu Bradgate. Con gấu mà con đã thuần hóa. Liệu chúng ta có được đưa nó đến Beaumanor?”

“Lạy Chúa, chúng ta đang cách đoạn đầu đài chỉ một gang tay thôi và con thì đang nói với mẹ về con gấu! Chúng ta đã mất cả nó và Bradgate, mất cả bầy chó săn và đàn ngựa. Chúng sẽ vào nhà người nào được Nữ hoàng sủng ái. Cuộc đời mẹ tan nát hết rồi, mẹ là một góa phụ đau khổ tột cùng, còn con thì đang nói với mẹ về con gấu?”

Nếu là Jane, chị ấy sẽ đứng lên và quả quyết rằng con gấu phải đi cùng chúng tôi đến Beaumanor. Tôi không dám làm thế. Tôi không có đủ từ ngữ như chị ấy và tôi không thể nói với mẹ rằng tôi cảm thấy con gấu, cũng như con khỉ Nozzle và mọi sinh vật sống khác, đều đáng được để mắt tới và phải được xem xét, là phù hợp với lòng yêu thương. Tôi muốn nói với bà rằng tôi cũng đau khổ cùng cực, nhưng tôi không thể tìm ra từ ngữ thích hợp và dù gì thì bà cũng không quan tâm. “Đi qua nhà Herbert đi!”. Bà hét lên. “Đi mà dọn đồ đạc của cô ra khỏi nhà họ”.

BEAUMANOR, LEICESTERSHIRE

MÙA XUÂN NĂM 1554

Chỉ đến khi về tới nhà tôi mới nhận ra rằng chúng tôi đã được an toàn, vì lưỡi hái tử thần vừa sượt đầu chúng tôi. Mary, mẹ tôi và tôi, khỉ Nozzle và mèo Ribbon, bầy ngựa và bầy chó săn (nhưng không có con gấu) về nhà nhưng không hẳn là nhà. Đó là một ngôi nhà khác cạnh công viên, đủ gần để nhìn thấy những chiếc ống khói cao của ngôi nhà cũ của chúng tôi, để nhớ về ngôi nhà cũ của chúng tôi. Nhưng dù sao chúng tôi vẫn còn sống. Dù sống cùng nhau nhưng chúng tôi cãi cọ triền miên, điều đó cho thấy chúng tôi vẫn còn có thể nói chuyện với nhau, còn có thể nghe thấy nhau, và chúng tôi được an toàn.

Chúng tôi may mắn – may mắn hơn nhiều so với những người khác. Cha tôi không bao giờ trở về nhà, và tôi sẽ không bao giờ gặp lại chị gái tôi. Họ đã chôn từng phần thân thể chị trong nhà nguyện. Elizabeth người dì bà con chúng tôi bị đưa vào Tháp như một tù nhân bị nghi ngờ mắc tội mưu phản trong cuộc nổi dậy do Thomas Wyatt và cha tôi lãnh đạo. Chỉ có Nữ hoàng mới có quyền phóng thích Elizabeth, hoặc máu của dòng họ Tudor lại đổ xuống thảm cỏ xanh, nhưng bà không nói gì. Chắc chắn tôi sẽ không bao giờ đến đó dù tôi có thể giúp. Không bao giờ! Không bao giờ!

Tôi rất vui được ở cách xa London một cách an toàn nhưng tôi ước chúng tôi có thể trở về Lâu đài Bradgate của chúng tôi. Tôi nhớ phòng của chị Jane và cái thư viện đầy sách của chị ấy, còn Nozzle thì nhớ phòng ngủ của tôi và chiếc giường nhỏ xinh của nó trên ghế bên dưới cửa sổ. Tôi nhớ con gấu tội nghiệp. Thật nhẹ nhõm khi thoát khỏi sự im lặng đáng sợ trong ngôi nhà của gia đình Herbert, và tôi biết rằng cuộc hôn nhân của tôi đã được đặt sang một bên và có thể bị lãng quên như thể nó chưa từng xảy ra. Mary, mẹ tôi và tôi sống cùng nhau như ba kẻ sống sót của một đại gia đình năm người. Adrian Stokes, người chăn ngựa của chúng tôi, đi cùng chúng tôi đến Beaumanor. Ông ấy lo xẻ thịt nấu nướng cho chúng tôi, chăm sóc mẹ tôi và cư xử tốt với Mary và tôi. Ít ra tôi có thể ngồi dưới gốc cây nơi Jane và tôi thường ngồi đọc sách, nghe tiếng chim sơn ca hót trên cành cao vào lúc hoàng hôn, còn mẹ tôi có thể phi ngựa vòng quanh và đi săn như thể mọi chuyện chưa từng xảy ra, như thể bà không bị mất chồng và con gái, như thể tôi chưa bao giờ có một người chị gái.

BEAUMANOR, LEICESTERSHIRE

MÙA HÈ NĂM 1554

Vào giữa mùa hè, mẹ tôi đã đạt được nhiều kết quả khả quan hơn: Bà vận động cho Mary và tôi được gọi vào triều và cả ba chúng tôi trở thành những người tùy tùng của vị Nữ hoàng đã hành quyết cha và chị gái tôi. Chúng tôi trở lại triều đình như những người họ hàng được chào đón, và không ai trong chúng tôi, kể cả em Mary, có chút nghi ngờ nào về điều này. Tôi hoàn toàn loại bỏ ý nghĩ ấy ra khỏi đầu. Nếu nghĩ về nó chắc tôi phát điên mất. Mẹ tôi chứng tỏ hằng ngày sự trung thành và tình thân thích của bà với người họ hàng Nữ hoàng yêu quý của mình. Bà luôn gọi “Người họ hàng yêu quý nhất của tôi” mọi lúc mọi nơi để đảm bảo rằng không ai quên rằng chúng tôi có quan hệ máu mủ với nhau; chúng tôi thuộc dòng dõi hoàng gia nhưng không đòi quyền thừa kế.

Không ai được quên những người họ hàng khác: Elizabeth hư đốn, giờ đang bị quản thúc tại Woodstock; Mary Stuart, người ngoại quốc ở Pháp, được đính ước với thái tử nước Pháp; và Margaret Douglas, người kết hôn với một bá tước và được Nữ hoàng ưu ái hơn bất kỳ người nào khác trong số chúng tôi, vì đức tin Công giáo được tuyên xưng rộng rãi của bà.

Thật đẹp mặt khi nhìn thấy sự lo lắng lúc những người họ hàng chúng tôi chuẩn bị vào ăn tối. Elizabeth lẽ ra phải ở đây, đi theo sau người chị gái cùng cha khác mẹ. Cô ấy là người thừa kế được chỉ định theo di nguyện của Vua Henry, và Nữ hoàng Mary không thể thay đổi điều đó. Bà ấy đã nghe lời xúc xiểm mà tước quyền thừa kế của Elizabeth, nhưng họ nói với cô ấy rằng Nghị viện sẽ không bao giờ chấp nhận điều đó. Tại sao Nghị viện lại đồng ý giết Jane nhưng không đồng ý tước quyền thừa kế của Elizabeth, chỉ có họ, trong những cuộc nghị bàn đáng sợ của họ, mới có thể trả lời. Nhưng dù sao, Elizabeth vẫn đang bị giam cầm và có lẽ cô ấy sẽ không bao giờ trở lại cung điện lần nào nữa.

Thế rồi Nữ hoàng đứng vào chỗ của mình ở đầu hàng, cách biệt tất cả những người phụ nữ khác. Đó là một dáng người nhỏ bé, thấp đậm quấn đầy nhung lụa, khuôn mặt vuông đăm chiêu căng thẳng. Chờ đã! Còn đây là mẹ tôi, trên người đeo đầy trang sức, luôn trong bộ áo váy màu ngọc bích (như một tuyên bố hùng hồn rằng “Tôi là một Tudor”, cho đến kẻ điếc đặc cũng phải nhận ra). Bà đứng hàng kế vị tiếp theo sau Elizabeth – và vì tình trạng hiện tại của Elizabeth nên bà gần như đứng ngay sau lưng Nữ hoàng. Hãy khoan! Không ai dám hình thành một đám rước cho đến khi những chỗ đầu tiên này được điền vào đầy đủ – người cuối cùng bước vào, nói đúng hơn là một cú phóng nước đại nặng nề, luộm thuộm của Quận chúa Margaret Douglas, trước đây được gọi là đứa con hoang đàng của Hoàng hậu Margaret xứ Scots cùng đức ông chồng51* to lớn của bà. Trước đây là thế, bởi vì bây giờ bà ấy là người thừa kế hợp pháp – Nữ hoàng Mary đã tuyên bố như vậy, Đức Giáo hoàng cũng nói như thế. Sự thật không thành vấn đề; điều quan trọng là những gì mọi người nói. Nếu bà ấy là người thừa kế hợp pháp, và là con gái của Hoàng hậu Margaret xứ Scots52*, thì bà ấy sẽ đứng trước mẹ tôi, con gái hợp pháp của Mary53*, Vương hậu Pháp quốc. Nhưng theo ý Đức Vua, ông chọn chúng tôi làm người thừa kế tiếp theo, và di chúc của Vua Edward cũng vậy... Vì vậy, ai biết ai sẽ là người thừa kế tiếp theo? Ai biết ai là người được xếp ngay sau Nữ hoàng? Không phải tôi, chắc chắn không phải tôi.

51* . Tức Archibald Douglas (1489 – 1557), Bá tước xứ Angus.

52* . Tức Margaret Tudor (1489 – 1541), chị gái Đức Vua Henry VIII.

53* . Tức Mary Tudor (1496 – 1533), vợ của Vua Pháp Louis XII.

Không phải mọi người chờ để đi ăn tối, mà đó là một cuộc tỉ thí thầm lặng. Quận chúa Margaret, người Thừa kế Hợp pháp, thường thô bạo chen ngang phía trước tôi, lúc đó tôi hơi lùi lại với sự nấn ná giả tạo nhưng cho rằng đó là lối cư xử thích hợp. Bà ấy là người được Nữ hoàng Mary sủng ái, ngoan ngoãn với Tòa thánh La Mã và cực kỳ trung thành với người họ hàng hiện đang là Nữ hoàng. Bà là một phụ nữ đẫy đà với mái tóc dày màu tro được quấn cẩn thận dưới cái mũ trùm đầu kiểu cũ. Bà dành cả cuộc đời mình khi thịnh khi suy với các triều vua trước, trong cũng như ngoài Tháp, và bà thường đi bằng đầu gối để kiếm một chỗ cho mình. Đứng cạnh bà, tôi trông như một cô con gái sắc sảo của bà, có lẽ là cháu gái thì đúng hơn. Tôi nhìn cân đối, dịu dàng, mười ba tuổi, là cháu gái thuộc hàng thừa kế chân chính và hợp pháp của Nữ hoàng Tudor nổi tiếng xinh đẹp của nước Pháp. Tôi bước lùi lại kèm theo tiếng thở dài có phần kiên nhẫn – tôi quý phái gấp trăm lần bà – cùng với một tiếng “Hứ” được nuốt vào bên trong.

Bà ấy và mẹ tôi bước đi so kè xàn xạt với nhau, khuỷu tay liền khuỷu tay, nắm đấm liền nắm đấm như hai võ sĩ đấu vật hằng đêm trên bãi cỏ làng. Nữ hoàng Mary liếc nhìn về phía sau, nở nụ cười và quẳng ra một lời cho một trong hai người bọn họ và thế là trật tự được thiết lập. Thế là chúng tôi có thể tiến lên đi ăn tối.

Mary, em gái tôi, thị nữ nhỏ bé nhất trên thế giới, đi cùng với tôi như thể chúng tôi là bạn nhảy với nhau. Chúng tôi nhìn đẹp đôi đến mức không ai nhận ra rằng em ấy quá bé nhỏ so với bất kỳ người nào khác. Họ cười trêu ghẹo và cưng nựng em ấy. Họ bảo mẹ tôi rằng bà phải cho em ấy ăn thịt thú rừng và thịt nướng nhiều hơn để em ấy mau lớn. Không ai nghĩ rằng có điều gì đó trục trặc với em ấy, còn mẹ tôi thì chẳng nói gì. Sau khi mất đi đứa con gái tinh anh nhất của mình, bà không định đánh giá thấp hai đứa còn lại. Tôi thấy Mary thỉnh thoảng để mắt đến gã lùn trong hoàng cung, Thomasina, như một chú mèo con nghịch ngợm thách thức một con mèo trưởng thành nhỏ bé. Thomasina, người đàn ông trưởng thành với chiều cao chưa đầy một mét hai nhưng rất đỗi kiêu kỳ, hoàn toàn không ngó ngàng gì tới Mary.

Lần đầu tiên khi tôi gặp cha con nhà Herbert, chúng tôi như những kẻ xa lạ. Cuộc hôn nhân của tôi đã bị hủy bỏ như thể nó chưa từng xảy ra, và không ai trong số họ nói với tôi một lời. Ngài Bá tước xứ Pembroke cúi đầu chào như thể ông ta không hề nhớ tôi là ai. Con trai ông ta, Henry, khẽ nghiêng đầu tỏ vẻ hối tiếc đôi chút. Tôi làm ngơ cả hai.

Tôi không quan tâm đến họ, tôi không quan tâm bất cứ chuyện gì trong cung. Tôi lại trở thành một thành viên trẻ của hoàng tộc. Tôi đã được phục hồi địa vị. Thật khó mà tin rằng tôi từng có một người chị tên Jane vì không ai nhắc tới chị ấy. Tôi không còn cha, tôi không còn chị Jane. Mary và tôi giờ là những người hầu cận trung thành của Nữ hoàng Mary, và mẹ tôi tháp tùng bà ấy đi khắp nơi như người em họ được sủng ái của bà và là một phu nhân cao quý trong triều. Tôi có phòng riêng trong cung của Nữ hoàng, còn Mary ngủ cùng phòng với các thị nữ khác. Chúng tôi được thừa nhận là cháu họ của Nữ hoàng. Chúng tôi kết bạn mới và những người đồng hành mới.

Tôi gặp Janey Seymour, em gái của Ned Seymour, anh chàng đẹp trai được hứa hôn với chị Jane của tôi từ thuở nào. Tôi thích Janey ngay lập tức. Đó là một cô gái thông minh, một người uyên bác như chị Jane; cô ấy thậm chí biết làm thơ với vần điệu rất hay. Cô ấy rất biết đùa và hài hước. Cô hạ gục tôi ngay lập tức như một người bạn lý tưởng: cô ấy xinh đẹp như tôi và học thức như Jane. Cô từng hy vọng làm em chồng của Jane. Cô ấy là người duy nhất trong triều nhắc đến chị Jane. Chúng tôi cùng chia sẻ sự mất mát, và bây giờ chúng tôi làm bạn với nhau.

Hai chúng tôi tâm đầu ý hợp về mọi thứ. Chúng tôi cùng ngấm ngầm phản đối khi nữ hoàng chấp nhận lời cầu hôn từ một người nhỏ hơn bà mười một tuổi và ngàn lần đẹp hơn bà, Hoàng tử Philip điển trai chói lòa của Tây Ban Nha, người đến Anh cùng với một đoàn tùy tùng đẹp trai đến ma quái làm cả đám thị nữ chúng tôi choáng váng vì khao khát, phát rồ vì ngưỡng mộ.

Tất cả họ đều giàu có, họ giàu có một cách không thể diễn tả được, không thể tưởng tượng được! Một cô gái không nên bị chê trách vì âm thầm học một vài từ tiếng Tây Ban Nha và cầu mong sao một trong những quý ông kia, bất cứ ai trong số họ, để ý đến cô. Những chiếc áo choàng của họ đều được thêu dệt bằng những sợi chỉ vàng, chỉ bạc thật. Họ đeo dây chuyền vàng quanh cổ như thể chúng thay cho khăn quàng. Mũ miện của họ được khảm ngọc trai, họ đeo hồng ngọc mà như đeo hạt lựu, và mỗi một người trong số họ đều có một mặt dây chuyền hình thánh giá khổng lồ kỳ quặc đeo trễ xuống ngực trên lớp vải lanh hoặc đeo cao tận cổ một cách hãnh diện. Tôi không ngăn được nụ cười mỉm khi nghĩ rằng nếu Jane nhìn thấy cảnh này, chị ấy sẽ rùng mình vì sự phô trương của cải vật chất lẫn những thứ dị giáo chỉ qua một hành động phù phiếm này. Tôi càng nhớ Jane da diết khi tôi nhớ lại đôi mắt màu hạt dẻ to rộng của chị, khuôn mặt kinh hoàng tột độ của chị và cả cái bĩu môi bất đồng của chị ấy.

Các thị nữ trong cung Nữ hoàng Mary thì thầm với nhau rằng liệu họ có muốn kết hôn với một trong số những quý ông đẹp trai này và sang Tây Ban Nha sống mãi mãi hay không. Tôi nghĩ rằng – vâng, tôi muốn. Chúa biết tôi muốn được thế. Tôi không muốn gây rắc rối cho bản thân về tội dị giáo và sự công chính. Tôi muốn được khiêu vũ và đeo một viên ngọc nho nhỏ trên tay. Tôi muốn ai đó yêu tôi, tôi muốn cảm thấy được sống, tôi muốn cảm thấy mình sống điên cuồng trong từng khoảnh khắc mỗi ngày, vì tôi đã thấy một cô gái có thể dễ dàng và nhanh chóng chết đi như thế nào. “Hãy biết rằng em phải chết!”. Tôi đã học được điều đó; và tôi chỉ muốn sống. Janey Seymour nói rằng trái tim tôi đập gấp gáp như của cô ấy, rằng cả hai chúng tôi phải sống với tốc độ phi nước đại. Chúng tôi còn trẻ và chúng tôi phải tận hưởng mọi thứ ngay lập tức. Cô ấy nói đó là lý do con người ta cần trẻ trung và xinh đẹp – không giống như Nữ hoàng, người gần bốn mươi tuổi và chậm chạp như một con ngựa lùn già béo núc bị bỏ ngoài đồng cỏ quá lâu.

Hôn lễ của Nữ hoàng với Hoàng tử Philip của Tây Ban Nha diễn ra tại lâu đài Winchester và bà có một sự xuất hiện kém cỏi trước công chúng. Trông bà nhợt nhạt với những dây thần kinh nổi rõ trên da. Khuôn mặt nhỏ bé vuông vức của bà chốc chốc lại cau có giống như người cha trái tính của mình mỗi khi bà cảm thấy lo lắng. Bà đứng hệt kiểu của cha mình trong những bức chân dung trông phát khiếp của ông ấy, đôi chân bà dang rộng dưới bộ váy đầm dày, hung hăng như một con gà mái đẻ. Trời đất ơi! Thật là một cô gái già kiên định! Tôi biết đó không phải là lỗi của bà – họa có ngốc tôi mới nghĩ rằng một người phụ nữ phải bị trách cứ vì không còn trẻ và xinh đẹp – và tất nhiên tôi thích mình cũng được trẻ và đẹp, hoặc chí ít cũng là một trong số chúng. Tuy nhiên, bà cũng đã phục sức tốt nhất có thể trong ngày cưới của mình. Bà vận hoàng bào bằng vàng, hai tay áo đính kim cương – và rồi chúng tôi bắt đầu hồi hộp chờ đợi xem liệu bà có thể sinh hạ cho ông ta một đứa con trai hay không.

Cung điện Hampton mùa hè năm 1555

Trong khi đang trải qua thời kỳ thai nghén mệt mỏi dưới thời tiết nóng nực, Nữ hoàng Mary đã tìm thấy chút độ lượng trong tim mình và đã tha thứ cho người em gái khó chịu của bà. Bà cũng xiêu lòng trước sự thuyết phục của chồng bà, Hoàng thân Philip, và phóng thích Elizabeth khỏi Cung điện Woodstock. Người họ hàng thân thiết của chúng tôi, Elizabeth, bước vào triều, trang phục khiêm tốn với chiếc mũ trùm đầu nhỏ trên mái tóc nâu đỏ. Cô ấy phục sức kiểu Tin lành Kháng cách đen trắng, đáng yêu và nhiệt tình như bất kỳ quý cô quá lứa lỡ thì nào.

Sự hiện diện của Elizabeth làm tăng thêm một vận động viên nước rút trong cuộc đua nhằm chiếm vị trí đầu tiên phía sau Nữ hoàng mỗi khi bà đi bất cứ đâu. Nhưng chắc chắn là, mặc dù Elizabeth có thể tranh được vị trí đó, nhưng cô ấy không nên xem rằng thế là mình có cơ hội được chọn làm người thừa kế tiếp theo của Nữ hoàng. Đơn giản là sự có mặt của cô ấy nhắc nhở mọi người về cuộc chia tách tôn giáo, vì mọi người đều biết rằng Elizabeth theo đạo Tin lành giống như chị Jane của tôi.

Khi triều đình chuyển đến Oatlands, mẹ tôi trở về nhà Beaumanor mà không có lời báo trước với tôi hay Mary. Bà vứt bỏ bộ áo đen và cưới Adrian Stokes, người từng phục vụ chúng tôi và chăm sóc cho những con ngựa và chó săn của gia đình chúng tôi thuở nào. Mary nói rằng mẹ chúng tôi không có đủ tiền để trả lương cho ông ta nhưng cũng không thể thiếu sự chăm sóc của ông ta đối với lũ ngựa. Còn tôi thì nghĩ rằng bà rất vui vì thoát được cái họ Grey, vốn được xưng tụng trong mọi cuốn sách nhỏ về những nhà cải cách bất hợp pháp, và nổi tiếng khắp các cộng đồng Cơ đốc giáo. Cưới Adrian Stokes, bà có thể chôn vùi cái họ phản bội mà bà phải mang với người chồng trước và đứa con gái theo tôn giáo Cải cách của mình và giả vờ, như mọi người khác, rằng họ chưa bao giờ tồn tại. Tất cả đều tốt cho bà. Bà trở thành Phu nhân Stokes (mặc dù tôi biết bà luôn yêu cầu được gọi là Quận chúa Frances và nhận những cái cúi chào sâu kiểu hoàng gia), còn tôi vẫn là Quận chúa Katherine Grey. Mary vẫn là Quận chúa Mary và không có cách nào để thay đổi tên của chúng tôi trừ phi ai đó kết hôn với chúng tôi. Không có dấu hiệu gì chúng tôi, cùng với Elizabeth, Mary xứ Scots và Margaret Douglas, là những người thuộc dòng họ Tudor còn lại cuối cùng. Tất cả chúng tôi đều thuộc hàng thừa kế ngôi vị nữ hoàng. Tất cả chúng tôi đều quanh quẩn ở sân triều chờ đợi kết quả đến từ ý nghĩ chóng vánh này. Một trong số chúng tôi chắc chắn sẽ kế vị, trừ phi Nữ hoàng Mary sinh được đứa bé khỏe mạnh – điều mà mẹ bà chỉ làm được đúng một lần.

CUNG ĐIỆN OATLANDS, SURREY

MÙA HÈ NĂM 1555

Chỉ có Chúa mới biết, chứ không phải tôi, rằng tại sao không có gì tốt đẹp đến với dòng họ Tudor chúng tôi cả. Nữ hoàng Mary không có được con trai như bà ao ước. Bà mang thai với cái bụng xinh xắn và cả bọn nữ tỳ chúng tôi đều rất thích thú được ngồi cùng bà may những bộ quần áo trẻ con. Và khi bước ra ngoài, chúng tôi lắc đầu nguầy nguậy nói rằng chúng tôi thực sự không thể thảo luận về chuyện sinh nở của phụ nữ với các tướng quân Tây Ban Nha đẹp trai. Tôi nói rất nhiều rằng một thiếu nữ như tôi (chứ không phải là một người vợ bị ruồng rẫy, một quý bà bị hủy bỏ cuộc hôn nhân chỉ vài tuần sau khi cưới) không thể nhận xét được Nữ hoàng có khỏe mạnh hôm nay hay không. Những chuyện như thế là điều bí mật đối với một trinh nữ như tôi. Chúng tôi giữ kín mồm miệng – thật tuyệt vời – từ tháng thứ bảy cho đến khi tròn chín tháng, và có thể sang tháng thứ mười (không chắc chắn lắm). Giờ đây nó thực sự là một điều bí ẩn đối với tất cả chúng tôi – những cô hầu gái kiêm nữ hộ sinh. Chúng tôi che giấu sự lo lắng ngày càng tăng một cách tốt nhất có thể nhưng chúng tôi dám chắc rằng Nữ hoàng đã tính toán nhầm ngày sinh. Bà có thể lâm bồn bất cứ lúc nào từ bây giờ, nhưng tôi đồ rằng có gì đó không tự nhiên.

Trong thời gian chờ đợi, Elizabeth trở thành cái rốn của vũ trụ. Cô ấy làm xiêu lòng mọi quý bà, chu đáo và ân cần với các quý ông, hết lòng quan tâm đến sức khỏe của người chị gái cùng cha khác mẹ yêu dấu của mình và quyến rũ như một nữ tu xuất trước mặt chồng của chị mình, Hoàng thân Philip của Tây Ban Nha, người rõ ràng xem cô là sự bảo đảm an toàn cho mình nếu người vợ lớn tuổi của ông ta chết khi sinh con.

Tôi hỏi mẹ tôi chuyện gì đang xảy ra với Nữ hoàng và tại sao bà ấy lại không làm việc và mang thai con mình như một người phụ nữ bình thường – và bà liếc xéo tôi và nói rằng trên đời bà chưa từng thấy ai ngu như tôi khi hỏi người thừa kế ngai vàng đang làm gì, vì mỗi ngày trôi qua nếu không ai sinh nở gì thì bà là người thừa kế hợp pháp số một và nhờ thế vị trí của tôi sẽ trở nên ngày càng tốt đẹp hơn. Tôi thì thầm “Còn Elizabeth?” và mẹ tôi trả lời sắc lạnh: “Ở đó mà tuyên phong thừa kế cho đứa con hoang ấy!”, và vụt tôi tới tấp bằng cái roi ngựa của bà. Tôi chấp nhận rằng mình không thể có được lời khuyên hữu ích đáng bậc cha mẹ từ bà, và tôi không hỏi thêm gì nữa.

Một tháng trôi qua và bụng của Nữ hoàng dường như xẹp xuống, như thể nó chưa từng là gì cả ngoài một đồng cỏ có con cừu già tham ăn đến chướng bụng. Giờ đây tất cả chúng tôi không nói gì cả khi Nữ hoàng đã qua kỳ ở cử và lại thiết triều như thể không hề có chuyện gì xảy ra.

Tất nhiên bà thật khắc khoải vì yêu điên cuồng Philip và ông ta đủ lịch sự và kiên nhẫn như một người đàn ông có bà vợ lớn tuổi đang tưởng tượng rằng mình mang thai và điều đó làm họ trông giống như những kẻ ngốc. Thực sự, chúng tôi rất mệt mỏi vì tất cả quần thần nước Anh đã bỏ rất nhiều công sức cho “sự phì nhiêu”54* của Nữ hoàng yêu quý của chúng tôi, tất cả lũ hầu gái chúng tôi phải lăng xăng suốt ngày đêm quanh bà như thể chúng tôi là những người quan trọng lắm lắm. Tệ nhất là Elizabeth, người rơi lệ vì sự cảm thông nhưng luôn bước vào bữa tối ở vị trí đi ngay sau Nữ hoàng, bám sát gót bà, như thể sự quan tâm của Philip dành cho cô ấy chứng tỏ cô ấy là người thừa kế, để mọi người quên đi quyền thừa kế của mẹ tôi, và quên đi cả tôi. Trong những tình huống không thể lường trước và khôi hài này, và nó càng cho thấy sự ngu ngốc điển hình của đám đông, tôi nhận ra rằng thật bất hạnh nếu tôi thừa hưởng tham vọng của mẹ tôi. Thực sự, tôi có thể xem thường nó, xem nó đã đưa chúng tôi đến đâu, nhưng tôi không thể tự giúp mình, tôi phật ý trước bất cứ ai có ý cho rằng tôi không phải là người thừa kế và tôi bắt đầu tranh đấu trong cuộc tranh luận hằng đêm để giành lấy thế thượng phong.

54* . Tác giả chơi chữ. “Fertility” vừa có nghĩa là sự màu mỡ, phì nhiêu, vừa có nghĩa là sự thụ tinh/sinh sản.

Cũng không có gì quá đáng khi tôi nghĩ rằng mình sẽ trở thành nữ hoàng – tôi không muốn thay thế Nữ hoàng Mary – nhưng tôi muốn đứng trong hàng thừa kế của bà. Tôi không nhìn thấy bất cứ ai khác phù hợp với chiếc vương miện. Tôi không vui khi nghĩ Elizabeth là nữ hoàng. Tôi không thể tưởng tượng cô ấy chiếm chỗ của Jane. Không ai cả. Cô ấy không xứng đáng! Vì mọi lẽ, từ mái tóc vàng hoe đỏ kinh khủng của cô ấy – không phải vàng ánh kim như tôi – cho đến làn da cô ấy, vàng bủng như của người Tây Ban Nha. Cô ấy không xứng đáng là nữ hoàng Anh. Tôi sẵn sàng lùi một bước nhường chỗ cho hoàng tử bé mang hai dòng máu Tây Ban Nha và Anh, được sinh ra từ hôn thú của hai kẻ trị vì hai vương triều, nhưng tôi sẽ không bao giờ lùi bước trước đứa con hoang của người ông cậu55* hư hỏng của tôi – nhất là vì không ai biết Elizabeth có xuất thân như thế. Mẹ cô ấy bị phát hiện thông dâm với năm người đàn ông! Liệu Elizabeth có phải là con của tay chơi đàn luýt của nhà vua không – ai biết được?

55* . Great Uncle: ý nói Henry Tudor, tức Vua Heny VIII.

Nhưng trong quãng thời gian buồn chán này, khi không có vị Hoàng tử xứ Wales nằm nôi và cũng không có dấu hiệu mang thai nào khác dù nhỏ, tôi không phải là người duy nhất nghĩ đến các quyền lợi hoàng gia của mình. Tôi dường như trở thành mối quan tâm lớn của hai người – hai người đàn ông, thực vậy. Một người là chồng cũ của tôi, Henry Herbert, người luôn quay đầu và nở một nụ cười phớt đầy bí ẩn khi chúng tôi đi ngang qua anh ta. Chính xác là tôi không mỉm cười đáp lễ, tôi cho anh ta một cái nhìn giống như Jane thường sử dụng khi chị ấy đọc điều gì đó mà chị ấy nghĩ là không đúng: một cái nhướng mày hoài nghi, kiểu khinh miệt. Tôi nghĩ cách đó thật quyến rũ, và tôi cúi xuống Mary, cô em gái nhỏ nhắn của tôi, khi em ấy nhắc rằng tôi đang phỉnh mũi với Henry Herbert như thể tôi muốn chúng tôi vẫn còn trong tình trạng kết hôn với nhau.

Tôi nói rằng việc bình luận về vẻ bề ngoài của tôi khó mà thích hợp với em ấy, người chỉ cao đến mép trên áo choàng của tôi. “Em chẳng cao hơn cô thị nữ lùn Thomasina của Nữ hoàng”, tôi nói nghiêm túc. “Đừng nói với chị rằng chị đang phỉnh mũi nhé!”.

“Em không phải người lùn”, em ấy nói chắc nịch. “Em nhỏ con nhưng em mang dòng máu hoàng gia. Em hoàn toàn khác với Thomasina. Mọi người đều nói thế!”.

Tôi không nên thách thức phẩm giá tí hon của em ấy. “Ồ, thế tất cả những người nói vậy là ai thế?”.

“Là em đây”, em ấy nói bằng một phẩm cách lớn. “Và chính em mới quan trọng”. Em ấy luôn tỏ ra không hề bối rối vì em ấy thấp bé và không thể cao lên được nữa. Jane từng nói với em ấy rằng những người lùn ở một số quốc gia ngoại giáo còn được tôn kính như những vị thần, và ý nghĩ đó làm tràn ngập niềm tự hào trong em. Em ấy đánh giá rất cao chính mình, một người đứng quá thấp giữa những người khác. Tôi nghĩ thật kỳ quặc khi tôi có một đứa em gái dám khinh thường cái thế giới đầy thú vui xác thịt này, một người quá nhỏ bé để mà thèm muốn nó, và chính tôi đây, được sinh ra giữa hai chị em gái của mình, cao lớn và xinh đẹp, một cô gái được khao khát nhất cho những thú vui trần thế ngay giữa chốn triều đình này.

“Em nghĩ chị muốn cưới anh ấy lần nữa”, Mary nói một cách láu lỉnh. “Em đã từng nghĩ rằng cách họ đối xử với chị sẽ làm chị chấm dứt quan hệ với nhà Herbert mãi mãi”.

Tôi nói với em ấy rằng không đời nào! Không đời nào! Chúng tôi chưa từng kết hôn với nhau, không đời nào! Cũng như em ấy chưa bao giờ được hứa hôn. Cuộc hôn nhân đã bị từ chối và rơi vào quên lãng nên tôi không hiểu tại sao anh lại mỉm cười với tôi một cách hấp dẫn như thế. Lẽ ra anh ta phải giữ tôi làm vợ nếu anh ta thích tôi nhiều như thế, và chống lệnh gia đình mình mà làm theo những gì con tim anh ta mách bảo. Nhưng anh ta đã phạm sai lầm khi để tôi ra đi, và bây giờ anh ta nhìn thấy tôi là trung tâm của sự chú ý trong triều, tôi vui khi nghĩ rằng anh ta hối tiếc.

Nhưng có một quý ông khác – thực sự quý tộc – người đang quan tâm đến tôi và thậm chí còn đáng ngạc nhiên hơn nữa: Ngài Đại sứ Tây Ban Nha, Bá tước xứ Feria.

Tôi không phải kẻ ngốc. Tôi không nghĩ ông ấy yêu vẻ đẹp kiêu sa lộng lẫy của tôi, mặc dù ông ấy thật tử tế khi nói với tôi rằng tôi giống như một bức tượng thạch cao nhỏ có làn da sáng và mái tóc đẹp tựa thiên thần. Ông ấy nói với tôi rằng ở Tây Ban Nha họ phải quỳ gối trước sắc đẹp của tôi, rằng tôi trông như một thiên thần trong những tranh kính màu, đẹp rạng ngời. Tất nhiên, tôi thích tất cả những lời khen tặng này, nhưng tôi biết rất rõ rằng không phải vẻ bề ngoài của tôi – ngay cả khi chúng được chăm chút kỹ lưỡng nhất mỗi khi tôi vào triều – là tất cả những gì khiến ông ấy quan tâm, mà đó là vì dòng máu hoàng gia của tôi và vì sự tiệm cận của tôi với ngai vàng nước Anh. Và nếu Đại sứ Tây Ban Nha quan tâm đến tôi, liệu điều đó có nghĩa là người thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha – Phu quân của Nữ hoàng Anh quốc – cũng đang quan tâm đến tôi? Có phải ông ấy đang cố kìm nén để không bị hút vào tôi bằng một cuộc tán tỉnh rỗng tuếch với Elizabeth? Liệu tôi có đang được chuẩn bị để đưa lên ngôi bởi những kẻ theo Công giáo La Mã, giống như Jane từng được các nhà cải cách đưa lên? Liệu người Tây Ban Nha có hy vọng rằng khi Nữ hoàng qua đời, họ sẽ đưa tôi lên ngai vàng, sau đó Philip sẽ cưới tôi và trị vì cả Vương quốc Anh qua tôi?

Tôi không hỏi Đại sứ Tây Ban Nha điều này một cách trực tiếp. Tôi đủ thông minh để không làm điều đó. Tất nhiên tôi hiểu trò chơi vương quyền này cần phải được chơi như thế nào. Và ông ấy cũng không nói gì một cách trực tiếp, ngoại trừ việc tôi được Hoàng thân Philip ngưỡng mộ, và hỏi tôi có thích Tây Ban Nha không. Tôi có phải là người theo tôn giáo Cải cách một cách kiên định như người chị gái tội nghiệp của tôi hay tôi nghiêng về Giáo hội La Mã?

Tôi cúi đầu nhìn xuống một cách khiêm tốn và mỉm cười e lệ nói rằng không ai không ngưỡng mộ Vua Philip. Tôi cố không nói gì có dính dáng đến dị giáo hay có thể dẫn tới tranh luận, nhưng tôi thề với lòng mình rằng tôi sẽ không để mình thành một con rối trong tay ai. Không ai có quyền ra lệnh cho tôi một lần nào nữa. Nếu ai đó đang nghĩ đến việc đưa tôi lên ngôi, như họ từng làm đối với chị Jane của tôi, họ sẽ thấy rằng tôi đã là một bà hoàng theo quyền riêng của tôi, họ sẽ thấy rằng nếu họ đặt vương miện lên đầu tôi, tôi sẽ giữ nó như giữ cái đầu của mình. Không ai có thể dụ dỗ tôi âm mưu tiếm quyền mà không thể giữ được nó. Không ai có thể dụ dỗ tôi phải khăng khăng bám chặt quyền kế thừa của mình. Tôi là một đầy tớ cẩn trọng khôn ngoan vì lợi ích của chính mình. Tôi không muốn mạo hiểm bất cứ gì vì đức tin của tôi. Nếu Chúa muốn tôi lên ngai vàng nước Anh, thì Ngài sẽ phải tự nỗ lực lấy.

Nhưng tôi vẫn thận trọng lắng nghe khi ngài Đại sứ Tây Ban Nha vượt khỏi màn tán tỉnh và đi đến mưu toan. Nếu người Tây Ban Nha thuyết phục được Nữ hoàng Mary chọn tôi làm người kế vị, và sau đó ủng hộ tôi, tôi chắc chắn sẽ thành công.

“Và, nếu đặt đức tin của chị gái cô sang bên, cô có chọn theo tôn giáo cũ không?”. Bá tước xứ Feria hỏi tôi, ngọt ngào như món mứt cam mà ông ta tự tay lấy và đặt vào đĩa của tôi.

Tôi đưa mắt nhìn lên khi ông ta mời gọi tôi chối bỏ người chị gái đã khuất của tôi và tất cả những gì chị ấy tin cậy. “Tất nhiên tôi theo tôn giáo của Nữ hoàng”, tôi nói nhẹ nhàng. “Ngay từ đầu, tôi đã phải học tất cả những điều đó, và học cả Thánh lễ Latin nữa, vì tôi được nuôi dưỡng trong một gia đình đầy những người theo tôn giáo Cải cách cầu nguyện bằng tiếng Anh. Nhưng tôi rất vui khi học và biết được chân lý”. Tôi ngập ngừng. “Tôi không phải kẻ dị giáo”.

Tất nhiên tôi không thế. Nữ hoàng, người dì họ của tôi đã lên ngôi một cách rất đường hoàng, đảm bảo với chúng tôi rằng tất cả mọi người có quyền tự tìm đến với Chúa theo cách riêng của họ, nhưng đã hành quyết chị tôi vì đức tin của chị ấy, và giờ đây dùng Tòa án Dị giáo tra tấn mọi người và hỏa thiêu những tín hữu anh em của Jane. Không phải tôi! Tôi không muốn bị tống ngục vì một lời nói hớ hênh. Tôi không muốn bị chặt đầu vì không tôn kính bề trên, hoặc vì quên nhúng tay vào chậu nước thánh trước khi làm dấu thánh, hoặc bất cứ điều gì liên quan đến chuyện sống chết hôm nay, thậm chí những điều chưa từng tồn tại hôm qua. Giờ đây ngôi thánh được giấu phía sau tấm màn che thánh giá để việc hành lễ của linh mục là điều huyền bí. Giờ đây mỗi ngách tường đều có những bức tượng và trước mỗi bức là một ngọn nến. Giờ đây có những ngày ăn chay và chúng tôi không được ăn thịt gì ngoài cá. Có vô số phép thực hành tôi phải học để không giống như một người theo tôn giáo Cải cách và là em gái của một kẻ cải cách nguy hiểm tử vì đạo. Tôi thường nhún mình cúi chào, quỳ gối và ngửi hương trầm với sự sùng kính nhất. Không ai có thể xem tôi là một kẻ dị giáo vì tôi quay lưng lại với ngôi thánh bị che giấu và thường chọn đúng thời điểm để không phải lên hay xuống giọng xướng đáp với họ.

Tôi rất quyết tâm trong việc này. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì do bất cứ ai yêu cầu. Tôi sẽ giành được của cải từ vị Nữ hoàng thánh thiện nhất này. Rồi bà ấy sẽ chọn một người đàn ông đẹp trai để tôi kết hôn và có những đứa con trai khôi ngô. Sau đó, tôi sẽ là người thừa kế ngai vàng nhờ đứa bé trai trong nôi. Tôi không nghi ngờ gì về việc bà sẽ chọn tôi làm nữ hoàng tiếp theo. Đây là số mệnh của tôi.

Tôi sẽ đi trên con đường này nhưng tôi không chấp nhận bất kỳ rủi ro nào. Vì vậy, tôi mỉm cười với vị đại sứ của chồng bà, người không chú tâm đến chuyện gì khác ngoài việc hỏi rằng liệu tôi có muốn trở thành nữ hoàng hay không, và tôi phải bảo đảm ông ta biết rằng không có người nào thích hợp hơn ở nước Anh này.

Tất nhiên, ngoại trừ Margaret Douglas, người nghĩ vương miện nên là của mình; trừ Công nương xứ Scots nhỏ bé trong cung điện của cô ấy ở Pháp, người nghĩ rằng chính mình cùng với một đạo quân của Pháp phải làm áp lực để đòi quyền thừa kế ngai vàng nước Anh; ngoại trừ Elizabeth, người ít có cơ hội thừa kế nhất đối với người chị gái có lẽ cùng cha khác mẹ của mình, đã bị truất quyền bởi luật pháp, bởi Hội Thánh, bởi khí chất, và bởi xuất thân của chính mình.

Elizabeth Bất hạnh vào triều và đứng thở dài trong góc sảnh như thể trái tim của cô đang tan vỡ vì giới tăng lữ bị tống ngục và những người tử vì đạo bị hỏa thiêu tại Smithfield. Elizabeth ăn mặc rất giản dị, đúng là dối trá, như thể cô ấy không hề thích những bộ trang phục đẹp đính đầy trang sức. Cô ấy là một con công ẩn mình trong bộ cánh màu đen. Cô ấy bước vào nhà thờ với hai tay ép sát hai bên hông như thể cô quá đau khổ để cúi chào Thánh thể. Thỉnh thoảng cô ấy lả người đi và được khiêng ra để đám đông đang chờ đợi bên ngoài có thể nhìn thấy cô ấy đang chết đi vì đức tin Cải cách, và nghĩ rằng Nữ hoàng thật độc ác với đứa em gái cùng cha khác mẹ của mình. Nhưng Elizabeth tinh ranh56* hồi phục với tốc độ đáng kinh ngạc vì ngay sau đó người ta nhìn thấy cô ấy đi bách bộ trong vườn với Hoàng thân Philip, người đang đắm đuối ngắm nhìn gương mặt xuống sắc của cô ấy khi ông nghiêng người để nghe cho rõ những lời thì thầm.

56* . Elizabeth the minz.

Tôi nghĩ Elizabeth đang chơi một ván bài dài hơi và lên kế hoạch rằng Nữ hoàng Mary, người ngày càng đau ốm và lặng lẽ hơn, sẽ chết, và thế là Hoàng thân Philip sẽ lấy cô ấy làm vợ và cô ấy trở thành Nữ hoàng Anh, thế chỗ Mary. Trong khi Đại sứ Tây Ban Nha đang tán tỉnh tôi thì ông vua chủ nhân của ông ta đang tán tỉnh Elizabeth. Tôi thấy sự giả vờ ngây thơ trong trắng của cô ấy giống hệt như tôi. Cả hai chúng tôi đều để mắt tới ngai vàng.

Cô ấy và tôi chạm mặt nhau hằng ngày trong buổi thiết triều của Nữ hoàng. Chúng tôi cúi chào nhau bằng sự lịch thiệp kín kẽ và hôn nhau như những người họ hàng. Tôi thề là cả hai chúng tôi đều đang nghĩ trong đầu: Sao phải thế? Ngươi cách ngai vàng xa hơn ta nhiều! Họ hứa hẹn gì với ngươi? Và, ta mà làm nữ hoàng, ngươi sẽ biết tay ta!

CUNG ĐIỆN WHITE HALL, LONDON

MÙA ĐÔNG NĂM 1558

Và đó là lý do tại sao cú sốc đối với tôi khủng khiếp đến thế, khi mà trong mọi lý do để chọn tôi kế vị, với sự hỗ trợ ngấm ngầm của người Tây Ban Nha, với mọi biểu thị trước Nữ hoàng rằng tôi là một con chiên La Mã ngoan đạo, và ngay khi cơn bệnh và nỗi đau buồn của bà trở nên nguy ngập, bà đã quyết định truyền ngôi cho Elizabeth – vâng, chính là Elizabeth – vào phút cuối cùng trên chiếc giường tử biệt của bà, và một nửa đất nước này phát điên vì nàng công chúa theo Tin lành Kháng cách, giờ đây đang đi ngựa tiến vào London tiếp nhận ngôi báu như thể cô ấy là người thừa kế hợp pháp mang dòng máu hoàng gia chứ không phải một ả con hoang may mắn.

Sau tất cả những gì tôi đã làm để chứng tỏ mình là một tín đồ Công giáo La Mã ngoan đạo, Nữ hoàng Mary đã bỏ rơi tôi, bỏ rơi cái đức tin mà bà từng lớn tiếng tuyên thệ và rất nhiều người đã chết vì nó. Thậm chí bà còn không đề cập đến người chị em họ khác là Mary Nữ hoàng xứ Scotland, người kết hôn với Francis nước Pháp để hùng hồn tự xưng là Nữ hoàng Anh quốc, như thể dòng họ tôi không được đứng hàng thừa kế trước dòng họ của cô ấy. Nữ hoàng Mary thậm chí không đề cập đến Margaret Douglas mặc dù bà từng hứa sẽ chọn bà ấy làm người kế vị. Bà đã chơi trò đểu giả với chúng tôi và chọn Elizabeth. Elizabeth, kẻ thù của bà!

“Tại sao Nữ hoàng Mary lại không chọn mẹ làm người kế vị?”. Tôi hỏi mẹ tôi, cố gắng thành thật với bà một lần, cố biến cơn thịnh nộ thành sự chân thành. “Tại sao bà ấy không chọn con?”.

Khuôn mặt mẹ tôi bỗng tối sầm giận dữ. Giờ đây, bà sẽ phải phục vụ như một người hầu và là người em họ được sủng ái trong cung của Elizabeth, và bà không mong đợi một cô gái chỉ hơn con gái mình ít tuổi lại làm chủ nhân của bà, và với mọi lý do để không thích cô ấy, như một gia sư đặc biệt độ lượng. Mẹ tôi, người đã kết hôn với viên quan coi ngựa để trấn an Nữ hoàng Mary rằng bà không có ý định kết hôn với một người nào đó để đòi quyền kế vị, và cũng không có đứa con trai mang dòng máu hoàng tộc nào, giờ đây thấy rằng mình chẳng hề có tên tuổi gì và cũng không nằm trong hàng thừa kế, vì Adrian Stokes không là gì cả và tất cả những đứa con bà sinh ra với ông ấy đều đã chết. Bà đã tự làm cho mình thành người không quan trọng để làm vui lòng Nữ hoàng Mary, nhưng rồi bà nhận ra rằng tất cả những gì bà đã làm cuối cùng đã dọn đường cho Elizabeth lên làm nữ hoàng.

“Con có thể đưa con chuột chết tiệt kia ra khỏi đây không?”, bà thét lên. Tôi có một con cún mới thuộc giống chó săn tuyệt đẹp mà tôi đặt tên là Jo. Nó đi cùng tôi khắp mọi nơi. Tôi cúi xuống và lặng lẽ đưa nó ra khỏi phòng. Nó rên rỉ và cào cào vào cửa nhưng sau đó buồn bã ngồi chờ tôi trên sàn gỗ bên ngoài.

“Nữ hoàng Mary luôn có cảm giác gia đình rất mạnh mẽ”, mẹ tôi rít qua kẽ răng. “Bất chấp tất cả. Bà ấy đã lên ngôi theo di chúc của cha mình mà không nghĩ rằng nó sẽ bị lật đổ. Cha bà ấy nhìn nhận Elizabeth là con gái và xếp cô ấy vào hàng kế vị ngay sau người chị cả, Nữ hoàng Mary. Ông xếp mẹ sau Elizabeth chỉ khi cô ấy không có người thừa kế, và đó là tất cả những gì Nữ hoàng Mary di chúc lại”. Mẹ tôi hít một hơi sâu và tôi có thể thấy bà đang cố kiểm soát cảm xúc của mình, một sự kìm nén mãnh liệt đến mức tôi nghĩ bà hẳn tự cho rằng mình phù hợp. “Phù hợp với truyền thống. Phù hợp với di chúc của Vua Henry – cầu Chúa ban phước cho ông ấy”.

“Nhưng còn con thì sao?”, tôi hỏi. Tôi nghĩ tôi đã nói điều này suốt cuộc đời tôi. “Còn con thì sao nào?”, tôi lặp lại.

“Con phải chờ đợi”, mẹ tôi đáp, như thể tôi không phải là cô gái đã mười tám tuổi và đang ra sức tranh đua với đời, ra sức tham gia các bữa tiệc, ra sức nhảy múa trong các lễ hội, ra sức mặc những bộ áo choàng đẹp nhất, ra sức mồi chài tất cả những chàng trai trẻ theo tôn giáo Cải cách, những người đột nhiên xuất hiện trong chốn cung đình mới mẻ thú vị này và vội vàng từ bỏ tiếng Latin mà đọc Kinh Thánh bằng tiếng Anh, và chỉ cần cầu nguyện hai lần một ngày. “Con không muốn chờ đợi”, tôi khóc thét. “Con đã chờ đợi từng ngày kể từ khi cha đặt Jane làm nữ hoàng. Lúc nào con cũng phải chờ, chờ, và chờ một cái gì đó và hy vọng rằng lần này mọi thứ sẽ tốt đẹp. Janey Seymour bảo rằng...”.

“Mẹ đã nghe quá nhiều về Jane Seymour rồi”, mẹ tôi nói cộc lốc. “Con có định đến ở với họ tháng này nữa không? Họ không mệt mỏi vì sự có mặt của con sao?”.

“Không, họ không nói gì cả. Và vâng, con sẽ ở Hanworth trừ phi mẹ bảo con phải ở bên cạnh mẹ trong triều”, tôi trả lời như thách thức bà cấm tôi ở cùng người bạn thân nhất của tôi. “Không phải chúng ta như thể bị chết đuối trong ân sủng của Elizabeth và chúng ta phải ở đó càng sớm càng tốt để đón lấy quyền lợi hay sao. Con không hiểu tại sao con phải ở đó trong khi tất cả bạn bè của Elizabeth bỗng dưng nhảy xổ ra từ mọi ngóc ngách mà họ từng lẩn trốn. Con không hiểu tại sao con phải đứng đó suốt ngày nhìn Elizabeth ra lệnh mang ra những bộ áo choàng mới từ tủ y phục hoàng gia mà lẽ ra là của con!”.

“Không phải áo xống đâu! Chiếc áo không làm nên nữ hoàng!”. Mẹ tôi nói, lại sai một lần nữa.

CUNG ĐIỆN WHITE HALL, LONDON

MÙA ĐÔNG NĂM 1558

Thay vì nhìn Elizabeth vinh quang trong nhung lụa và rực rỡ trên ngai vàng vốn thuộc về chị tôi và lẽ ra phải được truyền lại cho tôi, tôi đến sống với Janey và mẹ cô ấy, Phu nhân Anne Seymour, tại ngôi nhà đáng yêu của họ ở vùng đồng quê. Tôi đưa chú khỉ Nozzle, con mèo Ribbon và con cún mới tên Jo đi theo. Mọi người ở Hanworth đều yêu thương chúng và không ai bảo tôi phải nhốt chúng vào chuồng. Tôi dám chắc rằng không ai trong triều nhớ đến tôi, có lẽ ngoại trừ Henry Herbert, người mà những cái liếc mắt đa tình của anh ta bảo tôi rằng giờ này anh ta đang nghĩ mình vừa mắc một sai lầm lớn khi chịu để cho họ tách anh ta khỏi người họ hàng của Nữ hoàng. Một người bạn khác được tôi ngưỡng mộ trước đây, ngài Đại sứ Tây Ban Nha, thì quá vâng phục khi chỉ muốn chờ xem nhà vua của ông ta – ở một khoảng cách an toàn trên lãnh thổ của chính mình – điều khiển vị nữ hoàng mới như thế nào và liệu bà có cưới ông ấy như đã hứa hay không. Tôi ngờ rằng thậm chí bà ấy còn không nhận ra rằng tôi vắng mặt.

Tất nhiên thật là thú vị khi tất cả những người Tây Ban Nha nghiêm túc nọ đột nhiên biến mất và Nữ hoàng Mary Sầu muộn qua đời trong khi mọi người đều còn trẻ, đầu óc tân kỳ và thích tán tỉnh nhau. Elizabeth, giờ là trung tâm của vũ trụ, với tâm hồn bay bổng vì sự an toàn và tầm quan trọng bất ngờ của mình, đi khắp nơi cùng với Robert Dudley, người anh chồng của chị Jane tôi, như thể họ là tình nhân của nhau, bất ngờ được trao chìa khóa cung điện của riêng họ. Thực tế là họ đang tay trong tay, chắc họ phải hoa cả mắt vì được giải khuây. Thật là một sự biến đổi thần kỳ từ phòng giam trong Tháp thành hoàng cung chỉ qua một đêm. Có lẽ cả hai đang nghĩ rằng họ phải được đặt đầu mình trên chăn gấm nệm êm và áp má vào những tấm vải lanh mịn màng nhất được thêu hình vương miện. Mẹ bà ấy bị chặt đầu, cha anh ta cũng thế. Cả hai đã khắc tên mình lên bức tường của phòng giam tại Tháp và đếm từng ngày cho đến khi họ có vẻ được đem ra xét xử. Đúng là bước qua cái cổng đen tối ấy là thiên đường tươi sáng và thấy mình đang bước vào cung điện huy hoàng. Nhưng chị gái của tôi đã đi ngược lại – từ cung điện hoàng gia đến đoạn đầu đài – và chính cha của Robert là người đã đẩy chị ấy vào chốn ngục tù. Âm mưu của Elizabeth là nút thắt cuối cùng và là lý do Jane bị xử tử. Tôi không bao giờ quên điều này khi nhìn thấy chiến thắng của họ: chiến thắng của những kẻ ăn mày. Tôi tự hỏi không biết họ có hổ thẹn không.

Nhưng không ai nghĩ về điều đó ngoài tôi, và tôi cố không nghĩ gì về nó. Triều đình mới của Elizabeth đầy những kẻ cơ hội vừa trở về nhanh như chớp từ Thụy Sĩ hoặc Đức, hoặc bất cứ nơi nào họ đã chạy trốn khỏi Tòa án Dị giáo. Có lẽ những con ngựa đến phải gục ngã vì kiệt sức nằm la liệt trên các con đường từ Zurich trở về London. Người bạn vĩ đại của chúng tôi, Phu nhân Bess Cavendish góa phụ, sau đó kết hôn với một người đàn ông giàu có đồng thời là một người theo Luther57*, đã đứng lên trước triều đình và trở thành người bạn thân nhất của chúng tôi lần nữa, và là người trung thành với Elizabeth. Nữ Công tước Suffolk, tức bà ngoại kế trẻ đẹp Catherine Brandon của chúng tôi, tái xuất hiện từ cuộc sống lưu vong cùng ông chồng thường dân và hai đứa trẻ đáng yêu. Cả thế giới đều muốn có nhà, có tiền và có những đặc ân, tất cả họ bất ngờ trở thành bạn thân của người phụ nữ cô độc nhất nước Anh. Gia sư của Elizabeth, Kat Ashley, đã trở lại bên cạnh Nữ hoàng sau thời gian bị tống giam trong nhà tù Fleet vì tội phản bội. Không còn nữa một Elizabeth có cha không xác định: dì ấy giờ đã là một công nương Kháng cách, người có công phục hồi Đức tin Cải cách cho nước Anh. Dì ấy là thần tượng của tất cả các nhà cải cách tôn giáo, như thể chị Jane tôi chưa bao giờ tồn tại – như thể tôi, một nhà cải cách từ trong huyết quản, người sinh ra đã mang dòng máu hoàng tộc – cũng chưa từng tồn tại vậy.

57* . Martin Luther (Martin Luder hay Martinus Luther, 1483 – 1546) là nhà thần học người Đức, tu sĩ Dòng Augustino và là nhà cải cách tôn giáo. Thần học Luther thách thức thẩm quyền Giáo hoàng khi rao giảng niềm tin xác tín rằng Kinh Thánh là nguồn vô ngộ (không sai lầm) duy nhất trong thẩm quyền tôn giáo, và địa vị tư tế được dành cho tất cả tín hữu (chứ không dành riêng cho giới tăng lữ). Theo Luther, con người chỉ có thể được cứu rỗi bởi sự ăn năn thật, và bởi đức tin tiếp nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Chuộc mà không cần vai trò trung gian của Giáo hội. Thần học Luther là ý thức hệ soi rọi cho cuộc Cải cách Tôn giáo ở Anh thế kỷ XVI từ đó hình thành Tin lành Kháng cách, góp phần làm thay đổi lịch sử nền văn minh phương Tây. (Wikipedia)

Tôi không được hưởng lợi gì từ việc có chị gái là một nữ hoàng, một nữ hoàng chín ngày nhưng giờ đây được tuyên xưng bởi mọi người đang kéo nhau tới phiên tòa Tin lành Kháng cách. Elizabeth không hề có cảm nhận gì về tình cảm gia đình: dì ấy sợ cha mình, lo lắng về người em trai cùng cha khác mẹ, Vua Edward, người rất quý mến Jane, và tuyên bố xem người chị em cùng cha khác mẹ với mình, Nữ hoàng Mary, là kẻ thù. Trong khi tôi được nuôi dưỡng bởi một người mẹ ngày nào cũng ra rả nói về dòng máu hoàng tộc của chúng tôi, thì Elizabeth lớn lên một mình khi mẹ sớm qua đời58* và cha cưới thêm vài người phụ nữ khác. Vì vậy, tôi không ngạc nhiên khi dì ấy không chào đón tôi với bất kỳ sự hân hoan nào, và tôi cho phép bản thân mình hất cằm và nhướng mày khi nói chuyện với dì ấy như những người ngang hàng. Trở nên duyên dáng yêu kiều và rực rỡ hơn dì ấy trong từng giờ từng phút vinh quang của dì ấy là sự trả thù duy nhất của tôi lúc này. Dì ấy phù phiếm một cách lố lăng và tuyệt vọng tìm kiếm sự tán thưởng của mọi người rằng dì ấy là cô gái đẹp nhất trong triều đình Anh và trên thế giới – còn tôi, mảnh mai thon thả trong khi dì ấy mập ù, đôi mắt sáng ngời trong khi ánh mắt dì ấy nhìn mệt mỏi, dịu dàng trong khi dì ấy mỗi ngày đều có trách nhiệm mới và biết thêm nhiều thứ mới để sợ hãi, đúng là kẻ mới được tha mạng! Tôi da trắng tóc vàng còn dì ấy – nói thật – da ngăm đen và tóc hung đỏ. Tôi có thể làm dì ấy phát điên bằng cách lướt ngang qua phòng dì ấy; và ngược lại, tôi cũng điên tiết mỗi khi dì ấy làm thế đối với tôi!

58* . Anne Boleyn qua đời năm 1536, sau khi sinh Elizabeth được ba năm.

Dì ấy chắc chắn rất bận rộn vì lo ủng hộ nhóm Tin lành Kháng cách ở Scotland, ổn định tôn giáo cho dân Anh, tranh đấu để được phong là Lãnh đạo Tối cao của Giáo hội Anh – đúng là đàn bà dễ có mấy tay – nên có lẽ không để ý hay trả đũa các hành động xem thường của tôi. May là tôi còn có Hanworth để đi về, vì mẹ tôi mắng và gọi tôi là đồ ngốc khi cố ý hành hạ một phụ nữ trẻ đầy lo lắng khi mới được lên ngai vàng. Nhưng tôi nghĩ đó là ngai vàng của chị Jane, và của tôi. Tôi xem Elizabeth là đứa con cứng đầu đầy tham vọng và vô tích sự của một tay chơi đàn luýt và một con điếm59*.

59* . Ý nói Anne Boleyn, mẹ của Elizabeth thông dâm trong thời kỳ hôn nhân với Vua Henry VII, và sinh ra Elizabeth.

Dì ấy hứa chọn người thừa kế, nhưng đã không làm. Dì ấy phải chọn tôi, nhưng lại tránh tên tôi. Trừ phi dì ấy cư xử như một nữ hoàng – kết hôn và sinh được đứa con nối dõi hoặc chọn một ai đó – dì ấy sẽ không nhận được sự tôn trọng của tôi, và tất nhiên dì ấy không cần đền đáp cho tôi gì cả.

“Cô nói quá đúng”, Janey Seymour mạnh dạn đồng tình. Cô ấy quay mặt ho vào tay áo và cả người cô ấy run lên vì cơn quặn thắt. Rồi cô ấy mỉm cười khi quay mặt lại với tôi, đôi mắt sáng rực. “Cô nói đúng, mọi người đều biết rằng bà ấy không phải là người thừa kế đích thực, mọi người đều biết rằng bà ấy là đứa con bất hợp pháp, nhưng không ai dám đứng về phía cô. Tất cả các nhà cải cách tin rằng Elizabeth là lựa chọn tốt nhất mà họ có thể có, thậm chí cả bên Công giáo La Mã cũng không dám đề nghị chọn Mary Nữ hoàng xứ Scots, người mang nửa dòng máu Pháp, làm nữ hoàng Anh”.

Nozzle ngồi trong lòng tôi và tôi đang cù vào cái bụng phẳng lì giống tôi của nó. Mắt nó nhắm nghiền vì khoái chí. Thỉnh thoảng nó há mồm ngáp một cái hoặc nhe răng cười trong câm lặng. “Giá mà tôi đã kết hôn trước đây”. Tôi nghĩ về kế hoạch, đối sách và cuộc chiến vì Jane của nhà Dudley. Giờ tôi ở vị trí nào đây, ước gì tôi có một gia đình quyền lực để tính toán mọi thứ cho tôi, ước gì cha tôi còn sống! Ước gì tôi có một người chồng và cha anh ấy nhìn ra được vị trí phải có của chúng tôi!

“Ồ, vâng, nhưng nhà Herbert sẽ không muốn gánh lấy rủi ro nào khi chống lại Elizabeth.”

“Tôi không bao giờ nghĩ đến Henry Herbert”, tôi nói dối nhưng Janey đã bắt được ánh mắt tôi và phá lên cười, và kết thúc bằng một cơn ho. “Tất nhiên cô không. Nhưng cô vẫn là người thừa kế ngai vàng, và cha anh ta không quên điều đó! Giờ anh ta luôn lịch sự với cô, thấy không?”.

“Tôi không quan tâm!”, tôi lúc lắc đầu và đặt ngài Nozzle ngồi xuống. Nó nhìn chúng tôi, vẻ lo lắng.

“Nhưng cô phải kết hôn”, Janey nói khi đã lấy lại hơi thở bình thường. “Elizabeth sẽ không tìm giùm cô một người phù hợp đâu. Bà ấy không muốn mọi người tán tỉnh ai khác ngoài chính mình. Bà ấy chỉ muốn biến chúng ta thành nữ tu nếu có thể. Mẹ cô không có kế hoạch gì cho cô sau khi Nữ hoàng Mary không đặt cô vào hàng thừa kế sau Elizabeth, và bây giờ thì Elizabeth lại không hứa gì với cô ư?”.

“Mẹ tôi hy vọng Elizabeth sẽ chú ý đến chúng tôi”, tôi nói. “Tôi sẽ có được người phù hợp hơn nếu Elizabeth thừa nhận chúng tôi thuộc dòng họ của dì ấy. Nhưng rõ ràng là dì ấy chỉ nghĩ về bản thân mình. Tôi đã bị quên lãng. Thậm chí tôi cũng không có vị trí chính đáng của mình trong hậu cung. Tôi không thuộc những người thân cận nhất. Dì ấy có thể cho rằng tôi là người hoàn toàn xa lạ, chờ đợi bên ngoài phòng khách như những người thỉnh cầu vô danh khác, trong khi chỗ của tôi phải là bên trong như những người họ hàng ruột thịt. Nữ hoàng Mary không bao giờ đối xử với chúng tôi như thế!”.

Janey lắc đầu. “Đó chỉ là sự ghen tị”, cô nói khi cánh cửa phòng riêng của cô mở ra và người anh đẹp trai của cô, Ned, thò đầu vào, và khi nhìn thấy Janey cùng tôi đang ở một mình, liền bước vào.

“Các cô đang đan móc gì thế, những con nhện bé à?”, anh ấy hỏi và ngồi phịch xuống chiếc ghế bên cạnh lò sưởi giữa hai chúng tôi.

Tôi thấy mình sửa bộ ngồi thẳng lưng lên một chút, mặt ngước lên hướng về phía ánh sáng và hơi nghiêng ở góc độ tốt nhất. Tôi yêu quý Edward Seymour kể từ lúc chàng hứa hôn với chị Jane tôi và tôi từng nói với chị ấy rằng chàng là người đẹp trai nhất trên đời với đôi mắt lương thiện, tử tế; nhưng chị ấy đã không có được thứ gì từ chàng. Giờ đây tôi gặp Ned gần như hằng ngày và chàng thường trêu ghẹo tôi theo thói quen của những người bạn cũ, nhưng tôi vẫn nghĩ chàng là người đẹp trai nhất trên đời.

Janey nói, “Chúng em đang nói chuyện về hôn nhân...”, và có ý thách thức tôi tranh luận.

“Không phải về cuộc hôn nhân của tôi”, tôi đốp lại. “Tôi không quan tâm đến hôn nhân”.

“Ôi, tàn nhẫn làm sao!”, Ned nói và nháy mắt. “Nếu cô sống và chết đi như một trinh nữ, sẽ có rất nhiều trái tim trong triều đình này tan vỡ đấy!”.

Tôi cười khúc khích và đỏ mặt, lúng túng không biết nói gì.

“Tất nhiên cô ấy phải kết hôn”, Janey nói. “Và với một người nào đó thuộc một dòng họ tốt nhất. Nhưng người đó là ai? Anh nghĩ sao, Ned?”.

“Một hoàng tử Tây Ban Nha?”, chàng trả lời vẻ thăm dò. “Ngài Đại sứ Tây Ban Nha không phải là người ngưỡng mộ cô ư? Hay một quý ông người Pháp? Chắc chắn là, một cô gái như Quý cô Katherine Grey đây, người đang ở rất gần vương miện, xinh đẹp, có thể nhìn cao như cô ấy muốn!”.

“Thật đấy!”. Tôi nói, cố gắng tỏ ra khiêm tốn nhưng hoàn toàn phấn khích bởi lối trò chuyện không theo cung cách hoàng gia này. “Hãy để bạn bè và gia đình tôi quyết định”.

“Ồ, không phải người Tây Ban Nha đâu! Cô ấy không muốn đi Tây Ban Nha”, Janey vui vẻ nói. “Em cũng không để cô ấy đi. Cô ấy phải lấy một chàng người Anh điển trai, tất nhiên rồi”.

Ned nói chắc nịch: “Tôi không biết ai cả. Không có đủ người đẹp trai cho tất cả. Tôi không biết bắt đầu từ đâu. Tất cả bạn bè tôi đều ngô nghê như lũ bò đực, còn tôi...”. Anh ta ngừng lại và nhìn thẳng vào tôi. “Cô không cân nhắc tôi sao? Tôi có họ hàng thân thuộc với nhiều dòng tộc danh giá đấy nhé!”.

Tôi có thể cảm nhận hai má mình đang đỏ bừng lên. “Tôi... Tôi...”. “Thật là một câu hỏi hay!”, Janey hắng giọng. “Anh đang cầu hôn đấy hả, Ned? Hãy cẩn thận, vì em là người làm chứng!”.

“Nhân chưa có sự xuất hiện của bất cứ người nào xứng đáng với quý cô đây...”. Mắt chàng dán chặt vào đôi má đang nóng hừng hực và đôi môi tôi. Tôi suýt nghĩ rằng chàng sẽ vươn người ra và hôn tôi. Chàng đang ở rất gần tôi với cái nhìn đắm đuối.

“Đừng có đùa!”, tôi thều thào.

“Chỉ khi nào cô thích đùa”, chàng đáp.

“Tất nhiên cô ấy thích!”, Janey nói xen vào. “Có cô gái nào không thích đùa về chuyện tình yêu chứ?”.

“Tôi viết tặng cô một bài thơ nhé?”, chàng đề nghị.

Chàng là một nhà thơ tuyệt vời! Nếu chàng làm thơ tặng tôi, tôi sẽ nổi tiếng ngay! Ôi, tôi đến ngất lịm vì nóng bừng cả mặt và ù cả tai. Tôi không thể rời mắt khỏi đôi mắt ấm áp biết cười của chàng, và chàng cứ nhìn chằm chằm vào đôi môi tôi như muốn vươn tới mỗi lúc càng gần hơn, gần hơn để đặt vào đó một nụ hôn.

“Anh đang đi săn à?”, tôi hỏi như tình cờ. “Con ngựa thế nào?”.

“Con ngựa thế nào” là thế nào? Ngay từ đầu tôi đã bối rối, và bây giờ tôi chỉ muốn độn thổ cho xong vì câu hỏi không thể vô duyên hơn, như thể đôi môi tôi đang phản bội tôi trước chàng, như bảo chàng rằng tôi mụ mị không thể nghĩ gì nữa khi chàng ở quá gần tôi. Janey nhìn tôi bằng ánh mắt ra chiều khó hiểu, còn Ned thì cười lớn như thể chàng hoàn toàn hiểu cái sự ngu si đột xuất của tôi. Chàng uể oải đứng lên.

“Con ngựa rất có ích”, chàng cười nói. “Cô biết không, nó biết chạy nước kiệu và phi nước đại khi cần. Đó là một con ngựa hay. Nó biết đứng lại khi nghe lệnh, vui đấy!”.

“Tôi biết”. Tôi nuốt giọng trong khi Janey chăm chú quan sát hai chúng tôi trong sự thích thú bất ngờ.

“Tôi sẽ quay lại để đưa hai cô đi ăn tối”, Ned đề nghị. Khi đứng thẳng lên, trông chàng đẹp trai lồng lộng. Một thân hình cao lớn với mái tóc nâu, đôi mắt màu hạt dẻ, mặc quần cưỡi ngựa và đi bốt cao, nhìn rất chỉn chu và mạnh mẽ. Chàng đưa tay kéo áo khoác xuống một chút để vừa với cái eo thon gọn và cúi người chào tôi cùng cô em gái của chàng rồi bước ra khỏi phòng.

“Ôi Chúa ơi! Cô yêu anh ấy mất rồi!”, Janey thốt lên và cơn ho quay trở lại. Nozzle phóng từ lòng tôi ra cửa như thể muốn đi theo Ned. “Tẩm ngẩm tầm ngầm nhé! Tôi đang nghĩ đến Herbert nhưng rốt cuộc lại là anh trai tôi. Cô giỏi giữ bí mật thế! Lại còn ‘Con ngựa thế nào?’ Chúa ơi! ‘Con ngựa thế nào?’”.

Tôi cười muốn chảy nước mắt và xấu hổ hết sức. “Ôi, đừng nói nữa! Xin đừng nói một lời nào nữa!”.

“Thế khi nãy cô nghĩ gì?”

“Tôi không nghĩ được gì!”, tôi thú nhận. “Tôi chỉ nhìn anh ấy thôi. Tôi như người mất hồn trước cái nhìn của chàng!”.

Đặt bàn tay nơi trái tim mình và ráng hít một hơi, cô ấy nói: “Vâng, tôi nghĩ thế là đã rõ. Cô sẽ kết hôn với Ned, và tôi sẽ trở thành em chồng của cô. Dòng họ Seymour chúng tôi bình đẳng như bất kỳ dòng họ nào khác ở Anh, cha cô đã từng chọn Ned cho chị Jane của cô. Giờ cô có thể cưới anh trai tôi, ôi, thật là hạnh phúc! Tôi sẽ là cô của đứa bé thừa kế ngai vàng. Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của cô khi cô sinh được một cậu bé cho hai dòng họ Tudor và Seymour! Tôi mong Elizabeth sẽ là mẹ đỡ đầu của nó và chọn nó làm người kế vị trừ phi cô ấy sinh được một đứa con trai của chính mình”.

“Elizabeth sẽ hóa điên nếu chúng tôi cưới nhau”, tôi mỉm cười rạng rỡ. “Đúng vậy! Nhưng rồi cô ấy sẽ đưa cô vào hậu cung như một trong những người hầu cận cao cấp của cô ấy. Cô sẽ là họ hàng hai lần với cô ấy, dù thích hay không. Cô ấy sẽ chọn con trai cô làm người thừa kế và mọi người khăng khăng thế. Ôi, nghĩ mà xem! Cháu trai tôi là Vua nước Anh!”.

“Cô Hertford quý mến”, tôi nói, cố gắng xưng hô trịnh trọng trong khi đỏ mặt không gì che đậy được.

“Mọi thứ đã an bài với cô”, Janey nói.

Chuyện này bắt đầu đi xa hơn một trò đùa. Janey và tôi tự đề nghị cho nhau mỗi đứa hàng nửa tá người được chúng tôi cho là phù hợp suốt những năm chúng tôi làm bạn của nhau. Cho đến khi Ned cưỡi ngựa cùng chúng tôi, đi dạo trong vườn cùng chúng tôi và đưa chúng tôi đi ăn tối, rồi đặt cược vào những quân bài chúng tôi chơi vào buổi tối, và tiếp tục tán tỉnh tôi bằng giọng nói ấm áp và thân mật, cho tới khi tôi đỏ mặt, cười khúc khích và từ từ, chầm chậm đi đến câu trả lời. Dần dà, một cách cẩn trọng, trò đùa trở thành màn tán tỉnh thật và tôi biết rằng mình, lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng trong đời, thực sự đang yêu.

Mọi người đều nhìn thấy điều đó. Không chỉ một mình Janey nhận xét rằng chúng tôi sẽ là một cặp đẹp đôi, xứng với nhau từ chiều cao, hình dáng cho đến sự giáo dục. Cả gia đình thường âm mưu để chúng tôi một mình với nhau, hoặc hướng người nọ đến với người kia.

“Đức ngài đang ở sân quần ngựa”, một trong những người giữ ngựa của chàng nói với tôi khi tôi đến cổng nhà chàng để cùng đi cưỡi ngựa.

“Quận chúa Katherine đang ở trong vườn đi dạo với con chó của cô ấy”, họ nói với chàng khi chàng cưỡi ngựa về tới sau khi hoàn thành một nhiệm vụ nho nhỏ cho mẹ chàng.

“Các quý cô đang ở thư viện... Các quý cô đang thêu thùa may vá trong phòng riêng... Đức ngài đang cầu nguyện, Đức ngài về đến nhà lúc giữa trưa...”. Ai nấy đều cố hướng Ned về phía tôi và hướng tôi về phía chàng, cho đến khi chúng tôi dành cả ngày và mỗi ngày với nhau. Mỗi khi gặp chàng, tôi cảm thấy hồi hộp như thể đó là lần đầu tiên. Và mỗi lần chàng chào tạm biệt, tôi ước gì chàng không bao giờ rời đi.

“Cô có yêu anh ấy thật không?”. Janey thì thầm một cách tha thiết khi chúng tôi đi ngủ, nằm cùng nhau trên chiếc giường gỗ lớn của cô ấy với những tấm màn che xung quanh, chú chó, con mèo và con khỉ Nozzle, tất cả đều rúc vào ngủ cùng chúng tôi.

“Tôi không thể nói được”, tôi thận trọng đáp.

“Vậy thì”, cô ấy đắc thắng nói. “Ai cũng có thể nói không”. “Tôi không nên nói ra”, tôi sửa cô ấy. “Cô cũng vậy mà”.

Tất nhiên Phu nhân Anne Seymour, mẹ của Ned và Janey, cũng nhận ra điều này như bất cứ ai khác. Bà cho gọi hai con của mình vào nhà nguyện riêng của bà vào một buổi sáng. Tôi không được mời. Tôi chắc chắn rằng bà sẽ cấm cả hai gặp tôi từ đó. Chúng tôi phải bị tách ra, tôi biết điều đó. Tôi sẽ được trả về nhà. Tôi sẽ bị thất sủng. Bà sẽ nói rằng em của Jane Grey không thể nào được nhìn thấy đang hẹn hò với người đã từng hứa hôn với Jane Grey trước kia. Bà là một người đáng gờm và tự đặt mình rất cao. Có thể bà đã kết hôn với người có địa vị thấp hơn trong cuộc hôn nhân thứ hai, nhưng người chồng đầu tiên của bà là người đàn ông vĩ đại nhất nước Anh sau nhà vua, và bà thường nhấn mạnh địa vị của bà là Phu nhân của Hộ Quốc công60*. Bà sẽ nói với con trai và là người thừa kế của mình rằng bà đã lên kế hoạch cho cuộc hôn nhân của chàng với một người rất quan trọng, và chàng không thể hẹn hò với tôi.

60* . Lord Protector.

“Mẹ tôi đã nói đúng như thế!”. Janey xác nhận sau khi phóng như bay từ nhà nguyện về phòng ngủ chung của chúng tôi. Cô ấy thở gấp và ôm lấy ngực nơi tim cô đang đập loạn xạ bên dưới. “Tôi chạy nhanh nhất có thể. Tôi biết cô sẽ tuyệt vọng thế nào khi biết những gì mẹ tôi vừa nói”.

Tôi chồm dậy chộp lấy con Ribbon của tôi ra khỏi ghế trước khi cô ấy ngồi phịch xuống, nhưng tôi phải đợi một lúc để cô ấy định thần và hít thở lại bình thường. Ngay khi có thể nói, cô ấy bảo: “Bà nói với Ned rằng anh ấy không được ở ngoài một mình với cô, rằng anh ấy không phải là bạn đồng hành xứng dành cho cô, và cô cũng thế”.

“Ôi trời ơi!”, tôi nói và gieo người xuống giường và siết chặt tay Janey. “Tôi biết mà! Bà ấy ghét tôi! Thế chàng nói gì? Chàng có từ bỏ tôi không?”.

“Anh ấy rất tuyệt vời!”, Janey thốt lên. “Thật điềm tĩnh. Anh ấy cư xử vô cùng chín chắn. Không chút lo lắng. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng anh ấy dám đứng lên trước mặt mẹ tôi như thế. Anh ấy nói người trẻ thường hợp ý nhau, và rằng không có lý do gì anh ấy nên tránh gặp cô, bất luận ở đây hay trong triều. Mẹ tôi nói rằng anh ấy không nên hẹn riêng với cô như thế này. Anh ấy đáp rằng rõ ràng là Nữ hoàng không phản đối tình bạn giữa hai người, bà chưa bao giờ nói gì chống lại điều đó, và bà biết hai người đang ở đây với nhau”.

“Anh ấy nói thế à?”. Tôi choáng váng vì sự tự tin của chàng. “Vâng, đúng vậy. Quá tuyệt vời phải không!”

“Và mẹ cô nói gì?”, tôi hỏi một cách yếu ớt.

“Bà kinh ngạc nhưng nói rằng bà không có gì chống lại cô, và không có gì chống lại tình bạn của chúng ta, nhưng không chút nghi ngờ rằng Nữ hoàng đã có kế hoạch cho cả hai người, và họ sẽ không đồng ý cho cô cưới Ned. Bà nói rằng Nữ hoàng không muốn để một người họ hàng như cô ở quá gần ngai vàng qua con đường trở thành một thành viên nhà Seymour”.

“Ồ, Elizabeth không quan tâm đâu!”, tôi nói. “Bà ấy không có kế hoạch gì cho tôi. Bà ấy cảm thấy thích thú vì không có kế hoạch nào dành cho tôi cả. Bà ấy không hề nghĩ lại hai lần về tôi”.

“Vâng, đó chính xác là những gì Ned đã nói!”, Janey nói một cách đắc thắng. “Và anh ấy nói rằng trong khi cả hai đều là người tự do, không có lý do gì hai người không được ở bên nhau. Thế rồi anh ấy cúi chào và rời đi, thế thôi”.

“Đúng thế à?”, tôi lặp lại.

“Cô biết anh ấy chào và rời đi như thế nào không?”

Anh ấy bước đi như một vũ công, nhẹ nhàng trên đôi chân của mình, hai vai thẳng đứng như một quý ông đúng nghĩa. Tôi có thể tưởng tượng ra cách anh ấy cúi chào và bước đi như thế nào.

LÂU ĐÀI GREENWICH

MÙA HÈ NĂM 1559

Vào cuối chuyến viếng thăm, tôi gom mấy con thú cưng của mình, gồm khỉ Nozzle, mèo Ribbon và cún Jo vào các lồng du lịch của chúng và quay trở về để dự thiết triều của Nữ hoàng và sống cùng mẹ tôi và Mary trong những căn phòng, nhỏ hơn so với những căn phòng chúng tôi từng ở dưới thời Nữ hoàng Mary, được trang bị những thứ đồ hạng hai mà những người coi phòng đã chọn cho chúng tôi, vì chúng tôi không còn là những người được sủng ái nữa. Mẹ tôi cho Nozzle sống trong cũi và phàn nàn rằng Ribbon hay xé những tấm thảm không màu. Tôi không nói gì về Ned và chàng không đến dự thiết triều như đã hứa. Không có chút nghi ngờ gì trong đầu tôi rằng mẹ chàng đang giữ chàng ở Hanworth. Nếu tôi được Elizabeth công nhận như lẽ ra tôi phải được như thế – tức được xem là người họ hàng và người thừa kế – mẹ chàng sẽ ngay lập tức khuyến khích tình yêu của chúng tôi. Nhưng theo những gì đã xảy ra, Nữ hoàng lo sợ cho tương lai vì khả năng người họ hàng của mình sẽ chiếm ngai vàng. Elizabeth không có tình cảm gia đình và bà ấy đang cố gắng hết sức để trấn an những người Kitô giáo rằng bà ấy không cần một người thừa kế theo Tin lành Kháng cách.

Mẹ tôi bị ốm và thỉnh thoảng không dự thiết triều. Mary đi cùng bà đến Richmond. Không có cuộc đấu tranh nào để giành lấy hàng thừa kế sau Elizabeth; mẹ tôi không còn chí khí chiến đấu.

Người duy nhất còn nói chuyện riêng với tôi là ngài Đại sứ Tây Ban Nha, Bá tước vùng Feria. Ông ấy vẫn rất hấp dẫn, rất đáng ngưỡng mộ và ấm áp đến mức tôi không thể cưỡng lại sự tin tưởng vào ông ấy. Tôi nói với ông ấy rằng tôi sẽ không bao giờ được hạnh phúc ở Anh khi Elizabeth là nữ hoàng. Ông ấy bảo – rất vui lòng được mời – rằng tôi nên đến Tây Ban Nha với ông ấy và Bá tước Phu nhân, nơi họ có thể giới thiệu tôi với gia đình của tất cả các nhà quý tộc đẹp trai đã về nước cùng Philip. Ông nói với tôi rằng có một hiệp ước mới giữa Anh và Pháp và Nữ hoàng trẻ tuổi Mary xứ Scots đã bị lừa dối bởi Hoàng tộc Pháp của mình để đổi lấy hòa bình. Cô ấy sẽ không bao giờ được phép tuyên bố thừa kế ngai vàng nước Anh một lần nào nữa. Cô ấy đã bị tước bỏ tước hiệu và giờ đây tôi là người duy nhất thừa kế ngai vàng nước Anh.

Tôi cười – vì làm sao tôi có thể đi Tây Ban Nha? Nhưng tôi hứa với ông ấy rằng tôi sẽ luôn luôn nghe lời khuyên của ông ấy, rằng ông ấy là người bạn duy nhất của tôi, và rằng tôi sẽ không lấy ai mà không thông báo cho ông ấy biết. Nhưng tôi không bất cẩn đến mức nói với ông ấy rằng tôi đã được chọn.

LÂU ĐÀI NONSUCH, SURREY

MÙA HÈ NĂM 1559

Ned tiếp tục vắng mặt trong các phiên thiết triều. Tôi nghe nói chàng không được khỏe và phải ở nhà để được mẹ chăm sóc. Họ quả là một gia đình đau ốm. Tôi không nghĩ Janey là người có sức khỏe tốt ngay từ lúc tôi gặp cô ấy lần đầu tiên, nhưng cô ấy không bao giờ bỏ dự thiết triều. Tôi nghĩ sẽ tốt hơn cho họ nếu họ bỏ thiết triều để cưỡi ngựa rong chơi tận hưởng không khí trong lành. Không, tôi chắc chắn rằng đó là điều tốt nhất cho họ. Tôi e rằng mẹ chàng chỉ đang cố giữ chàng khỏi gặp tôi, và điều đó thật bất công đối với tôi vì tôi không làm gì phật lòng bà hay chàng cả. Tất cả là lỗi của Elizabeth, người đối xử tệ với tôi khiến mọi người xa lánh tôi.

Bà ấy hãm hại tôi bằng hàng chục cách nhỏ mọn khác nhau. Tôi được cấp phòng tệ hơn căn phòng mà lẽ ra tôi phải có ở địa vị của tôi. Tôi được đi trước trong hàng nhưng bà ấy không ưu ái riêng tôi. Tôi không được mời chọn áo choàng đẹp từ tủ y phục hoàng gia. Bà ấy không bao giờ cho tôi bất cứ thứ gì. Thị nữ chỉ được trả một khoản tiền ít ỏi nhưng có cơ hội tạo ra cả gia tài từ những món quà và đặc ân, nhưng tôi không bao giờ nhận được bất cứ thứ gì từ Elizabeth và chưa ai từng trả công cho tôi để được tôi tiến cử, như thể mọi người đều biết rằng bà ấy không bao giờ nói chuyện với tôi.

Chút hài lòng còn lại của tôi là mỗi khi triều đình có lễ hội, Elizabeth phải ra lệnh cho phòng y phục hoàng gia mở tủ quần áo và phát áo choàng cho tất cả mọi người, tất nhiên trong đó có tôi, và tôi mặc đẹp hơn bất cứ người nào khác. Kẻ tán tỉnh bà ấy, quan coi ngựa Robert Dudley, dù cố quên rằng tôi đã từng là họ hàng thông gia của anh ta, vẫn thấy tôi rất vững vàng như một thợ săn mạnh mẽ. Elizabeth có thể không ưa tôi, nhưng bà ấy không thể che giấu rằng tôi là cô gái đẹp nhất trong triều, thanh lịch khi khiêu vũ, chói sáng khi cưỡi ngựa. Bà ngoại kế của tôi, người có nhan sắc nổi tiếng hồi bà cưới ông ngoại tôi Charles Brandon, thường hôn lên trán tôi và nói rằng tôi là cô gái xinh đẹp nhất trong triều, giống như bà lúc ở tuổi tôi. Chúng tôi đi đây đó vài tuần và sau đó đến cung điện Nonsuch, một nơi đẹp như cổ tích nằm trên một vùng đất xinh đẹp bên dòng sông. Người đàn ông góa vợ Henry FitzAlan, Bá tước xứ Arundel, sở hữu cung điện và luôn nhớ bổn phận của mình đối với gia đình của người vợ đầu tiên, dì của tôi, và cho tôi tham gia các trò tiêu khiển ông từng tổ chức cho triều đình. Khi Ned Seymour và Janey cuối cùng có thể tham dự lại những buổi thiết triều, họ nhìn thấy tôi đang khiêu vũ trong các vở kịch hoặc đang trên lưng con ngựa mới của tôi, ở vị trí trung tâm, dẫn đầu đoàn đi săn trong những cuộc vui thú suốt mùa hè.

Nhịp sống hằng ngày trong triều đưa Ned lại gần tôi trong nhà nguyện và lúc ăn sáng, các cuộc săn bắn và ăn tối, khiêu vũ và chơi bài. Mỗi ngày triều đình lại lên kế hoạch và thực hiện một sự kiện mới. Dượng Arundel của tôi tổ chức các vở kịch, nhạc kịch, khiêu vũ, dã ngoại, đua ngựa, và các cuộc thi đấu thể thao. Robert Dudley xuất hiện ở khắp mọi nơi nhưng ít khi phải chạm tay làm bất cứ việc gì tại các lễ nghi hay lễ kỷ niệm. Anh ta là trung tâm của mọi thứ và không ai có thể rời mắt khỏi anh ta. Anh ta là người được khôi phục lại của cải và đặc quyền và toát lên vẻ huy hoàng rực rỡ về sự thành đạt. Nữ hoàng Elizabeth tất nhiên là cởi mở hết sức và mụ mẫm cả người vì anh ta. Bà ấy không thể ngừng tìm kiếm anh ta. Khuôn mặt bà ấy sáng lên mỗi khi nhìn thấy anh ta. Bà ấy như bị hút vào anh ta. Tôi có thể nhìn thấy rõ họ đang tìm kiếm nhau chứ không phải ai khác. Tôi nghĩ chỉ có tôi mới hiểu rõ chuyện này. Tôi biết bà ấy cảm thấy thế nào, bởi vì tôi cũng vậy.

Trong phòng họp của cung điện, các vị vương tôn, đặc biệt là những người lớn tuổi, triệu tập các cuộc họp Hội đồng Cơ mật trong khi cả triều đình đang vui thú nhàn nhã. Liên tục có những tình huống khẩn và tin tức từ Nghị viện mỗi ngày đều thúc giục Nữ hoàng kết hôn với người em họ, Vua Philip của Tây Ban Nha, hoặc vị hoàng tử Pháp, hoặc một người nào đó – bất cứ ai! – để giúp bà có được một đồng minh hùng mạnh và cơ hội có con trai kế vị. Nhưng Elizabeth suốt ngày đi săn bắn với Robert Dudley và dành suốt đêm để khiêu vũ với anh ta, và bất kỳ thị nữ nào trong triều cũng có thể nói với Hội đồng rằng bà ấy thậm chí chẳng thèm nghe họ. May mắn thay, bà ấy nhất trí rằng mình phải kết hôn, rằng sự an toàn của vương quốc đòi hỏi cần phải có một người phối ngẫu ngoại quốc thuộc một cường quốc, và tương lai của vương quốc phải được bảo vệ bởi một người thừa kế, nhưng đôi mắt tối tăm của bà ấy đang bận đi theo Robert Dudley khắp nơi trong khi anh ta thì đi từ cô gái đẹp này đến cô gái đẹp khác. Tuy nhiên anh ta luôn kết thúc ở bên cạnh bà ấy.

Mọi người đang quan sát cuộc tình này. Và, trong bầu không khí chuếnh choáng men tình ngay giữa triều đình, nơi Nữ hoàng công khai, cuồng si bày tỏ tình cảm với người đàn ông đã có vợ, mọi người được thể tự do ve vãn nhau và thậm chí vụng trộm với nhau trong những góc khuất. Các quý ông và các vị quân sư lớn tuổi thì quá nóng nảy và tỏ ra nghiêm nghị, còn các quý bà lại quá coi trọng công dung ngôn hạnh nên chỉ kể về chuyện ngày xưa khi mà người ta biết cư xử đúng phép tắc thế này thế nọ, cho nên họ đơn giản bỏ qua khi Nữ hoàng nước Anh cưỡi ngựa sóng đôi với người đàn ông mà họ đang bắt đầu thì thầm là người tình của bà ấy và người ta thường nhìn thấy đôi tay họ giấu kín, đan vào nhau trên đường họ quay về nhà.

Nhưng chắc chắn không có ai để ý đến tôi, không ai quan sát Ned. Chúng tôi gặp nhau trong phòng ngủ của Janey khi cô ấy ốm đến không gượng dậy nổi. Tôi ở đó chăm sóc cô ấy, còn chàng là một người anh trai tốt hay đến thăm em gái mình. Trong khi cô ấy nằm trên giường và mơ màng mỉm cười với hai chúng tôi, chúng tôi ngồi bên cửa sổ, nắm tay nhau và thì thầm với nhau. Chúng tôi gặp nhau ở mọi góc ngách và lối vào triều nhưng chỉ kịp trao nhau đôi lời và vài nụ hôn vội của chàng lên tay tôi, cổ tôi, hay trên tay áo tôi. Khi chàng đi ngang qua tôi trong sảnh, chàng chụp lấy bàn tay của tôi. Khi chơi đàn luýt hay hát, chàng luôn liếc nhìn tôi trước tiên, như muốn nói rằng: Những lời này dành cho em. Chúng tôi chơi bài cùng với Janey và dì Bess, giờ là Phu nhân St. Loe, vào buổi tối, và chúng tôi khiêu vũ cùng nhau khi họ kêu gọi bắt thành từng cặp. Mọi người đều biết Ned Seymour là tình nhân của Quận chúa Katherine. Không có ai khác mời tôi nhảy cùng, không ai trong số các cô gái rung động gì với Ned. Ngay cả những quý bà lớn tuổi trong triều – mẹ chàng, mẹ tôi và những người bạn có cặp mắt sắc bén của họ – đều phải quan sát và công nhận chúng tôi mới xứng đôi làm sao vì cả hai chúng tôi đều cao và đẹp và đều có dòng máu hoàng gia.

Điều mà không ai nhìn thấy là khi buổi khiêu vũ kết thúc, chúng tôi đi vào góc đại sảnh và đôi tay chàng nôn nóng luồn quanh eo tôi. Chàng xoay người tôi về phía chàng như thể chúng tôi vẫn đang nhảy với nhau, và chàng kéo tôi lại thật gần.

“Katherine, tình yêu của anh”, chàng thì thầm. “Anh phát điên vì em mất!”. Sự đụng chạm xác thịt làm tôi choáng váng như muốn ngất lịm trong vòng tay chàng, chàng cứ thế giữ chặt lấy tôi. Tôi để chàng tự do chạm tay vào cằm và từ từ nâng mặt tôi lên, chờ đợi một nụ hôn. Đôi môi chàng nồng cháy và rạo rực, người chàng tỏa hương thơm ngọt ngào của lụa mới và hương cam. Chàng vùi mặt vào cổ tôi rồi cắn nhẹ vào thùy tai tôi. Tôi bấu chặt lấy chàng và cảm nhận cả người chàng đang ép lên cơ thể tôi; hai cánh tay mạnh mẽ, bộ ngực rộng và cặp đùi căng cứng của chàng đang ép chặt vào tôi.

“Chúng ta hãy cưới nhau đi”, chàng nói. “Đừng đùa nữa!”.

Tôi không thể gật đầu vì miệng chàng đang gắn chặt vào miệng tôi. Chàng nới lỏng tôi ra trong giây lát nhưng tôi luồn tay ra sau gáy chàng và kéo chàng lại sát mình cho những nụ hôn cháy bỏng tiếp theo.

“Em lấy anh nhé?”. Chàng nói vội trong khi đôi môi chàng tìm kiếm môi tôi lần nữa.

CUNG ĐIỆN HAMPTON

MÙA HÈ NĂM 1559

Álvaro de la Quadra, vị đại sứ mới của Tây Ban Nha, băng ngang qua khu vườn trong bộ áo choàng giám mục dài lê thê để mang tin tức đến cho tôi, như thể chúng tôi vừa là bạn bè vừa là những kẻ đồng mưu với nhau.

“Cảm ơn Chúa tôi đã tìm được cô! Vua nước Pháp đã chết!”, ông ấy nói. “Lạy Chúa tôi”, tôi lặng người đi. Tôi không tự tin với ông ấy lắm như với Bá tước xứ Feria. Dường như ông ấy nghĩ rằng chúng tôi có một giao ước, như thể ông ấy được thừa hưởng tôi từ vị đại sứ trước đó, như một liên minh chứ không phải là một người được yêu thích.

“Xin Chúa ban phước cho ông ấy”, tôi nói. “Nhưng ông ấy chỉ bị trọng thương khi đấu thương thôi mà?”. Álvaro gặp tôi khi tôi đang đi xuống con đường rải sỏi dẫn tới lối đi bên dưới những cây thủy tùng. Janey đang tựa vào cánh tay tôi. Ned sẽ gặp chúng tôi ở đây, như tình cờ.

“Không! Không! Đã chết! Đã chết!”. Đại sứ de la Quadra nói, hoàn toàn không để ý đến Janey và nắm lấy cả hai tay tôi. “Họ đã thức canh bên cạnh giường ông ấy nhưng vô ích. Họ đã làm mọi thứ có thể nhưng không cứu được ông ấy. Ngài đã qua đời, Chúa che chở và gìn giữ Ngài. Con trai ông ấy, Francis, sẽ lên làm vua và người họ hàng Mary của cô sẽ là hoàng hậu”. Rồi ông ta hạ giọng. “Hãy nhìn xem điều này có ý nghĩa như thế nào đối với cô!”.

Tôi bắt đầu suy nghĩ. Tôi không có ý niệm gì về việc ông vua nước Pháp bị thương nặng. Đàn ông luôn bị thương tích trong các cuộc thi đấu, nhưng tôi muốn biết thương sĩ nào đã giết vua của mình? Triều đình Pháp sẽ náo động một phen và ông sẽ được kế vị bởi con trai mình, Francis II. Điều này làm cho người họ hàng của tôi Mary Stuart61* trở thành vương hậu hai lần. Cô ấy đã là Nữ hoàng Scotland, và giờ đây cô ấy sẽ là Hoàng hậu nước Pháp. Tầm quan trọng của cô ấy tăng gấp đôi, gấp ba và bùng nổ. Bây giờ cô là vương hậu của một quốc gia vĩ đại với quyết tâm trở nên hùng mạnh hơn nữa. Giờ đây chính nhà vua Pháp sẽ ủng hộ tuyên bố của vợ mình lên ngai vàng Anh Quốc, với sự hỗ trợ của quân đội Pháp phía sau. Những con chiên Công giáo của đất nước này đều thích Nữ hoàng Công giáo Mary62* hơn là Nữ hoàng Kháng cách Elizabeth. Nhiều người còn nói rằng bà ấy mới là người thừa kế đích thực. Mary xứ Scots là cháu nội của Margaret, Hoàng hậu Scotland (vợ Vua James IV) đồng thời là chị gái Vua nước Anh Henry VIII63* và là mẹ của Vua Scotland James V64*. Không giống như Elizabeth, địa vị của cô ấy hoàn toàn hợp pháp. Cô ấy mang dòng máu hoàng tộc ở cả hai bên nội ngoại, và hơn bất cứ điều gì khác, cô ấy có sức mạnh vô song của nước Pháp sau lưng mình.

61* . Mary Stuart (1515 – 1560), còn gọi Mary xứ Guise.

62* . Tức Mary I hay Mary Tudor (1516 – 1558), chị của Elizabeth I (1533 – 1603).

63* . Tức James V (1512 – 1542) của Scotland.

64* . Tức James IV (1473 – 1513) của Scotland, cha của James V.

“Nữ hoàng Scotland và Vương hậu Pháp quốc”, tôi nói một cách thận trọng. Cô ấy đấy, một cô gái sinh ra không tốt hơn tôi, không được đặt vào hàng thừa kế theo di chúc của Henry VIII như tôi, nhưng lại là nữ hoàng của hai cường quốc trước tuổi hai mươi mốt.

“Và như thế tất cả mọi thứ lại thay đổi”, vị đại sứ thầm nói với tôi, nắm lấy cánh tay tôi và dẫn tôi đi khỏi Janey, người đang quay gót trở lại cung điện và vẫy tay chào tôi cùng người bạn lớn của mình.

“Tôi không hiểu tại sao lại thế”, tôi nói. “Và tôi nên vào trong với Janey Seymour”.

“Bởi vì những người họ hàng xứ Guise của Hoàng hậu mới của nước Pháp rất muốn cô ấy lên ngôi ở Scotland và đẩy lui phe tôn giáo Cải cách. Bởi vì họ sẽ khuyến khích cô ấy đòi ngôi báu nước Anh. Họ sẽ không quan tâm đến hòa bình với nước Anh như vị vua cũ của Pháp; họ muốn cai trị Scotland và xâm chiếm nước Anh từ cả phía nam lẫn phía bắc”.

Sự thật là, ông ta khôn ngoan hơn tôi rất nhiều, và tôi sợ giọng nói thâm trầm của ông ta, từng lời từng lời như đan quyện vào nhau thành một cái bẫy. “Nhưng chuyện này không liên quan gì đến tôi, thưa ngài. Tôi không hiểu tại sao ngài lại chạy đến đây báo cho tôi chuyện này”.

Ông ta mỉm cười như thể tin này sẽ làm tôi vui. “Tôi sẽ gửi thư cho cô”, ông ta thì thầm. “Và chúng tôi sẽ đến giúp cô. Một đoàn tùy tùng sẽ đến giúp cô”.

“Cái gì?”. Tôi hỏi, vì điều này là hoàn toàn bất ngờ. “Đoàn tùy tùng nào?”. Ông ta mỉm cười với tôi như thể giữa chúng tôi đã có một thỏa thuận nào đó từ lâu lắm, và nói rằng thời khắc của tôi sẽ đến. “Chúng tôi sẽ giải phóng cho cô”, ông ta nói, “Khỏi gánh nặng cuộc đời cô ở đây”.

Tạ ơn Chúa đã cho Ned bước nhanh đến từ một lối đi bên cạnh nhưng sau đó gần như chàng nhảy lùi lại khi nhìn thấy vị đại sứ. Tôi nói lớn: “Đây là anh trai của Janey Seymour bạn tôi, người đang đưa tôi đến thăm cô ấy. Xin ngài thứ lỗi”. Và tôi lao về phía Ned trong khi chàng nhanh nhẹn nắm lấy tay tôi. Ngay khi ngài đại sứ cúi chào và quay lưng bước đi, chàng vồ lấy tôi và hôn tôi cuồng nhiệt.

“Ned, anh biết họ đang nghĩ gì không?”, tôi hỏi trong ngây dại. “Ông ta nói rằng họ sẽ giải thoát em khỏi gánh nặng cuộc đời mình! Họ sẽ giết em à?”.

“Họ đang lập kế hoạch bắt cóc rồi gả em cho một người thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha”, Ned mím chặt môi nói. “Khi nhìn thấy ông ta và em, anh nghĩ ông ta đang thuyết phục em đi cùng ông ta. Anh nghe điều đó từ một người vừa trở về từ Madrid. Chuyện đó đã lan truyền khắp châu Âu. Họ muốn có một đồng minh Tây Ban Nha trên ngai vàng của nước Anh một lần nữa. Một người họ có thể tin tưởng. Nhà vua Pháp đã chết và người Tây Ban Nha không chấp nhận vương hậu mới của Pháp là người kế vị ngai vàng nước Anh. Họ không muốn thấy nước Pháp mở rộng biên giới của mình nữa. Họ sẽ ủng hộ em chống lại Nữ hoàng Mary xứ Scots và buộc Elizabeth phải cho em vào hàng thừa kế”.

“Em không làm được bất cứ gì trong chuyện này”, tôi khẽ rên lên vì sợ hãi. “Elizabeth phải chọn em theo ý chí của chính bà ấy. Em không thể ép bà ấy. Và em cũng không thể là kẻ thù của nước Pháp! Họ không được xem em là kẻ như thế. Em không thể là người thừa kế ngai vàng nước Anh được Tây Ban Nha ủng hộ và chống lại người họ hàng của em là Vương hậu Pháp. Tại sao họ không thấy rằng em không thể làm gì cả?”.

Chàng lắc đầu, nét mặt đầy sát khí. “Không, còn tệ hơn thế. Họ không nghĩ rằng họ có thể thuyết phục Elizabeth chọn em làm thừa kế, và họ nghĩ bà ấy không thể bảo vệ đất nước này chống lại cuộc xâm lăng của Pháp vì Mary. Họ sẽ không cho phép một Hoàng hậu Pháp bước lên ngai vàng nước Anh. Kế hoạch của họ là em, họ sẽ tuyên phong em là người thừa kế hợp pháp, và sẽ kéo quân sang để đưa em lên ngôi”.

Tôi cố kìm nén một tiếng thét nhỏ. “Ned! Họ không thể bắt em làm điều đó!”.

“Đúng, họ sẽ không làm nếu mẹ em thuyết phục được Elizabeth; hoặc, chỉ khi nào Elizabeth tuyên bố em là người thừa kế của bà ấy; hoặc nếu chúng ta kết hôn để anh bảo vệ an toàn cho em.”

“Em sẽ không kết hôn với một người Tây Ban Nha”, tôi lắp bắp. “Không! Không! Không! Em chỉ lấy anh thôi”. Tôi níu lấy chàng và bị phân tâm ngay lập tức bởi vòng tay của chàng đang siết chặt người tôi và cơn mưa nụ hôn của chàng đổ xuống mặt tôi. Sự nồng cháy từ đôi môi chàng lan xuống cổ tôi. “Ôi Ned”, tôi thều thào. “Chúng ta không thể chờ lâu hơn nữa. Điều này làm thay đổi mọi thứ. Đừng để người Tây Ban Nha mang em đi. Em sẽ là vợ của anh. Em không muốn bị ép nhận ngai vàng như chị Jane của em. Em không muốn chết như chị ấy mà chưa biết yêu là gì”.

“Không bao giờ”, chàng nói. “Bọn họ đều tồi tệ như nhau, Nữ hoàng và gã Đại sứ Tây Ban Nha, mẹ em và mẹ anh. Tất cả bọn họ chỉ nghĩ đến ngai vàng. Họ không nghĩ đến chúng ta. Chúng ta sinh ra là của nhau, chúng ta phải sống bên nhau”.

Tôi tan chảy trước chàng. Tôi bất chấp hậu quả. Tôi muốn sống, tôi muốn được yêu, tôi muốn làm vợ chàng. Ned khẽ rên lên và kéo tôi ngồi xuống một thân cây. Tôi áp chặt người vào chàng, chàng lúng túng cởi chiếc quần bó chẽn của mình, tôi vén váy lên như một con điếm ở khu Southwark. Tôi không quan tâm. Tôi không muốn nghĩ gì nữa. Tôi không muốn chết trẻ mà chưa được nếm trải hương vị tình yêu. Tôi không muốn chờ đợi thêm một giây phút nào nữa cùng chàng. Chàng kéo tôi sát hơn và tôi thở hổn hển trong cơn đau nhói bất ngờ nhưng đầy khoái cảm. Tôi thở gấp vì ngập tràn trong hoan lạc. Sau đó tôi thở hắt ra, mặt ấp vào bờ vai chàng. Tôi chìm vào cảm giác đê mê và không còn nhìn thấy hay nghe thấy gì xung quanh ngoại trừ hơi thở hổn hển, gấp gáp của hai chúng tôi cùng một tiếng rên dài tắt dần trước khi mọi thứ trở lại lặng im.

Chúng tôi chỉ có thể ở bên nhau trong giây lát. Ngay khi tôi nhận ra mình đang ở đâu và đang làm gì, tôi trườn ra khỏi người chàng, trao cho chàng nụ hôn vội và phóng như bay về phòng mình. Tôi cần thay quần áo càng nhanh càng tốt. Tôi hối thúc những người hầu thắt dây ống tay áo, siết chặt áo lót nhanh nhất có thể rồi giằng lấy mũ trùm chụp vào đầu trong khi họ loay hoay đặt nó lên mái tóc vàng ánh kim rối bời của tôi. Tôi vừa đi vừa chạy đến cung của Elizabeth và bước vào từ phía sau để tham dự buổi thiết triều, hy vọng rằng không ai nhìn thấy tôi đến muộn.

Ánh mắt tối tăm của Elizabeth quét khắp lượt như một con chim ưng đang tìm mồi, dừng lại trước gương mặt đỏ ửng của tôi, rồi quét qua trước khi quay trở lại tôi. “À, Quận chúa Katherine”, bà ấy nói, mặc dù đã không gặp riêng tôi mấy tháng qua. Tôi khẽ nhún người cúi chào, nuốt nỗi sợ hãi vào trong. Tôi được yêu bởi một con người vĩ đại, tôi là một Tudor. Chúng tôi đã hứa hôn. Chắc chắn điều này còn quan trọng hơn những lời bà ấy sắp sửa nói ra.

“Ta thấy cô không hề bận tâm gì về việc phải đúng giờ”, bà ấy nói. “Ta cũng không nhìn thấy cô ở nhà nguyện”.

Tất cả những người phụ nữ trong triều lùi lại sau lời nhận xét của Nữ hoàng tạo ra một khoảng trống từ chỗ Nữ hoàng đến thẳng tôi, và mọi người đều hướng về phía tôi. Tôi nhìn thấy khuôn mặt mệt mỏi của Ngài William Cecil, bực bội vì thiếu kiên nhẫn trước sự phân tâm. Ông là đại quân sư của Elizabeth. Quả thật là sự kiên nhẫn đến kiệt sức khi nhìn Nữ hoàng tranh cãi với các vị tiểu thư những chuyện lặt vặt trong khi có quá nhiều đại sự của vương quốc cần bà ấy giải quyết. Tôi thấy Robert Dudley, người nhìn tôi như những kẻ xa lạ. Tôi thấy cả dì Bess St. Loe của tôi. Bà ấy liếc nhìn tôi như muốn thấy tôi cư xử tốt hơn trong khi tôi nhìn thấy khuôn mặt nhỏ nhắn của Mary lấp ló giữa những các thị nữ, và cái cau mặt khó chịu của em ấy.

Tôi nghĩ họ thật là lật lọng. Tôi là em gái của một nữ hoàng65*, và tôi đến trễ năm phút buổi thiết triều của Elizabeth vì tôi đi gặp người yêu tôi, một người tốt, người sẽ bảo vệ tôi khỏi những kẻ thù của vương quốc, thế mà họ lại cư xử như thể tôi là một đứa trẻ hư hỏng và đứa con hoang này lại dám mắng mỏ tôi.

65* . Ý nói Jane Grey.

Tôi nhún người chào lần nữa, cố gắng nín nhịn. “Thần xin lỗi, thưa Nữ hoàng”, tôi nói bằng giọng ngọt ngào nhất có thể.

“Cô đi gặp Đại sứ Tây Ban Nha ở nơi bí mật phải không?”, bà ấy hỏi. William Cecil nhướng mày vì sự bất cẩn của bà ấy. De la Quadra, vị Đại sứ Tây Ban Nha, đang đứng ở phía sau, độ lượng nghiêng mình chào, như muốn nói rằng không sao cả. “Không ạ”, tôi trầm tĩnh nói.

“Hay với ngài Đại sứ Pháp?”, bà ấy chặn đầu. “Vì ta nghe họ nói rằng cô không hài lòng với triều đình, và ta phải nói rằng, ta không biết làm thế nào để cô vui lòng, cũng không biết tại sao ta phải làm cô vui, dù chị cô đã cướp ngôi ta?”. Bà ấy cố đùa một cách ác ý.

Lời nói đụng chạm đến Jane khiến tôi quên mất bản thân mình. Một cơn thịnh nộ dâng trào trong tôi, nóng bỏng và đam mê như cơn sốt tìm kiếm khoái lạc vừa mới đây của tôi. Tôi không cho phép kẻ tiếm quyền đầu đỏ này xúc phạm chị tôi. “Người không cần phải cố làm hài lòng thần”, tôi nhổ toẹt. “Thần chỉ đến muộn chút thôi mà”. Bà ấy có thể dừng lại ở đó; bà ấy còn những điều to lớn hơn để lo lắng hơn là sự cứng đầu của tôi. Nhưng đôi lông mày của bà ấy cong lên vì kinh ngạc trước câu trả lời của tôi. “Cô hoàn toàn đúng đấy: Ta không có nghĩa vụ phải tốt với cô”, bà ấy nói với giọng tởm lợm. “Chắc chắn cô không phải là người tốt với ta. Cô làm gì để phục vụ ta? Cô đến muộn và cư xử thô lỗ, mẹ cô đau ốm và luôn vắng mặt, còn em gái cô thì như người tí hon. Ta không có số đo đàng hoàng của ai trong ba người nhà cô, ồ, hay ta nên nói là hai người rưỡi nhỉ?”.

Cơn giận của tôi bùng phát vượt tầm kiểm soát khi bà ấy chế nhạo em gái tôi. “Người không cần làm gì cho thần cả. Không gì có thể so sánh được với những chuyện người đã làm với nhà Dudley! Chẳng phải chính Nữ hoàng đã cong người khom lưng cho anh ta sao?”. Tôi nói to và chậm từng tiếng như tát thẳng vào khuôn mặt đang tái nhợt của bà ấy, gò má bà ấy đỏ bừng lên, mắt mở to kinh hoàng.

Có một tiếng rít nhỏ từ Phu nhân Bess St. Loe và tôi thấy Robert Dudley cau mặt. Hai tay của Mary vỗ vỗ vào miệng mình, mắt mở to. Elizabeth không nói được lời nào nhưng bàn tay đang nắm chặt cây quạt của bà ấy đang run lên bần bật như thể bà ấy đang cố giữ bình tĩnh. Bà ấy không nhìn Robert Dudley vì sự xúc phạm này đang nhắm vào hai người họ, nhưng liếc nhìn William Cecil, người đang nghiêng đầu thì thầm gì đó vào tai bà. Ông ấy không cần khuyên gì cả: Bà ấy biết rằng đáp trả tôi bằng sự tức giận cũng bằng mang lời tôi nói đến trước cửa Thánh Phaolô: Mọi người đều nghe rõ những gì tôi vừa nói. Cecil lầm bầm thúc giục bà ấy lờ tôi đi, bỏ qua sự nổ tung của tôi và xem đó như một trò đùa.

Bà ấy mở to đôi môi run rẩy của mình và cười lớn, nghe như tiếng quạ kêu. “Cô vui thật đấy, Quận chúa Katherine ạ”, bà ấy nói và đứng lên bước xuống từ ngai vàng và đi dọc quanh phòng khánh tiết để nói chuyện với một người khác, một người không quan trọng, như thể bỏ qua tôi và sự khinh thị của tôi.

Tôi cảm thấy Ned đứng bên cạnh tôi, thậm chí cả trước khi tôi quay lại và chạm mặt chàng. Mắt chàng ánh lên niềm tự hào. “Vivat!”66*, chàng nói. “Vivat regina!”.

66* . Vivat (Latin): Muôn năm hoặc Vạn tuế. Regina: Nữ hoàng.

Vivat Regina: Nữ hoàng muôn năm.

Tôi bị thất sủng khủng khiếp vì xúc phạm Elizabeth. Không ai dám để người khác thấy họ đang ở bên tôi. Ngài Đại sứ Tây Ban Nha chào tôi nơi công cộng nhưng tránh gặp riêng tôi. Tôi nghĩ không ai để ý đến tôi ngoại trừ Ned, Ned yêu quý của tôi. Nhưng chỉ cần chàng yêu tôi, tôi không quan tâm ai bỏ rơi tôi. Elizabeth đang trong giai đoạn đen tối nhất vì những lời đàm tiếu, bị xáo trộn bởi những suy nghĩ của người bà con, Nữ hoàng Mary xứ Scots, về việc thừa kế ngai vàng nước Pháp cùng với những người anh em hùng mạnh của cô ấy để ủng hộ cô lên ngai vàng nước Anh. Không ai dám nói chuyện hay tiếp cận bà ấy, chỉ có Robert Dudley có thể làm bà ấy phân tâm khỏi nỗi sợ hãi của mình.

“Chị bảo trọng nhé!”, em gái tôi, Mary, nói, cố dạy khôn người phụ nữ cao hơn em ấy sáu tấc. “Chị không nên xúc phạm Nữ hoàng. Chỉ có một người trong triều có thể khuyên bảo bà ấy. Chỉ phu nhân đó mới dám cảnh cáo bà ấy thôi”.

Tôi cười. “Ý em là Kat Ashley?”.

Nụ cười thường trực của của Mary chiếu vào tôi. “Chúa ơi, ước gì chị nhìn thấy điều đó”, em nói. “Nó hay như một vở kịch vậy. Ashley quỳ gối cầu xin Nữ hoàng hãy thôi yêu quý Robert Dudley một cách công khai. Rằng làm thế là đánh mất danh dự, rằng anh ta đã kết hôn và bà ấy không nên liên tục ở bên cạnh anh ta. Và chị biết không, Elizabeth đáp rằng nếu bà ấy yêu Robert, không ai có thể ngăn cản bà ấy!”.

“Nhưng tất cả những gì em nói có nghĩa là gì?”, tôi hỏi. “Đúng là phụ nữ các người!”. Cảnh ấy diễn ra trong phòng ngủ của Elizabeth khi bà ấy thay quần áo. Kat Ashley, nữ gia sư trước kia của bà ấy, là người phụ nữ duy nhất có đủ can đảm nói với bà ấy rằng cả đất nước này đang nghĩ bà ấy như một con điếm đúng nghĩa và Robert Dudley là một kẻ ngoại tình đầy tham vọng. Em gái tôi may mắn chứng kiến cảnh này. Em ấy có nhiệm vụ cầm dây buộc giày bằng vàng của Elizabeth, nên thường phải chờ đợi để buộc giày cho bà ấy trong khi Kat quỳ gối cúi xin Nữ hoàng đừng cư xử như một con điếm.

“Tất cả chúng em đều không dám nói gì, vì chúng em không phải kẻ ngu ngốc dũng cảm như Kat Ashley”, Mary nói một cách quả quyết. “Em không liều lĩnh với một kẻ tính khí thất thường. Chị nghĩ em sẽ bảo Nữ hoàng Anh quốc rằng bà ấy không nên chạy theo người đàn ông mà bà ấy yêu? Chị nghĩ em sẽ đứng lên trước bà ấy như chị vừa làm sao?”.

“Anh ta không còn tự do để yêu đương”, tôi nói thô bạo. “Và bà ấy cũng thế. Có sự khác biệt giữa bọn họ với chị và Ned. Bà ấy là một nữ hoàng, vì thế phải kết hôn vì vương quốc và thần dân của mình. Còn anh ta là người đã có gia đình. Trong khi đó, chị và Ned đều trẻ, tự do và cả hai đều là quý tộc”.

“Chị chưa bao giờ nói chuyện hôn nhân với Ned à?”, Mary hỏi. Tôi khuỵu gối cúi xuống em ấy để mặt của chúng tôi ngang nhau. “Ồ, Mary, chị đã nói với chàng”, tôi thì thầm. “Chị đã nói! Chị hứa là chị sẽ kết hôn với chàng”.

CUNG ĐIỆN HAMPTON

THÁNG 10 NĂM 1559

Ned ngồi trên lưng con tuấn mã của chàng trong bộ đồ nhung màu xanh dương. Áo khoác của chàng được thêu bằng chỉ xanh đậm hơn, đầu đội chiếc mũ nhung đính dải băng hải quân. Tôi đứng chỗ đầu con ngựa của chàng, còn khỉ Nozzle ngồi yên trên vai tôi, và tôi ngước nhìn chàng.

“Con ngựa thế nào?”. Tôi hỏi và cả hai chúng tôi phì cười với ý nghĩ về sự lúng túng của tôi trước chàng mới vài tháng trước đây, nhưng giờ đã trở thành niềm vui bí mật của chúng tôi.

Chàng đang trên đường đến Charterhouse67* ở Sheen để xin mẹ tôi cho phép chúng tôi kết hôn với nhau.

67* . Nhà dưỡng lão.

“Đừng quên nhắc bà rằng Elizabeth có thể sẽ không phản đối nhé!”, tôi nói với chàng. “Và đừng quên nói với bà rằng em đã đủ lớn để làm chủ tâm trí mình”.

“Anh sẽ nói như thế”, chàng đảm bảo với tôi. “Không có lý do gì để mẹ em từ chối. Đây chính là những gì bà và cha em muốn đối với chị gái em. Nếu anh xứng với Jane, anh cũng xứng với em. Cả hai gia đình chúng ta đã qua nhiều thăng trầm, và hiện giờ em không có tài sản lớn và không được Nữ hoàng sủng ái. Nhưng không sao, điều đó không quan trọng đối với anh”.

“Đừng hạ thấp em”, tôi nói một cách khó chịu. “Em không muốn bị đánh giá thấp trong mắt ai cả. Ngài Đại sứ Tây Ban Nha cho rằng không có người nào khác thừa kế Elizabeth ngoài em. Và dù thế nào, em sẽ quay trở lại lần nữa. Bà ấy rất tức giận với người dì họ của em, Margaret Douglas, vì đã đưa con trai Henry đến dự lễ đăng quang tại Pháp, và rằng bà ấy sẵn sàng tha thứ cho em vì đã cư xử thô lỗ với bà ấy”.

Ned trao tôi nụ cười và con tim tôi đã vui trở lại. “Elizabeth thích và không thích ai không có vấn đề gì đối với chúng ta. Chúng ta có dòng máu hoàng tộc nên bà ấy sẽ phải chấp thuận thôi. Em là họ hàng của bà ấy và là một Tudor, còn anh thuộc Seymour. Bà ấy không thể từ chối đám cưới của chúng ta”.

Đến Sheen phải mất một giờ. Tôi cuống quýt với yên ngựa, đai buộc, và những sợi dây cương như một người vợ đang tiễn chồng lên đường chinh chiến. “Thượng lộ bình an nhé!”. Tôi chúc chàng chuyến đi tốt đẹp dù biết rằng chàng có cả đoàn tùy tùng đi kèm. Không có gì nguy hiểm cho chàng nhưng có nhiều mối đe dọa đối với sinh mạng của Elizabeth. Phần còn lại của hoàng gia đều được yêu mến. Mọi người đều nhớ rằng Hoàng hậu Jane68*, người qua đời đầy bi kịch khi sinh vua Edward, là một Seymour mang dòng máu thuần Anh. Và dòng họ tôi, Grey, được yêu quý nhờ Hoàng hậu Jane. Kẻ thường dân nói về bà như một vị thánh. Chỉ một mình Elizabeth làm như Jane chưa bao giờ được phong vương hậu. Chỉ Elizabeth muốn giả vờ rằng chính bà ấy mới là người cuối cùng của dòng họ Tudor.

68* . Jane Seymour (1508 – 1537), người vợ thứ ba của Vua Henry VIII.

“Anh sẽ trở về vào ngày kia”, chàng nói. “Và anh sẽ gọi em là vợ trong vòng một tháng nữa thôi”.

Tôi vẫy tay chào tạm biệt và không quan tâm ai đang quan sát tôi đứng nhìn theo chàng. Tôi không nghi ngờ quyết tâm của chàng, tôi không chút nghi ngờ rằng mẹ tôi sẽ cho phép ngay lập tức. Bà luôn thích chàng, và Seymour là một dòng họ lớn. Mẹ chàng đã miễn cưỡng cho phép cuộc hôn nhân của chúng tôi với điều kiện mẹ tôi phải nói chuyện này với Elizabeth và có được sự chấp thuận của bà ấy. Ngoài những việc cỏn con đó, không gì có thể ngáng đường cuộc hôn nhân của chúng tôi.

CHARTERHOUSE, SHEEN

THÁNG 10 NĂM 1559

Mẹ tôi ốm nặng – bà đang có vấn đề với lá lách của mình (tôi phải nói rằng, bệnh như thế không có gì ngạc nhiên đối với người có tính khí gắt gỏng, cáu kỉnh như mẹ tôi). Nhưng ngay khi nghe thấy sứ mạng của Ned, bà ra lệnh cho tôi, Mary và Ned đến gặp bà và ông Stokes, giờ là chồng bà, tại Sheen. Bà bảo chính tôi phải nói với bà rằng tôi muốn lấy Ned làm chồng. Bà đón chúng tôi từ phòng khách của bà như đón con gái của một nữ hoàng, là bà. Mary đi sau tôi như một thị nữ tí hon.

Trông trang trọng như một cuộc đính hôn chính thức. Tôi nói với mẹ tôi: “Con yêu và muốn cưới phu quân Hertford của con”. Bà đứng dậy khỏi ghế của mình, đến bên tôi, mỉm cười, cầm tay tôi đặt vào tay chàng, và nói rằng bà sẽ rất vui khi thấy tôi yên bề gia thất và có cuộc hôn nhân tốt đẹp.

Adrian Stokes đứng ngay sau lưng bà, tuy không phải quý tộc nhưng ông là một người nhạy cảm, ông cũng khuyên nhủ chúng tôi đôi lời. Tất cả chúng tôi đồng ý rằng Nữ hoàng Elizabeth phải được nghe tâu trình cẩn trọng. Mùa hè này, bà ấy mụ mẫm cả người vì Robert Dudley và không có thời gian cho bất cứ ai khác, nhưng nếu tôi đòi kết hôn với họ hàng của Đức Vua quá cố, có lẽ bà ấy sẽ hướng sự chú ý của mình vào tôi và quan sát tôi cẩn thận hơn. Bà ấy thích dùng uy quyền của mình châm chọc người khác như mọi ả khốn trên đời, và sợ bị mất tước hiệu như mọi kẻ tiếm quyền khác. Chúng tôi không bao giờ, không bao giờ tỏ ý rằng chúng tôi biết mình được nuôi dưỡng tốt hơn và có quyền thừa hưởng ngai vàng hơn bà ấy. Chúng tôi hy vọng rằng bà ấy sẽ không nhớ đến thực tế là tôi, một Tudor có quyền thừa kế, muốn kết hôn với Ned, một Seymour, một người có dòng máu hoàng tộc.

Mọi người đều đồng ý rằng mẹ tôi phải viết thư cho Elizabeth và xin phép trước và sau đó vào triều để gặp riêng và thuyết phục Elizabeth. Năm người chúng tôi cùng nhau soạn một lá thư, viết rằng:

Bá tước vùng Hertford có thành ý với con gái thần là Quận chúa Katherine. Vì thế thần xin mạo muội cúi xin Nữ hoàng, là bề trên nhân từ và độ lượng, xem xét chấp thuận cho cuộc hôn nhân của con gái thần với ngài ấy.

Tôi nói đại ý rằng nếu bà ấy không đồng ý thì sao? Bà ấy đủ hằn học để nói không. Ned nắm lấy tay tôi và hứa: “Nếu bà ấy nói không, chúng ta sẽ bí mật cưới nhau và bà ấy cứ việc nói không với gió!”.

Vậy là bức thư được soạn thảo với Mary trong vai trò thư ký và mẹ tôi phải chép lại bằng nét chữ chân phương của bà. Nhưng trước khi có thể làm điều đó, bà lên giường nằm nghỉ và nói rằng bà không thể vào triều trong khi bà đang bị sưng phù và đau yếu quá. Chắc chắn bà không muốn gặp Elizabeth mà diện mạo của bà không tốt nhất. Rằng chúng tôi phải đợi cho đến khi bà trở nên khá hơn.

“Vậy bây giờ ta tính sao?”, tôi hỏi Ned.

“Anh sẽ quay về triều và chuẩn bị bức thư”, chàng hứa với tôi. “Anh có bạn bè; gia đình anh có ảnh hưởng. Anh có thể kêu gọi mọi người nói giúp với Nữ hoàng chuyện của chúng ta. Chúng ta đã có sự cho phép của mẹ anh và mẹ em. Chúng ta không cần gì hơn nữa”.

LÂU ĐÀI WINDSOR

MÙA THU NĂM 1559

Ned và tôi trở lại triều một cách riêng rẽ để không ai biết rằng chúng tôi đang bàn tính với nhau, nhưng sau đó chúng tôi hơi do dự. Dường như không thể xen ngang vào những cuộc trò chuyện to nhỏ của Elizabeth với Robert Dudley và khiến bà ấy quan tâm đến vụ việc của chúng tôi. Có cả hàng dài những người chờ đợi trước chúng tôi: các đại sứ nước ngoài đến cầu hôn, William Cecil với một đống dự luật cần được phê chuẩn nhằm thuyết phục Nữ hoàng ủng hộ các lãnh chúa Tin lành xứ Scots, những người đang chiến đấu chống lại vị nhiếp chính người Pháp trên đất nước họ. Giờ đây Elizabeth đã được phong làm Lãnh đạo Tối cao của Giáo hội69* mặc dù bà ấy là phụ nữ. Tôi nghĩ nếu là chị Jane tôi, chị ấy có thể làm được khối thứ từ cơ hội đó để cứu lấy linh hồn cả vương quốc này, và cứu người Scotland thoát khỏi Công giáo La Mã, nhưng đó chỉ là một ý nghĩ cay đắng. Dù sao, Nữ hoàng cũng không có thời gian cho Ned và tôi, và chúng tôi không thể tìm ra một cơ hội để chen vào.

69* . Supreme Governor of the Church.

Triều đình là nơi người ta tán gẫu với nhau những chuyện hệ trọng. Elizabeth lo lắng về người Pháp và người Scotland đến nỗi không thể để Robert Dudley rời khỏi tầm mắt mình, nhưng bà vẫn giao thiệp với Ngài William Pickering như một người tâm đầu ý hợp, và trò chuyện hằng ngày với Hoàng tử Áo quốc Ferdinand như thể bà ấy sắp sửa cưới chàng ta đến nơi. Dường như tất cả mọi người, từ những con chim trong vườn táo cho đến Nữ hoàng trong cung, đều có bạn tình. Ned và tôi chỉ là một trong rất nhiều cặp lén lút hôn nhau phía sau những cánh cửa tối mờ.

Các lãnh chúa Tin lành xứ Scots nổi lên chống lại Nhiếp chính Mary xứ Guise và đánh bại bà. Họ kêu gọi Elizabeth trợ giúp và dĩ nhiên bà ấy không dám làm gì cả. Nếu là chị Jane, chị ấy đã gửi ngay một đạo quân chính nghĩa sang đấy. Tuy nhiên, mặc dù William Cecil tranh luận cho đến khi kiệt sức tại Hội đồng Cơ mật và trong cung của Nữ hoàng, Elizabeth vẫn không dám gửi nhiều hơn một đoàn thuyền bí mật cho các lãnh chúa xứ Scots.

Trong khi tất cả mọi người đang tranh cãi liệu như thế là đủ chưa, hay Nữ hoàng phải đưa quân sang, Ned và tôi chuồn ra ngoài và tiếp tục cuộc tình bí mật của chúng tôi, được giấu kín một cách an toàn khỏi Nữ hoàng và các quân sư của bà ấy, và chỉ được biết đến bởi em gái chàng, Janey và em gái tôi, Mary. Hai cô em gái xếp đặt cho chúng tôi: Janey mời tôi đến phòng cô ấy khi Ned ở đó; Mary đứng canh khi chúng tôi gặp nhau trên bến tàu ngoài bờ sông hoặc trong khu rừng mùa thu của Cung điện Hampton. Chúng tôi cùng nhau cưỡi ngựa theo sau Nữ hoàng và người tình của bà ấy trong cơn mưa những chiếc lá vàng rơi xuống bao phủ quanh chúng tôi. Chúng tôi đi sau họ, cẩn thận giữ khoảng cách an toàn. Chú chó Jo chạy lon ton theo chúng tôi trong khi hai người họ tay trong tay thì thầm với nhau. Elizabeth bám chặt Robert Dudley trong cuộc khủng hoảng mới này. Rõ ràng, bà ấy không dám thực hiện nghĩa vụ của mình đối với những người cùng đức tin với bà ấy. Rõ ràng, chỉ có Robert Dudley mới cho bà ấy sự tự tin để xem thường những lời khuyên của William Cecil. Đơn giản là tôi không quan tâm chuyện đó. Tôi đang yêu, tất cả những gì tôi muốn là một cơ hội vàng trong đó Nữ hoàng đang ở trong tâm trạng tốt và mẹ tôi đủ khỏe để vào triều xin phép cho tôi được kết hôn .

Có lẽ chỉ có William Cecil, vị quân sư lâu năm của Nữ hoàng, mới nhìn thấy cuộc tình bí mật của chúng tôi, và tôi tưởng tượng rằng ông ấy chấp thuận. Ông ấy là người trầm lặng và không để bụng điều gì. Thi thoảng ông dành cho tôi một nụ cười hoặc lịch sự khen tôi vài lời khi chúng tôi đi qua nhau trong sảnh, hoặc tình cờ ngựa chúng tôi đi song song với nhau, khi triều thần cùng ra ngoài đi săn. Ông là một tín hữu Tôn giáo Cải cách trung kiên và ông biết tôi lớn lên cùng với đức tin giống như của chị Jane tôi và tôi sẽ không bao giờ chọn bất kỳ người nào khác. Người vợ Tin lành uyên bác của ông, Mildred, rất quý Jane, và tôi nghĩ ông nhìn thấy chị tôi trong tôi. Đức tin mạnh mẽ của ông truyền cảm hứng cho ông thúc giục Hội đồng Cơ mật và Nữ hoàng ủng hộ các lãnh chúa Tin lành xứ Scots và giải phóng vương quốc đó khỏi Giáo hoàng La Mã. Tôi biết ông ủng hộ tôi làm người thừa kế theo Tin lành và ông nói tốt về tôi, nếu không phải trực tiếp với Nữ hoàng thì cũng với các quân sư của bà ấy. Ông sẽ không bao giờ chấp nhận người họ hàng Margaret Douglas của tôi, người có nửa dòng máu Công giáo La Mã và đang sống trong sự ô nhục, và cũng không bao giờ chấp nhận Mary, Vương hậu Pháp, người mà dòng họ ngoại của cô ấy, tức các thành viên gia tộc Guise, đang bức hại những người cùng đức tin với chúng tôi bằng sự tàn ác tột cùng.

CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON

THÁNG 11 NĂM 1559

Chính Janey là người ở bên tôi khi người đưa tin từ cha dượng Adrian Stokes của tôi đến nói với tôi rằng mẹ tôi bệnh rất nặng và có lẽ không thể qua khỏi trong vài ngày nữa, rằng Mary và tôi phải đến ngay lập tức. Janey nắm chặt tay tôi trong khi nước mắt tôi trào ra vì nghĩ rằng giờ đây tôi phải chịu tang và mặc đồ đen, phải đến Charterhouse thê lương và phải ở đó, trong khi những người khác đang tận hưởng bữa tiệc Giáng sinh trong những bộ cánh lộng lẫy.

“Cô phải nói chuyện này với em gái của cô”, Janey nói.

Mary ngủ trong khu thị nữ nên tôi phải đi tìm em ấy. Họ dậy rất trễ và tôi có thể nghe thấy tiếng ồn ào đùa giỡn của họ dù qua cánh cửa gỗ dày. Bà chủ của các thị nữ này nên giữ họ gần mình hơn: Họ phải học cách cư xử đúng lễ nghi trong triều, chứ không phải huyên náo như cái chợ vỡ như họ đang làm bây giờ. Cứ nghe tiếng rít và tiếng la hét của họ thì biết.

Tôi gõ cửa và bước vào. Mary đang nhảy tưng tưng trên giường, nghịch nước bắn tung tóe sang những cô gái gần đó với chiếc bình rửa trong tay. Một trong số các cô gái đang dọa ném cái bô nước tiểu và họ nhảy lên nhảy xuống giường rượt đuổi nhau, tay trì kéo những tấm trải giường và kêu gào xin tha. Thật là vui vẻ! Nếu tôi không quá lớn, quá trưởng thành, và gần như được hứa hôn, thì tôi đã bị cám dỗ tham gia trò này. Nhưng, tôi đến đây để báo tin buồn.

“Mary!”, tôi hét to để át tiếng ồn và vẫy tay gọi em ấy ra cửa. Mary bật ra khỏi giường và chạy đến chỗ tôi, má em ấy đỏ hồng, đôi mắt đen sáng lên. Em tôi là một tạo vật bé xíu, không cao hơn một đứa trẻ con và tôi không thể tin rằng nó đã mười bốn tuổi. Lẽ ra em ấy đã phải đính hôn từ lâu. Giờ đây, không lâu nữa em ấy sẽ chẳng còn mẹ để mà định đặt gia thất cho. Nhưng tôi cũng không biết ai sẽ lấy em ấy. Em ấy thuộc dòng dõi hoàng gia, nhưng trong triều của Elizabeth điều đó chỉ là một bất lợi.

Tôi đặt tay lên bờ vai gầy và khom người xuống để nói vào tai em ấy. “Ra ngoài này đi, Mary. Chị có tin xấu cho em”.

Mary quàng vội tấm áo choàng trên bộ đồ ngủ và theo tôi đến hành lang bên ngoài phòng thị nữ. Tiếng la hét và tiếng cười của họ như bị bóp nghẹt khi Janey đóng cửa lại và đứng cách xa chúng tôi một quãng.

Tôi bỗng ngớ ra vì không biết phải bắt đầu như thế nào. Đây là một cô gái đã mất gia đình của mình trước khi trở thành một phụ nữ trưởng thành: Cha và chị gái đã nằm dưới lưỡi rìu, giờ đây mẹ cô ấy đang hấp hối. “Mary, chị rất xin lỗi. Chị đến để nói với em rằng mẹ chúng ta đang hấp hối. Adrian Stokes vừa nhắn tin cho chị. Chúng ta phải đi Sheen ngay lập tức”.

Mary không đáp lại. Tôi cúi xuống thấp hơn để nhìn vào gương mặt nhỏ nhắn xinh đẹp của em ấy.

“Mary, em biết mẹ bị bệnh chứ?”

“Vâng, tất nhiên em biết. Em lùn chứ em đâu có ngốc!”

“Chị sẽ là người chị tốt của em”, tôi nói lúng túng. “Chỉ còn lại hai chúng ta thôi”.

“Và em sẽ là đứa em ngoan của chị”, em ấy nghiêm trang nói, như thể sức ảnh hưởng nhỏ bé của em ấy có thể mang lại chút lợi ích nào đó cho tôi. “Chúng ta sẽ không bao giờ xa cách nhau”.

Mary thật ngọt ngào và tôi cúi xuống hôn em ấy. “Chị sắp cưới rồi”, tôi nói với em ấy. “Và khi chị có nhà riêng của mình, em sẽ đến sống với chị, Mary”.

Em ấy mỉm cười. “Tất nhiên, cho đến khi nào em kết hôn”, bức tượng nhỏ bé ngộ nghĩnh của tôi nói.

CHARTERHOUSE, SHEEN

MÙA ĐÔNG NĂM 1559/1560

Cuối cùng Elizabeth cũng trả lại cho gia đình tôi sự công nhận mà chúng tôi xứng đáng có. Bà ấy tổ chức tang lễ cho mẹ tôi theo cách mà bà ấy chưa bao giờ làm trong đời: một đám tang lớn theo nghi thức hoàng gia tại Tu viện Westminster với hàng tá người khóc mướn. Cả triều đình mặc đồ đen. Một tấm biển trang trọng khắc tên mẹ tôi cùng tước hiệu hoàng gia của bà. Mary và tôi, trong bộ đồ nhung đen, là những người than khóc chính. Khi linh cữu của bà được đặt yên vị, Clarenceux Herald hô to rằng Đức Chúa Trời rất đẹp lòng khi gọi “Quận chúa Frances cao quý và vĩ đại, Nữ Công tước Suffolk” về chốn thiên đường. Nếu bà chưa chết và nằm đó, chắc bà cũng sẽ chết vì vui mừng khi được chính thức công nhận dòng máu hoàng gia bởi người truyền tin của Nữ hoàng.

John Jewel, người bạn với tất cả các cố vấn tinh thần trước đây của chị Jane tôi, đã giảng Phúc âm trong tang lễ theo nghi thức tôn giáo Cải cách. Tôi nghĩ Jane có thể vui mừng khi thấy mẹ chúng tôi được rước đi trong tôn giáo mà chị ấy đã chết vì nó. Thật kỳ quặc và đau đớn khi nghĩ đến Jane, một nữ hoàng, đầu lìa khỏi cổ trong một cái giỏ, rơi xuống hầm mộ dành cho những kẻ phản bội trong nhà nguyện ở Tháp. Còn đây là mẹ tôi, yên nghỉ trong những nghi thức hoành tráng nhất, ngập tràn trong danh dự, với vô số băng tang phủ trên chiếc xe tang của bà.

Các quý bà trong triều mặc đồ đen, mang găng tay da đen được tài trợ bởi Nữ hoàng, đi sau quan tài của mẹ tôi, được bao phủ bởi những dải lụa đen và vải dệt vàng, cho thấy vị thế quan trọng của bà. Phu nhân Bess St. Loe nắm lấy tay tôi. “Ta rất yêu quý mẹ con”, bà ấy nói với tôi. “Ta nhớ cô ấy lắm. Cô ấy là một người phụ nữ tuyệt vời. Con có thể ghé thăm ta như một người bạn của con, Katherine. Ta không bao giờ có thể thay thế chỗ của mẹ con, nhưng ta sẽ yêu thương các con vì cô ấy”. Trong một khoảnh khắc, nhìn thấy cảm xúc của bà, tôi gần như khóc òa vì mất mẹ. Nhưng nếu bạn là một Tudor, bạn phải sống như không có cha mẹ bên cạnh. Mẹ của bạn là người bảo trợ bạn, con của bạn là người thừa kế bạn, bạn sợ thất bại của cả hai người đó. Tôi không cần dì Bess bảo với tôi rằng mẹ tôi là một quý bà tuyệt vời, và không ai dám nói rằng bà là một người mẹ tốt; nhưng thật an ủi khi thấy triều đình cuối cùng đã công nhận tư cách hoàng gia của bà và đương nhiên là của cả chúng tôi.

Nhưng còn nữa.

Elizabeth chọn thời điểm này để khôi phục tước vị của chúng tôi như những công chúa cùng dòng máu hoàng gia. Khi chết đi, mẹ tôi đã đạt được nguyện ước của đời bà: Chúng tôi được thừa nhận bởi Elizabeth, được đặt vào hàng thừa kế, được xem là dòng dõi hoàng tộc, được gọi là “Công chúa” và thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà ấy. Mẹ tôi, xin Chúa tha thứ cho bà, có lẽ đã nghĩ rằng cái giá phải trả (bằng cái chết của bà) là quá rẻ, và thật đáng để hy sinh. Jane chết để đòi danh giá và đặc ân cho mẹ chúng tôi, giờ chúng đã được trao lại cho chúng tôi, những đứa em của chị, ngay tại đám tang của mẹ chúng tôi.

Mary và tôi là những người tiếc thương thành kính nhất, đầu của chúng tôi luôn giữ thẳng, bất động như thể chúng tôi đã mang vương miện từ lúc nào. Tôi liếc nhìn phía sau để đảm bảo rằng Mary đang giữ gìn danh dự mới của chúng tôi, và tôi mỉm cười với em ấy. Đầu em ấy ngẩng cao, lưng thẳng trông giống như một bức tượng nữ hoàng thu nhỏ. Chúng tôi về nghỉ tại Charterhouse ở Sheen sau tang lễ nhưng tôi nóng lòng quay trở lại triều để xem cuối cùng Elizabeth có thực sự dành cho chúng tôi sự tôn trọng của người trong hoàng tộc hay không, cho tôi nơi ở thích hợp trong cung, và được xếp trước những người phụ nữ khác. Tôi nên theo sát từng bước ngay sau lưng bà ấy suốt quãng đời còn lại của bà ấy, và khi bà ấy chết đi, tôi sẽ bước lên ngai vàng. Giờ đây, cuối cùng tôi đã có thể nói chuyện với bà ấy như một người họ hàng về chuyện hôn nhân của mình.

“Con sẽ kết hôn ngay sau khi mãn tang”, tôi hoan hỉ nói với Stokes, cha dượng tôi. “Chúng ta phải xin phép ngay từ bây giờ trong khi triều đình vẫn còn trong kỳ tang và Elizabeth đang ở tâm trạng khoan dung như thế”.

Trông ông kiệt sức. Ông đau buồn vì mất đi người vợ yêu của mình. Không giống như chúng tôi, hai đứa con còn sống của bà, ông thực sự yêu bà. “Cha xin lỗi”, ông nói khô khốc. “Cha đã nói chuyện với Bá tước Hertford sau đám tang. Cậu ấy phải là người đến thưa chuyện với Nữ hoàng, giờ mẹ con đã ra đi”.

“Ồ, rất tốt. Thế Ned nói sao ạ?”. Tôi hỏi một cách đầy tự tin trong khi con cún Jo đang nằm trong lòng tôi, đang quấn quýt với Ribbon, con mèo nhỏ, và tôi nhẹ nhàng kéo đôi tai mượt như lụa của nó. “Anh ấy có muốn đợi cho đến khi con trở lại triều sau khi mãn tang không? Hay anh ấy định tới gặp Nữ hoàng ngay bây giờ, trong khi hai chúng con vẫn còn xa cách thế này?”.

Adrian Stokes lắc đầu, mắt nhìn thẳng vào tôi. “Cha xin lỗi”, ông lúng túng nói. “Cha rất xin lỗi, Katherine. Cha biết mẹ con cũng phải xin lỗi.

Nhưng cha không nghĩ rằng cậu ấy sẽ đảm nhiệm được sứ mạng đó. Thực ra, cậu ấy nói rất nhiều điều với cha. Không có mẹ con để tranh luận việc này với Nữ hoàng, mẹ cậu ấy đã đổi ý và không muốn tác hợp cho hai con. Phu nhân Seymour không muốn nói chuyện với Nữ hoàng mà không có mẹ con hỗ trợ, cả cậu ấy cũng vậy. Nói thẳng ra là, cả hai người bọn họ đều không dám nói chuyện này với Nữ hoàng”.

Tôi khó có thể tin được những gì ông nói. “Nhưng nữ hoàng đã phong con là công chúa máu mủ!”, tôi thốt lên. “Bà ấy thừa nhận con là thành viên hoàng tộc! Con chưa từng ở vào vị trí cao như thế trong sự sủng ái của bà ấy!”.

“Chính thế!”, ông đáp. “Bây giờ con đã được phong là một công chúa, bà ấy lại càng quyết tâm ban lệnh tiến hành cuộc hôn nhân của con, nhưng chắc chắn bà ấy không muốn con kết hôn với người sẽ đòi ngai vàng cho anh ta!”.

“Lấy Hertford!”, tôi cao giọng với cha dượng tôi. “Bà ấy nên ban lệnh cho con lấy Hertford! Và cha phải cương quyết với điều đó cho con!”.

Ông lắc đầu. “Con biết cha không có ảnh hưởng gì, Quận chúa Katherine ạ. Cha là một thường dân không có nhiều tài sản. Nhưng cha biết rằng Nữ hoàng không muốn gả con cho một Đức ngài có tham vọng chiếm ngai vàng. Và bà ấy sẽ không cho phép con kết hôn trong khi bà ấy chưa kết hôn, vì có nguy cơ con sẽ có con trai nối dõi trước và nắm quyền thừa kế cao hơn con bà ấy. Cha nhìn thấy những gì nhà Seymour đang suy nghĩ: rõ ràng là Nữ hoàng không muốn một cậu bé Tudor–Seymour trong triều cho đến khi bà ấy có chồng và có con trai của chính mình. Nhà Seymour không muốn mạo hiểm xúc phạm bà ấy”.

“Cha nghĩ bà ấy suy nghĩ mọi chuyện rất cẩn thận”, ông cảnh báo tôi. “Cha nghĩ bà ấy đang cho người theo dõi con, và bà ấy sẽ không muốn nhận bất cứ rủi ro gì khi tự tạo ra một người thừa kế vô cùng đe dọa ngai vàng của bà ấy”.

“Elizabeth không theo dõi con!”

“Nhưng William Cecil thì có”. Ông nhìn thấy cú sốc trên gương mặt tôi và nhún vai tỏ ý không thể giúp được gì cho tôi. “Ông ta theo dõi tất cả mọi người”.

“Cha bảo bà ấy sẽ không để con kết hôn cho đến khi bà ấy kết hôn và có con trai thừa kế của chính mình?”

Ông gật đầu. “Gần như chắc chắn. Điều đó giúp tạo ra một người có quyền thừa kế mạnh hơn cả chính bà ấy”.

“Thế thì phải mất nhiều năm nữa!”

“Cha biết. Nhưng cha nghĩ bà ấy không chấp nhận có đối thủ.” “Bà ta sẽ là phế tích của con!”, tôi nói chắc như đinh đóng cột.

Đôi lông mày hung đỏ kiểu dân Scots của ông châu lại như tự hỏi “phế tích”70* nghĩa là gì. “Cha hy vọng là không”, ông nói. “Cha hy vọng rằng con phải hết sức cẩn thận với danh tiếng của con và với Nữ hoàng”. Tôi nghĩ về khúc cây trong vườn nơi tôi và Ned tình tự với nhau, tôi nghĩ về khoảnh khắc của cơn đau nhói và niềm hoan lạc khi cùng chàng làm chuyện ấy, tôi nhớ về lần tôi khóc trên vai chàng thì thào: “Em là tất cả của chàng!”.

70* . Ruin: phế tích, tàn tích.

“Chúng con đã hứa hôn với nhau rồi!”, tôi nói.

“Theo truyền thống thì phải có sự cho phép của Nữ hoàng”, ông nhẹ nhàng nhắc nhở tôi. “Đó là luật. Nữ hoàng có quyền phục hồi luật pháp. Nhưng dù sao đi nữa, nhà Seymour đã nói rằng họ sẽ không cầu xin điều đó”.

“Còn bức thư của mẹ con xin Nữ hoàng cho phép Ned và con kết hôn? Con có thể trao nó cho Elizabeth nếu không ai khác đủ can đảm làm điều đó. Chúng ta có thể nói rằng chúng ta tìm thấy nó trong mớ giấy tờ của mẹ con, rằng đó là di nguyện của mẹ con?”

Gương mặt mệt mỏi của ông tối sầm lại. “Bức thư đó... nhờ nó mà cha biết rằng con đang bị theo dõi. Bức thư của mẹ con đã lọt ra ngoài từ tủ đồ riêng của bà ấy. Mẹ con đã bị theo dõi và có người đã đánh cắp lá thư. Vì sự an toàn của con, Katherine, con phải quên đi tất cả chuyện này”.

“Họ không thể ăn cắp một lá thư được dự định gửi đến Nữ hoàng! Họ không thể lục lọi giấy tờ của chúng ta và lấy đi những thứ họ muốn. Ai dám làm chuyện này?”

“Cha không biết. Cha không hiểu tại sao. Nhưng dù gì nó cũng đã biến mất và chúng ta không thể lấy lại được. Cha nghĩ con không thể làm gì ngoài việc bỏ Ned ra khỏi suy nghĩ và trái tim của con.”

“Con không thể quên!”, tôi kêu lên. “Con yêu chàng. Con đã hứa với chàng! Chúng con đã đính ước với nhau!”.

“Cha xin lỗi” là tất cả những gì ông nói. Và rồi ông nói điều gì đó còn tồi tệ hơn: “Cậu ấy cũng xin lỗi, cha có thể nói như thế. Cậu ấy rất xin lỗi vì con sẽ không bao giờ gặp lại cậu ấy”.

“Không gặp con nữa à?”, tôi thì thầm. “Chàng đã nói thế sao?”. “Đúng, cậu ấy nói thế”, ông xác nhận.

Chúng tôi sống rất lặng lẽ và mờ nhạt tại Sheen. Con khỉ Nozzle luôn rùng mình trước những bức tranh lạnh lẽo được gắn lệch trên các cửa ra vào. Mèo Ribbon không chịu ra ngoài đi vệ sinh và luôn làm ướt chân mình nên tôi cứ phải dọn dẹp cho nó. Chó Jo thì rên rỉ ngay khi tôi vừa rời khỏi phòng, như muốn nói rằng nó cũng đang cô đơn.

Ít nhất tôi đã không bỏ lỡ một kỳ Giáng sinh vui vẻ tại triều đình. Janey viết cho tôi và nói rằng nơi này cũng tồi tàn như hồi Nữ hoàng Mary ngồi trên ngai vàng, do Elizabeth phát ốm vì sợ phải gửi quân Anh sang hỗ trợ các lãnh chúa Tin lành xứ Scots. Tất nhiên bà ấy phải làm thế. Đây sẽ là một đòn sấm sét dũng cảm: Đưa Phúc âm tới những người chưa bao giờ nghe thấy nó trừ phi bà ấy hành động. Nhưng Elizabeth sẽ không đi theo con đường công chính, và bà ấy e sợ Nhiếp chính Scotland, Mary xứ Guise, mẹ của Nữ hoàng Mary xứ Scots, vương hậu mới của Pháp. Người Pháp sẽ xâm lăng để ủng hộ người họ hàng của họ chống lại cuộc nổi dậy của các lãnh chúa Tin lành xứ Scots, và một khi họ đã chiếm được Scotland thì việc tiến xuống phía nam diễu hành trên đất của Elizabeth không là một vấn đề lớn. Nếu là chị Jane của tôi, chị ấy đã gửi ngay một đội quân tử vì đạo để giúp các lãnh chúa trung thành chống lại kẻ nhiếp chính theo đuôi Công giáo La Mã ngay lập tức. Bất cứ triều đại hùng mạnh của nước Anh cũng làm thế. Nhưng Elizabeth không có niềm tin trong trái tim mình và sẽ không tham gia vào một cuộc chiến tranh tôn giáo. Điều tồi tệ nhất cho bà ấy là William Cecil, một nhà cải cách mãnh liệt như bất cứ người nào trong dòng họ tôi, đã nói rằng nếu Nữ hoàng không chấp nhận lời khuyên của ông để giúp Scotland, ông sẽ không nói gì nữa và thực sự đã rời triều về nhà sống với vợ mình, Mildred.

“Elizabeth sẽ trở nên vô dụng nếu không có ông ấy”, tôi nói với Mary, đọc rõ lá thư cho em ấy nghe. Hai chúng tôi ở phòng riêng của mẹ chúng tôi, bên ngoài từng làn nước mưa lạnh giá tràn xuống các cửa kính niêm chì. “Chị dám chắc bà ấy sẽ mất ngôi nếu người Pháp diễu hành ở đây”.

“Chắc chắn họ sẽ xâm lược chúng ta, đúng không? Nếu bà ấy tuyên chiến với họ ở Scotland thì sao? Liệu họ có dám vượt eo biển phía nam và tràn xuống từ Scotland, phía bắc, và tấn công cùng một lúc không?”

Tôi gật đầu, giải mã những dòng chữ nguệch ngoạc khẩn cấp của Janey. “Và bà ấy chẳng có quân đội, cũng không có tiền để nuôi một đạo quân như thế, trừ phi bà ấy không gửi Ned đến Edinburgh!”, tôi nói.

“Chuyện này có liên quan gì đến Hertford không?”, tôi hỏi tiếp. “Không”, Mary đáp. “Nhưng có liên quan đến Howard. Thư viết rằng Elizabeth đang gửi người anh họ Thomas Howard đến Edinburgh. Còn Ned thì an toàn”.

Tôi nắm chặt tay như thể đang cầu nguyện trên ghế bên cửa sổ. “Lạy Chúa, xin cho con được trở lại triều đình và được ở bên chàng! Xin cho con được gặp chàng!”.

“Nếu người Pháp xâm lăng nước Anh, điều đó sẽ đưa Nữ hoàng Mary xứ Scots lên ngôi, chứ không phải chị”, Mary nhận xét.

“Chị không muốn ngai vàng!”, tôi cáu kỉnh nói. “Tại sao không ai chịu hiểu điều đó nhỉ? Chị chỉ muốn Ned thôi”.

CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON

MÙA XUÂN NĂM 1560

Tôi nói rằng tôi không muốn ngai vàng, nhưng tôi không thể ngăn ngọn lửa tham vọng khi tôi trở lại Whitehall để xem mình có được nhìn nhận như một thành viên đáng kính trọng trong triều đình hay không, như tôi luôn đáng được như vậy. Đại quân sư của Nữ hoàng, William Cecil, đã thắng cuộc tranh luận về việc ủng hộ người Tin lành xứ Scots và đã trở lại vị trí của mình, yêu cầu gửi quân Anh sang Scotland và thúc giục trao quyền cho những người Tin lành Kháng cách – và biết rõ rằng tôi là người thừa kế theo đạo Tin lành. Ông ấy luôn cúi chào và trao đổi đôi lời chào hỏi ngắn gọn với tôi, như thể bây giờ tôi là mối quan tâm của ông ấy, như thể ông ấy nghĩ rằng thời của tôi đang đến và ông ấy sẽ làm quân sư cho tôi, sau khi Elizabeth biến mất.

Tôi là người được cả triều đình yêu mến. Tôi là một công chúa được sủng ái chứ không còn là một khách trọ bị khinh khi nữa. Tôi không còn là một người bà con bị lãng quên mà là người thừa kế được công nhận trong cả vương quốc. Tôi có cảm giác kỳ lạ rằng mình đang ở một nơi mà tôi biết rất rõ nhưng mọi thứ lại rất khác. Có một thực tế mới đằng sau những nụ cười rạng rỡ, như thể nó là Màn Hai của một vở kịch và các diễn viên đã đổi mặt sau các mặt nạ nên cùng một người nhưng giờ đây lại hoàn toàn khác.

Người họ hàng Margaret Douglas của tôi đã xúc phạm Nữ hoàng rất nặng nề. Một người hầu của chồng bà, Matthew Stuart, bị bắt gặp khi đang kể với Đại sứ Pháp rằng Margaret là người kế cận của người họ hàng chúng tôi là Nữ hoàng Mary của Pháp và Scotland, và chồng bà, với tư cách Bá tước xứ Lennox, là người thừa kế ngai vàng của Scotland. Điều này rõ ràng đúng, nhưng bất cứ ai cũng có thể cảnh báo bà ấy rằng một thông điệp như thế phải được báo cáo ngay lập tức, và Elizabeth đã rất sợ hãi và giận dữ. Lẽ ra Margaret nên chọn cách sử dụng thế mạnh của mình là sự chất phác và tuổi tác, khi đó Elizabeth họa may còn tha thứ cho dòng máu hoàng tộc của bà ấy. Tuy nhiên, triều đình rất vui vì William Cecil được lệnh vơ vét mọi tài liệu cũ được lưu giữ trong phòng văn tự để chứng minh rằng Margaret Douglas, con gái của người chị gái của Vua Henry VIII, Hoàng hậu Scotland, thực ra là bất hợp pháp và vì vậy cả bà và cậu con Henry Stuart đẹp trai của mình đều không có quyền thừa kế ngai vàng nước Anh. Dường như tiếng tăm của bà còn tệ hơn cả Elizabeth, người có mẹ bị chặt đầu vì ngoại tình với năm người đàn ông có quyền kế vị!

Tôi cảm ơn Chúa vì không ai dám đặt câu hỏi về mối quan hệ cha con của tôi. Tôi đứng một cách đường hoàng và hợp pháp từ nhánh của người em gái vua Henry, Hoàng hậu Mary, người kết hôn với người bạn thân nhất của Henry, Charles Brandon, và sinh ra mẹ tôi, Frances Brandon, và giờ đây tôi lại được sủng ái trở lại. Sự giống nhau của tôi với bà ngoại xinh đẹp của mình bất ngờ trở nên rõ rành rành. Nhiều người nói với nhau rằng tôi xinh đẹp như một công chúa Tudor, và ngưỡng mộ màu da xứ York sáng láng của tôi.

Robert Dudley, người ra vào hậu cung như con thoi, và được tự do vào phòng ngủ hoàng gia, tuyên bố là người bạn tin cẩn nhất của Nữ hoàng, lịch thiệp với tôi như họ hàng thân thích. Các dòng họ chúng tôi chồng chéo nhau – anh ta là anh chồng của chị Jane tôi, cho nên cũng là họ hàng thông gia tôi – anh ta là người tình được yêu thích nhất đối với Nữ hoàng người họ hàng của tôi, và bây giờ rất vui vì được xem như có họ hàng với nhau. Đột nhiên, tôi có nhiều bạn bè tại đúng nơi mà trước kia tôi như sống giữa những người xa lạ. Tôi tự nghĩ rằng mình được yêu thích và ngưỡng mộ lắm. Tôi bắt đầu nói “Nữ hoàng người họ hàng của tôi” theo cách mẹ tôi gọi Elizabeth, và Mary mỉm cười với tôi từ phía sau bàn tay nhỏ nhắn đang che lên khuôn mặt mình.

Nhưng sự trở lại triều đình một cách vẻ vang của tôi, việc tôi khám phá ra tôi có rất nhiều người bạn mới, thậm chí cả sự sủng ái của Nữ hoàng, cũng không bù đắp được cho tôi vì mất Ned. Người đàn ông trẻ tuổi tự do tuyên bố rằng tôi, theo ý chí riêng của mình, là người yêu của chàng, người đã đi tìm sự ban phước lành của mẹ mình và sự cho phép của mẹ tôi, giờ đi ngang qua tôi như thể anh ta không nhìn thấy tôi. Khi chúng tôi vô tình đối mặt, anh ta nghiêng mình chào tôi như thể chúng tôi không gì hơn là những người quen biết lịch sự chào nhau.

Lần đầu tiên khi cái nhìn mê hoặc của chàng lướt qua tôi và phóng ra xa, tôi nghĩ rằng mình có thể chết vì bất hạnh. Nhờ có Mary đứng bên cạnh dưới khuỷu tay của tôi, đầu không quá vai tôi, mới giữ được người tôi đứng thẳng, nếu không tôi đã ngất xỉu. Em ấy bấu chặt lấy cánh tay tôi đến nỗi để lại vết bầm tím sau đó, và thì thầm bên tai tôi: “Hãy ngẩng cao đầu! Nâng cằm lên!”.

Tôi liếc sang em ấy, hoàn toàn rối bời. Em ấy nâng tôi và nói tiếp: “Vững chân vào! Giữ chặt nào!” như cha chúng tôi thường nói khi ông dạy chúng tôi cưỡi ngựa, và điều đó nhắc tôi nhớ lại chính mình. Tôi bước đi, tay vịn vào vai em ấy, từng bước một theo em ấy. Chúng tôi ra nhà nguyện cùng nhau, em ấy nâng đỡ tôi như thể tôi đang ốm. Khi quỳ xuống sau Nữ hoàng, tôi cúi đầu nguyện xin Chúa giải phóng tôi khỏi nỗi đau này.

Tôi cay đắng nghĩ rằng Ned đã từ bỏ tôi để tránh sự phật lòng của một nữ hoàng không bao giờ hy sinh những thú vui của riêng mình. Elizabeth cho phép bản thân tận hưởng hoan lạc với người tình của mình, còn tôi thậm chí không được nói chuyện với người tôi yêu. Tôi từng chứng kiến cảnh bà ấy nũng nịu đòi Robert Dudley bế xuống ngựa, hoặc khiêu vũ cùng bà ấy vào buổi tối, hoặc mỗi khi bà ấy đi dạo bên ngoài, đầu ngả vào vai anh ta, hoặc triệu anh ta vào phòng riêng của bà ấy, và họ ở một mình với nhau. Tôi nhận ra rằng tôi ghét Elizabeth vì thói ích kỷ của bà ấy, vì chỉ nghĩ về lạc thú của bản thân mà không bao giờ nghĩ đến tôi. Tôi cay đắng đổ lỗi cho bà ấy đã khiến tôi bị tách khỏi người tôi yêu và tôi sẽ chết như một cô gái già cô độc, trong khi bà ấy công khai đắm chìm trong một cuộc tình đáng xấu hổ.

Giờ đây, bà ấy tuyên bố sẽ kết hôn với Hoàng tử nước Áo Ferdinand ngay khi chàng đến Anh – bà ấy hứa sẽ liên minh với Tây Ban Nha để bảo vệ nước Anh – nhưng rõ ràng tất cả mọi người đều biết rằng đó chỉ là lời nói dối, và rằng bất cứ người chồng nào của bà ấy đều sẽ bị cắm sừng trước cả khi con tàu của chàng cập bến Greenwich.

Người Tây Ban Nha giờ đã học được điều này. Ngài đại sứ mới bị xúc phạm, cả gia đình ông mặt sưng mày sỉa. William Cecil lại khá phân tâm, cố gắng duy trì tình hữu nghị của chúng tôi với sức mạnh to lớn của Tây Ban Nha để cân bằng mối đe dọa lớn từ Pháp. Đại sứ Tây Ban Nha, ngài Álvaro de la Quadra, tình cờ thấy mình đứng bên cạnh tôi khi chúng tôi đi thuyền trên sông về phía một tán cây to được thắp đèn để nghe đọc thơ vào một buổi tối nọ. Thế là ông ta nói rằng Hoàng tử nước Áo đã nghe nói về sắc đẹp của tôi và muốn kết hôn với tôi hơn là đi lòng vòng với cả một quy trình kéo dài và không đáng tin cậy trong việc tán tỉnh Elizabeth. Một ngày nào đó tôi sẽ là một Nữ hoàng Anh quốc vĩ đại cùng với phu quân là Hoàng tử Áo quốc và thêm quyền lực Tây Ban Nha phía sau tôi. Trong khi chờ đợi, tôi có thể là một công nương danh giá sống tại một nơi đáng cho nhiều người phải ghen tị trong triều đình Anh, trung tâm chất chứa tham vọng của những kẻ theo Công giáo La Mã.

“Ồ, tôi không thể nói gì”, tôi thì thầm. Tôi rất hoảng vì ông ta dám nói điều này một cách rõ ràng với tôi. Cảm ơn Chúa vì không có ai nghe thấy chúng tôi ngoại trừ một người của William Cecil bất ngờ đi ngang qua. “Thưa ngài, ngài làm tôi vô cùng vinh dự. Nhưng tôi không thể nghe những điều như vậy mà không có sự cho phép của Nữ hoàng người họ hàng của tôi”.

“Không cần kể điều này với Nữ hoàng”, ông ta nói rất nhanh. “Tôi nói với cô hoàn toàn bí mật, vì vậy cô hiểu những gì có thể xảy ra. Nếu cô muốn nó xảy ra”.

“Thực lòng là, tôi không muốn gì cả”, tôi đoan chắc với ông ta.

Sự thật là thế. Tôi không muốn có ngai vàng nữa. Tôi chỉ muốn trở thành một người vợ chứ không phải là một nữ hoàng bẳn tính dữ tợn. Tôi muốn có chồng, và không ai ngoài Ned. Tôi không thể chịu đựng được bàn tay ai khác chạm vào người tôi. Nếu tôi sống cho đến khi thành người thiên cổ, hoặc nếu tôi chỉ sống đến năm mươi tuổi, tôi cũng không bao giờ muốn bất cứ ai khác ngoài Ned. Chúng tôi đi ngang qua nhau trong hành lang, tại bữa ăn tối, trên đường tới nhà nguyện, trong sự im lặng khổ sở. Tôi biết rằng chàng vẫn yêu tôi. Tôi thấy chàng đưa mắt tìm kiếm tôi lúc ở nhà nguyện và tôi giấu mặt mình sau những ngón tay để chàng không biết rằng tôi cũng đang lén nhìn chàng. Chàng như tiều tụy vì mong ngóng, khát khao, nhưng tôi không được phép an ủi chàng.

“Tôi thề với cô là anh ấy yêu cô nhiều hơn bao giờ hết”, Janey rền rĩ. “Anh ấy đang rời xa, Katherine ạ, nhưng là do mẹ tôi cấm anh ấy nói chuyện với cô và cảnh báo anh ấy rằng Nữ hoàng sẽ không vui nếu biết chuyện. Tôi không thể chịu đựng được rằng hai người không có nhau. Tôi nói với anh ấy rằng anh ấy bệnh nặng hơn tôi. Và người có thể cứu chữa anh ấy ở đây! Cô là phương thuốc chữa trị cho bệnh tình của anh ấy”.

“Chỉ khi nào mẹ cô nói chuyện chúng tôi với Elizabeth!”, tôi nói.

Janey lắc đầu. “Bà không dám. Bà nói với tôi rằng Hội đồng Cơ mật đã nói với Elizabeth rằng bà ấy phải tìm một người chồng an toàn cho cô ngay lập tức. Trước thực tế là quân đội Anh đang tập trung lên đường đánh quân Pháp ở Scotland, họ rất lo sợ rằng cô sẽ đứng lên chống lại Nữ hoàng, hoặc thậm chí rời bỏ nước Anh. Họ sợ rằng người Tây Ban Nha sẽ mang cô đi. Họ muốn cô yên bề gia thất an toàn với một người Anh có địa vị thấp để giữ cô ở nhà và tước bỏ quyền kế vị của cô”.

“Tôi không đi Tây Ban Nha!”, tôi nói một cách tuyệt vọng. “Tại sao tôi phải làm thế? Tôi đi đâu? Người đàn ông duy nhất trên đời tôi muốn cưới là ở đây. Tôi không quan tâm đến Hoàng tử Áo hay bất cứ ai khác! Mà tại sao tôi phải cưới người Anh có địa vị thấp? Tại sao tôi lại bị xúc phạm như thế?”.

Tôi kinh hoàng với tin đồn của Janey rằng họ muốn tôi kết hôn với người không danh phận và lãng quên tôi, nhưng tôi càng sợ hãi hơn khi nghe nói rằng các lãnh chúa xứ Scots đã đề nghị tôi nên kết hôn với người họ hàng của tôi là Bá tước xứ Arran, một trong những kẻ vô dụng nằm trong danh sách tán tỉnh của Nữ hoàng Elizabeth, để nước Anh có thể trao cho những kẻ nổi loạn xứ Scots một nữ hoàng theo Tin lành, và họ có thể tập hợp sau lưng Arran và tôi để đánh bại người Pháp. Họ sẽ tác hợp tôi với Arran và phong tôi làm Nữ hoàng Scotland.

“Tôi phải làm gì đây?”, tôi hỏi Janey. “Bọn họ điên hết rồi sao? Chừng nào họ mới ngừng cố bảo tôi kết hôn với hết người kinh dị này đến người khủng khiếp khác? Phải chăng bà ấy công nhận tôi là một công chúa để bán tôi cho một liên minh? Cô phải nói với Ned rằng có kẻ muốn bắt cóc tôi, nếu chàng không cứu tôi”.

Ned không cứu được tôi. Chàng không thể. Mẹ chàng đã cấm tiệt, và bà ấy không phải dạng phụ nữ để con cái bất phục tùng. Chàng không biết làm gì hơn là nhìn tôi một cách khao khát rồi ngoảnh mặt bước đi. Robert Dudley cũng không làm gì cho tôi. Anh ta chỉ nghĩ về chính mình và Elizabeth. Anh ta ở bên bà ấy mỗi ngày trong quãng thời gian nguy hiểm này, và tôi nghĩ nếu không bám lấy anh ta, bà ấy sẽ mất trí. Tất nhiên, chỉ William Cecil là người biết tất cả mọi việc, là còn nói chuyện với tôi. Ông ấy cúi người rất thấp khi bước ra khỏi cuộc họp của Hội đồng Cơ mật, và chìa cánh tay cho tôi khoác vào và cùng đi dọc hành lang đến cung của Nữ hoàng. Tôi khẽ ngọ nguậy các đầu ngón tay tỏ ý muốn rút tay ra, nhưng ông ấy càng giữ chặt hơn tay tôi, và chúng tôi cùng bước vào. Tôi lập tức nhìn thấy đôi môi cong cớn quả quyết được bôi son của Elizabeth và hiểu rằng hai người bọn họ đã đồng ý trước với nhau rằng tôi phải được giữ chặt và áp tải đến đây, và họ đã đạo diễn một màn múa nhỏ để tôi biểu diễn.

“Ồ! Cháu Katherine”, bà ấy nói, quay khỏi Robert Dudley và nhìn tôi như thể quan tâm đến tôi nhiều hơn anh ta. “Cháu yêu quý!”.

Cái cúi chào của tôi không quá nông ở mức tôi dám làm, “Dì Elizabeth, thưa Nữ hoàng”, tôi xưng hô như thế vì chúng tôi dường như đã gần gũi nhau hơn mấy hôm nay.

“Hãy đến và ngồi bên ta”, bà ấy nói và chỉ chiếc ghế bên cạnh. “Dì đã không gặp cháu cả ngày nay”.

Vậy là bà ấy đã cố chịu đựng sự vắng mặt của tôi nhiều ngày qua, và chưa bao giờ tôi được mời ngồi cùng bà ấy trước đây. Tôi liếc nhìn sang bên, nơi Ned đang quan sát cuộc chiến đã đến hồi gay cấn này, nét mặt anh ta đóng băng và mắt nhìn xuống đất, như thể anh ta còn không dám nhoẻn miệng cười với tôi. Anh ta rất sợ làm phật ý Elizabeth, còn tình cảnh của tôi như con chuột nằm dưới vuốt một con mèo béo núc có bộ lông màu vàng đỏ.

“Ôi con cún thật dễ thương!”, Elizabeth thốt lên.

Tôi nhìn xuống Jo. Nó đang ép chặt vào chân tôi như sợ rằng tôi sẽ tuân theo luật bất thành văn của triều đình mà tặng nó cho Nữ hoàng, người đang nhìn nó với gương mặt không có gì nồng ấm.

“Ta yêu Katherine như con gái ta”, giọng Nữ hoàng bay thoảng qua đầu tôi. Ngay cả bà ấy, kẻ nói dối vĩ đại, cũng không đủ can đảm nhìn thẳng vào mắt tôi. Mọi người nghe những lời đáng ngạc nhiên ấy bằng những khuôn mặt vô hồn. Tôi thấy cái nhìn đầy quan tâm của Đại sứ Tây Ban Nha. “Cô ấy như con gái ruột của ta”, bà ấy lặp lại to hơn. Thế rồi sau lời tuyên bố mào đầu, bà ấy dịu giọng nói với tôi: “Chắc cô nhớ mẹ mình nhiều lắm nhỉ!”.

Tôi cúi đầu. “Vâng ạ, thưa Nữ hoàng”, tôi xác nhận một cách tôn kính. “Bà đã hy sinh nhiều nhất cho thần và em gái thần, Mary”.

“Ồ, vâng, Mary”, Nữ hoàng lơ đãng nói. Mary tiến lên phía trước từ đám thị nữ và cúi chào khi tên em ấy được đề cập và Nữ hoàng gật đầu tỏ ý đã nhìn thấy. Rõ ràng, Mary không được ban cho ân sủng, chỉ có tôi.

Elizabeth nghiêng người về phía trước. “Cô phải nói cho ta biết nếu cô cảm thấy cô đơn hay không vui”, bà ấy nói trong yên lặng. “Ta biết một cô gái không có mẹ là như thế nào. Ta biết không có bạn bè trong một triều đình lớn là như thế nào!”.

Tôi sẽ đóng vai của mình trong chiếc mặt nạ này tốt hơn nếu tôi biết phải làm gì tiếp theo trên cõi đời này. Nữ hoàng đặt bàn tay đeo đầy trang sức lên vai tôi; những ngón tay lạnh giá. Tôi tự hỏi ai là người hưởng lợi từ màn kịch này. Chắc chắn không phải tôi.

“Không phải thần không có bạn bè trong triều đình, chỉ xin Người ban cho ân sủng”, tôi ngập ngừng nói, mắt nhìn vào gương mặt vô cảm của bà ấy.

Bà ấy càng ấn tay lên vai tôi. “Được chứ! Cô là người rất yêu quý của ta. Rốt cuộc, cô là người thân thích gần nhất của ta”.

Thì ra là thế! Bà ấy đã chọn tôi làm người thừa kế gần nhất của bà ấy. Tôi là người kế vị ngai vàng. Bà ấy đã nói ra và không thể rút lại lời đã nói. Tôi liếc nhìn lên và thấy William Cecil cũng nhìn tôi. Ông ấy đã biết trước điều này. Thực ra, ông ấy đã đạo diễn và tính toán mọi bước đi.

“Thần có thể cầu xin một điều không?”. Tôi nhìn vào đôi mắt màu be của bà ấy, nơi không hề có một tia nhỏ của sự dịu dàng: Bà ấy đang thương lượng với tôi như thể trả giá ngoài chợ cá.

“Cứ nói!”, bà ấy nói với nụ cười giả dối. “Hãy xin ta bất cứ điều gì, và hãy xem ta sẽ làm gì cho cô cháu gái trung thành và yêu quý của ta!”.

“Vâng ạ”, tôi hứa với bà ấy, tôi hứa với chính mình, và tôi hứa với Ned trong trái tim tôi.

Robert Dudley hôn tay tôi kèm theo một nụ cười bí ẩn như hai kẻ ưa thích nhau. William Cecil cùng tôi đi trong hành lang và thông báo vắn tắt tình hình cuộc chiến đang diễn ra ở Scotland như thể tôi cần phải biết. Tôi nhận ra rằng ông ta đang dạy cho tôi cách điều hành đất nước mà ông đã học qua bốn triều đại. Ông ấy muốn tôi hiểu rằng tôi phải thực hiện tốt vai trò là người thừa kế theo Tin lành Kháng cách của một nữ hoàng theo Tin lành Kháng cách. Quan trọng là tôi phải hiểu rằng người ngồi trên ngai vàng được các lãnh chúa tư vấn và các lãnh chúa này thảo luận với nhau tại nghị viện. Tôi phải hiểu rằng ngai vàng của Elizabeth không vững chắc – một nửa vương quốc này vẫn chưa được thuyết phục bởi đức tin Cải cách của chúng tôi, rằng các cường quốc lớn ở châu Âu là những kẻ thù đương nhiên của chúng tôi, và Giáo hoàng La Mã đang kêu gọi một cuộc thánh chiến chống lại nước Anh. Là người thừa kế của Nữ hoàng, tôi sẽ bị cám dỗ, bị lôi kéo vào các âm mưu và những lời hứa hẹn. Tôi phải báo cáo với ông ấy. Tôi không bao giờ được gây nguy hiểm cho Elizabeth. Tôi phải dùng vai trò của mình để duy trì đức tin Kháng cách trên toàn cõi vương quốc Anh.

Mọi người cúi thấp người chào khi tôi đi qua. Mary và tôi được cấp thêm thị nữ để làm người hầu hạ. Đột nhiên, tôi cần ai đó cầm găng tay cho tôi khi cần. Mary không còn tình chị em dạt dào nơi hậu cung như khi sống cùng các thị nữ. Hai chị em chúng tôi sống với nhau khu vực rộng lớn hơn, xung quanh có người hầu và chúng tôi xây một cung nhỏ trong triều với tư cách là những công nương hoàng gia. Tôi cho Nozzle mặc áo choàng xanh Tudor, Jo và Ribbon đeo vòng cổ lụa màu xanh. Ribbon được đeo một cái chuông bạc và ngủ trên đệm nhung xanh.

Khắp mọi nơi tôi đến, tôi trở thành trung tâm của một cơn bão tĩnh lặng của sự tò mò bị kìm nén. Tủ quần áo hoàng gia cho tôi những bộ áo nhung tuyệt vời được dệt vàng. Sự trỗi dậy bất ngờ của tôi đặt ra rất nhiều câu hỏi, nhưng không có ai để tôi có thể tham khảo ý kiến một cách an toàn. Có thể Elizabeth quyết định chờ cho đến khi Robert Dudley được tự do kết hôn và chọn tôi làm người thừa kế của bà ấy để đổi lấy thời gian? Vợ anh ta có thể chết vì bệnh tật hoặc tuổi già, và cuối cùng Elizabeth có thể kết hôn với anh ta. Hoặc với tư cách là Lãnh đạo Tối cao của Giáo hội Tin lành, liệu bà ấy có sử dụng quyền hạn của mình để tuyên bố hủy bỏ cuộc hôn nhân của người tình để anh ta kết hôn với mình? Không ai có thể phàn nàn về hành vi của bà ấy nếu cô lựa chọn cho nước Anh một người thừa kế hợp pháp theo đạo Tin lành – là tôi.

Và nếu thế, liệu có khôn ngoan không nếu tôi cũng cưới người tôi chọn, một quý ông người Anh, gần ngôi, một người trung thành với tôn giáo Cải cách? Ned và tôi đột nhiên đại diện cho một lợi ích không thể cưỡng lại cho Elizabeth: gia đình hoàng tộc, theo Tin lành Kháng cách, và chắc chắn có khả năng sinh con? Nếu tôi đặt một cậu bé Tudor hợp pháp vào nôi của hoàng gia, liệu điều đó có làm Elizabeth hài lòng? Liệu bà ấy có chấm dứt tất cả cuộc tranh luận bằng cách nhận làm mẹ nuôi của con tôi và tặng nước Anh một điều hiếm hoi: lập một cậu bé Tudor làm vua? Tôi có dám đề nghị bà ấy cho phép tôi cưới Ned như bà ấy đã hứa với tôi không? Tôi có dám triệu Ned vào cung mới của tôi và nói chuyện với anh ấy trước mặt mọi người không?

Elizabeth tiếp tục biệt đãi tôi bằng những tình cảm tốt đẹp của bà ấy. Tôi ngồi trước các phụ nữ khác trong bữa tối, trong khi Mary được ngồi trên một cái nệm ở đầu bàn bên kia. Tôi chỉ phải cầm quạt cho Nữ hoàng vào buổi tối, chỉ có tôi mới được cầm găng tay của Nữ hoàng khi chúng tôi cùng đi ra chuồng ngựa. Tôi có một con ngựa mới. Khi chúng tôi đi săn, tôi được sử dụng một con chim ưng. Tôi chơi bài với bà ấy và ở nhà nguyện, tôi quỳ gối ngay phía bà ấy. Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi đang được quan tâm chăm sóc chu đáo để thực hiện quyền thừa kế. Đại sứ Tây Ban Nha phải bước lùi lại cách xa những cuộc trò chuyện riêng của chúng tôi, nhưng cái cúi chào của ông ta rất miễn cưỡng. Robert Dudley vẫn trao cho tôi những nụ cười quyến rũ bí ẩn. Ned bắt được ánh mắt của tôi lướt ngang phòng khánh tiết hoàng gia, và tôi biết rằng chàng đang thèm khát tôi. Chắc chắn rằng, nếu tôi có xin Nữ hoàng điều gì, thì đó là: Tôi muốn kết hôn với một quý tộc Anh trung thành và chúng tôi sẽ phụng sự bà suốt đời.

Janey nói: “Tôi có một bất ngờ cho cô đây. Hãy đến phòng tôi”.

Đó là một giờ trước bữa ăn tối và những thị nữ khác đang ở trong phòng ngủ của Nữ hoàng nhìn các cô hầu gái thắt áo choàng cho bà ấy, mỗi người đứng đó với một món khác nhau: chiếc khăn trùm đầu bằng vàng, hộp nữ trang, quạt cầm tay. Mỗi người trong số họ đang chờ đợi để bước lên phía trước trong nghi thức phục sức cho Nữ hoàng để bà ấy có thể đi ăn tối và tán tỉnh bất kỳ người đàn ông nào có may mắn được chiêm ngưỡng sắc đẹp bùng nổ của bà ấy tối nay. Cách ba tối là đến lượt tôi phục vụ bà ấy với nhiệm vụ đứng cầm đồ trang sức, và mỗi bốn đêm là lượt của em gái của tôi, Mary. Thi thoảng Janey đứng cầm khăn trùm đầu vàng nhưng tối nay cả hai chúng tôi đều tự do.

Giống như những cô trò nhỏ trốn học khỏi bà mẹ kế bị khinh nhờn, chúng tôi chuồn qua gian nữ tỳ và Janey mở cửa phòng ngủ của cô ấy để chúng tôi bước vào. Trong đó, Ned đã đến chờ sẵn tự bao giờ.

Tôi dừng lại ở ngưỡng cửa. Tôi biết mình đang há hốc miệng nhìn chàng như thể tôi không tin rằng đó là chàng, người đang đứng chờ tôi, như thể chàng vừa bước ra từ giấc mơ của tôi.

“Ned?”, tôi mơ màng nói.

Chàng lao ngang qua căn phòng và ôm chặt lấy tôi vào vòng tay chàng. “Tình yêu của anh”, chàng nói. “Tình yêu của anh, hãy tha thứ cho anh. Anh không thể chờ đợi em thêm bất cứ giây phút nào nữa”.

Tôi không ngần ngại, tôi không dừng lại vì kiêu hãnh hay giận dữ, hai tay tôi choàng quanh cổ chàng, kéo đầu chàng xuống, miệng chàng áp chặt môi tôi, chúng tôi mớn trớn nhau rồi hôn nhau tới tấp. Ôi, mùi vị chàng, mùi hương quen thuộc của chàng làm tôi run rẩy. Tôi muốn khóc rồi lại muốn cười thật to cùng lúc, nhưng tất cả những gì tôi có thể thốt lên là: “Ôi Ned!”.

Nụ hôn kéo dài như bất tận. Tôi nghe đằng sau mình tiếng động khẽ của cánh cửa khi Janey bước ra ngoài và đóng nó lại phía sau. Lẽ ra tôi phải trở nên băng giá và giận dữ với Ned để chàng phải cầu xin sự tha thứ của tôi, nhưng tôi lại ôm chàng mỗi lúc càng chặt hơn. Tôi không chịu được ý nghĩ buông chàng ra, tôi không thể để chàng đi lần nữa. Tôi không biết nghĩ gì lúc này, đầu óc tôi trống rỗng, tất cả những gì tôi còn biết là sự khát khao thèm muốn chàng. Khi chàng thả lỏng đôi chút lực siết, tôi ngất ngây và trở nên mềm nhũn trong vòng tay chàng. Tôi nghĩ mình đã cố gắng quá lâu để tỏ ra mạnh mẽ và can đảm và bây giờ tôi có thể dựa vào người đàn ông tôi yêu. Chàng giúp tôi ngồi vào ghế bên cửa sổ nhưng tôi chỉ muốn nằm xuống đó để cảm nhận cả thân thể chàng đang đè lên cơ thể tôi. Nhưng chúng tôi chỉ ngồi bên nhau, tay chàng ôm chặt vòng quanh eo tôi như thể tôi là kho báu đối với chàng và chàng không muốn để mất nó.

“Anh đã trở lại với em” là tất cả những gì tôi có thể nói. Và tôi bắt chàng xác nhận: “Anh đã trở lại với em đúng không? Lẽ nào đây là mơ... Anh đã trở lại bên em phải không?”.

“Tất nhiên rồi”, chàng nói. “Em là tình yêu của đời anh, tình yêu duy nhất của anh”.

“Anh không thể chịu đựng được cảnh gặp em hằng ngày mà không thể chạm vào... À mà không, anh thường ngắm em trong nhà nguyện”.

“Em biết”, tôi ngắt lời chàng. “Em cũng nhìn trộm anh và thấy anh đang nhìn em. Em hy vọng rất nhiều... Em đã cầu nguyện rất nhiều”.

“Em cầu nguyện gì?”

“Cầu nguyện cho điều này.”

Chàng cầm lấy tay tôi và ấn vào môi mình. “Em có cái này. Em có anh. Chúng ta sẽ không bao giờ chia cách nữa”.

“Còn mẹ anh?”

“Anh sẽ giải thích với bà. Bà sẽ không ngăn cản được anh nữa.” “Nhưng Nữ hoàng?”

“Chúng ta sẽ kết hôn”, chàng nói dứt khoát. Tôi cảm thấy tim mình đập loạn xạ khi nghe chàng quả quyết như thế. Tôi muốn chàng hôn tôi lần nữa.

“Anh sẽ xin Nữ hoàng.”

“Bà ấy sủng ái em, bà ấy cố cho mọi người thấy rõ điều đó. Và đó không chỉ là sở thích bất chợt của riêng bà ấy. Cecil đã khuyên bà ấy phải giữ em ở gần. Đó là lý do tại sao bà ấy trở nên rất tử tế với em. Bà ấy sợ rằng em sẽ kết hôn với người Scotland hoặc người Tây Ban Nha, và bị mang đi”.

“Ôi Chúa ơi”, tôi thì thầm. “Đừng để họ chia cắt đôi ta!”.

“Không bao giờ! Vì vậy, chúng ta sẽ không cầu xin ai cả, vì rằng họ sẽ từ chối. Chúng ta sẽ cưới nhau và chỉ thông báo với bà ấy khi mọi việc đã được thực hiện. Chúng ta sẽ nói với họ tất cả khi mọi chuyện đã xong, Nữ hoàng hoặc bất cứ ai khác có thể làm được gì nào?”

“Nữ hoàng có thể nổi trận lôi đình đấy!”, tôi đáp. Triều đình giờ rất cảnh giác với nhà Tudor. Nếu Nữ hoàng Mary chỉ ngập chìm trong thất vọng, thì Elizabeth làm khác, bà ấy sẽ la hét và xới tung tất cả mọi thứ. Người duy nhất có thể làm bà ấy dịu xuống là Robert Dudley. Người duy nhất có thể khuyên bà ấy là William Cecil. Mọi người khác chỉ nhận được tiếng hét của bà ấy mà thôi.

Ned, người yêu của tôi, chồng sắp cưới của tôi, nhún vai như thể bà ấy không thể đe dọa được chàng. “Bà ấy sẽ nổi giận nhưng rồi mọi chuyện sẽ trôi qua nhanh. Chúng ta từng thấy bà ấy giận dữ với Kat Ashley; chúng ta từng thấy cơn thịnh nộ bà ấy trút xuống Cecil cho đến khi ông ấy từ quan. Nhưng ông ấy đã trở lại, và bà ấy làm theo lời khuyên của ông ấy. Cũng giống như thế đối với chúng ta, bà ấy sẽ nổi giận, chúng ta sẽ ra đi, rồi bà ấy sẽ tha thứ cho chúng ta và khôi phục địa vị của chúng ta trong vòng một tháng. Ngoài ra, chúng ta kết hôn để em được an toàn. Điều đó giải tỏa lo âu cho bà ấy. Cecil sẽ tư vấn cho bà ấy về điều đó. Dudley sẽ bảo bà ấy mỉm cười trước những kẻ yêu nhau”.

“Em muốn được an toàn”. Tôi ngồi xích lại gần hơn một chút. “Em muốn được an toàn bên anh. Ồ, Ned của em, em đã mơ về điều này từ lâu”.

“Anh cũng mơ về em”, chàng thì thầm. “Anh đã làm một bài thơ cho em”. “Thật không?”

Chàng sờ túi áo trong. “Anh luôn mang nó theo cùng đây!”, chàng nói. “Anh viết nó trong khi em đang chịu tang và anh thường nhìn thấy em với mái tóc vàng ánh kim và làn da em xanh xao tựa như kem. Em như một bức họa chân dung, một bức tượng bằng cẩm thạch được bọc nhung, và anh nghĩ anh sẽ không bao giờ được chạm vào em lần nữa. Anh nghĩ chúng ta giống như Troilus và Criseyde, bị chia cách giống như họ”.

“Chàng đọc đi nào!”, tôi thì thầm. Ôi, thật lãng mạn làm sao!

“Nàng đứng đó, trong màu tang tóc

Dáng u buồn tan nát lòng tôi

Nàng đứng đó và tôi chết lặng

Ánh mắt nàng, vụn vỡ tim tôi”.

Tôi run lên vì hạnh phúc. “Em giữ nó được không?”. Tôi chưa từng được tặng một bài thơ nào. Không ai từng viết tặng Jane một bài thơ nào với tư cách là một học giả lớn và là một nữ hoàng. Mọi người viết cho Jane những bài giảng, nhưng sự thật là đây, một bài thơ, một bài thơ tình từ một người đàn ông. Hơn thế nữa: Một bài thơ tình được sáng tác bởi một nhà thơ, một nhà thơ nổi tiếng. Bài giảng không thể so sánh với nó. Chàng ấn nó vào lòng tay tôi và tôi áp chặt nó vào trái tim mình.

Đây mới gọi là sống, tôi phấn chấn nghĩ. Đây mới gọi là trẻ, là đẹp, là sống động và không bị huyễn hoặc bởi thứ đức tin khốn khổ nào đó rằng con người sẽ chết, nhưng phải chết sao cho được lên thiên đàng mà không biết tận hưởng lạc thú ở đời. Đây chính là những gì tôi mong chờ khi bước ra khỏi Tháp, để chị Jane tôi nằm lại phía sau, bị chặt đầu và bị chôn từng phần thi thể trong nhà nguyện. Tôi tin rằng đây mới là cuộc sống của tôi: sống động, tràn đầy đam mê và tuyệt vời hơn nhiều so với những gì tôi từng mơ ước.

Ned và tôi vẫn đi qua nhau trong im lặng và cố tránh nhìn vào mắt nhau, nhưng chàng thường nháy mắt với tôi trong nhà nguyện và cố giữ tôi gần nhất, lâu nhất có thể mỗi khi chàng đỡ tôi xuống ngựa. Giờ đây, khi các bước nhảy đưa chúng tôi lại gần với nhau, tôi cảm nhận được bàn tay ấm áp của chàng. Chàng thường bấm các ngón tay tôi. Những lúc chúng tôi mặt kề mặt, chàng gần tôi đến mức tôi có thể cảm nhận được hơi thở ấm áp của chàng nơi tai tôi, bàn tay chàng đặt ở eo tôi một cách đầy tự tin, và luôn có xu hướng kéo chàng lại gần hơn. Chúng tôi là đôi tình nhân bí mật và là những kẻ xa lạ trước mặt những người xung quanh. Mỗi khi tôi quay mặt đi vờ như không nhìn thấy chàng, tôi phải nén cười khúc khích. Tôi thật chóng quên rằng mới đây thôi, tôi chỉ chực chờ lệ rơi mỗi khi nghĩ về chàng.

Triều đình đang nghỉ hè và dường như không có vấn đề gì đáng quan tâm. Dường như tất cả các quy tắc ứng xử cứng nhắc trong triều đều tạm dừng, tất cả những cấm kỵ hay hạn chế về đức tin được dỡ bỏ. Không có chuyện “Biết mình phải chết” nữa, không có cái chết nào cả. Không có sự sợ hãi về tương lai, không ai bận tâm ai sẽ là người thừa kế, Nữ hoàng cũng không phải xem xét đạo luật nào, hoặc có cuộc chiến nào xảy ra. Không có gì ngoài thời tiết rực rỡ, quần áo đẹp và những chuỗi ngày tươi sáng. Toàn bộ sự khổ hạnh bắt buộc của triều đình thời Nữ hoàng Mary bị quét đi như các loài cây cỏ cũ kỹ, mục ruỗng. Toàn bộ những nghi ngờ đáng sợ thời Vua Edward không còn nữa. Tất cả những người từng âm mưu, lập kế hoạch và tổ chức chống lại người ngồi trên ngai vàng và chống lại nhau đều đã chết. Và chúng tôi, con cháu họ, đã thề rằng chúng tôi sẽ sống để tận hưởng hương vị cuộc đời. Chúng tôi đã học được cách sống.

William Cecil đã đi Edinburgh để hòa giải các lãnh chúa xứ Scots và vị Nhiếp chính gốc Pháp của họ. Quân đội miễn cưỡng của Elizabeth đã làm đúng mức để đem lại hòa bình cho chúng tôi. Tuy nhiên, Elizabeth thật thiếu thận trọng nếu không có sự tư vấn của quân sư Cecil, làm như nếu không có ông ấy, không ai có thể nhìn thấy mình. Bà ấy và Robert Dudley công khai sống như tình nhân của nhau. Anh ta vào phòng Elizabeth như thể anh ta là chồng bà ấy, anh ta cười cợt, ôm ấp, anh ta được mọi người tuân lệnh như thể anh ta đã là hoàng thân vậy.

Hằng ngày chúng tôi cưỡi ngựa ra ngoài với đàn chó săn chạy phía trước. Robert Dudley mang cho giai nhân của mình một bầy ngựa, con sau mạnh mẽ và đẹp hơn con trước. Hai người họ cưỡi ngựa cổ kề cổ sóng đôi khắng khít với nhau như thể không gì có thể chạm tới họ. Mỗi ngày họ phi ngựa ra khỏi triều đình và sau đó biến mất trong những cánh rừng và chỉ xuất hiện khi đến giờ ăn trong những chiếc lều xinh đẹp mà những người hầu dựng lên trong khu vực đã được phát hoang. Bàn ăn được dọn ra và rượu vang được rót đầy. Rồi cũng công khai như thế, họ lại cùng nhau biến mất sau bữa ăn. Rồi họ quay trở lại không chút xấu hổ, khuôn mặt bừng sáng trong niềm vui không nói nên lời. Những người khác cưỡi ngựa phóng theo lũ chó săn được một lúc thì mang ngựa của họ xuống sông cho uống nước, hoặc tháo yên cương cho chúng nghỉ ngơi nhàn nhã dưới bóng râm, hoặc tìm một nơi yên tĩnh và kín đáo để hôn nhau và thì thầm, tình tự với nhau.

Ngoài trời rất nóng nhưng nơi dựng trại được che mát bởi tàng lá xanh tươi của những cây sồi và dẻ, nơi lũ chim hót líu lo không ngừng như một dàn hợp xướng với những nhạc công ẩn mình trong đám lá. Mùi thơm của khói củi và thịt rừng nướng hòa trộn với hương thơm tươi mát của cỏ dại và thảo mộc vô cùng quyến rũ. Những người hầu đã trải thảm và nệm để chúng tôi có thể nghỉ ngơi thoải mái, uống rượu, kể chuyện và đọc thơ. Đôi khi chúng tôi hát cùng nhau các giai điệu đồng quê xưa cũ, đôi khi Ned đọc thơ của chàng nhưng không bao giờ là bài “Nàng mặc áo tang”. Bài đó chàng chỉ dành cho tôi, là của riêng tôi.

Chúng tôi là một triều đình bao gồm những người trẻ tuổi, xinh đẹp. Những người lớn tuổi hơn và khôn ngoan hơn không đủ sức tham dự những buổi dã ngoại kéo dài từ bình minh cho đến hoàng hôn trong khi những người trẻ chúng tôi cưỡi ngựa bên nhau và chuyện trò tình tự với nhau. Họ nhận đầy đủ các thông tin và cảnh báo về công việc cẩn trọng mà William Cecil đang tiến hành ở Edinburgh, và làm thế nào mọi sự sẽ trở thành công cốc nếu Elizabeth không chỉ định cho nước Anh một người thừa kế để duy trì hòa bình. Nhưng sự hài lòng của Elizabeth vào cuối cuộc chiến với Scotland khiến bà ấy vui hơn. Bà ấy là người chiến thắng. Bà ấy nghĩ rằng chiến thắng đó làm cho nước Anh bất khả xâm phạm. Bà ấy quả là thiếu thận trọng. Bà ấy nghĩ rằng thế giới này lầm lạc vì tình yêu. Thậm chí khi Hội đồng Cơ mật cảnh báo rằng họ phải cắt lưỡi của tất cả đàn ông và đàn bà từ bắc xuống nam để ngăn họ rêu rao rằng Nữ hoàng là con điếm của Robert Dudley, bà ấy vẫn đứng tựa cửa sổ phòng ngủ của mình vào mỗi buổi sáng, nửa trần truồng, và cho gọi Robert Dudley đến gặp ngay lập tức.

Mọi người trong triều đều biết rằng họ có phòng ngủ liền kề, chỉ cách nhau đúng một cánh cửa. Họ có thể vào phòng ngủ của nhau vào ban đêm, nhưng mọi người đều tin rằng người hầu của Robert Dudley phải đứng ngoài phòng anh ta suốt đêm, vì Nữ hoàng Anh đã bò qua cánh cửa bí mật và đang ở bên trong. Ngay cả những người dân quê vốn không biết gì về triều đình cũng nói rằng Elizabeth bị bỏ bùa bởi viên quan giữ ngựa đẹp trai của mình, và nhiều người nghĩ rằng họ đã bí mật kết hôn và rằng người vợ khốn khổ của anh ta, bất kể tên cô ấy là gì, sẽ bị gạt sang bên theo lệnh của Nữ hoàng, giống như cha bà ấy, Vua Henry, từng gạt vợ mình sang một bên để lấy người khác.

Sau đó, tin tức bay về rằng Nhiếp chính Scotland, Mary xứ Guise, đã băng hà và quyền lực của Pháp ở Scotland sụp đổ vì không có bà. Cecil đang trên đường trở về London. Ông ấy đã lập được một hiệp ước hòa bình vẻ vang, nhưng Robert Dudley thì thề rằng anh ta không đạt được gì sau tất cả các nỗ lực của mình: từ Newcastle đến Edinburgh và trở lại lần nữa. Elizabeth giờ đây muốn nhiều hơn cái hiệp ước của Cecil: Bà ấy đòi bồi thường chiến tranh bằng hàng ngàn ký vàng, trả lại Calais cho Anh quốc, và Mary, Hoàng hậu Pháp quốc, bị cấm sử dụng huy hiệu hoàng gia trên đĩa ăn tối của cô ấy – tất cả, từ những thứ vĩ đại nhất cho đến tầm thường nhất. Bà ấy và Robert, giống như Nữ hoàng và phu quân, đứng sát bên nhau trước toàn thể triều đình và đón William Cecil quay về với một tràng những lời than phiền chê trách.

Việc đánh bại sự cai trị của Pháp ở Scotland lẽ ra phải được hoan nghênh như một chiến thắng vẻ vang, nhưng William Cecil, người có tài thao lược, lại bị đay nghiến bởi sự vong ơn của Elizabeth, đã không thể kiềm được sự giận dữ của mình khi Nữ hoàng nghe lời tư vấn từ Robert Dudley. Triều đình chia thành hai phe, một bên xem Dudley như một ngôi sao đang lên không thể ngăn cản, người sắp sửa trở thành chồng của Nữ hoàng và hoàng thân của nước Anh; và một bên là những người cho rằng William Cecil phải được kính trọng như các lãnh chúa trước đây, và Dudley chỉ là một kẻ mượn gió bẻ măng.

Elizabeth, người đã yêu quý và tuyên bố xem tôi như con gái của mình, đã lấy tư cách người mẹ hứa với tôi rằng bà sẽ nhận tôi làm con nuôi một cách hợp pháp, rằng bà sẽ đặt tôi là người thừa kế, giờ đã quên hết những gì đã nói, đã hứa với tôi trong cuộc khủng hoảng mới này: Như người được xem là cha bà và người được xem là chồng bà không thể nói chuyện với nhau mà không nổi cơn thịnh nộ. Cả triều thần chắc chắn rằng Cecil sẽ rời bỏ bà, rằng Dudley sẽ hủy hoại bà. Có những lời rì rầm về âm mưu ám sát anh ta. Nữ hoàng bị phản đối từ mọi phía. Bà không dám đồng ý rằng vương quốc có quyền lựa chọn người thừa kế của riêng mình. Nếu người Scots được phép khước từ Nữ hoàng Mary của họ, tại sao người Anh lại phải chấp nhận Elizabeth? Trong nỗi lo lắng cho người tình, cho tương lai của bà, và vì bản chất rất tự nhiên của người đứng đầu vương quốc, bà không có thời gian dành cho tôi, cũng không có thời gian dành cho bất kỳ người phụ nữ nào khác.

“Nhưng em thích bị lãng quên”, Mary, em gái tôi, nói. “Em nghĩ em đã quen với điều đó, nghĩa là luôn nằm ngoài tầm mắt ấy. Tuy nhiên, điều đó cũng có nghĩa là ta có thể làm những gì ta muốn”.

“Thế em muốn làm gì nào, vật tí hon vui mắt?”. Tôi hỏi một cách ngạo mạn trong khi cúi xuống thấp hơn để có thể nhìn thấy khuôn mặt nhỏ nhắn nhưng thanh tú của em ấy. “Em có định chơi trò ranh mãnh như một nửa triều đình hiện nay không? Em có đang yêu không, Mary?”.

Janey nở nụ cười không mấy dễ chịu, như thể không có ai trên đời này yêu Mary. “Em có thể lấy người đang theo đuổi chị”, cô ấy nói với Mary. Janey đang bị ông dượng già của chúng tôi, Henry FitzAlan, Bá tước xứ Arundel, theo đuổi. Ông là kẻ sống sót vĩ đại qua các đời vợ – đầu tiên là dì Katherine Grey của tôi. Bây giờ ông lại được tự do, giàu có và khao khát tìm kiếm một giọt máu có gốc hoàng tộc để đặt vào chiếc nôi bằng vàng của mình, vào cái nhà trẻ giàu có của mình, và vào dòng họ của ông. “Em không cần những thứ chị vứt đi”, Mary từ chối vị quý tộc giàu có bằng cái vẫy tay nhỏ nhắn. “Em đã có người em ngưỡng mộ”.

Tôi không ngạc nhiên lắm. Mary có nét quyến rũ của một Tudor và phẩm chất tốt đẹp mà nhiều người rất muốn cưới làm vợ. Em ấy sẽ là một người vợ tốt hơn cả Janey Seymour, nếu nhìn sự mong manh dễ vỡ và thiếu sức sống của Janey. Mary là một niềm vui lớn trong một hình hài thu nhỏ: Khi đứng trước một hiệp sĩ mặc giáp, em ấy có thể nhìn thấy khuôn mặt xinh xắn, cái cổ thanh tú và đôi bờ vai hoàn hảo của mình phản chiếu qua miếng giáp ngực anh ta. Nếu em ấy ngồi trên một gối đệm sau một cái bàn cao, người ta chỉ nhìn thấy từ vai đến đầu em ấy và họ khó mà tìm ra một vẻ đẹp hoàn hảo hơn. Chỉ khi em ấy đứng lên người ta mới biết em ấy nhỏ bé đến mức nào với chiều cao chỉ bằng một nửa người bình thường. Nếu em ấy ngồi yên trên ngựa, tôi tin rằng Mary xinh đẹp hơn tôi. Em ấy đứng khá thẳng người, em ấy năng học hành – rồi em ấy sẽ tìm được người phù hợp, rồi em ấy sẽ kết hôn.

“Mọi phụ nữ khác trong triều đều đang tán tỉnh. Em không khác họ”, Mary nói. “Tại sao em lại phải khác chứ?”.

“Ồ, ai đang tán em thế?”, Janey hỏi với vẻ khinh thường.

“Chị đừng bận tâm”, cô em gái đáng yêu của tôi đốp lại. “Vì em có việc của em, giống như Katherine có việc của chị ấy vậy. Và em sẽ không để chị xen vào chuyện của em như chị đã làm với chị ấy đâu”.

“Chị không xen vào, chị chỉ khuyên cô ấy thôi”, Janey cau mày nói. “Chị là người bạn lớn của cô ấy”.

“Vâng, chị không phải bảo!”, Mary nói. “Em cũng có một người bạn lớn của riêng em, lớn hơn cả hai người bọn chị gộp lại”.

LÂU ĐÀI WINDSOR

MÙA THU NĂM 1560

Tôi rất thích Lâu đài Windsor. Tôi thích đi thuyền xuống vùng đồng cỏ ngập nước bên sông. Tôi thích cái công viên rộng lớn có những đàn hươu di chuyển một cách im lặng theo từng đợt giữa những cây cối. Tôi thực sự thích tòa lâu đài nguy nga cao vượt trên ngôi làng nhỏ. Chúng tôi sẽ mừng sinh nhật của Elizabeth như một bữa tiệc Giáng sinh. Robert Dudley, trong vai trò quan giám mã, chỉ định một người điều phối chính và ra lệnh cho anh ta thuê các tay chơi nhạc, dàn hợp xướng, vũ công, và những người giúp vui khác chẳng hạn như người tung hứng và nhà ảo thuật. Có những nhà thơ tán tụng sắc đẹp của Elizabeth; có các giám mục cầu nguyện cho triều đại của bà lâu bền và hạnh phúc. Tiệc sinh nhật sẽ kéo dài nhiều ngày để chào mừng sự ra đời của một cô gái có mẹ bị xử tử trên đoạn đầu đài vì tội ngoại tình và có cha là người gần như suốt đời đã không thừa nhận cô là giọt máu của mình. Tôi suýt bật cười lớn khi thấy Elizabeth ra lệnh cho triều đình tổ chức mừng sinh nhật mình, vì những người lớn tuổi vẫn còn nhớ như in thất vọng cay đắng của đứa bé lúc bấy giờ và mọi người mới thờ ơ lãnh đạm làm sao với bà trong suốt thời gian dài.

Robert Dudley xuất hiện ở khắp mọi nơi – khi như một ông vua trong triều đình, lúc là người đắp xây hạnh phúc cho Elizabeth. Quân sư William Cecil giờ đang rút vào vỏ ốc của mình, gặm nhấm nỗi đau và cơn thịnh nộ thầm lặng có thể bộc phát bất cứ lúc nào. Cái hiệp ước hòa bình với Pháp mà phải khó khăn lắm ông mới đạt được đang tiếp tục tiến triển tốt, nhưng ông không nhận được một lời cảm ơn vì điều đó. Người ta đã không chúc mừng nó như một thắng lợi ngoại giao. Ông cho rằng Elizabeth đã có nhận định kém cỏi vì bị mê hoặc bởi Robert Dudley.

Người điều khiển buổi lễ thiết kế một màn khiêu vũ đẹp mà tất cả các phụ nữ trẻ trong triều phải tập luyện trước. Mỗi chúng tôi đại diện cho một đức tính khác nhau: Tôi là “Nghĩa vụ”, Janey là “Danh dự”, v.v... Cô ấy đã khỏe mạnh trở lại để khiêu vũ, những chấm đỏ trên má cô ấy đã tan hết và mắt cũng không còn nóng đỏ vì sốt. Mary là “Chiến thắng” và đứng trên một đỉnh tháp cao nhằm che đôi chân ngắn và tôn lên vẻ đẹp của em ấy. Cận vệ trưởng của Nữ hoàng, người chịu trách nhiệm về sự an toàn của toàn bộ triều đình, là một người đàn ông hộ pháp, cao to hơn bất cứ ai khác, có nhiệm vụ nhấc Mary lên đỉnh tháp. Rất lịch lãm, anh ta cúi mình chào em, người trông như một nàng tiên đang đứng dưới chân người khổng lồ. Cảnh này hay như một vở kịch vậy. Mary đưa bàn tay nhỏ nhắn ra phía trước, anh ta nâng lấy và đưa nó lên môi hôn, rồi đặt hai tay vào vòng eo con kiến của em và nâng em lên. Mọi người vỗ tay hoan nghênh, thật dễ thương. Có ai đó nói rằng Thomas Keyes, viên cận vệ, phải nhờ cấp phó của mình gác cổng để mang mặt nạ tham gia vai này. Keyes lại nghiêng mình cúi chào, mỉm cười, trông rất đẹp trai trong bộ áo y phục Tudor, và Mary, bàn tay nhỏ nhắn nằm gọn lỏn trong lòng tay to lớn của anh ta, mỉm cười và nghiêng mình chào lại, nét mặt rạng ngời.

Ned đóng vai “Tin cậy” và được bắt cặp với Frances Mewtas, một cô gái rất tin người – hay đại loại thế – có lẽ gọi là “Cả tin” thì đúng hơn. Tôi ước gì cô ấy có thể đổi vai cho tôi, nhưng tôi không thể hỏi cô ấy mà không lộ ra rằng tôi muốn nhảy với Ned, và chàng không nghĩ rằng mình nên gợi ý cô ấy nhận vai “Nghĩa vụ”. Thậm chí chàng còn thích nhảy cùng cô ấy. Thế rồi sau khi nhảy xong, họ đứng cùng nhau, và khi tất cả chúng tôi đi ra ngoài để ngắm hoàng hôn và uống chút bia, chàng bước ra với tay cô ấy trên cánh tay mình và rót cho cô ấy một ly.

Điệu nhảy kết thúc gần như hoàn hảo. Elizabeth, ngồi trên ngai vàng, mỉm cười khi chúng tôi trình diễn trước mặt bà, mặc dù tôi dám nói rằng bà ấy thích nằm trong vòng tay của Robert Dudley hơn. Còn tôi thì muốn nhảy với Ned hơn là chỉ nhìn chàng từ xa. Frances Mewtas đã trang điểm, tôi chắc chắn thế. Trông cô ấy thật dị và cô ấy bám dính bên Ned như một con ốc sên đang leo tường. Tôi cau mày nhìn chàng để nói rằng tôi không hài lòng, và chàng trân trân nhìn tôi như thể không nghĩ ra được tại sao một cô gái đang ở trong vòng tay chàng, đắm đuối ngước nhìn khuôn mặt đẹp trai của chàng, lại có thể làm tôi không không vui. Chàng quả là một chàng trai trẻ có nụ cười quyến rũ và đôi mắt rực sáng, tôi không thể chịu được khi nhìn thấy chàng làm bạn nhảy với cái đồ vô cùng đơn điệu như Frances. Tôi nghĩ lẽ ra cô ấy phải biết rằng chàng là của tôi. Chắc chắn Nữ hoàng có thể thưởng thức một điệu nhảy đẹp hơn nếu Ned nhảy với tôi.

Tôi phải đứng ngay cạnh ngai vàng bên Elizabeth khi Đại sứ Tây Ban Nha de la Quadra và các đại sứ khác đến tặng quà sinh nhật bà. Tôi phải chứng minh cho họ thấy rằng chúng tôi là bạn bè tốt nhất của nhau, trong những điều kiện nồng ấm nhất. Tôi được công khai là người thừa kế của Elizabeth, và hiệp ước của Cecil chứng minh rằng Nữ hoàng Mary xứ Scots đã đầu hàng và tuyên bố từ bỏ ngai vàng nước Anh. Elizabeth cũng nhớ quay đầu lại mỉm cười với tôi và vẫy tay chào em tôi. Sự thân mật của tôi với Elizabeth được dàn dựng như các điệu múa vừa rồi vậy. Tôi có mặt ở đây để nói rằng Mary xứ Scots không có quyền kế vị nước Anh. Tôi mới là người thừa kế được chỉ định và Elizabeth sẽ đề cử tôi tại kỳ họp nghị viện lần tới.

De la Quadra cúi chào rất thấp trước khi tiến về phía trước để nói chuyện với Nữ hoàng, nhưng tôi không dự vào công việc triều chính. Tôi đang quan sát Ned, lúc này đang đi cùng Frances Mewtas xuyên qua đám đông xuống phía sau đại sảnh, nơi ánh nến bập bùng ma mị kích hoạt lửa đam mê cho các cặp đôi đang ghì chặt nhau sau những hốc tường. Tôi không thể nhìn thấy chàng và tôi không cho phép mình đi tìm chàng. Đây là một thử thách khó nuốt trôi đối với tôi, và sau đó tôi nghe thấy, từ khoảng cách rất xa, Elizabeth nói với Đại sứ Tây Ban Nha rằng vợ của Robert Dudley đã chết vì ung thư.

Tôi rất sốc và những lời này đã chặn đứng cuộc điều tra đầy lo lắng của tôi về những gì đang diễn ra ở cuối đại sảnh. Tôi dừng việc tìm kiếm Ned và nhìn chằm chằm vào Elizabeth. Bà vừa thực sự nói rằng Phu nhân Dudley đã chết? “Hoặc gần như thế”, bà ấy tự sửa lại. “Ôi, tội nghiệp cô ấy!”.

De la Quadra dường như cũng choáng váng như tôi. Chỉ có khả năng cư xử cực kỳ có kiểm soát mới ngăn ông ta không thốt lên: “Khi nào? Khi nào?”.

Tại sao Elizabeth lại nói ra một chuyện bất bình thường như vậy? Gì mà ai đó vừa “chết” giây trước thì giây sau lại là “gần chết”? Có phải Elizabeth mù và điếc đến mức không biết cách cư xử tốt hơn? Lẽ nào bà ấy không nhận ra rằng thật không hay chút nào khi tiết lộ tin tức về cái chết của một người vợ bị ruồng rẫy để đổi lấy chút ít sự chú ý? Và nếu Phu nhân Dudley đã chết, cớ sao Robert Dudley không ở nhà ra lệnh may đồ tang và sắp đặt tang lễ? Hoặc nếu cô ấy đang nằm trên giường lâm chung thì tại sao Robert Dudley có thể nhảy múa vui vẻ đến thế trong bữa tiệc sinh nhật của Elizabeth, chứ không phải bên người vợ sắp chết của mình?

Tôi ngóng tìm Ned để nói cho chàng nghe về cuộc nói chuyện đặc biệt này, nhưng ngay khi phần trao tặng quà kết thúc, màn khiêu vũ chung bắt đầu và tôi như bị đóng đinh phía sau Elizabeth, lúc này đang thì thầm với Robert Dudley. Kỳ thực, những lời họ nói với nhau hoàn toàn không có âm thanh gì nghe như “ung thư” hay “giường tử biệt”, ngoài những nụ cười và ánh mắt đầy dục vọng mà họ dành cho nhau.

Ned không có mặt trong số các cặp trên sàn nhảy. Chàng không nằm trong số các quý ông đang xem những người phụ nữ khiêu vũ. Chàng không cẩn trọng tìm cách tiến lên phía trước để có thể ở cạnh tôi. Tôi không nhìn thấy chàng đâu cả, và Frances Mewtas cũng không.

Tôi bị kẹt trên bục với Elizabeth nên Ned không thể đến gần tôi. Tôi không gặp lại chàng suốt đêm đó dù buổi thiết triều kết thúc muộn vì Elizabeth còn nhảy và uống chúc mừng cho sức khỏe của chính mình, và cuối cùng kéo chúng tôi ra khỏi phòng. Tôi không thấy Ned đâu trong đám người nghiêng mình cúi chào khi chúng tôi rút lui. Frances Mewtas phóng ra như tên bắn từ một trong những gian phòng trong cung điện vào phút chót, cả người đỏ bừng, và nhập vào đoàn tháp tùng Nữ hoàng rời khỏi phòng.

Tôi lên giường đi ngủ mà nước mắt đầm đìa. Tôi tức giận và đau đớn. Tôi không nghĩ mình có thể chịu đựng cảm giác này một lần nào nữa. Nó tồi tệ hơn nhiều so với lần cuối cùng tôi mất Ned. Lần này chàng vừa hứa với tôi, rằng chúng tôi không còn gì khác ngoài chuyện cưới nhau.

Tôi quăng quật người trong đống chăn gối nóng bức trên giường trong khi các thị nữ phòng tôi cuống quít cả lên: “Công nương bị ốm à, thưa công nương? Em pha gì cho cô uống nhé?”. Tôi nằm bẹp dí trên giường và nghe tim mình thổn thức, quặn đau. Tôi nghe tiếng chuông đồng hồ đổ từng giờ một từ nửa đêm cho đến năm giờ sáng, và chỉ khi đó, khi ánh bình minh vừa ló dạng và những người hầu bắt đầu lao xao thức dậy và cho thêm củi vào lò lửa sắp tàn, tôi mới ngủ thiếp đi.

Elizabeth đang ở nhà nguyện và trông bà như thể cũng có một giấc ngủ khổ sở giống tôi. Tôi không biết có gì trục trặc với bà ấy. Có lẽ không có gì cả. Bà ấy có tất cả mọi thứ mà người khác mong muốn. Đối thủ của bà đang hấp hối hoặc đã chết. Sinh nhật của bà được ăn mừng trên khắp vương quốc như thể bà là một nữ hoàng được yêu quý. Robert Dudley luôn đứng bên cạnh bà, mỉm cười và thư thái như một chú rể đầy tự tin. Nhưng Elizabeth không còn muốn bám lấy anh ta nữa. Bà cho gọi Cecil vào triều. Bà đi cùng ông ấy, đầu cúi thấp hướng về phía ông và đang trao đổi gì đó với giọng rất thấp. Ông ấy giục bà phải nhanh chóng đứng thẳng, trong khi bà run rẩy tựa người vào ông. Có chuyện gì đó rất nghiêm trọng đang xảy ra, nhưng tôi đang bận đi tìm Ned nên không muốn gặp rắc rối với Elizabeth và những thay đổi đột ngột trong tâm trạng của bà.

Triều thần bước theo sau Cecil và Elizabeth một quãng vì rõ ràng họ không muốn bị quấy rầy, cho đến khi Cecil nghiêng mình cúi chào bước lùi lại và một người khác vọt lên thế chỗ tâu trình hay xin xỏ ân huệ gì đó. William Cecil bỗng thấy mình đang đi bên cạnh Đại sứ Tây Ban Nha, còn Mary và tôi bước phía sau họ, tốc độ của họ đủ chậm với bước chân của Mary. Tôi nắm tay em ấy.

“Em tự đi được mà”, Mary nói, vung vai hất tay tôi ra.

“Chị biết. Chị chỉ muốn được an ủi một chút thôi. Chị đang buồn lắm.”

“Suỵt! Im nào!”. Em ấy nói, không xao động. Em ấy đang dỏng tai nghe lỏm một cuộc đối thoại đang diễn ra phía trước chúng tôi. Tôi nghe tiếng được tiếng mất trong câu chuyện của Cecil xen lẫn qua sóng vỗ bờ sông. Ông ấy đang trách Elizabeth – điều mà ông ấy chưa bao giờ, chưa bao giờ làm – và bảo ngài Đại sứ Tây Ban Nha rằng ông ấy sẽ từ quan, rằng ông ấy không thể chịu đựng thêm một ngày nào nữa. Tôi cấu vào cánh tay Mary. “Thôi nào Cecil!”, tôi nói, và cảm thấy sốc nặng. “Ông ấy vừa nói gì thế? Ông ấy sẽ rời bỏ triều đình lần nữa ư?”.

Mary gỡ tay tôi ra và tiến lại gần hai người đàn ông hơn, trong khi tôi đứng chết lặng. Không ai nhận ra sự hiện diện của Mary: Lẽ ra em ấy phải là một trong số nhiều kẻ do thám của Cecil mới đúng. Em ấy có thể lảng vảng quanh những người đàn ông như một đứa trẻ ăn xin và họ không bao giờ để ý đến. Em ấy bám theo họ một quãng mà không hề bị nhìn thấy, sau đó em ấy đi chậm lại để tôi bắt kịp. Mắt em ấy mở to dường như đang bị sốc, như thể em ấy vừa chứng kiến một cảnh tượng kinh hoàng.

“Ông ấy nói rằng Nữ hoàng và Robert đang âm mưu sát hại Amy Dudley, và Robert sẽ kết hôn với Nữ hoàng”, em thì thầm gấp gáp, giọng nói gần như tắc nghẹn. “Cecil đang tự nói với chính mình! Em nghe rõ ông ấy. Ông ấy nói họ đang tung tin rằng Amy mắc bệnh ung thư và Nữ hoàng sẽ kết hôn với Robert, nhưng đất nước này sẽ không bao giờ chấp nhận điều đó”.

“Ồ, Cecil không bao giờ nói điều đó với de la Quadra!”. Tôi nhận thấy sự mất lòng tin của chính mình trên gương mặt của em gái tôi. “Đại sứ Tây Ban Nha à? Mọi lời ông ta nghe được sẽ bay thẳng đến Tây Ban Nha! Tại sao Cecil nói chuyện này với ông ta?”.

“Ông ấy vừa nói đấy thôi. Em không thể nghe nhầm được.” Tôi lắc đầu. “Vô lý!”.

“Nhưng chính tai em đã nghe thấy!”

“Chúa ơi, họ muốn giết Amy Dudley thật sao? Tại sao chúng ta không ngăn họ lại?”

Cú sốc của tôi giờ hiện lên trên khuôn mặt của Mary. “Chúng ta có thể nói với ai? Làm thế nào chúng ta có thể ngăn chặn họ trong khi chính Cecil biết rõ nhưng không ngăn chặn”.

“Nhưng Nữ hoàng không có quyền giết người, kể cả đó là một tình địch của bà ấy. Chuyện này không thể xảy ra.”

“Cecil nói rằng chuyện này sẽ hủy hoại thanh danh của Nữ hoàng. Ông ấy nói rằng cả vương quốc này sẽ đứng lên chống lại bà ấy chứ không chịu để một kẻ giết người ngồi trên ngai vàng. Ông ấy nói rằng mình sẽ từ quan về nhà.”

Tôi không hiểu gì cả. Cecil sẽ rời bỏ Elizabeth, vị nữ hoàng mà ông ấy đã dựng lên? Liệu ông ấy có để bà phạm một tội ác khủng khiếp đến nỗi đánh mất cả linh hồn và vương quốc của mình không? Và nếu ông ấy làm vậy – tôi nghĩ, nghĩa là nếu làm thế – liệu ông ấy có dựng tôi lên làm nữ hoàng thế chỗ bà ấy không?

“Ông ấy nói rằng mình không thể chịu đựng được cảnh bản thân đang khuyên Nữ hoàng tai này thì Robert Dudley lại thì thầm vào tai kia của bà. Ông ấy nói vương quốc này không bao giờ chấp nhận một kẻ thuộc dòng họ Dudley làm hoàng thân.”

“Vâng, sự thật thế là đã rõ”, tôi ngập ngừng nói trong khi nghĩ chị Jane tôi từng từ chối phong vương cho em trai của người đàn ông này, tức chồng chị ấy, Guildford, vì sự phản trắc của ông nội anh ta. “Không ai chấp nhận một Dudley kề cận ngai vàng lần nữa”.

“Nhưng tại sao lại nói điều đó với Đại sứ Tây Ban Nha?”, Mary kinh ngạc. “Ông ấy nói với ngài đại sứ rằng Nữ hoàng không đáng tin, rằng đất nước này tiêu tan tới nơi rồi. Em thề ông ấy đã nói rằng bà ấy và Robert sẽ giết Phu nhân Dudley. Ông ấy nói vậy đấy! Ông ấy đã nói thế, Katherine!”. Em ấy lắc đầu với một cử chỉ kỳ lạ, giống như đang vỗ cho nước chảy ra từ tai mình. “Em không tin nổi những gì vừa nghe thấy. Cecil lên án Nữ hoàng với người Tây Ban Nha!”.

“Thật vô lý!”, tôi nói. Nhưng rồi sự khổ sở của tôi về Ned đã lấn át tất cả. “Chẳng có lý gì cả!”, tôi nói cay đắng, “Triều đình này là một thế giới đầy dối trá”.

Mary đã nghe đúng, vì không ai nhìn nhầm sự lo lắng của Elizabeth. Bà ấy tránh mặt Robert Dudley và ở lỳ trong phòng càng lâu càng tốt với những cánh cửa đóng kín trước tất cả mọi người, ngoại trừ những cô gái phục vụ phòng của bà. Dudley từng đi ra đi vào nơi này mà không cần ai mời, giờ thì các vệ sĩ đang đứng canh trước cửa và không ai được phép bước vào. Đối với triều thần, bà cáo rằng mình không được khỏe. Kỳ thực, bà tha thẩn trong hậu cung như kẻ đang có vấn đề trong tâm hồn hơn là thể xác. Suốt ngày Chủ nhật bà cứ như một con mèo hiếu động, hết rình rập rồi lại rình mò. Bà đi ngủ sớm, phàn nàn rằng mình đau đầu, nhưng tôi nghĩ đó là do lương tâm cắn rứt. Thậm chí chỉ cần một nửa những gì William Cecil nói là sự thật cũng đủ để kết luận rằng bà ấy đã ra lệnh giết người vô tội. Tôi nghĩ điều này là không thể; nhưng rồi tôi nhớ lại người ta nói mẹ bà, Anne Boleyn, đã từng dùng thuốc độc hãm hại các đối thủ của mình. Lẽ nào Elizabeth đang đầu độc đối thủ của bà? Một mình Elizabeth có dám giết chết đối thủ không?

Hôm sau là ngày trực của tôi nên tôi lại phải hầu hạ Nữ hoàng. Bà ấy trông nhợt nhạt và mất ngủ. Tôi cũng vậy. Tôi không thể đi tìm Ned vì không được rời khỏi hậu cung nếu không được phép của Nữ hoàng. Frances Mewtas hôm nay không có mặt, và theo tất cả những gì tôi biết, cô ấy và Ned đang vui vẻ cùng nhau. Cùng nhau và không bị giám sát. Ý nghĩ này như một cơn đau làm tôi không thể đứng vững nếu không tựa lưng vào tường. Hai tay tôi đan chặt vào nhau, mắt nhìn xuống trong khi Elizabeth đi tới đi lui trong phòng riêng của mình, hai mươi bước tới cửa sổ này, hai mươi bước tới một cửa sổ khác. Robert Dudley xuất hiện và Nữ hoàng nói với anh ta rằng bà không muốn cưỡi ngựa ra ngoài; bà không muốn ra ngoài sáng nay và cả chiều nay, rằng hãy tháo yên cương lũ ngựa và thả chúng ra đồng. Triều đình không đi săn hôm nay.

Anh ta không hỏi bà tại sao. Rằng anh ta không thách bà nói với tôi rằng anh ta biết chuyện gì đang xảy ra với Elizabeth, anh ta cùng chia sẻ cảm giác tội lỗi của bà. Anh ta chỉ nghiêng mình cúi chào và gửi một thông điệp đến khu chuồng ngựa. Khi anh ta ngoái đầu nói gì đó với gia sư của mình, tôi thấy ánh mắt anh ta lướt qua vị gia sư, qua tôi và tới một người đàn ông đang đứng chờ nơi ngưỡng cửa. Đó là một trong những người hầu của Robert Dudley, và anh ta tiến lên, nét mặt trông rất nghiêm trọng, rồi quỳ xuống trước mặt Dudley.

Tôi run rẩy đứng cạnh Nữ hoàng, như thể tôi cũng đang chờ nhận tin xấu. Nữ hoàng và Robert cùng đối diện với người đàn ông. Tay họ rất gần nhau và tôi nghĩ bà ấy muốn bấu lấy anh ta. Người đàn ông trao một bức thư và nói với thầm với Robert Dudley bằng một giọng nhỏ đến mức không ai ngoài Dudley, Nữ hoàng và tôi có thể nghe được, rằng anh ta xin lỗi vì mang đến tin xấu: Phu nhân Dudley đã chết!

Nữ hoàng gần như biến sắc hoàn toàn, màu da từ nhợt nhạt chuyển sang vàng ệch. Tôi nghĩ bà sắp ngất xỉu. Người bà cứng đờ như tên lính cao to đang đứng nghiêm ở cổng cung điện. Bà không nói nên lời. Tôi cũng thấy mình đang run lên – tôi không nghĩ bà ấy dám làm một việc như thế. Tôi không bao giờ nghĩ đó là âm mưu của Robert Dudley.

Bà lảo đảo như thể đầu gối của bà đã biến mất. Tôi tiến về phía trước và đỡ lấy cánh tay bà. “Thưa Nữ hoàng?”, tôi thì thầm. “Thần lấy nước cho người uống nhé?”.

Bà nhìn tôi bằng cái nhìn vô hồn và tôi có phần nao núng trước sự trống rỗng trong ánh mắt đầy nghi hoặc của bà. Tôi nghĩ có lẽ đây là bộ mặt của một kẻ giết người. Chúa cứu tôi khỏi cái nhìn tang tóc của bà. Tôi liếc nhìn xuyên gian phòng và trông thấy Ned, vừa bước vào theo sau người hầu của Dudley. Chàng cũng đang nhìn hai người bọn họ. Chàng mỉm cười gượng gạo với tôi. Gương mặt đẹp trai của chàng trong có vẻ bối rối, nhưng tôi ngó lơ. Tôi không thể nói với chàng những gì tôi biết. Lúc này, hơn lúc nào hết, chàng đã bỏ rơi tôi.

Robert ghé miệng sát vào tai Nữ hoàng và thì thầm. Bà gật đầu và trở lại trạng thái cứng đờ bước ra khỏi phòng khánh tiết và đứng đó, một tay vịn ngai vàng như tìm chỗ dựa. Tôi chờ Robert nghiêng mình cúi chào bà và quay về phía triều đình thông báo cái chết của vợ mình, nhưng anh ta không nói gì cả. Nữ hoàng cũng không nói gì cả. Họ nhìn nhau, một cái nhìn rất lâu của những kẻ đồng lõa khủng khiếp trong khi William Cecil lặng lẽ quan sát từ phía cuối gian phòng. Tôi có một cảm giác kinh hoàng rằng màn kịch này đã được viết sẵn, nhưng tôi không biết. Thật khó biết được chúng tôi đã vượt qua sự kiện này này như thế nào. Cái chết của Phu nhân Dudley vẫn chưa được công bố. Họ phục vụ bữa sáng và bữa tối; triều đình chơi trò chơi và nghe nhạc. Buổi tối có tiết mục hài và mọi người đều không biết đằng sau bí mật khủng khiếp này là gì ngoài tiếng cười và tiếng vỗ tay rất nhiệt tình. Elizabeth đi ngang qua gian phòng như một con búp bê nhỏ bước đi bằng ý chí. Khuôn mặt bà không cảm xúc. Bà không nói gì. Tôi theo sát phía sau bà. Tôi cảm thấy thế giới này như đang kết thúc và tôi đã đi mất người đàn ông duy nhất mà tôi có thể tin cậy.

Mãi đến ngày hôm sau, tròn ba ngày kể từ khi Elizabeth nói với Đại sứ Tây Ban Nha rằng Amy Dudley đã chết vì ung thư, tin tức mới được công bố. Elizabeth ngồi trên ngai vàng của mình trong nhà nguyện trong cái không gian thiêng liêng đó với những cờ phướn tôn vinh các hiệp sĩ Ga-tơ71* được treo trên tường, và thông báo, bằng giọng đủ lớn để mọi người đều có thể nghe rõ, một cách đau buồn, rằng Amy Dudley đã chết. Nhúm người ít ỏi đó từng nghe nói rằng Amy tan nát cõi lòng vì bị chồng bỏ rơi, hoặc hay phàn nàn về sức khỏe kém của cô ấy, giờ đang thở hổn hển khi nhận tin về cái chết của cô. Chỉ có Mary và tôi, và có lẽ cả William Cecil và ngài Đại sứ Tây Ban Nha mới tự hỏi rằng tại sao họ phải mất nhiều thời gian như thế để thông báo tin này.

71* . Garter: Cấp cao nhất trong tước Hiệp sĩ Anh.

Elizabeth trao đổi với Cecil một ánh mắt cho thấy, qua nét mặt vô cảm một cách có tính toán của họ, rằng họ đã chuẩn bị kỹ càng cho chuyện này. Bà ấy nghiêng đầu lắng nghe người tình của mình đang nói gì đó. Mặt bà ấy như hóa đá. Dudley nói xong, cúi chào và bước ngược trở lại, đứng cách xa Nữ hoàng, đầu cúi xuống như thể anh ta đang rất đau buồn cho người vợ bị chính mình bỏ rơi.

“Chúng ta rất lấy làm tiếc vì sự mất mát của ngài”, Elizabeth nói với tư cách người đứng đầu hoàng gia. “Triều đình sẽ để tang Phu nhân Dudley”.

Một cử động nhẹ của bàn tay đeo nhẫn của bà như nói với toàn thể triều thần rằng họ có thể nói chuyện với nhau, và thế là mọi người vỡ òa, phấn khích nhiều hơn đau buồn. Rất ít người biết Amy Dudley. Robert, giống như các ông chồng được sủng ái khác, không bao giờ muốn vợ mình xuất hiện trong triều đình. Giờ đây, bất ngờ anh ta được tự do, tự do một cách đáng kinh ngạc. Mọi người tiến lại Robert, ngỏ lời chia buồn nhưng kỳ thực đang chúc mừng anh ta về sự may mắn lạ thường. Rằng một người vợ bị hắt hủi sao lại biết chọn đúng thời điểm để chết thế! Không ai nghi ngờ gì anh ta sẽ là hoàng thân mới của nước Anh và cho rằng họ sẽ kết hôn ngay lập tức. Ned tiến về phía tôi. Đằng sau chàng, tôi thấy Cecil, Dudley và Elizabeth đang đứng túm tụm với nhau trông như một bọn đồng lõa. Robert Dudley nhìn như bị ốm, hai người còn lại thì lộ rõ vẻ quyết tâm.

“Dudley thật là may mắn!”, Ned nói. “Chắc chắn họ sẽ kết hôn ngay lập tức”.

“Vâng!”, tôi nói, nhưng chàng không để ý thấy sự nhấn mạnh trong lời đáp của tôi.

“Điều lạ là Nữ hoàng thông báo cái chết của Amy trước khi Robert báo tin này cho triều đình”, Janey nói và chen vào đứng với chúng tôi. “Cô có nghe bà ấy nói không, Katherine? Rằng Amy mắc bệnh ung thư, nhưng thực sự con người khốn khổ tội nghiệp đó đã chết vì ngã cầu thang”.

“Bà ấy đã nói thế à?”, Ned hỏi lại.

“Em nghe Cecil nói hoàn toàn khác”. Mary nhập vào nhóm chúng tôi và nói khẽ đến nỗi tất cả chúng tôi đều phải cúi thấp người để nghe được những gì em ấy nói.

“Cecil nói sao?”, Janey hỏi Ned.

“Ned không nghe thấy đâu, vì anh ấy đang đi cùng Frances Mewtas chứ không phải với chúng tôi. Anh ấy chỉ để mắt vào cô ấy thôi”, tôi nói sắc lạnh. “Lúc đó tôi đang đi dạo cùng Mary. Ned đã không chọn đi cùng tôi”.

Janey hết nhìn gương mặt tái nhợt của tôi đến của anh mình. “Katherine, chúng tôi là bạn bè lâu năm với gia đình Mewtas. Mẹ của Frances hầu hạ Hoàng hậu Jane Seymour cô của chúng tôi. Cô ấy là bạn tốt của cả hai chúng tôi”.

Tôi gồng vai lên. “Ồ, chắc rồi. Nhưng tại sao Ned lại nhảy cùng cô ấy, đi cùng cô ấy và biến mất cả buổi tối với cô ấy trong khi tôi cần anh ấy? Tôi đã rất cần anh ấy ở bên tôi”.

“Anh không làm thế!”, chàng giận dữ. “Anh nhảy với cô ấy vì thầy dạy khiêu vũ bảo anh làm thế. Em cũng làm vậy với bạn nhảy của em mà!”.

“Ừ thì tôi đã không đi với anh, không uống bia với anh, và không trốn biệt cả buổi tối hôm sau cùng anh. Tôi không bám theo anh để bị hay tự biến thành kẻ ngu ngốc”, tôi giận dữ đáp trả. “Chỉ có Chúa mới biết chuyện gì đang xảy ra ở đây. Tôi nghĩ rằng triều đình đã điên hết cả và anh thì không thấy mặt mũi đâu! Tôi không quên những gì tôi đã hứa. Tôi không đánh mất danh dự của chính mình”.

Mặt chàng biến sắc và ánh mắt bỗng tối sầm kèm theo cơn thịnh nộ. “Tôi cũng không làm thế, thưa bà!”.

Ồ chàng gọi tôi là “bà”, như thể chúng tôi đã già và không còn chút tình cảm gì với nhau. Điều đó làm tôi nổi điên. “Sao anh lại dám... Ned? Sau tất cả những gì anh nói với tôi? Sau tất cả những gì anh đã hứa? Và tôi thì bị mắc kẹt trên cái bục bên cạnh Nữ hoàng? Tôi nhìn quanh và tìm kiếm anh... nhưng không thấy anh đâu. Sau đó tôi cũng không thể tìm ra anh, và tôi bị kẹt ở đó cho tới lúc ra về rất trễ mà cũng không thấy anh quay lại”. Trong sự bối rối tột cùng, tôi có thể nghe thấy tiếng lồng lộn của chính mình và rồi tôi bật khóc nức nở ngay giữa sân triều, nơi mọi người đều có thể nhìn thấy.

Mary đến bên tôi ngay lập tức, đặt tay lên eo tôi và hai chúng tôi đối mặt với hai anh em nhà Seymour như thể họ là kẻ thù của chúng tôi.

“Cứ buộc tội tôi đi!”, mặt chàng trắng bệch vì giận dữ. “Buộc tội tôi nếu cô muốn. Tôi không làm gì sai cả, và cô nên tin tưởng người sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro vì cô!”.

“Anh chẳng có rủi ro gì cả!”, tôi hét lên. “Chính tôi mới là người đã từ chối người Tây Ban Nha, từ chối người Scotland, vì vậy tôi bị kẹt ở đây với Nữ hoàng. Tôi thề sẽ không cưới ai cả! Chúa mới biết bà ấy có thể làm gì, Chúa mới biết bà ấy đã làm gì với đối thủ của mình. Tôi đã làm tất cả mọi thứ có thể vì anh; còn anh chẳng làm gì cho tôi cả. Anh là kẻ nói dối!”.

“Anh ấy không phải là kẻ nói dối”, Janey nói nhanh. “Hãy rút lại lời đó đi, Katherine”.

“Nếu chị ấy nói thế thì anh ta đúng là kẻ nói dối đấy!”, Mary nói với lòng trung thành đột xuất.

“Đi mà hỏi Frances xem anh ta đã nói gì với cô ta!”, tôi nhổ vào Janey. “Frances Mewtas, người bạn lớn của cô. Hãy hỏi cô ta xem anh ta đã nói dối những gì – vì cô ta sẽ trở thành chị dâu của cô mà! Còn tôi thì không bao giờ nữa!”.

Tôi bỏ chạy đến phòng dành cho các quý bà, không quên nhún gối cúi chào về phía ngai vàng trước khi bước đi. Tôi sẽ phải nói rằng tôi bị ốm và đó là lý do tại sao tôi rời khỏi khi chưa được phép. Tôi phải về phòng mình. Tôi chỉ muốn vào giường nằm và khóc cả ngày.

Em gái tôi, Mary, nói với mọi người rằng tôi bị ốm vì ăn táo chưa được nấu chín và đó là lý do tốt nhất để tôi được ở yên một mình. Em ấy vào phòng riêng của tôi ở khu quý bà và theo sau em ấy là một người hầu trên tay bưng đĩa thịt và bánh mì mang từ bếp lên cho tôi.

“Chị không ăn nổi đâu”, tôi ngẩng đầu lên khỏi gối nói.

“Em biết”, em ấy nói. “Tất cả dành cho em. Nhưng chị có thể ăn một ít nếu chị muốn”.

Em buông mình lên một cái ghế cạnh giường và đưa tôi một ly rượu vang pha nước. “Chị cắt đứt với Ned à?”, em ấy hỏi. “Anh ta đi lòng vòng trong sân triều, mặt thiểu não như đít lợn ấy!”.

“Đừng bất nhã thế!”, tôi nhấp một ngụm. “Nếu còn mẹ, mẹ đánh cho đấy!”.

“Và nếu là chị Jane của chúng ta, chị ấy sẽ nhắm mắt lại và cầu xin sự nhẫn nại”, Mary cười khúc khích. “Nhưng thật đấy! Anh ta trông đúng như thế đấy! Em không nói ngoa đâu!”. Em ấy bẻ một mẩu bánh mì và đưa cho tôi. Tôi cầm và gặm nó.

“Anh ta đang ve vãn Frances Mewtas”, tôi nói. “Giờ chị biết anh ta rồi. Chị nghĩ trái tim chị đã tan vỡ”.

Mary nhướng đôi lông mày cong một cách hoàn hảo của em ấy. “Đúng là chị không thể kết hôn với anh ấy được”, em ấy nói. “Chị sẽ không bao giờ có được sự chấp thuận. Có tin khủng khiếp từ Oxford đây. Hóa ra Phu nhân Dudley không hề bị bệnh gì cả. Cô ấy ngã cầu thang và bị gãy cổ. Và tệ hơn nữa, một cuộc điều tra chính thức về cái chết của cô ấy đang được tiến hành”.

“Ơ, cô ấy không bị bệnh sao? Nhưng mọi người đều nói rằng... Và Nữ hoàng vừa nói rằng...”

“Ngã cầu thang và bị gãy cổ”, Mary lặp lại. “Lạy Chúa! Nhưng một cuộc điều tra thì làm được gì?”.

“À, nó sẽ cho biết điều đã xảy ra. Bởi vì người ta đang đồn rằng cô ấy không ngã cầu thang mà có ai đó đã đẩy cô ấy!”. Mary nói trong khi nhai đầy miệng bánh mì và thịt. “Và như vậy ngài Robert phải cáo lui khỏi triều và đi về lo tang chế cho vợ mình. Anh ta sẽ về nhà ở Kew, và Elizabeth thì đang lang thang khắp cung của mình như một con sói đói mồi. Bà ấy không thể đến gặp anh ta, cũng không thể viết cho anh ta. Anh ta bị tình nghi giết người. Bà ấy không thể để mình bị liên lụy. Bà ấy không ra ngoài và gần như tự giam mình trong cung. Triều đình ăn tối mà không có bà. Không ai biết phải làm gì. Và anh ta – anh ta sắp sửa tiêu đời rồi. Mọi người đều nói rằng anh ta đã giết vợ mình để kết hôn với Nữ hoàng Elizabeth, và một số người nói rằng bà ấy biết điều đó”.

Tôi vô cùng hoan hỉ với ý nghĩ rằng Elizabeth đang mất Robert Dudley, cũng giống như tôi mất Ned. “Bà ấy hẳn đã biết! Dù sao bà ấy cũng biết rằng Amy Dudley sẽ chết! Nhưng ai dám chắc rằng đó là Elizabeth?”.

“Chính Đại sứ Tây Ban Nha!”, Mary nhắc tôi. “Và ông ta biết chuyện từ Cecil. Ông ta đã nói với mọi người. Elizabeth sẽ không bao giờ có thể nhìn thấy Dudley một lần nào nữa. Mọi người nói rằng bà biết anh ta sẽ giết vợ. Và nếu họ kết luận anh ta tội phạm giết người, họ sẽ xử tử anh ta đến nơi đến chốn!”.

“Họ không bao giờ chặt đầu Robert Dudley đâu!”, tôi cay đắng nói. “Bà ấy sẽ không bao giờ để họ làm điều đó. Không phải anh ta. Không phải người được bà sủng ái”.

“Không quan trọng anh ta là ai, nếu anh ta đã giết vợ mình”, Mary nói. “Kể cả khi Elizabeth đứng trên luật pháp. Nếu cuộc điều tra của Oxfordshire kết luận anh ta là kẻ giết người thì bà ấy không thể tha tội cho anh ta. Ngoài ra, anh ta không phải là người đầu tiên trong dòng họ mình bị chặt đầu”. Em ấy nhìn mặt tôi trong khi tôi đang nghĩ đến chị Jane, người đã đổi họ mình theo họ chồng thành ‘Jane Dudley’. Em ấy chìa tay vẻ phân bua. “Em không có ý nói chị ấy. Em chưa bao giờ nghĩ Jane là một thành viên nhà Dudley”.

Tôi lắc đầu trước ý nghĩ sống động đến bất ngờ về chị Jane và anh chàng bạc nhược của nhà Dudley. “Không ai trong nhà họ là người tốt”, tôi nói một cách hằn học. “Nhưng Robert là người được nhất trong bọn họ”.

Một lần nữa, Ned và tôi lại trở thành xa lạ. Tôi từng nghĩ anh ta sẽ chạy đến với tôi ngay lập tức và cầu xin tôi tha thứ, nhưng anh ta không làm thế. Tôi khổ sở vì không có anh ta, nhưng tôi không thể tự mình xin lỗi khi tôi không hề có lỗi. Tôi thấy anh ta sóng đôi cùng Frances Mewtas và khiêu vũ với cô ấy, và mỗi lần như thế cơn ghen và nỗi bất hạnh trong tôi lại trỗi dậy. Tôi quyết tâm trừng phạt anh ta vì bất tín, nhưng tôi nghĩ rằng chẳng có ai đau khổ ngoài chính tôi.

Cả triều đình như bị kìm nén và không thoải mái. Dường như không ai cảm thấy vui nữa khi ngày trở nên ngắn hơn và cây cối bắt đầu chuyển màu. Mùa hè tưởng chừng bất tận rồi cũng dần trôi qua mỗi ngày. Bầu trời xanh trong ngày càng sẫm lại và những đám mây trắng trở nên xám xịt. Từng cơn gió lạnh nổi lên và thổi xuống thung lũng sông Thames.

Elizabeth như mất phương hướng khi không có Robert Dudley, người vẫn chưa vào triều vì đang mụ mẫm trong ngôi nhà đẹp của anh ta ở Kew, vẫn mặc đồ đen và hổ thẹn muốn độn thổ. Anh ta đang chờ đợi, như tất cả chúng tôi, kết quả từ các nhà điều tra án mạng của Abingdon và phán quyết của bồi thẩm đoàn hình sự. Anh ta có thể trở lại triều vì anh ta là một thành viên dòng họ Dudley. Cuối cùng, họ sẽ phục hồi mọi thứ cho anh ta trừ phi anh ta bị chặt đầu – nhưng giờ đây anh ta không thể kết hôn với Nữ hoàng. Thậm chí nếu bồi thẩm đoàn tuyên bố rằng vợ anh ta chết vì tai nạn, mọi người đều tin rằng anh ta đã hối lộ bồi thẩm đoàn. Điều này là đúng hay sai không thành vấn đề vì danh tiếng của anh ta đang bị xét xử, và nó đã chết đi như người vợ khốn khổ của anh ta. Cuộc tranh giành ngôi nữ hoàng chấm dứt. Chính Robert Dudley cũng không nghĩ rằng anh ta còn được nước Anh, hay Hội đồng Cơ mật, hay thậm chí Nữ hoàng chấp nhận như một cố vấn hay thừa tướng ở triều đình. Anh ta đã tự đánh mất mình qua tội ác mà anh ta tưởng sẽ giúp anh ta tiến lên ngai vàng.

William Cecil âm thầm chiến thắng trong sự vắng mặt của đối thủ cũ. Ông vừa tỏ ra ăn năn vừa nắm thế thượng phong: Nữ hoàng phải kết hôn với một hoàng thân Tin lành, còn Robert Dudley thì đang bị bêu riếu vì cái chết của vợ. Nữ hoàng, kẻ mê muội trong cơn say tình, giống như một góa phụ đau khổ vì mất người mình sủng ái. Nhưng ý chí quyết tồn tại như một nữ hoàng giúp bà đứng vững trên ngai. Bà không nói một lời về Robert, khuôn mặt nhỏ bé của bà chùng xuống và liên tục quay về phía Cecil trong khi ngẩng cao đầu tiếp nhận những lời khuyên kín đáo của ông ấy, và làm theo chính xác những gì ông ấy bảo. Không ai nghi ngờ rằng bà sẽ kết hôn khi nào ông ấy nghĩ là thời điểm tốt nhất, vì nỗ lực kết hôn vì tình yêu của bà đã kết thúc bằng một cái chết và sự thất sủng.

Tôi được sủng ái trở lại. Tôi không thể nói rằng đây là một nơi rất vui thích để tận hưởng. Elizabeth ốm vì tương tư người mà bà đã trót yêu. Còn tôi, kẻ hầu hạ bén gót bà, thì đang khao khát Ned. Tôi suýt nói với bà rằng tôi hiểu được nỗi đau của bà, vì tôi cũng đang đau như vậy. Nhưng rồi tôi nhớ rằng do bà mà Ned và tôi đã chia tay. Chúng tôi không không có tội tình gì, chúng tôi phải được tự do kết hôn. Tôi bất hạnh vì lỗi của bà. Chỉ cần một lời của bà sẽ giúp tôi có lại người đàn ông duy nhất mà tôi từng yêu và sẽ yêu mãi mãi. Nhưng bà sẽ không bao giờ nói lời đó. Bà sẽ không bao giờ nói. Bà muốn mọi người cô độc và khốn quẫn như chính bà.

LÂU ĐÀI WINDSOR

THÁNG 10 NĂM 1560

Trời trở nên lạnh hơn và mọi người không còn có thể dong thuyền vui chơi trên sông. Triều đình phải trở về London. Cái chết của Amy Dudley được kết luận là một tai nạn. Robert Dudley, tháng tang đã kết thúc và tên tuổi anh ta đã tươi sáng trở lại, được phép vào triều. Elizabeth và người tình của bà, những người đang bị cả thế giới soi vào, biết mọi người tin rằng anh ta là kẻ sát nhân và chào anh ta một cách lặng lẽ. Robert Dudley tham gia thiết triều nhưng tiếng nói của anh ta không còn trọng lượng như trước.

Họ phải ở bên nhau, họ không thể tự giúp mình. Mọi người đều nhìn thấy điều đó. Nhưng sẽ không bao giờ họ nói chuyện về chuyện hôn nhân nữa: William Cecil đã nhìn thấy trước điều đó. Chính ông ấy đã lan truyền tin đồn rằng Dudley sẽ giết vợ mình, và chính ông ấy đã nói với mọi người rằng vương quốc này sẽ không bao giờ chấp nhận một Dudley lên làm vua. Cũng không có vấn đề gì nếu một trong hai điều đó là đúng hay sai. Toàn thể tín đồ Cơ đốc giáo tin chuyện là thế. Elizabeth và Dudley chỉ biết cúi đầu dưới nỗi hổ thẹn mà cả hai cùng mang.

Dì Margaret Douglas của tôi – người đàn bà khốn khổ, xấu xí, già nua, theo Công giáo La Mã – được gọi vào triều trong giai đoạn đen tối này. Bà không ở đây để được tôn vinh, mà để bị theo dõi. Elizabeth, thất vọng vì không nhận được bất cứ sự thật nào từ những cuộc thẩm vấn dài của các cố vấn mông muội của mình trong vụ Margaret – bao gồm một điệp viên kép, một thầy bói và một linh mục hoàn tục – đã quyết định theo dõi bà tại triều. Họ biết rằng Margaret đã tiếp cận Nữ hoàng gốc Pháp của xứ Scots, nhưng họ không biết bà đã đề nghị những gì.

Ngay lập tức, tất cả các vấn đề về quyền ưu tiên bắt đầu lại từ đầu khi người đàn bà, một tín đồ Công giáo La Mã nổi tiếng, người thực sự cần phải khiêm tốn hạ mình vì nỗi hổ thẹn của mình, cố đẩy tôi, người thừa kế theo Tin lành Kháng cách, lên cao. Tôi đang rất không hài lòng vì mất Ned nên không thực sự chuẩn bị đủ để quay trở lại. Thật nhẹ nhõm khi Margaret được phép trở về nhà bà ở Yorkshire, dù vẫn còn bị nghi ngờ, nhưng vẫn theo Công giáo La Mã, và tất nhiên vẫn già nua và xấu xí như xưa.

Tôi quyết định viết thư cho Ned và nói với anh ta rằng khi triều đình quay về London và trở lại nhịp sống thường ngày của kinh đô, tôi không muốn thấy mặt anh ta nữa. Tôi biết điều này là vô lý: Chúng tôi không thể không nhìn thấy nhau, bởi chúng tôi phải dự thiết triều cùng một nữ hoàng và phục vụ cùng một triều đình. Dù muốn dù không chúng tôi vẫn phải gặp nhau mỗi ngày. “Nhưng tôi không muốn nhảy với anh, không muốn anh đỡ tôi lên hay xuống ngựa, không muốn cùng vào nhà nguyện, hoặc đi riêng với tôi dưới bất cứ hình thức nào”, tôi cứng rắn. Tôi làm rơi một giọt nước mắt trên trang giấy và tôi thấm khô nó bằng ống tay áo mình để anh ta không biết rằng tôi đang khóc. “Tôi chúc anh hạnh phúc với Frances. Tôi sẽ không bao giờ kết hôn. Tôi vô cùng thất vọng trong tình yêu”.

Tôi nghĩ rằng như thế là đầy phẩm giá. Tôi đính kèm theo thư bài thơ quý giá mà anh ta đã viết tặng tôi. Tôi sẽ không bao giờ quên nó. Tôi thuộc hết từng câu. Tôi đã luôn mang nó bên mình trong một túi vải lanh đặt cạnh trái tim tôi như thể đó là lá bùa giúp tôi vượt qua những lúc tuyệt vọng. Nhưng giờ đây tôi nghĩ rằng tôi phải trả lại cho anh ta và để anh ta chắc chắn rằng tôi đã giải thoát anh ta khỏi mọi lời thề non hẹn biển của anh ta. Tôi gói tất cả lại và gửi đến nhà anh ta ở London, khu Cannon Row. Tôi bảo người đưa thư quay về ngay mà không phải đợi Ned trả lời, vì tôi biết sẽ chẳng có hồi đáp gì đâu.

Ngay ngày hôm sau, chúng tôi đang trở lại từ nhà nguyện thì Janey đi đến bên tôi với một lá thư niêm phong bằng dấu Hertford. “Tôi có cái này từ Ned”, cô ấy nói một cách lúng túng. “Người đưa tin của anh ấy đưa nó vào lúc rạng sáng. Tôi nghĩ rằng anh ấy đã viết cho cô suốt đêm. Anh ấy bảo tôi đưa cho cô ngay lập tức. Xin hãy làm bạn với tôi trở lại. Xin vui lòng đọc bức thư này”.

“Gì thế chị?”, em gái Mary hỏi vọng lên từ bên dưới khuỷu tay của tôi, đôi mắt sáng rỡ quan tâm.

“Chị không biết”, tôi đáp, nhưng tôi có thể cảm nhận mình đang đỏ mặt vì vui. Chắc lại là trò tán tỉnh nhau. Tán tỉnh một lần nữa. Một người đàn ông không thức cả đêm để viết một lá thư chấp nhận lời khước từ của một cô gái và gửi hồi âm ngay tờ mờ sáng. Hẳn là chàng yêu tôi. Chàng muốn tôi quay lại. Chàng phải cố thuyết phục tôi.

“Ned à?”, Mary hỏi và kéo tay tôi xuống để em ấy có thể nhìn thấy con dấu. “Ồooo!”.

“Ồ cái gì!”, tôi nói. Tôi tách ra khỏi đám rước đang đi sau Nữ hoàng đến đại sảnh để ăn sáng.

“Chị không được trễ đâu!”, Mary cảnh báo tôi. “Bà ấy chua như táo thối sáng nay đấy!”.

“Em đi đi”, Janey nói xen vào. “Nếu ai hỏi, hãy nói rằng tôi bị ốm và Katherine đưa tôi về phòng”.

Mary đảo mắt nhìn một cách láu lỉnh và bước theo những người phụ nữ. Janey và tôi bước ra khỏi cửa sân vườn vào khoảnh sân hoang vắng và lạnh giá. Tôi mở bức thư.

“Anh ấy nói gì thế?”. Janey hỏi, giọng bị nén lại qua ống tay áo cô đang che ngang miệng, cố gắng nín cơn ho trong bầu không khí ẩm ướt từ dòng sông.

Tôi đưa ánh mắt đang mờ đi khỏi bức thư nhưng tôi không nhìn thấy cô ấy, mắt tôi tràn ngập những giọt nước mắt. “Anh ấy nói anh ấy sẽ cưới tôi ngay lập tức, ngay khi triều đình về đến London”, tôi thì thầm. “Anh ấy nói rằng chúng ta sẽ không phải đợi lâu nữa, anh ấy sẽ không nghe William Cecil hay bất cứ ai khác cảnh báo gì nữa. Robert Dudley khuyên anh ấy tin vào thời gian, nhưng bản thân Robert lại không tin và đang bị hủy hoại. Ned nói rằng anh ấy sẽ không tin ai và chờ đợi thêm nữa”. Tôi bật khóc và nắm tay cô ấy: “Janey! Anh ấy sẽ cưới tôi!”.

CUNG ĐIỆN WHITEHALL LONDON,

MÙA THU NĂM 1560

Hội đồng Cơ mật đang họp và Nữ hoàng tham dự với hai thị nữ của bà đứng phía sau ngai vàng, riêng tôi thì không bắt buộc. Tôi lẳng lặng trốn khỏi phòng khánh tiết, lên cầu thang vào phòng dành cho thị nữ. Janey đang đợi tôi ở đó và chúng tôi về phòng riêng của cô ấy.

Cô ấy lao đến bên tôi như một cơn lốc, cởi mũ trùm đầu tôi, chải tóc cho tôi và gắn lại mũ trùm đầu. “Chỉ là một cuộc cãi vã của những kẻ yêu nhau thôi”, cô ấy nói. “Chuyện chẳng có gì cả! Ơn Chúa, mọi thứ đã qua rồi!”.

Tôi thấy mình đang mỉm cười hạnh phúc như thể đột nhiên mọi vấn đề đều không là gì cả. “Anh ấy đã viết một lá thư tuyệt vời!”.

“Anh ấy là nhà thơ mà”, Janey đáp. “Tình cảm anh ấy dành cho cô nằm trong từng lời anh ấy viết ra. Frances Mewtas không là gì với anh ấy cả!”.

“Lẽ ra anh ấy không nên nắm tay cô ta sau khi họ nhảy xong”, tôi nói. “Anh ấy biết rồi”, Janey đồng ý.

“Và tối hôm sau, anh ấy có ở cùng cô ta không?”

“Anh ấy còn không gặp cô ta. Anh ấy chơi bài cùng với các quý ông. Anh ấy thề với tôi rằng mọi chuyện xảy ra đúng như vậy, và chính tôi đã nhìn thấy anh ấy như thế. Chỉ là cô quá ghen thôi.”

“Tôi không ghen!”

Janey nghiêng đầu nhìn tôi chằm chằm từ một bên. “Cô không ghen à?”. Tôi cười to nhưng vẫn còn cục tức bên trong cổ họng tôi. “Janey, nơi này đầy dối trá và khó lường quá! Tôi không được phép kết hôn và không bao giờ có đúng thời điểm để xin. Giờ thì Elizabeth và Robert Dudley đã chia tay nhau mãi mãi, dù anh ta quay lại triều nhưng không thể ở cùng bà ấy nữa. Mọi người khinh thường vì cho rằng anh ta là kẻ giết vợ. Thậm chí Elizabeth cũng không nói chuyện với anh ta... Làm thế nào bà ấy sẽ hạnh phúc trở lại? Chúng tôi không bao giờ có cơ hội xin phép được kết hôn! Elizabeth sẽ không bao giờ cho phép người khác hạnh phúc. Điều đó không xảy ra khi bà ấy đã mãi mãi mất đi người tình của mình”.

Để trả lời, Janey đi ra cửa và vẫy tay làm hiệu. Ned lách người bước vào. Tôi đứng bật dậy. “Ned”, tôi nói như không tin vào mắt mình. Lần này, chàng không xúc tôi vào vòng tay mình, chàng cũng không ôm và nhấc bổng tôi lên khỏi mặt đất, chàng chỉ nghiêng mình cúi chào rất trịnh trọng, rồi chàng nói như thể đã chuẩn bị sẵn một bài phát biểu trong túi. “Anh sinh ra là dành cho em, và bởi vì em không nghĩ rằng anh đang đùa giỡn, nên nếu em đồng ý, anh bằng lòng cưới em làm vợ!”.

Chàng cầm tay tôi. Tôi cảm nhận mình đang run rẩy. Chàng lấy ra một chiếc nhẫn từ trong túi và đeo nó vào ngón áp út bàn tay trái của tôi. Đó là chiếc nhẫn đính hôn bằng kim cương sáng lấp lánh dọc theo chiều dài ngón tay của tôi, như thể nó sẽ nối hai trái tim của chúng tôi bằng ngọn lửa rực rỡ của nó.

“Em nói gì đi nào?”, chàng thì thầm. “Em có thích anh không? Em có thích lời cầu hôn của anh không?”.

“Em thích cả anh và lời cầu hôn của anh. Em bằng lòng cưới anh làm chồng!”, tôi nói một cách trang trọng.

“Em làm chứng cho hôn ước của bọn anh nhé?”, chàng đề nghị Janey ngay lập tức.

“Ồ, vâng, tất nhiên rồi!”. Cô ấy hổn hển đáp rồi tiến tới trước hai chúng tôi, nhìn mặt từng người một.

“Tôi, Edward Seymour, sẽ nhận em, Katherine Grey, làm vợ trong tương lai”, chàng cam kết. “Và để làm tin, anh trao cho em chiếc nhẫn này, của cải này, cùng lời ước hẹn thiêng liêng của anh”.

Tôi chưa bao giờ tham dự cuộc hứa hôn nào nên không biết mình phải làm gì. Tôi nhìn lên gương mặt đẹp trai của chồng sắp cưới của tôi.

“Em cũng nói như vậy”, chàng nói.

“Tôi, Katherine Grey, sẽ nhận anh, Edward Seymour, làm chồng trong tương lai”, tôi lặp lại nguyện ước của chàng. “Và để làm tin, em xin nhận chiếc nhẫn này, của cải này, cùng lời ước hẹn thiêng liêng của anh”.

“Và tôi xin làm chứng cho sự đính ước này”, Janey xác nhận.

Edward đặt một ít tiền xu vào lòng tay tôi, tượng trưng cho việc chàng đang trao tài sản của mình cho tôi nắm giữ, và sau đó đặt tay dưới cằm tôi, nâng mặt tôi lên và hôn môi tôi. Tôi nghĩ, mình sẽ không bao giờ bị bỏ rơi hay chịu bất hạnh một lần nào nữa.

“Khi nào chúng ta sẽ được làm lễ cưới bởi linh mục?”, tôi thì thầm. Một lần nữa, lại Janey là người lên kế hoạch. “Khi nữ hoàng đi săn lần kế tiếp, chúng tôi sẽ đến nhà cô”, cô ấy đề nghị với Ned. “Em sẽ tìm một linh mục”.

“Một mục sư”, Ned sửa lại.

Tôi nghĩ chị Jane của tôi không bao giờ đồng ý để tôi chịu phép hôn phối bởi một linh mục Công giáo La Mã, và tôi mỉm cười với chàng. “Tất nhiên rồi!”, tôi nói. “Nhưng phải là một người không biết chúng ta”.

“Một người lạ hoàn toàn”, Janey đồng ý, “để anh ta không nói cho người khác biết anh chị là ai. Em sẽ là người làm chứng thứ nhất. Còn người làm chứng thứ hai thì sao? Em gái của chị nhé?”.

Tôi lắc đầu. “Không, vì khi chúng ta nói với Nữ hoàng, bà ấy sẽ tức giận, và tôi không muốn Mary bị khiển trách vì tôi. Tôi sẽ mang theo cô hầu gái của tôi”.

“Thế là xong, không lâu nữa đâu!”, Ned nói. “Nữ hoàng sắp đi săn rồi. Giờ đây chúng ta xem như đã kết hôn với nhau. Chúng ta đã là vợ chồng. Sự đính ước này có giá trị ràng buộc như một cuộc hôn nhân”.

Janey mỉm cười. “Em sẽ ngồi trong phòng thị nữ”, cô ấy nói. “Không ai vào đây đâu”.

Cô ấy ra ngoài và cửa đóng lại phía sau. Ned khóa cửa và đặt chìa khóa vào tay tôi. “Giờ anh là tù nhân của em”, chàng nói. “Em có thể làm bất cứ gì em muốn ở anh”.

Tôi lưỡng lự. Tôi có thể cảm nhận khát khao dục vọng của riêng mình. Tôi có thể nghe thấy tiếng trống ngực mình đập thình thịch.

“Anh đã là hôn phu của em”, chàng nói và nở nụ cười. “Em thực sự muốn làm gì anh tùy thích!”.

Tôi nắm lấy những sợi dây buộc quanh cổ chiếc áo lanh của chàng và giật mạnh. “Em muốn anh gỡ chúng ra”, tôi thì thầm.

“Em muốn anh nhìn thấy cả cơ thể anh ư?”

Người tôi nóng ran như đang lên cơn sốt. Tôi muốn nhìn thấy đôi vai và bộ ngực trần của anh ấy, tôi muốn tháo hết đám dây buộc quần ống chẽn của anh ấy. Tôi ước ao nhìn thấy cặp đùi chàng và đôi mông săn chắc của chàng từ lâu. Tôi cảm thấy mặt mình nóng bừng khi hai tay chàng áp vào má tôi và nói: “Cảm ơn Chúa là em muốn anh, cũng như anh muốn em”. Chàng cởi áo và tôi khẽ hít vào một hơi khi nhìn cơ thể săn chắc của chàng. Thế rồi tôi tiến lên phía trước và vùi cả khuôn mặt đỏ bừng vào khuôn ngực trần cũng đang nóng hừng hực của chàng.

“Hãy ra lệnh cho anh”, chàng thì thầm.

“Hãy nằm xuống”, tôi bảo. Chàng nằm ngửa ra giường, và không hề mắc cỡ. Tôi trườn cả cơ thể nóng ran của mình lên người chàng.

CUNG ĐIỆN WHITEHALL,

LONDON THÁNG 11 NĂM 1560

Nhưng rồi chúng tôi vẫn phải chờ đợi, chờ đợi trong nỗi đau pha lẫn khoái lạc bất tận và sự ngọt ngào của tình yêu. Mỗi buổi sáng tôi đều hy vọng hôm nay Nữ hoàng Elizabeth sẽ thông báo rằng bà sẽ đến Cung điện Hampton hoặc Lâu đài Windsor để săn bắn, hay New Hall, Beaulieu, nơi nào cũng được – tôi không quan tâm những sở thích kỳ quặc của bà sẽ đưa bà đến đâu! Nhưng ngày này qua ngày khác, chúng tôi đứng ở phòng khánh tiết, Ned một bên còn tôi một bên, và chúng tôi phải lịch sự gật đầu chào nhau như thể chúng tôi chỉ là những người bạn. Chúng tôi không dám nói chuyện với nhau cho đến khi cuộc khiêu vũ tối đưa chúng tôi đến với nhau và lúc ấy, dù khao khát nhau dữ dội nhưng chúng tôi lo sợ nhiều hơn, thậm chí chúng tôi cũng không dám đi đến một góc phòng để thì thầm với nhau.

Tôi luôn cảm thấy một niềm vui thầm kín khi được ngắm chàng, được “cướp” của chàng một khoảnh khắc. Đó là cái cảm giác tuyệt vời đến thống khổ khi thức dậy vào buổi sáng và nhận ra rằng đó là một ngày đẹp trời để đi săn: trời trong xanh, rực rỡ và lạnh, chắc chắn Nữ hoàng Elizabeth sẽ đi săn hôm nay chứ? Và sau đó, khi bà không nói gì cả, tiếp đến là một sự tra tấn dịu dàng khi tôi được nhảy cùng Ned, hôn trộm chàng mà không dám làm gì hơn. Đó là một cuộc tình đầy đam mê vì lúc này tôi đã biết nếm trải niềm hoan lạc mà những đụng chạm xác thịt của chàng mang đến. Đó là một thứ ham muốn bị kìm nén, một tình yêu bị trì hoãn, không gì trên đời này sung sướng bằng được ở trong vòng tay chàng, tôi biết rằng rồi tôi sẽ được ở trong vòng tay chàng... nhưng không phải bây giờ.

Một buổi tối, William Cecil, cố vấn của Nữ hoàng, đến ngồi cạnh tôi trước bữa ăn tối khi chúng tôi đang ở phòng khánh tiết chờ Nữ hoàng hoàn tất quy trình thay y phục dài dằng dặc của bà ở hậu cung.

“Trông cô rất tuyệt”, ông nói với tôi, “Chúng ta sẽ sắp xếp để hoàng gia Tây Ban Nha cầu hôn cô một lần nữa. Tôi chưa bao giờ thấy cô đẹp như thế này”.

Tôi nhìn xuống. Tôi không phải kẻ ngu ngốc. Tôi biết ông là bạn tôi, nhưng tôi cũng biết ông luôn đặt đức tin lên trên hết, sau đó là nước Anh, rồi đến Nữ hoàng, và tất cả những người còn lại ở sau. Tôi đã thấy ông ca khúc khải hoàn trước người Pháp ở Edinburgh, tôi đã thấy ông chiến thắng Robert Dudley trước triều đình, và tôi thề sẽ không bao giờ phạm sai lầm đánh giá thấp William Cecil. Chỉ có Chúa và William Cecil mới biết ông sẽ làm gì để bảo vệ một Nữ hoàng theo đạo Kháng cách trên ngai vàng nước Anh.

“Vâng, thưa ngài, ngài biết là tôi không hề muốn đi Tây Ban Nha hay bất cứ đâu cả”, tôi nói, “Trái tim tôi chỉ dành cho nước Anh”.

“Liệu cô có giữ được nó an toàn không?”, ông nhẹ nhàng trêu tôi, như một ông bác tốt bụng đang trêu đùa cô cháu gái xinh đẹp của mình.

“Chắc chắn tôi sẽ không bao giờ quăng nó đi đâu cả!”, tôi đáp.

“À, cậu ấy là một anh chàng đẹp trai và hai người rất xứng đôi đấy!”, ông nở một nụ cười đầy hiểu biết.

Tôi cố nén một hơi thở mạnh. Vị cố vấn trầm lặng rõ ràng nắm rõ mọi chuyện trong triều nhưng lại làm ngơ trước những con người trẻ tuổi ngốc nghếch, không nghĩ gì khác ngoài những chuyện đại sự, đã nhìn thấy điều mà không ai khác ngoài Janey và Mary biết.

“Tôi có thể già nhưng tôi không mù!”, ông nhẹ nhàng nói, “Là người kế vị Nữ hoàng, hãy nhớ rằng cô phải được sự cho phép của Nữ hoàng mới được kết hôn”.

Quá trễ rồi! Tôi nghĩ và cảm thấy lòng mình hân hoan.

“Tôi biết rồi”, tôi ngoan ngoãn đáp. “Ngài William, ngài sẽ nói giúp tôi chứ? Tôi có nên hỏi bà ấy bây giờ không?”.

“Điều gì tới sẽ tới”, ông nói như thể ông đã quên mất sự nôn nóng của niềm khao khát non trẻ. “Cuối cùng, Nữ hoàng sẽ hiểu rằng bà ấy phải kết hôn vì lợi ích của đất nước, cuối cùng bà ấy sẽ thấy rằng đó phải là một cuộc hôn nhân và một liên minh – chứ không phải một vấn đề cá nhân. Khi được đính hôn, bà ấy sẽ khoan dung hơn với cuộc hôn nhân, vì cô, và vì những công nương khác trong triều đình của bà ấy nữa”.

“Thật khó để tất cả chúng ta cùng chờ đợi cho đến khi bà ấy sẵn sàng, vì bà ấy quá chậm chạp”, tôi nhận xét.

Ông kín đáo mỉm cười. “Thật khó cho tất cả chúng ta khi phải phục vụ một nữ hoàng chậm chạp khi làm nghĩa vụ của mình”, ông nói. “Nhưng bà ấy sẽ làm nghĩa vụ của bà ấy và sẽ kết hôn với đúng người, và cô cũng vậy”.

“Bà ấy không bao giờ có thể kết hôn với Robert Dudley vào lúc này.” Tôi không thể biết ông nghĩ gì khi nhìn nụ cười dịu dàng trên gương mặt ông. “Thật ra là không”, ông nói với một chút tiếc nuối. “Và bây giờ, cảm ơn Chúa, ông ấy cũng đã biết điều đó như tất cả chúng ta. Và như vậy bà ấy sẽ kết hôn với một hoàng tử Tây Ban Nha hoặc Pháp, thậm chí Thụy Điển hay Đức, và cô, và tôi, và tất cả nước Anh sẽ ngủ ngon hơn vào buổi tối”.

“Triều đình có sắp đi săn không?”, tôi hỏi, nghĩ về những buổi tối. “À, có, đến cung điện Eltham, ngày mai.”

“Tôi nghĩ tôi sẽ xin được miễn”, tôi nói, “Tôi bị đau răng”.

Ông gật đầu. Với quá nhiều thứ phải lo toan, ông đã quên rằng một cô gái trẻ sẽ không từ bỏ một ngày được đi ra ngoài chỉ vì đau răng. Ông quá già nên không nhận ra tôi không hề bị đau răng mà chỉ bị giày vò bởi sự ham muốn.

“Tôi sẽ nói với Nữ hoàng”, ông ân cần nói. “Nhớ đừng uống nước lạnh”.

CANNON ROW, LONDON

THÁNG 12 NĂM 1560

Janey và tôi nắm tay nhau đi men theo bờ sông, cố giữ cho nhau không trượt té trên con đường bùn lầy trơn trợt. Chúng tôi nghĩ rằng cách dễ nhất để đi từ cung điện đến nhà Ned ở đường Cannon Row là đi dọc bờ sông khi thủy triều xuống để không bị nhìn thấy. Nhưng con đường ngập rác rưởi, củi gỗ mục và mảnh tàu vỡ cùng các loại rác ghê tởm khác. Khi chúng tôi đến bức tường khu vườn nhà Ned và các bậc thang đi xuống cửa cống, giày của tôi dính đầy bùn còn Janey thì ôm lấy hông thở hổn hển. Chỉ có hai chúng tôi trên đường. Trước đây chúng tôi chưa bao giờ đi ra ngoài London mà không có lính bảo vệ, người hầu và các thị nữ đi cùng. Tôi cảm thấy rất phấn khích với cuộc phiêu lưu này và Janey cũng vô cùng hào hứng. Thậm chí chúng tôi cũng không mang theo người hầu riêng của tôi để làm nhân chứng. Chúng tôi đã cho em gái tôi, Mary, đi săn cùng với triều đình. Em ấy không biết tôi đang làm gì. Chúng tôi nghĩ sẽ an toàn hơn khi đi một mình.

Ned đứng ở miệng cống, nhìn chằm chằm qua khung lưới sắt. Chàng tự tay quay cửa rồi đỡ tôi bước lên các bậc tam cấp phủ đầy rêu xanh. Tất cả những gì chàng nói là “Tình yêu của anh” và “Vợ của anh!”.

Janey đi sau chúng tôi. “Mục sư đâu?”, Ned hỏi Janey, “Anh tưởng em đi cùng ông ấy chứ?”.

“Em bảo ông ấy gặp chúng ta ở đây. Ông ấy chưa đến à?”

“Không! Anh đã chờ từ sáng sớm. Nếu ông ấy đến sớm thì hẳn anh đã nghe thấy rồi.”

“Tôi phải quay lại cung điện vào bữa tối”, tôi cảnh báo họ. “Mọi người sẽ nhận ra sự vắng mặt của tôi nếu tôi không về kịp”.

“Hai người vào trong đi”, Janey bảo hai chúng tôi, “Em sẽ đi tìm mục sư”. “Nhưng em tìm ở đâu?”, tôi hỏi. Ned ấn vào lưng và đẩy tôi vào căn nhà nhỏ.

“Em sẽ đến một nhà thờ – hoặc sân Giáo đường Thánh Paul nếu cần”, cô ấy nói với một tiếng cười gấp gáp. “Em sẽ quay lại sớm nhất có thể”.

Ned đã chuẩn bị căn phòng cho một bữa tiệc cưới. Đĩa và những món ăn đã sẵn sàng được dọn ra. Có vài bình rượu vang đỏ và mấy chiếc cốc thủy tinh Venice, một ít bia và thậm chí cả nước uống. Tất cả những người hầu đều đã được cho ra ngoài. Chiếc giường cưới được dọn tinh tươm với những tấm trải thêu hoa đầy quyến rũ. Chàng nhìn tôi và nói: “Chúng ta phải chờ Janey à?”.

“Nếu họ sắp về thì sao?”

Chàng cười: “Vậy em dùng một ly rượu chứ, thưa Bá tước Phu nhân?”. Tôi bật cười với danh xưng mới của mình, nhớ về lần tôi bảo chị Jane cầu nguyện cho tôi cưới được một công tước. Hẳn chị ấy đã làm thế, và hẳn Chúa đã lắng nghe, vì bây giờ tôi lấy được con trai của một công tước và tước vị của chàng có thể được phục hồi nhờ sự tử tế của Nữ hoàng Elizabeth, nếu bà có chút thiện chí. Khi đó tôi sẽ là một nữ Công tước Hoàng gia. “Cảm ơn, thưa Bá tước Phu quân”.

Chàng rót cho tôi một ly và một ly cho chàng. Chúng tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn ra mép sông bùn lầy và ngắm thủy triều đang lên. Những con mòng biển bay vụt cao lên rồi lại sà xuống. Tôi ngồi tựa lưng vào ngực chàng, chàng ôm chặt tôi trong vòng tay, tôi chưa bao giờ cảm thấy an toàn và thoải mái đến vậy.

“Chưa bao giờ anh thấy hạnh phúc hơn lúc này”, chàng nói. “Như thể mỗi giây phút bên em đều là một món quà vậy”.

“Em biết”, tôi nói. “Em đã yêu chàng ngay từ khi còn bé và em cứ nghĩ chị Jane sẽ kết hôn với chàng”.

“Chúa phù hộ cô ấy! Anh sẽ làm tất cả mọi thứ vì em”, chàng hứa với tôi. “Em sẽ không bao giờ cô đơn và sợ hãi nữa”.

“Em sẽ là vợ chàng”, tôi nói. “Em sẽ không cô đơn và sợ hãi khi hai chúng ta đã là một”.

Ned cho tay vào túi: “Anh đã đặt làm chiếc nhẫn này cho em. Anh đã vẽ nó cho thợ kim hoàn làm ngay khi chúng ta vừa đính hôn”.

Tôi hơi run rẩy khi chàng đưa bàn tay nắm chặt ra trước mặt tôi, sau đó mở những ngón tay ra cho tôi xem món quà. Nó được chế tạo rất tinh xảo. Một chiếc lò xo ẩn giấu bên dưới bung ra một chiếc nhẫn lớn có năm mắt xích vàng tạo thành một chiếc nhẫn nhỏ bên trong.

“Và anh đã làm cho em một bài thơ”, chàng nói.

Lòng tôi tràn ngập xúc động. Tôi xoay xoay chiếc nhẫn trong lòng bàn tay, ngưỡng mộ ngắm những vòng tròn quấn vào nhau, hiện ra rồi lại biến mất.

“Khi năm vòng tròn, nhờ tài nghệ gắn kết, trở thành một chiếc nhẫn,

Như niềm tin hợp nhất lòng chung thủy, cùng nút thắt của uy quyền bí mật,

Không ai đủ sức để phá vỡ (ngoại trừ cái chết vì sự tham lam)

Thời gian và kết quả sẽ chứng minh; nhẫn này không nói thêm gì nữa”.

“Nút thắt của uy quyền bí mật”, tôi lặp lại.

“Anh hứa với em”, chàng nói, “không ai có đủ sức mạnh để chia rẽ chúng ta”.

“Vâng, không ai cả”. Tôi nói, đặt tay mình vào tay chàng.

Cánh cửa bật mở không một dấu hiệu báo trước và Janey bước vào, đỏ bừng và háo hức, cùng một người đàn ông tóc đỏ, gương mặt hồng hào với bộ râu rậm, y phục nhìn giống như một nhà Kháng cách Thụy Sĩ trong chiếc áo choàng lông màu đen.

“Họ đấy!”. Janey nói, đưa tay chỉ về phía chúng tôi.

Ông ấy mỉm cười khi nhìn thấy chiếc giường và thấy chúng tôi đang nắm chặt tay nhau. Ông ấy cúi đầu chào cả hai chúng tôi. Ned đã chuẩn bị sẵn cuốn kinh cầu nguyện và chàng đặt chiếc nhẫn cưới của tôi – chiếc nhẫn cưới xinh đẹp với quyền lực bí mật của nó – vào trang sách mở. Nhà truyền giáo thực hiện các nghi lễ và chúng tôi làm theo ông ta. Tôi rất kinh ngạc: Mọi thứ không hề giống như lễ cưới đầu tiên của tôi tại Nhà Durham với một người lạ, khi chị Jane đi trước, kết hôn với Guildford Dudley dưới sự phản đối, và hai ngày tiệc tùng long trọng. Tôi hầu như không nghe được những từ lắp bắp bằng một ngữ điệu lạ; tôi hầu như không nghe thấy lời đồng ý của chính mình. Mọi thứ diễn ra trong một khoảnh khắc rồi Janey tống khứ vị mục sư ra ngoài và tôi nghe tiếng leng keng của đồng xu khi thù lao được thanh toán.

Janey quay lại trong tích tắc. “Em sẽ uống mừng anh chị”, cô ấy nói, “Anh và chị dâu của em. Chúa ban phúc cho anh chị!”.

“Chúa ban phúc cho tất cả chúng ta”, Ned nói. Với ánh mắt ấm áp, chàng nhìn tôi xoay tròn chiếc nhẫn quanh ngón tay mình. Chàng hỏi: “Nó vừa chứ?”.

“Nó vừa vặn một cách hoàn hảo”, tôi đáp.

“Và anh chị sẽ có con chứ?”. Janey tiên đoán, “và rất gần ngôi báu! Tudor một bên, Seymour bên kia. Hãy nói rằng anh chị sẽ có con trai, và đó sẽ là Vua của nước Anh chứ?”.

“Vậy sao?”, Ned nói một cách đầy ý nghĩa. “Anh chị sẽ làm điều đó như thế nào?”.

“Ồ! Không cần phải gợi ý đuổi em ra ngoài đâu, em đi đây!”, Janey cười. “Em sẽ đọc sách, chơi đàn, làm thơ hay cái gì đó, đừng lo cho em. Nhưng chúng ta phải đi trước giờ ăn tối, nhớ đấy. Họ sẽ nhận ra nếu chị Katherine không có mặt vào tối nay”.

Cô lướt ra ngoài, đóng cánh cửa lại sau lưng. Chỉ còn hai chúng tôi, tôi và người giờ đã chính thức là chồng mình. Chàng nhẹ nhàng tước ly rượu trong tay tôi. “Chúng ta yêu nhau nhé?”, chàng nhã nhặn hỏi.

Như thể chúng tôi đang bắt đầu một điệu nhảy đẹp kỳ lạ, tôi quay lưng lại và chàng nhẹ nhàng tháo các dây ren trên chiếc yếm của tôi để tôi có thể trượt chiếc áo ngoài xuống và đứng trước mặt chàng chỉ với một chiếc áo lót. Chàng tháo những sợi dây trên chiếc áo ngoài của chàng và hai chúng tôi cùng đứng trước mặt nhau trong chiếc áo lót lanh thêu màu trắng. Tôi quay lưng lại chàng một lần nữa, chàng tháo sợi ruy-băng ở thắt lưng váy tôi rồi thả nó xuống sàn. Tôi trượt chiếc váy xuống, bước ra và để nó lại đó trên sàn nhà.

Chàng mỉm cười, tháo dây chiếc quần chẽn xuống, giờ chàng chỉ còn mặc một chiếc áo sơ-mi; chàng nắm viền áo lộn ngược nó qua đầu để tôi có thể nhìn thấy toàn bộ cơ thể của chàng. Chàng nghe tiếng thở gấp đầy ham muốn của tôi và mỉm cười, nắm viền áo lót của tôi và kéo nó qua đầu tôi. Mặc dù tôi đang quay lưng lại chàng, hai tay che ngực, đột nhiên tôi trở nên nhút nhát, nhưng chàng đã nắm tay tôi kéo đến chiếc giường. Chàng lên giường và kéo tôi lên nằm kế bên, tôi run rẩy trượt vào giữa những tấm chăn, rồi chàng nằm đè lên người tôi, hôn tôi say đắm. Tôi quên hết tất cả mọi xấu hổ, những tấm chăn lạnh, kể cả lễ cưới và vị mục sư. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ là “Ned”, và tất cả những gì tôi có thể cảm nhận là niềm khoái cảm, lần đầu tiên trong đời tôi, khi cơ thể trần trụi của chàng chạm vào cơ thể tôi, khi đôi môi chàng thì thầm vào làn tóc tôi và đôi chân chúng tôi đan quyện vào nhau.

Chúng tôi ân ái với nhau, sau đó chúng tôi ngủ thiếp đi rồi thức dậy và lại làm tình với nhau lần nữa như thể chúng tôi chưa hề ngủ. Tôi đang đê mê trong niềm hoan lạc thì nghe tiếng gõ cửa như từ rất xa vọng tới, giọng Janey gọi tên tôi: “Chị Katherine! Chúng ta phải đi thôi! Muộn rồi”.

Ned sửng sốt nhìn tôi. “Mới chỉ vài phút thôi mà”, chàng nói. “Mấy giờ rồi?”.

Tôi nhìn ra cửa sổ. Tôi đến đây giữa khí trời se lạnh rực rỡ của buổi bình minh băng giá giữa mùa đông và bây giờ thì tôi có thể nhìn thấy ráng vàng của mặt trời đang lặn. “Ned! Ned! Sắp tối rồi!”.

“Chúng ta thật ngốc”, chàng dịu dàng nói, “Dậy thôi nào, Bá tước Phu nhân. Để anh làm thị nữ cho em”.

“Nhanh lên nào!”, tôi giục.

Tôi mặc quần áo vào và chàng thắt dây cho tôi, bật cười với sự phức tạp của những nút thắt. Tóc tôi rũ xuống và tôi muốn mang chiếc khăn trùm đầu của một phụ nữ đã có chồng, nhưng chàng nói tôi không thể; tôi phải giấu kín nó cùng với hai chiếc nhẫn cho đến khi chúng tôi được phép nói với mọi người rằng chúng tôi đã cưới nhau và đã động phòng hoa chúc với nhau.

“Em sẽ đeo chiếc nhẫn trên một sợi dây chuyền quanh cổ”, tôi hứa với chàng. “Em sẽ mang nó khi đi ngủ một mình trên giường để mơ thấy em đang ở bên cạnh chàng”.

Chàng mặc chiếc quần chẽn vào. “Sẽ sớm thôi”, chàng hứa với tôi. “Robert Dudley đứng về phía chúng ta. Ông ấy sẽ nói giúp chúng ta”.

“William Cecil cũng vậy”, tôi nói. “Ông ấy bảo em thế. Và Nữ hoàng Elizabeth sẽ tha thứ cho chúng ta. Bà ấy không thể không làm thế. Không ai có quyền nói đây là một chuyện xấu xa. Mẹ chúng ta đã cho phép”.

“Ned!”, Janey gọi to từ phía sau cánh cửa.

Tôi đưa chìa khóa cho chàng và chàng mở cửa ra. Janey mở to mắt, mỉm cười. “Em đã ngủ thiếp đi!”, cô kêu lên. “Không cần phải hỏi hai người đang làm gì. Hai người trông như thể vừa chết và được lên thiên đường vậy”.

“Anh đã làm chuyện đó”, Ned nói thầm. Chàng khoác chiếc áo choàng lên vai tôi và chúng tôi bước ra ngoài qua cổng vườn, đi qua khu vườn nhỏ đến cửa cống. Thủy triều đã dâng đến những bậc tam cấp vốn còn khô ráo khi chúng tôi mới đến. Ned gọi to kêu một chiếc thuyền đến đón chúng tôi. Ned mở cửa cống rồi đỡ tôi lên thuyền.

“Mai nhé!”, chàng say đắm nói. “Anh sẽ gặp em vào ngày mai; tối nay anh sẽ không ngủ được vì nhớ em và những gì xảy ra hôm nay”.

“Vâng, ngày mai”, tôi đáp. “Và tất cả những ngày còn lại trong cuộc đời của chúng ta”.

Tôi lẻn vào cung điện, nhảy qua ô cửa xép nhỏ hướng đến cánh cửa đôi khổng lồ, vẫy tay xin lỗi viên trung sĩ gác cổng cao to, Thomas Keyes, vì không chờ nghi thức mở cửa. “Tôi muộn rồi!”, tôi nói với lại và nhìn thấy nụ cười của anh ta. Janey đuổi theo tôi, hai tay ôm lấy ngực thở hổn hển. Tôi nôn nóng muốn thay quần áo thật nhanh để lao đến phòng của Nữ hoàng, nơi chúng tôi chuẩn bị ăn tối, nhưng đột nhiên tôi nhận ra có điều gì đó không ổn. Tôi đứng lại nhìn quanh.

Mọi người không vội vàng thay y phục; không ai đi đến phòng khánh tiết hoàng gia. Thay vì thế, có vẻ như mọi người đang thì thầm nói chuyện ở mọi góc phòng, mọi cửa sổ.

Trong một khoảnh khắc khủng khiếp, tôi nghĩ họ đang nói về tôi, rằng mọi người đều đã biết. Tôi trao đổi một cái nhìn kinh hoàng với Janey, và rồi Mary rời khỏi đám đông phụ nữ tiến về phía tôi.

“Chị đã ở đâu?”, em ấy hỏi.

“Chuyện gì đang xảy ra vậy?”, tôi hỏi.

“Vua nước Pháp”, em nói, “Ngài bị ốm, bệnh rất nặng, và Ngài vừa mới băng hà”.

“Không!”, tôi kêu lên. Điều đó thật quá khác biệt so với việc tôi đã cố hết sức chạy về cung điện cho kịp bữa tối, và quá trái ngược so với một ngày đầy hạnh phúc của tôi. Tôi nhìn Mary và nhận ra đơn giản tôi không hiểu hết những gì em ấy nói.

“Cái gì?”

Mary lắc cổ tay tôi. “Tỉnh lại đi! Vua nước Pháp đã băng hà. Vì vậy chị họ Mary72* của chúng ta, Nữ hoàng nước Pháp, giờ chỉ là một nữ hoàng danh xưng. Đó không còn là ngai vàng của chị ấy nữa. Chị ấy không có quân đội Pháp hậu thuẫn. Chị ấy không có một thái tử bé nằm nôi và chị ấy không phải là người phụ nữ quyền lực nhất Công giáo La Mã. Mọi thứ thay đổi lần nữa. Chị ấy không còn là Nữ hoàng nước Pháp; chị ấy chỉ là Nữ hoàng Scotland”.

72* . Tức Mary xứ Scots, con Vua James V của Scotland và Hoàng hậu Mary xứ Guise (gốc Pháp).

Tôi liếc nhìn Janey, lúc này đang đứng tựa lưng vào một cột đá, cố lấy lại hơi thở.

“Vậy chị sẽ là người kế vị Nữ hoàng Elizabeth, không có đối thủ”, tôi chậm rãi nói. “Nữ hoàng Elizabeth không có gì phải sợ Mary nữa, vì giờ chỉ còn là Nữ hoàng Scotland, và hiệp ước của Cecil đã loại trừ chị ấy khỏi ngai vàng nước Anh”.

Tôi nhìn thấy một ánh hào quang tham vọng trong mắt Janey và tôi mỉm cười với cô ấy.

“Chị là người kế vị Nữ hoàng Elizabeth”, Mary đồng ý. “Không có ai khác”.

CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON

THÁNG 12 NĂM 1560

Tôi như sống trong mơ. Đối với tôi, cung điện như một vùng đất thần tiên đẹp đẽ khi người ta mang đến những cành cây linh sam và cây thông vào mùa đông và họ thắp nến sớm vào mỗi buổi chiều. Họ kết những cành cây trang trí – những chùm liễu đan xoắn những sợi ruy-băng màu xanh lá cây với hình Chúa Hài đồng ở giữa, rồi treo nó lên cửa phòng khánh tiết. Ned và tôi xoay xở gặp nhau như thể tình cờ ở dưới những cây cảnh này ít nhất hai lần mỗi ngày, chàng nắm tay tôi và hôn môi tôi để chúc mừng tình bằng hữu tốt đẹp trong mùa Giáng sinh. Chỉ có tôi với chàng mới biết rằng chúng tôi đang say đắm nhau, rằng đôi môi của chúng tôi rất mềm mại và ngọt ngào, và rằng mỗi lần chạm nhau là một lời hứa hẹn cho lần gặp gỡ tiếp theo.

Các bệ cửa sổ được lót cây cỏ và được thắp sáng bằng nến, những trái cam khô tỏa hương thơm dễ chịu, hòa lẫn với mùi nhựa thông khiến tôi có cảm giác như mình đang ở giữa một khu rừng mùa đông vậy. Chúng tôi tập khiêu vũ mỗi ngày, và giáo viên dạy khiêu vũ thường mắng tôi rằng hẳn là tôi đang yêu, vì tất cả các bước chân tôi đều lộn xộn. Mọi người cùng cười và tôi cũng cười vui vẻ. Tôi muốn nói với tất cả mọi người rằng đó là sự thật. Tôi yêu, và tôi được yêu. Hơn thế nữa: Tôi đã kết hôn, tôi đã làm vợ. Tôi đã xua tan cái bóng đen khủng khiếp mà cái chết của chị Jane đè nặng lên gia đình chúng tôi, cuối cùng tôi đã thoát khỏi nỗi u buồn và cảm giác tội lỗi. Tên tôi không còn mang họ Grey nữa. Tôi là Katherine Seymour, nữ Bá tước vùng Hertford. Tôi là phu nhân của một trong những người đàn ông trẻ tuổi, đẹp trai và giàu có nhất nước Anh. Và, khi chúng tôi thông báo với mọi người về cuộc hôn nhân bí mật của chúng tôi, chúng tôi sẽ trở thành những người đứng đầu triều đình, những người kế vị được công nhận, và mọi người sẽ ngưỡng mộ chúng tôi.

Ned kéo tôi đến phòng Janey và chúng tôi tranh thủ từng khoảnh khắc cho cuộc ân ái vội vã. Tôi không quan tâm nếu chúng tôi chỉ có không quá một phút. Tôi khao khát được ở trong vòng tay chàng đến mức tôi không cần biết liệu chàng có đối xử với tôi như một cô gái đứng đường khu Southwark khi chàng ấn tôi vào tường, hoặc nếu chàng chỉ có đủ thời gian cho một nụ hôn gấp gáp trong góc tối.

Một ngày nọ, chàng dắt tôi đến một khung cửa sổ yên tĩnh cách xa con đường đến triều đình ồn ào và nói: “Anh có cái này cho em”.

“Ngay đây ư?”. Tôi hỏi một cách tình tứ, và được đáp lại bằng một nụ cười ấm áp.

“Ngay đây”, chàng âu yếm nói. “Em hãy cầm lấy này”. Chàng đặt một tài liệu giấy da vào tay tôi.

“Cái gì thế?”, tôi mở ra xem. Đó là một chứng thư quà tặng. Tôi đọc lướt và nhận ra chàng tặng cho tôi một mảnh đất.

“Đó là của hồi môn của em”, chàng nói. “Chúng ta không có cha mẹ hay người giám hộ để làm chứng nhận kết hôn nên bây giờ anh muốn tặng nó cho em. Nhìn thấy tên của em chứ?”.

Chàng gọi tôi là “vợ yêu dấu”. Tôi đặt cuộn tài liệu lên ngực. “Chỉ cần cái tên đó là đủ rồi”, tôi nói. “Mảnh đất không quan trọng”.

“Không có gì quan trọng cả”, chàng đồng ý. “Đất đai, tài sản hay tước hiệu đều không quan trọng. Không có gì quan trọng ngoại trừ chúng ta”.

Triều đình có thêm một số tin tức từ Pháp. Nữ hoàng danh xưng Mary, chị họ tôi, đau lòng than khóc và để tang cho người chồng trẻ, nhưng điều đó không cứu được cô ấy bị trục xuất khỏi hoàng gia Pháp. Cô ấy sẽ không kết hôn với hoàng tử thứ hai, và thậm chí không được ở lại Pháp. Nữ hoàng Elizabeth không hề cảm thông với cô ấy, dù rằng người chị họ xinh đẹp của chúng tôi đã mất mẹ, và bây giờ người chồng trẻ của cô cũng qua đời. Tất cả những gì Nữ hoàng Elizabeth quan tâm – những gì tôi nghe được khi đứng sau chiếc ngai vàng của bà trong những cuộc nói chuyện thì thầm với William Cecil – là nếu Mary quyết định đến Scotland thì điều đó sẽ ảnh hưởng đến người Scotland như thế nào? Họ có nổi dậy chống vị nữ hoàng mới giống như họ đã nổi dậy chống lại mẹ của cô ấy không, hay họ sẽ chấp nhận cô ấy với thứ tình cảm của những kẻ thô bạo như bản chất của họ?

Dù thế nào đi nữa, tôi cũng trở nên quan trọng đối với sự an toàn của nước Anh. Rõ ràng Nữ hoàng Elizabeth phải thông báo chọn tôi làm người kế vị trước Nghị viện để ngăn không cho người cháu họ Mary giành vị trí đó. Nữ hoàng Elizabeth quay sang tôi với một nụ cười ngọt ngào hơn bình thường. Bà không muốn bất cứ ai có bất cứ lý do gì để nghĩ rằng Nữ hoàng Mary xứ Scots một ngày nào đó có thể trở thành Nữ hoàng Mary của nước Anh. Bà gọi Mary là “một người cháu họ xa xôi”, như thể bà có thể viết lại phả hệ để cho thấy chúng tôi là những người họ hàng thân thiết với nhau. “Và nước Anh sẽ không bao giờ trao vương miện cho một nữ hoàng theo Công giáo La Mã”.

Cecil có vẻ ngần ngại. “Một thời điểm rất tốt để quyết định kết hôn”, ông nói, “Vì chắc chắn Nữ hoàng Mary sẽ kết hôn một lần nữa, và Bệ hạ sẽ hối tiếc nếu mất một người cầu hôn vào tay cô ấy”.

Nữ hoàng Elizabeth trừng mắt. “Ý ông là Hoàng tử Erik của Thụy Điển sẽ thích Mary hơn ta à?”, bà thách thức. “Ông thực sự nghĩ vậy sao?”.

Đó là một câu hỏi nguy hiểm nhất thế giới. Nữ hoàng Elizabeth mang tất cả những nỗi sợ hãi của một đứa trẻ bị lựa chọn thứ hai; bà muốn tất cả mọi người biết rằng bà luôn là người được chọn đầu tiên.

“Tôi nói rằng chúng ta không muốn Nữ hoàng Mary xứ Scots kết hôn với một thế lực hùng mạnh và dùng ông ta để án ngữ trước ngưỡng cửa của chúng ta”, Cecil khéo léo nói, “Chúng ta không muốn thế, nếu ông ta là một đồng minh mà chúng ta muốn có. Chúng ta phải chắc chắn rằng nếu cô ấy đến Scotland thì không phải đến với tư cách một công nương Pháp hay Tây Ban Nha hay thậm chí Thụy Điển. Sẽ tốt nhất cho chúng ta nếu cô ấy đến Scotland như một góa phụ không bạn bè”.

“Điều đó có thể sao?”

Cecil lắc đầu. “Không chắc lắm. Nhưng ít nhất Bệ hạ nên chọn trước một trong những người đàn ông vĩ đại nhất của Cơ đốc giáo. Không nên để cô ấy ra tay túm được ai đó trước Bệ hạ, vì cô ấy nhanh hơn Người trong việc lựa chọn”.

“Có lẽ cô ta sẽ không kết hôn nữa”, Nữ hoàng Elizabeth nhận xét.

“Không phải vậy đâu! Cô ấy biết rõ rằng mình phải sinh được người kế vị ngai vàng của Scotland”, Cecil trầm giọng nói. “Cô ấy được nuôi dạy từ nhỏ để biết rằng mình phải làm điều đó, bất kể cá nhân cô ấy thích ai. Cô ấy mười tám tuổi, mọi người nói rằng cô ấy khỏe mạnh và xinh đẹp, vì vậy cô ấy có khả năng mang thai. Mọi nữ hoàng đều biết mình phải sinh ra cho vương quốc một người kế vị. Đó là nghĩa vụ của một nhà vua, một nghĩa vụ của Chúa”.

“Ta đã có người kế vị”, Elizabeth nói, mỉm cười quay đầu lại nhìn tôi. “Một người kế vị trẻ đẹp của một nữ hoàng trẻ đẹp”.

Tôi nhún gối chào và mỉm cười lại với bà.

“Không ai có thể phủ nhận vị trí hợp pháp của Công nương Katherine”, Cecil nói trong sự kiên nhẫn vô hạn. “Nhưng đất nước muốn có một thái tử”.

CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON

MÙA XUÂN NĂM 1561

Vì thời tiết ấm áp hơn, tôi có thể gặp chồng tôi ở bên ngoài, và mỗi ngày chúng tôi đi dạo cùng nhau trong những khu vườn chật hẹp nằm đây đó quanh cung điện. Những chú chim quen người đến mức chúng đậu ngay trên đầu chúng tôi trên những nhánh cây đang đâm chồi nảy lộc và say sưa hót như thể chúng hạnh phúc không kém chúng tôi. Tôi treo một cái chuông lên cổ chú mèo Ribbon để bảo vệ những chú chim non sẽ sớm xuất hiện trong khu vườn và trên hàng rào.

Đôi khi Ned lẻn vào phòng tôi và những người hầu của tôi tự động biến mất, để chúng tôi ở lại một mình. Có lúc Janey đi cùng tôi đến ngôi nhà nhỏ ở Cannon Row và cô ấy ngủ gục trong phòng khách trong khi Ned và tôi dành cả buổi chiều với nhau trên giường của chàng. Tôi không thể nghĩ đến gì khác ngoài cuộc gặp gỡ tiếp theo của chúng tôi; tôi mơ về chàng khi ngủ. Suốt cả ngày tôi thấy như mình đang cảm nhận sự mượt mà của lớp vải lanh, sự tinh tế của những sợi ren, sự long lanh của bộ váy dài thêu kim tuyến, như thể cả thế giới đang trở nên mãnh liệt hơn vì niềm đam mê mà tôi dành cho Ned.

“Anh cũng vậy”, chàng nói với tôi khi chúng tôi đi dọc bờ sông và ngửi mùi muối trong làn gió mát thổi tới từ hướng biển. “Anh viết nhiều hơn trước, dào dạt và sâu sắc hơn. Như thể mọi thứ đều sống động hơn. Thế giới rực rỡ hơn, ánh nắng bừng sáng hơn”.

“Em rất vui vì chúng ta đã kết hôn và không phải giống như họ”, tôi gật đầu, nghĩ đến cảnh Nữ hoàng và Robert Dudley đang thơ thẩn đi dạo, Nữ hoàng khoác tay Dudley trong khi anh ta thì thầm vào tai bà: “Anh không thể chịu nổi khi nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ được ở bên nhau”.

“Anh nghĩ họ sẽ phải xa nhau. Cả vương quốc đang nói về bà ấy, và bây giờ bà ấy phải trả lời với Bá tước Arran rằng bà ấy không cưới ông ta, và mọi người đều biết Dudley chính là lý do. Anh sẽ không bao giờ phải nhìn thấy em ngượng ngùng trong tình cảnh đó. Khắp châu Âu, người ta nói bà ấy là một con điếm cho người khác cưỡi.”

Tôi lắc đầu với vẻ thất vọng của một người vợ. “Nhưng sẽ rất khủng khiếp nếu bà ấy phải cưới một người mà bà ấy không hề yêu! Em sẽ không bao giờ kết hôn với bất cứ ai nếu em phải xa anh”.

“Anh cũng vậy”, chàng thì thầm. Không ai nhìn thấy chàng đang siết chặt tay tôi cả. “Tối nay em có phải hầu hạ Nữ hoàng không? Anh đến phòng em trước bữa tối nhé?”.

“Không”, tôi nói nhỏ, “Em đã chuẩn bị cho bà ấy ngày hôm qua rồi. Hôm nay em không phải phục vụ bà ấy nữa. Em sẽ không khóa cửa”.

Mùa Chay đến. Không có gì đặc biệt ở triều đình Elizabeth vì dường như mọi người đã bỏ qua mùa chay với tất cả những nghi lễ của Thiên Chúa giáo La Mã. Chính xác chúng tôi không ăn thịt, nhưng nhà bếp nấu một bữa tiệc với mọi loại cá, nhưng hóa ra là gà, thậm chí cả thịt thú săn, cũng không được vị Nữ hoàng Tin lành Kháng cách coi là thịt. Tôi không biết chị Jane sẽ nghĩ gì về điều này. Tôi nghĩ chị Jane ắt hẳn sẽ tin rằng luật ăn kiêng cần được tuân thủ nghiêm ngặt, và chắc chắn chị biết từng món trong đó, bao gồm cả việc cấm các loại thực phẩm mà chưa ai từng nghe đến. Ước gì tôi có thể hỏi chị ấy.

Ngay cả lúc này, bảy năm sau cái chết của chị, tôi vẫn thấy muốn hỏi chị nhiều điều, hoặc kể với chị một điều gì đó mỗi ngày. Thật kỳ quặc, tôi nhớ chị nhiều hơn cả nhớ mẹ. Tôi có thể chịu đựng cái chết của mẹ bởi vì nó được dự đoán trước, vì chúng tôi có thời gian để chia tay, và bởi vì – thật lòng mà nói – mẹ tôi không phải là một người tử tế lắm. Nhưng cái chết của chị Jane thật bất ngờ và bất công, chị rời xa tôi trước khi tôi có thể hỏi chị nhiều điều, thậm chí trước khi tôi trở thành tôi của ngày hôm nay. Dù chị rất thẳng thắn và quyết liệt trong việc học hành và giáo lý nhưng chị vừa là người chị, vừa là người bạn thân thiết của tôi. Tôi nghĩ tôi đã trở thành một cô em gái khác hơn một cô em hư hỏng mà chị từng biết. Tôi nghĩ chị sẽ thích tôi nếu chúng tôi có thể lớn lên cùng nhau. Tôi đã mất một người chị vào ngày hôm đó ở Tháp Xanh, nhưng tôi cũng đã mất tương lai của chúng tôi.

Tôi không biết chị sẽ nghĩ gì về một cặp vợ chồng ân ái với nhau trong Mùa Chay, và tôi bật cười khi nghĩ mình sẽ hỏi chị. Chỉ cần hỏi thôi là hẳn chị đã bị sốc rồi! Giá như chị biết tình yêu đã đưa tôi đến đâu; giá như bản thân chị đã từng yêu. Câu nói của chị “Hãy học cách chết!” khiến tôi cảm thấy đau lòng thay cho chị, và tôi muốn nói với chị rằng: “Không! Không! Em đã học cách yêu; và đó giống như một phép màu từ một thế giới khác, nơi cái chết trở nên quá trần tục”. Không có lời khuyên của chị, và dễ dàng bị thuyết phục bởi sự khao khát của ham muốn và dục vọng trong cuộc sống, tôi quyết định sẽ gần chồng mình cả trong những ngày chay tịnh cũng như ngày lễ trọng, kể cả Chủ nhật. Tôi không quan tâm! Tôi sẽ gần chàng suốt 40 ngày của Mùa Chay và cho rằng tội lỗi ấy sẽ biến mất với những lời xưng tội.

“Nhưng chị chưa tới tháng à?”, Janey hỏi khi tôi kể với cô ấy về cuộc chiến thần học trong tâm trí tôi giữa những giáo điều cổ hủ của nhà thờ và tư tưởng cách tân của riêng tôi.

“Chưa”, tôi mơ hồ nói. “Chị không nghĩ chị có từ tháng Mười hai đến nay”.

“Chị không có sao?”, đột nhiên Janey tỏ vẻ chú ý. “Không, chị không nghĩ là có.”

“Nhưng bây giờ đã gần tháng Ba rồi!”, cô ấy kêu lên.

“Chị biết, nhưng em cũng không có mà”, tôi nói, “Chị biết vì chúng ta có cùng một lúc, ngay trước Giáng sinh, em nhớ không?”.

Cô ấy khua tay một cách thô bạo. “Em bị bệnh! Chị biết là em đang bị bệnh mà, và em thường bị trễ kỳ. Nhưng điều đó không có vấn đề gì với em cả! Rõ ràng nó không có ý nghĩa gì cả. Nhưng chị thì ăn nhiều, chị hoàn toàn khỏe mạnh, mới cưới, và giờ chị bị trễ kỳ. Chị Katherine! Chị không thấy sao? Lẽ nào chị đã có thai!”.

Tôi kinh hoàng nhìn cô ấy: “Có thai sao?”.

“Thật tuyệt vời!”, cô ấy nói. “Nếu là con trai, cậu ấy sẽ là vị vua kế tiếp của nước Anh! Hãy nghĩ mà xem!”.

“Có thai sao?”, tôi lặp lại, vẫn còn sững sờ.

“Em đã cầu nguyện cho điều đó, và giờ em sắp được chứng kiến nó xảy ra!”, cô ấy nói. “Cầu Chúa cho em sống đủ lâu!”.

“Sao em không sống đủ lâu được?”, tất cả những gì cô ấy nói càng làm tôi bối rối hơn. “Chắc chắn em bé sẽ được sinh ra trong vòng năm nay, hoặc đầu năm sau. Ai mà biết được!”.

“Ồ, ai quan tâm chứ? Chị phải nói với Ned đi”, Janey nói tiếp. “Chị sẽ nói với anh ấy xem chàng nói sao?”, tôi đáp.

“Anh ấy sẽ rất vui mừng”, cô ấy nói với vẻ chắc chắn. “Có người chồng nào không vui khi vợ mình đang mang thai một người kế vị ngai vàng chứ?”.

Tôi cảm thấy mọi thứ dường như đang đi quá xa và quá nhanh. “Chị không nghĩ mình sẽ có con sớm vậy, dù sao cũng không, cho đến khi mọi người biết rằng anh chị đã cưới nhau”.

“Chị nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra khi anh chị gần gũi nhau bất cứ khi nào có thể chứ?”, cô ấy nhìn tôi như thể tôi là một con ngốc, và tôi cảm thấy mình ngốc thật.

“Nhưng làm sao người ta biết điều đó đã xảy ra chứ?”

“Chỉ cần chị biết điều gì đã xảy ra là đủ rồi!”, Janey bật cười một cách khả ố.

Tôi đỏ mặt. “Chị biết anh chị là người tình của nhau, tất nhiên, nhưng không hẳn là như thế sẽ có con ngay lập tức. Mẹ chị chỉ sinh có ba người con trong khi mẹ ngủ cùng giường với cha mỗi tối trong suốt nhiều năm như thế”.

“Thế thì cảm ơn Chúa vì chị rất mắn chứ không trơ lỳ như những người phụ nữ Tudor khác.”

Tôi rất vui vì chuyện này, nhưng tôi nghĩ một người kế vị thuộc dòng họ Tudor là điều gì đó rất xa trong tương lai. “Anh chị sẽ phải nói với mọi người là anh chị đã kết hôn”, tôi nói, bắt đầu cảm thấy lo lắng. “Mọi người cần phải biết. Chúng ta phải nói với họ ngay lập tức, trước khi bụng chị to lên. Khi nào việc đó diễn ra?”.

“Họ sẽ tha thứ cho bí mật này nếu chị có một cậu con trai”, Janey tiên đoán. “Nếu chị có thể cho Nữ hoàng Elizabeth một cậu bé Tudor, người kế vị ngai vàng, thì chị sẽ được tha thứ tất cả. Chúa ơi, Cecil sẽ là cha đỡ đầu của cậu bé! Một sự giải thoát cho tất cả mọi người! Một cậu con trai và người kế vị Nữ hoàng Elizabeth. Chị sẽ là cứu tinh của nước Anh”.

“Chị phải báo cho Ned”, tôi nói.

“Tối nay”, Janey nói. “Hãy đến phòng em sau bữa tối, trước buổi khiêu vũ. Em sẽ bảo anh ấy đến thăm em. Em sẽ cáo ốm và không ăn tối”.

Janey đã chuẩn bị giường của cô ấy cho chúng tôi, lò sưởi cũng được đốt lên và một bữa tối nhẹ được dọn sẵn trên bàn cho hai người. Một lần nữa, cô ấy là thiên thần của chúng tôi. Ned yên lặng bước vào, đóng cửa lại sau lưng, hết nhìn từ cô em gái lại nhìn sang tôi, vợ chàng.

“Có chuyện gì vậy?”, chàng hỏi. “Chuyện gì đang xảy ra thế?”.

Chúng tôi im lặng. “Chị Katherine có chuyện muốn nói với anh”, Janey nhắc tôi.

Tôi cố gượng cười, nhưng tôi run rẩy. “Em nghĩ có thể em đã có thai”, tôi nói. “Ned, em hy vọng là anh sẽ rất vui? Em nghĩ có lẽ em đã có thai”.

Tôi không thể nhầm lẫn sự kinh hoàng trên gương mặt chàng. “Em có chắc không?”.

“Không! Em không chắc lắm”, tôi nói, hoảng sợ khi nhìn thấy chàng như vậy. “Janey nghĩ vậy. Em nghĩ có thể sai”.

“Tất nhiên là chị ấy chắc chắn”, Janey nói. “Chị ấy đã không có kỳ từ tháng Giêng”.

“Nhưng đôi khi chị cũng trễ kỳ”, tôi nói. “Và chị quên đếm. Vì vậy chị có thể trễ một hoặc hai kỳ”.

“Vậy em không chắc à?”, chàng nhắc lại.

“Anh không vui sao?”, tôi có thể cảm thấy đôi môi mình run lên. Tôi muốn chàng vui mừng như Janey đã vui mừng, vì tôi sợ điều này có một ý nghĩa gì đó đối với chúng tôi, và tôi không biết chúng tôi nên làm gì nữa.

Chàng sải bước ngang căn phòng, cầm tay tôi và quỳ gối dưới chân tôi như thể tôi sẽ phong tước hiệp sĩ cho chàng. “Tất nhiên là anh rất vui”, chàng nói, tránh nhìn vào mặt tôi. “Anh rất vui. Anh không mong gì hơn chúng ta có một đứa con, và thật tuyệt vời khi mọi chuyện xảy ra sớm như vậy”.

“Người kế vị ngai vàng”, Janey nhắc nhở. “Cậu bé Tudor duy nhất của thế hệ này. Em không tính cậu con trai của bà Margaret Douglas nhé”.

“Hy vọng đó là một bé trai. Và hy vọng rằng chị không nhầm”, tôi nói.

“Con trai hay con gái anh cũng yêu vì người mẹ tuyệt vời của chúng”, Ned nói. Chàng hôn tay tôi, sau đó đứng dậy hôn lên môi tôi. Janey lịch sự di chuyển về phía cửa, nhưng Ned ra hiệu cô ấy ở lại.

“Chờ đã, Janey, chúng ta cần nói chuyện. Và ngoài ra, anh chị không thể sử dụng giường của em vào lúc này được.”

Chàng mỉm cười với tôi và tôi nhận ra rằng nếu tôi có thai, chúng tôi không thể gần nhau cho đến khi tôi được làm lễ giải cữ ở nhà thờ sau khi sinh con. Sẽ còn hàng tháng dài nữa.

“Em không chắc”, tôi nhắc lại. Tôi không chịu nổi ý nghĩ rằng chúng tôi sẽ không được ân ái với nhau trong khi tôi vẫn cảm thấy khao khát như mọi khi, thậm chí tôi còn không chắc mình có thai hay không. Chắc chắn đây cũng là một kiểu dị đoan lỗi thời không cần phải theo nữa thời buổi này.

“Tất nhiên rồi”, Janey vui vẻ nói. “Và chúng ta phải lên kế hoạch những việc chúng ta cần làm”.

“Chúng ta sẽ phải báo với Nữ hoàng”, Ned nói.

“Chúng ta phải báo với bà ấy trước khi em bụng bắt đầu to lên”, tôi nói, “Nhưng không phải trước đó. Chúng ta không cần phải nói với bà ấy trước đó, phải không nào?”.

“Có lẽ chúng ta nên nói. Chúng ta có thể giãn xa ra, để bà ấy không bị sốc. Trước tiên, chúng ta có thể nói với bà ấy rằng chúng ta đã kết hôn, và sau đó nói với bà ấy rằng em đang mang thai”.

Tôi im lặng. Tôi cảm thấy sợ hãi khi nghĩ đến việc nói với Nữ hoàng Elizabeth rằng chúng tôi đã kết hôn.

“Bà ấy hẳn sẽ hài lòng”, Janey nói. “Bà ấy có thể tự do không cần lấy chồng trong suốt quãng đời còn lại nếu đã có một cậu bé trong chiếc nôi hoàng gia”.

“Bà ấy hẳn sẽ hài lòng”, tôi thận trọng nói. “Nhưng nếu bà ấy không hài lòng thì sao?”.

“Ồ, tệ lắm thì bà ấy có thể làm gì chứ?”, Janey gặng hỏi một cách mạnh mẽ. “Đuổi chị ra khỏi triều đình sao? Đằng nào chị cũng cần phải nghỉ sinh, và nếu bà ấy lưu đày chị thì chị có thể đến Hanworth để sinh con, Ned và em cũng có thể đến đó”.

“Nếu bà ấy nổi giận...”

“Tại sao bà ấy lại nổi giận?”, Ned hỏi. “Tất cả những gì chúng ta đã làm là kết hôn mà không có sự cho phép của bà ấy. Điều đó không phải là bất hợp pháp vì Nữ hoàng Mary đã bãi bỏ luật này. Chắc chắn bà ấy hẳn đã cho phép nếu chúng ta hỏi xin trước. Bà ấy không có cơ sở để từ chối, và không có lý do gì để không hài lòng. Mọi người có thể trách chúng ta quá vội vàng, nhưng không ai có thể trách chúng ta vì đã yêu nhau được. Cha mẹ chúng ta đã đồng ý! Không ai có thể phản đối”.

Tôi cảm thấy can đảm hơn. “Chúng ta sẽ nói với bà ấy”, tôi đồng ý. Có một khoảng lặng. “Nhưng khi nào?”.

“Chúng ta sẽ phải lựa chọn thời điểm”, Ned nói. “Chúng ta sẽ không nói gì cho đến cuối Mùa Chay. Có thể trong bữa tiệc mừng Lễ Phục sinh, khi triều đình vui vẻ trở lại. Sẽ có âm nhạc và khiêu vũ, sẽ có ca vũ kịch vì bà ấy thích ca vũ kịch và khiêu vũ. Chúng ta sẽ nói lúc bà ấy đang vui”.

“Vâng, đó là một ý hay”, Janey nói. Cô bật ho nhẹ. “Vào Lễ Phục sinh”. Nếu tôi không quá chăm chú theo dõi xem Ned thực sự nghĩ gì về tin này, cố gắng quan sát những gì ẩn giấu sau hành động thể hiện niềm vui mà chàng diễn rất đạt để xem chàng có lo sợ như tôi đang lo sợ không, thì hẳn tôi sẽ thấy Janey tái nhợt hơn bao giờ hết. Cô ấy ho vào tay áo và có những giọt máu đỏ bắn vung vãi.

“Janey!”, tôi kêu lên.

“Không có gì đâu”, cô ấy nói. “Chỉ là một vết rộp trên môi em thôi”. Ngày hôm sau, Janey nằm liệt giường. Giờ đây tôi và Ned gặp nhau trong phòng cô ấy mà không phải giả vờ gì nữa. Mỗi ngày sau khi cầu nguyện, chúng tôi đến thăm Janey, đó là lần đầu tiên tôi thấy cô bị bệnh rất nặng, sốt cao, thần sắc và vẻ xuân thì của một cô gái hoàn toàn biến mất.

Các thầy thuốc nói rằng cô sẽ khá lên khi thời tiết trở nên tốt hơn, nhưng tôi không hiểu tại sao họ lại hy vọng đến thế khi mặt trời mọc hằng ngày và những chú chim bắt đầu hót bên ngoài cửa sổ phòng cô mỗi ngày, nhưng Janey không hề khá hơn chút nào. Một buổi sáng, tôi đi thẳng đến phòng cô ấy ngay sau khi cầu nguyện, nhìn thấy cánh cửa đóng và người hầu của cô đang ngồi bên ngoài với đôi mắt đỏ hoe.

“Cô ấy đang ngủ à?”, tôi hỏi. “Có chuyện gì vậy?”.

Bà Thrift lắc đầu, đôi mắt mọng nước, “Ôi, công nương ơi!”. “Janey! Em đang ngủ à?”

Bà nghẹn giọng. “Không, thưa Công nương. Cô ấy đã đi rồi. Tối hôm qua. Tôi đã báo với các ngự y và anh trai cô ấy, và cậu ấy sẽ phải báo với Nữ hoàng”.

Tôi không hiểu. Tôi sẽ không hiểu. “Ý bà là sao?”. “Cô ấy đi rồi, thưa Công nương. Cô ấy đã chết.”

Tôi nắm lấy khung cửa đá lạnh, “Cô ấy không thể chết được. Tôi mới gặp cô ấy sau bữa tối hôm qua, tôi ra về khi cô ấy chuẩn bị đi ngủ. Cô ấy bị sốt; cô ấy luôn luôn bị sốt, nhưng không thể chết”.

Người phụ nữ lắc đầu. “Ôi, công nương!”.

“Cô ấy chỉ mới mười chín tuổi thôi!”, tôi nói như thể điều đó có nghĩa là cô ấy không thể chết được. Tôi nên biết rõ hơn: Chị tôi qua đời năm mười sáu tuổi và cậu họ chúng tôi, Vua Edward, băng hà lúc mười lăm tuổi – với cùng căn bệnh như Janey.

Bà Thrift và tôi nhìn nhau một cách trống rỗng, như thể cả hai chúng tôi đều không thể tin rằng Janey đã đi xa.

“Tôi biết làm gì nếu không có cô ấy?”, tôi nói, giọng ai oán như một đứa trẻ lạc. “Làm sao tôi có thể đối mặt với tất cả những chuyện này nếu không có cô ấy?”.

Bà có vẻ giật mình. “Đối mặt với chuyện gì, thưa Công nương?”.

Tôi gục đầu vào cánh cửa gỗ chạm khắc như thể việc tôi cần cô ấy sẽ đưa Janey quay lại với tôi. Tôi đã mất chị, tôi đã mất cha, tôi đã mất mẹ, và giờ là người bạn thân nhất của tôi. “Không có gì”, tôi thều thào. “Không có gì”.

Ned rất đau buồn trước cái chết của người em gái. Cô ấy là cố vấn tuyệt vời nhất và là người hâm mộ nhiệt tình nhất của chàng. Cô ấy là thính giả đầu tiên của những bài thơ của chàng. Cô ấy thường đọc thơ chàng và góp ý sửa chữa. Cô ấy bảo chàng rằng tôi yêu chàng thậm chí trước khi tôi nói với cô ấy. Cô ấy là người bạn tri kỷ của chàng, và cả của tôi.

“Em ấy đã đi tìm mục sư cho chúng ta!”, chàng nói. “Cô ấy đã giúp em thêm can đảm”, tôi nói.

“Em ấy cho chúng ta thấy rằng tình yêu là bất khuất”, chàng đồng ý. “Bất khuất”.

“Em không biết em sẽ làm gì nếu không có cô ấy”, tôi nói, nghĩ về chốn triều đình với đầy dẫy kẻ thù, với một nửa bạn bè và một nửa giả vờ là bạn bè; với Nữ hoàng Elizabeth, một bậc thầy giả vờ trên tất cả với hai bộ mặt khác nhau có thể thay đổi trong tích tắc.

“William Cecil nói ông ấy nghĩ rằng anh nên đến Pháp”, Ned nói. “Để tham dự lễ đăng quang của nhà vua mới. Đó là một vinh dự rất lớn, nhưng lúc này anh không muốn đi đâu cả”.

“Đừng bỏ em!”, tôi nói ngay. “Tình yêu của em, anh không thể bỏ em ở đây được! Em không thể ở đây nếu không có cả hai người”.

“Janey từng nói anh nên đi”, chàng nói. “Em ấy nói rằng sự ủng hộ của Cecil sẽ rất tốt. Tình bạn của ông ấy sẽ giúp chúng ta, Katherine. Ông ấy sẽ nói với Nữ hoàng về cuộc hôn nhân của chúng ta”.

“Vâng, em nghĩ vậy”, tôi miễn cưỡng đồng ý. “Nhưng lúc này em không thể nghĩ về chuyện đó nữa. Em không thể suy nghĩ như một quần thần khi Janey vừa mất!”.

“Anh phải lo đám tang của em ấy”, Ned buồn bã nói. “Anh đã gởi thư cho mẹ và anh sẽ nói chuyện một lần nữa với em trai. Anh sẽ bảo William Cecil rằng anh sẽ đi, nhưng lúc này thì không chắc lắm”.

“Em sẽ đến dự tang lễ”, tôi quyết định. “Ai cũng biết em quý cô ấy như một người em gái”.

“Em là chị của em ấy theo mọi cách”, Ned nói. “Và giờ em là chị dâu của em ấy. Em ấy rất hạnh phúc về điều đó”.

Đó là một lễ tang đầy ấn tượng. Nữ hoàng Elizabeth yêu cầu cả triều đình đến dự tang lễ của Janey, trong buổi lễ bà công nhận mối quan hệ họ hàng thông qua Vua Edward, điều mà bà hầu như phớt lờ trong cuộc sống. Tôi cay đắng nghĩ rằng Nữ hoàng Elizabeth không hề muốn có họ hàng, không muốn có người kế vị, bà ấy muốn tất cả họ hàng của mình phải chết giống như mẹ bà ấy. Nhưng bà ấy thích những đám tang lớn. Bà ấy làm đám tang cho những người họ hàng của mình với tất cả sự tôn vinh mà bà từ chối trao cho họ khi họ còn sống.

Mẹ Ned cũng tham dự lễ tang của con gái và bà để người chồng thứ hai với xuất thân thấp kém ở nhà. Trong một khoảnh khắc điên rồ khi nói chuyện với bà, tôi nghĩ đây là một phụ nữ kết hôn vì tình yêu mà không được phép, giống như tôi. Nhưng bà tỏ ra rất cứng rắn trước đau buồn này. Bà không khóc, không quay sang nhìn tôi như một cô con dâu, thậm chí bà không nói chuyện với các con trai. Bà đứng ở vị trí của mình trong đám rước suốt tang lễ như thể bà ước gì nó không xảy ra, và bà rời khỏi triều đình ngay khi có thể.

Ned không có thời gian cho bất cứ việc gì khác ngoại trừ kế hoạch tang lễ, xe chở quan tài, tập luyện ca đoàn tại Tu viện Westminster. Gần ba trăm người đi đưa tang, tôi đứng giữa họ và nhìn thấy gương mặt căng thẳng nhợt nhạt của Ned phản chiếu niềm đau trong bóng tối của tu viện. Chàng nhìn tôi như thể cảm nhận được ánh nhìn yêu thương mà tôi dành cho chàng, và chàng mỉm cười với tôi bằng một nụ cười buồn bã. Rồi tiếng thánh ca vang lên và Janey được đưa vào yên nghỉ trong hầm mộ của dòng tộc, cạnh bên hầm mộ của chúng tôi. Mộ của Janey và mộ mẹ tôi nằm cạnh nhau, điều đó khiến tôi cảm thấy dễ chịu, nhưng cảm giác tồi tệ hơn khi nghĩ đến chị Jane đang nằm ở một nơi cách đây rất xa, trong nhà nguyện của Tháp.

Sau tang lễ, Ned đưa mẹ đến ở Hanworth vài tuần. Mặc dù tôi viết thư cho chàng rất nhiều nhưng chàng chỉ trả lời một lần duy nhất. Chàng nói chàng đang cầu nguyện cho linh hồn Janey và giúp mẹ sắp xếp quần áo cũng như các thứ khác. Tôi hồi âm ngay lập tức, nói rằng tôi sẽ chăm sóc những chú chim hồng tước bà nuôi ở Hanworth. Nhưng chàng cũng không trả lời.

CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON

MÙA XUÂN NĂM 1561

Trong khi tôi đợi chàng quay về, không ai ngạc nhiên với nỗi buồn lặng lẽ của tôi. Mọi người đều biết tôi và Janey rất thân nhau, nhưng không ai nghĩ tôi cũng nhớ Ned. Sự kiện duy nhất xảy ra là tin tức về dì họ Margaret Douglas đã gởi cậu con trai xinh đẹp của mình đến Pháp để chia buồn trước cái chết của Hoàng đế Pháp. Như thể ai cũng quan tâm đến những việc gia đình Lennox đang làm! Nhưng có tin đồn là bà đã ra lệnh cho con trai mình, Henry Stuart, cầu hôn với vị Nữ hoàng góa bụa. Nếu Nữ hoàng Mary xứ Scots muốn có một cậu bé xinh đẹp khác để thay thế cho đứa con trai cô vừa mất, thì mọi việc có vẻ khá thuận tiện. Nhưng tôi hình dung cô ấy sẽ muốn cưới một người đàn ông làm chồng chứ không phải một chú mèo con khác nữa. Chắc chắn tất cả những người phụ nữ trong gia tộc đều muốn có những người đàn ông mà họ có thể tôn trọng: Margaret Douglas tôn thờ chồng bà, Matthew Stuart, Bá tước vùng Lennox; sự ưa thích của Nữ hoàng Elizabeth đối với những kẻ thích phiêu lưu mạo hiểm là một điều ô nhục; còn tôi sẽ không bao giờ nghĩ đến một người mà tôi không thực sự tôn trọng.

Vài ngày sau tang lễ, tôi thấy có một ít máu dính trên chiếc áo ngủ của tôi và tôi nghĩ có lẽ cuối cùng tôi cũng đã tới kỳ kinh, dù khá trễ. Không nhiều lắm, và tôi không có ai để hỏi. Tôi ước gì có Janey ở đây. Cô ấy sẽ ngồi tính ngày với tôi và xác nhận rằng tôi bị trễ kinh chứ không phải có thai. Tôi cảm thấy mình thật ngốc khi không thể chắc chắn chuyện gì, và tôi không có một người khôn ngoan hay một phu nhân từng trải nào để tư vấn cho mình nên làm gì. Tôi không có những người bạn trong nhà đầy trẻ con, mà cũng không dám hỏi bất cứ ai, chẳng hạn như những phụ nữ lớn tuổi giữ kho y phục của hoàng gia, bởi vì họ là những người ngồi lê đôi mách một cách khủng khiếp trong một triều đình dường như sống chỉ để tán gẫu.

Đó là điều đầu tiên mà Ned hỏi tôi khi chàng quay lại triều đình. Chàng đưa lồng chim hồng tước cho tôi, tôi hào hứng mang nó vào phòng, treo lên một cái móc gần cửa sổ để chúng có thể tận hưởng ánh sáng mặt trời tỏa xuống những đôi cánh xinh đẹp.

“Katherine, tình yêu của anh, hãy để chúng ở đó đi”, chàng bảo tôi. “Anh có chuyện cần nói với em”.

“Chúng ta ra vườn đi”, tôi nói.

Tôi đi trước chàng một chút đến khu vườn ưa thích của chúng tôi, nơi có những lối đi rải sỏi quanh co qua các bụi cây. Nhưng khu vườn lúc này đầy những người làm vườn đang cào quét sỏi và cắt tỉa hàng rào.

“Không phải ở đây!”, Ned nói với vẻ khó chịu. “Chúng ta đến vườn cây ăn trái đi”.

Những bông hoa màu hồng và trắng rực rỡ trên các cành cây như thể bị rải tuyết hồng. Những chú ong vội vã như những cô gái trong trại bơ sữa, bay từ nụ hoa này sang nụ hoa khác. Tôi nghe tiếng gáy của một con chim cu và tôi ngẩng lên tìm kiếm cái lưng xám của nó. Tôi thích chim cu gáy. Tôi thường nghe tiếng gáy nhưng rất hiếm khi nhìn thấy chúng.

“Nghe này”, Ned khẩn trương nói. “Anh đã nhận được chiếu khán từ Nữ hoàng Elizabeth để đi Pháp”. Chàng cho tôi xem chữ ký của bà, chữ “E” giả tạo và những dòng chữ uốn lượn. “Nhưng anh sẽ không đi nếu em đang mang thai. Nếu có bất cứ khả năng nào em đang mang trong mình giọt máu của chúng ta thì anh sẽ ở lại, và chúng ta sẽ cùng nói chuyện với Nữ hoàng”.

Nỗi sợ của tôi khi phải đối mặt với Nữ hoàng Elizabeth mà không có sự hỗ trợ của Janey thậm chí còn tệ hơn nỗi sợ khi Ned đi xa. “Em không biết”, tôi nói, bị phân tâm bởi tiếng chim cu rất gần như thể ngay trên đầu chúng tôi, đâu đó ẩn trong cành cây. “Em không nghĩ thế. Em không thể chắc chắn được, chỉ sau khi Janey...”. Tôi không thể nói hai chữ “qua đời”.

Ned siết tay tôi. “Anh sẽ không đi trừ phi em đồng ý”, chàng nói.

“Em nghĩ anh muốn đi”, tôi nói với vẻ cáu kỉnh. “Paris, Rheims hay bất cứ đâu”.

“Tất nhiên anh muốn đi tham quan các thành phố và tham dự lễ đăng quang của nhà vua Pháp. Anh muốn tìm hiểu về thế giới”, chàng thẳng thắn nói. “Và sẽ không tổn hại gì cho chúng ta khi Cecil cảm thấy anh là một người đáng tin cậy. Tất nhiên đó là một cơ hội tuyệt vời của anh. Nhưng anh không đi đâu cả nếu em có thai. Anh sẽ không rời xa em. Anh hứa. Anh thuộc về em, Katherine, anh thuộc về em cho đến chết”.

Tôi lắc đầu. Tôi rất sợ phải thú nhận với Nữ hoàng Elizabeth, chắc chắn Janey đã sai và không có em bé nào cả. Tôi cảm thấy tôi đã mất tất cả mọi thứ trong mùa xuân đáng buồn này: người bạn thân nhất của tôi, Janey, cơ hội có em bé cho anh trai cô ấy, và giờ thì chàng cũng sắp đi xa. “Hết rồi. Em không nghĩ nó đã từng ở đó”, tôi nói với chàng.

“Một phu nhân xin đừng nói một điều như thế được không?”

“Em không biết em nên cảm thấy thế nào mới là đúng!”, tôi kêu lên. “Tất cả những gì em cảm thấy là nỗi sợ hãi và đau buồn về Janey, và em không dám đối mặt với Nữ hoàng Elizabeth. Nhưng em không cảm thấy gì khác cả. Em không thấy mình to ra hay gì cả”.

Chàng nhìn tôi như thể tôi nên biết những điều bí ẩn như thế, như thể mọi cô gái trên đời đều phải biết điều đó một cách bản năng, và tôi thật ngớ ngẩn vì tôi không biết.

“Làm sao em biết được?”, tôi nói. “Nếu mọi người đều biết chúng ta đã kết hôn thì em có thể hỏi ý kiến mẹ anh hay một bà đỡ nào đó. Đó không phải lỗi của em”.

“Tất nhiên đó không phải lỗi của em”, chàng nói nhanh. “Cũng không phải lỗi của anh. Nhưng sẽ tốt hơn nhiều nếu chúng ta biết chắc chắn là có hay không. Nếu em biết chắc chắn...”.

Con chim cu cất tiếng gáy ngay trên đầu chúng tôi. Tôi ngước lên và nhìn thấy khoảnh lông ngực có sọc tuyệt đẹp của nó.

“Em có nghe anh nói không?”, chàng nóng nảy hỏi.

“Anh có thể đi, và quay về càng sớm càng tốt”, tôi buồn bã nói. “Em nghĩ sẽ không có gì thay đổi nhiều trong vòng một tháng. Nếu không đi, mọi người sẽ thắc mắc tại sao anh lại từ chối một cơ hội tốt như vậy”.

“Nếu em gọi, anh sẽ quay về ngay lập tức”, chàng hứa. “Vì bất cứ lý do gì. Ngay khi em gọi, anh sẽ về, cho dù anh đang ở bất cứ nơi đâu. Anh có một người hầu mới và anh ta sẽ truyền tin cho chúng ta, giữa em với anh, mà không nói với ai cả. Anh ta tên là Glynne, em nhớ nhé! Và hãy tin tưởng anh ta khi anh ta tìm đến em”.

“Em sẽ nhớ, nhưng anh hứa dự lễ đăng quang xong là quay về ngay nhé?”, tôi hỏi. “Đừng chạy theo vị Nữ hoàng góa chồng như chú cún Henry Stuart, con trai dì Margaret Douglas nhé”.

“Anh sẽ về ngay”, chàng hứa. “Sẽ không lâu đâu, chỉ vài tuần thôi”. “Được rồi”, tôi buồn rầu nói. “Anh đi đi”.

Chàng rút sau lưng ra một cuộn giấy nhỏ và một túi vàng. “Cái này dành cho em để chi dùng trong khi anh đi vắng”, chàng ngọt ngào nói. “Vợ yêu dấu của anh. Còn đây là di chúc của anh. Anh để lại cho em một mảnh đất trị giá một ngàn bảng. Một ngàn!”.

“Ôi, đừng nói vậy!”. Ngay lập tức tôi òa khóc một lần nữa, nghĩ đến Janey qua đời một mình trong đêm tối, thậm chí không kịp nói một lời tạm biệt với tôi. “Đừng nói thế. Em không muốn thừa hưởng bất cứ điều gì từ anh cả. Em chỉ muốn sống với anh chứ không muốn chết. Tất cả những người em yêu mến đều đã chết, và bây giờ thì anh sắp đi xa!”.

“Hãy cất nó thật kỹ”, chàng ấn vào tay tôi. “Anh sẽ về trong vòng một tháng và lấy nó lại, được chưa nào?”.

CUNG ĐIỆN GREENWICH

MÙA HÈ NĂM 1561

Triều đình gần như không quan tâm khi Ned đến chào tạm biệt Nữ hoàng, mọi người đều bận rộn với những trò giải trí. Đây là khoảng thời gian yêu thích trong năm của Nữ hoàng Elizabeth, và ngày nào cũng có những buổi khiêu vũ, săn bắn và dã ngoại. Chúng tôi cưỡi ngựa rời Cung điện Greenwich đi săn trên những đồng cỏ chạy dài bên dòng sông. Chúng tôi đi dạo trong vườn thượng uyển vào buổi tối, ngắm những chú chim én và chim nhạn bay vòng quanh những pháo đài cao rồi sà xuống nước. Chúng lao vào cái bóng của chính mình và té nước lên khi chúng rời khỏi mặt nước.

Nữ hoàng Elizabeth rất yêu Robert Dudley, bà không thể cưỡng lại bàn tay anh ta đưa ra mời bà khiêu vũ hay đi dạo, không thể cưỡng lại sự “bắt nạt” của anh ta khi anh ta dọa sẽ chuyển đến sống ở Tây Ban Nha nếu bà không nghe lời khuyên của anh ta trong vai trò một hoàng thân đích thực. Với Nữ hoàng, anh ta lấy lại được tất cả những gì đã mất sau cái chết của vợ, dù anh ta không bao giờ bước vào triều đình. Vương quốc này không bao giờ chấp nhận anh ta làm chồng bà, và trò chơi lớn nhất cuộc đời của Nữ hoàng Elizabeth là hứa hẹn vừa đủ với anh ta để giữ anh ta gần gũi với bà mà không tiết lộ cho ai khác những gì bà đã thề hứa với anh ta. Tôi nghĩ sự lừa dối của bà thậm chí còn đi xa hơn cả sự bất tín và tồi tệ hơn tôi rất nhiều. Ít nhất tôi không nói dối Ned, dù tôi phải nói dối với mọi người khác.

William Cecil đối xử tử tế và quan tâm tôi nhiều hơn trước, như thể ông sợ Robert Dudley sẽ thuyết phục được Nữ hoàng kết hôn với anh ta, và đất nước sẽ quay sang tôi như một người kế vị. Người dân chắc chắn sẽ muốn tôi làm Nữ hoàng hơn bất kỳ người phụ nữ nào cưới một người trong gia tộc Dudley.

“Trông cô nhợt nhạt quá”, William Cecil nhẹ nhàng bảo tôi. “Cô nhớ người bạn yêu quý của cô rất nhiều phải không?”.

Tôi nín thở khi nghĩ ông đang nói về Ned, nhưng hóa ra ông muốn nói đến Janey. “Tôi nhớ cô ấy rất nhiều”, tôi gắng gỏi đáp.

“Cô phải cầu nguyện cho cô ấy”, Cecil nói. “Tôi chắc chắn cô ấy sẽ được lên thẳng thiên đường. Không có nơi nào là luyện ngục và không một linh hồn nào có thể được cầu nguyện ở đó – nhưng sẽ dễ chịu hơn khi chúng ta cầu nguyện cho hạnh phúc của những người bạn của chúng ta ở trên thiên đường, và Chúa lắng nghe tất cả mọi lời cầu nguyện”.

Tôi không nói với ông là tôi đã tha thiết cầu nguyện cho Ned về sớm đến thế nào. Tôi chỉ cụp mắt nhìn xuống đất hy vọng ông để yên cho tôi đi đến phòng của Nữ hoàng. Không ai quan tâm tôi trông như thế nào cả. Thật ra, Nữ hoàng Elizabeth sẽ thích hơn khi tôi trông nhợt nhạt và lặng lẽ.

“Và cô cũng nhớ anh trai cô ấy, Bá tước Hertford nữa phải không?”, Cecil tinh nghịch hỏi.

Giọng ông ấy nghe rất lạ so với cách nói chuyện nghiêm trang bình thường đến mức tôi ngước nhìn lên. Ông đang mỉm cười với tôi, đôi mắt đen của ông rà soát gương mặt tôi. Tôi có thể cảm thấy tôi đang đỏ mặt, tôi biết ông sẽ nhìn thấy điều đó và ông sẽ tự quyết định.

“Tất nhiên”, tôi đáp. “Tôi nhớ cả hai người họ”.

“Có điều gì mà cô nên nói với Nữ hoàng... hay với tôi không?”, William Cecil nhẹ nhàng gợi ý.

Tôi thoáng nhìn ông; tôi sẽ không để bị kích động bởi việc này. “Ngài bảo tôi rằng tôi nên đợi một thời điểm thích hợp để nói với bà ấy”.

“Tôi đã nói thế”, ông bình thản nói. “Và bây giờ chưa phải lúc”.

Tôi cắn môi. “Vậy tôi sẽ nói chuyện với bà ấy khi nào ngài bảo tôi nên nói”, tôi nói.

Tôi sẽ phải thu hết can đảm để nói chuyện với Nữ hoàng và gọi Ned về để chúng tôi có thể cùng nhau đối mặt với bà ngay khi William Cecil nói đã đến lúc. Từ giờ cho đến lúc đó, tôi câm nín vì sợ. Tôi không dám nói với William Cecil rằng chúng tôi đã đi xa đến mức nào mà không có sự cho phép của ông hay sự hỗ trợ của Robert Dudley. Tất nhiên, Ned chắc chắn cả William Cecil lẫn Robert Dudley đều đoán được khá rõ về chúng tôi, và bất cứ ai cũng dám cược rằng một chàng trai khôi ngô như Ned và một công nương xinh đẹp như tôi sẽ yêu nhau nếu hai người được phép ở bên nhau mỗi ngày. Vì vậy, có lẽ tôi nên nói sớm, với hy vọng William Cecil sẽ đứng về phía mình.

Nhưng chuyện gì xảy ra nếu như không phải William Cecil đang khuyến khích lòng tin của tôi mà trái lại, đang muốn cảnh báo tôi về cuộc hôn nhân với Ned bằng giọng trêu ghẹo này? Tôi ước gì ông ấy nói rõ ràng hơn trước khi chúng tôi kết hôn, ngủ với nhau, và trước khi Ned đi.

Tồi tệ hơn, tôi thấy mình bị buồn nôn vào mỗi buổi sáng và cả ngày tôi không ăn được thịt, nhất là thịt mỡ. Nó khiến bụng tôi cảm thấy khó chịu, và thật lạ khi tôi luôn luôn thấy đói vào giờ ăn sáng, cồn cào đến tận sau lễ cầu nguyện và thời gian chay tịnh. Chị Jane từng nói tôi rất háu ăn, và tôi sẽ cười trả lời chị... nhưng giờ thì việc tôi trả lời thế nào không quan trọng nữa, vì tôi sẽ không bao giờ được nói chuyện với chị nữa, và giờ tôi chỉ có thể đối mặt với bánh mì và sữa, đôi khi không ăn được cả những thứ đó. Chú chó Jo ngồi trong lòng tôi vào bữa ăn sáng và nó ăn gần hết khẩu phần của tôi. Tôi nghĩ ngực tôi cũng trở nên ấm hơn và mềm hơn. Tôi không biết chắc, và vẫn không có ai để hỏi, nhưng có lẽ đó là những dấu hiệu cho thấy tôi đã có thai. Nhưng tôi cần phải làm gì?

Phu nhân Clinton, tức dì Elizabeth Fitzgerald của tôi, một người họ hàng trước kia rất yêu quý chị Jane, chặn tôi trên hành lang và nhận xét rằng tôi có vẻ kém vui khi không có những người bạn nhà Seymour. Bà chờ đợi như thể tôi nên trả lời gì đó. Phu nhân Northampton, đứng sau bà, nói thẳng vào mặt tôi rằng nếu tôi yêu Ned Seymour thì tốt hơn tôi nên nói với Nữ hoàng và nhờ bà ấy ra lệnh cho chàng. Họ đứng cạnh nhau, những người bạn của Nữ hoàng Elizabeth, những người thân tín của Nữ hoàng Elizabeth, một cặp diều hâu, như thể họ biết tất cả mọi thứ, như thể bí mật quý giá của tôi cũng chỉ là một trong những cuộc bàn tán kinh tởm của họ trong triều đại trước, trong những năm rất lâu trước đây, khi họ còn trẻ, xinh đẹp và dịu dàng.

Hai má tôi nóng lên với cảm giác tủi thẹn khi họ nói về Ned và tôi như thể chúng tôi chỉ là một cặp bình thường, một cặp nam nữ ngu ngốc nắm tay nhau phía sau triều đình. Họ không thể biết, họ không thể hiểu, rằng chúng tôi yêu nhau tha thiết, và dù sao thì chúng tôi cũng đã kết hôn.

“Nếu cậu ta hứa hôn với cô và bỏ cô thì chúng ta nên nói với Nữ hoàng”, Phu nhân Clinton thì thầm. “Mọi người đều thấy rằng hai người không thể tách rời nhau, nhưng rồi cậu ta đột nhiên biến mất. Tôi sẽ nói giúp cho”.

Tôi cảm thấy thật kinh khủng khi họ nghĩ tôi là một cô gái dễ dãi. Tôi giận dữ khi họ nghĩ tôi là một kẻ ngốc bị một người tình phản bội bỏ rơi. Tôi là người kế vị ngai vàng nước Anh! Tôi là em gái Jane Grey! Tôi mà có thể hạ mình ngủ với một người đàn ông không phải chồng mình và giờ phải nhờ các bà dì chuyên ngồi lê đôi mách đưa chàng về nhà cho mình sao? Nhưng tôi không thể nói với họ rằng chúng tôi đã kết hôn và chàng đi vì tôi cho phép. Và tôi không thể thú nhận với bất cứ ai trong hai mụ diều hâu này (ít nhất đã ba mươi tuổi) rằng tôi là một phụ nữ có chồng và đang mang thai. Tôi nuốt giận, mỉm cười một cách duyên dáng và nói tôi đang rất nhớ Janey. Họ xem những giọt nước mắt giận dữ đó là những giọt nước mắt đau buồn, cả hai đều nói cô ấy thật đáng yêu và đó là một mất mát khủng khiếp, rồi chúng tôi không ai nói gì thêm về Ned nữa.

Dường như tất cả mọi người đều đang tận hưởng một mùa hè hạnh phúc ngoại trừ tôi. Mọi người tán tỉnh nhau ngoại trừ tôi. Nữ hoàng Elizabeth và Robert Dudley công khai yêu nhau: Họ cùng nhau đi khắp nơi, đôi khi thậm chí họ còn nắm tay nhau trước mặt mọi người. Bà xem anh ta như một người chồng cùng đẳng cấp, và ai cũng biết rằng nếu muốn có một khoản trợ cấp, hưu bổng hay muốn được tha thứ một tội lỗi nào đó thì lời nói của Robert Dudley cũng có trọng lượng như lời nói của Nữ hoàng, vì người này theo sát người kia như thể bà không có lựa chọn nào khác, và cái lưỡi của bà không dùng để làm gì khác trừ việc liếm đôi môi gợi cảm của anh ta.

Robert Dudley rất cao ngạo với người tình của mình. Bà cho anh ta rất nhiều tiền và cấp giấy phép kinh doanh ưu đãi thuế. Bà không đi quá xa đến mức ban tặng đất đai cho anh ta, nhưng bà vuốt má anh ta và thề rằng gia đình anh ta sẽ vươn lên trở lại. Lúc này không ai còn bình luận gì về việc vợ anh ta qua đời một cách đáng ngờ chưa đầy một năm trước và mọi người đã quên chuyện đổ lỗi cho anh ta. Không ai còn nhớ cha anh ta đã bị xử tử vì tội phản quốc ngay trước mặt anh ta. Tôi còn nhớ – không những thế, chính cha Robert Dudley đã ép chị tôi phải lên ngôi và vì thế mà chị bị lên đoạn đầu đài. Những người khác ở triều đình chọn cách cư xử như thể Dudley xuất thân từ một gia tộc danh giá nhất, luôn luôn được tin tưởng và yêu mến.

Tất nhiên ngoài kia thì không như vậy. Tôi nhận được những tin nhắn bí mật từ nhiều người đảm bảo với tôi rằng nếu có một cuộc nổi dậy chống Nữ hoàng Elizabeth và người tình thông dâm của bà thì họ sẽ ủng hộ tôi. Tôi thậm chí còn không đọc chúng. Tôi lập tức đưa cho William Cecil, ông chỉ lặng lẽ nói: “Nữ hoàng thật may mắn có được một người kế vị trung thành như vậy. Bà ấy yêu quý cô vì điều này”.

Những khi ấy, tôi thường trả lời một cách thông minh: “À, bà ấy rất ít thể hiện tình cảm”.

Hoặc tôi muốn hỏi: “Liệu bà ấy có yêu quý tôi đủ để cho tôi được hạnh phúc không? Hay bà ấy chỉ yêu tôi vừa đủ để giữ tôi trong cuộc sống mong manh này?”.

Mặc dù mọi người đều biết tôi là người kế vị nhưng bà vẫn chưa chỉ định tên tôi trong nghị quyết của Nghị viện, và giờ thì khi Nữ hoàng Mary xứ Scots tuyên bố sẽ quay về Scotland, nhiều người cho rằng Nữ hoàng Elizabeth nên chọn cô ấy làm người kế vị và qua đó làm hòa với cô ấy cũng như với Scotland và Pháp.

“Bạn của cô, Ned, được đón tiếp long trọng ở Paris. Cậu ấy viết cho tôi rằng Nữ hoàng Mary của Scotland sẽ không phê chuẩn hiệp ước hòa bình mà khăng khăng muốn quay về Scotland, tiếp tục tuyên bố chống lại ngai vàng Anh”, William Cecil bảo tôi. “Cậu ấy là một tay tình báo tuyệt vời cho tôi ở triều đình Pháp. Cậu ấy được chào đón như một hoàng tử. Cậu ấy và con trai tôi, Thomas, đã gặp tất cả những nhân vật quan trọng ở Pháp, và Ned cho tôi biết rất nhiều điều mà tôi không biết về những bí mật của triều đình”.

“Thế khi nào họ quay về?”, tôi cố giữ giọng nhẹ nhàng và bình thản. “Không lâu nữa đâu, tôi hy vọng thế. Tôi chưa từng biết có hai thanh niên nào lại tiêu xài nhiều tiền như thế bao giờ”, Cecil nói.

Tôi phải biết rằng chàng sẽ về sớm. Tôi viết thư cho chàng, và khi chàng không trả lời, tôi lo rằng chàng đã quên lời hứa với tôi, rằng chàng đang yêu một người khác. Tôi đã ra lệnh cho phép người hầu Glynne đến gặp tôi ngay khi anh ta xuất hiện, nhưng anh ta không bao giờ đến. Tôi lại viết thư cho Ned để nói với chàng rằng tôi vẫn không chắc, nhưng những cơn buồn nôn của tôi đã dịu hơn và điều đó khiến tôi nghĩ rằng tôi đã tưởng

tượng ra nó, và như thế không có ý nghĩa gì cả. Chàng cũng không trả lời lá thư đó. Tôi lại không có kinh tháng tiếp theo và chắc chắn tôi đang tăng cân lên. Tôi thắt dây thắt lưng ngày càng lỏng hơn và tôi thề rằng vòng bụng tôi đang trở nên lớn hơn mỗi ngày. Nhưng tôi không thể tin rằng có một đứa trẻ trong đó. Dường như đã nhiều tháng trôi qua kể từ lần cuối cùng Ned nằm bên cạnh tôi và bàn tay tò mò khám phá của chàng chạy dọc hai bên cạnh sườn mềm mại của tôi. Nửa năm đã trôi qua; chắc chắn lâu đến mức tôi không thể tin rằng mình có thai, nhưng tôi không thể không lo sợ điều đó đã thực sự xảy ra.

Người hầu của tôi, bà Leigh, nhận xét rằng ngực và bụng tôi đang to ra. Tôi hỏi bà làm thế nào một phụ nữ có thể biết cô ấy đang mang thai, và bao lâu sau khi gần gũi thì đứa trẻ ra đời. Bà tỏ ra kinh hoàng đến mức khiến tôi hoảng sợ, cú sốc khiến mắt bà lồi lên và bà thều thào: “Ôi Công nương của tôi! Thật là xấu hổ! Công nương ơi!”.

Tôi bắt bà thề phải giữ bí mật. Bà là người hầu của tôi suốt nhiều năm; bà nên biết rằng tôi không bao giờ làm điều ô nhục. Tôi kể với bà là tôi đã kết hôn, cho bà xem nhẫn cưới và chiếc khăn trùm đầu của tôi. Tôi nói với bà rằng tôi đã cất lá thư cầu hôn của Ned an toàn trong hộp nữ trang cùng với di chúc của chàng, trong đó chàng gọi tôi là vợ. Tôi giải thích rằng đứa trẻ sẽ là người kế vị tiếp theo của ngai vàng và bà cho tôi biết một phụ nữ có thể tính xem khi nào thì sinh con. Bà nói sẽ mất khoảng mười tháng kể từ kỳ kinh nguyệt cuối cùng, và tôi có thể đoán đó là con trai hay con gái bằng cách xem nó nằm trong bụng như thế nào, và xem tôi thèm ăn đồ ngọt hay đồ mặn. Nếu tôi cảm thấy buồn nôn kiểu say sóng trong những tháng đầu tiên, đứa trẻ sẽ không bị chết vì nước sau này. Nếu tôi không cho mèo vào phòng, đứa trẻ lớn lên sẽ là một người đáng kính trọng. Tôi nghĩ quá nửa số này nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng đó là tất cả những trợ giúp mà tôi có được.

Tôi phải nhờ bà giúp. Bà có thể giúp tôi khi đứa trẻ chào đời, nếu thực sự có một đứa trẻ trong bụng tôi lúc này; bà có thể giúp tôi giấu cơn ốm nghén. Bà bảo tôi rằng chuyện đó không có gì khó khăn cả, nhưng lúc này chị bà đang bị bệnh ở nhà và họ cần bà giúp đỡ. Tôi cho bà nghỉ phép một tuần về giúp gia đình dọn dỡ cỏ khô, nhưng sau đó thì bà biến mất.

Thế đấy! Bà không bao giờ quay lại với tôi dù bà đã hầu hạ tôi trong nhiều năm, và điều đó khiến tôi nhận ra mình thực sự đang gặp một rắc rối rất lớn. Nếu bà Leigh rời bỏ tôi không một lời từ biệt, trốn khỏi triều đình và bỏ luôn công việc được trả công hậu hĩnh này chỉ vì bí mật của tôi, thì đó hẳn là một mối nguy hiểm lớn. Tôi có thể trả cho bà cả gia tài để bà ở lại giúp tôi – tôi có thể cho bà toàn bộ túi vàng của Ned – nhưng bà vẫn muốn chạy trốn. Hẳn bà nghĩ tôi hoặc rất đáng hổ thẹn hoặc thực sự đang gặp nguy hiểm, và dù thế nào thì bà cũng không muốn liên lụy tới tôi. Và, một lần nữa tôi chỉ còn lại một mình.

Giá như có ai đó giúp tôi quyết định xem tôi nên làm gì! Tôi viết thư cho Ned một lần nữa dưới vỏ bọc của Đại sứ Anh tại Paris, dù tôi thậm chí không biết chàng có còn ở Paris hay không. Tôi kể với chàng rằng những con chim hồng tước vẫn sống tốt, chú chó Jo rất trung thành với tôi, như thể nó biết tôi cần một người bạn. Nó bắt đầu ngủ trên giường tôi và tôi không thể mở mắt thức dậy nếu nó không ngửi và liếm mặt tôi. Tôi nói với chàng rằng Nữ hoàng và Robert Dudley lúc này trông như một cặp vợ chồng son. Tôi kể bà Leigh đã bỏ trốn và tôi không còn ai để tư vấn nữa. Tôi nói tôi không biết chắc mình đang ở tình trạng như thế nào, nhưng tôi sẽ hạnh phúc hơn rất nhiều nếu chàng ở đây. Tôi không muốn tỏ ra đáng thương, như thể đang cầu xin chàng quay về, nhưng tôi thực sự cảm thấy cô độc với nỗi lo sợ khi không có chồng mình bên cạnh; và lúc này tôi đang rất cần chàng.

Tôi không nhận được thư trả lời.

Tôi nghĩa ra hàng chục lý do tại sao chàng không trả lời, nhưng tôi sợ rằng chàng đã quên tôi hoặc đã yêu một trong những cô gái Pháp theo Công giáo La Mã. Điều gì sẽ xảy ra nếu Nữ hoàng Mary xứ Scots để mắt đến chàng và đưa chàng tới Scotland như một hoàng thân và tôi sẽ không bao giờ gặp lại chàng ở London nữa? Tôi lại viết, và dù tôi chờ đợi mòn mỏi, vẫn không có một hồi âm.

“Con trai tôi và Ned Hertford, bạn cô, đang đi đến Ý”, William Cecil hồ hởi nói với tôi như thể đó là một tin vui. “Trừ phi chúng ta triệu hồi họ về nhà. Cô nghĩ sao, Công nương Katherine? Liệu chúng ta có nên kêu họ quay về và ngừng những trò giải trí lại không?”.

Tôi muốn nói: Hãy ra lệnh cho chàng quay về! Nhưng thay vì thế, tôi cúi xuống nhìn những chiếc nơ trên đôi giày của tôi, và tôi cảm thấy bụng tôi bỗng gò lên, quặn thắt cạ vào khung áo trong. “Ồ, bảo họ cứ tận hưởng đi!”, tôi nói một cách rộng lượng. “Tất cả chúng ta đều đang vui vẻ ở đây mà, phải không?”.

William Cecil không vui. Tôi có thể nhận ra điều đó khi nhìn những nếp nhăn hằn sâu giữa đôi mày của ông, khi nghe giọng ông như đang nói dối khi tham gia những cuộc trò chuyện nhảm nhí của triều đình. Ông lo ngại sự trở về của Nữ hoàng Mary xứ Scots trên Vương quốc Anh. Ông lo sợ Nữ hoàng Elizabeth đang lên kế hoạch trao ngai vàng cho một nữ hoàng khác, như thể không có Adam trên thiên đường, như thể phụ nữ có quyền chọn người kế vị, như thể người kế vị phải là phụ nữ. Ông ghét cái ý nghĩ về một người kế vị theo Công giáo La Mã ở nước Anh này – điều đó sẽ lật đổ công trình cả đời của ông nhằm đưa nước Anh đến hòa bình như một vương quốc Tin lành Kháng cách – nhưng Nữ hoàng Elizabeth bị thu hút bởi ý nghĩ về người cháu họ xinh đẹp ở quá gần mình. Cecil cho rằng Nữ hoàng Mary của Scotland – hay bất kỳ người Công giáo nào – đều là kẻ thù tôn giáo của ông, quyết tâm lật đổ công trình cả đời của ông. Nhưng ông biết ông đã đạt đến giới hạn quyền lực. Ông không thể thuyết phục Nữ hoàng nghĩ về cô cháu họ Mary của bà như một kẻ thù được. Ông không thể thuyết phục bà kết hôn với một người phù hợp. Ông không thể buộc bà phải mang thai. Bà sẽ không sinh cho đất nước một hoàng tử. Và tôi rất sợ rằng tôi sẽ phải làm việc đó. Tôi rất sợ là tôi sắp sinh cho nước Anh một bé trai dòng dõi hoàng tộc để làm người kế vị, và không ai biết điều đó ngoại trừ tôi. Nhưng tôi lại không chắc lắm.

Trong một khoảnh khắc, tôi nghĩ tôi có thể nói sự thật với ông. Ông nhẹ nhàng nắm cánh tay tôi và tách tôi khỏi những người phụ nữ khác.

“Chúng ta cho gọi Bá tước Hertford về nhé?”, ông dịu dàng hỏi tôi. “Cô cần cậu ấy quay về chứ, Công nương Katherine?”.

Tôi lắc đầu cười vui vẻ giống như Nữ hoàng Elizabeth khi bà giả vờ vô tư. “Chúa ôi, không!”, tôi cam đoan với ông. “Tôi không cần đàn ông, càng không cần những bá tước!”.

Chúng tôi xuôi dòng trên long thuyền, Nữ hoàng Elizabeth ngồi trên ngai vàng ngay trên thuyền, các nhạc công đứng dọc mạn thuyền, dân chúng đứng xem hai bên bờ sông. Robert Dudley ngồi cạnh bà như mọi khi, còn tất cả các công nương và phu nhân khác, kể cả tôi, ngồi ở boong tàu, xinh đẹp và hãnh diện. Không ai nhận ra sự vắng mặt của Janey, không ai nhớ cô ấy ngoại trừ tôi. Em gái tôi Mary giống như một con búp bê tinh khiết ngồi trên ghế cao. Em ấy nháy mắt với tôi; dường như không gì có thể gây rắc rối cho Mary cả. Tôi nghĩ tôi có thể nói với em ấy rằng tôi sợ tôi đang mang thai và bị chồng bỏ rơi, nhưng sau đó tôi nhớ ra rằng em ấy là em gái tôi, và chị Jane của chúng tôi người luôn cố gắng bảo vệ chúng tôi khỏi những bất hạnh và chị ấy đã bước lên đoạn đầu đài, không bao giờ nói về sự nghi ngờ hay sợ hãi. Chị ấy đã viết cho tôi một lá thư với những lời trăng trối, những lời khuyên tốt nhất chị có thể dành cho tôi trong mọi tình huống. Tôi không phải là một người chị tệ hơn Jane. Tôi sẽ không trở thành gánh nặng cho Mary vì những lo lắng hay sợ hãi của mình.

Các đại sứ, bá tước, công tước ngồi trên chiếc thuyền lớn, thưởng thức loại rượu hảo hạng nhất và tán gẫu với nhau. Tôi thấy Robert Dudley cúi mái đầu đen xuống gần Nữ hoàng Elizabeth và thì thầm vào tai bà, tôi thấy bà quay đầu lại mỉm cười. Họ mạnh mẽ và sống động trong tình yêu đến mức bỗng nhiên tôi quên mất bà là người họ hàng khó chịu nhất của tôi, và tôi nhìn bà như những cô gái trẻ đang yêu khác. Tôi có thể thấy bà khao khát anh ta, từ cách bà quay đầu đến cách bà níu lấy tay vịn chạm khắc của chiếc ngai vàng để tránh rướn người đến anh ta một cách suồng sã. Tôi nghĩ – tôi biết điều đó. Tôi hiểu điều đó. Tôi cũng từng cảm thấy điều đó. Và tôi quay đi trước khi bà có thể nhìn thấy sự hiểu biết nguy hiểm trong mắt tôi.

“Thật sự, đó là một cảnh tượng đáng hổ thẹn”, ai đó nói nhỏ vào tai tôi, tôi quay lại và nhận ra Công tước Pembroke, cha chồng cũ của tôi, đang đứng cạnh tôi và quan sát tôi khi tôi nhìn Nữ hoàng Elizabeth.

“Ồ, tôi không biết”, tôi nói và quay lại với danh tiếng ngây thơ trong trắng của mình, như thể chúng chưa từng thay đổi.

“Chúa ban phước cho cô về điều đó”. Người đàn ông từng đẩy tôi ra khỏi nhà không hề có một lời chúc phúc hay tạm biệt, nói.

Từ trên chiếc ghế cao, Mary mỉm cười gật đầu với tôi, như thể khuyên tôi nên làm những gì có thể với con người không có gì hứa hẹn tốt đẹp này.

“Chúng ta nhớ con trong Nhà Herbert”, ông ta nói một cách khoa trương. “Ta biết con trai ta rất hối tiếc vì phải chia tay cô vợ xinh đẹp bé nhỏ của mình”.

Tôi không có gì để nói trước sự dối trá trơ trẽn đường đột này. Tôi mở to mắt và giữ im lặng, để xem ông ta muốn đi đến đâu.

“Và ta biết con thích nó”, ông nói bóng gió, “tình yêu tuổi trẻ rất đẹp. Có lẽ con nên gặp lại nó lần nữa. Bây giờ con đã là một đại công nương, có thể có một tương lai tuyệt vời, nhưng con sẽ nhớ những tình cảm tuổi trẻ của con”.

Có quá nhiều điều phải phủ nhận đến mức tôi đặt tay lên bụng, lúc này lại gò lên, và tôi cảm thấy một rung động nhỏ, giống như có tiếng ùng ục bên trong. Tôi cúi đầu xuống.

“Và đây là con trai ta Henry, vẫn yêu thương con như ngày nào”, ông ta kết luận và bước sang một bên để giới thiệu con trai ông ta, giống như một người dự dạ hội hóa trang giới thiệu bạn nhảy. Henry Herbert trông khỏe mạnh hơn nhiều so với cậu bé có gương mặt trắng bệch trong ngày cưới của chúng tôi, đẹp trai, mỉm cười, và có vẻ như đang yêu tôi say đắm.

“Tôi không mong đợi điều này”, tôi nói với anh ta, khi cha anh ta vội vã đến quỳ trước Nữ hoàng Elizabeth.

“Xin hãy tha thứ cho anh”, Henry lắp bắp, “em biết anh không bao giờ muốn rời xa em. Em còn nhớ mọi chuyện diễn ra quá nhanh và không thể biết thế nào là đúng. Anh bị bệnh và anh phải vâng lời cha anh”.

Trong một thoáng, tôi nhắm mắt lại. Tôi còn nhớ sự kinh hoàng và hỗn loạn, tôi biết Jane đã mất và không gì có thể cứu được chị ấy. “Tôi nhớ”, tôi mím môi nói. Tôi nhớ rất rõ họ đã bỏ rơi tôi nhanh như thể tôi làm bỏng những ngón tay của họ vậy. Nhưng tôi cũng nhớ không ai trong chúng tôi biết phải làm gì, chắc chắn không phải là cậu bé nhút nhát chồng tôi khi đó.

“Anh không bao giờ nghĩ rằng họ sẽ tách chúng ta ra”, Henry nghiêm túc nói, “anh nghĩ những lời thề hứa của chúng ta là sự thật. Anh nghĩ chúng ta đã kết hôn và chúng ta sẽ là vợ chồng. Anh không hề có ý niệm gì về việc chúng ta có thể bị chia tách”.

Tôi còn nhớ mình đã từng khao khát anh ta như một cô gái khao khát một người chồng lý tưởng. Tôi nhớ sự huyền ảo và lộng lẫy của lễ cưới, chiếc áo cưới tinh khôi của tôi và bữa tiệc kéo dài hai ngày. Tôi nhớ anh ta, khi đó đau ốm như một con chó già, nhưng vẫn cố gắng đi cùng tôi phía sau chị Jane và Guildford Dudley tới bàn thờ. Tôi nhớ chị Jane, căng thẳng như một sợi dây đàn, không biết mình nên làm gì, không biết ý Chúa muốn gì, sự kinh hoàng của chị khi nhìn chiếc vương miện, và sự can đảm của chị khi đối mặt với nó.

Tôi mỉm cười, nghĩ về người chị kiên cường của mình. “Vâng, tôi nhớ tất cả”.

Anh ta nhìn thấy nụ cười của tôi và nghĩ tôi đang cười với anh ta. “Bây giờ em là người kế vị của Nữ hoàng...”, anh ta bắt đầu.

“Bà ấy chưa chỉ định tôi trước Nghị viện”, tôi cảnh cáo anh ta, liếc nhìn về phía ngai vàng nơi Dudley đang ngồi như tranh chỗ bên cạnh Nữ hoàng, hai người quấn nhau như hai con rắn và bà ấy gần như đang ngồi trong lòng anh ta.

“Em là người kế vị duy nhất theo Tin lành Kháng cách”, anh ta sửa lại. “Và cả vương quốc đều yêu quý em. Bà ấy từng gọi em là người kế vị trước triều đình”.

Tôi nghiêng đầu.

“Nếu chúng ta kết hôn”, anh ta nói thầm, “nếu chúng ta kết hôn một lần nữa, như chúng ta đã làm trước kia, và có con trai, thì đứa trẻ đó sẽ là nhà vua của nước Anh”.

Tôi có một cảm giác kỳ lạ khi nghe anh ta nói điều này, như thể bụng tôi lại vừa gò lên với một cơn quặn thắt bất ngờ. Tôi nghĩ – liệu có thể đó là sự kích động của đứa trẻ khi nó nghe nói đến vị trí tuyệt vời dành cho nó không? Giống như Elizabeth trong Kinh Thánh? Các vị thánh và những kẻ có tội cứu rỗi tôi, tôi nghĩ. Nếu đó là con tôi đang ra dấu chỉ thì tôi phải kết hôn ngay lập tức! Có thể là Herbert hoặc bất cứ ai. Trên thực tế, Herbert sẽ tốt hơn những người khác, vì anh ta tự đến với tôi, vì cha anh ta muốn chúng tôi kết hôn một lần nữa, và Nữ hoàng Elizabeth khó có thể ngăn cản vì trước kia chúng tôi đã cưới nhau. Trước là một sự kết hợp tuyệt vời; và bây giờ điều đó vẫn tốt. Anh ta muốn điều đó, cha anh ta muốn điều đó, Nữ hoàng không thể ngăn cản... còn tôi thì phải cưới ngay một ai đó. Chỉ có Chúa mới biết khi nào Ned quay về. Chỉ có Đức Mẹ Đồng Trinh mới biết tại sao chàng không trả lời thư của tôi. Người, cũng như tôi, phải tìm một người đàn ông để làm cha đứa trẻ. Người, cũng như tôi, biết rằng mình không thể quá kén chọn. Tôi phải kết hôn với ai đó khi tôi đang có một bào thai đang cử động trong bụng mình.

Những chuyển động trong bụng tôi mạnh đến nỗi tôi không thể tin là anh ta không nhìn thấy. Tôi đưa tay ra với anh ta, anh ta không biết tôi đang níu lấy tay anh ta nhờ giúp đỡ. “Thật vậy, chúng ta đã có những kỷ niệm hạnh phúc”, tôi nói đại, mồ hôi túa ra. Chắc anh ta phải nhìn thấy những giọt mồ hôi trên gương mặt trắng bệch của tôi.

Anh ta nắm lấy tay tôi. “Anh chưa bao giờ nghĩ rằng chúng ta đã xa nhau. Anh luôn nghĩ em là vợ anh”.

“Em cũng vậy”, tôi nói mà không suy nghĩ. Đột nhiên tôi kinh hoàng tự hỏi có phải đứa trẻ thực sự sắp được sinh ra không, có phải nó sẽ được sinh ra ngay bây giờ, trước mặt tất cả mọi người không. Tôi phải đi ra sau thuyền tìm chỗ nào đó để ngồi xuống, nghiến răng cố gắng chịu đựng, cầu nguyện cho chuyến du ngoạn trên sông này sớm kết thúc để tôi có thể trở về phòng. Tôi không thể tự hủy hoại mình trước mặt triều đình được! Trên chiếc thuyền này! Trên chiếc thuyền rồng của hoàng gia! Trong bộ trang phục đẹp nhất của tôi!

Henry cúi đầu xuống xòe tay cho tôi xem một vật trong lòng bàn tay anh ta. Đó là chiếc nhẫn cưới cũ của tôi từ ngày cưới cách đây rất lâu của chúng tôi.

“Em sẽ nhận lại nó như một lời hứa hôn chứ?”, anh ta thì thầm.

“Vâng! Vâng!”, tôi nói. Tôi gần như chộp lấy nó để anh ta đi chỗ khác cho rảnh nợ.

“Và anh sẽ gởi cho em bức chân dung của anh.” “Vâng, vâng.”

“Và em sẽ gởi cho anh chân dung của em chứ?” “Vâng, tất nhiên. Nhưng xin lỗi, em cần...”

“Thế là chúng ta đã hứa hôn một lần nữa.” “Vâng.”

Tôi thật ngốc. Chuyển động kinh khủng đó không phải là em bé sắp sinh mà chỉ là một cơn gò của thai nhi – nhưng ai mà biết nó lại khủng khiếp như vậy? Không có gì trong Kinh Thánh cảnh báo bạn rằng bạn sẽ có cảm giác giống như sắp chết cả. Nhưng giờ thì điều đó đang xảy ra với tôi, tôi biết nó là gì. Chắc chắn là tôi đang mang thai, không thể phủ nhận điều đó ngay cả với bản thân mình. Lúc này tôi thường có một cảm giác kỳ lạ giống như bụng tôi đang xáo trộn. Em bé di chuyển không theo ý muốn của tôi, vì vậy nên đôi khi tôi nằm trên giường mà cái bụng to của tôi cứ lồi lõm ngoằn ngoèo. Tôi thực sự có thể nhìn thấy cái bụng mình cử động như thể có một chú mèo con đang trốn dưới lớp áo ngủ vậy. Nhưng đó không phải là một chú mèo – tôi biết phải làm gì với một chú mèo con, không ai phản đối một chú mèo con – nhưng đây là một đứa trẻ, một đứa trẻ mà tôi không được phép thụ thai, sinh ra hay nuôi dưỡng đến lớn lên. Nhưng cho dù tôi có được phép hay không, dù tôi có muốn hay không, thì đứa trẻ vẫn sắp ra đời, giống như một quyền lực kinh khủng không thể ngăn cản, giống như một cơn mưa giông bão tố tràn qua một vùng nông thôn, tối tăm, đầy đe dọa và không thể kiểm soát được.

“Chị ổn chứ?”, Mary hỏi tôi với sự thẳng thắn của một cô em gái. “Trông chị béo phì giống Nữ hoàng khi bà bị bệnh vậy, và mấy hôm nay tâm trạng chị có vẻ rất tệ”.

Ước gì tôi có thể nói với Mary rằng tôi yêu Ned nhưng tôi không có tin tức gì của chàng cả. Rằng lẽ ra chàng chỉ đi vài tuần, nhưng chàng đã đi tới vài tháng. Ước gì tôi có thể nói với em ấy rằng chúng tôi đã kết hôn, nhưng chàng đã bỏ rơi tôi và bây giờ tôi đang mang thai, thậm chí tôi không thể than phiền về cách chàng đối xử với tôi, bởi vì cuộc hôn nhân này là một bí mật, và đứa trẻ là một bí mật thậm chí còn khủng khiếp hơn nữa, trong khi tôi không thể tiếp tục giữ bí mật lâu hơn. Dù thế nào thì nó cũng sẽ phải được sinh ra và vào bất cứ lúc nào, khi đó bí mật của tôi sẽ kết thúc và tôi sẽ phải chịu cảnh nhục nhã như một ả điếm bị trói vào đuôi xe và bị vụt roi tơi bời.

“Chị cảm thấy ốm lắm”, tôi nói một cách thảm hại. “Chị cảm thấy chị bị bệnh rất nặng. Ôi, Mary, ước gì chị có thể nói với em là chị ốm như thế nào”.

Em rướn người ngồi lên bệ cửa sổ bên cạnh tôi, đôi chân bé nhỏ đong đưa ra ngoài: “Chị không bị sốt chứ?”.

“Không, không, không phải là một căn bệnh”, tôi tự mâu thuẫn với chính mình. “Chị chỉ cảm thấy chị bị ốm”.

“Chị tương tư Ned phải không?”

“Không hề.”

Em ấy cau mày nhìn tôi, khuôn mặt xinh xắn của em ấy nhăn lại tỏ vẻ không thể hiểu được. “Em có một người bạn, một người bạn bí mật, em sẽ không cho chị biết tên anh ấy; nhưng em sẽ không bao giờ từ chối anh ấy cả”, em kể cho tôi nghe bí mật của em để đổi lấy bí mật của tôi. “Anh ấy nói rằng anh ấy yêu em và em biết em yêu anh ấy. Em sẽ không nói thêm gì cả. Như thế chỉ để chị hiểu rằng em có thể giữ bí mật, rằng em là một cô gái trưởng thành dù bề ngoài nhỏ bé. Chị có thể nói với em là chị yêu Ned và em có thể thêm điều đó vào kho bí mật của em. Chị có thể chia sẻ bí mật của chị với em”.

Tôi bật lên một tiếng rên tuyệt vọng khi nghĩ em tôi rồi sẽ bị lâm vào tình trạng khủng khiếp của tôi hiện tại. “Đừng nói về anh ta”, tôi nói, “cho dù anh ta là ai, người bạn bí mật của em. Và đừng nói chuyện với anh ta. Đừng giữ anh ta bí mật. Hãy quên anh ta đi. Thậm chí đừng mơ về anh ta. Và nếu anh ta muốn kết hôn với em thì hãy bảo anh ta rằng em không thể kết hôn nếu không có sự đồng ý của Nữ hoàng”.

“Bà ấy sẽ không bao giờ cho phép em kết hôn”, Mary gạt bỏ ý kiến của tôi với một cái nhún vai ảm đạm. “Bà ấy rất sợ em sẽ sinh ra một người kế vị ngai vàng tí hon. Bà ấy không muốn có một hoàng tử Tudor chỉ cao hơn một mét”.

Tôi khiếp sợ với ý nghĩ này đến mức vội vã hỏi: “Nhưng em không sinh được một đứa con với kích thước bình thường sao?”.

“Ai biết được?”, em ấy lại nhún đôi vai tròn của mình một lần nữa. “Ai biết được những chuyện đó xảy ra như thế nào? Dù sao thì chắc chắn em sẽ chọn một người yêu cao lớn để cân bằng lại”.

“Mary, em không thể có người yêu được! Thậm chí em không thể nói đùa về chuyện đó. Hãy thề với chị là em sẽ không gặp ai cả. Rằng em sẽ gạt bỏ bí mật của em sang một bên.”

“Đó có phải là về Ned không? Chị đã bí mật kết hôn sao?”

Tôi lấy tay bịt miệng Mary và trừng mắt nhìn em ấy. “Đừng nói gì nữa”, tôi nói, “thật đấy, Mary. Đừng nói thêm lời nào nữa. Chị không có bí mật gì cả và em cũng không được có bất kỳ bí mật gì hết”.

Em ấy đẩy tay tôi ra. “Này, này”, em lãnh đạm nói, “em không phải một con rận trên giường chị nhé. Đừng có bóp chết em. Nhưng em cũng không đi tán gẫu đâu. Em sẽ giữ bí mật là chị không có bí mật nào cả”. Em vặn vẹo trên bệ cửa sổ rồi nhảy xuống sàn. “Nhưng Henry Herbert không phù hợp với chị, hãy nhớ lời em nói. Anh ta là một kẻ gió chiều nào theo chiều đó. Anh ta làm những gì cha anh ta bảo, còn cha anh ta thì không nghĩ gì khác ngoài gia đình họ. Lúc này họ nghĩ chị sẽ được chọn làm người kế vị thay cho Nữ hoàng Mary và sẽ lên ngôi khi Nữ hoàng Elizabeth qua đời. Đó là lý do tại sao họ xun xoe xung quanh chị như thể họ yêu thương chị lắm vậy. Đừng có mà nghĩ họ yêu chị thật!”.

“Chị không nghĩ có ai yêu chị cả!”, tôi lạnh lùng nói.

Mary nắm tay tôi đặt lên má em ấy. “Em yêu chị, và em có một trái tim to lớn. Dù thế nào nó cũng lớn hơn trái tim của Henry Herbert”.

“Anh ta là niềm hy vọng duy nhất của chị”, tôi nói một cách chán chường. “Chị thực sự sẽ cưới anh ta à?”, em ấy hoài nghi, “bởi vì, em cảnh báo chị này, anh ta đang đi vòng quanh và cho cả triều đình xem chân dung của chị và nói là hai người đã đính hôn. Mọi người hỏi em. Em đã phủ nhận”.

Em bé của tôi cử động như thể nó không đồng ý. Tôi thở hắt ra. “Chị không dám từ chối anh ta”.

“Anh ta đã trao nhẫn cho chị rồi à?”, Mary hỏi.

“Ừm. Chiếc nhẫn cưới cũ của chị trước kia. Anh ta đã giữ nó lại. Và anh ta tặng chị một chiếc vòng tay với một túi vàng để chứng minh sự chân thành của anh ta. Cha anh ta còn tặng chị một cây trâm của mẹ anh ta nữa.”

“Chị hãy xin Nữ hoàng cho chị kết hôn trong khi chúng ta đang đi du ngoạn”, Mary khuyên. “Tâm trạng bà ấy rất tốt khi triều đình rời khỏi London, bà ấy và Dudley sẽ ở bên nhau suốt ngày – cả đêm nữa. Hoặc tại sao không nhờ Dudley nói giúp chị một tiếng? Mùa hè này bản thân anh ta cũng là một người tình; anh ta ở về phe cho rằng tình yêu có thể chiến thắng cả thế giới. Anh ta không thích nói lý lẽ, anh ta cũng đang thúc giục bà ấy kết hôn càng sớm càng tốt. Nếu đó là những gì chị muốn, hãy làm ngay. Mặc dù lý do tại sao chị muốn thì em không thể hiểu được”.

Tôi chớp mắt. “Chị thậm chí còn chưa chuẩn bị đồ đạc”, tôi nói một cách không liên quan gì cả, “chị không tìm thấy chiếc giỏ du lịch của Nozzle”.

“Em sẽ giúp chị”, em em gái đang kinh ngạc của tôi nói, “chị đừng khóc nữa. Ned sẽ sớm về thôi và anh ấy sẽ giành lại chị, nếu không thì chị cưới Henry. Dù sao thì chị cũng sẽ có một người chồng và một ngôi nhà. Ai đó sẽ yêu chị vì chính con người chị, như em yêu chị vậy. Chị còn muốn gì hơn thế nữa?”.

CUỘC TUẦN DU: ĐƯỜNG TỚI WANSTEAD

MÙA HÈ NĂM 1561

Chúng tôi cưỡi ngựa rời London và nghỉ lại đêm đầu tiên tại Cung điện Wanstead. Ở đây, Đức ngài Richard Rich, người đã bỏ chị Jane ngay lập tức, chào đón chúng tôi như một chủ nhân đầy hãnh diện khi được đón tiếp Nữ hoàng. Robert Dudley gạt ông ta sang một bên, bế Nữ hoàng xuống ngựa rồi đỡ bà qua cửa, như thể đó là nhà anh ta và bà là cô dâu của anh ta vậy. Nữ hoàng Elizabeth mỉm cười hạnh phúc và Richard Rich cố rặn ra một nụ cười theo.

Những người hầu giúp chúng tôi cởi quần áo và nữ trang, nhưng mọi thứ ở Wanstead đều tuyệt vời đến nỗi chúng tôi sẽ sử dụng các loại khăn ăn của họ cùng với những cái đĩa vàng và bạc. Tôi thấy Nữ hoàng Elizabeth quan sát khu rừng xanh tốt xung quanh cung điện, và tôi biết triều đình sẽ đi săn vào ngày mai. Tôi sẽ phải tìm một lý do; tuy chỉ cưỡi ngựa có mười dặm nhưng cũng đủ khiến tôi đau đớn đến mức không đứng nổi khi vừa được nhấc xuống ngựa. Chắc chắn tôi không thể phi nước đại phía sau đàn chó săn được.

“Cô có thư”, một trong những người hầu mặc chế phục của Rich cúi chào và đưa cho tôi một lá thư ghi tên tôi trên đó.

“Một lá thư?”

Trong một khoảnh khắc, tôi thậm chí không cầm lấy nó. Tôi nhìn chằm chằm vào nó với niềm hy vọng dâng trào rồi từ từ đưa tay ra. Tôi cảm thấy như thể ai đó đang trao cho tôi một chiếc chìa khóa để thoát khỏi nhà ngục lo lắng này.

Cuối cùng Ned đã viết thư cho tôi – cuối cùng chàng đã viết. Có lẽ chàng đã viết bên bờ biển, có lẽ chàng đã quay lại Anh và đang đi lên phương bắc để tìm tôi. Tôi vui mừng khi nhận được thư của chàng đến mức quên hết những oán giận gần đây. Chúng không quan trọng. Không sao cả. Nếu bây giờ chàng đến gặp tôi, chúng tôi có thể thú nhận với Nữ hoàng; tôi có thể phá vỡ hôn ước với Henry Herbert, chúng tôi có thể nói với Nữ hoàng và tất cả sẽ ổn. Như em gái Mary đã nói những lời rất khôn ngoan so với tuổi của cô ấy: Một ngôi nhà và một người chồng, tôi còn muốn gì hơn thế nữa?

Nhưng rồi tôi nhận ra đó không phải là chữ của Ned, cũng không phải huy hiệu của chàng. Ngay khi tôi cầm lá thư trong tay, mọi hy vọng đều tan biến. Tôi rời sân chuồng ngựa nhộn nhịp, nơi những người giữ ngựa đang dắt đàn ngựa của triều đình ra đồng cỏ. Tôi bước vào khu vườn đầy những tán cây râm mát, ngồi xuống một băng ghế đá, nghỉ ngơi cho dịu cơn đau và đọc lá thư.

Đó là thư của Henry Herbert. Nó rất đáng sợ.

Cho đến nay, tôi đã sống rất đàng hoàng và đạo đức, nhưng tôi không có ý định đánh mất danh dự của mình bằng cách sống phần đời còn lại với một con điếm mà hầu hết mọi người đều nói đến...

Tôi suýt đánh rơi lá thư. Tôi nghĩ mình sắp ngất; tôi không thở nổi vì sự kinh hoàng này. Tôi đọc lại lần nữa. Anh ta gọi tôi là một con điếm. Anh ta nói rằng mọi người đều nói về tôi. Tôi cảm thấy tim mình đập mạnh và em bé trong bụng không cử động, như thể nó cũng đang tê cứng vì kinh hoàng trước sự lăng mạ nhắm vào mẹ nó.

“Ned”, tôi thì thầm một cách khốn khổ. Tôi không tin nổi là chàng lại bỏ đi, để mặc những điều khủng khiếp này xảy ra với tôi. Tôi không tin nổi là mối tình của chúng tôi lại kết thúc trong thảm họa như thế này: Một sinh linh trong bụng tôi và Henry Herbert – Henry Herbert nhân danh tất cả – cáo buộc tôi là một con điếm.

Cô đã tìm cách gài bẫy tôi bằng bả độc dưới vỏ bọc một tình bạn ngọt ngào. Cảm ơn Chúa đã giúp tôi sớm nhận ra để không bị vướng vào, ngoài một vài tặng vật rời khỏi tay tôi vì sự dịu dàng xảo trá dùng để che đậy sự kinh tởm của cô và không kém của hắn.

Anh ta biết tôi có thai. Anh ta không gọi tên Ned, nhưng sẽ có những người khác nhanh chóng phá hỏng thanh danh của Ned và tôi. Tôi phải trả lại những tặng vật của Herbert và cầu xin anh ta giữ im lặng. Rõ ràng anh ta rất giận dữ vì tôi cố ý gài bẫy anh ta, mà tôi cũng không thể thẳng thắn nói anh ta đã sai và tôi vô tội được. Tôi không thể trách anh ta vì cơn cuồng nộ này. Tôi hẳn sẽ cưới anh ta và dùng tên anh ta để che giấu nỗi ô nhục khủng khiếp của tôi. Và dĩ nhiên, trong thâm tâm, tôi luôn biết điều đó có thể không thành công. Tôi có thể sinh con trước khi bước đến bàn thờ chịu phép hôn phối. Tôi sẽ phải nói với anh ta ngay khi chúng tôi cưới nhau và sau đó anh ta cũng sẽ tức giận với tôi y như lúc này.

Nhưng khi đó thì tôi đã là vợ anh ta, con tôi đã mang họ anh ta, và tôi tìm được một nơi để nương náu, dù chỉ tạm thời. Nhưng dù sao, tôi có thể làm gì khác chứ? Tôi nghĩ chỉ cần tôi là một người vợ khi sinh con là đủ rồi. Em bé của tôi sẽ có một cái tên, tôi sẽ có một người chồng. Giờ thì tôi sẽ chịu ô nhục công khai vì sự ra đời của con mình và bị gọi là một con điếm bởi người mà tôi đang cố kết hôn và cắm sừng cùng một lúc.

Tôi gục đầu ôm mặt khóc trước lá thư tàn nhẫn của anh ta. Tôi thực sự không biết phải làm gì. Tôi không biết nên làm gì, và vào lúc này, đứa trẻ chuyển mình nặng nề bên trong tôi, ép vào bụng tôi khiến tôi phải vội vã chạy vào phòng ngủ để đi tiểu một lần nữa. Tôi nghĩ: Chúa ơi, đây là một điều khốn khổ. Tôi nghĩ đây là điều khốn khổ tồi tệ nhất mà tôi có thể tưởng tượng được, và nó đang xảy ra với tôi. Tôi đã từng rất hạnh phúc khi được làm vợ Ned và làm bạn Janey, làm người kế vị Nữ hoàng và là em gái của một thánh nữ, nhưng giờ thì tôi suy sụp đến thảm hại. Rất thảm hại. Thảm hại đến mức tôi không thể biết được làm thế nào mình có thể vươn lên một lần nữa.

Không khó để thuyết phục những phụ nữ trong cung của Nữ hoàng Elizabeth là tôi không khỏe. Sự căng thẳng trên gương mặt khiến tôi không còn vẻ xinh xắn của một thiếu nữ, buổi tối tôi không ngủ được vì đứa trẻ đấm đá bên trong và chèn ép bụng tôi ngay khi tôi vừa nằm xuống. Mắt tôi bị thâm quầng và làn da mịn màng của tôi bắt đầu phát ra những đốm mụn. Ai cũng nghĩ tôi bị bệnh kiết lỵ. Người tôi sưng lên giống như bị phù. Tôi liên tục bị đau lưng và khớp háng. Mỗi ngày khi phải diện kiến Nữ hoàng, tôi phải đứng và đứng trong khi bà được ngồi, đi dạo và nhảy múa. Tôi phải nhún gối chào, giữ thẳng lưng, tôi phải mỉm cười. Tôi nghĩ đây quả thật là một cuộc tra tấn kéo dài, tồi tệ như bất cứ dụng cụ tra tấn nào ở Tháp, và nếu tôi thú nhận, đối mặt với bản án của mình có lẽ còn tốt hơn phải trải qua từng ngày với những lời nói dối và nỗi đau dai dẳng. Nếu họ trừng phạt tôi thì có lẽ cũng không thể tồi tệ hơn.

Cuộc tuần du tiếp tục, từ những tòa nhà lộng lẫy đến những chủ nhà hiếu khách, Nữ hoàng Elizabeth vui như hội vì có Robert Dudley ở bên bà suốt ngày, khiêu vũ với bà suốt buổi tối và ngủ trong phòng cạnh phòng bà vào ban đêm. Họ giống những người tình trẻ ve vãn, tán tỉnh, cười đùa, đánh bạc và cưỡi ngựa cùng nhau. Họ hạnh phúc bên nhau như Ned và tôi trước kia – trước khi bà phái chàng đi xa, để tôi lại một mình với nỗi cô đơn và niềm ô nhục.

Tôi viết thư cho một trong những người hầu ở Westminster nhờ bà đến cái rương của tôi trong kho báu hoàng gia, lấy hộp nữ trang của tôi ra và gởi cho tôi tất cả những thứ Henry Herbert vừa tặng tôi. Tôi phải trả bức chân dung ngu ngốc của anh ta lại cho anh ta và cái mề đay cùng một lọn tóc của anh ta. Tôi đã dùng hết tiền của anh ta nên không thể trả lại được.

CUNG ĐIỆN PIRGO, ESSEX

MÙA HÈ NĂM 1561

Tôi không nghe tin tức gì từ người hầu của tôi cả. Tôi e rằng bà không nhận được thư, hay không tìm thấy các món đồ, hoặc có một chút xáo trộn gì đó. Trước khi tôi kịp viết thư hối thúc bà một lần nữa thì triều đình đã đến tòa nhà mới của chú tôi, John Grey, ở Pirgo. Chú rất hãnh diện về tòa nhà này, một lâu đài hoàng gia được Nữ hoàng ban tặng. Chú tôi tin rằng một dấu hiệu thiện chí như vậy dành cho chú chắc chắn cũng sẽ lan tỏa đến tôi. Chú cho tôi những vai trò chính trong các hoạt động giải trí của Nữ hoàng; chú muốn tôi đứng đầu nhóm khiêu vũ. Chú không hiểu tại sao tôi lại muốn tránh né sự chú ý của bà ấy.

“Và cháu đang mất dần vẻ bề ngoài xinh đẹp”, chú than phiền, “có chuyện gì xảy ra với cháu thế, cháu gái yêu của ta? Cháu đang nảy nở lên đấy. Cháu không thể ăn quá nhiều cho đến khi cháu được chỉ định là người kế vị hoàng gia và được Nghị viện công bố. Nữ hoàng không kiên nhẫn với những kẻ háu ăn đâu. Tất cả chúng ta đều muốn có một người kế vị xinh đẹp tràn đầy sức sống. Còn cháu thì có vẻ rất kiệt sức”.

“Cháu biết. Cháu xin lỗi”, tôi nói ngắn gọn.

Trong một khoảnh khắc, tôi tự hỏi tôi có thể nói với chú là tôi đang đắm chìm trong tội lỗi thay vì đắm chìm trong ăn uống hay không, nhưng nhìn gương mặt cứng rắn của chú, tôi không dám nói với chú rằng thêm một cô cháu gái nữa của nhà Grey đã đặt mình sai hướng ngai vàng.

“Cháu có cái gì dưới áo choàng vậy?”, chú đột ngột hỏi. “Con mèo của cháu, nó tên là Ribbon”, tôi nói.

Chú không cười với con mèo trắng xinh đẹp. “Kỳ quặc nhỉ!”, chú nói, “đừng để đàn chó săn của chú nhìn thấy nó; chúng sẽ xé xác nó ra”.

“Có thư cho Công nương Katherine”, người giữ ngựa của chú thông báo và trao cho tôi một lá thư với huy hiệu Pembroke, “người đưa thư chờ nhận thư trả lời”.

“Ồ, thật à?”, chú tôi có vẻ vui lên trong giây lát. “Henry Herbert viết thư cho cháu phải không? Ít lâu trước đây cha cậu ta có nói chuyện với chú, ông ấy nói ông ấy đang suy nghĩ về việc tái hôn giữa hai người. Mở thư ra đi, cháu gái”.

“Cháu muốn đọc nó sau”, tôi nói. Miệng tôi khô khốc.

Chú tôi cười. “Ồ, đừng quan tâm tới chú”, chú nói, sau đó quay sang người giữ ngựa nói chuyện về việc sắp xếp bữa tiệc của Nữ hoàng trong khi tôi tháo con dấu mở lá thư.

Thưa bà, tôi yêu cầu bà ngay lập tức gởi lại cho tôi, qua người mang thư này, những lá thư và tiền cùng với bức chân dung mà tôi gởi cho bà, nếu không, tôi nói thẳng, tôi sẽ làm cho cả thế giới biết chuyện của bà, cũng như nhờ ơn Chúa mà tôi đã biết, rằng bà là một con điếm, và bà sẽ được nhiều người để ý tới hơn nữa.

Tôi nghĩ tôi phát ốm. Tôi đọc và đọc lại lần nữa. Anh ta biết tôi đang tham gia cuộc tuần du – anh ta nghĩ tôi mang bức họa chân dung của anh ta đi khắp nơi sao? Một tên ngốc: Tôi cho rằng anh ta nghĩ vậy. Anh ta thật hão huyền. Rõ là ngu đần. Thật vui vì chúng tôi không còn tiến tới hôn nhân nữa. Và rồi tôi nghĩ: Ôi Chúa ơi, nếu chúng tôi không kết hôn, nếu anh ta gọi tôi là một con điếm, tôi phải làm gì?

“Mọi chuyện ổn chứ?”, chú tôi hỏi. “Trông cháu có vẻ không vui? Hờn dỗi nhau à?”.

“Mọi chuyện đều ổn ạ”, tôi lẩm bẩm lời nói dối.

Nếu Henry không nhận lại được những lá thư của anh ta và anh ta công khai tuyên bố tôi là người tình của Ned, tôi sẽ bị thất sủng, chú tôi và tất cả người thân của tôi cũng sẽ bị thất sủng. Mary sẽ phải rời triều đình, rồi cô ấy sẽ đi đâu? Chúng tôi sẽ không được nhận bổng lộc như các thị nữ của Nữ hoàng: Chúng tôi sẽ không nhận được tiền hối lộ từ những người thỉnh cầu hay những người ủng hộ. Sự sụp đổ của tôi sẽ là sự sụp đổ của cả dòng họ. Và đứa trẻ này sẽ được sinh ra ở đâu, ai sẽ nuôi nấng nó?

“Mọi chuyện đều ổn”, tôi nhoẻn miệng cười vô tư lự. “Tất cả đều ổn ạ”. “Tốt, tốt”, chú vui vẻ nói, “chúng ta sẽ xin phép Nữ hoàng cho cháu và Henry Herbert kết hôn, có thể trong khi bà ấy đang ở đây. Nếu tối nay mọi chuyện tốt đẹp và tâm trạng bà ấy vui vẻ, được chứ? Cháu sẽ thấy một chiếc bánh cưới hạnh nhân khổng lồ hình lâu đài, nếu họ có thể mang nó ra từ nhà bếp mà không làm rơi nó! Chú nói với cháu nhé, chú rất hồi hộp! Đã đến lúc lấy chồng rồi, Katherine ạ”.

“Chưa”, tôi cố kiềm chế sự cáu kỉnh, “đừng nói gì với Nữ hoàng cả, cháu xin chú. Henry đang giận cháu vài chuyện nhỏ. Cháu phải gởi cho anh ấy vài thứ. Nếu cháu có thể gởi người hầu của cháu về Westminster, cô ấy có thể tìm giúp cháu”.

Chú tôi cười. “Ồ, tình yêu tuổi trẻ! Tình yêu tuổi trẻ! Cháu đang tự gây khó khăn cho mình đấy! Cháu chỉ cần gởi cho cậu ta một bông hồng dập từ hàng rào nhà chú và như thế là quá đủ với cậu ta, cháu sẽ thấy. Ngay khi cháu gật đầu, chú sẽ nói chuyện với Nữ hoàng nếu bà ấy đang vui”.

“Cháu sẽ gật đầu”, tôi nói một cách ngốc nghếch, “từ giờ đến lúc đó, chú đừng nói gì cả”.

Chú vỗ vai tôi. “Hãy đi thay bộ váy đẹp nhất của cháu đi. Chúng ta sẽ tặng Nữ hoàng một bữa tối và một màn giải trí mà bà sẽ nhớ mãi trong suốt thời gian trị vì của mình”.

“Cháu sẽ đi”, tôi ngoan ngoãn nói, “cảm ơn chú. Cảm ơn chú rất nhiều”. “Và cho tất cả thú cưng của cháu vào chuồng ngựa nhé”, chú nói với theo, “chú không muốn chúng làm bẩn tòa nhà mới của chú”.

Tôi nhốt Ribbon trong cái thùng du lịch của nó vì nó rất bất an và hay đi lang thang, nhưng tôi lén mang chú chó Jo và chú khỉ Nozzle vào phòng tôi. Tôi cho phép chúng chạy trong phòng. Chúa ban phước cho chúng, chúng là những sinh vật duy nhất trên đời này quan tâm đến tôi. Tôi sẽ không để chúng trong chuồng ngựa, dù chú tôi nói gì đi nữa.

Tôi trải qua buổi tối như một diễn viên già mệt mỏi đóng vai cô cháu gái yêu của chú tôi, người họ hàng được sủng ái thứ hai của Nữ hoàng – sau Nữ hoàng Mary xứ Scots – người kế vị được xưng danh của bà, với sự chính xác vô thức của kẻ mộng du. Tôi không nghĩ ra tôi có thể làm gì. Tôi không nghĩ ra ai sẽ giúp được tôi. Tôi không thể ngăn cản Henry Herbert kể câu chuyện ô nhục của tôi cho cha anh ta và toàn bộ triều đình. Ngay cả nếu tôi có thể tìm thấy những món đồ của anh ta và trả lại kịp lúc, tôi cũng không nghĩ anh ta sẽ giữ im lặng, niềm kiêu hãnh của anh ta bị tổn thương, tính kiêu ngạo của anh ta bị chọc tức. Vì vậy, tôi phải suy nghĩ kỹ – nếu anh ta nói ra và sỉ nhục tôi thì Nữ hoàng sẽ biết ngay, những người khác cũng sẽ biết, William Cecil và Robert Dudley, Phu nhân Clinton và chú tôi, bà ngoại kế của tôi, Catherine Brandon và dì tôi Bess St. Loe; tất cả những người đã hứa hẹn thiện chí với tôi trước đây giờ sẽ ghét bỏ tôi vì tôi là một cô gái dâm dục và dối trá.

Tôi nghĩ tôi phải nói với ai đó, có thể một người bạn của tôi và đứng giữa tôi với Nữ hoàng. Tôi phải chọn một người trong những nhân vật triều đình xu thời, hai mặt, và tư lợi này. Tôi phải tìm một người có thể chịu đựng sức nặng bí mật khủng khiếp của tôi, và hy vọng người đó sẽ đứng về phía tôi.

Tôi có thể nói với William Cecil – ông là vị cố vấn tốt nhất có thể chế ngự Nữ hoàng, và ông ủng hộ tôi vì tôi là một công nương và người kế vị có đức tin Kháng cách. Ông phản đối tất cả những người Công giáo, vậy nên ông luôn thích tôi hơn Nữ hoàng Mary xứ Scots hoặc dì Margaret Douglas. Tôi là công nương Kháng cách duy nhất. Ông có khả năng giúp tôi. Nhưng tôi không thể nói với ông được. Đơn giản là không thể. Tôi không thể nhìn vào đôi mắt nâu đó, đầy tin tưởng và buồn bã như một chú chó Spaniel, và nói với ông rằng tôi đã nói dối ông suốt nhiều tháng trời, rằng tôi đã bí mật kết hôn và ngủ với Ned, chồng tôi, và bây giờ tôi đã mất chàng, chàng đã đi xa – không biết đi đâu, cùng với chính con trai của Cecil – để tôi phải một mình đối mặt với cơn giận của Nữ hoàng. Điều đó thật quá sức tôi. Tôi không thể nói được. Tôi không thể nói được một lời nào. Thật nhục nhã khi phải thú nhận với một người như William Cecil.

“Chị ổn chứ?”. Em gái tôi Mary nắm lấy khuỷu tay tôi, ngẩng lên nhìn mặt tôi, “trông chị xanh xao lắm”.

“Chị buồn nôn”, tôi nói, “đừng nhìn chị. Chị không muốn ai nhìn chị cả”. “Có chuyện gì xảy ra với chị mấy hôm nay vậy?”, em ấy hỏi. “Chị có vẻ rất căng thẳng”.

Nước mắt tôi bỗng trào ra.

“Và lúc nào chị cũng khóc!”, em ấy than phiền. “Ned bỏ chị rồi phải không?”. “Vâng”, tôi nói, và từ đó tự nhiên rơi ra khỏi miệng tôi khi tôi thừa nhận sự thật. “Chàng nói chàng sẽ viết thư cho chị; nhưng mãi không thấy thư

đâu. Chàng nói sẽ đi trong vài tuần; nhưng chàng đã đi mấy tháng rồi. Chàng không trả lời thư của chị; và chị thậm chí cũng không biết chàng đang ở đâu nữa. Vậy đấy, thực sự chị phải nói là chàng đã bỏ chị. Chàng đã bỏ chị từ lâu rồi. Và chị không biết phải làm gì nếu không có chàng”.

“Còn Henry Herbert?”, em ấy gợi ý.

“Anh ta nổi giận với chị vì chị yêu Ned. Anh ta biết tất cả về điều đó.” Mary bĩu môi: “Chị không thể sống hạnh phúc mà không có một trong hai người họ sao?”.

“Chị đã hứa sẽ kết hôn với Henry”, tôi nói. Ngay cả lúc này, thậm chí tôi cũng không thể nói sự thật với em tôi, “chị cảm thấy cần phải hy sinh”.

Mary bật cười. “Lạy Chúa tôi! Chị của chúng ta đã chết trên đoạn đầu đài vì Ngôi Lời. Đó mới là hy sinh. Chị ấy chết vì chị ấy đã hứa với Chúa và sẽ không rút lời. Còn chị, chị để cuộc sống của chị bị hủy hoại chỉ vì một lời hứa cỏn con sao? Một lời hứa tình yêu? Với một gã đàn ông ư? Hãy quên lời hứa của chị đi! Phá vỡ nó đi!”.

“Chuyện này không giống chuyện của chị Jane”, tôi nói.

“Tất nhiên! Chúng ta phải cố gắng hết sức để không giống chị Jane. Chúng ta phải sống vì niềm vui và mưu cầu hạnh phúc cho chính mình. Một điều mà cái chết của chị Jane đã dạy chúng ta là cuộc sống này rất quý giá, mỗi ngày là một món quà mà chúng ta cần phải trân trọng. Chị thay áo đi! Bẻ cổ áo xuống! Rút lại lời hứa đi nào!”

“Đó không phải điều chị ấy muốn dạy chúng ta”, tôi nói, nghĩ đến câu “Hãy học cách chết”.

“Em không nghĩ chị ấy là một gia sư giỏi hay là một tấm gương tốt”, Mary thẳng thừng nói.

Tôi bị sốc như thể chú chó Jo bỗng nhiên đứng trên hai chân sau vậy. Tôi không hề nghĩ rằng cô em bé nhỏ của mình lại suy nghĩ chín chắn đến vậy. Tôi luôn cho rằng em ấy còn quá nhỏ để hiểu được chuyện gì đã xảy ra với chị Jane và – với nỗi ô nhục của tôi – tôi tưởng rằng vóc dáng nhỏ bé của em ấy có nghĩa là em ấy sẽ không nghe thấy mọi cuộc thảo luận và tranh cãi diễn ra từ trước đến nay ở phía trên cái mũ trùm đầu xinh xắn của mình.

Đôi mắt đen của em lấp lánh ánh nhìn như chọc tức tôi, và rồi em mỉm cười. “Em sẽ tìm ra triết lý của chính em và sống cuộc sống của chính em”, em ấy nói. “Và em sẽ không sợ gì cả”.

Em ấy đi ngang qua tôi vì có ai đó mời em ấy khiêu vũ. Tôi thấy em ấy xếp hàng cùng những cô gái khác với chiều cao gấp đôi nhưng không xinh đẹp bằng, và không ai trong số họ khôn ngoan bằng em ấy. Tôi nghĩ về Mary, không phải như một cô gái cao một mét, mà là một cô gái không biết sợ hãi, và tôi nghĩ – tôi không thể nói với Nữ hoàng, tôi không thể chịu nổi khi hủy hoại Mary.

Tôi nghĩ tôi sẽ nói với dì Bess – tức Phu nhân St. Loe. Dì ấy không phải một phụ nữ tốt bụng nhất thế giới, nhưng dì thương mẹ tôi và dì đã hứa sẽ đối xử tốt với tôi. Trong lễ tang mẹ tôi, dì ấy nói rằng tôi có thể đến với dì bất cứ khi nào. Dì là người có nhiều kinh nghiệm, từng lấy chồng ba lần, và tôi không nhớ hết số con của dì. Dì sẽ biết những dấu hiệu khi mang thai và khi nào em bé được sinh ra. Dì hiểu làm thế nào tình yêu có thể thúc đẩy bạn đi xa hơn những gì bạn có thể. Và, dì là một người thân tín với Nữ hoàng Elizabeth. Nếu dì có thể tiếp nhận câu chuyện của tôi với thiện chí thì chắc chắn dì có thể giúp tôi thú nhận với Nữ hoàng và làm cho mọi chuyện ổn thỏa.

Tôi đã quyết định, nhưng tôi không tìm được thời điểm phù hợp, hoặc thậm chí những từ ngữ phù hợp. Tôi không dám nói khi chúng tôi đang ở dưới mái nhà của chú tôi: Tôi không thể gánh nổi nguy cơ làm chú hổ thẹn. Nếu Nữ hoàng Elizabeth nổi giận, bà sẽ nổi giận với tất cả mọi người và tôi không thể để chú phải chịu đựng những tràng từ ngữ cay độc mà bà có thể tuôn ra khi bà nghĩ mình đang bị đối xử bất công. Vì vậy, tôi chờ đợi, khi chuyến tuần du chậm chạp tiến dần về hướng đông, ngày qua ngày, những ngày ẩm ướt và những cơn bão mùa hè – có đêm một cơn giông mạnh ập đến làm các ống khói lắc lư trên mái nhà và mọi người đều nghĩ thế giới đang đến hồi kết thúc – cho đến khi chúng tôi tới Ipswich, và rồi tôi bị một cơn đau, một cơn đau mới, trải dài từ đáy chậu đến xương sườn, và tôi nghĩ, Chúa ơi, tôi đang bị xẻ ra từng phần, và tôi phải nhờ dì Bess tìm ngự y, nếu không tôi sẽ chết vì bí mật này khi em bé thoát ra khỏi người tôi.

TƯ GIA NGÀI MORE, HIGH STREET, IPSWICH

MÙA HÈ NĂM 1561

Tôi chờ đến nửa đêm, mặc dù triều đình rất vui vẻ và thảnh thơi trong mùa hè này đến mức Nữ hoàng Elizabeth không muốn đi ngủ cho đến tận nửa đêm. Nhưng cuối cùng khi mọi thứ trở lại lặng im và những người hầu ngủ say bên những chiếc bàn lớn trong đại sảnh của nhà khách hoàng gia hoặc quấn mình trong chiếc áo choàng bên cạnh lò sưởi, tôi để Jo nằm ngáy pho pho trên chiếc gối của tôi, Nozzle nằm bên cạnh, còn chú mèo cuộn trong chiếc giỏ của nó, rồi rón rén đến phòng dì St. Loe và gõ cửa. Khi nghe tiếng dì Bess hỏi “Ai đó?”, tôi đẩy cửa rón rén bước vào.

Dì ấy ngồi ở giường, mặc đồ ngủ và đang đọc Kinh Thánh trong ánh nến, một chiếc mũ mềm giữ ấm khi ngủ thít chặt dưới cằm. Ơn Chúa, dì ấy ngủ một mình. Nếu dì ấy có người ngủ cùng có lẽ tôi không thể tâm sự gì được. Chồng dì đã khởi hành trước triều đình. Ông là đội trưởng đội cận vệ Nữ hoàng kiêm quản gia trưởng, vì vậy ông phải đảm bảo rằng nơi ở của Nữ hoàng và triều đình ở chặng dừng tiếp theo phải cao hơn những tiêu chuẩn thông thường. Và do đó dì Bess, chỉ mới làm vợ ông được hai năm, bị tách khỏi chồng mình để Nữ hoàng Elizabeth có thể được ở bên người tình với sự xa hoa nhất mà Ngài William St. Loe có thể xếp đặt. Tất cả mọi người đều chạy quanh bà, vị Nữ hoàng khó tính, như thể không phải bà ấy từng được nuôi dưỡng trong một ngôi nhà nhỏ, bằng lòng với những bộ quần áo cũ được cho, không có tên, tước hiệu hay bạn bè.

“Ai thế này?”, dì Bess hỏi, và khi nhìn thấy tôi, mỉm cười: “Ồ, Katherine, cháu yêu. Có chuyện gì thế? Cháu không khỏe à?”.

Tôi khép cửa lại rồi đi đến giường của dì.

“Dì Bess...”, tôi bắt đầu, rồi tôi đắn đo suy nghĩ, tôi không nói được gì cả. Tôi không thể nói với dì điều gì cả. Tôi không mở miệng ra được.

“Sao thế, Katherine? Có chuyện gì thế, cháu yêu?”, dì Bess hỏi, vẻ lo lắng. Tôi nghĩ, nếu tôi có một người mẹ nhìn tôi như thế, tôi sẽ nói với bà tất cả mọi chuyện.

“Cháu... cháu...”

Cái nhìn của bà thu hẹp lại. “Sao nào?”, bà hỏi, “cháu đang gặp rắc rối à?”. Để trả lời, tôi mở từng nếp gấp nặng nề của chiếc áo choàng đêm ra.

Bên dưới nó, chiếc áo ngủ trắng đang bám chặt vào bộ ngực lớn và vòng bụng căng phồng của tôi. Dì có thể nhìn thấy đường cong không thể nhầm lẫn của cái bụng to và cái rốn đang lồi ra dù tôi đã dùng vải quấn nó lại.

Dì đưa hai tay lên bịt lấy miệng, và phía trên những ngón tay ấy, đôi mắt nâu của dì mở to với một tiếng thét câm lặng.

“Chúa ơi, cháu đã làm gì vậy?”, dì Bess thều thào. “Cháu đã kết hôn”, tôi tuyệt vọng nói.

“Sao? Với Henry Herbert à?”

“Không, không, cháu chỉ hứa với anh ta khi cháu quá tuyệt vọng, nhưng anh ta biết đã chuyện này.”

“Chúa ơi!”

“Cháu đã kết hôn với Ned Seymour.” “Vậy ư?”

“Vâng. Nhưng chàng đã bỏ đi và không viết thư cho cháu.” “Cậu ta từ chối đám cưới à?”

“Cháu chẳng biết nữa. Cháu hy vọng là không.” “Cậu ta có biết chuyện này không?”

“Cháu không biết. Khi đó chúng cháu không chắc lắm. Nhưng Janey biết.” “Chuyện này có gì tốt cho ai chứ?”, Phu nhân Bess giận dữ nói. “Janey đã chết còn cậu ta thì mất tích. Có ai khác biết không? William Cecil?”.

“Không, không, cháu không thể nói với ông ấy. Cháu cũng không thể nói với Phu nhân Clinton, và cháu...”

“Vậy thế quái nào cô lại đi nói với tôi?”. Dì Bess rít lên, hai tay vẫn ôm lấy mặt, “làm quái gì mà cô lại đến đây nói với tôi hả?”.

“Cháu nghĩ dì sẽ giúp được cháu?”

“Không bao giờ!”, dì Bess thẳng thừng đáp.

“Nhưng mà, thưa Phu nhân St. Loe – mẹ cháu – người bạn cũ của dì? Dì đã hứa với cháu là...”

“Vâng, tôi quý mẹ cô. Bà ấy rất tốt với tôi khi tôi kết hôn với người chồng thứ hai tại nhà cô, và sau đó người chồng thứ ba. Nhưng nghe cho rõ này, bé con: kết hôn. Kết hôn chính thức, biết chưa! Bà ấy có mà giết chết cô còn hơn nhìn thấy cô trong tình trạng không chồng mà chửa thế này. Bà ấy sẽ không bảo tôi giúp cô đâu; bà ấy sẽ đuổi cô ra khỏi triều đình đến một nơi nào đó thật xa và cầu xin Chúa cho đứa trẻ bị chết non để cô có thể che giấu nỗi ô nhục này.”

“Phu nhân Bess...”

“Tôi không đủ uy tín”, bà nói thẳng như một chủ nhà băng xứ Genoa từ chối một khoản vay, “tôi không đủ sức để giúp cô vượt qua chuyện này. Mà cũng không có ai đủ sức cả. Không ai đủ sức làm việc này. Cô phải đi khỏi nơi đây”.

“Cháu không cần tiền...”

“Cô cần chứ!”. Dì ấy nói, “cần một cách tuyệt vọng. Cô cần một ngôi nhà, một người chồng, và một người có thể giúp cô giải thích chuyện này với Nữ hoàng. Tôi không có những thứ đó, mà nếu có, tôi cũng không chắc tôi sẽ trao toàn bộ thanh danh của mình trên đời này cho một cô gái ngu ngốc, ngu ngốc quá đỗi như cô”.

Tôi bắt đầu khóc thút thít. “Nhưng cháu không có nơi nào để đi cả...”, tôi không hề nghĩ dì ấy sẽ nổi giận với tôi như thế. “Cháu có thể đi đâu cơ chứ? Dì Bess, xin hãy làm ơn! Dì có nơi nào cho cháu đi không? Cháu không thể đến nhà dì được phải không?”.

Một lần nữa, dì bịt miệng để ngăn một tiếng thét. “Một người kế vị Tudor sinh ra trong nhà tôi? Một đứa trẻ mang nửa dòng máu Tudor và nửa dòng máu Seymour? Cô không biết bà ấy sẽ xem đó là một âm mưu à? Không! Không! Không! Cô không nghe thấy tôi nói gì sao? Nữ hoàng Elizabeth sẽ ném tôi ra khỏi triều đình chỉ cần bà ấy biết chúng ta đã nói về chuyện này, chỉ cần bà ấy biết là tôi biết chuyện này. Đi. Hãy đi ngay đi, và đừng nói cho bất kỳ ai là cô đã nói chuyện với tôi, vì tôi sẽ phủ nhận việc đó”.

“Nhưng cháu phải làm sao bây giờ?”, tôi hỏi.

Sự u ám phủ xuống gương mặt đầy kinh hoàng của dì Bess khi bà rướn đến ngọn nến bên cạnh giường. “Hãy trốn đi đâu đó, sinh nó ra, và cho nó cho ai đó – hoặc vứt nó đi nếu cần phải làm thế – rồi quay lại triều đình giả vờ như chuyện đó chưa bao giờ xảy ra”, dì ấy khuyên tôi, “và đừng bao giờ nói với bất cứ ai rằng cô đã nói chuyện với tôi chuyện này, vì chắc chắn tôi sẽ không bao giờ thừa nhận”.

“Dì Bess, cháu xin dì! Xin đừng tắt nến!”

Một tiếng phụt... và căn phòng chìm vào tăm tối.

Không thể tin được, tôi đứng im một lúc trong bóng tối, rồi dò dẫm đi về phía cửa.

Tôi quay về giường nhưng không tài nào ngủ được. Em bé lại trở mình một lần nữa, tôi nghĩ nó đã xuống thấp hơn vì bụng tôi không còn cao nữa. Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ có lẽ nó đã chết và đang co lại, và có lẽ đó là điều tốt nhất cho tôi. Nhưng sau đó nó lại vặn mình và đạp một cú mạnh đến nỗi tôi không thể giả vờ dù chỉ một khoảnh khắc là nó đã chết.

Nhưng, tôi bỗng cảm thấy một tình yêu bất ngờ với sinh linh nhỏ bé đáng thương này. Tôi không muốn con tôi chết. Tôi không thể mong nó chết. Khi Phu nhân St. Loe bảo tôi nên hy vọng đứa bé sẽ chết non, tôi nghĩ dì ấy thực sự là một con quỷ. Dì quá tàn nhẫn. Tôi cũng không cho bé cho ai cả. Tôi không hề nghĩ đến việc sẽ đè một cái gối lên gương mặt nhỏ bé của con mình rồi vứt nó xuống một rãnh nước. Tôi sẽ nhớ cái thổi tắt nến và bóng tối này cho đến lúc chết. Sao dì ấy lại có thể làm như vậy? Nhưng không ích gì khi ngồi than vãn về Phu nhân Bess trong khi tôi cần phải suy nghĩ xem tôi có thể làm gì và có thể đi đâu.

Tôi lau nước mắt và bật dậy. Tôi phải làm gì đó ngay lập tức: cơn đau giống như một cái kẹp bấm thẳng vào bụng tôi. Có điều gì đó sắp xảy ra. Dù dì Bess nói rõ rằng sẽ không làm gì cho tôi cả nhưng dì ấy đã cho tôi một ý tưởng – tôi nên trốn khỏi triều đình và sinh con trong bí mật, có lẽ tôi sẽ để nó lại cho một gia đình tử tế rồi quay lại triều đình. Khi Ned trở về, nếu chàng có trở về, và nếu chàng vẫn còn yêu tôi, nếu tất cả chuyện này là một sai lầm khủng khiếp, thì chúng tôi có thể xin phép kết hôn, tuyên bố chúng tôi là vợ chồng và sinh ra đứa trẻ, người kế vị mới của ngai vàng nước Anh.

Ít nhất Robert Dudley sẽ vui vì chuyện này. Nữ hoàng Elizabeth sẽ có một hoàng nam kế vị mà bà có thể đề cử; bà sẽ tự do kết hôn với anh ta. William Cecil sẽ rất vui khi thấy một người kế vị Kháng cách trong nôi. Nhưng tôi phải tìm một nơi nào đó để sinh con, nơi mà bí mật của tôi sẽ được an toàn.

Tôi ước mình có thể trở về ngôi nhà cũ của chúng tôi ở Bradgate, nhưng mọi người đều biết tôi ở đó, và tin tức sẽ đến tai triều đình nhanh như chớp. Tôi ước gì có thể đến Hanworth và ở nhà Ned; nhưng mẹ chàng đã không ủng hộ cuộc hôn nhân của chúng tôi khi chúng tôi hỏi bà, tôi không nghĩ bà sẽ hoan nghênh tôi đến một mình, Janey đã mãi mãi không còn ở đó, dù cô ấy đã hứa với tôi. Tôi không dám đến những nơi không được chào đón và không dám nói với mẹ Ned vì sao tôi cần một chốn nương thân. Tôi không thể nói với chú tôi, không thể tự nói sự thật với ông, và tôi sẽ không mang điều ô nhục của tôi đến cửa ngôi nhà mới của ông. Tôi cần một người có đất đai rộng lớn, có nhiều nhà cửa, và có thể cho tôi một nơi ẩn náu cho đến khi con tôi ra đời. Một người có thể trả tiền bảo mẫu và hối lộ mọi người để giữ bí mật cho tôi. Một người có can đảm che giấu tôi trước Nữ hoàng, một người sẽ chấp nhận nguy cơ Nữ hoàng không hài lòng dù tôi cho bà một người kế vị theo Tin lành Kháng cách.

Tôi nghĩ người đó chỉ có thể là William Cecil hay Robert Dudley; không ai khác có được thứ mà Phu nhân Bess gọi là “uy tín”, như thể tất cả chúng tôi đều là những kẻ keo kiệt, chỉ biết tích trữ uy tín của riêng mình mà không biết cho đi. Tôi không thể tự nói ra chuyện tình cảm và những lời hứa bí mật với William Cecil được. Ông lớn tuổi và đáng kính, ông nói chuyện với tôi như một ông bác quý mến. Tôi thà sớm thú nhận với chú Grey của tôi hơn là nói với William Cecil. Ngoài ra, ông đã hỏi tôi và tôi đã nói dối một cách trơ trẽn trong suốt quá trình mang thai kéo dài này, và ông sẽ không quên điều đó. Nhưng Robert Dudley thì luôn luôn tử tế với tôi. Anh ta là bạn Ned, anh ta công nhận tầm quan trọng của tôi như người kế vị ngai vàng. Anh ta đã hồi phục danh tiếng sau khi giết vợ; uy tín của anh ta trong triều đình rất tốt. Anh ta sở hữu hàng chục căn nhà mà Nữ hoàng trao tặng – chắc chắn anh ta có thể giấu tôi vào một trong những căn nhà đó. Tôi quyết định sẽ nói với anh ta vào buổi sáng. Tôi nằm xuống cố ru giấc ngủ của mình.

Tôi trở mình, rồi lại trở mình lần nữa. Nằm trên giường không có ý nghĩa gì cả. Tôi cố nâng mình lên như một con cá voi mắc cạn hết bên này đến bên kia nhưng vẫn không cảm thấy thoải mái với đứa trẻ đang ép lên ngực đến mức tôi không thở nổi. Đứa bé gò trong bụng nên tôi lại phải ngồi dậy đi tiểu vào cái bô dùng ban đêm. Tâm trí tôi như đang chạy đua và có tiếng thình thịch trong tai như thể tôi đang gặp nguy hiểm tột cùng. Có lẽ tôi không ngủ được cho đến khi thú nhận với Robert Dudley và anh ta hứa cho tôi một nơi trú ẩn. Tôi chắc chắn anh ta đi ngủ trễ. Tôi nghĩ mình nên đến gặp anh ta ngay lập tức, nói với anh ta ngay, rồi phó mặc vận may và số phận của mình cho anh ta định đoạt.

Quyết tâm bất ngờ ấy đã đưa tôi đến cửa phòng Dudley và tôi gõ nhẹ. Cánh cửa nhanh chóng mở ra như thể ai đó đang đứng ngay bên trong, và người hầu của Robert, Tamworth, đang nhìn ra ngoài hành lang.

“Ồ, Công nương Katherine!”. Anh ta thốt lên, sau đó bước ra nắm tay tôi kéo nhanh vào trong. “Đừng đứng đó, nhỡ có ai nhìn thấy cô”.

Tôi khép cửa lại và nhìn thấy một người đang chuyển động trên chiếc giường bốn cọc lớn. “Nào, xin chào!”. Dudley nói với một tiếng cười phấn khích và tung chăn đứng dậy, lõa lồ như đang chờ đợi người tình của mình. Nhưng khi nhìn thấy gương mặt đầy kinh ngạc của tôi, anh ta lùi lại, kéo một góc chăn quấn quanh eo. Anh ta có đôi vai rộng và bờ ngực săn chắc, mạnh mẽ. Tôi không thể không tự hỏi anh ta đang chờ ai, trần truồng trên giường, đẹp trai đến mức làm người đối diện phải tối tăm mặt mũi, và mơ màng chờ đợi cho đến khi người tình đến với mình. Tôi không thể không nhận ra rằng anh ta đã chuẩn bị khá tốt, và tôi nghĩ bất kỳ người phụ nữ nào cũng vui mừng khi Tamworth đưa cô ta vào chiếc giường này, như rõ rành rành anh ta vẫn thường làm.

“Anh có thể đi, Tamworth”, Dudley nói ngắn gọn, “đợi bên ngoài, nhớ giữ cửa”.

Tamworth khoác áo choàng lên bên ngoài chiếc áo ngủ rồi bước ra ngoài. Tôi nghe tiếng ghế kêu cọt kẹt khi anh ta ngồi ngoài hành lang để bảo vệ cho sự riêng tư của chúng tôi. Tôi thấy anh ta biết chính xác mình phải làm gì.

Robert liếc nhìn một cánh cửa khác trong phòng ngủ của mình. “Nói khẽ thôi nhé!”, anh ta bảo tôi.

“Phòng của Nữ hoàng à?”. Tôi không thể tin rằng ngay cả trong một cuộc tuần du mà họ cũng ở trong hai phòng ngủ liền kề. Vậy là mọi tin đồn đều là sự thật.

“Đừng bận tâm. Hãy thấp giọng xuống”, anh ta khẽ đi đến cánh cửa kế bên và trượt then cài khóa lại. “Cô cần gì, Công nương Katherine? Cô không nên ở đây”.

“Tôi gặp rắc rối, tôi đang gặp một rắc rối khủng khiếp!”, tôi nói. Anh ta gật đầu: “Chuyện gì thế?”.

Tôi hầu như không biết bắt đầu từ đâu. “Ned Seymour và tôi đã bí mật đính hôn”, tôi bắt đầu.

Đôi mắt đen của anh ta nhìn tôi chằm chằm. “Thật ngu ngốc!”, anh ta nói ngắn gọn.

“Và chúng tôi đã bí mật kết hôn.” Cái nhìn của anh ta hẹp lại. “Điên!”.

“Sau đó, chàng đi Pháp và giờ đang ở Ý với Thomas Cecil.” Đến lúc này thì anh ta không nói gì cả, mà chỉ nhìn tôi. “Và tôi đang mang thai.”

Anh ta há hốc miệng: “Chúa ơi!”.

“Tôi biết”, giọng tôi run rẩy, nhưng lần đầu tiên tôi không khóc. Tôi nghĩ tôi đã đến ngưỡng không thể khóc được nữa. Tôi nhục nhã tột cùng khi thổ lộ một bí mật đáng hổ thẹn cho người tình của Nữ hoàng trong phòng ngủ của anh ta vào lúc nửa đêm. Nhưng đó là cách duy nhất tôi có thể nghĩ đến để tồn tại sau chuỗi sự kiện khủng khiếp này.

“William Cecil có biết không?”

Tôi nghĩ – thế đấy. Tôi đã trở thành một quân bài được chơi bởi những tay chơi lớn.

“Không, tôi đã tìm đến ngài. Chỉ có ngài thôi.”

“Chà, cô không nên tìm đến tôi”, anh ta nói thẳng thừng, “để nói một chuyện như thế này”.

“Thế thì tôi biết tìm đến ai?”, tôi đáp, “vì tôi không có bạn bè, vì tôi là một đứa trẻ mồ côi”, tôi nhìn ánh mắt tối sầm nghiêm khắc của anh ta. “Tôi không có chị gái để được khuyên nhủ”, tôi nhắc nhở anh ta, người có can dự vào âm mưu đưa chị tôi đến cái chết. “Tôi cũng không còn cha”, cũng là do anh ta cả đấy, tôi cay đắng nghĩ.

Anh ta đi một vòng quanh căn phòng, trùm một chiếc áo lanh qua đầu và mặc một chiếc quần đi ngựa vào. “Lẽ ra cô nên tìm gặp Nữ hoàng từ rất sớm chứ không phải đợi đến nước này”.

“Vâng, nhưng giờ thì tôi không thể đi được nữa”, tôi phản đối. “Tôi nghĩ ngài có thể cho tôi ở một trong những căn nhà nhỏ của ngài, đâu đó thật xa, và tôi sẽ sinh con”.

“Không bao giờ!”, anh ta đáp. “Vụ tai tiếng này sẽ bùng nổ và vượt xa những gì cô có thể tưởng tượng. Mọi người sẽ nghĩ đó là con tôi, hoặc họ cho rằng cô chính là Nữ hoàng bí mật sinh con cho tôi. Cô sẽ hạ bệ ngai vàng. Cô có nghĩ...”, và anh ta bật ra một tiếng rủa, “không, cô không nghĩ vậy, phải không nào?”.

Anh ta nói đúng. Tôi không nghĩ đến điều đó. Tôi không còn khả năng suy nghĩ đúng nữa.

“Cô không thể chọn một thời điểm tồi tệ hơn thế này!”. Anh ta gần như nói với chính mình. “Nữ hoàng Scotland đang quay lại Edinburgh mà không ký hiệp ước hòa bình...”.

“Tôi sắp sinh rồi”, tôi nói huỵch toẹt. “Cho dù Mary xứ Scots có chiếm ngôi bà ấy hay không thì tôi cũng sắp sinh rồi. Tôi phải đi đâu đó”.

Anh ta đưa tay vuốt mái tóc xoăn màu sẫm, “Khi nào?”. Tôi nhìn anh ta, “Khi nào là sao, thưa ngài?”.

“Em bé của cô ấy, khi nào nó được sinh ra?”

“Tôi không biết”, tôi nói. “Tôi không biết chắc, nhưng không lâu nữa đâu, tôi nghĩ thế”.

“Vì Chúa!”, anh ta quên mất phải giữ im lặng nên cao giọng. “Cô phải biết cô đã ngủ với cậu ta khi nào. Cô phải biết là vào khoảng thời gian nào chứ!”.

“Chúng tôi kết hôn vào tháng Mười hai, tại nhà chàng”, tôi nói và mỉm cười khi nhớ đến cảnh tôi và Janey bước đi chao đảo trong bùn khi chúng tôi đi dọc bờ sông đến nhà Ned.

“Vậy là tháng sau”, Robert nói. “Thế ư?”

“Áng chừng là vậy. Thường là chín tháng.”

“Thế à?”

“Cô không biết gì cả sao? Ôi lạy Chúa! Cô đã tìm bà đỡ chưa?”

Tôi không thể thú nhận là chúng tôi đã gần gũi với nhau trước khi cưới. “Làm sao tôi có thể tìm bà đỡ được?”.

Cơn giận dữ của anh ta đột nhiên biến mất khi nhận ra rằng tôi thật đơn độc. Tôi không có mẹ để tư vấn, chị tôi đã chết, và tôi không có người bạn nào thay cho Janey cả. Tôi đã rất suy sụp nên mới phải tìm đến anh ta. “Đúng thế, tất nhiên rồi”, anh ta thầm nói, “cô em đáng thương ạ”.

“Tôi cầu mong ngài giúp tôi”, tôi nhún nhường nói. “Hãy vì chị Jane của tôi. Chị ấy đã kết hôn với em trai ngài. Đó là kế hoạch của cha ngài. Kể từ đó không có gì đúng cả”.

Anh ta giơ tay ngắt lời tôi. “Đừng nói một lời nào về cô ấy nữa, và cô không có nghĩa vụ nhắc đến tên cô ấy. Không phải trong tình trạng của cô”.

“Tôi là một phụ nữ đã kết hôn”, tôi kiên quyết nói. “Bà ấy không thể buộc tội tôi kết hôn vì tình yêu”.

“Vậy chồng cô đang ở đâu?”

Tôi lắp bắp: “Ngài biết là tôi không biết”. “Không có tin tức gì của cậu ta à?”

Tôi lắc đầu.

Robert Dudley quăng mình xuống chiếc ghế bên lò sưởi nhưng anh ta không mời tôi ngồi. Tôi vịn vào lưng của một chiếc ghế khác và tựa người vào nó. Anh ta cầm một con dao trên bàn rồi quay nó hết cạnh này sang cạnh kia để bắt ánh sáng trong lúc suy nghĩ.

“Cô chắc chắn đó là con của Ned chứ”, anh ta hỏi. “Hãy cho tôi biết toàn bộ sự thật, ngay bây giờ!”.

“Chắc chắn rồi!”. Tôi nói và nuốt nghẹn những lời xúc phạm. “Và khi quay về, cậu ta sẽ thừa nhận chứ?”

“Chàng không thể phủ nhận điều đó.”

“Cô có bằng chứng nào cho cuộc hôn nhân của cô không?”

Để trả lời, tôi chỉ cho anh ta xem sợi dây trên cổ tôi, viên kim cương đính hôn và chiếc nhẫn cưới có năm mắt xích.

“Tôi đã thấy chiếc nhẫn”, anh ta nói khô khan. “Ai là nhân chứng của cô?”. “Janey”, tôi đáp, “nhưng cô ấy đã chết”.

“Nhưng phải có những người khác chứ?” “Chỉ có một mục sư.”

“Một mục sư hợp pháp?” “Một người Janey biết.”

Anh ta gật đầu. “Và cô có những lá thư của Seymour chứ. Cậu ta có chu cấp tiền cho cô không? Cậu ta có cho cô chứng thư sở hữu đất đai không?”.

“Tôi có thư đính hôn và di chúc của chàng, trong đó chàng gọi tôi là vợ và là người thừa kế”, tôi tự hào nói.

Robert gật đầu.

“Ngoài ra, tôi còn có một bài thơ của chàng nữa”, tôi nói.

Anh ta đặt tay lên trán và dụi mắt, như thể đang cố nhịn cười. “Đừng bận tâm đến nó. Giờ thì cô nghe đây, Katherine. Tôi không thể tìm chỗ trú ẩn cho cô được. Điều đó sẽ khiến mọi việc trở nên tồi tệ hơn với cô và rất tệ cho tôi. Tôi sẽ nói với Nữ hoàng những gì cô đã nói với tôi và cô sẽ phải đối mặt với bà ấy. Bà ấy sẽ rất tức giận. Cô không nên kết hôn khi chưa có sự cho phép của bà ấy, vì cô là một trong những người kế vị ngai vàng, chồng cô rất quan trọng đối với sự an toàn của lãnh thổ này. Nhưng chuyện đã rồi, và cảm ơn Chúa, cô hẳn có thể làm những việc tồi tệ hơn nhiều. Cậu ta không phải một gián điệp Tây Ban Nha hay một tín đồ Công giáo, cậu ta không có quyền lợi gì ở Scotland. Cậu ta thuộc về một gia đình tốt – một nhà Kháng cách, cảm ơn Chúa, và được nhiều người yêu mến – và cô đang mang thai, nếu cô sinh ra một cậu bé, điều đó có thể làm giảm áp lực cho bà ấy”.

“Bà ấy có thể kết hôn với người mà bà ấy yêu, nếu bà ấy có một hoàng nam kế vị người Anh theo Kháng cách”, tôi nhận xét.

Đôi mắt đen của Dudley liếc nhìn tôi. “Có thể”, anh ta đồng ý, “nhưng đó không phải là chuyện của cô. Đừng cố tỏ ra khôn ngoan. Rõ ràng là cô không khôn ngoan cho lắm. Giờ thì cô hãy đi về phòng mình. Sáng mai hãy rửa mặt, thay y phục và làm tóc sẵn sàng, chờ tôi cho lệnh gọi cô đến. Tôi sẽ đánh thức Nữ hoàng sớm và nói với bà ấy những gì cô đã nói với tôi”.

Tôi định nói anh ta không thể đánh thức Nữ hoàng và không ai có thể vào phòng ngủ của bà buổi sáng cho đến khi bà ra lệnh. Nhưng tôi nhớ ra cánh cửa thông nhau và tôi thấy Robert Dudley có thể ra vào tùy ý.

“Ngài hãy nói với bà ấy rằng tôi rất, rất xin lỗi”, tôi nói thầm. “Ned và tôi yêu nhau. Tôi vẫn yêu chàng. Tôi sẽ không bao giờ yêu ai khác ngoài chàng. Tôi không hề làm việc đó để xúc phạm bà ấy. Tôi không nghĩ gì cả ngoài việc tôi quá yêu chàng”.

“Tôi sẽ cố hết sức giải thích”, Robert nói ngắn gọn, “nhưng tôi có thể nói ngay với cô rằng bà ấy sẽ không hiểu được. Cô về đi”.

Suốt buổi sáng tôi ngồi trong phòng chờ lệnh triệu vào triều của Nữ hoàng Elizabeth. Tôi cảm thấy buồn nôn vì sợ hãi. Hàng tháng trời tôi lên cơn nghén mỗi buổi sáng; giờ thì tôi buồn nôn vì sợ Nữ hoàng. Tôi tự hỏi có bao giờ tôi có thể cảm thấy bình thường lại không, có bao giờ tôi được sống hạnh phúc trở lại như xưa không. Tôi nghĩ về người chị đáng thương của mình và cách chị ấy đã chờ đợi như thế nào để nghe lệnh từ người chị của vị Nữ hoàng này quyết định xem chị sẽ được sống hay phải chết. Tôi nghĩ thật kỳ quặc, độc ác và không thể hiểu nổi khi chị Jane phải chết vì đức tin của mình, còn tôi thì phải sợ đến chết vì tình yêu, và chúng tôi sẽ không bao giờ có thể nói về điều này nữa. Tôi sẽ sinh cháu trai của chị ấy, nhưng em bé không bao giờ biết đến chị ấy.

Khoảng giữa trưa, một trong các thị nữ, bà Peggy, ló đầu qua cửa và nói: “Bà ấy cho gọi cô. Chúng ta định đi chơi trên sông. Cô khéo chọn một ngày tồi tệ để xin nghỉ nhỉ!”.

“Bà muốn gặp tôi à?”, tôi đứng dậy và định thần trong giây lát, cố phớt lờ cảm giác choáng váng trong đầu.

“Bà ấy chỉ muốn biết cô đang ở đâu. Tôi nói cô ngủ quên. Nhưng tốt hơn cô nên xuất hiện đi.”

Tôi nhìn lướt hình ảnh mình qua chiếc gương nhỏ bằng bạc. Những sắc thái nhẹ nhàng của hình phản chiếu cho tôi thấy một vẻ đẹp: làn da màu kem, tóc vàng, mắt sẫm.

“Nhanh lên nào”, Peggy tỏ vẻ không hài lòng, “họ đang lên thuyền đấy!”. “Bà ấy muốn tôi đi ra sông à?”

“Không phải tôi mới nói sao?”

Tôi vội vã đi theo Peggy ra bến tàu. Tôi không thể tin rằng Nữ hoàng Elizabeth sẽ thẩm vấn tôi trong lúc đi thuyền trên sông. Tôi nghĩ bà sẽ gọi tôi ngay khi Robert Dudley vừa nói chuyện xong. Tôi không hiểu điều gì đang xảy ra. Nữ hoàng Elizabeth đã không vui từ khi mới đến Ipswich. Thị trấn này rất nhiệt tình ủng hộ tôn giáo Kháng cách, trong khi Nữ hoàng Elizabeth khao khát những phương cách cũ của Giáo hội. Các mục sư ở đây được có vợ, còn Nữ hoàng Elizabeth mong đợi một linh mục độc thân mặc những chiếc áo choàng lộng lẫy nhất. Bà là một sự pha trộn ngớ ngẩn giữa Tin lành Kháng cách và Công giáo La Mã. Bà không nghiêm túc với đức tin như chị Jane. Họ hứa hẹn với bà một buổi ca vũ kịch trên sông để giảm bớt sự khó chịu cho bà, và tất cả chúng tôi đều phải ngồi trên một trong những con thuyền thương mại tuyệt vời này để ăn tối và thưởng thức màn trình diễn được chuẩn bị để giải trí cho Nữ hoàng Elizabeth.

Robert Dudley ngồi bên cạnh bà và anh ta phản hồi cái nhìn đầy lo lắng của tôi với một biểu hiện hoàn toàn trống rỗng. Rõ ràng tôi không tìm được sự giúp đỡ gì từ anh ta cả. Nữ hoàng Elizabeth nghiêng đầu khi tôi nhún gối chào nhưng không triệu tôi đến. Bà không tức giận mà cũng không đồng cảm, bà trông bình thường – lãnh đạm như thể chưa ai nói gì về tình trạng của tôi vậy. Trong một khoảnh khắc, tôi nghĩ có thể Dudley chưa nói gì với bà cả, có thể anh ta không đủ can đảm vào phút cuối. Thế rồi anh ta đưa tay ra dấu một cử chỉ nhỏ cho tôi từ phía sau ngai vàng, cảnh báo tôi đừng nói gì hay làm gì cả. Tôi nhún gối chào một lần nữa và lui xuống.

Con thuyền được neo lại, thủy triều xuống khiến nó bị kéo căng giữa sợi dây thừng với những tảng đá và trở nên tròng trành. Đó là một sự rung lắc khủng khiếp, vừa chuyển động hai bên vừa lên xuống cùng một lúc. Cảm giác tệ hơn nhiều so với đi trên một chiếc thuyền rồng. Tôi có thể cảm thấy chất dịch trong cổ họng tôi trào lên và miệng tôi đầy nước muối.

“Chúng ta ăn tối nào!”. Nữ hoàng Elizabeth nói như thể bà đọc được gương mặt trắng bệch của tôi và biết rằng tôi sợ sẽ không chịu đựng nổi và sẽ nôn mửa. “À”, bà nói, “với món hàu!”.

Món hàu Colchester nổi tiếng được dọn ra mời Nữ hoàng và bà liếc mắt nhìn Robert Dudley: “Có đúng là chúng làm tăng ham muốn tình dục khi dùng một cách khinh suất không?”.

“Không phải chỉ khi dùng thiếu thận trọng”, anh ta trả lời, và cả hai người cùng cười lớn.

“Có lẽ những trinh nữ như ta và Công nương Katherine đây không nên nếm thử chúng?”, bà nói. Người phục vụ tiếp nhận gợi ý, ngay lập tức chuyển đĩa hàu lớn của Nữ hoàng Elizabeth sang cho tôi. Với cái nhìn tối tăm của bà về phía tôi, tôi phải lấy một con.

“Điều đó tùy thuộc Người có thích mùi vị của nó không”, Robert giải thích, “thần, bản thân thần, ăn bao nhiêu cũng được”.

Bà cười và đập vào tay anh ta khi anh ta đang với ra lấy một con khác trong khi bà nhìn tôi. Tôi không thể từ chối ăn một món quà từ đĩa của Nữ hoàng, và tôi nâng con hàu lên miệng. Mùi rong biển và cái vỏ hàu dính nhớp thật quá sức chịu đựng đối với tôi. Tôi biết tôi không bao giờ có thể ăn nó vào lúc này. Tôi biết tôi sẽ khiến mình bị hổ thẹn trước triều đình. Tôi có thể nghe mùi dịch vị trong miệng, tôi cảm thấy bụng tôi quặn lên.

“Chúc ngon miệng!”. Nữ hoàng nói với tôi, đôi mắt sắc lạnh của bà nhìn thẳng vào gương mặt tái xanh của tôi.

“Chúc ngon miệng, thưa Nữ hoàng”, tôi nói, sau đó tôi há miệng đổ nó vào và nuốt xuống. Tôi ngậm chặt miệng như một cái bẫy với đôi môi mím chặt.

Nữ hoàng cười to đến mức bà phải vịn vào tay Robert. “Nhìn mặt cô ấy kìa!”, bà kêu lên. “Ăn một con nữa đi!”, bà khẩn khoản. “Ăn thêm đi”.

Tôi không thể nói chuyện riêng với Robert Dudley cho đến buổi tối sau giờ cầu nguyện. Tôi đến cạnh anh ta khi chúng tôi ở trong đại sảnh. “Ngài đã nói với bà ấy chưa?”, tôi hỏi.

“Tôi đã nói; nhưng bà ấy sẽ không nói về chuyện đó cho đến khi chúng ta quay lại London”, anh ta đáp và liếc nhìn về phía chiếc bàn trên cùng, vừa lúc mái tóc màu đồng của Nữ hoàng quay lại tìm anh ta. “Xin lỗi”.

“Bà ấy không giận sao? Bà ấy sẽ tha thứ cho tôi chứ?”

“Tôi không biết”, anh ta nói, “bà ấy bảo rằng bà ấy sẽ không nói về chuyện đó cho đến khi về lại London. Cô nghĩ sao?”.

Tôi không biết phải nghĩ thế nào, ngoại trừ mỗi ngày của cuộc tuần du khiến tôi càng đến gần ngày sinh hơn và người duy nhất có ý kiến về vấn đề này – Robert Dudley (trong số tất cả những bà đỡ mà một cô gái trẻ có thể chọn) – cho rằng đứa trẻ sẽ chào đời vào tháng Chín. Cảm ơn Chúa vì chúng tôi sẽ quay lại London vào tháng Chín và Nữ hoàng sẽ cho tôi biết tôi phải làm gì. Không có gì tệ hơn cuộc thử thách du ngoạn hằng ngày này, những đêm giải trí khốn khổ, và nỗi sợ bị phát hiện mỗi ngày.

CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON

MÙA HÈ NĂM 1561

Tôi được phép quay về London trước khi chuyến tuần du kết thúc. Không ai nói tại sao, nhưng tôi xem đó là một ân huệ mà Robert Dudley dành cho tôi, dù anh ta không nói gì cả và Nữ hoàng cũng rất nhẹ nhàng như thể anh ta chưa nói gì với bà. Tôi đi ngay vào kho tàng hoàng gia để tìm những đồng xu mà Henry Herbert đã tặng tôi làm tín vật, nhưng cái hộp tôi cất những thứ tài liệu quý giá – hôn ước của Ned với tôi, di chúc ngọt ngào của chàng, và những lá thư tình của Herbert – không có ở nơi mà tôi đã để nó.

“Cô đã mang nó theo mà!” người hầu của tôi nói, “Vì cô nói rằng nó rất quý giá với cô nên cô đã mang nó theo chuyến tuần du”.

“Nhưng tôi đã viết thư bảo Tabitha tìm nó ở đây, và bà ấy trả lời là nó đã mất tích. Nó không có ở chỗ tôi. Chúng tôi không mang nó theo.”

Bà ấy có vẻ bối rối. “Tôi chắc chắn tôi đã đóng gói nó. Tất cả nữ trang của cô đều an toàn chứ?”.

“Nữ trang của tôi không liên quan gì cả!”, tôi kêu lên. “Tôi nhớ rõ ràng tôi đã bảo bà mang một hộp tài liệu cho người giữ phòng trang phục cất nó vào phòng trang sức cho tôi”.

“Ồ, cái hộp đó!”, bà kêu lên, gương mặt bà sáng ra, “có, tôi đã mang nó đi cho cô”.

“Ồ, vậy bà đi tìm nó đi. Sao bà không nhớ ra ngay lập tức?”. Bỗng nhiên tôi cảm thấy mệt mỏi và ngồi phịch xuống giường. Có tiếng gõ cửa phòng, tôi bật dậy chạy ra mở cửa. Bên ngoài là Đội trưởng đội Vệ binh Hoàng gia và một số vệ binh đứng phía sau ông.

“Công nương Katherine Grey”, ông ta nói.

“Tôi đây”, tôi nói, “có chuyện gì?”.

“Bà đã bị bắt!”, ông ta nói. “Bà được lệnh đi cùng tôi đến Tháp London”. “Cái gì?” đơn giản là tôi không hiểu ông ta vừa nói gì.

“Bà đã bị bắt. Bà sẽ đi cùng tôi đến Tháp. Bà có thể mang theo ba người hầu. Họ sẽ đi theo chúng ta với những đồ dùng và quần áo bà yêu cầu.”

“Sao cơ?”

Ông ta không trả lời tôi, bước vào phòng và cúi chào, cánh tay hướng ra cho thấy tôi nên đi ra ngoài qua cánh cửa mở. Em bé trong bụng tôi chuyển động với một cơn gò. Tôi đi theo hướng dẫn của viên đội trưởng. Ông ta đặt nhẹ tay vào lưng đẩy tôi đi và tôi run rẩy. Tôi không thể chịu được khi bị chạm vào người. Tôi không muốn ông ta đặt bàn tay nặng nề của ông ta ở bất cứ nơi nào gần bụng tôi, khi đứa trẻ có thể đột ngột đá một cú khiến tôi không thở nổi.

“Hướng này”, ông ta nói, nghĩ rằng tôi sắp khóc, “và vui lòng đừng gây rối, thưa Công nương”.

Tôi không hề gây rối, tôi lặng lẽ vâng lời, choáng váng như một con bò bị đập búa vào giữa trán và lê bước theo gã đồ tể. Những người hầu của tôi tụ tập như một đàn gà hoảng hốt trước cửa phòng tôi, nhìn tôi kinh hoàng như thể tôi bị mắc bệnh dịch và họ muốn kéo chiếc váy của họ lại vì sợ lây nhiễm; nhưng tôi gần như không nhìn thấy họ. Tôi không thấy gì cả bởi chính mình cũng đang bị sốc.

“Tháp ư?”, tôi tự nhủ, nhưng từ đó không có ý nghĩa gì đối với tôi cả. Viên đội trưởng đi trước, các vệ binh đi sau tôi, trông như một đám rước. Tôi đi theo ông ta. Tôi không biết tôi có thể làm gì khác nữa. Nhưng tôi thực sự không biết chuyện gì đang xảy ra.

“Tôi phải mang theo con chim hồng tước”, tôi đột ngột nói, “và con chó nhỏ của tôi. Và tôi có một con mèo, một con khỉ, một con vật rất quý đấy!”.

“Những người hầu sẽ mang chúng cho bà”, ông ta nghiêm trang nói, liếc về phía sau để đảm bảo tôi vẫn đang bước đi. Tôi đi theo ông ta rời cung điện, đi qua các khu vườn và hướng đến bờ sông. Tôi nhìn quanh để xem có ai mà tôi quen biết có thể giúp tôi chuyển một tin nhắn không, nhưng tôi biết nhắn tin cho ai? Và dù sao thì tin nhắn đó sẽ nói gì?

“Có phải về người Tây Ban Nha không?”, tôi hỏi. “Vì tôi không nói chuyện với họ, và tôi đã kể với William Cecil mọi điều họ từng nói với tôi”.

Chúng tôi im lặng đi qua cánh cổng đến bến tàu. Sĩ quan gác cổng của Nữ hoàng, Thomas Keyes, đang đứng trực. Anh ta mở cổng cho chúng tôi và cúi chào tôi bằng chiều cao khổng lồ của mình. “Kính chào Công nương”, anh ta hô to một cách kính cẩn.

“Chào anh Keyes”, tôi nói trong vô vọng.

Viên đội trưởng dẫn chúng tôi ra bến tàu, nơi có một chiếc thuyền đang đợi bên bậc tam cấp nhưng không có cờ hiệu. Anh ta đưa tay giúp tôi xuống tam cấp và tôi bước cẩn thận, ý thức về cái bụng to và trọng lượng khiến tôi nghiêng về phía trước. Tôi bước lên tấm ván cầu và ngồi xuống phía sau thuyền. Có một tấm bạt che ánh nắng chiều và che khuất tôi khỏi tầm nhìn của mọi người từ cung điện. Tôi tự hỏi có phải William Cecil đã bị thất sủng, như các cố vấn của Vua Henry từng bị như thế, và liệu có sai lầm khi nhắc đến tên ông ấy không. “Tôi cũng đã báo cho Robert Dudley”, tôi nói, “tôi không bao giờ phản bội lòng trung thành đối với Nữ hoàng và đức tin của bà”.

“Tôi được lệnh áp giải bà. Tôi không biết gì khác”, viên đội trưởng nói. Các thủy thủ rút neo và nâng mái chèo lên, thuyền được đẩy ra khỏi bến và lướt đi trên mặt nước. Người đánh trống gõ một tiếng và mọi người khua mái chèo, chiếc thuyền chồm lên phía trước khiến tôi lắc lư trên ghế. Từng tiếng trống vang lên và chiếc thuyền rung lắc tôi theo từng nhịp chèo. Ánh mặt trời chiếu xuống rực rỡ trên mặt sông; em bé nặng nề trong bụng tôi. Tôi đã sợ khủng khiếp và tôi không biết còn phải sợ điều gì nữa. Tôi ước gì Ned có ở đây. Từ tận đáy lòng, tôi ước gì Ned đang ở đây với tôi.

Lần đầu tiên trong đời, tôi không có gì để nói, không la hét phản kháng, thậm chí không một giọt nước mắt, không một lời nào. Tôi bị sốc và câm lặng. Nếu Nữ hoàng Elizabeth lết xuống các bậc thang ở cửa cống, khóc lóc than thân trách phận và bảo đảm những lời của bà được ghi lại, thì tôi cũng chỉ im lặng. Tôi rời khỏi thuyền, nắm lấy một bàn tay đang chìa ra để giúp tôi bước lên. Tôi đi trong lặng lẽ, như một đứa trẻ sợ hãi, đến bất cứ nơi nào họ đưa tôi đến, lên những bậc thang bằng đá, qua cổng vườn dẫn đến cửa trước nhà viên trung úy, một tòa nhà lớn nằm giữa một ngôi làng nhỏ bé nhộn nhịp có tường rào, có xưởng đúc, xưởng vũ khí, kho bạc, cung điện, nhà tù, và nơi xử tử.

Họ giúp tôi bước lên chiếc cầu thang hẹp đến một dãy phòng khá rộng ở trước nhà, và khi tôi ngã quỵ xuống một chiếc ghế, họ bước ra và lặng lẽ đóng cửa lại sau lưng. Sau đó tôi nghe thấy tiếng khóa cửa. Đó không phải là một tiếng kèn kẹt khủng khiếp của sắt gỉ lâu ngày – mà là một ổ khóa trơn tru do được thường xuyên sử dụng. Tôi chỉ là một tù nhân như mọi tù nhân khác.

NHÀ VIÊN TRUNG ÚY, THÁP LONDON

MÙA HÈ NĂM 1561

Thức dậy vào buổi sáng và nhìn xuyên qua những thanh chắn ô cửa sổ nhỏ, tôi nhìn thấy thảm cỏ xanh nơi họ từng dựng giàn giáo để chặt đầu chị Jane tôi. Nếu nhìn nghiêng sang trái, tôi có thể thấy nhà nguyện nơi họ chôn phần đầu bị cắt rời và cơ thể mảnh khảnh không đầu của chị ấy. Tôi ngủ trên chiếc giường của chị khi chị còn là nữ hoàng, tôi khóc ướt đẫm những cái gối của chị. Tôi ngồi trên chiếc ghế của chị. Những tấm tranh thêu treo trên tường đều là những tấm treo trong phòng ngủ trước kia của chị.

Ở phía bên kia sân Tháp, băng qua Tháp Trắng, nằm ngoài tầm nhìn của tôi, là khu chuồng ngựa, nơi chị đã nắm dây cương ngựa của cha chúng tôi và cầu xin ông đừng bỏ chị mà đi. Tôi có thể nghe thấy tiếng vang rền khi cánh cổng mở ra cho ông vào ngày hôm đó. Đây là nơi chị tôi được trao vương miện, bị phản bội và bị xử tử. Cha tôi cũng được chôn ở đây. Đây là nơi mà Nữ hoàng Elizabeth, với sự độc ác phi thường, đã chọn để giam giữ tôi.

Bà thong thả như một cỗ máy tự động không có trái tim. Bà mỉm cười với tôi trong chuyến tuần du, bà vẫy tay chào đám đông dân chúng dọc đường. Bà ủng hộ tôi trước các đại sứ Tây Ban Nha và Pháp. Bà không nói gì, ngay cả với Robert Dudley, khi anh ta kể với bà về những điều kích động sự ghen tị của bà. Bà khiến tất cả mọi người – kể cả tôi – nghĩ rằng tôi vẫn là người kế vị, giống như trước khi anh ta nói chuyện của tôi với bà, rằng tôi là cháu họ của bà, một thị nữ, một người được bà yêu mến và xem như con gái. Trên thực tế, bà đã cư xử như thể anh ta đã không nói gì cả, và bà không nghe thấy gì cả. Dường như không hề có một lời thú tội nào, dì Bess St. Loe và Robert Dudley cũng không nói gì.

Bà cho phép tôi quay lại London sớm và – khi bà có thể hành động dễ dàng và nhanh chóng, bí mật và không bị phản đối – bà cho người bắt nhốt tôi vào căn phòng này, nhìn ra Tháp Xanh, cảnh tượng chị tôi bị chặt đầu tái diễn trong tâm trí tôi bất cứ khi nào tôi nhìn ra khung cửa sổ.

Tất nhiên bà sẽ không chặt đầu tôi. Tôi không quá nhút nhát đến mức tưởng tượng mọi thứ tệ hơn thực tế. Bà nổi giận với tôi, nhưng tôi không phạm tội. Tôi sẽ được giữ ở đây, với một sự thoải mái vừa phải, với các thú cưng và người hầu của tôi, cho đến khi đứa trẻ chào đời, cho đến khi Ned quay về, rồi hai chúng tôi sẽ cầu xin bà tha thứ và tôi được thả ra, rồi chúng tôi sẽ sống lặng lẽ ở Hanworth cho đến khi bà quên đi mọi chuyện hoặc tha thứ cho tôi. Trường hợp tệ nhất, bà sẽ đối xử với tôi như với dì Margaret Douglas – nghi ngờ và ghét bỏ. Giống như bà, tôi sẽ nuôi nấng cậu con trai Tudor của tôi và mỉm cười trong bí mật.

Dù muốn dù không, bất kỳ cậu bé nào là con tôi cũng sẽ là vị vua kế tiếp của nước Anh; những quyền lợi của tôi sẽ được chuyển cho nó. Điều đó có thể khiến Elizabeth tử tế với tôi hơn, vì bà có thể nuôi dạy con trai tôi thành người kế vị, và khi đó không ai có thể buộc bà phải kết hôn cả. Song, vì đó là Nữ hoàng Elizabeth – một Tudor cằn cỗi thuộc một dòng giống bạo ngược – bà có thể tức giận với tôi vì cô cháu họ xinh đẹp trẻ tuổi đã làm được điều bà không thể làm. Không có cách nào biết được Nữ hoàng Elizabeth đang nghĩ gì. Tôi không thể đoán ra những gì đang diễn ra trong đầu bà. Tôi không thể tưởng tượng được bà sẽ bắt giam một phụ nữ sắp sinh khi cô ấy không làm gì xấu ngoài việc kết hôn với người mình yêu.

Khi bà thiết lập quyền cai trị của mình, tôi và cả nước biết rằng bà là một phụ nữ quyền lực và vô đạo đức. Tôi thực sự tin rằng bà là một bạo chúa giống như cha của bà, nhưng tôi không sợ bà sẽ làm điều gì tệ hơn là giam giữ tôi trong nhà tù hèn hạ này cho đến khi con trai tôi ra đời. Bà muốn tôi phải chịu nhục, còn bà chiến thắng. Thật vậy, bà đã hạ nhục tôi xuống tận cùng.

“Ôi, không, bà ấy có những kế hoạch tồi tệ hơn thế nhiều”, cô em gái Mary của tôi nói. Em ấy leo lên ngồi trên một trong những chiếc ghế ăn cao của tôi, đôi chân nhỏ bé đong đưa phía trước.

“Có gì tệ hơn được nữa chứ?”, tôi hỏi.

Mary là người duy nhất đến thăm tôi dù triều đình đã quay lại London. Em được hộ tống bởi một phụ nữ chắc chắn sẽ theo dõi chúng tôi và báo cáo lại tất cả những gì chúng tôi nói với nhau. Không ai khác đến thăm tôi cả. Những người hầu được phép phục vụ tôi, quần áo của tôi được gửi đến, những cái đĩa với gia huy của gia đình và những cái nĩa bạc; những con hồng tước của Janey trong chiếc lồng. Tôi có nửa tá chó con của Jo trong giỏ và chú mèo Ribbon ngồi nhìn Jo chăm sóc chúng. Chú khỉ Nozzle không ngừng khám phá những bức tường và lò sưởi của ba căn phòng, vòng qua vòng lại, từ tấm thảm đến lò sưởi, từ trên bàn xuống sàn rồi lại leo lên. Tôi cảm thấy tội nghiệp cho nó hơn cả cho mình, vì Nozzle thích một khu vườn ngập nắng, trong khi những căn phòng này luôn luôn tối tăm, ngày thì ngột ngạt còn đêm thì lạnh giá.

“Nữ hoàng quyết định rằng đây là một âm mưu”, Mary lặng lẽ nói. “Bà ấy nghĩ người Tây Ban Nha đã sắp đặt cuộc hôn nhân của chị với Ned, họ sẽ lật đổ ngai vàng của bà ấy và đưa chị lên ngôi nữ hoàng và Ned làm hoàng thân, con trai chị sẽ là người kế vị, cùng là đối thủ của ứng cử viên người Pháp – Nữ hoàng xứ Scots”.

Tôi trợn mắt nhìn Mary: “Thật điên rồ! Ned cũng là một tín đồ Kháng cách trung thành như bất cứ ai ở Anh, còn chị là em gái của Jane Grey! Không ai có thể nghĩ rằng chúng ta sẽ đưa một người Công giáo La Mã lên ngai vàng nước Anh cả. Không ai có thể nghĩ rằng chúng ta sẽ về phe Tây Ban Nha!”.

Có tiếng gõ cửa và người phụ nữ gián điệp phải bước ra ngoài. “Nhưng bà ấy thì có”, Mary thì thầm nhanh chóng. “Vì đó chính xác là những gì bản thân bà ấy đã làm. Bà ấy hẳn sẽ làm bất cứ điều gì có thể để trở thành nữ hoàng. Bà ấy không nhận ra là không phải ai cũng vậy. Bà ấy sẽ không bao giờ kết hôn vì tình yêu, nên bà ấy không tin chị đã làm thế”.

“Ai đó phải nói với bà ấy rằng chị không có ý gì như vậy cả!”, tôi nói. “Robert Dudley phải nói với bà ấy. William Cecil phải nói với bà ấy rằng chị luôn báo cáo với ông ấy về Đại sứ Tây Ban Nha!”.

Mary lắc mái đầu nhỏ bé khôn ngoan: “Ôi lạy Chúa, triều đình bây giờ tệ hơn nhiều! Bây giờ bà ấy nghi ngờ cả hai người họ, cả Robert Dudley vì anh ta biết về cuộc hôn nhân của chị...”.

“Vì chị đã nói với anh ta! Và anh ta nói với bà ấy ngay ngày hôm sau!” “Ned thì đang ở Pháp và đang trên đường tới Rome. Bà ấy nghĩ anh ta sẽ báo cáo cho Giáo hoàng.”

“Chàng đang đi với Thomas Cecil! Không lẽ William Cecil nghĩ rằng con trai ông cũng về phe Giáo hoàng sao?”

“Chính xác, em đã nói với chị, triều đình rất kinh khủng. Bà ấy lặp đi lặp lại rằng tại sao hai người họ lại đến La Mã, nếu không phải đi gặp Giáo hoàng? Cecil có biết không? Đó có phải là âm mưu của ông ấy không? Mọi chuyện đều rất tệ.”

“Chỉ khi người ta nghĩ mọi thứ đều là phản bội thôi.”

Người nữ gián điệp quay trở lại chỗ ngồi và nhìn từng người chúng tôi, hết người này đến người kia, sợ rằng bà ta đã bỏ lỡ điều gì đó. Chúng tôi mỉm cười dịu dàng với bà ấy.

Mary khoanh tay trước ngực và nhìn tôi một cách bình tĩnh, “Đó chính xác là những gì bà ấy nghĩ, mọi lúc. Nhất là về chúng ta, những người họ hàng của bà ấy”.

Tôi đứng lên, kéo chiếc áo sát bụng để em ấy có thể thấy tôi đã to lớn lên như thế nào. Từ sau khi bị bắt một cách nhục nhã, tôi luôn mặc áo rộng và ai cũng có thể thấy tôi sắp sinh. “Trông chị có giống một phụ nữ muốn chạy trốn đến Tây Ban Nha không? Trông chị có giống một phụ nữ có thể lãnh đạo một đội quân phản quốc chống lại Nữ hoàng Anh không?”.

“Không phải với em”, Mary bình tĩnh nói, “em sẽ đi nói chuyện với Cecil”. “Không, đừng làm thế”. Tôi rất sợ Mary sẽ bị bắt như một kẻ đồng lõa.

Nếu họ đủ điên khùng để bắt tôi, họ cũng sẽ bắt Mary. “Đừng làm gì cả.

Chỉ cần âm thầm ở lại triều đình và phục vụ Nữ hoàng tốt nhất có thể. Cố gắng cư xử bình thường. Và đừng đến đây quá nhiều”.

“Chị không muốn gặp em à?”

Tôi có thể nói là em ấy bị tổn thương. “Chị không muốn em gặp nguy hiểm. Chị không muốn có một cô gái dòng họ Grey nữa phải ở trong Tháp. Hai người là quá đủ rồi. Tất cả chúng ta đều vô tội như chị Jane. Chị không muốn em bị giam ở đây, nơi họ đã giết chị Jane và hành hạ chị”.

Mary nhướng người ra cạnh ghế rồi nhẹ nhàng nhảy xuống. Em đi đến cửa sổ, nhón chân nhìn ra thảm cỏ xanh nơi chị chúng tôi qua đời. “Em chắc chắn chị ấy đang ở trên thiên đường”, em kiên quyết nói, “em chắc chắn chị đã kết hôn vì tình yêu chứ không phải vì âm mưu nào cả. Em chắc chắn định mệnh sẽ làm những gì đúng đắn với chúng ta, bất kể mọi người nghĩ gì”.

Tôi nhắm mắt lại để không phải nhìn thấy thảm cỏ xanh. “Chị chắc chắn chị Jane đang ở trên thiên đường”, tôi đồng ý. “Còn chị đã kết hôn vì tình yêu, và chị vẫn yêu chàng. Và tất nhiên chúng ta phải sống theo lương tri của mình. Nhưng chị muốn em phải rất, rất cẩn thận với vẻ bề ngoài của em, với bạn bè xung quanh và với đức tin của em”.

“Em sẽ cẩn thận”, Mary nói, không sợ gì cả, “em đã được William Cecil cho phép thăm chị, và em phải báo cáo lại cho ông ấy về tình hình chị ở đây như thế nào. Em là gián điệp của ông ấy mà cũng là em của chị. Em nghĩ tất cả mọi người đều đang làm gián điệp cho ai đó”.

“Em có thể nói với ông ấy mọi thứ”, tôi nói, “chị không có gì để giấu giếm”. Tôi bắt gặp cái nhìn tò mò của người phụ nữ gián điệp đi cùng em gái tôi. “Chị không có gì để để giấu giếm”, tôi nhắc lại.

“Em biết”, Mary nói, “em sẽ nói với William Cecil rằng chị nên được thả về Hanworth. Chị nên sinh em bé Seymour ở đó, ở nhà Ned, và đứa bé nên được rửa tội trong nhà nguyện của chính nó”.

THÁP LONDON

MÙA THU NĂM 1561

Trời nóng và ngột ngạt trong những căn phòng của nhà viên trung úy và tôi không được phép ra khỏi phòng, không được đi dạo trong vườn hay đi lên tầng thượng của Tháp, nơi tôi có thể hít thở vào buổi chiều và ngắm mặt trời lặn.

Mỗi ngày, viên trung úy canh Tháp, Ngài Edward Warner, đều đến phòng tôi hỏi xem có những ai biết Ned và tôi yêu nhau, ai biết chúng tôi cưới nhau, ai làm chứng cho việc hứa hôn và đám cưới, ai đã khuyến khích chúng tôi làm điều đó và giữ bí mật.

Ông ta hỏi đi hỏi lại những câu hỏi này trong khi chú khỉ Nozzle cào những bức tường đá và xé các cạnh sờn rách của tấm thảm một cách thảm hại, đánh đu một cách đau khổ trên những cạnh viền lủng lẳng như thể đó là một sợi dây chuông và nó đang rung một hồi chuông báo tang.

Hết lần này đến lần khác, tôi nói với ngài Edward rằng chúng tôi là hai người trẻ tuổi yêu nhau, nhân chứng là Janey, không ai khác biết chuyện này, có lẽ ngoại trừ những người hầu, và dĩ nhiên là vị mục sư. Ông ta viết tất cả ra rất cẩn thận và nói vị mục sư sẽ được tìm ra, và tôi nên hy vọng rằng câu chuyện của ông ta sẽ xác nhận câu chuyện của tôi. Tôi nói cái hộp tài liệu chứng minh mọi điều tôi nói đang nằm trong phòng nữ trang của hoàng gia, và họ sẽ tìm thấy nó nếu họ muốn. Tôi nói tôi đã nói tất cả những điều này với Robert Dudley, và vị trung úy nói rằng điều đó đã được ghi nhận. Ông hỏi tôi đã nói gì với Bess St. Loe, và tôi giật mình, nhớ lại bóng tối bao trùm sau khi ngọn nến đột ngột bị thổi tắt.

“Dì Bess St. Loe ư?”, tôi lặp lại yếu ớt.

“Bà ấy đã bị bắt để thẩm vấn”, ông ta nặng nề nói. “Thật vậy, tôi đã thẩm vấn bà ấy về phần của bà ấy trong âm mưu này”.

“Chúa ơi, bà ấy cũng ở đây à?”

Ông ta gật đầu. “Vì bị tình nghi âm mưu phản quốc cùng với bà”.

“Ngài Edward! Thật sự rất sai lầm! Tất cả những gì tôi đã làm là nói với bà ấy rằng tôi đã có con và cầu xin bà ấy giúp đỡ vì bà ấy là bạn của mẹ tôi! Chúa chứng giám, không hề có âm mưu nào cả. Bà ấy đã thét lên rằng tôi không nên đến gặp bà ấy và đuổi tôi ra khỏi phòng. Bà ấy thậm chí còn không nói chuyện với tôi khi tôi gặp rắc rối.”

Ông viết những điều đó xuống, chậm rãi, từng từ một. Tôi phải cắn môi với sự thiếu kiên nhẫn của mình. “Ngài Edward, tôi thề với ngài, đây chỉ là một câu chuyện về tình yêu và có thể là điên rồ, nhưng khi tôi gặp Ned...”.

“Bá tước Hertford đang trên đường quay về từ Pháp”, ông bảo tôi.

Hai đầu gối tôi bỗng yếu đi và tôi quỵ xuống chiếc ghế phía sau. “Mình phải ngồi xuống”, tôi nhủ thầm. Tôi không thở nổi khi nghĩ đến việc gặp chàng một lần nữa. Tôi quên rằng chúng tôi đang gặp rắc rối. Tôi chỉ có thể nghĩ rằng chàng đang quay về với tôi. “Chàng quay về sao?”.

“Ông ấy được lệnh quay về để thẩm vấn.”

“Cứ hỏi chàng mọi thứ!”, tôi hân hoan nói. “Chàng sẽ trả lời giống như tôi”.

“Tôi sẽ hỏi ông ấy”, ông ta nói, không hề lay chuyển. “Vì ông ấy đang đến đây. Ông ấy cũng bị bắt”.

Họ đưa Ned đến vào lúc hoàng hôn, trong bóng tối, và tôi có thể nghe thấy những tiếng giày nặng nề trên vỉa hè bên dưới cửa sổ phòng tôi. Có rất nhiều tù nhân đang đi cùng với chàng, xung quanh là các vệ binh, một phụ nữ cúi đầu khóc, bám vào tay một người đàn ông khác, ai đó đi chậm chạp và phản kháng ở phía sau, một người đàn ông khoác tay lên vai một người khác. Họ có khoảng hơn mười người, tất cả bị bắt cùng một lúc.

Lúc đầu tôi không hiểu họ là ai. Sau đó, tôi nhận ra với một sự kinh hoàng lớn dần rằng Nữ hoàng Elizabeth đã ra lệnh bắt Ned và tất cả những người hầu của chàng; em trai chàng; em dâu chàng; cha dượng tôi, Adrian Stokes; những người hầu của tôi; các thị nữ trong nội cung; những người hầu của dì Bess St. Loe: tất cả những ai từng biết tôi đều bị bắt để thẩm vấn. Nữ hoàng đang theo đuổi chúng tôi giống như cha bà theo đuổi gia đình Pole – xuống đến tận đứa trẻ cuối cùng. Kho báu hoàng gia bị lục soát để tìm hộp tài liệu của tôi, phòng tôi bị căng dây phong tỏa và lục soát. Những hộp đồ của Ned từ Pháp bị tịch thu và ngôi nhà của chàng ở London bị lục soát từ hầm rượu lên tới tầng mái. Với tất cả sức mạnh của một hệ thống gián điệp khổng lồ, Nữ hoàng Elizabeth phát động một chiến dịch rầm rộ hòng nhổ cỏ tận gốc một âm mưu đang lan rộng. Các gián điệp của Cecil tỏa ra tìm kiếm mối liên hệ giữa những người ủng hộ chị Jane, các đồng minh Tây Ban Nha, những kẻ thù của Nữ hoàng Elizabeth, và bất cứ ai muốn giành quyền kế vị hợp pháp ngai vàng của một đứa con hoang. Nữ hoàng đã tự thuyết phục mình rằng có một âm mưu, được tổ chức bởi những kẻ Kháng cách ở Anh và Tây Ban Nha, được dàn dựng để đưa tôi lên ngai vàng nước Anh, ngăn cản Nữ hoàng Mary xứ Scots trở thành nữ hoàng Anh quốc và trao đất nước này cho người Pháp.

Các vệ binh xung quanh Ned ngừng lại một chút ở cổng vào nhà viên trung úy rồi sau đó họ đi vào, biến mất khỏi tầm nhìn của tôi. Tôi nghĩ họ đang đưa chàng đến phòng tôi, sống với tôi. Tôi lao đến cánh cửa như thể tôi có thể mở tung nó ra, rồi tôi nhớ ra mình đang bị giam và tôi lùi lại. Tôi kéo chiếc áo rộng xuống; tôi sợ chàng bị sốc khi nhìn thấy cái bụng lớn của tôi. Chàng yêu vòng eo nhỏ của tôi – liệu chàng có thấy tôi xấu xí trong những ngày cuối của thai kỳ không? Tôi vuốt tóc, kéo thẳng chiếc mũ trùm đầu. Tôi ngồi xuống ghế rồi lại đứng lên bên lò sưởi. Tôi gần như có thể đập tan cánh cửa vì quá nôn nóng muốn gặp chàng.

Rồi tôi nghe những âm thanh khủng khiếp khi họ leo lên những bậc thang đá đi qua phòng tôi. Họ đi ngang cửa phòng tôi, họ không dừng lại để vào mà đi thẳng lên những căn phòng phía trên. Tôi bật khóc vì thất vọng. Tôi chạy đến cánh cửa, áp mặt vào nó, cố gắng phân biệt tiếng bước chân của Ned, cố gắng nhận ra tiếng thở của chàng. Tôi nghe tiếng cửa phía trên phòng mình mở ra, tôi nghe tiếng họ bước vào, tiếng đánh thịch khi có người thả các túi đồ xuống sàn, tiếng kéo lê những chiếc ghế gỗ nặng nề trên sàn đá, sau đó là tiếng sập cửa, tiếng cọt kẹt của chìa khóa trong ổ khóa, và tiếng bước chân trên cầu thang khi họ đi xuống.

Chàng đang ở phía trên tôi. Nếu chàng giậm chân lên sàn, tôi sẽ nghe thấy. Nếu tôi hét lớn hết cỡ, chàng sẽ nghe thấy. Tôi đứng rất lâu, ngước mặt nhìn lên trần, những chú cún con rên rỉ như thể chúng cũng mong đợi chàng, hy vọng cuối cùng có thể nghe được một lời từ chồng tôi, cuối cùng chàng đã quay về bên tôi.

Mỗi ngày tôi đều bị những cơn gò và bụng tôi cứng lên đến mức tôi nghĩ đứa trẻ sắp chui ra khỏi bụng tôi. “Tôi không thể tiếp tục như thế này!”, tôi tuyệt vọng nói với ngài Edward. “Ngài có muốn tôi chết trong khi sinh như Jane Seymour không?”.

Ông ta có vẻ lo lắng. “Chỉ cần bà thú nhận. Nếu bà thú nhận, sau đó tôi có thể gởi bà đến nhà chú bà, hoặc đến Hanworth, và các bà đỡ có thể đến giúp bà”.

“Tôi không thể thú nhận những gì tôi không làm”, tôi nói. Tôi khóc vì đau đớn và thương thân. Tôi thực sự đang ở trong một tình huống bất khả thi, vì ai có thể chứng minh được với một Nữ hoàng Tudor là bà ấy không hề gặp nguy hiểm chứ? Tất cả các vị vua Tudor đều nghĩ họ đang gặp nguy hiểm chết người, thường là không có lý do. Vua Henry nhìn thấy những kẻ thù tưởng tượng ở khắp nơi và giết hết những người bạn tốt lẫn các cố vấn vì nỗi sợ này.

“Tôi đã cưới một nhà quý tộc vì tình yêu đích thực. Tôi đã nhìn thấy chồng tôi. Ít nhất xin ngài hãy nói với chàng rằng tôi đang ở đây, ngay tầng dưới chàng, và tôi sắp sinh.”

Có tiếng gõ cửa. Tất nhiên, trái tim tôi nhảy lên như thể đó có thể là Ned: đột nhiên được giải thoát và đến cứu tôi. Ngài Edward nhìn tôi nghi ngờ.

“Bà đang mong đợi một tin nhắn à?”, ông ta hỏi.

“Tôi không mong đợi gì cả. Tôi đang hy vọng lòng khoan dung.”

Ông ta gật đầu với người lính gác đứng cạnh cửa, anh ta tháo chốt và cánh cửa mở ra. Đó là một trong những người hầu của trung úy. “Anh muốn gì, Jeffrey?”, ông ta hỏi cộc lốc.

Người đàn ông cúi đầu. Anh ta đang cầm một bó hoa hồng màu đỏ, và đã héo.

“Dành cho vị Công nương trẻ”, anh ta nói. “Từ Bá tước Hertford”. Những bông hoa màu đỏ thẫm, màu đỏ Lancaster. Không ai ở triều đình Tudor dám tặng một bông hồng trắng. Tôi đưa tay ra và ngài Edward cẩn thận lắc tay tôi để xem có tin nhắn mật nào rơi ra hay không. Sau đó, ông ta vạch từng cành hoa để tìm tin nhắn, rồi hỏi tôi hoa hồng đỏ có ý nghĩa gì với tôi; đó có phải là một tín hiệu không. Tôi nói chúng có nghĩa là Ned đang nghĩ đến tôi, người đang bị giam ngay tầng dưới chàng. Chúng tôi đang ở dưới cùng một mái nhà, như chúng tôi đã không được như thế suốt nhiều tháng. Giờ thì chàng đã biết tôi mang thai khi chàng đi vắng, và tôi đã phải chịu đựng thế nào khi không có chàng. Chàng muốn nói rằng chàng yêu tôi.

“Đó là tất cả”, tôi nói, “chàng là một nhà thơ. Những bông hoa giống như những lời nói của chàng. Hoa hồng đỏ nói với tôi rằng chàng vẫn yêu tôi. Hoa hồng đỏ dành cho tình yêu đích thực”.

Ngài Edward, dù là một quản ngục và gián điệp của Nữ hoàng Elizabeth, vẫn không thể che giấu sự xúc động của mình. “Được rồi, bà có thể giữ chúng”, ông ta nói, cuối cùng đưa chúng lại cho tôi.

“Xin cảm ơn”, tôi nói. Tôi nâng chúng lên môi. “Đây là những bông hoa quý giá nhất mà tôi từng có trong đời. Xin hãy nói với chàng rằng tôi rất vui khi nhận được chúng từ chàng, và tôi rất hạnh phúc khi chúng tôi lại được ở bên nhau, ngay cả khi ở đây, trong ngục tù, nơi cả cha tôi và cha chàng cùng bị giam giữ. Xin hãy nói với chàng rằng tôi vẫn yêu chàng và tôi không hối tiếc – rằng tôi sẽ không bao giờ hối tiếc – khi chàng đã yêu tôi và cưới tôi. Hãy nói với chàng rằng tôi cầu nguyện mỗi ngày xin cho chúng tôi được ở bên nhau một lần nữa như vợ chồng, như chúng tôi dự định thế”.

Ông ta lắc đầu. “Tôi sẽ nói với ông ấy rằng bà thích những bông hoa này. Tôi không nhớ hết được phần còn lại”.

“Ngài có thể viết ra”, tôi bật cười nói, “ngài viết ra được mọi thứ khác mà tôi nói hoặc làm cơ mà. Tại sao lần này thì không?”.

Tôi ngắt một bông hoa của Ned gắn vào dải ruy-băng trên cái bụng lớn của tôi. Tôi cài chúng lên tóc, đặt một nụ hoa dưới gối và ép bông cuối cùng vào giữa cuốn Kinh Thánh ở bài Thánh thi của Solomon, bài nhã ca của tình yêu. Tôi tha thứ cho chàng như thể chàng chưa bao giờ đi xa. Tôi tha thứ cho chàng ở nơi nguy hiểm này. Tôi yêu chàng. Những quyết định của chàng đều tốt. Chàng là chồng tôi và chúng tôi không làm gì sai cả.

Mary lại đến thăm tôi.

“Em có chắc đến đây là một việc khôn ngoan không?”, tôi nói, cố ép bụng để cúi xuống hôn má em.

“Em được phép đến, họ muốn em nói chuyện với chị, hy vọng chị sẽ nói ra điều gì đó để tự buộc tội”, Mary nói, không hề oán giận, ra dấu về người phụ nữ nhún gối cúi chào rồi đứng bên cửa, lắng nghe tất cả những gì chúng tôi nói.

“Nhưng em đến đây như thế nào?”

“Em đi bộ. Ngài Thomas Keyes, trung sĩ gác cổng của Nữ hoàng, đi cùng em. Ông ấy đang chờ ở dưới để đưa em về.”

Tôi không hề chú ý đến người gián điệp của Nữ hoàng. Dù sao thì mọi người trong Tháp đều báo cáo về tôi; không một lời nào của tôi không được ghi lại. Tôi bị thẩm vấn mỗi ngày, và thậm chí họ còn lắng nghe những lời cầu nguyện của tôi. Họ có thể nghe tất cả những gì họ thích, tất cả những gì họ sẽ nghe là tôi yêu chồng tôi, và tôi nên như thế.

“Sức khỏe của Nữ hoàng có tốt không? Chị cầu nguyện cho sức khỏe của bà ấy”, tôi nói.

“Rất tiếc là không”, Mary trả lời. “Bà ấy rất mệt mỏi. Bà ấy không ăn được. Em nghĩ bà ấy kiệt sức vì lo sợ một âm mưu. Bà ấy tin rằng đang có một âm mưu rất lớn chống lại bà ấy. Và Đại sứ Scotland đã đến London để ép bà chọn Nữ hoàng Mary làm người kế vị – thay vì chị. Tất nhiên, đó sẽ là một sai lầm khủng khiếp. Bà ấy cảm thấy bị bao vây”.

Tôi cúi đầu. “Bà ấy phải làm những gì bà ấy thấy phù hợp”, tôi từ tốn nói, “nhưng dòng dõi chúng ta, từ em gái Đức Vua, được xem là người kế vị Đức Vua, sinh ra ở Anh và theo tôn giáo Kháng cách, mới là danh chính ngôn thuận nhất”.

“Bà ấy làm những gì bà ấy muốn”, Mary đồng ý, “nhưng bà ấy nói với Đại sứ Scotland rằng việc chỉ định người kế vị giống như chuẩn bị vải liệm cho bà ngay trước mắt mình vậy. Bà nói các hoàng tử không thể thích con cái của chính họ”.

Mary nhìn tôi bằng cái nhìn trong trẻo nhất. Tôi buột miệng nói “Điên thật!” và em ấy gật đầu đồng ý.

“Chị ước gì chị có thể cầu xin sự tha thứ của bà ấy và trấn an bà ấy rằng bà ấy không có gì phải sợ chị cả”, tôi nói để người phụ nữ nghe được. Tất cả chúng tôi đều biết không ai có thể nói gì có thể chữa trị cho Nữ hoàng Elizabeth khỏi căn bệnh nghi ngờ và sợ hãi. “Chị đã hành động vội vàng vì tình yêu. Có thể bà ấy sẽ nhìn chị như một con ngốc, nhưng nhất định không phải là kẻ thù của bà ấy”.

“Bà ấy nghi ngờ mọi người”, Mary nói, “bà ấy đã bắt giam toàn bộ người nhà Seymour và cả cha dượng đáng thương của chúng ta, ông Adrian, dù ông ấy không hề chịu trách nhiệm về chúng ta và chẳng biết chị đang làm gì ở triều đình. Bà ấy thậm chí còn sợ William Cecil khuyến khích cuộc hôn nhân của chị”.

Tôi thực sự ngạc nhiên khi bà ấy nghi ngờ cả người đã cố vấn cho bà ngay từ thời thơ ấu. “Bà ấy nên chắc chắn rằng William Cecil không bao giờ nghĩ đến ai khác ngoài bà ấy. Dĩ nhiên ông ấy không biết chuyện này. Nếu ông ấy ủng hộ cuộc hôn nhân của anh chị và muốn anh chị có con thì sao ông ấy lại đưa Ned đi xa và khiến chị trở nên tuyệt vọng như thế này chứ?”.

“Em cũng nói thế”, Mary nói, gật đầu với người phụ nữ đang lắng nghe như thể bà nên báo cáo về tất cả những điều này, “Và bà ấy biết rằng em cũng không biết gì cả”.

“Đó là một bí mật”, tôi nói đơn giản, “anh chị muốn một đám cưới bí mật nên không cho ai biết ngoài Janey. Chị đã nói với họ nhiều lần rồi”.

“Mệt mỏi thật”, em tôi nói, “họ thẩm vấn chị mỗi ngày à?”.

“Mỗi ngày họ đều đến và chị phải đứng trước mặt họ, rồi họ hỏi tới hỏi lui về việc anh chị đã làm gì, anh chị gặp nhau như thế nào, những ai biết những chuyện đó.”

“Chị phải đứng à?”

Tôi nhăn mặt cười. “Họ không được tra tấn một phụ nữ quý tộc nhưng chắc chắn họ sẽ khiến chị bị đau. Ít nhất thì giờ đây chị đã có một bà đỡ đến thăm khám, và bà ấy bảo không có vấn đề gì cả”.

“Bà ấy có nói khi nào đứa trẻ ra đời không?”

“Bà ấy không biết chính xác. Không ai biết cả. Bà ấy nghĩ sẽ sớm thôi.” Người phụ nữ ở cánh cửa cử động và Mary nói: “Em không được ở lại quá lâu. Em chỉ được phép đến xem chị có mạnh khỏe không và có được mọi thứ chị cần không”.

“Chị cần gặp chồng chị”, tôi nói, “chị cần gặp Nữ hoàng”.

Mary bĩu môi nhẹ và nhún vai. Cả hai chúng tôi đều biết câu nói này là để người gián điệp nghe thấy. Mary được phép mang cho tôi một ít táo, nhưng em ấy không thể mang tự do đến cho tôi.

“Em sẽ quay lại vào tuần tới”, em nhảy xuống ghế và nhìn những con vật nuôi của tôi. “Có ai dắt những chú cún này đi dạo không? Chúng bốc mùi khủng khiếp”.

“Không có mùi gì đâu”, tôi nói, “dù sao, đó là do hào nước. Và chị hy vọng trung úy sẽ cho phép chị ra vườn để chị có thể đưa chúng ra ngoài. Nếu ông ấy không cho chị thoải mái hơn thì ông ấy phải chịu đựng mùi hôi thôi”.

Những ngày rất dài trôi qua trong căn phòng nóng bức và ngột ngạt. Tôi chơi với những chú chó con, huýt sáo cùng những chú chim hồng tước, cho chúng bay vòng quanh phòng rồi gọi chúng quay lại bàn tay tôi. Chú khỉ Nozzle cào bới một cách đau đớn dưới chân những bức tường đá rồi sau đó leo lên ghế và nhảy từ ghế này sang ghế khác. Nó nhảy lên các thứ treo trên tường và níu chúng đong đưa với một bàn tay đen nhỏ xíu rồi nhảy bật lại vào vòng tay tôi.

“Thế cậu sẽ làm gì cho em bé nào?”, tôi hỏi khỉ Nozzle. “Cậu phải tử tế và không được chọc ghẹo em bé đấy nhé”.

Tôi lắng nghe Ned, và đôi khi tôi nghe thấy tiếng bước chân chàng trên sàn nhà. Chàng gởi cho tôi những món quà nhỏ, mỗi buổi sáng và tối chàng gởi tình yêu của chàng xuống cho tôi qua những bước chân. Họ không cho phép chàng viết cho tôi bất cứ cái gì cả, và họ vẫn thẩm vấn hai chúng tôi mỗi ngày. Tôi nghe tiếng chân họ đi lên cầu thang đến phòng của chàng và quay xuống sau khoảng một giờ. Tôi nghĩ họ đang hy vọng chứng minh được chúng tôi đã cùng nhau âm mưu chống lại Nữ hoàng, nhưng đến cuối tháng, các quý ngài được Cecil gởi đến điều tra chúng tôi có vẻ cũng mệt mỏi với những cuộc thẩm vấn này giống như tôi vậy. Không hề có sự thông đồng nào cả, chúng tôi kể cùng một câu chuyện – sự thật đơn giản, và họ phải tin rằng đó là một cuộc hôn nhân vì tình yêu, rằng chúng tôi không nghĩ Nữ hoàng sẽ xem đó là bất cứ điều gì khác ngoại trừ hai người quá yêu nhau không cưỡng nổi. Thật vậy, đó là điều hiển nhiên đối với mọi người ngay từ đầu. Chỉ có Nữ hoàng Elizabeth đáng sợ mới coi đó là một âm mưu. Chỉ có Nữ hoàng Elizabeth với trái tim băng giá mới đi tìm lời giải thích khi tất cả mọi người khác đều xem đó là một khao khát tuổi xuân thì và sự bồng bột của tuổi trẻ.

THÁP LONDON

MÙA THU NĂM 1561

Tôi nhận thấy những câu hỏi đã thay đổi. Họ không còn hỏi ai biết kế hoạch của chúng tôi, ai là bạn chúng tôi ở triều đình, bao lâu tôi thường gặp Đại sứ Tây Ban Nha? Giờ họ chuyển sang một vấn đề khác. Họ bắt đầu tập trung vào những ai biết chúng tôi đính hôn, ai chứng kiến lễ cưới. Họ hỏi về những người hầu; ai đã chuẩn bị món thịt nguội mà Ned dọn ra trong phòng ngủ? Ai phục vụ rượu? Ai là mục sư? Họ hỏi về Janey.

“Vậy bà không biết ông ta à, cái người được gọi là mục sư ấy?”, ngài Edward hỏi tôi. Ban thẩm vấn ba người đàn ông cho phép tôi được ngồi vì tôi than phiền tôi bị mệt và sắp sinh, và lúc đó đã là cuối buổi tối.

“Như tôi đã nói khi ngài hỏi tôi lần đầu tiên.”

“Ông ta không thuộc một nhà thờ nào à?”

“Tôi không nghĩ thế. Janey chạy ra ngoài rồi đưa ông ta vào.”

“Đưa ông ta vào từ đâu?”

Câu hỏi này nghe có vẻ không chắc chắn. “Tôi không biết. Tôi nghĩ cô ấy chạy đến nơi các mục sư thuyết pháp, có thể là chỗ quảng trường Thánh Paul. Chỉ là cô ấy đưa ông ta vào, ông ta làm lễ, rồi cô ấy trả cho ông ta mười bảng”.

Người đàn ông ở cuối bàn ngẩng đầu lên: “Cô ấy lấy mười bảng ở đâu ra?”. “Tôi không biết!”, tôi nói một cách thiếu kiên nhẫn, “có thể đó là tiền của cô ấy, hoặc có thể Ned đưa”.

“Sao bà biết ông ta là mục sư của Giáo hội?”, ngài Edward nghiêm nghị hỏi.

“Vì ông ta mặc một chiếc áo khoác lông thú giống như một mục sư đến từ Thụy Sĩ, được chưa?”, tôi xấc xược hỏi lại. “Vì ông ta đi cùng Janey khi cô ấy đi tìm một mục sư, được chưa? Vì ông ta mang theo một cuốn Kinh Thánh và biết cách làm lễ hôn phối, được chưa? Vì ông ta nói ông ta là mục sư, được chưa? Còn gì khác nữa? Tôi có nên bảo ông ta trình giấy chứng nhận mục sư không? Tại sao tôi phải nghi ngờ ông ta? Tại sao bây giờ ngài lại nghi ngờ ông ta?”.

Họ nhìn nhau; họ cảm thấy không thoải mái, và tôi chắc chắn ai đó đã bảo họ theo đuổi chủ đề mới này mặc dù họ không muốn.

“Còn chiếc nhẫn thì sao?”

Tôi tự hào đưa tay lên cho họ xem chiếc nhẫn trên ngón áp út của tôi, chiếc nhẫn với viên kim cương nhọn mà Ned đã tặng tôi khi đính hôn và chiếc nhẫn cưới với năm mắt xích. Tôi đã đeo chúng trên một dây chuyền quanh cổ kể từ ngày cưới, giờ thì tôi đeo chúng trên tay. “Những chiếc nhẫn của chàng”, tôi nói. “Tôi chưa bao giờ rời chúng kể từ ngày cưới”. Tôi đưa chúng lên môi hôn.

Những biểu hiện ác cảm của họ trở nên chán nản hơn. “Còn lá thư đính hôn của bá tước và di chúc của ông ấy trước khi rời Pháp trong đó ông ấy gọi bà là vợ thì sao?”, ngài Edward hỏi.

Ông ấy biết tôi không giữ chúng. Tất cả chúng ta đều biết các tài liệu của tôi đã bị mất. Người hầu ngu ngốc của tôi nghĩ rằng cô ta đã đem hộp tài liệu cất vào kho báu cùng với những thứ khác mà tôi muốn giữ an toàn ở London khi tôi đi tuần du với Nữ hoàng. Nhưng khi cô ta đi tìm thì nó đã mất, sau đó tôi bị bắt và bây giờ không ai có thể tìm ra nó nữa.

“Tôi để nó chung với các giấy tờ khác của tôi”, tôi nói, “nếu bây giờ có thể quay về phòng, tôi chắc chắn sẽ tìm ra nó”.

“Phòng của bà đã bị lục soát”, ông ta nói, như thể tôi là một tên tội phạm, “và những cái hộp của bà trong kho báu cũng bị lục soát. Không ai tìm thấy giấy tờ gì chứng minh được bà đã kết hôn cả”.

Tôi vuốt cái bụng căng tròn của mình: “Tôi nghĩ hiển nhiên ai cũng thấy rằng tôi đã kết hôn”.

Ngài Edward hắng giọng. “Cuộc hôn nhân có thể không hợp lệ”, ông nói một cách khó khăn, “nếu nó không được thực hiện bởi một mục sư thích hợp. Bá tước và em gái ông ấy có thể đã lừa bà vào một cuộc hôn nhân giả với một mục sư giả và bà có thể không được xem như đã kết hôn, giống như...”. Ông ngừng lại, có vẻ không thể nghĩ ra ví dụ nào về một phụ nữ nổi tiếng ngủ với một người đàn ông mà không kết hôn – dù tôi dám cược là ông đang nghĩ đến Nữ hoàng.

“Ngài Edward, đừng nhầm lẫn vị trí của ngài”, tôi nói khẽ, “tất nhiên là tôi đã kết hôn. Tôi là Phu nhân Seymour, nữ Bá tước Hertford, và hãy nhớ rằng tôi có dòng máu hoàng gia. Không ai có thể nghi ngờ lời tôi nói”.

Ông ta cúi đầu. Quả là những cuộc thẩm vấn đầy khó khăn, với ông ta cũng như với tôi. “Tôi xin lỗi, tôi chỉ muốn nói rằng chúng tôi không có bằng chứng”.

“Tôi không cần bằng chứng vì tôi có mặt ở đó”, tôi khẳng định, “bạn tôi Janey không bao giờ lừa gạt tôi theo cách đó. Tại sao cô ấy phải làm thế khi cô ấy muốn chúng tôi cưới nhau? Anh trai cô ấy là chồng thực sự của tôi. Chàng sẽ không bao giờ phản bội tôi. Tại sao chàng phải làm thế? Chàng muốn kết hôn với tôi trong danh dự, vì tình yêu. Đó là những gì chúng tôi đã làm. Ông hãy hỏi chàng đi!”.

“Chúng tôi đã hỏi ông ấy”, người đàn ông cuối cùng trên bàn ngẩng mặt lên, “nhưng ông ấy là người duy nhất chúng tôi có thể hỏi. Bà không có người làm chứng ngoại trừ em gái ông ấy, và cô ấy đã chết. Chúng tôi không tìm ra vị mục sư của bà, và chúng tôi không có bằng chứng bằng văn bản”.

“Vậy thì các ngài sẽ phải ghi nhận lời nói của tôi và Bá tước Hertford”, tôi tự hào nói, “Và như thế là đủ đối với bất cứ ai ở Anh. Một cuộc hôn nhân giữa hai người dưới sự chứng kiến của Chúa là đủ cho Chúa và cho luật pháp. Các ngài đã biết tất cả những gì tôi biết. Chúng tôi thậm chí không cần mục sư để có một cuộc hôn nhân thật sự, chúng tôi đã chọn cách tìm một mục sư để làm lễ cưới, nhưng đó hẳn là một cuộc hôn nhân hợp pháp nếu chúng tôi chỉ cần thề với nhau trước Chúa. Chúng tôi không cần người làm chứng, Chúa nhìn thấy đó là một cuộc hôn nhân tốt. Đó là những gì chúng tôi đã làm. Như thế đủ tốt cho tôi, và phải đủ tốt cho các ngài, và cho bất cứ ai bảo các ngài hỏi tôi những câu hỏi này”.

Tôi mệt mỏi với cuộc nói chuyện này đến mức ngay sau khi họ rời đi, bước xuống cầu thang và phàn nàn với nhau rằng mọi việc sẽ chẳng đi đến đâu cả, tôi lên giường và rơi vào giấc ngủ ngay lập tức cho đến tận sáng hôm sau. Người hầu dọn cho tôi một bữa sáng gồm bánh mì, thịt, một ít bia và một ít mận, nhưng tôi không ăn được gì cả. Tôi cảm thấy bồn chồn và đi vòng quanh căn phòng, nhìn ra dòng sông và thảm cỏ xanh. Em bé đang nằm yên và và ngoan – tôi chắc chắn nó đã tụt xuống thấp hơn trong bụng tôi, làm tôi cảm thấy vương vướng và khó chịu hơn.

Tôi thấy khó hiểu với những câu hỏi mới này. Tôi tự hỏi có phải họ đã quyết bác bỏ cuộc hôn nhân của tôi không, vì họ không thể chứng minh đây là một âm mưu. Nhưng làm nhục tôi như vậy thì có ích gì chứ? Và ai tin được chuyện như thế đối với một chàng trai trọng danh dự như Ned? Ai có thể tin rằng một phụ nữ trẻ, em gái Thánh nữ Jane, lại không được làm lễ kết hôn bởi một mục sư Kháng cách?

Thế rồi, đột nhiên, khi tôi đang nhìn ra sông và những con mòng biển, bỗng tôi có cảm giác bụng mình quặn lên, nó mạnh đến mức tôi tưởng mình sắp chết. Tôi bám vào lưng ghế và thở hổn hển vì đau đớn. Cơn đau quá mức khiến tôi không kêu nổi một tiếng. Người hầu của tôi lao đến và giật lùi lại khi nhìn thấy một dòng nước đỏ chảy ra trên sàn nhà. Chú khỉ Nozzle phóng đến tấm thảm rồi leo lên, những chú chó con rúc vào trong cái hộp và rên rỉ. Chú mèo Ribbon ngửi ngửi rồi quay đi, vung vung cái chân của nó.

“Chúa ơi, đứa trẻ sắp ra đời!”, người hầu của tôi kêu lên, “bà đã vỡ ối nhưng bà chưa được chuẩn bị gì cả!”.

Cơn đau dữ dội và đột ngột, tôi gần như bật cười với ý nghĩ rằng bị nhốt trong Tháp không phải là một nơi thích hợp để sinh con. Tất nhiên, tôi nên ở trong một căn phòng tối với hai bà đỡ, hai nữ phục vụ, vài người giúp việc, một vú em và một cái nôi sẵn sàng đón em bé, một người chồng đi tới đi lui giữa nhà nguyện và tranh thủ ăn bữa tối. Tất nhiên mọi thứ đều sai cả. Nhưng không có gì ngăn cản đứa trẻ ra đời cả.

“Hãy bảo viên chúa ngục đưa bà đỡ đến đây, và nhờ ai đó báo tin cho Bá tước Hertford”, tôi nói. Tôi muốn khóc vì nỗi kinh hoàng khủng khiếp khi phải đối mặt với thử thách này mà không có mẹ tôi, em tôi hay bất kỳ người phụ nữ nào mà tôi yêu thương ở bên cạnh. “Hãy bảo chàng cầu nguyện cho tôi và con”.

Người hầu lao ra đập cửa và dường như cả thế kỷ sau chúng tôi mới nghe tiếng bước chân chậm chạp của người vệ binh bước lên cầu thang. “Thả tôi ra! Tôi phải gặp ngài Edward!”, cô ta hét lên với câu hỏi lầm bầm của người lính canh qua cánh cửa dày cộp, “em bé sắp ra rồi!”.

Tôi cố gắng lết đến góc phòng nơi có một cây thánh giá trên tường và cuốn Kinh Thánh đang mở phía trước. Tôi cố gắng quỳ xuống cầu nguyện. Tôi cố gắng chờ khi cơn đau trở lại, và cầu nguyện cho sự an toàn của đứa trẻ và tôi. Tôi cầu xin bà đỡ đến sớm, vì Chúa biết chúng tôi cần một người biết rõ mình nên làm gì lúc này.

Khi bà đỡ mở tung cửa chính và chạy lên cầu thang, tôi nghe ở tầng trên, chồng tôi, tình yêu thực sự của tôi, Ned, đang đập dữ dội vào cánh cửa bị khóa. “Có chuyện gì? Có chuyện gì thế hả?”, tôi có thể nghe giọng chàng gầm lên, thậm chí xuyên qua cánh cửa gỗ dày cộp của phòng tôi.

“Ned! Ned! Con chúng ta sắp chào đời!”, tôi hét lên phía trần nhà. Chú khỉ Nozzle lao xuống chiếc giường chưa dọn của tôi và chui đầu dưới gối. Tôi nghe tiếng chân Ned nhanh chóng băng qua sàn nhà và rồi chàng gào lên, tiếng kêu bóp nghẹt, như thể chàng đang áp miệng xuống sàn đá phòng giam, tuyệt vọng để tôi nghe thấy lời nói của chàng.

Tôi không nghe rõ chàng nói gì cả – sàn nhà làm bằng đá, lạnh và dày. Nhưng tôi không cần nghe. Tôi biết chàng yêu tôi, tôi biết chàng đang rất lo lắng cho đến khi tôi có thể gởi cho chàng một thông điệp rằng tôi và em bé đều khỏe mạnh. Và khi bà đỡ đi vào, cánh cửa đóng lại và được cài then, tôi cảm thấy một chút hạnh phúc vì biết rằng tôi chịu đựng cơn đau ở đây, trong khi Ned chỉ cách tôi một tầng phía trên, đang quỳ gối, áp mặt xuống sàn đá, lắng nghe tiếng khóc đầu tiên của đứa trẻ, và cầu nguyện cho tôi, vợ của chàng.

Đó là một thử thách kéo dài, dù bà đỡ nói rằng con đầu lòng thường nhanh và bà đã từng ngồi với những phụ nữ phải chịu đựng cơn đau suốt nhiều ngày. Tôi cố không nghe những tiên đoán u ám của bà và những câu chuyện khủng khiếp về những em bé chết lưu hoặc chết khi mới chào đời, và người hầu của tôi ngắt lời bà ấy: “Mọi chuyện đang tiến triển rất tốt!”.

“Công nương Katherine đang làm tốt nhất có thể”, mụ phù thủy già đồng tình.

Tôi thở hổn hển khi một cơn đau nữa vừa kết thúc, và tôi sửa bà ấy: “Công nương Hertford”, tôi nhấn mạnh. “Tôi là Bá tước Phu nhân Hertford”.

“Sao cũng được, thưa Công nương”, bà nói, tránh nhìn tôi, và điều này khiến tôi tự hỏi một lần nữa có phải ai đó đang cố chứng minh rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi không hề có thật và bà được lệnh không được gọi tôi bằng tên chồng tôi không.

Tôi không suy nghĩ nhiều được, đầu óc tôi lơ mơ vì đau và sợ trong khi tôi đi tới đi lui cho qua những cơn đau rồi lên giường nằm nghỉ. Tôi cảm thấy như thể mình đang bị xé toạc ra, một cảm giác thật khủng khiếp, như thể mình đang bị phanh thây khi trước khi bị treo cổ. Tôi nghĩ đến chị Jane, tôi chỉ cách cái chết của chị một quãng ngắn cỡ một cú ném đá từ ô cửa sổ này, và tôi nghĩ đến sự đau đớn mà chị phải gánh chịu khi chiếc rìu giáng xuống. Tôi nghĩ có lẽ tôi đang hấp hối ở Tháp, như chị tôi, như cha tôi, và tất cả những gì tôi có thể hy vọng khi những cơn đau kết thúc là tôi sẽ được gặp họ trên thiên đường.

Bà đỡ ngồi nhìn tôi đi qua đi lại rồi dựa vào một chiếc ghế, rên rỉ cho qua cơn đau, đột nhiên bật đứng lên và nói: “Nó sắp ra rồi kìa. Chuẩn bị nào!”.

“Tôi phải làm gì?”. Tôi lơ ngơ hỏi, “chuyện gì sẽ xảy ra bây giờ?”.

Bà cười nhẹ. “Hẳn bà nên trả lời câu hỏi đó từ trước, thưa Công nương Katherine”.

“Công nương Hertford”, tôi rít lên, khẳng định tên chồng tôi cùng lúc hít vào một hơi thật sâu nữa. “Tôi là phu nhân của Bá tước Hertford!”.

Bà ta thô bạo ấn vào tay và đầu gối tôi. Như một con mèo đang sinh con, tôi rên rỉ và ra sức rặn theo hiệu lệnh của bà, và ngừng lại khi bà bảo thôi, và rồi tôi cảm thấy một cảm giác lạ lùng nhất, một cái gì đó trượt ra ngoài và quằn quại, rồi tiếng bà kêu lên: “Chúa ban phước lành cho bà, bà đã hạ sinh một cậu con trai”.

Con tôi, Tử tước Beauchamp, còn được đặt tên là Edward theo tên cha và tổ tiên dòng họ. Con tôi có thể truy lại nguồn gốc đến Vua Edward III và xa hơn nữa. Mang hai dòng máu hoàng tộc, sự ra đời của đứa bé hẳn phải được chào đón bằng những nghi lễ, pháo thần công và cáo thị trên khắp vương quốc, nhưng họ chỉ đặt bé lên giường tôi, cho bé rúc vào người tôi, và thậm chí không có ai đến chúng tôi thăm cả. Họ đưa bé đi làm lễ rửa tội trong nhà nguyện của Tháp, và cậu con trai bé bỏng đáng thương của tôi được đặt tên thánh với bình nước rửa tội lấy từ trên một trong những ngôi mộ của gia đình. Như thể nhà mồ của những kẻ phản bội tại Tháp London là nhà nguyện gia đình của chúng tôi. Dì của bé73* được chôn dưới bình nước thánh này, ông ngoại của bé74* cũng vậy. Ông nội75*Seymour của bé cũng được chôn ở đó. Thậm chí bé không được rửa tội bởi một mục sư, mà bởi ngài Edward, viên chúa ngục, bởi vì kẻ thống trị tối cao khốn nạn của Giáo hội Anh, Nữ hoàng Elizabeth, không cho phép một mục sư được tấn phong vào nhà ngục để ban phước lành cho đứa cháu mới sinh của bà. Điều này làm tôi bật khóc. Quá đốn mạt. Bà ấy quá hèn hạ khi cấm một giáo sĩ ban phước cho một đứa trẻ vô tội. Thật là thấp kém hơn cả đê tiện.

73* . Tức Jane Grey.

74* . Tức Henry Grey.

75* . Tức Edward Seymour, Công tước Somerset.

THÁP LONDON

MÙA ĐÔNG NĂM 1561–1562

Tôi rất hạnh phúc khi em bé ọ ẹ trong nôi và mỉm cười mỗi khi nhìn thấy tôi. Bé vui nhộn hơn bất kỳ con vật nuôi nào và bé rất cuốn hút. Ngay cả chú khỉ Nozzle cũng nhận thấy một hoàng tử đã xuất hiện giữa chúng tôi và dành cho bé một sự ngạc nhiên đầy hào hứng mà những người hầu của tôi thể hiện mỗi khi họ chạy đi lấy một cái khăn đặt lên vai tôi cho bé ợ sau khi bú, hoặc nắm đôi tay và đôi chân bụ bẫm của bé khi tôi thay tã cho cháu.

Tôi tự cho bé bú mẹ như một thôn nữ chính hiệu, và tôi bật cười khi nghĩ rằng Nữ hoàng Elizabeth, bằng sự độc đoán của bà, đã cho tôi niềm vui lớn nhất trong đời mà tôi từng biết. Nếu tôi sinh cậu bé tử tước này trong một cung điện hoàng gia, nơi sự ra đời của bé được chào đón, hẳn bé sẽ bị tước khỏi tay tôi ngay từ khi mới lọt lòng, và tôi sẽ phải sống xa bé. Bé sẽ được nuôi trong nhà trẻ hoàng gia còn tôi thì phải đi theo triều đình – bất cứ nơi nào có thể, thậm chí tôi sẽ phải xa bé tuần này sang tuần khác. Bé sẽ được nuôi dưỡng và lớn lên như một người xa lạ với tôi và nụ cười đầu tiên của bé là dành cho bà vú. Nhưng vì tôi đang bị giam giữ và bé – cũng vô tội như tôi – cũng bị giam giữ, nên chúng tôi giống như những chú chim nhỏ trong lồng, ca hát và chơi đùa cùng nhau, hạnh phúc như những chú chim hồng tước.

Bé nép mình vào tôi mỗi buổi tối, bé ngủ trong vòng tay tôi. Tôi học cách thức dậy và lắng nghe tiếng thở nhanh của bé. Đôi khi bé nằm im đến nỗi tôi áp tai vào cái mũi nhỏ xíu của bé để chắc rằng bé vẫn đang sống mạnh khỏe. Vào buổi sáng, bé sẽ mở mắt ra, đôi mắt xanh như loài hoa thủy cự76*, và mỉm cười với tôi.

76* . Speedwell: cây thủy cự, loài thân thảo mọc dại, thấp, có hoa màu xanh lơ.

Người ta bảo tôi rằng bé là một đứa trẻ ngoan. Thật vậy, bé không bao giờ khóc. Nhưng họ bảo tôi làm bé hư khi bồng ẵm bé ngay khi bé mới cựa mình, rồi ẵm bé đi từ phòng này sang phòng khác, ôm bé trong lòng mỗi khi đọc hoặc viết, cho bé bú ngay khi bé dụi gương mặt nhỏ xíu vào người tôi. Dòng sữa trong người tôi rất dễ trào ra; và tình yêu cũng vậy. Đó là một hạnh phúc mà tôi chưa bao giờ mơ ước có được. Tôi không hề biết một người mẹ có thể yêu con mình đến mức sự ra đời của bé là một điều kỳ diệu và cuộc sống của bé là một phép màu. Và không có gì, không có gì có thể khiến tôi hối hận vì đã sinh ra bé.

Chúng tôi gọi bé là Teddy. Tôi treo một dải ruy-băng màu xanh trên cửa sổ mỗi buổi sáng để cha bé, khi chàng nhìn xuống từ cửa sổ của chàng, sẽ thấy con trai mình đang mạnh khỏe. Tôi ước gì chàng có thể nhìn thấy bé trở thành một chàng trai đẹp trai như thế nào. Tôi ước gì chàng có thể thấy hai chúng tôi, như lời hứa của Janey, đã sinh ra một đứa trẻ thiên thần. Bé có mái tóc màu sáng và những đường nét thanh nhã của tôi; bé có cơ thể dài thon gọn của Ned. Bé xứng đáng là một hoàng tử. Tất nhiên, bé là hoàng tử mà. Bé là người kế vị Nữ hoàng Elizabeth và là người kế tiếp lên ngai vàng nước Anh, bất luận bà ấy có thừa nhận hay không.

Bé không hề nhận được một món quà Giáng sinh nào từ triều đình mà bé sẽ thống lãnh sau này. Chỉ có Mary đến thăm tôi, mang theo một hộp nhạc nhỏ mà tôi nhận ra nó nằm ở phòng tiếp tân của Cung điện Hampton.

“Em đã trộm nó”, em ấy thẳng thắn nói, lên dây cót rồi đặt nó trước mặt Teddy, nhưng cậu bé không hề chú ý. “Ồ, Mary!”

“Em không xem bà ấy là chủ nhân của kho báu hoàng gia”, em ấy nói, “chúng thuộc về chị hơn là bà ấy. Nếu chị không được xem là người kế vị vì có con ngoài giá thú thì tại sao em phải phục vụ một Nữ hoàng mà mọi người đều biết chỉ là một ả điếm của Dudley? Được sinh ra bởi một ả điếm khác mang họ Boleyn?”.

Ngay lập tức, tôi liếc nhìn ra cửa, nhưng hôm nay không có người phụ nữ gián điệp ở đó.

“Chính xác, không ai đi cùng em ngoài Thomas Keyes, viên trung sĩ gác cổng, một người rất tử tế khi đi cùng em. Ông ấy đang đợi ở tầng dưới.”

“Ông ấy không nghe thấy à?”, tôi lo lắng hỏi.

“Ông ấy không theo dõi em. Ông ấy là một người bạn thật sự”, Mary nói. Em leo lên một trong những chiếc ghế tồi tàn và lắc đầu. “Mọi thứ lại thay đổi một lần nữa. Không có gián điệp nào đi theo em cả. Họ không quan tâm những gì chị nói nữa. Họ chấp nhận rằng chị đã hành động vì tình yêu và không có âm mưu nào cả. Họ đã từ bỏ việc thẩm vấn và phóng thích tất cả các tù nhân ngoại trừ chị và Ned”.

Tôi rất vui, tôi siết hai tay lại với nhau. “Họ chấp nhận cuộc hôn nhân của chị chứ? Anh chị sẽ được thả ra chứ?”.

“Không, em nghĩ kế hoạch của họ là sẽ bác bỏ nó để làm nhục thanh danh của chị.”

Sự thất vọng không có gì ngạc nhiên. Tôi nghĩ tôi đã biết điều này khi họ thay đổi câu hỏi vào năm ngoái. Nhưng với con trai tôi trong tay và chồng tôi đang cùng tôi ở dưới một mái nhà, tôi hầu như không quan tâm đến những gì mọi người nói về tôi nữa. Tôi biết sự thật, tôi biết Ned là gì của tôi và tôi là gì của chàng, và có Chúa biết. Ai quan tâm Nữ hoàng Elizabeth nói gì chứ? Ngay sau khi chúng tôi được tự do, chúng tôi sẽ kết hôn lại và khi đó ai còn nói gì được nữa?

“Vậy họ sẽ từ chối cuộc hôn nhân của anh chị và bà ấy để anh chị đi chứ?” Không ai trong hai chúng tôi cần nói rõ “bà ấy” là ai. Nữ hoàng Elizabeth đã trở thành một con quái vật trong đầu tôi. Một nữ hoàng Tudor tước đi sinh mạng của chị tôi; một nữ hoàng Tudor khác tước đi danh dự của tôi.

Mary ra dấu bằng một cử chỉ nhỏ rằng có thể có, cũng có thể không. “Bà ấy sẽ làm bất cứ điều gì để tiếp tục giam giữ chị, nhưng bà ấy hết lý do rồi. Họ đã báo cáo các cuộc thẩm vấn người nhà Seymour và dì Bess, chị và Ned, với Hội đồng Cơ mật, và rõ ràng là anh chị đã bí mật kết hôn vì tình yêu. Họ đã đi tìm vị mục sư làm lễ cho anh chị nhưng không tìm ra. Em không nghĩ họ đã tìm kỹ. Nhưng dù sao, chị đã trao đổi lời thề và chị có một chiếc nhẫn làm tin. Đó là một cuộc hôn nhân riêng tư. Mẹ của Nữ hoàng Elizabeth thậm chí còn nhiều chuyện hơn thế. Hội đồng Cơ mật đã chờ rất lâu để bà ấy nghĩ ra vài âm mưu, hoặc tạo ra một luật lệ mà bà ấy có thể tuyên bố chị đã phá luật, nhưng bà ấy không nói gì cả”.

“Tại sao bà ấy không nói gì?”

Gương mặt xinh đẹp của Mary nhăn lại kèm theo cái cười thâm hiểm. “Vì bà ấy sợ”, em ấy thì thầm. “Khiếp sợ! Một nửa đất nước muốn Nữ hoàng Mary xứ Scots lên làm Nữ hoàng Anh vì họ theo Công giáo La Mã, còn một nửa còn lại, những người theo Tin lành Kháng cách, thích chị hơn vì chị đã kết hôn với người Anh, có một bé trai và là người kế vị. Không ai thực sự thích bà ấy, một nữ hoàng hiếm muộn, và nhất là đang yêu một kẻ giết vợ”.

Tôi như nghẹt thở khi nghe Mary mô tả một cách cay đắng về Nữ hoàng Elizabeth và người tình của bà, Robert Dudley.

“Thế đấy, họ không thích”, em thẳng thừng nói. “Mà ai có thể trách họ được? Vương quốc này không hề thịnh vượng hơn so với thời Nữ hoàng Mary; cũng không thanh bình hơn. Giờ thì chúng ta đang bị cả Pháp và Tây Ban Nha đe dọa trong khi Nữ hoàng không muốn kết hôn để chúng ta có đồng minh. Ai cũng nhắm đến người kế vị mà họ thích, và tất cả những gì Nữ hoàng Elizabeth đã nói là chúng ta không thể kế vị được vì cha chúng ta bị xử tử bởi tội mưu phản. Dì họ Margaret Douglas của chúng ta cũng không thể kế vị vì cha mẹ dì ấy không cưới nhau. Như thế chỉ còn lại Nữ hoàng Mary xứ Scots thôi, nhưng bà ấy sẽ không chọn Nữ hoàng Mary! Mọi người muốn biết họ đang ở đâu, ai sẽ là vị vua kế tiếp, và nếu bà ấy không nói thì họ sẽ tự quyết định”.

Tôi liếc về phía cái nôi. “Teddy”, tôi nói nhỏ nhẹ, “đó phải là Teddy. Chị xếp sau Nữ hoàng Elizabeth, còn Teddy là con trai chị”.

“Tất nhiên rồi”, Mary nói. “Tất cả mọi người đều biết điều đó. Đó là lý do tại sao Hội đồng Cơ mật không đồng ý cho bà ấy giam giữ chị mà không có lý do. Vì tất cả họ đều biết chị là mẹ của vị vua kế tiếp của nước Anh. Chị có nhớ khi Nữ hoàng Mary đến London và toàn bộ triều đình của chị Jane chạy về phía bà ấy bảo rằng họ đã nhầm lẫn không?”, em ấy cười một cách cay nghiệt. “Họ rất, rất tội nghiệp đúng không?”.

“Chị cũng vậy”, tôi nói với em ấy, “và chắc chắn chồng chị và cha chồng chị cũng vậy”.

“Mẹ chạy. Cha chạy. Mọi người đều chạy đi xin bà ấy tha thứ. Em bị kéo theo để bắt phải nhún gối cúi chào. Đó là điều Nữ hoàng Elizabeth lo sợ. Mọi người đều phải làm bạn với người kế vị, điều đó có lý do. Vì vậy, không ai dám làm gì chống lại chị cho đến khi họ chắc chắn rằng chị sẽ không bao giờ là người kế vị, mà bà ấy cũng sẽ không nói như vậy”, em ấy nghiêng đầu. “Công bằng mà nói, không ai dám nói giúp chị một tiếng vì sợ bà ấy nổi trận lôi đình”.

“Bà ấy không thể tước đi quyền kế vị của chị!”, tôi nói.

“Bà ấy không dám thử làm điều đó đâu. Bà ấy chỉ ngầm phản đối chúng ta chứ không bao giờ dám mang ra trước Nghị viện hay Hội đồng Cơ mật. Nhưng còn Teddy...”

“Cách duy nhất để tước quyền kế vị của Teddy là nói rằng nó là đứa con bất hợp pháp”, tôi chậm rãi nói.

“Chính xác!”, Mary nói. “Cho nên đó là điều mà mụ phù thủy Tudor độc ác sẽ làm tiếp theo”, em ấy cúi xuống chiếc nôi như thể mình sẽ là một bà tiên nhân từ chống lại mụ phù thủy độc ác trong câu chuyện này, “bà ấy sẽ cố gắng chứng minh cậu bé vô tội này là đứa con ngoài giá thú và không xứng làm người kế vị. Đó là cách duy nhất để bà ấy bác bỏ quyền kế vị của cậu bé. Bà ấy là vậy đấy, một kẻ đốn mạt”.

Mary hoàn toàn đúng. Vào tháng Hai, khi tuyết phủ trắng cửa sổ vào mỗi buổi sáng và trời tối sầm kéo dài suốt mười hai giờ mỗi ngày, ngài Edward gõ cửa phòng tôi, bước vào và cúi chào.

“Thưa Công nương”, ông nói, tránh gọi nhũ danh hoặc tên chồng tôi.

“Ngài Edward?”

“Tôi đến để báo với bà rằng bà được mời đến Cung điện Lambeth vào ngày mai để Tổng Giám mục đích thân thẩm vấn.”

“Ông ấy sẽ hỏi tôi những gì?”

Ngài Edward có vẻ bối rối. “Về cuộc hôn nhân giả”, ông ấy trầm lặng nói. “Tôi không biết cuộc hôn nhân giả nào cả”, tôi đáp một cách lạnh nhạt. Ông ấy trưng ra một tờ giấy trên tay. Tôi nhìn thấy ấn triện hoàng gia và chữ ký loằng ngoằng của chính Nữ hoàng Elizabeth. “Trong này gọi đó là một cuộc hôn nhân giả”, ông nói.

Tôi mỉm cười, tỏ ý mời ông ấy cứ việc chứng kiến trò đùa cay đắng. “Có vẻ là một cuộc điều tra rất công bằng, phải không nào?”, tôi hỏi.

Ông ấy cúi đầu. “Chồng bà cũng sẽ đi. Nhưng hai người sẽ đi thuyền riêng và không được gặp nhau”.

“Hãy nói với chàng rằng tôi yêu chàng”, tôi nói, “và hãy nói với chàng rằng tôi sẽ không bao giờ chối bỏ chàng, tình yêu của chúng tôi và con trai của chúng tôi”.

“Bà vừa nói tình yêu của ông bà à?”, ông ấy cảnh tỉnh tôi.

“Tình yêu của tôi và cuộc hôn nhân của chúng tôi”, tôi mệt mỏi nói, “đừng hòng cho tôi vào tròng để chối bỏ sự thật”.

Matthew Parker – người được tấn phong Tổng Giám mục Canterbury vì là một trong số ít giáo sĩ ủng hộ Nữ hoàng Elizabeth – cũng là một trong những người đã đưa chị Jane tôi lên ngôi, nhưng lúc này tôi không kỳ vọng ông ấy ủng hộ tôi và chống lại Nữ hoàng. Ông ấy cưới vợ ngay sau khi giới tăng lữ được hủy bỏ lời thề sống độc thân trọn đời, nhưng tôi cũng không mong ông ấy sẽ bảo vệ cho cuộc hôn nhân của tôi. Ông ấy được Nữ hoàng Elizabeth bổ nhiệm nên sẽ không bao giờ chống lại bà ấy.

Tôi sẽ không thể tìm thấy công lý ở cung điện của ngài Tổng Giám mục tại Lambeth, giống như trong Hội đồng Cơ mật vậy.

Nhưng người dân London lại đứng về phía tôi. Khi chiếc thuyền của tôi vội vã lướt ra mặt sông với một xoáy nước sẫm và bắt đầu lao đi ngược dòng, tôi có thể nhìn thấy nhiều người đứng trên bờ, chăm chú dõi theo thuyền của tôi và reo hò văng vẳng trên dòng nước xám lạnh giá.

Thời gian cho cuộc gặp của tôi được lựa chọn cẩn thận để tránh điều này. Thủy triều đang lên và chiếc thuyền lướt nhanh nhờ cơn gió lạnh phía sau, nhưng nó vẫn chậm hơn tin tức đang lan truyền, rằng Công nương Katherine, cô dâu của Bá tước đẹp trai Ned Seymour, cuối cùng đã rời khỏi Tháp đi Lambeth. Khi những người chèo thuyền khua mái chèo đưa chúng tôi cập vào bến tàu của cung điện. Mọi người đang chen lấn trên bến ở mé gần chiếc thuyền của tôi. Họ đứng trên bờ sông và bến tàu, cuồng nhiệt reo hò cổ vũ tôi.

Tôi đứng lên để họ có thể nhìn thấy và tôi vẫy tay chào họ.

“Thưa Công nương, vui lòng đi lối này”, người quản gia của Tổng Giám mục căng thẳng nói, nhưng anh ta không thể ngăn tôi mỉm cười với đám đông và nhận những lời chúc phúc thật to của họ.

“Đừng sợ gì cả!”, ai đó hét lên với tôi.

“Cầu Chúa ban phước cho bà và con trai bà!”

“Chúa phù hộ Nữ hoàng!”, một người khác hét lên, nhưng không nói rõ là nữ hoàng nào.

Tôi vẫy tay chào như thể tôi đã nhận được sự ban phước và tôi đi chầm chậm qua cánh cổng mái vòm tối tăm của cung điện để mọi người thấy rằng tôi là một tù nhân trên đường đi thẩm vấn, rằng tôi còn trẻ – tôi chỉ mới hai mươi mốt tuổi – và tôi xinh đẹp. Tôi đã, đang, và sẽ luôn luôn là người kế vị hợp pháp của Nữ hoàng Anh, em gái của Nữ hoàng Jane, và giờ thì tất cả mọi người cũng bắt đầu nghĩ như thế.

CUNG ĐIỆN LAMBETH, LONDON

MÙA ĐÔNG NĂM 1561

Tôi biết Tổng Giám mục Parker khi ông ta chưa có danh vị gì ngoài việc là một giáo sĩ tại gia của cha chồng chị Jane, John Dudley. Ông ta và các nhà cải cách tôn giáo khác gặp nhau liên tục để thảo luận về thần học của Giáo hội Tin lành Kháng cách và chị Jane trao đổi thư từ với các cố vấn tôn giáo của họ. Tôi dám nói rằng ông ta không bao giờ để ý đến tôi, vì tôi chỉ là một cô gái nhỏ bé, nhưng tôi nhớ ông ta có mặt ở triều đình chị Jane khi chị được tuyên xưng Nữ hoàng, và tôi nhớ ông ta đã biến mất nhanh chóng như nhiều người khác, từ bỏ đi theo một Nữ hoàng Tin lành Kháng cách và chạy theo những người theo Công giáo La Mã – bất chấp mọi lời hứa trước đây của mình. Tôi không còn nghĩ về ông như một cố vấn cho một vị thánh, và lúc này tôi cũng không nghĩ về ông như một vị Tổng Giám mục.

Ông ta rất xấc xược khi bắt tôi phải chờ đợi trong phòng riêng của ông ta, và khi ông bước vào, có một thư ký với gương mặt u tối đi cùng. Anh ta ngồi xuống bàn mà không hỏi xin phép tôi, nhúng ngòi bút vào một bình mực và chờ đợi để ghi lại tất cả những gì tôi sẽ nói. Nếu tôi không quan sát thấy họ đã gởi một chiếc thuyền bí mật để đưa tôi đi, không theo một chuẩn mực nào, nếu tôi bỏ qua căn phòng chờ lạnh lẽo và lời chào nhạt nhẽo của một người từng là bạn và bằng hữu của chị tôi, thì hẳn tôi sẽ biết, từ cách nhúng ngòi bút của viên thư ký, rằng đây không phải là một cuộc trò chuyện giữa một cố vấn tinh thần với một phụ nữ trẻ không may làm phật lòng vị Nữ hoàng nóng nảy. Đây là một cuộc thẩm vấn, và ông ta được bảo chính xác phải báo cáo những gì. Khó khăn của ông ta – dù ông ta vẫn chưa biết – là tôi sẽ không bao giờ chối bỏ cuộc hôn nhân danh dự của tôi, không bao giờ thề bỏ người đàn ông tôi yêu, hoặc bắt con tôi, một Tử tước, phải mang một cái tên mới không phải của Ned Seymour.

Tổng Giám mục Parker trang trọng nhìn tôi. “Tốt nhất là con nên nói cho ta biết tất cả về cuộc hôn nhân giả này”, ông ta nói với giọng tử tế. “Tốt hơn con nên xưng tội với ta, con gái ạ”.

Tôi hít một hơi và nhìn thấy vẻ hy vọng trên mặt ông ta. Nếu ông ta có thể quay về gặp Nữ hoàng Elizabeth và nói với bà ấy rằng tôi đã thú nhận rằng tôi chưa kết hôn, tôi chưa bao giờ làm đám cưới, thì bà sẽ rất hài lòng với ông ta và tiếp tục bỏ qua sự hiện diện thoắt ẩn thoắt hiện của người vợ trung thành của ông ta, mặc dù bà ghét cái ý nghĩ về một giáo sĩ có vợ. Nếu ông ta báo cáo với bà ấy rằng tôi có một đứa con hoang khốn khổ trong Tháp, thì bà không vội gì kết hôn và sinh con. Nếu ông ta có thể đảm bảo với bà ấy rằng vị công nương Kháng cách này không có con trai, người thừa kế, thì bà có thể hứa với Nữ hoàng Mary xứ Scots rằng việc kế vị ngai vàng Anh vẫn chưa được quyết định, và tiếp tục nhử cô gái trẻ đó với viễn cảnh hòa bình và kế vị.

“Tôi sẽ xưng tội với ngài”, tôi nói bằng giọng ngọt ngào và nhìn người thư ký nhúng ngòi bút vào bình mực rồi nín thở chờ đợi. “Thưa ngài, mặc dù tôi tin rằng ngài và chị tôi, Jane, đã đồng ý rằng một linh hồn gặp khó khăn nên trực tiếp xưng tội với Chúa”, tôi ngừng lại một chút để anh ta ghi lại rồi tôi tiếp tục. “Dù vậy, tôi xưng tội rằng tôi đã yêu một người đàn ông trẻ thuộc dòng dõi quyền quý, cả mẹ chàng lẫn mẹ tôi đều biết chúng tôi yêu nhau và dự định sẽ kết hôn. Họ đang định xin phép Nữ hoàng thì mẹ tôi qua đời. Tôi xưng tội rằng chúng tôi đã đính hôn trước một nhân chứng, và sau đó kết hôn trước một nhân chứng, bởi một mục sư, khi chưa có sự cho phép của Nữ hoàng. Tôi xưng tội rằng chúng tôi đã nằm cùng nhau trên chiếc giường cưới và chàng đã cư xử với tôi như một người vợ. Tôi xưng tội rằng chúng tôi có một cậu bé đẹp trai có mái tóc màu đồng và bướng bỉnh như bất kỳ người nào thuộc dòng dõi Tudor. Tôi xưng tội rằng tôi không thể hiểu nổi tại sao tôi bị bắt giam cũng như tại sao ngài mời tôi đến đây để xưng tội với ngài”.

Đó là một sự khởi đầu mạnh mẽ cho một cuộc thẩm vấn kéo dài suốt cả ngày. Viên thư ký ngồi viết hết trang này đến trang khác trong khi vị Tổng Giám mục dẫn dắt tôi qua mọi điều tôi đã trả lời trước kia. Rõ ràng không có gì bất hợp pháp về việc chúng tôi đã làm. Hy vọng duy nhất của họ là tôi sẽ gục ngã và nói dối để được tự do. Sau một ngày thẩm vấn, vị Tổng Giám mục trở nên mệt mỏi và tái nhợt, còn tôi thì đỏ mặt vì giận dữ. Ông ta đòi tôi phải tuyên thệ, nhưng tôi từ chối. Hơn thế nữa, tôi khinh miệt ông ta vì đã cố ép tôi, một phụ nữ trẻ vừa mới sinh con, phải gọi con tôi là con hoang và gọi chồng tôi là một kẻ đê tiện.

“Hôm nay chúng ta sẽ dừng lại đây. Tôi phải đi cầu nguyện, còn bà – thưa bà – bà nên xem lại sự bướng bỉnh của bà”, vị Tổng Giám mục nói một cách yếu ớt.

Tôi gật đầu nhẹ với ông ta, như thể cho phép ông đi ra, và tôi quay ra cửa. “Vâng, ngài nên đi cầu nguyện”, tôi khuyên ông ta.

“Ngày mai tôi sẽ gặp lại bà, và tôi hy vọng bà sẽ nói sự thật”, vị Tổng Giám mục nói.

Tôi dừng lại ở cửa khi người lính gác giữ cửa mở cho tôi, ông ta có thể nghe những gì tôi nói và lặp lại khắp London nếu ông ta muốn. “Hôm nay tôi đã nói sự thật với ngài”, tôi nói rành mạch. “Ngày mai tôi sẽ nói lại với ngài y như vậy và bất cứ khi nào ngài hỏi tôi cũng sẽ nói hệt như vậy. Tôi đã kết hôn trong danh dự, và con trai tôi là Tử tước Beauchamp”.

THÁP LONDON

MÙA ĐÔNG NĂM 1561

Khi áp má vào tấm kính lạnh lẽo và những thanh chắn cửa sổ thậm chí còn lạnh hơn ở nhà viên trung úy cai ngục, tôi có thể nhìn thấy những bậc thang dẫn từ thảm cỏ xuống cửa cống, và tôi đợi ở đó, hai má tôi ngày càng lạnh hơn, từ lúc bình minh đến khi mặt trời lặn, cho đến khi tôi nhìn thấy các vệ binh đi từ cửa trước đến đưa Ned ra thuyền.

Tình yêu của tôi, người đàn ông duy nhất tôi yêu, đi giữa bốn người lính, hai trước, hai sau, như thể họ nghĩ chàng sẽ chạy trốn và bỏ mặc tôi với con trai chàng đang bị giam giữ tại đây. Tôi đoán hôm nay họ sẽ đưa chàng đến gặp Tổng Giám mục Parker, một ngày ngay sau khi tôi gặp ông ta. Sau khi chàng đi rồi, tôi rời cửa sổ, đến bên cuốn Kinh Thánh, áp gương mặt lạnh giá của tôi lên đó, cầu xin chàng sẽ thật lòng với tôi.

Tất nhiên chàng nói đúng sự thật nhưng có thể phạm một số sai lầm khiến Tổng Giám mục tìm ra cách chống lại chúng tôi. Nếu Ned quên mất chiếc áo choàng lông của vị mục sư hoặc giọng nước ngoài của ông ta thì những gì chàng nói sẽ không khớp với những gì tôi nói. Nếu chàng nghĩ cần bảo vệ danh dự của tôi bằng cách phủ nhận việc chúng tôi đã yêu nhau trước khi kết hôn, thì họ sẽ chộp ngay những lời nói dối của chàng. Nếu chúng tôi khác nhau ở bất cứ điểm nào, họ sẽ cố chứng minh rằng cuộc hôn nhân này là giả và câu chuyện của chúng tôi chỉ được dựng lên để giữ thể diện.

Tôi không thể không lo sợ điều này. Chuyện đã xảy ra rất lâu trước kia! Một năm trước, khi chúng tôi tìm mọi cơ hội để gần gũi nhau và mọi thứ rất vội vàng. Tôi làm mất hết giấy tờ, và Ned không hề biết tên của vị mục sư đó. Chúng tôi đã mất Janey, nhân chứng duy nhất và người bạn duy nhất của chúng tôi. Rất có thể Ned sẽ quên mất điều gì đó – một năm qua chàng đã đến Pháp, Burgundy và Ý, sau đó bị sốc khi được triệu tập về nhà. Nhưng tôi có hai chiếc nhẫn, và tôi thuộc lòng bài thơ của chàng. Không ai có thể thực sự nghĩ rằng tất cả những điều đó đều là bịa đặt. Nhưng không ai thực sự quan tâm đến sự thật. Tất cả những gì họ muốn là biến con trai tôi thành một đứa con không hợp pháp, để tôi, Ned và Teddy có thể bị tống đi một nơi nào đó trong ô nhục và quên lãng.

Họ giữ Ned ở đó cả ngày. Trời tối đen khi họ đưa chàng quay trở lại, nhưng họ không đưa chàng về lại nhà viên trung úy. Tôi đợi chàng bước vào cổng, tôi để một ngọn nến nơi cửa sổ và tôi sẽ vẫy tay với chàng. Ban đầu tôi không nhìn thấy chàng đâu cả, chỉ có những ngọn đuốc bập bùng của các vệ binh khi họ đi từ cổng vòm tối tăm về phía Tháp Trắng, ngọn tháp ảm đạm giữa bầu trời đêm. Nhưng chàng dừng lại khi vừa qua khỏi cổng vòm, lột chiếc mũ trùm đầu ra và nhìn thẳng lên cửa sổ của tôi. Tôi cầm cây nến đưa ra ngoài cửa sổ để chàng có thể nhìn thấy ánh nến bập bùng trong gió và biết rằng nó tỏa sáng vì chàng, rằng tôi thật lòng với chàng và tôi tin rằng chàng cũng thật lòng với tôi.

Họ nói gì đó như thúc chàng đi tiếp, chàng giơ tay chào tôi rồi bước đi, băng qua nhà viên trung úy, băng qua khung cửa phòng tôi, băng qua thảm cỏ để đi đến ngọn tháp lờ mờ. Chàng bước lên những bậc thang lối vào, cánh cổng mở ra khi chàng đến gần và đóng sầm lại sau khi chàng đã vào trong. Tôi biết chàng đã nói gì đó, hoặc họ đã dựng lên một câu chuyện để có cớ nhốt chàng ở nhà ngục hoàng gia, trong một xà lim. Chàng không còn ở nhà viên trung úy như một quý ông danh giá bị cầm giữ nữa. Bây giờ chàng ở Tháp, nơi người ta nhốt những kẻ phản bội và tra tấn họ.

Suốt bốn ngày, chúng tôi đi tới đi lui giữa Tháp và lâu đài của Tổng Giám mục. Mỗi lần gặp Ned xong, ông ta lại hỏi tôi về những chi tiết khác: một số trong đó là thật, một số khác bịa đặt, tôi chắc chắn thế, và một số tôi không nhớ hoặc chưa từng biết. Tôi cảm thấy ngày càng nhiều rắc rối và sự kháng cự ban đầu của tôi biến thành nỗi sợ hãi. Tôi cầu xin ông hãy hiểu rằng chúng tôi đã kết hôn, rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi diễn ra với niềm tin trước Chúa. Tôi cầu xin ông hãy hiểu rằng nếu tôi xem Chúa như người làm chứng thì tôi không thể nói dối được. Tôi là em gái của Thánh nữ Jane Grey – liệu tôi có thể xem Lời Chúa là một sự hão huyền không? Tôi nghe giọng nói của mình chuyển từ khinh miệt sang van xin. Vị Tổng Giám mục trông có vẻ ngày càng ít lo lắng hơn, và dường như càng ngày ông ta càng nhận được những câu trả lời mà ông ta mong muốn. Người thư ký ghi chép mỗi ngày một nhanh hơn. Tôi không dám nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo nữa.

THÁP LONDON

MÙA HÈ NĂM 1562

Không có gì xảy ra cả. Đau đớn thay, không có gì xảy ra cả. Tôi không biết làm gì khác hơn là phải chờ đợi. Tôi nghĩ đến chị Jane, sống trong nhà Partridges, chờ đợi Nữ hoàng Mary tha thứ và phóng thích chị – rồi một linh mục đến bảo rằng chị sẽ chết vào sáng mai. Có những đêm tôi giật mình thức giấc, nước mắt đầm đìa. Tôi mơ thấy tôi là chị Jane và thời gian chờ đợi của tôi sắp kết thúc và khi bình minh lên tôi sẽ phải bước ra thảm cỏ xanh. Nhưng sau đó tôi lăn qua giường, nhìn em bé trong nôi, gương mặt hồng hào, khóc đòi bú, hai chân vẫy đạp một cách thiếu kiên nhẫn. Tôi ẵm bé lên cho bú, cảm nhận bé mút bầu sữa và biết rằng đây là một sinh linh vô tội mạnh mẽ không thể bị giết chết. Một buổi sáng nào đó, một ngày nào đó, tôi sẽ đưa đứa bé này đến tự do.

Em gái tôi, Mary, vào thăm với một giỏ măng tây mới. “Ai đó đã tặng em thứ này từ vườn nhà anh ta”, em ấy nói một cách mơ hồ, cố gắng đặt nó lên bàn, “em nghĩ đầu bếp của trung úy có thể giúp chị hấp chúng với một ít bơ tươi”.

“Ông ấy sẽ giúp, cảm ơn em”, tôi nói và cúi xuống hôn Mary. Em leo lên chiếc ghế ở bệ cửa sổ. “Đó là cửa sổ phòng Ned phải không?”, em ấy hỏi, nhìn qua Tháp Trắng, nơi có một chiếc khăn xanh bay phấp phới bên cửa sổ.

“Đúng vậy. Chàng treo một chiếc khăn lên đó mỗi buổi sáng để chị biết chàng vẫn khỏe, và chị cũng vậy”, tôi nói, “nếu chàng ốm, chàng sẽ treo khăn trắng, và nếu chàng được thả thì chàng sẽ không treo gì cả”.

Mary gật đầu. Em ấy không hỏi cái gì sẽ được treo trên cửa sổ nếu có tin xấu. Không ai ở Tháp muốn chuẩn bị cho một tin xấu cả. Chỉ có chị Jane mới đủ can đảm để chờ đợi cái chết của mình và viết thư cho tôi về việc học cách chết.

“Triều đình đang rời London”, Mary nói, “em cũng phải đi. Không phải bà ấy khó ở. Chị nghĩ em không thể làm gì cho chị và cũng không có họ hàng gì với bà ấy. Bà ấy đối xử với em như mọi thị nữ trong cung. Bà ấy thích tất cả những người khác hơn em; bà ấy chú ý đến gã lùn Thomasina hơn em. Em đi khắp nơi cùng với triều đình và ăn tối với những người phụ nữ khác. Bà ấy hầu như không nói chuyện với em và thường không nhìn thấy em. Nhưng bà ấy đối xử với những người khác còn tệ hơn”.

“Ồ, bà ấy đối xử với ai tệ hơn?”, tôi tò mò hỏi.

“Chẳng hạn như dì họ Margaret Douglas của chúng ta”, Mary nói khẽ, “dì ấy đang bị quản thúc tại nhà Charterhouse ở Sheen vì bị tình nghi phản bội”.

Tôi đưa tay bịt miệng để nén tiếng kêu. “Một người họ hàng khác của chúng ta bị bắt nữa sao? Và trong ngôi nhà cũ của chúng ta?”.

“Họ nói dì ấy đang cố gắng để con trai mình, Henry Stuart, kết hôn với Nữ hoàng Mary xứ Scots.” “Thế ư?”

“Gần như chắc chắn thế, mà sao lại không chứ? Đó sẽ là một sự kết hợp tuyệt vời cho cậu ta, một sự kết hợp tương xứng với cô ấy, và một hoàng thân người Anh làm chồng Nữ hoàng Scotland sẽ tốt hơn cho chúng ta hơn là một người Pháp.”

“Toàn bộ gia đình bị bắt à?”

“Chồng dì ấy bị giam ở đây, em nghĩ vậy, trong Tháp này. Nhưng con trai dì ấy đã biến mất.”

Tôi đưa tay lên đầu, như thể tôi sắp bứt tóc mình, “Sao cơ? Thật điên rồ”. “Em biết”, Mary âu sầu nói, “Nữ hoàng Elizabeth đang điên loạn vì sợ hãi, như cha bà ấy vậy. Nhưng em vẫn phải phục vụ bà ấy, và em phải đi bất cứ nơi nào bà ấy thích”.

“Giá như em có thể trốn đi”, tôi thì thầm.

Mary lắc đầu: “Họ sẽ dùng điều đó để chống lại chị. Không, em sẽ tham gia chuyến tuần du và giả vờ tận hưởng nó”.

Tôi cầm tay em ấy: “Năm nay em và họ sẽ đi đâu?”.

“Lên phương bắc. Mọi người sẽ ở lại Nottingham. Bà ấy đã ra lệnh tổ chức một chương trình ca vũ kịch. Mọi người đều phải tham gia. Em cũng vậy. Em đóng vai một thiên thần hòa bình trên một chiếc đu. Buổi ca vũ có chủ đề Nước Anh và Quân vương và sẽ kéo dài trong ba ngày.”

“Ôi trời!”

“Chương trình mở màn với nữ thần Pallas77* cưỡi trên lưng một con kỳ lân”, cô ấy nói, “Nữ hoàng Elizabeth sẽ đóng vai đó, em nghĩ vậy. Tiếp theo là hai phụ nữ cưỡi ngựa, hai con tuấn mã Prudence và Temperance. Hôm sau lấy chủ đề là Hòa bình. Ngày cuối cùng, cái Ác bị tiêu diệt và tất cả mọi người cùng hát vang”.

77* . Pallas là tên gọi khác của nữ thần Athena trong thần thoại Hy Lạp. Athena là vị thần của nghề thủ công mỹ nghệ, trí tuệ và đồng thời cũng là vị thần chiến tranh chính nghĩa. Athena là vị thần bảo hộ của thủ đô Athens của Hy Lạp.

Tôi không thể nhịn cười trước vẻ mặt đau khổ của cô ấy và cái chương trình khô khan này. “Chị chắc chắn mọi thứ sẽ tốt đẹp thôi”.

“Ồ, vâng, sẽ có sư tử, voi và ôi thôi đủ loại! Nhưng điểm nhấn là hai người phụ nữ được đoàn viên, là tình bạn khăng khít giữa họ. Một thông điệp khác là các vị vua Anh kế vị theo huyết thống chứ không được chọn lựa.”

“Ý bà ấy là gì? Bà ấy muốn gởi một thông điệp cho Nữ hoàng Mary xứ Scots à?”

“Bà ấy đang cố làm thế. Nữ hoàng Elizabeth muốn nói với Nữ hoàng Mary rằng họ cùng là bậc vua chúa của nước Anh, họ có thể trị vì cùng nhau: Mary ở phía bắc, Elizabeth ở phía nam, và Nữ hoàng Mary sẽ là một nữ hoàng chị em, một người kế vị. Thực tế bà ấy đang hứa hẹn ngai vàng cho Nữ hoàng Mary. Bà ấy nói rằng nó được truyền lại cho người kế vị gần nhất. Không phải bởi lựa chọn, không phải bởi tôn giáo, cũng không phải bởi ý muốn.”

Tôi sải ba bước dài qua căn phòng nhỏ đến gần chiếc bàn. “Cuối cùng, bà ấy đã dám công khai phủ nhận chị”.

“Vẫn không công khai, vẫn không phủ nhận”, Mary giận dữ nói, “buổi ca vũ kịch không được công diễn trước tất cả mọi người. Không ai hiểu được nó nếu họ không có một hiểu biết nhất định về câu chuyện này – em đã phải giải thích nó cho nửa số thị nữ trong cung. Bà ấy không đủ can đảm để tự tuyên bố. Bà ấy gạt bỏ chị bằng cách mượn tay lão chó săn Parker làm điều đó. Bà ấy ngầm thông báo nó qua một buổi ca vũ kịch. Bà ấy muốn triều đình biết rằng chị không phải người kế vị của bà ấy, rằng chị đáng hổ nhục, rằng con trai chị là bất hợp pháp; nhưng bà ấy không dám nói ra trước đất nước này”.

“Ôi Chúa ơi, Mary, Tổng Giám mục đã tuyên bố cuộc hôn nhân của chị bất hợp pháp à?”

“Ông ta đã làm thế, và gọi đứa trẻ đáng thương này là con hoang”, Mary gật đầu cay đắng về phía chiếc nôi, nơi con trai vô tội của tôi đang ngủ bình yên, không biết rằng mình đã bị cướp mất danh dự. “Chúa tha tội cho ông ta. Bà ấy hy vọng sẽ không ai dám lên tiếng ủng hộ một phụ nữ bị cho là hoang dâm, và sẽ không ai hoan nghênh một đứa con ngoài giá thú cả. Chị bị tiêu diệt, và em bé bị truất quyền kế vị. Còn Ned, tất nhiên, bị coi là một kẻ đê tiện”.

Tôi bế một con chó con lên và ôm nó dưới cằm như để tìm nguồn an ủi. “Tổng Giám mục là một kẻ nói dối!”, tôi chỉ biết nói thế.

Mary gật đầu. “Mọi người đều biết điều đó”. Trong khoảnh khắc, chúng tôi ngồi lặng im.

“Và em phải nhảy múa trong buổi ca vũ kịch bốc mùi của bà ấy”, em ấy nhổ nước miếng. “Em phải nhảy múa trong đoàn của Pallas vào ngày đầu tiên, ngồi trên cái đu và sau đó nhảy điệu nhảy hòa bình vào ngày cuối cùng. Bà ấy biết mình đang làm gì khi bà ấy dùng điệu nhảy của em để gởi thông điệp đến cho Nữ hoàng Mary xứ Scots. Em, đường đường là em gái của Jane Grey Kháng cách triệt để, lại phải gởi một thông điệp của niềm hy vọng đến kẻ kế vị ngai vàng nước Anh theo Công giáo La Mã”.

“Bà ấy biết bà ấy đang làm gì”, tôi đồng ý. “Bà ấy đã tự chữa khỏi nỗi sợ chúng ta. Em sẽ không bao giờ có con trai, bà ấy chắc chắn điều đó. Và giờ thì sẽ không ai ủng hộ con trai của chị, người bị gọi là đứa con hoang của một người mẹ dâm loàn”.

“Ồ, bà ấy đã thắng”, Mary nói một cách cộc lốc, “chúng ta thậm chí không hề âm mưu chống lại bà ấy, còn bà ấy thì tích cực hành động chống lại chúng ta như thể chúng ta là những kẻ thù kinh tởm nhất của bà ấy. Dì Margaret Douglas không làm gì ngoài những cuộc nói chuyện vui vẻ và ấp ủ một ước vọng cho con trai dì ấy, nhưng cũng bị khép tội phản bội. Bà ấy không phải là một con người, Nữ hoàng của chúng ta ấy. Ở gần bà ấy không có gì vui cả. Chị nghĩ bà ấy sẽ trả tự do cho chị bây giờ, sau khi đã hủy hoại chị sao?”.

Tôi đứng dậy và đi đến bên cửa sổ.

“Chị định làm gì vậy?”, em ấy hỏi khi tôi mở cánh cửa.

“Chị sẽ treo một dải băng đen”, tôi nói thầm, “để báo một tin xấu. Bởi vì sẽ không ai kêu gọi thả chị ra nữa”.

Triều đình rời London và tôi nghĩ đến Mary đang ngồi trên chiếc đu như một thiên thần hòa bình, nhảy múa cho Nữ hoàng Elizabeth thưởng ngoạn trong buổi ca vũ kịch để gởi một thông điệp đến Nữ hoàng Mary xứ Scots rằng cô ấy – một tín đồ Công giáo, một phụ nữ Pháp – sẽ là người kế vị Nữ hoàng Elizabeth, và rằng chúng tôi sẽ bị quên lãng. Tôi nghĩ đến tình cảnh hết sức khó khăn của tôi, người đang bị nhốt trong Tháp, cùng với người đàn ông tôi yêu, cũng bị giam và chỉ cách cửa sổ tôi chưa đầy một trăm mét, nhưng có lẽ chẳng là gì so với tình cảnh của em gái Mary của tôi khi em ấy phải mỉm cười và nhảy múa mua vui cho một người phụ nữ mà em ấy biết là kẻ thù của tôi, kẻ thù của em ấy, một kẻ thù không khoan nhượng đối với bất cứ người phụ nữ nào bị bà ta xem là đối thủ.

Thời tiết ấm dần lên. Tôi mở cửa sổ vào ban đêm để nghe tiếng hót của những chú chim két trong vườn vào mỗi buổi tối muộn, khi chúng gù nhau và xây tổ. Tôi treo những cái chuông quanh cổ chú mèo Ribbon để nó không thể săn bắt những chú chim non, và tôi rải vụn bánh mì lên bệ cửa sổ vào mỗi buổi sáng để ngắm nhìn những chú chim cổ đỏ sà xuống đi khệnh khạng trước tấm kính, ưỡn cái ngực đỏ au ra giành chỗ nhau.

Vào buổi tối, tôi đọc những quyển sách chị Jane để lại trong thư viện của nhà viên trung úy, học cuốn Kinh Thánh mà chị gửi cho tôi, đọc lại những lá thư chị gởi đến tôi, bạn bè và các thầy dạy của chị, và xem chị vừa là một người chị vừa là một nữ anh hùng. Tôi cố gắng tìm kiếm sự can đảm của chị, cảm nhận định mệnh của chị, trong chính bản thân mình. Chị luôn biết rằng bàn chân chị đang bước đi trên một con đường thiêng liêng, dù họ dẫn chị đến ngai vàng hay lên đoạn đầu đài, chị luôn biết rằng chị đang đi về phía Chúa. Tôi e rằng chị đã nghĩ tôi rất nhẹ dạ và ngu ngốc. Giờ tôi đã biết nhiều hơn, và tôi ước gì tôi có thể nói với chị rằng giờ đây tôi đã cứng cáp hơn rất nhiều.

Teddy lớn nhanh và chỉ thức dậy mỗi đêm một lần để bú. Tôi hỏi viên trung úy liệu chúng tôi có được đi ra ngoài trời dưới ánh nắng hè ấm áp để bé được phơi nắng không. Ông ấy trả lời rằng người hầu của tôi có thể đưa bé ra vườn hoặc ra bờ sông mỗi ngày.

“Không ai bảo tôi rằng đứa trẻ vô tội này đang bị bắt cả”, ông ấy nói. Tôi nghĩ tôi nghe thấy một cảm giác oán giận trong giọng nói trầm tĩnh của ông ấy và tôi nghĩ đó là những gì sẽ xảy ra khi bạn phục vụ cho Nữ hoàng Elizabeth. Bạn bắt đầu một chặng đường một cách đầy hy vọng và rồi bạn nhận ra bà ta đang đi xa hơn những gì hợp lý, xa hơn những gì bạn có thể chịu đựng.

Tôi đi ngủ sớm, tôi nằm dưới ánh hoàng hôn khi bóng tối loang dần khắp căn phòng. Tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra khi Nữ hoàng Mary xứ Scots trả lời thông điệp trong buổi ca vũ kịch của Nữ hoàng Elizabeth. Liệu hai đối thủ quyết liệt này có thể thực sự chung sống hòa bình với nhau không? Liệu họ sẽ – như Mary từng nói – làm hai nữ hoàng trên cùng một đảo quốc được không? Liệu họ có thực sự tổ chức một cuộc gặp gỡ vĩ đại với nhau và trở thành bạn của nhau không? Liệu cuối cùng Nữ hoàng Elizabeth có thể tìm ra một người, ngang hàng với bà, để bà có thể tin cậy không?

Và nếu họ gặp nhau, kết bạn và trở nên thân thiết, liệu tôi có trở thành một kẻ vô danh không ai biết đến, đến mức Nữ hoàng Elizabeth quyết định thả Ned và tôi ra không? Có phải điều tôi mong muốn nhất lúc này là được quên lãng bởi tất cả những người từng nói rằng tôi nên trở thành nữ hoàng vào một ngày nào đó?

Bên ngoài có tiếng gõ cửa và tiếng chìa khóa quay khua trong ổ. Tôi đứng dậy khỏi giường, khoác áo choàng lên vai rồi đi ra mở then cửa. Bà vú của tôi ngủ với Teddy, còn người hầu thì sáng mai mới đến. Từ chiều tối đến sáng không ai mở cửa phòng tôi từ bên trong ngoại trừ tôi. Việc đó cũng không có gì khó khăn – không ai đến vào ban đêm sau bữa tối cả. Đây hẳn là một người lính gác với một thông điệp gì đó; tôi không dám hy vọng đó là sự tha tội.

“Ai đó?”, tôi hỏi với một chút lo lắng, nhưng tôi không nghe tiếng trả lời. Khi tôi mở cửa ra, bên ngoài là một người lính gác và một người đàn ông cao hơn với chiếc mũ trùm đầu kín tới mức tôi không nhìn thấy mặt anh ta.

Tôi định đóng sầm cửa lại, nhưng anh ta nhanh chóng đưa tay ra đỡ. “Em không nhận ra anh sao?”, người ấy thì thầm. “Vợ của anh?”.

Đó là Ned, đúng rồi, đó là Ned, chồng của tôi, đẹp trai và đang mỉm cười. Chàng gật đầu với người lính gác rồi đẩy cửa mở toang. Chàng ôm tôi vào vòng tay và hôn lên mặt tôi, tóc tôi, lên đôi mắt nhòa lệ của tôi cùng môi tôi.

“Ned”, tôi hổn hển nói. Tôi không thể thở được.

“Tình yêu của anh. Vợ của anh.” “Chàng được tự do sao?”

“Chúa ơi! Không! Ta đã mua chuộc lính gác để có được một giờ với nàng. Mèo con bé bỏng của anh, anh yêu em. Anh chưa bao giờ hết yêu em. Xin Chúa tha thứ cho anh vì đã rời xa em. Lẽ ra anh không bao giờ nên đi như thế.”

“Ồ, em biết! Em biết rồi! Lẽ ra trước đây em phải nói rõ hơn. Nhưng em tin thế nào anh cũng trở về. Anh không nhận được thư của em sao?”

“Không! Anh không nhận được lá thư nào của em cả! Anh không hiểu nổi! Anh chỉ nhận được một lá thư duy nhất, là khi anh được lệnh quay về, và họ nói với anh rằng em đang mang thai và đã bị bắt. Anh không biết phải làm gì nữa. Người Pháp bảo anh ở lại với họ sẽ an toàn hơn là quay về đối mặt với Nữ hoàng Elizabeth. Họ xin anh đừng đi, nhưng anh không thể bỏ mặc em ở đây được.”

“Anh không nhận được thư của em sao? Em đã viết! Em viết thư cho anh thường xuyên, mong anh quay về. Không thể nào tất cả đều thất lạc được!”

Chúng tôi nhìn nhau, sự thật dần sáng tỏ. Vậy ra xung quanh chúng tôi toàn là kẻ thù.

“Ned, em đã viết cho anh rất nhiều thư, không thể là sự cố được. Hẳn chúng đã bị đánh cắp!”

“Chúng ta đã bị gián điệp bao vây ngay từ đầu”, Ned nói khi đưa tôi vào phòng ngủ. Chàng ném chiếc khăn trùm đầu đi, xé toang chiếc áo khoác, lột chiếc sơ–mi qua đầu. Chàng trông ốm hơn từ khi bị giam giữ, da chàng tái nhợt dưới ánh hoàng hôn gần tắt. Tôi như nín thở với cùng một nỗi khao khát cấp bách như chàng.

“Ôi, nhưng anh phải gặp Teddy đã!”

“Anh sẽ gặp, anh sẽ gặp, nhưng trước tiên anh phải gặp em đã. Anh đã mơ về em quá lâu rồi.”

Chúng tôi bước qua ngưỡng cửa và đến bên giường. Không một chút do dự, tôi giật tấm khăn trải giường ra và leo lên. Ned cởi trần, nghiêng người về phía trước kéo chiếc áo ngủ qua khỏi đầu tôi. Tôi giơ hai tay lên cao và nó bị cuốn phăng ra ngoài.

“Em đã thề với Tổng Giám mục rằng chúng ta đã kết hôn chứ?”

“Em đã thề! Em không bao giờ để ông ấy nói chúng ta không kết hôn cả.” Chàng cười ngắn gọn. “Anh cũng vậy, anh biết em sẽ không phản bội anh”. “Không bao giờ. Em không bao giờ chối bỏ anh.”

Tôi đưa tay ôm chàng, chàng tuột chiếc quần dài xuống rồi vươn người đến tôi. Chúng tôi yêu nhau ngập tràn trong hơi thở gấp gáp và đam mê. Chúng tôi đã xa nhau hơn một năm; chúng tôi là những người tình mới, chúng tôi không bao giờ cảm thấy đủ về nhau. Tôi luôn mơ thấy giây phút này và khao khát những đụng chạm xác thịt với chàng. Chàng ngập ngừng trên người tôi, nhìn ngắm gương mặt đê mê của tôi.

“Ôi! Tình yêu của em!”. Tôi thì thầm, và chàng lao vào tôi như một con chim ưng đói mồi.

Chúng tôi chỉ có một tiếng đồng hồ với nhau, và khi chàng ngã ra giường, tôi giúp chàng mặc quần áo vào. Việc này gợi cho tôi nhớ lại ngày cưới của chúng tôi, khi chúng tôi mặc quần áo cho nhau, lúng túng với những sợi dây buộc chằng chịt, rồi Janey và tôi phải vội vã lao về phòng trước bữa ăn tối.

“Giờ hãy cho anh gặp con trai nào!”, chàng nói.

Tôi dẫn chàng qua phòng bà vú, nơi con chúng tôi đang nằm ngủ trong chiếc nôi bên cạnh giường bà. Tay bà vẫn mở ra để có thể đẩy chiếc nôi khi bé cựa mình. Bé nằm ngửa, ngủ ngon lành, hai tay nắm nhẹ thành nắm tay phía trên đầu, hai má đỏ hồng, có một đốm giộp sữa nhỏ môi trên.

“Chúa ơi, con thật dễ thương”, chồng tôi thì thầm. “Anh không hề biết. Anh cứ tưởng các em bé rất xấu xí. Con có toàn bộ vẻ đẹp của em: trông như một búp bê hoàn hảo”.

“Con cũng bướng bỉnh như anh vậy”, tôi nói, “con không hề là một búp bê hoàn hảo khi có người chạm đến. Nó khóc rống đòi bú như một quý ông háu đói và không chấp nhận bất cứ sự chậm trễ nào cả”.

Chúng tôi cẩn thận nhón chân quay về phòng. “Em tự cho con bú à?”. “Không ai khác làm việc đó cả!”, tôi bật cười trước gương mặt đầy ngạc nhiên của chàng. “Em nuôi con như một phụ nữ nghèo nuôi con bằng sữa mẹ. Em cho con dòng sữa của em và tình yêu của em. Con lớn lên bằng những thứ đó”.

Chàng hôn tay tôi, môi tôi, mặt tôi. Chàng hôn tôi như một kẻ đói khát muốn ngấu nghiến tất cả mọi thứ. “Em là thiên thần. Em là thiên thần của con và của anh. Tối mai anh sẽ trở lại”.

“Anh có thể trở lại sao?”, tôi không tin nổi, “bằng cách nào?”.

Chàng lặng lẽ cười, tiếng cười mà đã rất lâu rồi tôi mới được nghe. “Vì chúng ta công khai bị xem là những người tình tội lỗi nên có vẻ như chúng ta được phép ở bên nhau, dù chúng ta bị chia cách khi chúng ta là vợ chồng. Ngài Edward đã gật đầu với anh như thể ông ấy muốn nói rằng do chúng ta bị phạt rất tàn nhẫn vì phạm tội nên chúng ta cũng có thể tận hưởng nó. Anh đưa cho lính gác một đồng và anh ta đưa anh đến với em”.

“Chúng ta có thể ở bên nhau sao?”, tôi không quan tâm nếu suốt phần đời còn lại chúng tôi phải sống trong Tháp, chỉ cần chúng tôi được ngủ trong vòng tay nhau và chàng có thể gặp con là được.

“Đó không phải là cách mà anh hy vọng chúng ta sẽ sống, nhưng lúc này đó là việc tốt nhất chúng ta có thể làm”, chàng nói, “anh vẫn còn hy vọng. Nữ hoàng Elizabeth không thể bác bỏ tất cả mọi cố vấn của bà ấy, trong khi William Cecil và Robert Dudley biết rằng chúng ta vô tội trong tất cả mọi việc ngoại trừ tình yêu. Họ là những người bạn của chúng ta. Họ muốn có một người kế vị theo Tin lành Kháng cách, và chúng ta có em bé. Họ sẽ chống lại Nữ hoàng Mary xứ Scots; họ sẽ không bao giờ chấp nhận cô ấy. Anh không tuyệt vọng đâu, tình yêu của anh”.

“Em cũng vậy”, tôi nói, sự can đảm trong tôi tăng lên theo lời nói của chàng, “em không tuyệt vọng. Em sẽ không bao giờ tuyệt vọng nếu em có thể ở bên anh”.

THÁP LONDON

MÙA HÈ NĂM 1562

Bất chấp mọi trò lố bịch và sự hiểm độc của hoàng gia, chúng tôi vẫn sống trong hạnh phúc. Mẹ Ned gởi vào các khoản tiền huê lợi từ ruộng đất cho thuê của chàng nên chàng là một tù nhân giàu có. Chàng hối lộ lính gác và ra lệnh bất cứ điều gì chúng tôi muốn. Chàng đến phòng tôi mỗi buổi tối. Chúng tôi cùng nhau ăn tối, chơi với con và ân ái với nhau. Ban ngày giờ trở thành thời gian chờ của chúng tôi. Tôi học, chăm sóc con và viết thư cho bạn bè ở triều đình. Ngài Edward trung úy coi giữ Tháp cho phép tôi đi dạo trong vườn. Tôi mang con theo, đặt bé lên một chiếc khăn choàng lớn trên bãi cỏ ấm áp để bé vung vẩy hai chân và nhìn những con mòng biển bay vòng vòng trên bầu trời xanh.

Buổi tối là khi cuộc sống thực sự của tôi bắt đầu, khi người lính gác âm thầm cho phép Ned vào phòng tôi, chúng tôi nói chuyện và đọc sách cùng nhau. Chàng nhìn tôi cho con bú, thay tã cho con, trao con cho bà vú dỗ ngủ, rồi chúng tôi ăn tối với những món ăn ngon lành mà mẹ chàng gởi đến từ Hanworth và những món quà người dân London gởi đến Tháp cho tôi.

Mỗi ngày, Ned hoặc tôi đều nhận được một tin nhắn hoặc một lá thư từ ai đó hứa sẽ ủng hộ nếu chúng tôi kháng án. Một số người hứa rằng nếu chúng tôi trốn thoát, họ sẽ cho chúng tôi nơi ẩn náu. Một hoặc hai người thậm chí còn đề nghị tập hợp một đội quân để giải thoát chúng tôi. Tất cả những lá thư đó, chúng tôi đốt ngay lập tức và thậm chí không bao giờ nhắc đến chúng. Nữ hoàng Elizabeth đã phán rằng chúng tôi có tội: Chúng tôi không thể để bà ấy nghĩ ra một tội lỗi nào tệ hơn để gán cho chúng tôi nữa. Chúng tôi sẽ không cho bà ấy bất cứ lý do gì để mở một phiên tòa xử chúng tôi vì tội mưu phản.

Nhưng dù sao thì bà ấy cũng sẽ không chú ý đến chúng tôi mùa hè này. Có lẽ bà nghĩ bà đã làm tất cả những gì có thể để tiêu diệt chúng tôi và đã chuyển sự chú ý sang những cuộc tranh chấp khác. Bà đã bắt giam người bạn thân nhất, cũng là gia sư của bà, Kat Ashley, vì dám đề nghị bà kết hôn với Hoàng tử Erik của Thụy Điển. Nữ hoàng Elizabeth giờ đây cảm thấy bị xúc phạm với lời khuyên kết hôn này hơn là việc Kat cảnh báo rằng bà đang bị xem như một ả điếm. Ai có thể dự đoán được điều gì sẽ kích động nỗi sợ hãi của Elizabeth chứ? Không ai biết bà sẽ làm gì tiếp theo cả. Bà trở nên quá sợ hãi và tàn nhẫn đến mức bắt giam cả người nữ gia sư yêu dấu của bà, người bà từng xem như một người mẹ.

“Vì tội gì?”, tôi hỏi Ned.

“Không vì tội gì cả”, chàng trả lời. “Không có tội gì cả. Nữ hoàng Elizabeth không sống theo luật pháp do chính bà ấy đặt ra. Kat Ashley bị bắt vì Nữ hoàng thích thế. Chỉ có Chúa mới biết bà ấy sẽ bị gì. Có thể Nữ hoàng Elizabeth sẽ gán cho bà ấy một tội lỗi nào đó, hoặc có thể bà ấy sẽ bị giam vài ngày rồi được trả tự do và được phục chức. Cũng có thể Nữ hoàng Elizabeth sẽ ra lệnh thả chúng ta trong cùng lệnh thư đó”.

Vài người trong chúng tôi bị giam giữ không có lý do, không có cáo buộc nào khác ngoài việc là những nạn nhân của sự ghen tị hoặc sợ hãi của Nữ hoàng Elizabeth. Dì họ tôi, Margaret Douglas, đang bị thẩm vấn, bị kết tội trong hàng chục báo cáo lộn xộn của các gián điệp, và bị quản thúc tại gia. Chồng bà, Matthew Stuart, Bá tước vùng Lennox, cũng bị giam ở đây, đâu đó trong Tháp này. Chúng tôi chưa bao giờ gặp ông dù khi đi dạo trên sân thượng hay khi nhìn ra cửa sổ. Tôi e rằng ông đang bị giam giữ một mình, và tôi biết ông sẽ đầu hàng vì lối đối xử đó. Ông chưa bao giờ là người được Nữ hoàng sủng ái còn vợ ông là một đối thủ thừa kế ngai vàng của bà. Ông không còn nhuệ khí để tồn tại trong sự thù hận của Nữ hoàng Elizabeth. Con trai họ, Henry Stuart, quá mong manh nên không thể đối mặt với bà ấy; nhưng cũng tốt cho cậu ta vì cậu ta đã trốn sang Pháp. Triều đình đang xì xào những tin đồn rằng dì Margaret đã thuê các thầy đồng và thầy bói, tiên đoán cái chết của Nữ hoàng Elizabeth, thúc giục Nữ hoàng Mary xứ Scots kết hôn với Henry Stuart để hợp nhất nước Anh với Scotland dưới sự cai trị của mình.

“Sao cơ?”, tôi ngắt lời Ned. “Làm sao Nữ hoàng Elizabeth chịu nổi điều đó? Nếu dì Margaret đã làm tất cả những chuyện này thì dì ấy không thể được giam giữ ở Sheen như thể chỉ phạm vài tội vô lễ nhỏ, trong khi chúng ta bị nhốt ở đây vì một tội nhẹ hơn nhiều?”.

“Nếu họ chứng minh được những ông thầy cúng gọi hồn chống lại Nữ hoàng thì họ có thể cho bà ấy lên giàn hỏa như xử một phù thủy”, chàng nghiêm nghị nói, “ta không ghen tị với việc bà ấy ở Sheen nếu họ đang tạo ra một tình huống như vậy để chống lại bà ấy. Họ có thể đưa bà ấy từ Charterhouse ở Sheen đến Smithfield thậm chí không cần ra tòa nếu họ chứng minh được bà ấy đã dùng một phù thủy để tiên đoán cái chết của Nữ hoàng”.

Em bé đang nằm trong vòng tay tôi, vừa bú và ngủ. Nó khẽ cựa mình khi tôi siết nó chặt hơn. “Liệu Nữ hoàng Elizabeth có thể thực sự giết chết tất cả những người họ hàng của bà ấy không?”, tôi thầm hỏi, “bà ấy dám làm thế thật sao?”.

Chàng lắc đầu. Chàng không biết bà ấy có thể làm gì. Không ai trong chúng tôi biết được bà ấy dám làm gì.

“Em có một tin cho chàng”, tôi nói, phá vỡ sự im lặng. “Em có điều này muốn nói với chàng tối nay. Em hy vọng làm chàng vui”.

Chàng đưa cho tôi vài quả dâu tây tươi, quà của một người bạn vô danh, được hái từ những cánh đồng hạt Kent.

“Nàng nói đi.”

“Em đã trễ một nguyệt kỳ nữa, và em nghĩ em đã có thai”, tôi cố mỉm cười nhưng đôi môi tôi run rẩy. Tôi rất sợ chàng sẽ tức giận, rằng việc này sẽ khiến chúng tôi gặp rắc rối hơn. Nhưng chàng thả chiếc muỗng xuống, đi vòng qua bàn, quỳ bên cạnh tôi và ôm tôi vào lòng. Lần này, niềm vui của chàng hoàn toàn trọn vẹn. Chàng ôm tôi và bé Teddy trong vòng tay ấm áp.

“Đây là tin tốt nhất, tin tốt nhất mà ta từng nghe”, chàng nói, “ta vui vì nàng rất mạnh khỏe và mắn con, còn ta cường tráng đến mức chúng ta có thể thụ thai một đứa trẻ ở cái nơi khủng khiếp này, một nơi đã chứng kiến quá nhiều cái chết. Tạ ơn Chúa đã đem ánh sáng đến nơi tăm tối! Thật là một phép màu. Giống như đẩy lùi cái chết để tạo nên một đứa trẻ bên trong những bức tường nhà ngục”.

“Chàng thật sự hạnh phúc chứ?”, tôi hỏi.

“Có Chúa chứng giám! Vâng! Đó là một tin tuyệt vời.” “Chúng ta sẽ nói với ngài Edward chứ?”

“Không”, chàng quyết định, “chúng ta sẽ không nói với ai cả. Chúng ta sẽ giữ bí mật như nàng đã làm trước đây. Nàng có thể giấu bà vú và những người hầu được không?”.

“Nếu em vẫn thon thả như lần trước cho đến những tháng cuối cùng của thai kỳ thì không ai biết được”, tôi nói, “trước đây gần như cơ thể em không thay đổi gì nhiều”.

“Chúng ta hãy chọn thời điểm và địa điểm mà chúng ta muốn nói”, chàng nói, “đây là một bí mật đầy uy lực mà nàng cất giữ; chúng ta hãy để dành nó đến khi tốt nhất có thể. Ôi, tình yêu của ta, ta rất vui. Nàng cảm thấy ổn không? Nàng có nghĩ đó là một bé trai nữa không?”.

Tôi cười, “Một người kế vị nữa cho Nữ hoàng Elizabeth sao? Chàng nghĩ bà ấy sẽ hài lòng khi có thêm một đứa cháu trai hoàng tộc nữa sao?”.

Nụ cười của chàng đanh lại. “Ta nghĩ bà ấy không thể phủ nhận các con của chúng ta, và nếu chúng ta có hai con thì điều đó càng được khẳng định hơn nữa”.

“Thế nếu chúng ta có con gái thì sao?”

Chàng hôn tay tôi: “Thì chúng ta sẽ đặt tên bé là Katherine–Jane, theo tên người mẹ xinh đẹp và người dì thánh nữ của bé. Chúa ban phước cho cả ba, con gái ta, mẹ bé và dì của bé, tất cả đều bị giam cầm ở đây một cách đầy bất công”.

THÁP LONDON

MÙA HÈ NĂM 1562

Vào hè, thành phố bắt đầu nóng lên và tôi sợ có dịch bệnh. Đó là lý do vì sao triều đình thường đi tuần du – để các cung điện được lau dọn sạch sẽ và cơ thể cằn cỗi của Nữ hoàng Elizabeth có thể lẩn tránh mọi bệnh tật. Đây là năm đầu tiên tôi ở London vào mùa hè, mùi hôi thối từ con sông và những hào nước quanh Tháp khiến tôi kinh hãi. Bạn không cần phải là một thầy thuốc giỏi mới có thể nhận ra mùi của bệnh tật. London có mùi như tử khí và tôi sợ phải hít thở trong bầu không khí này.

Người bạn thời thơ ấu của Nữ hoàng Elizabeth, nữ gia sư của bà, Kat Ashley, được chuyển đi khỏi Tháp cho an toàn. Bà ấy vẫn bị thất sủng nhưng Nữ hoàng Elizabeth sẽ không để Kat yêu quý ở một nơi nguy hiểm. Nhưng chúng tôi thì vẫn ở đây để có cơ hội thưởng thức màn sương dịch bệnh từ cống rãnh và dòng sông. Bà cũng để con tôi ở đây – nơi bà biết có đầy mầm bệnh.

“Em có nên viết thư cho William Cecil yêu cầu ông ấy chuyển chúng ta đi không?”, tôi hỏi Ned vào một buổi tối.

Chàng đang bồng Teddy trên tay và ngâm một bài thơ do chàng sáng tác. Em bé ọ ẹ một cách vui sướng như thể hiểu được những vần điệu đó. Đôi mắt xanh đậm của nó nhìn chăm chăm vào gương mặt đáng yêu của cha mình.

“Không, cho đến khi chúng ta có tin tức từ triều đình”, chàng ngẩng lên nhìn tôi. “Đang có những thay đổi lớn xảy ra và chúng sẽ ảnh hưởng đến chúng ta. Elizabeth đã cố gắng liên minh với Nữ hoàng Scotland, nhưng ở Pháp có một cuộc tấn công khủng khiếp chống những người theo tôn giáo Cải cách. Những người theo Tin lành Kháng cách công khai nổi dậy chống lại dòng họ Guise đang cầm quyền, và họ đang kêu gọi Nữ hoàng Elizabeth giúp đỡ. Bà ấy định gặp Nữ hoàng Mary, nhưng giờ thì anh nghĩ bà ấy không thể gặp được. Thậm chí Nữ hoàng Elizabeth cũng không dám công khai kết bạn với một phụ nữ mà gia đình bà ta đang xử tử những người theo Tin lành Kháng cách. Khi Nữ hoàng Elizabeth quay lại London vào mùa thu, các nhà thuyết giáo và Nghị viện sẽ buộc bà ấy đồng ý rằng bà ấy không thể liên minh với Pháp khi họ đang nhuộm máu đức tin của chúng ta. Chính những người thân của Nữ hoàng Mary xứ Scots, hoàng gia Guise, là người đã giết chết những người đàn ông và phụ nữ của Giáo hội một cách không thương xót. Nữ hoàng Elizabeth không thể biến Anh thành liên minh với một phụ nữ nhà Guise được. Sẽ không ai chấp nhận điều đó”.

“Nếu bà ấy từ bỏ liên minh với Mary thì sẽ không ai có thể trở thành người kế vị của bà ấy ngoại trừ dì Margaret hoặc em”, tôi nói.

“Và vị công tử nhỏ này”, chàng nói, “nếu nàng trao quyền kế vị lại cho con, Beauchamp sẽ là vị vua tiếp theo. Hãy xem cậu bé đang nhìn ta một cách nghiêm khắc như thế nào? Cậu ấy sẽ là một vị vua vĩ đại”.

“Bà ấy đã gọi bé là một đứa con hoang”, tôi nói trong sự oán giận.

“Ai cũng biết đó là một lời nói dối”, cha bé, chồng tôi, nói, “anh thậm chí không thèm quan tâm”.

THÁP LONDON

MÙA HÈ NĂM 1562

Triều đình quay lại Cung điện Hampton vào cuối hè và miễn cưỡng quyết định rằng nước Anh phải bảo vệ các nhà Kháng cách Pháp. Nữ hoàng Elizabeth mất hết hy vọng vào liên minh với Nữ hoàng Mary xứ Scots và lấy hết can đảm ra lệnh tiếp viện cho Le Havre để bảo vệ những tín đồ Kháng cách Huguenot trước quân đội Guise. Mọi người đều mong đợi Robert Dudley sẽ chỉ huy lực lượng Anh tuy có rất nhiều lời đàm tiếu về sự thiên vị khi Nữ hoàng khăng khăng bắt anh ta ở nhà và đưa em trai anh ta, Ambrose, vào vị trí chiến đấu. Robert Dudley quá quý giá đối với bà nên bà không thể để anh ta mạo hiểm được, ngay cả vì một cuộc thánh chiến để bảo vệ đức tin của vương quốc này.

Cuộc chiến ấy có thể cứu chúng tôi. Nữ hoàng Elizabeth hầu như chắc chắn phải trao quyền chỉ huy quân đội cho Ned.

“Bá tước vùng Lennox cũng sẽ rất vui nếu được thả”, ngài Edward, người quản ngục, tâm sự với tôi. “Quý ông đáng thương, ông ấy không thể chịu đựng nổi sự giam cầm”.

“Tôi nghĩ không ai thích việc đó cả”, tôi cáu kỉnh nói.

“Ông ấy phàn nàn suốt về sự tự do của chồng bà và về việc ông bà có thể gặp nhau. Ông ấy nhớ vợ, Phu nhân Margaret, rất nhiều. Ông ấy khóc vì cô đơn trong phòng hằng đêm.”

“Biết thế này thì ông ấy đừng âm mưu chống lại Nữ hoàng”, tôi nói một cách nghiêm nghị.

“Ước gì ông ấy đã không làm thế!”

“Phải, tất nhiên. Nhưng chuyện gì xảy ra với ông ấy vậy?”

Viên trung úy nghiêng người về phía tôi như thể ai đó có thể nghe thấy những gì ông nói, nhưng chỉ có chú khỉ Nozzle trên vai tôi và Teddy trong tay tôi.

“Ông ấy bị quẫn trí rồi, quý ông đáng thương ấy. Ông ấy cào bới cánh cửa và khóc gọi tên vợ. Ông ấy nói rằng các bức tường đang khép lại và ép chặt ông ấy. Ông ấy van xin tôi mở cửa sổ ra.”

“Ông ấy sắp bị điên à?”, tôi hỏi.

“Ông ấy không ổn”, ngài Edward khẳng định, “Một số người không thể chịu đựng được, bà biết đấy. Không phải tù nhân nào cũng có thể sống vui vẻ như bà và quý ông nhà”.

“Chúng tôi rất biết ơn ngài”, tôi nói. Đó là sự thật. Chúng tôi hạnh phúc như những chú chim hồng tước bên nhau, chồng tôi, con chúng tôi, và tôi. Và giờ đây tôi đang có thêm một niềm vui mới vì biết rằng có một em bé nữa sắp ra đời.

THÁP LONDON

MÙA THU NĂM 1562

Tôi chờ đợi chuyến viếng thăm của em gái tôi, Mary, với sự tự tin ngày càng tăng rằng em ấy sẽ đến và bảo rằng tôi là chúng tôi sắp được thả, nhưng em ấy không đến. Em ấy gởi cho tôi một lá thư viết rằng họ vẫn đang ở Cung điện Hampton và Nữ hoàng đang phải nằm trên giường bệnh; các thầy thuốc được gọi đến, nhưng không ai biết bà ấy có vấn đề gì cả.

“Không, còn tệ hơn thế, bà ấy lâm bệnh nặng”, Ned thì thầm. Hôm nay chàng đến phòng tôi sớm hơn thường lệ, hôn con trai rồi chuyển cậu bé cho bà vú. “Đến đây nào”, chàng nói và dắt tôi ra cửa sổ, nơi chúng tôi có thể nói chuyện riêng với nhau. Chú khỉ Nozzle nhảy lên ngồi nghiêm chỉnh giữa chúng tôi.

“Bệnh nặng à? Em tưởng bà ấy chỉ bị bệnh phù nhẹ một lần nữa?” “Một người bạn ở triều đình đã báo tin cho ta. Nghiêm trọng, rất nghiêm trọng. Mèo con của ta, Nữ hoàng mắc bệnh đậu mùa. Đó là sự thật: bệnh đậu mùa, và bà ấy đã mê man. Ngay lúc này, bà ấy không thể nói hay cử động được. Với tất cả những gì chúng ta biết, bà ấy có thể đã chết. Bà ấy có thể đã chết rồi. Hội đồng Cơ mật đang họp khẩn. Ta liên tục nhận được tin tức. Họ đang cố chọn một người kế vị nếu Nữ hoàng Elizabeth băng hà”.

“Nếu bà ấy chết?”, tôi nghẹn lời. Bà ấy đã trở thành một lời nguyền ác độc trong cuộc đời tôi đến mức tôi khó có thể tưởng tượng ra một thế giới không có bà ấy. “Chết ư? Nữ hoàng Elizabeth cũng có thể chết ư?”.

“Đúng vậy! Nàng không nghe thấy ta nói sao? Bà ấy có thể chết. Có vẻ không thể tưởng tượng được, nhưng rất có khả năng là như thế. Bà ấy bị bệnh đậu mùa và bà ấy không khỏe. Bà ấy nằm liệt giường và sốt liên tục. Hội đồng Cơ mật đã được triệu tập. Họ phải chọn một người kế vị nếu bà ấy không nói được. Bà ấy bị sốt đến mức không nói được, bà ấy mê man bất tỉnh. Họ đang kêu gọi ủng hộ Henry Hastings, họ đang kêu gọi ủng hộ Nữ hoàng Mary xứ Scots hoặc Margaret Douglas”, chàng dừng lại; chàng mỉm cười với tôi, mắt chàng sáng lên, “nhưng hầu hết, tất nhiên, họ đang kêu gọi ủng hộ nàng”.

Tôi hít một hơi dài. Tôi nghĩ về ngày chị Jane được trao vương miện trước kia và biết rằng chị buộc phải nhận nó.

“Là em”, tôi nói dứt khoát. Tôi nghĩ đến chị Jane và mối nguy hiểm khủng khiếp của tham vọng, tôi nghĩ đến sự cám dỗ của chiếc vương miện và tương lai của con trai tôi.

“Di chúc của Vua Henry78* ghi tên mẹ nàng sau tên Nữ hoàng Elizabeth”, chàng bình tĩnh nói, “không phải mẹ của Margaret Douglas, không phải dòng dõi từ Scotland, mà là mẹ nàng, và sau đó là nàng. Nữ hoàng Elizabeth nói rằng người kế vị phải tuân theo thứ tự tự nhiên, nhưng Hội đồng Cơ mật sẽ không chọn Nữ hoàng Mary xứ Scots, người mang nửa dòng máu Guise thuộc Pháp, để làm Nữ hoàng Anh khi chúng ta đang chiến tranh với Pháp và dòng họ cô ấy. Di chúc của Đức Vua quá cố Henry đã ghi tên dòng họ nàng. Di chúc của vua Edward ghi tên chị Jane và sau đó là nàng. Chỉ có một người kế vị Tudor theo Tin lành Kháng cách và đó là nàng. Mọi thứ đều đang hướng về nàng!”.

78* . Henry VIII.

Tôi suy nghĩ, hít thật sâu và nghĩ về con trai mình. Đứa trẻ được sinh ra đã là một hoàng tử. Sự giam cầm càng thôi thúc tham vọng của tôi. Tôi không chấp nhận bị giam giữ vì là người kế vị mà giờ không đòi lại ngôi báu của mình. “Em đã sẵn sàng”, tôi nói, mặc dù giọng tôi hơi run rẩy. “Em đã sẵn sàng. Giờ em muốn đội vương miện của chị em”.

Chàng thở hắt ra như vừa trút được một gánh nặng vì tôi biết nghĩa vụ của tôi đối với vương quốc này, rằng tôi đã sẵn sàng để lên ngôi. “Có thể Nữ hoàng Elizabeth vừa chết ngay lúc này, và có thể họ đang chuẩn bị trao cho nàng vương miện. Có thể họ đang xuôi dòng từ Cung điện Hampton về đây đấy!”.

“Đến đây ư, ở ngay Tháp này à?” “Ở đây, trong Tháp này.”

Tôi nghĩ thật khủng khiếp khi bắt đầu triều đại của tôi ở nơi mà chị Jane đã bắt đầu và kết thúc triều đại của chị ấy. Nhưng tôi nghĩ đó thật là một suy nghĩ ngu ngốc tầm thường. Tôi nên chuẩn bị một bài phát biểu khi họ đến bảo tôi rằng Nữ hoàng Elizabeth đã chết. “Có thể có chiến tranh không?”, tôi hỏi, “nếu em lên ngôi, các tín đồ Công giáo La Mã có nổi dậy chống lại em không?”.

Chàng cau mày: “Gần như chắc chắn là không. Họ sẽ không được ủng hộ. Nữ hoàng Mary xứ Scots không thể xâm lược chúng ta trong khi Pháp đang nổi dậy và gia đình cô ấy không thể gởi quân Pháp đi hỗ trợ được. Margaret Douglas đã viết và gởi rất nhiều thư cầu viện nhưng không có một đội quân và không được sự hỗ trợ nào trong nước cả. Bà ấy đang bị quản thúc còn chồng bà ấy thì đang than khóc sau các chấn song nhà ngục nên không giúp ích gì được cho bà ấy. Henry Hastings xuất thân từ hoàng gia cũ và cũng không được ủng hộ. Không có ai khác. Đây là thời điểm của nàng. Đây phải là thời điểm dành cho nàng”, chàng gật đầu khi cánh cửa phòng bà vú khép lại, “và cho cậu bé này, người kế vị đương nhiên”.

Có tiếng gõ cửa nhè nhẹ và tôi nhảy dựng lên, làm đổ cả rượu ra bàn. “Có phải giờ khắc đã đến không?”, tôi hỏi, cảm thấy tim mình đập thình thịch và tôi nghĩ đến em bé, an toàn và yên ắng trong bụng tôi, cùng với anh trai nó đang ở phòng bên. Tôi nghĩ chúng tôi là một gia đình hoàng tộc mới và có thể họ đang mang vương miện đến cho tôi.

Ned sải bước qua căn phòng và mở cửa. Người lính gác đứng đó cùng một người khác. “Một người đưa tin, thưa ngài”, người lính gác nói một cách kính trọng, “ông ta nói cần phải gặp ngài”.

“Anh đã làm đúng khi đưa ông ấy đến gặp ta”, Ned nói một cách dễ chịu. Người lính gác lùi lại và người đưa tin bước vào phòng.

Tôi không thể rời mắt khỏi cuộn giấy trong tay anh ta. Có thể nó có ấn triện hoàng gia, có thể đó là thư của Hội đồng Cơ mật thông báo cho tôi về cái chết của Nữ hoàng Elizabeth và bảo tôi rằng họ đang trên đường đến đây.

Ned đưa tay ra một cách kiêu ngạo. Người đưa tin đưa cuộn giấy cho chàng. Đó là một thông điệp nguệch ngoạc ngắn gọn. “Ta tin tưởng anh”, Ned nói với người đưa tin, “có tin gì thế?”.

“Nữ hoàng đã chọn Robert Dudley.”

“Cái gì?”. Ned bị sốc và hét to đến mức tôi nghe tiếng Teddy giật mình khóc ré trong căn phòng của bà vú, bà ấy mở cửa nhìn ra.

“Không có gì! Không có gì!”, tôi ra lệnh, vẫy tay cho bà ấy quay lại phòng. Tôi quay sang người đưa tin. “Hẳn là có nhầm lẫn gì đó. Không thể như thế được!”.

“Nữ hoàng đã trao cho ông ấy chức Hộ Quốc công và Hội đồng Cơ mật đã tuyên thệ ủng hộ ông ấy.”

Ned và tôi nhìn nhau trong sự hoài nghi tột độ. “Không thể như thế được!”, tôi lẩm bẩm.

“Thế chủ của anh nói gì?”, Ned hỏi.

Người đưa tin mỉm cười. “Ông ấy nói họ sẽ không tranh cãi với một phụ nữ đang hấp hối, nhưng vợ ngài nên sẵn sàng”. Ông quay sang gập người chào tôi một cách trân trọng, “Ông ấy nói sẽ không lâu đâu. Không ai ủng hộ một người dòng họ Dudley, và không ai có một người hộ quốc nào khác cả. Nữ hoàng sốt cao đến mức mất trí. Khi chọn Robert Dudley, bà đã cho phép Hội đồng Cơ mật được quyền trao vương miện cho bất cứ ai họ muốn. Bà ấy quá vô lý; họ không thể nói lý lẽ với bà ấy nữa. Sẽ không ai trao vương miện cho ông ta. Nữ hoàng đã phủ nhận dòng dõi của chính mình, bà ấy đã tự phản bội ngai vàng của mình. Mọi người đều biết đó phải là Phu nhân Hertford”. Anh ta lại cúi đầu với tôi một lần nữa.

Ned gật đầu, suy nghĩ nhanh. “Sẽ không ai làm gì cho đến khi Nữ hoàng băng hà, Chúa ban phước cho bà ấy”, chàng nói. “Bất cứ động thái nào của chúng ta cũng chỉ được tiến hành sau đó mà thôi. Chúng ta là những thần dân trung thành của bà ấy, chừng nào bà ấy còn sống. Chúng ta sẽ cầu nguyện cho bà ấy bình phục”.

“Vâng”, người đưa tin nói. “Tôi sẽ trở về Cung điện Hampton và nói với ông chủ của tôi rằng ngài đã hiểu. Ngài sẽ được thông báo ngay khi có những tin tức mới”.

“Chúng ta đang sống những thời khắc lạ thường”, Ned gần như nói với chính mình, “những thời khắc kỳ diệu”.

Tất nhiên chúng tôi không thể ngủ được. Thậm chí chúng tôi cũng không lên giường với nhau. Chúng tôi không nuốt nổi. Cả hai chúng tôi đều không thể làm gì ngoài việc đi tới đi lui trong căn phòng và nhìn ra khu vườn tối đen ngoài cửa sổ để xem có ngọn đuốc bập bùng nào đang tiến về phía chúng tôi hay không. Tôi thay bộ áo váy để trông tôi có vẻ đẹp nhất khi họ mang vương miện đến. Tôi phủ một tấm vải lên lồng chim hồng tước để chúng đi ngủ và không hót nữa. Những con chó nằm im lặng trong cái hộp và tôi cho chú khỉ Nozzle vào chuồng. Dù không có phòng khánh tiết, không có triều đình, chúng tôi vẫn phải giữ gìn phẩm giá khi có thể. Tôi ngồi trên một chiếc ghế và Ned đứng sau tôi. Chúng tôi không thể ngừng các tư thế, giống như những diễn viên trong một vở ca vũ kịch, đóng vai uy nghi, ngay cả khi người đưa tin có thể đang chạy về phía chúng tôi để nói với chúng tôi rằng vở kịch đã trở thành hiện thực.

“Em sẽ ban thưởng cho viên trung úy Tháp”, tôi nói.

“Đừng nói gì cả”, Ned cảnh báo tôi, “chúng ta cầu nguyện cho Nữ hoàng hồi phục, Chúa ban phước cho bà ấy”.

“Vâng”, tôi đồng ý. Tôi tự hỏi có gì sai trái không khi bên ngoài chúng ta cầu nguyện cho một người nhưng trong lòng thầm mong sao bà ấy chết đi. Ước gì tôi có thể hỏi chị Jane: Chị ấy biết câu trả lời. Nhưng thực sự, làm sao tôi muốn Nữ hoàng Elizabeth tiếp tục sống trong khi bà ấy cư xử như kẻ thù đối với tôi và đứa con trai vô tội của tôi!

“Em đang cầu nguyện cho bà ấy”, tôi nói với Ned. Tôi nghĩ tôi sẽ cầu nguyện cho bà đi thẳng lên thiên đường mà khỏi phải qua lửa luyện ngục, bởi vì nếu thế thì bà ấy sẽ không bao giờ thoát ra được.

Chúng tôi nghe có tiếng chim hót vào buổi sáng, tiếng hót rất rõ ràng trong căn phòng im ắng của chúng tôi, và rồi từng chú chim bắt đầu hót chào ngày mới. Một con chim hét đang cất giọng lảnh lót nghe như tiếng sáo thổi. Tôi cựa mình trên ghế và thấy Ned đang nhìn ra cửa sổ. “Bình minh lên rồi”, chàng nói, “ta phải đi”.

“Không có thông điệp nào cả!”

“Bất kỳ người đưa tin nào cũng dễ dàng tìm thấy ta”, chàng nhăn mặt nói, “ta không được đi đâu cả. Ta sẽ bị nhốt trong phòng giam ở Tháp. Và nếu nàng nhận được thông điệp gì thì họ cũng sẽ báo tin cho ta ngay khi họ nói với nàng...”. Chàng lê bước ra ngoài. “Hãy nhớ, nếu ai có hỏi, nàng đã cầu nguyện cả đêm cho sức khỏe của bà ấy”, chàng nói, “và nàng đã ở đây một mình”.

“Em sẽ nói thế. Và thực sự em đã làm thế”, tôi ngoéo hai ngón tay sau lưng vì đã nói dối một nửa, “tối mai chàng sẽ đến chứ?”.

Chàng ôm tôi vào lòng: “Chắc chắn. Chắc chắn, tình yêu của ta. Và ta sẽ gởi cho nàng bất cứ tin gì ta nghe được. Hãy cho người hầu của nàng đến gặp ta vào giờ ăn tối và ta sẽ thì thầm với bà ấy bất cứ điều gì ta nghe được từ Hampton Court”. Chàng mở cửa rồi do dự. “Đừng để bị lừa bởi những tin đồn”, chàng nói, “đừng rời khỏi phòng trừ khi Hội đồng Cơ mật đích thân đến với nàng. Sẽ là mối nguy hiểm chết người nếu có ai nhìn thấy nàng nhận chiếc vương miện, và rồi Nữ hoàng Elizabeth hồi phục”.

Tôi sợ bà ấy đến mức thực sự rùng mình khi nghĩ đến việc mắc phải một sai lầm như vậy và phải đối mặt bà ấy với lời buộc tội chính đáng về tội phản bội. “Em sẽ không làm thế! Không bao giờ!”. Tôi hứa với chàng. Tôi thề với chính mình rằng tôi sẽ không bao giờ làm một nữ hoàng chín ngày như chị tôi. Tôi sẽ là nữ hoàng trong suốt phần còn lại của cuộc đời mình, hoặc không làm gì cả. Nhưng khả năng nào sẽ xảy ra thì hiện giờ tôi không thể quyết định được. Mọi thứ đều phụ thuộc vào sức khỏe của một người phụ nữ ốm yếu gần ba mươi tuổi, đang chống chọi với một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất trên đời.

“Và hãy cầu nguyện cho Nữ hoàng”, Ned nói. “Hãy bảo đảm rằng mọi người nhìn thấy nàng cầu nguyện cho bà ấy”.

Chúng tôi nghe tiếng cánh cửa bên dưới mở ra và người lính gác thì thầm gọi với lên bằng giọng khàn khàn: “Thưa ngài?”.

“Tôi ra đây”, Ned trả lời. Chàng hôn vội lên môi tôi. “Tối nay nhé”, chàng hứa với tôi, “trừ phi hôm nay có chuyện gì đó xảy ra”.

Tôi phải đợi cả ngày. Viên trung úy quản Tháp, ngài Edward, đến và thấy tôi đang quỳ gối trước cuốn Kinh Thánh.

“Hẳn bà đã biết Nữ hoàng đang ốm”, ông ấy nói.

Tôi đứng dậy. “Tôi đã cầu nguyện cho bà ấy cả ngày. Cầu Chúa ban phước cho Nữ hoàng và chúc bà ấy mau bình phục”, tôi đáp.

“Chúa ban phước cho bà ấy”, ông ấy nhắc lại, nhưng cái nhìn ẩn ý của ông ấy về phía tôi cho tôi thấy cả hai chúng tôi đều biết rằng nếu bà ấy chuyển từ trạng thái vô thức sang chết thì sẽ có một Nữ hoàng Anh mới lên ngôi và cậu bé trong nôi sẽ là Edward, Hoàng tử xứ Wales.

“Bà có muốn đi dạo trong vườn không?”, ngài Edward đề nghị. Tôi khẽ nghiêng đầu. “Chúng ta đi thôi”.

Tôi không thể ngồi yên, nhưng cũng không thể đi đâu cả. Tôi không thể tập trung đọc sách và cũng không dám mơ mộng. “Lucy, mang cho tôi quả bóng của Teddy nào”.

Tôi chờ đợi và chờ đợi. Tôi giật mình mỗi khi nghe tiếng người gác cổng ra lệnh cho ai đó dừng lại và những cánh cổng lớn cọt kẹt mở ra, nhưng tuyệt không có tin tức gì từ cung điện Hampton cả! Nữ hoàng Elizabeth vẫn đang trong một cuộc chiến thầm lặng kéo dài để giành lấy sự sống, còn Hội đồng Cơ mật thì đang bàn bạc với nhau để chọn người kế vị ngai vàng. Không ai đồng ý với đề cử của Nữ hoàng Elizabeth cho Robert Dudley làm Hộ Quốc công. Bản thân Dudley – người có cha bị chặt đầu vì tội phản bội và được chôn cất trong nhà nguyện ở Tháp – cũng biết là không thể, dù tôi thề rằng với tham vọng khôn nguôi của mình, Dudley hẳn sẽ nhảy dựng lên khi nghe điều đó.

Hoặc anh ta sẽ nghiêng về ủng hộ ứng cử viên của gia đình mình: Henry Hastings, người đã kết hôn với một cô gái nhà Dudley trong đám cưới tập thể của chúng tôi, chị Jane và tôi, để củng cố sức mạnh nhà Dudley. Ngay cả bây giờ, tám năm sau cái chết của chị Jane, âm mưu lật đổ ngai vàng của nhà Dudley vẫn tiếp tục tồn tại như một chiếc cối xay nước khổng lồ không thể dừng lại. Một bánh xe quay rồi một chiếc khác quay theo và sau đó là một tảng đá mài lớn làm rung lắc cả tòa nhà. Âm mưu đã vào guồng, dòng nước đã chảy, các bánh xe đã quay, nhưng không ai ủng hộ Dudley cả.

Không ai công khai ủng hộ Nữ hoàng Mary xứ Scots. Cô ấy là một tín hữu Công giáo La Mã và những người thân của cô ấy đang có chiến tranh với những tín đồ Kháng cách Huguenot, đang tập trung chiến đấu với quân đội Anh ở Le Havre. Chỉ qua một đêm, cô ấy đã trở thành kẻ thù của nước Anh, và cô ấy sẽ không bao giờ khôi phục được danh tiếng như một người thống trị chấp nhận tôn giáo của chúng tôi. Rất ít người ủng hộ Margaret Douglas. Dù thuộc hoàng gia nhưng ai cũng biết bà là một tín đồ Công giáo La Mã, bị bắt giam vì những tội ác thuộc loại hiểm độc nhất. Không ai chấp nhận một phụ nữ như vậy làm Nữ hoàng nước Anh. Không ai khác trong dòng máu hoàng tộc theo tôn giáo Kháng cách ngoại trừ tôi. Không ai khác có dòng dõi được ghi tên trong di chúc của Vua Henry VIII. Tôi sẽ mang trên đầu mình vương miện của chị Jane.

Suốt cả ngày những điều đó vang vang trong đầu tôi như một bài đồng ca, khi tôi chơi với Teddy trong vườn, giúp bé đứng chựng và để bé sà vào lòng tôi. Cả ngày tôi nghe nhắc đi nhắc lại: “Tôi sẽ đội chiếc vương miện của chị tôi, tôi sẽ hoàn thành ước mơ của chị tôi. Tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ mà chị Jane đã bắt đầu và trên thiên đường chị ấy sẽ rất vui”.

Vào giờ ăn tối, tôi cho người hầu đến chỗ chồng tôi, gởi chàng một giỏ đào làm quà và khi bà quay lại, môi bà mím chặt như thể đang nắm giữ một bí mật.

“Thưa Công nương, tôi có tin.”

“Tin gì thế?”, tôi nghe âm thanh trong đầu mình: Tôi sẽ đội chiếc vương miện của chị tôi, tôi sẽ hoàn thành ước mơ của chị tôi.

“Bá tước bảo tôi nói với bà – ơn Chúa – rằng Nữ hoàng đã hồi phục. Bà đã hồi tỉnh và các đốm trên da bà đã tan. Ngài nói nhờ ơn Chúa bà ấy đã khỏe lại.”

“Ơn Chúa”, tôi lớn tiếng lặp lại. “Lời cầu nguyện của chúng ta đã được đáp lại. Chúa ban phước lành cho bà ấy”.

Tôi quay vào trong, để Teddy ở lại với bà vú, dù bé đòi tôi và đưa tay đòi ẵm. Tôi không thể để ai nhìn thấy sự cay đắng trên gương mặt tôi. Bà ấy đã hồi phục, người dì giả dối đó, mụ nữ hoàng ác độc đó. Bà ấy đã hồi phục, còn tôi thì vẫn bị giam cầm. Sẽ không ai đến thả tôi ra nữa. Hôm nay sẽ không có ai đến trao vương miện cho tôi.

THÁP LONDON

MÙA ĐÔNG NĂM 1562

Nữ hoàng Elizabeth hồi phục nhanh như thể quỷ dữ đã chăm sóc cho bà ấy bằng sự dịu dàng của Satan. Chị chồng của chị Jane tôi, Mary Dudley, suýt chết vì bị lây bệnh đậu mùa từ Nữ hoàng Elizabeth, và nhan sắc nổi tiếng của cô ta không còn nữa. Tôi không hề thương hại cô ta, người đã đưa chị Jane đi thuyền đến Syon vào buổi tối họ trao vương miện cho chị ấy. Đó là một chuyến đi dại dột: Giờ chị Jane đã chết, và Mary thì suốt cuộc đời còn lại sẽ phải che giấu khuôn mặt sứt sẹo trước cả thế giới, như thể tham vọng của nhà Dudley đã tàn phá nhan sắc cô gái nhà họ.

Nữ hoàng đã hồi phục, nhưng đất nước thì đang hỗn loạn. Mọi người đều biết bà sắp chết mà không chỉ định người kế vị. Lúc này tin tức lan đi rất nhanh, từ những tòa nhà lớn ở London ra khắp các đường phố, rằng bà đã cố gắng biến con của một kẻ phản bội, cháu của một kẻ phản bội, thành Hộ Quốc công. Nữ hoàng của chúng ta đã cố biến người tình của bà thành một bạo chúa như Richard III. Mọi người kinh sợ khi bà thất bại trong nghĩa vụ của mình bằng cách chết mà không chọn người kế vị, rồi sau đó phản bội đất nước vì một người mà bà yêu thích. Mọi người nói về những sự thiên vị khác của hoàng gia và nguy cơ có một vị vua bất ổn. Ned nhận được hàng loạt tin nhắn từ bạn bè và những người ủng hộ tôi, các khách mời của những bữa tối được tổ chức bí mật bởi các quý tộc theo Kháng cách, những người thề rằng phải có một người kế vị được chọn cho ngai vàng nước Anh, và người đó phải là tôi.

“William Cecil rất cương quyết rằng nàng phải được chọn làm người kế vị”, Ned hứa với tôi. “Ông ấy nói không ai có những lý do nào tốt hơn cả, dù về tôn giáo hay về dòng dõi, rằng Nữ hoàng Elizabeth biết điều đó, rằng mọi người đều biết điều đó. Ông ấy nói nàng phải được thả ra. Mọi người đều đồng ý”.

“Vậy tại sao chúng ta vẫn ở đây?”, tôi hỏi.

Chúng tôi ngồi cùng nhau trong phòng tôi, trên chiếc ghế tồi tàn từng là ngai vàng của chị Jane. Hai chúng tôi cùng bán khỏa thân, quấn mình ấm áp trong tấm chăn trước lò sưởi, thỏa mãn với những nụ hôn và sự đụng chạm xác thịt.

“Phải nói là ta đã từng ở những nơi tồi tệ hơn nhiều”, chàng ôm chặt tôi vào lòng.

“Em sẽ dành mỗi buổi tối trong cuộc đời em với chàng như thế này”, tôi nói, “nhưng không phải trong một phòng giam. Nữ hoàng Elizabeth đã thả dì Margaret Douglas và chồng bà ấy, Bá tước Lennox. Tại sao bà ấy không thả chúng ta?”.

“Họ không được thả”, chàng sửa lại. “Ông ấy được đưa đến sống với bà ấy, nhưng họ vẫn đang bị giam giữ. Nữ hoàng Elizabeth buộc phải đưa ông ấy đến với vợ vì ông ấy không chịu nổi cảnh bị cầm tù”.

“Em cũng không chịu được!”, tôi kêu lên. “Có lẽ bà ấy nên để chúng ta bị quản thúc tại nhà. Chúng ta có thể yêu cầu điều đó, nếu họ không đồng ý cho chúng ta tự do hoàn toàn. Em có thể đưa con chúng ta về nhà chàng ở Hanworth”.

“Khi chúng ta được tự do, ta sẽ không bao giờ quay lại đây một lần nào nữa. Chỉ mỗi năm một lần để đặt hoa lên những ngôi mộ của gia đình chúng ta mà thôi”, Ned hứa.

“Ngay cả trong lễ đăng quang của em sao? Đó là truyền thống mà?” “Chúng ta sẽ tạo ra một truyền thống mới”, chàng nói, “ta sẽ không để con trai ta ở trong những bức tường này một lần nào nữa”. Chàng nhẹ nhàng vuốt ve cái bụng tròn căng của tôi, “bất cứ đứa con nào”.

“Em thích Lâu đài Windsor nhất”, tôi ngái ngủ nói.

“Điện Hampton”, Ned quyết định, “và có lẽ chúng ta nên xây một lâu đài mới”.

“Một cung điện mới”, tôi sửa chàng, “chúng ta không cần một lâu đài. Vương quốc này rồi sẽ thanh bình trở lại. Chúng ta có thể xây dựng những cung điện và những tòa nhà lộng lẫy, và sống như một gia đình hoàng tộc giữa thần dân của chúng ta”.

“Vâng, một nền hòa bình thần thánh”, chàng nói.

“Amen”, tôi ngừng một chút, nghĩ về một cung điện tráng lệ mới mà chúng tôi có thể gọi là Cung điện Seymour. “Điều đó sẽ diễn ra, phải không?”, tôi hỏi, “vì chúng ta đã có rất nhiều hy vọng và gặp rất nhiều rắc rối”.

“Thực sự, ta nghĩ lần này mọi việc nhất định sẽ diễn ra. Bà ấy thực sự không có một người kế vị đáng tin cậy nào cả, và lần này bà ấy đã đi quá xa, ngay cả đối với bạn bè và các cố vấn của bà ấy”, chàng nghĩ ngợi.

THÁP LONDON

MÙA ĐÔNG NĂM 1562

Ned và tôi trải qua mùa Giáng sinh làm tù nhân với những món quà được mang về từ thành phố và những cành cây xanh trong vườn nhà viên quản ngục. Chúng tôi ăn uống như hoàng tử. Mỗi ngày người dân London đều đặt quà ở cổng Tháp: thức ăn và quà tặng. Tôi rất xúc động khi họ gởi quà cho Teddy. Một người thợ bạc ở London gởi vào cho bé một chiếc thìa bạc có gia huy của chúng tôi, hình một đôi cánh thiên thần, khắc trên thân thìa; một nhà sản xuất đồ chơi gởi tặng bé một chú ngựa gỗ. Bé rất thích món quà này mặc dù chưa thể cưỡi nó. Thay vì thế, bé đẩy nó về phía trước và bảo tôi nói “Đi nào!”. Tất cả những gì bé có thể nói là “Hiii!” và cha cậu phàn nàn rằng những lời đầu tiên của cậu nên là “Chào Seymour!”.

Chúng tôi ăn tối riêng trong phòng của mình, nhưng Ned đến phòng tôi ngay sau khi chén đĩa được dọn dẹp và những người hầu ra về. Người lính gác cho chàng vào và chúng tôi lên giường trao nhau những nụ hôn Giáng sinh. Chúng tôi không gần gũi nhau kể từ khi bụng tôi lớn lên, nhưng tôi dụi đầu vào khuôn ngực trần của chàng và chàng cởi quần áo tôi ra để vuốt ve đường cong tự hào của bụng tôi.

“Thắt dây quá chặt có làm hại gì cho em bé không?”, chàng hỏi.

“Em không nghĩ thế”, tôi nói, “em đã giấu Teddy thế này đến những tháng cuối cùng”.

“Ta rất vui khi lần này ta có thể ở bên cạnh nàng”, chàng úp mặt vào bộ ngực ấm áp của tôi. “Hẳn ta là người đàn ông hạnh phúc nhất từng bị giam giữ trong những bức tường này”.

Tôi cười khúc khích: “Không khắc gì trên đá sao? Không đếm ngày sao?”. “Ta cầu nguyện cho chúng ta được phóng thích”, chàng nghiêm nghị nói, “và ta nghĩ sẽ sớm thôi. Nữ hoàng sẽ phải triệu tập Nghị viện nếu bà ấy muốn có tiền cho quân đội ở Pháp. Và Nghị viện sẽ không cấp ngân sách cho bà trừ phi bà chỉ định người kế vị. Họ đã đưa bà ấy vào bẫy. Tất cả các quý tộc trong Hội đồng Cơ mật đều đã họp kín từ sau Đêm thứ Mười hai, và những tiếng nói mạnh mẽ nhất đều ủng hộ nàng lên làm người kế vị”.

Tôi thở dài. “Họ thừa nhận chúng ta đã kết hôn chứ?”.

“Họ luôn biết điều đó”, chàng đảm bảo với tôi, “họ chỉ không dám phủ nhận bà ấy trước đây. Và dù sao thì họ đã buộc cả hai chúng ta phải thề kết hôn trước Tổng Giám mục Canterbury, và ông ấy đã báo cáo điều đó cho Nữ hoàng Anh. Tổng Giám mục Canterbury đã nghe lời thề kết hôn của chúng ta. Chúng ta không thể không kết hôn được. Lúc này không ai có thể phủ nhận điều đó nữa”.

Tôi cười to: “Em không hề nghĩ về điều đó! Họ thật ngốc nghếch! Tự mắc bẫy chính mình trong khi hy vọng bắt được chúng ta”.

“Những kẻ ngu ngốc”, chàng nói với niềm vui tột cùng của một người yêu trong vòng tay của người được chàng yêu. Không ai khác quan trọng cả, không ai khác có giá trị gì đối với hai chúng tôi, những kẻ đang quấn lấy nhau trên một chiếc giường với ánh lửa lung linh chiếu vào hai cơ thể bán khỏa thân, “những kẻ ngu ngốc trong một thế giới ngu ngốc! Thật may chúng ta ‘được’ lưu đày khỏi họ trong niềm hoan lạc của riêng mình”.

THÁP LONDON

MÙA XUÂN NĂM 1563

Mary đến thăm và mang theo một ít bánh mì mới nướng hình người với đôi mắt làm bằng những trái nho từ tiệm bánh hoàng gia cho Teddy, tay em ấy ôm đầy những món quà nhỏ.

“Ôi trời, gì thế này?”, tôi hỏi em ấy.

Em ấy cười to, đổ ào những món quà ra khắp bàn. “Khi em ra phố, mọi người nhận ra em và gởi em những thứ họ muốn tặng chị. Mọi thứ thật hỗn độn. Người cận vệ của em phải trình cho viên trung úy tất cả các thứ mà anh ta mang theo để đảm bảo không có tin nhắn gì trong đó”.

“Quà ư?”, tôi hỏi.

“Các loại đồ chơi và những món quà nhỏ. Người dân yêu mến chị. Mọi người nói to với em rằng chị phải được thả ra và được sống chung với chồng chị. Mọi người ở Anh đều nghĩ rằng chị không làm gì sai và phải được phóng thích ngay. Tất cả mọi người – ý em thực sự là tất cả mọi người – từ các thị nữ của triều đình cho đến các cô thôn nữ Smithfield”.

“Họ kêu gọi ủng hộ chị sao?”

“Em nghĩ họ sẽ biểu tình vì chị đấy”

Chúng tôi không nói gì, chỉ nhìn nhau trong giây lát. “Đừng biểu tình”, tôi khẽ nói, “dù sao đi nữa, hãy cảm ơn Chúa vì em không bị lây bệnh đậu mùa”, và tôi hôn em ấy. Tôi gặp khó khăn khi cúi xuống và em ấy nhận ra ngay lập tức.

“Nếu em bị bệnh thì đó sẽ là một vấn đề lớn”, em ấy nhận xét. “Có chuyện gì với chị vậy? Chị bị đau lưng hay sao mà cứng người vậy?”.

Tôi chờ Mary leo lên ghế rồi đặt ngón tay ngang miệng để ngăn em ấy không kêu lên. “Chị có thai”, tôi thì thầm vào tai em ấy.

Em ấy tròn mắt nhìn tôi cho đến khi tôi thả tay ra. “Chúa ơi, làm thế nào được?”, em ấy thảng thốt.

Tôi cười. Mary luôn rất thực tế. “Vì họ đã tuyên bố anh chị có tội nên trung úy đã cho Ned đến với chị gần như mỗi buổi tối”, tôi nói, “anh chị đã hối lộ lính gác để có thể qua đêm cùng nhau”.

“Khi nào em bé sẽ chào đời?”

“Chị không chắc. Sớm thôi, chị nghĩ, có lẽ trong vòng tháng tới.”

Em ấy có vẻ lo lắng. “Katherine, chị phải giữ bí mật tuyệt đối chuyện này, bởi vì mọi người đang cầu xin cho chị ở triều đình. Những người kêu gọi tự do cho chị sẽ phát điên nếu họ biết chị đang mang thai một đứa trẻ khác ở đây. Họ sẽ phá sập Tháp để giải phóng chị và những người lính gác sẽ mở toang cửa cho chị. Em nghĩ Nữ hoàng Elizabeth sẽ bị ép phải chỉ định chị làm người kế vị, công nhận cuộc hôn nhân của chị là hợp pháp và con trai chị sẽ là người kế vị tiếp theo”.

“Thật sao? Chị biết các nhà quý tộc đang khuyên bà ấy chọn chị...”

“Bà ấy đã triệu tập Nghị viện, và trong buổi lễ nhà thờ trước khi khai mạc cuộc họp, chính vị mục sư trưởng đã bảo bà rằng bà phải kết hôn, ngay trong bài thuyết giảng của ông ấy! Sau đó lưỡng viện đều bảo bà ấy, hết người này đến người kia, rằng bà phải chỉ định người kế vị. Họ đã không chấp nhận đề cử Robert Dudley khi bà đang nằm trên giường bệnh. Lúc ấy bà đã đi quá xa. Do sai lầm đó, bà đã đánh mất lòng trung thành của các quý tộc và các thành viên Nghị viện. Bà đã nói chuyện với thành viên Hội đồng một cách rất thẳng thắn rằng đó là lựa chọn của bà, và họ bảo bà rằng bà phải kết hôn và sinh cho được một người kế vị, hoặc chỉ định một ai đó, và họ sẽ không tuân theo những mệnh lệnh bị chi phối bởi đam mê tình ái của bà”.

Tôi há hốc miệng. “Họ không bao giờ nói thế đâu!”.

“Em không thể mô tả những cảnh tượng ở triều đình lúc này. Bà ấy triệu tập Henry FitzAlan, Bá tước xứ Arundel, và ông ấy nói thẳng vào mặt bà trước mọi người rằng nếu bà cai trị bằng đam mê nhục dục, thì ông ấy và tất cả các quý tộc khác sẽ ngăn cản điều đó.”

“Ông ấy dám nói thế với Nữ hoàng à?”

“Ông ấy đã làm thế, và không phải người duy nhất. Mọi thứ đã khác đi từ sau khi bà ấy bị bệnh. Em không thể cho chị biết tất cả đã thay đổi đến mức nào. Em nghĩ bà ấy đang cảm thấy mình phản bội chính mình. Mọi người đều thấy bà yêu Dudley đến nhường nào khi đặt ông ta trên cả những điều tốt đẹp của Vương quốc. Các quý tộc và cố vấn nghĩ rằng bà đã phản bội đất nước. Bây giờ không ai tin tưởng bà ấy nữa; không ai tin nổi bà ấy sẽ đi xa đến mức chọn Dudley làm người cai quản nước Anh. Mọi người đều cảm thấy bà ấy đã hạ nhục chính mình và khiến tất cả chúng ta thất vọng.”

“Thế bà ấy đáp trả Henry FitzAlan như thế nào?”

“Bà ấy rất tức giận, bà ấy nổi cơn thịnh nộ rồi bật khóc. Chị chưa bao giờ nhìn thấy cảnh đó đâu! Tất cả phụ nữ đứng đó đều không biết phải làm gì. Bà ấy không nói một lời mà chỉ khóc. Ông ấy nhìn Nữ hoàng, cúi chào và đi ra ngoài. Bà ấy lao về phòng ngủ đóng sầm cửa lại như một đứa trẻ đang giận dữ. Suốt ngày hôm đó bà không bước ra ngoài – và bà cũng không bao giờ triệu tập ông ấy nữa.”

Tôi nhìn Mary. Tôi choáng váng khi em ấy mô tả cảnh Nữ hoàng Elizabeth trở thành một đứa trẻ cáu kỉnh thay vì một nữ hoàng uy nghiêm. “Chúa ơi, bà ấy đã mất hết quyền lực”, tôi nói trong sự kinh ngạc. “Nếu FitzAlan dám mắng bà ấy nghĩa là bà ấy đã mất hết quyền lực trước triều đình rồi”.

“Và Robert Dudley cũng không. Em có kể với chị là khi Nữ hoàng nằm trên giường bệnh, bà đã di chúc để lại cả một gia tài cho người hầu của ông ấy chưa?”

“Cho Tamworth à?”, tôi hỏi, nhớ đến người đàn ông đã rời khỏi giường của Dudley, đi ra canh cửa không hề ngạc nhiên và không một câu hỏi, như thể anh ta đã làm việc đó rất nhiều lần.

“Trên giường bệnh”, Mary nhắc lại, “thế nên bây giờ mọi người nói rằng điều đó chứng tỏ anh ta đã canh cửa trong khi bà ấy ăn nằm với Dudley. Bà ấy nhục nhã ê chề và Dudley cũng thế”.

“Không ai ủng hộ ông ấy làm Hộ Quốc công sao?”

Mary tỏ vẻ khinh thường, “Không ai cả. Kể cả bản thân ông ta cũng không. Ông ta nói Henry Hastings nên là người kế vị, nhưng đó chỉ vì họ là anh em cột chèo với nhau. Ngay cả Dudley cũng không dám nhận tước vị Hộ Quốc công. Đó là ảo giác từ một cơn sốt, và nó cho thấy điều duy nhất mà Nữ hoàng nghĩ đến khi bà sắp chết là để vương quốc lại cho người yêu của mình và che giấu nỗi ô nhục bí mật bằng cách hối lộ cho người hầu của ông ấy”.

“Và Nghị viện sẽ buộc bà ấy chỉ định người kế vị?”

“Họ sẽ không cấp ngân quỹ để bà ấy gởi cho quân đội đang ở Pháp trừ phi bà tự làm việc đó. Họ đang bắt chẹt bà. Bà muốn chu cấp tiền bạc cho quân đội, còn Nghị viện chỉ chi tiền nếu bà chỉ định người kế vị – và chỉ khi bà ấy chọn chị.”

“Bà ấy không thể chỉ định người khác à?”

“Không ai khác cả!”, mắt Mary sáng lên. “Em không thể cho chị biết lúc này em có bao nhiêu người bạn ở triều đình đâu. Có lẽ chị đang nghĩ em là một cô gái cao ráo xinh đẹp, vì hiện giờ em có rất nhiều bạn bè và mọi người đều đau khổ vì chị. Em có hàng chục lời nhắn gởi cho chị. Mọi người đều biết người đó phải là chị. Thậm chí cả Nữ hoàng Elizabeth cũng phải tuyên bố điều đó bất cứ lúc nào”.

Tôi ngừng một chút để có thể cảm nhận được chiến thắng của mình. “Có chắc không, Mary? Chị không chịu đựng nổi một hy vọng hão huyền nào nữa đâu”.

“Chắc chắn”, em ấy nói, “bà ấy sẽ phải chỉ định chị. Bà ấy phải chọn ai đó, và không có ai khác cả, ngoài chị!”.

“Và thả chị ra”, tôi nói.

“Tất nhiên là phải thả chị ra”, em gái tôi xác nhận. “Cả Ned nữa, và công nhận chàng là chồng chị.”

“Bà ấy phải làm thế. Bà không thể dùng sở thích bất chợt của đàn bà để chống lại ý chí của toàn thể nghị viện. Bà đã công khai hứa sẽ nghe lời khuyên của họ trong việc chỉ định người kế vị, và không ai khuyên bà chỉ định ai khác ngoài chị cả”.

“Bà ấy có bị sẹo vì bệnh đậu mùa không?”. Tôi hỏi trong khi nghĩ đến thói phù phiếm ngông cuồng của Nữ hoàng Elizabeth.

“Bà ấy đang làm tất cả những gì có thể để vượt qua chúng. Bà ấy chỉ có một vài dấu vết trên mặt và bà trang điểm để giấu chúng đi. Họ cắt tóc bà ấy khi bà ấy bị sốt, nên bây giờ bà ấy mang một bộ tóc giả bằng lông bờm ngựa màu đỏ. Nhưng trông bà khá ổn khi xuất hiện trước Nghị viện với bộ áo váy da chồn màu đỏ thẫm. Vài người nói bà trông còn trẻ và mạnh khỏe nên bà có thể hạ sinh một người kế vị vào năm tới nếu bà chịu kết hôn ngay bây giờ”.

“Nhưng bà ấy sẽ không bao giờ kết hôn theo lệnh của họ”, tôi đoán. Mary lắc đầu. “Em thề rằng nếu không thể cưới Robert Dudley thì bà ấy sẽ không bao giờ cưới ai cả. Hầu hết mọi người nghĩ rằng bà ấy đã tự thể hiện điều đó khi chọn ông ấy làm người kế vị”.

“Vậy tại sao bà ấy không hiểu chị đã kết hôn vì tình yêu?”, tôi hỏi. “Nếu bà ấy yêu ông ấy nhiều đến mức đánh cược cả vương quốc? Tại sao bà ấy không thông cảm với chị?”.

Mary lắc đầu khi nghe giọng ai oán của tôi. “Bởi vì bà ấy không giống chị”, em ấy tuyên bố chắc nịch. “Chị không hiểu bà ấy. Mọi người đều nghĩ bà ấy là một phụ nữ lụy tình, đặt trái tim mình lên trên hết. Nhưng không phải vậy. Bà ấy là một phụ nữ thích đam mê tình ái nhưng không thể bị lay chuyển vì nó. Bà ấy quyết đoán và ích kỷ. Bà ấy sẽ không bao giờ từ bỏ Robert Dudley nhưng cũng sẽ không bao giờ kết hôn với ông ấy. Bà ấy yêu ngai vàng hơn ông ấy. Robert Dudley vẫn nghĩ bà ấy không thể cưỡng lại ông ấy, nhưng em nghĩ ông ấy sai rồi. Ông ấy sẽ thấy mình có một giao kèo rất tệ: Luôn luôn ở bên cạnh Nữ hoàng Elizabeth, nhưng không bao giờ được ngồi trên ngai vàng!”.

“Em nói như thể bà ấy là một bạo chúa vậy”, tôi thì thầm.

Mary nhướng mày. “Bà ấy là một Tudor”, em ấy đáp lại, “và mọi Tudor đều là bạo chúa”.

Tôi thở gấp và đặt tay lên bụng, vừa cảm thấy một cơn gò mạnh. Tôi gập người thở hổn hển vì đau.

Mary cảnh giác ngay lập tức. Em nhảy xuống ghế và rướn người đặt tay lên lưng tôi: “Sao thế? Sao thế?”.

“Nó đang dịch chuyển”, tôi cố lấy lại nhịp thở, chờ đợi cơn đau quay lại một lần nữa, rồi tôi đứng thẳng lên. “Ơn Chúa, một cơn co thắt khủng khiếp”.

“Chị sắp sinh à? Đến lúc rồi phải không?”

“Làm sao chị biết được chứ?”, tôi nói ngang. “Chị không được gặp một bà mụ hiểu biết hay một thầy thuốc nào cả”. Tôi có thể cảm nhận cảm giác này lại xuất hiện, và lần này tôi nắm chặt tay vịn ghế, rên rỉ như một con chó ốm khi cơn đau tăng lên rồi giảm xuống. “Không, chị biết cảm giác này”, tôi nói khi có thể thở lại được, “em bé sắp ra rồi”.

“Em có thể làm gì không?”, Mary xắn tay áo lên và nhìn khắp căn phòng. “Không! Em không thể làm gì cả!”, tôi còn đủ tỉnh táo để biết rằng Mary không được phép ở đây, không được chứng kiến sự ra đời của thêm một người kế vị ngai vàng nước Anh nữa. “Em phải đi ngay, và đừng nói với ai về điều này cả”.

“Em không thể để chị ở đây một mình như thế này!”

“Đi ngay! Và đừng nói gì cả!”. Tôi ôm chặt bụng như thể điều đó sẽ trì hoãn chuyển động không ngừng của em bé và nhịp điệu dồn dập của những cơn đau. “Đi đi, Mary! Ngay khi em rời khỏi đây an toàn, chị sẽ bảo người hầu đi gặp trung úy và ông ấy sẽ đưa bà đỡ tới. Nhưng em không được phép biết về sự ra đời của em bé. Em phải chờ triều đình báo tin và phải tỏ ra ngạc nhiên. Hiểu chưa!”.

Em ấy gần như giãy giụa tại chỗ trong sự thất vọng cùng cực. “Làm sao em để chị lại đây được? Chị của em? Không người trợ giúp? Ở ngay đây, nơi mà chị Jane... chị Jane...”.

“Để giữ an toàn cho em”, tôi thở mạnh. Cơn đau lại đến. Tôi cảm thấy mồ hôi túa ra trên mặt và khắp vùng bụng. “Chị lo cho sự an toàn của em. Chị thề như thế. Hãy đi đi, Mary, và hãy âm thầm cầu nguyện cho chị”.

Tôi cúi xuống ghế để em ấy có thể nhón chân hôn lên mặt tôi. “Cầu Chúa ban phước và gìn giữ chị”, em ấy thì thầm gấp gáp. “Em đi đây. Chị gọi người hầu ngay lập tức nhé. Hãy báo tin sớm cho em!”.

Em ấy nhón chân bước ra khỏi phòng, người lính gác để em ra ngoài rồi cài then lại. Tôi chờ vài phút, một cơn đau nữa lại đến, và tôi hét to: “Lucy! Đến đây ngay!”.

Thật là náo động! Các căn phòng được dọn dẹp ngay để đón một đứa trẻ sắp chào đời. Những người lính canh Tháp chạy khắp thành phố tìm một bà đỡ có thể đến ngay lập tức và một vú em đang có sữa. Những người hầu ở Tháp kéo một chiếc sofa vào phòng tôi và buộc một sợi dây thừng lên các trụ giường cho tôi bám vào trong lúc sinh nở, còn tôi thì đi tới đi lui trong phòng và bám lấy lưng ghế mỗi khi cơn đau kéo đến. Những cơn đau ngày càng dồn dập hơn và tôi không thể chịu nổi. Những con chó nằm ngổn ngang khắp nơi, chú khỉ Nozzle ngồi trên cánh cửa chớp bằng gỗ, nhìn tôi đầy quan tâm bằng đôi mắt nâu lấp lánh. Tôi bắn tin nhắn cho Ned, và khi tôi nhìn ra cửa sổ trong khi đi tới đi lui, cố gắng xoa dịu cơn đau liên tục ở lưng, tôi thấy chiếc khăn quàng treo ở cửa sổ phòng chàng đã được thay đổi. Chàng treo một lá cờ hiệu của nhà Seymour; tôi bật cười với niềm vui của chàng và cố bám vào tường để đứng vững.

Người hầu của tôi, bà Rother, đi vào, mặt trắng bệch như chiếc khăn trải giường, cùng với một người đàn bà mập mạp có gương mặt đỏ bừng theo sau. “Thưa Công nương”, bà Rother nói, “tôi không biết chuyện này! Nếu bà báo trước với tôi, chúng tôi đã chuẩn bị tốt hơn. Đây là bà đỡ tốt nhất mà chúng tôi có thể tìm thấy trong lúc này”.

“Đừng để ý đến tôi!”, người phụ nữ phản đối bằng một chất giọng sắc sảo của người sinh ra và lớn lên tại London.

“Tôi không bận tâm đâu”, tôi nói. “Tôi mong bà sẽ đỡ cho tôi và con tôi. Đây là lần sinh thứ hai của tôi”.

Bà ấy nắm tay tôi trong bàn tay múp míp êm dịu của bà trong khi những người hầu chuẩn bị chiếc sofa và những tấm khăn trải sạch, mang đến những bình nước nóng, khăn và những tấm trải giường được xé ra làm tã.

Lucy ẵm Teddy bên hông. “Tôi có nên đưa bé ra ngoài không?”, cô ấy bối rối hỏi, “và lũ chó cũng nên ra ngoài chứ?”.

Tôi bỗng cảm thấy mệt đứt hơi. “Vâng. Hãy sắp xếp mọi thứ đâu vào đấy”, tôi nói với bà Rother và Lucy. “Tôi muốn nằm”.

Họ dắt tôi đến chiếc sofa để tôi nghỉ ngơi giữa những cơn đau. “Hãy bảo chàng rằng tôi khỏe”, tôi thì thầm với Lucy, “nói với chàng rằng tôi rất vui”.

Và em bé ra đời vào buổi tối hôm đó, một cậu bé xinh xắn đúng như tôi đã cầu nguyện. Họ gói những thứ dính máu của tôi bằng rêu, bó hai bầu vú tôi bằng vải lanh và để tôi nằm yên trên chiếc giường lớn tơi tả. Họ tìm được một vú em, cô ấy ngồi cạnh tôi và đang cho bé bú. Chúng tôi ẵm bé đến Teddy, cậu bé chỉ tay và nói “Hiii!” như thể muốn rủ em bé chơi trò cưỡi ngựa. Nhưng Ned không được phép đến với tôi.

Trung úy Tháp, ngài Edward, thì thầm qua cánh cửa mở hé từ phòng khách. “Tôi đã báo tin cho triều đình, thưa Phu nhân Hertford. Tôi e rằng họ sẽ rất ngạc nhiên”.

“Cảm ơn ngài”, tôi nói và tựa lưng vào gối. Tôi bị chóng mặt do uống loại rượu dành cho bà đẻ. Tôi biết triều đình sẽ rất ngạc nhiên. Những người muốn có một người kế vị theo Kháng cách hẳn sẽ rất vui mừng – hầu hết mọi người. Những người vẫn còn lăn tăn về cuộc hôn nhân của tôi sẽ thấy nó được khẳng định gấp đôi. Chỉ có Nữ hoàng Elizabeth là ghen tị với đứa bé xinh đẹp này và giận dữ với hạnh phúc của tôi. Chúng tôi chờ xem bà ấy sẽ làm gì để trả thù.

Và bà ấy đã hành động một cách nhanh chóng và hằn học. Viên quản ngục, ngài Edward, bị bắt giam ngay trong chính nhà ngục của mình, và Ned được lệnh phải trình diện trước Hội đồng Cơ mật để trả lời những buộc tội về việc phá trinh một trinh nữ hoàng gia ngay tại cung điện của Nữ hoàng, tội vượt ngục và tội cưỡng bức một cô gái hoàng tộc lần thứ hai.

Khi chàng rời Tháp để đối mặt với những cáo buộc này, tôi treo lên cửa sổ một lá cờ Seymour, để chàng có thể thấy vợ con chàng mạnh khỏe, chúng tôi tôn vinh dòng dõi của mình và chúng tôi sẽ không bao giờ phủ nhận nó.

Tất nhiên, chàng không phủ nhận chúng tôi. Nhưng tôi không biết chàng nói gì, cũng không biết chàng phải chịu đựng cuộc thẩm vấn như thế nào, cho đến khi tôi nhận được một tin nhắn không ký tên của Mary, viết bằng một loại chữ không thể nhận ra chữ của ai.

Hội đồng Cơ mật đã tuyên bố chị là người kế vị ngay vào ngày họ nhận được tin chị sinh con. Có rất nhiều náo động, nhưng điều đó chứng minh cuộc hôn nhân của chị và củng cố những khẳng định của chị. Ned đã có thái độ tốt trước Hội đồng Cơ mật và thề rằng anh chị là vợ chồng. Anh ấy sẽ bị phạt một khoản tiền lớn hơn bất cứ ai có thể trả – và bị cầm tù vô thời hạn. Người dân London đang kêu gọi thả chị, họ hát vang những bài dân vũ và so sánh chị với chị Jane. Họ đòi trả tự do cho các con trai của chị, họ gọi đó là những hoàng tử được ban phước lành trong Tháp. Hãy báo tin cho em về sức khỏe của chị và các cháu. Hãy đốt tờ giấy này ngay.

THÁP LONDON

MÙA HÈ NĂM 1563

Tôi đặt tên thánh cho bé là Thomas Seymour, nhưng không ai được phép vào Tháp để làm lễ rửa tội cho con trai của chúng tôi. Cha đỡ đầu của bé là hai trong số những người lính gác của Tháp, đã đặt tên cho bé theo tên anh ta trước bình nước thánh ở nhà nguyện của Tháp trong khi người hầu của tôi bế bé trên tay. Họ trao bé lại cho tôi với linh hồn nhỏ bé được cứu rỗi, nhưng không có ai làm lễ giải cữ cho tôi. Tôi nghĩ chắc chắn tôi là một tín đồ Kháng cách ngoan đạo, vì đây là lễ ban phước thứ hai mà tôi bị từ chối. Tôi rời khỏi giường, tắm rửa sạch sẽ, thay y phục, cầu nguyện một mình, và thế là xong.

Tôi không nhận được tin tức gì ngoại trừ những chuyện tán gẫu của triều đình mà bà Rother kể lại cho tôi. Bà kể rằng dì Margaret Douglas và người chồng yếu đuối của bà ấy, Matthew Stuart, đang sống lặng lẽ ở nhà, đầu cúi thấp vì bị thất sủng bởi Nữ hoàng Elizabeth. Giờ thì khi họ đã được tự do – những người có tội quá mức – người dân London thậm chí còn nổi giận hơn khi tôi phải ở tù, và lúc này mọi người bắt đầu nói rằng chị Jane cũng đã sinh con ở Tháp, giống như tôi, và con chị ấy bị giết khi chị ấy qua đời. Tôi ghét cách họ nói về chị Jane, nhưng tôi cảm động khi họ vẫn nhớ chị ấy như một người tử vì đạo và nói chị ấy hẳn sẽ cho họ một cậu bé, một người kế vị nước Anh. Họ nói rằng tôi cũng đang bị cầm tù một cách bất công. Chính những người từng kêu hô “Nữ hoàng Elizabeth của chúng ta” giống như một vị cứu tinh cho tôn giáo Kháng cách ở Anh giờ thề rằng bà đã trở nên tồi tệ giống như những kẻ khủng bố trước đây. Họ nói bà ấy đang tra tấn em gái của một người tử vì đạo thuộc Tin lành Kháng cách. Quân đội của bà đã thất bại ở Pháp và thất bại trong việc bảo vệ các tín đồ Kháng cách và lúc này đang lê lết về nhà, thương vong, không được trả lương, nổi loạn vì khốn cùng, và hàng ngũ bị tàn phá bởi một trận dịch bệnh khủng khiếp.

Nhưng thông tin bất thường nhất không đến từ bà Rother mà từ cô hầu gái nhỏ bé Lucy của tôi, nghe được từ đầu bếp của viên trung úy tội nghiệp, và trực tiếp trên bàn ăn hoàng gia. Với nỗ lực đảo ngược ý kiến mọi người và cho phép mình lựa chọn một người kế vị an toàn hơn, Nữ hoàng Elizabeth sắp sửa lệnh cho Robert Dudley kết hôn với Nữ hoàng Mary xứ Scots.

Tôi muốn phát điên khi không thể kể chuyện này cho Ned vì chàng bị giam ở Tháp Trắng và không đến được với tôi nữa. Hẳn chàng sẽ cười ngặt nghẽo với tôi vì ý định điên rồ này. Nữ hoàng Elizabeth hẳn đã mất trí khi nghĩ đến việc dâng tặng người tình ô nhục của bà cho một nữ hoàng khác, nhất là một người rất cao ngạo và coi trọng phẩm giá. Nữ hoàng Mary xứ Scots đã được cầu hôn bởi Don Carlos – người kế vị Nhà Vua Tây Ban Nha. Tại sao cô ấy phải để mắt đến một trong những thần dân của Nữ hoàng Elizabeth? Mà lại là một kẻ suy đồi với những vụ bê bối tình ái khủng khiếp như vậy? Nhưng Nữ hoàng Elizabeth quá tuyệt vọng muốn né tránh quyền kế vị hợp pháp của tôi đến nỗi đã ngấm ngầm đặt ra âm mưu bất khả thi này để gạt tôi sang một bên hòng dành chỗ cho người tình đầy hổ thẹn của bà và một phụ nữ Pháp theo Công giáo La Mã, người mà dòng họ cô ấy vừa đánh bại quân đội Anh của chúng tôi.

Nữ hoàng Elizabeth đang đi quá xa. Bà đề nghị rằng bà và Nữ hoàng Mary sẽ chung sống hòa bình với nhau, rằng bà, Dudley và Nữ hoàng Mary sẽ cùng chung sống trong một cung điện lớn. Họ sẽ là hai Nữ hoàng chia sẻ một triều đình, chia sẻ một hòn đảo, và có lẽ Robert cũng sẽ được chia sẻ. Đó là một ý tưởng bất thường, tai tiếng và điên khùng. Tôi có thể tưởng tượng Hội đồng Cơ mật, William Cecil và bản thân Robert Dudley cũng đang vò đầu bứt tóc.

Có vẻ như Nữ hoàng Elizabeth đã viết thư cho Nữ hoàng Mary (thành phố đầy những tin đồn về chuyện này): những lá thư dụ dỗ, giống như những lá thư một người tình viết cho người yêu của mình. Bà sẽ gởi cho Nữ hoàng Mary một chiếc nhẫn kim cương, giống như một chiếc nhẫn đính hôn. Bà hứa hẹn một tình yêu và tình bạn vĩnh cửu. Bà nói rằng nếu cần gì hoặc gặp nguy hiểm, Nữ hoàng Mary có thể gọi bà và bà sẽ đến ngay không ngần ngại. Nữ hoàng Elizabeth đang làm những gì bà có thể làm tốt nhất – khơi gợi sự ham muốn vì mục đích chính trị.

Và sau đó – cũng như cha của bà, người đã thiên vị người này hơn người khác để họ căm ghét lẫn nhau – lúc này Nữ hoàng Elizabeth quay sang Margaret Douglas, người họ hàng bị thất sủng, và chứng tỏ cho cả thế giới thấy rằng bà thích dì Margaret hơn tôi cho vị trí một người kế vị được sinh ra tại Anh. Phu nhân Margaret chưa bao giờ phải trực tiếp đối mặt với những cáo buộc như tôi từng bị. Lời khai của những người nói rằng bà đã thuê các thầy bói và thầy đồng để tiên đoán cái chết của Nữ hoàng Elizabeth bị bác bỏ. Bà được tha án tù không một vết nhơ và lúc này bà được quay lại triều đình, được ân sủng, còn cậu con trai tuấn tú của bà, Henry Stuart, quay về từ Pháp, được dắt đi khắp nơi theo sau bà, giống như một chiếc tàu lớn kéo theo một chiếc thuyền nhỏ. Margaret Douglas gợi ý với tất cả mọi người rằng Henry Stuart sẽ là một người chồng phù hợp với Nữ hoàng Scotland – ý tưởng mà trước kia bị xem là phản bội hoàng gia giờ có thể được nói ra và có thể được xem xét. Robert Dudley chẳng hạn, ông ấy sẽ ủng hộ liên minh này nếu ông ấy có thể được tự do.

Thật điên nếu hỏi một bà điên đang nghĩ gì. Thật buồn cười khi đặt câu hỏi với một kẻ ngớ ngẩn. Nhưng thực sự – Nữ hoàng nghĩ gì khi bà tha thứ cho một kẻ phản bội, gây nguy hiểm cho ngôi vị của mình, đánh mất người yêu và chọn kẻ thù kế vị – chỉ để ngăn không cho tôi lên ngôi sau khi bà chết? Tôi luôn cảm thấy bà hận thù tôi một cách không thể lý giải thích nổi; giờ thì tôi thấy bà đã hoàn toàn mất trí. Tại sao bà chấp nhận đánh liều tất cả mọi thứ để ngăn không cho tôi lên ngôi? Tại sao việc hạ nhục và trừng phạt tôi lại quan trọng với bà đến như vậy?

Tôi chỉ có thể nghĩ rằng bà đã rơi vào tâm trạng ganh tị của thời thơ ấu, khi bà sống trong tình trạng lo lắng liên tục về việc ai được cha bà yêu thương hơn. Trước tiên, bà đàn áp người chị cùng cha khác mẹ, Mary Tudor, luôn bị bắt phải chờ đợi bà khi bà còn nhỏ, rồi sau đó Nữ hoàng Elizabeth cảm thấy bị mất thể diện khi ván cờ lật ngược và Mary được yêu mến hơn. Bà chứng kiến người chị đáng ghét này lên ngôi, được mọi người hoan nghênh trong những ngày tháng đầu tiên của triều đại. Nữ hoàng Elizabeth cũng kình địch với những phụ nữ khác: Tôi tưởng tượng bà ghét người mẹ kế của bà, ghét người chị cùng cha khác mẹ, ghét Amy Dudley đáng thương, và giờ là ghét tôi. Hẳn bà ghét tôi với một sự thù hận khủng khiếp đến mức bà chấp nhận hy sinh Robert Dudley, cho ông ấy kết hôn với người khác chỉ để ngăn không cho tôi lên ngai vàng. Tôi bắt đầu nghĩ bà cũng bị loạn trí giống như cha bà vậy.

Nhưng điều đó chỉ khiến tôi thấy khiếp sợ bà hơn, và tôi ước gì mình có thể kể với Ned về nỗi sợ hãi ngày càng tăng này. Đây không còn là vấn đề chính trị hay chiến lược nữa. Đây không phải là một nữ hoàng tránh né một người kế vị vì sợ sẽ thu hút sự chú ý của triều đình, mà đây là một phụ nữ sẵn sàng đi đến tận cùng trái đất để tiêu diệt đối thủ. Bà sẵn sàng chấp nhận đánh mất tình yêu của đời mình và đề cử kẻ thù của đất nước làm người kế vị chỉ để không cho tôi có cơ hội lên ngôi, để ngăn tôi được sống hạnh phúc với Ned và các con. Tại sao bà lại ghét tôi đến thế? Tại sao bà lại ghét ý nghĩ về một cuộc hôn nhân hạnh phúc với những đứa trẻ đáng yêu mà tự hủy hoại chính mình và hủy hoại cuộc sống của tôi. Bà có thể đi xa đến đâu để trả thù tôi vì tội dám trẻ hơn, đẹp hơn, hạnh phúc hơn, và là một người kế vị tốt hơn bà trước kia?

Tôi không quên sự hiểm ác của bà với người chị cùng cha khác mẹ, Nữ hoàng Mary. Bà nhìn Mary chết và đày đọa thân xác bà ấy, tán tỉnh chồng bà ấy và không hề có lời an ủi nào dành cho bà ấy. Tôi không quên Amy Dudley đã chết trong cô độc tại chính ngôi nhà của mình và kẻ giết người không bao giờ được tìm ra, nhưng Nữ hoàng Elizabeth biết rõ về cái chết của cô ấy trước khi tin này được loan báo. Sự thù ghét của Nữ hoàng Elizabeth là điều mà bất cứ người phụ nữ nào cũng phải khiếp sợ. Tôi nghĩ đến Nữ hoàng Mary xứ Scots và cầu mong cô ấy không bao giờ bị rơi vào cơn khát quyền lực của Nữ hoàng Elizabeth như tôi. Tôi nghĩ đến dì Margaret Douglas và cho rằng thật là một phép màu khi bà ấy được phóng thích. Tôi bắt đầu tự hỏi liệu Nữ hoàng Elizabeth có tàn ác với họ hàng của mình giống như cha bà đã tàn ác với họ hàng của ông ấy hay không.

THÁP LONDON

GIỮA MÙA HÈ NĂM 1563

Tiết trời trở nên nóng bức kinh khủng và mặt trời hun nóng những bức tường đá của Tháp cho đến khi chúng sáng rực đến mức nhìn vào là chói mắt và nóng đến độ không thể sờ vào được. Hào nước vẫn bốc mùi hôi thối, đầy rác và chất thải, thủy triều lên cũng không làm sạch được chúng mà chỉ khuấy động đám rác rưởi một chút rồi rút xuống, để lại từng mảng rong rêu mục nát và xác những con cá chết. Vào buổi tối tôi còn ngửi thấy mùi hôi thối của những thứ phân rã từ dòng sông cùng với cái mùi tởm lợm đến phát bệnh của London.

Các quý tộc yêu cầu phải thả tôi, Ned cùng các con chúng tôi khỏi Tháp và cho phép chúng tôi ở trong thành phố. Mùa hè nào cũng có rất nhiều người bị bệnh ở London, nhưng năm nay có khả năng sẽ có bệnh dịch lớn.

Quân đội từ Pháp trở về, tơi tả và bại trận, bệnh rất nặng và không được cung cấp lương thực. Họ nằm dài trên đường phố để ăn xin, ho và nhổ nước bọt xuống những cống rãnh lộ thiên đen kịt chạy ngang mọi con đường, tắc nghẽn vì rác rưởi. Thời tiết khô hanh với những ngày dài ngột ngạt, không có mưa để gột sạch những chất bẩn đầy mầm bệnh và không có gió để thổi đi những chướng khí bệnh hoạn trên đường.

Lucy đến gặp tôi, mặt trắng bệch, cho tôi biết rằng mẹ cô ấy, sống ngay bên ngoài tường Tháp, làm công việc giặt quần áo cho tôi, đã bị nhiễm bệnh. Bà bị sưng tấy khủng khiếp ở nách và nổi hạch ở háng, dấu hiệu của bệnh dịch hạch. Lucy run rẩy vì sợ hãi. “Mẹ em mới giặt quần áo cho bà hôm qua”, cô ấy nói, “em đã ôm đống quần áo vào người. Em đã mặc cho em bé”. Cô gái run rẩy vì đau khổ. “Chúa tha tội cho chúng tôi, thưa Công nương. Em không nên làm thế! Em không biết nữa! Chuyện gì sẽ xảy ra nếu em bé bị lây bệnh?”.

Ngôi nhà của Lucy bị đóng đinh khóa chặt và đánh một dấu thập đỏ trên cửa. Lucy không được phép gặp mẹ; mọi người đều bị cấm. Người phụ nữ bị bệnh nằm trên giường, một mình trong ngôi nhà. Bà ấy sẽ sống hoặc chết trong cô độc; nhưng bà biết rằng gần như chắc chắn bà sẽ chết, và con gái bà thậm chí không thể mang đến cho bà một cốc nước sạch. Những người mắc bệnh đều cầu nguyện xin được chết khi cơn sốt lên cao và những hạch sưng phù trên cơ thể khiến họ phải khóc thét vì đau đớn, nhưng không ai được đến gần họ.

“Em còn không gặp được anh của em nữa”, Lucy nói một cách thất vọng, “anh ấy phục vụ Công tước Norfolk”.

“Vậy có lẽ cậu ấy đã rời thành phố cùng với triều đình”, tôi trấn an cô ấy. “Có lẽ họ đang an toàn ở Lâu đài Windsor với Nữ hoàng”.

“Em có nên lấy các tã lót của em bé đi giặt lại không?”

Em bé sơ sinh của tôi đã mặc tã giặt tại ngôi nhà nhiễm bệnh đó suốt nửa ngày. “Vâng, em giặt đi”, tôi ngập ngừng nói, “và hãy đốt các loại thảo dược ở cửa chính và cửa sổ”.

Elizabeth, nữ hoàng không có trái tim, không muốn gặp rủi ro với sức khỏe của mình, dù bà bỏ mặc tôi và các con ngay tại trung tâm của dịch bệnh. Bà tự khóa mình ở Lâu đài Windsor và không ai được phép đi từ London tới triều đình. Thậm chí bà cho dựng một chiếc giá treo cổ ngay bên rìa thị trấn để treo cổ bất cứ ai dám đến gần. Một cánh cổng và một trung sĩ gác cổng khổng lồ không đủ với Nữ hoàng Elizabeth – bà phải được canh gác bởi một tên lính chuyên treo cổ phạm nhân – thế nhưng bà lại để tôi và các con tôi ở đây, nơi nhiễm bệnh nặng nhất nước Anh.

Điều tồi tệ nhất là chúng tôi không bao giờ biết được tại sao người này bị bệnh còn người khác thì không. Trong năm tốt, dân chúng trên cả một con đường đều mạnh khỏe, tuy có thể trong một ngôi nhà nhỏ nào đó có một người chết. Nhưng trong năm xấu, toàn bộ con phố trở nên tối tăm ảm đạm và chỉ có một ngôi nhà nhỏ, bao quanh bởi thần chết, còn thắp nến và dùng bất cứ biện pháp phòng ngừa nào họ có thể mua được. Khi cái nóng tháng Tám ngày càng tăng lên, rõ ràng đó là dấu chỉ một năm xấu, một trong những năm tồi tệ nhất. Các giáo xứ phải dùng các loại xe kéo đi nhặt xác và chôn người chết hằng đêm. Họ trình báo rằng có lẽ có đến cả ngàn người đang chờ chết mỗi tuần.

Mỗi ngày tôi lại càng cảm thấy lo sợ cho mình, cho các con, và cho Ned đang bị giam ở Tháp Trắng. “Hãy tránh xa những đứa trẻ!”, tôi lo lắng nói với bà Rother và Lucy, với bất cứ ai từ thành phố đang bị dịch bệnh đi vào tháp. “Hôm nay tôi sẽ chăm sóc bọn trẻ. Và bỏ hết toàn bộ tã lót từ người giặt đồ ở sông Thames đi. Hãy dọn dẹp phòng và quét sàn nhà cho sạch sẽ vào”.

Lucy nhìn tôi với một cái nhìn oán hận và ảm đạm. Nỗi đau mất mẹ khiến cô ấy trở nên chua chát. “Bé Thomas đã ngủ với người vú em”, cô ấy nói, “chiếc tã bé đang mặc là do người mẹ đã chết của em giặt. Nếu bà nghĩ dịch bệnh lây qua đường tiếp xúc thì có lẽ các bé đã bị lây rồi”.

Tôi khẽ rên lên vì sợ. Tôi nghĩ nếu bị mất một trong hai con trai, có lẽ tôi sẽ chết mất. Tôi nghĩ đó là điều mà Nữ hoàng Elizabeth mong đợi. Bà ấy hẳn đã cầu nguyện cho tôi chết, các con tôi chết, và sẽ không ai có thể quy trách nhiệm cho bà ấy nữa. Tôi sẽ giống như Amy Dudley, một nạn nhân bị quên lãng.

Tôi treo một chiếc khăn xanh ngoài cửa sổ để Ned biết chúng tôi mạnh khỏe, và tôi đứng bên cửa sổ cho đến khi nhìn thấy một chiếc khăn xanh trả lời từ cửa sổ của chàng. Tôi biết chàng sẽ rảo bước trên sàn với tất cả sự giận dữ và đang viết thư cho tất cả bạn bè của chúng tôi ở triều đình. Một năm dịch bệnh tồi tệ sẽ biến việc giam cầm tại Tháp thành một án tử. Ở đây, ngay trung tâm thành phố, bao quanh bởi một hào nước hôi thối, mọi y phục chúng tôi mặc và mọi thứ chúng tôi ăn đều đến từ nơi có dịch và được xử lý bởi nửa tá người có thể đã bị phơi nhiễm trước khi đến với chúng tôi.

Tôi đích thân viết thư cho William Cecil, cầu xin ông đưa tôi, Ned và các con ra khỏi Tháp để về các vùng quê. Suốt cuộc đời tôi chưa bao giờ muốn trải qua mùa hè ở London. Tôi dám thề rằng ông cũng không muốn. Không ai có một ngôi nhà hay thậm chí chỉ một gian nhà nhỏ ở vùng quê mà lại muốn ở thành phố trong thời gian dịch bệnh.

Cả ngày dài tôi chờ đợi câu trả lời nhưng không ai đến. Tôi nghĩ có lẽ Cecil cũng đã rời khỏi thành phố, đi đến ngôi nhà mới xinh đẹp của ông ở Burghley, hoặc có lẽ ông đang an toàn ở Lâu đài Windsor vui vẻ cùng với cả triều đình, trốn sau những người lính gác ở lối vào thị trấn, cái giá treo cổ chờ đợi bất cứ ai dám đi tìm một nơi trú ẩn với số ít những người có đặc quyền. Tôi sẽ tồn tại qua mùa hè như thế nào nếu mọi người đều đi hết và quên chúng tôi? Nữ hoàng Elizabeth sẽ hạnh phúc đến thế nào khi trở lại London vào mùa thu, nhìn thấy tôi đã chết và bị chôn trong nấm mồ dịch bệnh cùng thi thể hai đứa con bé bỏng của tôi bị quẳng theo.

Tôi không biết nên đóng cửa sổ để chặn những luồng gió độc đang tràn ngập dòng sông hay nên mở cửa sổ ra để làm thoáng mát căn phòng ngột ngạt. Vào buổi tối, khi bọn trẻ đã ngủ, tôi dùng một chiếc khăn choàng quấn đầu và vai rồi đi dạo trong khu vườn của viên cai ngục. Người mới được bổ nhiệm, ngài Richard Blount, thay thế ngài Edward đáng thương, nhìn tôi từ cửa sổ phòng ông. Một người lính gác đứng ở cổng. Tôi cảm thấy mệt mỏi kinh khủng, và tôi tự hỏi có phải đó là dấu hiệu của bệnh dịch hạch không. Nếu kiệt sức và linh tính là những dấu hiệu trước khi các u hạch nổi lên thì có lẽ tôi không thể nhìn thấy bình minh được nữa.

Tôi định quay lại phòng thì bỗng nghe thấy có tiếng ồn ào. Đó không phải là tiếng chuông báo động, mà là một âm thanh trầm hơn với một tiếng rạn nứt, bị gõ bởi một bàn tay cáu kỉnh. Tôi có thể nghe thấy tiếng cọt kẹt của bánh xe khi âm thanh này đến gần hơn, giống như một chiếc xe lừa rung chuông khi nó đi qua cổng, rồi vòng quanh ngôi nhà của những người lính gác và ngôi làng nhỏ trong Tháp, nơi ở của những người hầu. Tiếng chuông liên tục kêu vang, và rồi tôi nghe được tiếng gọi xen giữa những lần gõ chuông.

“Mang xác chết ra đây! Mang xác chết ra đây!”

Chúa ơi, chiếc xe chở xác chết vì bệnh dịch đã vào tận trong Tháp. Hẳn dịch bệnh đã lan tràn đến nhà của những người hầu, hoặc những người giữ ngựa. Tôi kéo khăn che miệng và nhanh chóng đi vào phòng, cài then cửa như thể tôi có thể khóa trái không cho thần chết vào nhà.

Tôi nhận được một mẩu tin nhắn ẩm ướt và có mùi giấm từ Mary. Ai đó đã tưới thứ chất lỏng ấy lên nó với hy vọng ngăn ngừa bệnh dịch bám vào tờ giấy.

Mọi người đang ở Lâu đài Windsor nhưng không quên chị. Các quý tộc khẳng định không được giữ chị ở Tháp trong một năm bệnh dịch thế này. Họ bảo Nữ hoàng Elizabeth rằng đó là một án tử hình tiềm ẩn. Hãy tránh xa mọi người và đừng cho ai đụng đến bọn trẻ ngoài chị. Em tin rằng chị sẽ được tự do trong vài ngày tới.

Tôi tự tay giặt tã cho bọn trẻ. Tôi cho Teddy ra ngoài chơi vào sáng sớm: ánh nắng mặt trời ban trưa nóng đến mức nguy hiểm đối với một Tudor bé bỏng có làn da sáng và mái tóc màu đồng; còn sương đêm thì mang mầm bệnh. Tôi tự rửa bát đĩa của chúng tôi, nhưng nước từ giếng nước trong Tháp đôi khi vẩn đục vì bụi, và tôi không thể làm gì với những bữa ăn từ nhà bếp của viên trung úy. Các con tôi bú sữa từ một phụ nữ có thể đang bị nhiễm bệnh. Tôi không có cách nào để biết được cả, nhưng tôi không dám bỏ đói các con nếu cho cô ấy nghỉ. Lucy vẫn mạnh khỏe, tôi quan sát xem cô ấy có dấu hiệu bệnh hay sốt không và không cho cô ấy ra ngoài nhiều. Bà Rother gởi một tin nhắn rằng chị của bà mắc bệnh và bà phải đưa chị ấy về quê. Bà nói xin lỗi vì đã rời bỏ tôi nhưng bà không dám chậm trễ. Những ngôi làng bên ngoài London đều đóng cửa với bất cứ ai đến từ thành phố và nếu không đi ngay thì bà sẽ phải ngủ ở những gian nhà phụ cùng với những người đang chạy trốn dịch bệnh.

Tôi nhìn sang cửa sổ của Ned, nơi mỗi ngày đều treo một chiếc khăn xanh để báo hiệu cho tôi biết chàng vẫn khỏe. Tôi cho người lính gác một đồng bạc để anh ta nói với Ned rằng không ai trong chúng tôi bị bệnh, và chúng tôi hy vọng sẽ được thả sớm. Chàng gởi lại cho tôi một bài thơ:

Tình yêu của ta không lụi tàn bởi dịch bệnh

Không bị thiêu đốt bởi ánh mặt trời gay gắt

Tình yêu của ta bền vững với thời gian

Cho đến khi tự do chiến thắng.

Tôi rắc bột lên tờ giấy trước khi nhận bài thơ từ tay người lính gác và đọc nó từ một khoảng cách xa. Tôi đọc thuộc lòng bài thơ rồi đốt nó đi.

THÁP LONDON

MÙA HÈ NĂM 1563

Vào một sáng sớm, khi trời còn mát mẻ, tôi nghe nhiều tiếng bước chân nặng nề trên cầu thang dẫn lên phòng tôi. Thế có nghĩa là ngài Richard, trung úy mới của Tháp, đang đến tìm tôi. Tôi đứng bên cạnh chiếc ghế tả tơi, chú khỉ Nozzle ngồi trên vai tôi, một tay tôi bồng Thomas còn tay kia nắm tay Teddy. Lucy đứng sau lưng tôi. Tôi nghĩ chúng tôi trông giống như một gia đình ăn xin mắc bệnh dịch hơn là những người kế vị hoàng gia trong cơn ác mộng của Nữ hoàng Elizabeth.

Cánh cửa mở ra, ngài Richard bước vào và cúi đầu chào.

“Tha lỗi cho tôi”, tôi nói, “những người lính gác vui lòng ở bên ngoài. Tôi sợ bệnh dịch”.

“Tất nhiên rồi”, ông ấy nói. Ông ấy ra dấu và họ lùi về phía sau, “tôi rất vui mừng thông báo với bà rằng bà không phải lo sợ nữa. Bà được thả”.

Lòng tôi tràn ngập niềm vui đến mức không nghe rõ ông ấy nói gì. “Sao cơ?”.

Ông gật đầu. “Vâng, thưa Công nương. Bà được phóng thích khỏi Tháp. Bà có thể đi hôm nay. Bà có thể đi ngay sáng nay”. “Tôi được thả sao?”

“Vâng”, ông ấy xác nhận. “Nhờ ơn Chúa – và lòng nhân từ của Nữ hoàng chúng ta”.

“Chúa ban phước cho bà ấy”, tôi thì thầm. “Tôi có thể đi khi tôi muốn chứ?”.

“Tôi đã chuẩn bị ngựa sẵn sàng cho bà và một chiếc xe kéo cho các vật dụng của bà.”

Tôi chỉ vào chiếc bàn sứt mẻ và những chiếc ghế rách nát: “Tôi không có gì đáng để mang theo cả. Lucy có thể thu xếp quần áo của chúng tôi trong giây lát”.

Ông ta cúi đầu nói: “Tôi xin chờ lệnh của bà. Bà nên đi càng sớm càng tốt trước khi trời quá nắng”.

“Bá tước Hertford đi cùng với tôi chứ?”, tôi hỏi khi ông ấy bước ra cửa. Ông ấy lại cúi đầu: “Bá tước cũng được thả”.

“Tạ ơn Chúa”, tôi nói. “Tạ ơn Chúa lòng lành đã đáp ứng lời nguyện cầu của con”.

Chúng tôi thu xếp và sẵn sàng lên đường trong vòng nửa giờ. Tôi không để bất cứ điều gì khiến chúng tôi bị trì hoãn cả. Các thứ đồ đạc mòn vẹt có thể được xếp lên xe cùng với rương quần áo. Lồng chim hồng tước được phủ vải che lại, chú chó Jo cùng đàn con nằm trong giỏ, bên ngoài phủ một cái lưới để chúng được an toàn trên xe. Chú khỉ được cho vào chiếc lồng có mái che. Tôi cho Teddy ngồi trước yên ngựa còn người vú em sẽ địu Thomas trước ngực. Lucy ngồi trên yên ngựa sau một người lính gác, và nếu Teddy mệt thì cô ấy có thể ẵm bé trên tay.

Tôi tưởng tượng chúng tôi cưỡi ngựa đến Hanworth, ngôi nhà sạch sẽ, ánh mặt trời rực rỡ, không khí ngọt ngào, với mẹ của Ned, Phu nhân Anne, đang đứng trên bậc thềm chào đón những đứa cháu của bà, những cậu bé Tudor–Seymour, người kế vị ngai vàng nước Anh.

Ngài Richard đang ở sân Tháp với chiếc xe chất đồ và một người lính gác. Khi thấy tôi đến, họ đứng lên và tôi thấy chồng tôi, Ned, đi qua cánh cổng vòm chuồng ngựa, xung quanh là những người lính gác. Chàng băng qua sân với bốn bước sải dài. Trước khi bất cứ ai có thể ngăn chàng lại, chàng cầm tay tôi đặt lên một nụ hôn, nhìn gương mặt tôi tìm kiếm sự thẹn thùng khao khát, rồi chàng ôm tôi vào lòng và hôn lên môi tôi. Tôi cảm thấy một tình yêu tràn ngập dành cho chàng. Tôi vòng tay quanh người chàng và siết chặt. Tạ ơn Chúa, cuối cùng chúng tôi cũng được đoàn tụ, và tối nay chúng tôi sẽ được ngủ trên cùng một chiếc giường. Tôi muốn khóc cho thỏa lòng, và tạ ơn Chúa, những lo lắng của chúng tôi đã kết thúc.

Gương mặt chàng cũng rạng rỡ như tôi vậy. “Tình yêu của ta”, chàng nói, “chúng ta đã thoát dịch bệnh và được đoàn tụ. Tạ ơn Chúa”.

“Chúng ta sẽ không bao giờ chia cách nữa”, tôi hứa với chàng. “Chàng thề đi”.

“Không bao giờ chia cách nữa”, chàng hứa.

“Giờ thì chàng phải gặp con trước khi chúng ta khởi hành.”

Teddy vẫn nhớ cha sau những ngày dài xa cách, cậu bé phóng về phía chàng với hai cánh tay vươn ra. Ned chụp lấy con trai, và tôi thấy Teddy thật nhỏ bé khi được bế trong vòng tay của người cha cao lớn, áp sát vào bờ ngực rộng của chàng. Teddy vòng tay quanh cổ cha và rúc mặt vào má chàng. Thomas giơ món đồ chơi bằng cao su mà bé hay khoe với mọi người lên, vẫy vẫy bàn tay nhỏ.

“Bọn trẻ thật khôi ngô tuấn tú! Ai có thể nghĩ chúng ta đã mang đến sự bừng sáng rực rỡ ở một nơi tối tăm như thế này chứ?”, Ned nói. “Đúng là một phép màu!”.

“Đúng vậy”, tôi nói, “và bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu cuộc sống hôn nhân với hai cậu con trai, hai người kế vị, ở nhà chàng. Chúng ta sẽ đến Hanworth, phải không?”.

“Vâng. Chúng ta phải cảm ơn mẹ ta về chuyện này. Ta biết bà ấy đã viết thư liên tục cho William Cecil về chúng ta. Bà ấy muốn chúng ta về nhà.”

Viên trung úy bước đến cạnh tôi, “Thưa Công nương, chúng ta phải đi ngay bây giờ, nếu không thì cuộc hành trình sẽ làm bọn trẻ rất mệt mỏi. Lát nữa trời sẽ rất nóng”.

“Tất nhiên”, tôi nói. Tôi đặt tay lên thân mình bụ bẫm của Teddy định bế bé ra, nhưng cậu bé bám chặt cha mình và khăng khăng đòi: “Teddy – Dada! Dada!79*”.

79* . Ngôn ngữ của trẻ con, ý nói Teddy chỉ muốn đi với cha.

“Teddy đi với anh à?” Ned hỏi. “Anh nghĩ khó mà tách con ra khỏi anh”. “Con muốn đi cùng cha trên con ngựa to đúng không nào?”, tôi hỏi con. Teddy ngoái gương mặt rạng rỡ ra và gật đầu: “Teddy – Cha. Đi”.

“Con có thể ngồi trước cha, và khi nào muốn nghỉ ngơi thì cô Lucy sẽ ẵm con vì cô ấy ngồi sau người lính gác”, tôi đề nghị.

“Ngựa của ngài đang được đóng móng”, viên trung úy nói với Ned. “Thợ đóng móng sẽ mất vài phút nữa mới xong. Tốt nhất Công nương nên đi trước để bà ấy có thể nghỉ ngơi khi mệt. Ngài sẽ bắt kịp bà ấy trên đường vì xe sẽ đi rất chậm”.

“Rất tốt. Teddy có thể đợi cùng với ta và cha con ta sẽ bắt kịp nàng sau. Ta sẽ giữ kỹ con trai”, Ned hứa. Chàng hôn tôi lần nữa qua đầu cậu con trai nhỏ bé của chúng tôi. Tôi có một giây phút vui sướng lạ lùng khi tôi ôm cả chồng và con mình một lúc, một tay tôi đặt trên vai chồng, tay kia choàng quanh người đứa trẻ.

“Em sẽ gặp hai cha con trên đường”, tôi vuốt má con trai. “Đi với cha ngoan và đừng đánh rơi mũ nhé”.

“Vâng ạ”. Con trai tôi ngoan ngoãn đáp, rồi ôm lấy cổ cha.

“Con làm cha nghẹt thở mất”, chồng tôi mỉm cười. “Đừng sợ con bị té. Con bám chặt như khỉ Nozzle vậy”.

Tôi hôn chàng một lần nữa rồi lên ngựa. Mọi người đều đã lên ngựa và đang chờ tôi. Tôi vẫy tay chào Ned và con trai rồi đi theo những người lính rời sân chuồng ngựa. “Lát nữa gặp lại chàng nhé!”, tôi nói to. “Sẽ gặp lại ngay!”.

Móng ngựa gõ đều trên con đường rải sỏi đi ra cổng chính. Chúng tôi băng qua cánh cổng vòm, và khi nắng vừa đổ bóng xuống, tôi nghe một tràng reo hò điếc tai. Bên ngoài cánh cửa, làn đường bị chặn bởi những người lính gác Tháp và chiếc cầu bắc qua hào nước chen chúc những người hầu trong Tháp. Khi tôi đi ngang, những người lính giơ tay chào như thể tôi là một nữ hoàng đang đi ngựa về nhận ngai vàng vậy, và tôi xuất hiện dưới ánh mặt trời trong tiếng hoan hô nhiệt liệt, những người hầu tung mũ lên trời, các phụ nữ nhún gối chào và gởi đến tôi những nụ hôn gió. Cuối cùng tôi đã được tự do; tôi có thể ngửi thấy mùi tự do từ trong làn gió và nghe niềm vui trong tiếng kêu của những chú mòng biển.

Tôi mỉm cười và vẫy tay với những người hầu của Tháp, rồi tôi nhìn thấy xa xa bên ngoài chiếc cầu và ngôi nhà xa nhất, người dân London bằng cách nào đó đã nghe tin chúng tôi được tự do. Có những người bị lính gác đẩy lùi khỏi con đường song vẫn cố gắng cổ vũ và thậm chí giơ cao những đóa hoa hồng cho tôi.

Tôi đi qua tất cả họ như thể đang dẫn đầu một đám rước hoàng gia. Tôi vẫn còn sợ dịch bệnh nên không dừng lại để nhận hoa, ngoài ra còn có những người lính bảo vệ với gương mặt nghiêm nghị đẩy lùi đám đông để dọn đường phía trước. Nhưng những phụ nữ bán cá, những người bán hàng rong, những đứa trẻ học việc, các bà cô lớn tuổi, những người nấu rượu,... tất cả đều đang mặc những chiếc tạp dề làm việc xù xì, vẫn bất chấp những người lính, ném hoa hồng ngay trước mặt tôi làm chú ngựa của tôi buộc phải bước đi trên một con đường rải hoa, và tôi biết rằng phụ nữ London đứng về phía tôi.

Chúng tôi đi qua Tháp Hill và đoạn đầu đài nơi cha tôi đã kết thúc cuộc đời, tôi cúi đầu với ký ức này và nhớ đến cuộc đấu tranh vô vọng của ông chống lại Nữ hoàng Mary. Tôi nghĩ có lẽ ông sẽ rất vui khi nhìn thấy ít nhất cũng có một cô con gái của mình cưỡi ngựa ra khỏi Tháp một cách tự do, với một đứa trẻ bên cạnh, người chồng quý tộc và người kế vị theo sau. Tôi cảm thấy thật cay đắng khi nghĩ về ông và cái chết mà ông mang đến cho chị Jane, vì vậy, tôi quay đầu nhìn người vú em đang địu Thomas trong lòng, ngồi sau lưng người lính, tôi bảo cô đi bên cạnh tôi để tôi có thể nhìn thấy em bé và cảm thấy hy vọng về tương lai.

Đó là lúc tôi nhận thấy chúng tôi đang cưỡi ngựa về hướng bắc chứ không phải hướng tây, và tôi nói với người lính đi trước tôi: “Đây không phải là đường đến Hanworth”.

“Không, thưa Công nương”, anh ta lịch sự nói, ghì cương ngựa lại. “Tôi rất tiếc. Tôi không biết là không ai thông báo với bà. Tôi nhận lệnh đưa bà đến Pirgo”.

“Đến chỗ chú tôi à?”

“Vâng, thưa Phu nhân Hertford.”

Tôi rất hài lòng với điều này. Tôi sẽ thoải mái khi ở với chú tôi trong ngôi nhà mới xinh đẹp của ông hơn là ở nhà Ned tại Hanworth. Mẹ chàng có thể đã viết thư cho Cecil vì con trai bà, có lẽ thậm chí bà đã thuyết phục được Nữ hoàng thả chúng tôi, nhưng tôi không nhận được một lời chúc lành nào từ bà cả, thậm chí ngay cả sau khi tôi sinh ra hai đứa cháu của bà. Tôi thích ở với chú tôi hơn ở với bà, miễn là chú tôi tha thứ cho tôi vì đã lừa dối ông.

“Chú tôi có mời tôi không?”. Tôi hỏi, “chú ấy có gởi tin gì cho tôi không?”. Người lính trẻ quay đầu lại. “Tôi không biết, thưa Công nương. Tôi được lệnh đưa bà đến Pirgo an toàn. Tôi không biết gì khác”.

“Ned có biết phải theo chúng tôi không? Chàng nghĩ chúng tôi sẽ đến Hanworth đấy.”

“Ngài ấy biết bà đang đi đâu, thưa Công nương.”

Chúng tôi cưỡi ngựa khoảng hai tiếng đồng hồ, băng qua những ngôi làng với những cánh cửa đóng kín, những quán trọ cài then. Không ai muốn dính líu gì với những lữ khách đến từ London. Mọi người trên đường đều đang chạy trốn bệnh dịch, và khi chúng tôi vượt qua những người đi bộ, họ đứng sát vào các hàng rào để ngay cả những con ngựa của chúng tôi cũng không chạm được đến họ. Họ sợ chúng tôi và chúng tôi sợ họ. Tôi nhìn chằm chằm vào họ, cố xem họ có dấu hiệu bệnh dịch nào không, còn người vú em thì ôm Thomas chặt hơn và kéo tấm khăn choàng che mặt bé lại.

Khi mặt trời lên cao, ánh nắng gay gắt và nóng đến mức chúng tôi không thể đi tiếp được nữa. Người lính chỉ huy đề nghị chúng tôi ngừng lại và nghỉ ngơi dưới bóng mát của rừng cây. Người vú em cho Thomas bú trong khi chúng tôi ăn bánh mì với thịt nguội và uống bia. Chúng tôi mang theo mọi thứ từ nhà bếp của Tháp; tôi phải cầu nguyện mong thực phẩm không bị nhiễm bệnh.

“Tôi cần nghỉ ngơi”, tôi nói. Tôi nghĩ nếu Ned đi không lâu sau khi chúng tôi đi thì hẳn lúc này chàng đã bắt kịp và tôi sẽ có thể ngủ với chàng dưới bóng cây, và lần đầu tiên trong đời, chúng tôi sẽ có thể ở bên nhau mà không phải gian dối. Tôi sẽ ngủ trong vòng tay chàng và thức dậy với nụ cười của chàng.

“Hãy cho người chú ý xem chồng tôi đến chưa”, tôi nói với người chỉ huy. “Tôi đã cắt lính canh gác”, anh ta nói, “và ngài ấy sẽ thấy lá cờ của bà trên đường”.

Họ trải thảm và khăn choàng xuống đất, tôi cuộn chiếc áo choàng cưỡi ngựa để kê đầu. Tôi nằm xuống, nhắm mắt lại, nghĩ rằng mình sẽ nghỉ ngơi trong giây lát, không lâu nữa sẽ nghe tiếng Ned và những người lính của chàng cưỡi ngựa hướng về phía chúng tôi. Tôi mỉm cười ngái ngủ, nghĩ rằng có lẽ Teddy sẽ rất hào hứng khi được cưỡi ngựa cùng cha bên ngoài những bức tường Tháp, lần đầu tiên trong đời. Tôi nhớ cảnh Teddy ôm chặt cổ cha và Ned nhẹ nhàng ôm bé sát vào người.

Và rồi tôi ngủ thiếp đi. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi được rời khỏi thành phố dịch bệnh đến mức không còn lo lắng gì nữa. Đó là giấc ngủ tự do đầu tiên của tôi sau hai năm dài, và tôi nghĩ không khí trong lành hơn khi không phải thổi qua các chấn song. Tôi mơ thấy tôi được sống cùng Ned và bọn trẻ trong một ngôi nhà, không phải Hanworth mà cũng không phải Pirgo, và tôi nghĩ đó là một điềm báo cho biết chúng tôi sẽ sống hạnh phúc bên nhau trong ngôi nhà của chính mình, cung điện mà chúng tôi nói rằng chúng tôi sẽ xây dựng khi tôi lên ngôi nữ hoàng. Tôi ngủ cho đến khi Farelow, người vú em, khẽ chạm vào vai tôi đánh thức tôi dậy, và tôi biết đó không phải là một giấc mơ, tôi biết tôi được tự do.

“Chúng ta nên đi tiếp thôi”, cô ấy nói.

Tôi mỉm cười và ngồi dậy, “Ned đến chưa?”. “Chưa”, cô ấy nói, “nhưng trời hơi lạnh rồi”.

Có vài đám mây rải rác trên bầu trời trong một buổi chiều vàng và một làn gió mát từ những ngọn đồi. “Cảm ơn Chúa”, tôi nói. Tôi nhìn người vú em: “Bé bú tốt không? Chúng ta có thể đi tiếp chứ?”.

“Thưa vâng, thưa Công nương”, cô ấy nói và đứng dậy. “Bà có muốn bế cháu không?”.

Tôi bồng cậu con trai yêu quý trên tay và bé mỉm cười khi nhìn thấy tôi. “Có vẻ như bé nặng hơn sáng nay đấy”, tôi nói với người vú em. “Bé được bú rất tốt”.

“Một quý ông London háu ăn”, cô ấy tỏ vẻ đồng tình.

Những người lính dắt ngựa đến và người chỉ huy đỡ tôi lên ngựa. Tôi nghĩ khi đến Pirgo, Ned sẽ đỡ tôi xuống – chắc chắn khi đó chàng sẽ bắt kịp chúng tôi. Tôi cầm dây cương và chúng tôi tiếp tục tiến về phía trước.

Khi chúng tôi cưỡi ngựa qua khu công viên đến cung điện Pirgo thì trời đã chạng vạng tối. Chú tôi ra cửa chính đón chúng tôi, gia đình, những người hầu, quản gia của chú đều xếp hàng trên bậc thang. Đó là một nghi thức chào đón, nhưng chú không cười; chú có vẻ lo lắng.

“Chào chú!”, tôi hy vọng chú tha thứ cho tôi vì đã nói dối; chắc chắn chú sẽ thấy rằng tôi không thể làm gì khác.

Chú đỡ tôi xuống ngựa và nhẹ nhàng hôn tôi, như chú vẫn luôn làm thế. Tôi chỉ tay về người vú em và Thomas: “Còn kia là đứa cháu mới nhất của chú. Anh của bé, Tử tước Beauchamp, đang đi cùng cha ở phía sau. Cháu cũng ngạc nhiên vì hai cha con không đi cùng chúng cháu, nhưng khi chúng cháu khởi hành thì ngựa của chàng còn đang được đóng móng, nên chàng sẽ đến sau”.

Chú liếc nhìn con trai tôi rồi quay lại tôi nói ngắn gọn: “Tốt hơn cháu nên vào trong”.

Chú đặt tay tôi lên cánh tay chú rồi đưa tôi đi qua cánh cổng đôi khổng lồ phía trước tòa nhà tiến vào một đại sảnh. Tôi không thấy vợ chú đâu cả, một điều lạ lùng, vì tôi nghĩ vợ chú cũng sẽ ra đón tôi. Nói cho cùng, tôi là một nữ Bá tước, và giờ là người kế vị ngai vàng nước Anh.

“Phu nhân Grey đâu rồi ạ?”, tôi hỏi có phần kiểu cách.

Chú có vẻ khó chịu: “Bà ấy gởi lời chào cháu và bà ấy sẽ đến gặp cháu sau. Thật là các quý bà”.

Chú dẫn tôi lên cầu thang, đi qua một phòng khách lớn khá ấn tượng rồi đến một căn phòng thứ hai nhỏ hơn, cuối cùng đến một khu phòng riêng với một phòng ngủ có kích thước lớn nằm phía sau. Tôi biết những căn phòng này: Chúng là những căn phòng tốt thứ nhì trong tòa nhà. Nữ hoàng Elizabeth đã ở đây trong khu phòng tốt nhất. Tôi nghĩ tôi sẽ yêu cầu được ở khu phòng tốt nhất, nhưng trước khi tôi kịp lên tiếng, chú đóng cửa và nhấn tôi ngồi xuống ghế.

“Chuyện gì vậy ạ?”, tôi hỏi chú. Trong tôi một cảm giác lo sợ ngày càng tăng mà tôi không thể hiểu được. Chú tôi thường rất tự tin, nhưng lúc này chú có vẻ không chắc chắn về những gì nên nói. Chú thường rất khoa trương, nhưng bây giờ chú có vẻ lúng túng. “Chú này, có gì không ổn à?”.

“Người ta bảo cháu rằng Bá tước Hertford đang đến đây à?”, chú tôi hỏi. “Vâng, tất nhiên. Chàng cưỡi ngựa đi sau chúng cháu”, tôi đáp.

“Chú không nghĩ thế. Chú nghe báo là cháu sẽ ở đây một mình.” “Không, không”, tôi phản đối, “lẽ ra chúng cháu sẽ cùng rời Tháp vào sáng nay. Chàng bị trì hoãn chỉ vì họ chưa đóng móng ngựa xong.

Chàng đi sau chúng cháu và đi cùng Teddy – con trai chúng cháu, Tử tước Beauchamp. Teddy đòi đi ngựa cùng với cha. Chàng sẽ cho Teddy ngồi trước yên ngựa. Cháu nghĩ họ mất nhiều thời gian như vậy có thể vì Teddy muốn cầm dây cương”.

Một lần nữa, chú do dự, sau đó chú siết chặt cả hai tay tôi trong bàn tay lạnh lẽo của chú và nói: “Katherine thân yêu, chú rất tiếc phải nói với cháu rằng những rắc rối của cháu chưa kết thúc. Cháu không hề được thả và Bá tước Hertford cũng không hề được tự do. Hai người không được ở chung với nhau. Bá tước được đưa tới Hanworth, ở đó mẹ cậu ấy sẽ phải chịu trách nhiệm việc giam giữ cậu ấy, còn cháu được gởi đến đây, chú được lệnh phải cầm giữ cháu tại đây như một tù nhân”.

Tôi kinh ngạc đến nỗi không nói được gì cả, chỉ biết há hốc miệng nhìn chú tôi. “Không thể nào!”, tôi nói.

Chú ấy không hề chớp mắt: “Chú e là vậy”.

“Nhưng bà ấy đã thả cháu, theo yêu cầu của mọi người, để cháu có thể rời khỏi thành phố vì dịch bệnh!”

Chúng tôi không cần phải nói ra “bà ấy” là ai.

“Không, bà ấy không thả cháu. Bà ấy bị toàn thể triều đình thuyết phục không thể để cháu ở Tháp trong tình trạng nguy hiểm như vậy, nhưng bà ấy không hề ân xá cho cháu, cũng không tha thứ và chắc chắn không thả cháu. Cháu sẽ được canh giữ ở đây, bởi chú, giống như một tù nhân trong Tháp với các lính gác. Chú được lệnh không cho phép cháu gặp và nói chuyện với bất cứ ai ngoại trừ những người hầu trong gia đình chú và họ sẽ ngăn không cho cháu rời khỏi đây”, chú ngừng lại, “hoặc thậm chí chỉ là đi ra ngoài”.

“Chú, chú không thể đồng ý điều đó được? Chú sẽ là cai ngục của cháu sao?”

Chú nhìn tôi bất lực: “Liệu sẽ tốt hơn nếu từ chối và để cháu chết vì dịch bệnh ở Tháp sao?”.

“Chú giam giữ cháu, cô cháu gái của chú sao?”

“Chú có thể làm gì khác khi bà ấy đã ra lệnh như thế? Có tốt hơn nếu bà ấy giam chú trong Tháp cùng với cháu không?”

“Còn Ned? Chồng cháu thì sao?”

“Mẹ cậu ấy đã hứa sẽ giữ cậu ấy trong hai căn phòng trong nhà. Cậu ấy cũng không được ân xá hay tha thứ. Mẹ cậu ấy sẽ canh giữ cậu ấy.”

“Con trai cháu!”, tôi nói trong nỗi kinh hoàng. “Ôi Chúa ơi! Chú! Con trai của chúng cháu, Teddy. Cháu để bé đi cùng Ned vì nghĩ họ sẽ theo sau. Teddy đang ở đâu? Nó có đến đây không? Họ có đưa nó đến đây không?”.

Chú tôi, gương mặt nhợt nhạt với nỗi đau riêng của ông, lắc đầu. “Cậu ấy sẽ sống với cha và bà nội ở Hanworth”, chú ấy đáp.

“Không phải với cháu à?”, tôi thều thào. “Không.”

“Không!”, tôi hét lên. Tôi chạy đến cánh cửa và vặn mạnh tay nắm, nhưng nó vẫn không không mở ra, tôi biết rằng những người hầu của chú đã khóa lại. Tôi đập cả hai tay lên cánh cửa gỗ. “Thả tôi ra! Tôi phải có con trai tôi! Tôi phải có con trai tôi!”.

Tôi quay lại và chộp lấy cánh tay chú tôi. Chú gạt tôi ra, gương mặt trắng bệch.

“Chú, chú phải bảo họ đưa Teddy đến đây cho cháu”, tôi gào lên, “nó thậm chí còn chưa đến hai tuổi! Nó chưa bao giờ xa mẹ. Nó không giống như những cậu bé hoàng gia sống với người hầu: Mẹ con cháu chưa bao giờ xa nhau! Cháu là người bạn duy nhất của nó, cháu chăm sóc nó cả ngày lẫn đêm. Nó sẽ chết nếu không có cháu! Cháu không thể rời xa nó được”.

“Cháu đã có một đứa ở đây rồi”, chú tôi nói một cách yếu ớt.

“Cháu có hai con!”, tôi nhấn mạnh. “Cháu sinh ra hai đứa trẻ, cháu phải có cả hai! Chú không thể cướp mất một đứa của cháu được. Chú không thể cho phép bà ấy cướp mất con trai cháu được! Đó sẽ là cái chết đối với cháu; điều đó còn tệ hơn cả cái chết. Cháu phải có con của cháu”.

Chú ấn tôi xuống chiếc ghế gỗ một lần nữa. “Yên nào, bình tĩnh nào. Chú sẽ viết thư cho William Cecil. Ông ấy vẫn là bạn của cháu. Hội đồng Cơ mật đang làm việc để cháu được tự do: có thể chỉ vài ngày nữa thôi.

Ai cũng biết cháu là một người kế vị đúng lý, đúng dòng dõi, và được Hội đồng Cơ mật lựa chọn. Ai cũng biết cháu không thể bị giam giữ mãi mãi”.

Tôi im lặng. Chú nhìn tôi xoay người, lẩn tránh ánh mắt lo lắng của chú, áp mặt vào lưng ghế gỗ. “Bà ấy đã chia cách cháu và chồng cháu, giờ bà ấy chia cách cháu với con cháu sao?”, tôi nói thầm, vụn vỡ, “bà ấy cứu cháu khỏi cái chết để làm gì nếu bà ấy làm cho cuộc sống của cháu còn tồi tệ hơn cả chết? Cháu phải ở với con. Nó còn nhỏ lắm – nó chưa đầy hai tuổi. Nó phải ở cạnh cháu. Cháu phải có nó. Nó biết xoay xở thế nào nếu không có cháu? Ai sẽ dỗ nó ngủ?”.

Tôi ngẩng đầu lên nhìn chú tôi, gương mặt chú méo xệch vì đau khổ. “Ôi Chúa ơi”, tôi rên rỉ, “nó sẽ nghĩ cháu ruồng rẫy và bỏ rơi nó. Trái tim nó sẽ tan vỡ. Nó phải ở bên cạnh cháu. Cháu không thể sống nổi nếu không có nó. Cháu thề với chú, cháu sẽ chết nếu nó bị bắt đi”.

“Chú biết”, chú tôi nói, “có lẽ bà ấy sẽ mủi lòng. Chắc chắn bà ấy sẽ động lòng thương”.

Tôi ngẩng đầu lên. “Việc này thật sự quá tàn nhẫn”, tôi nói, “cháu thà chết vì dịch bệnh ở Tháp còn hơn phải mất con của mình”.

“Chú biết.”

LÂU ĐÀI PIRGO, ESSEX

MÙA THU NĂM 1563

Tôi và chú tôi viết một thỉnh nguyện thư cho Nữ hoàng. Mỗi ngày chú đến gặp tôi và chúng tôi chỉnh sửa nó một ít. Bà ấy là một học giả; bà ấy thích những bài viết hay. Bà ấy không phải là một học trò như chị Jane, cho nên một cụm từ diễn đạt khéo léo sẽ luôn thu hút sự chú ý của bà ấy.

Chúng tôi gởi bản nháp đầu tiên cho William Cecil xem trước, sau đó nhận lại bản sửa với những dòng nhận xét nguệch ngoạc của ông bên lề và chúng tôi viết lại. Nó phải thật hoàn hảo. Nó phải thuyết phục Nữ hoàng rằng tôi thực sự xin lỗi vì đã kết hôn mà không xin phép trước. Nó phải thuyết phục bà – chứ không phải tranh luận hay lý lẽ – rằng tôi thừa nhận đã kết hôn với chồng tôi, và hai con tôi là những người kế vị hợp pháp. Tôi phải đảm bảo với bà rằng – dù tôi là người thừa kế của mẹ tôi và là cháu cố của Vua Henry VII – nhưng tôi sẽ không bao giờ thách thức Nữ hoàng Elizabeth trong suốt cuộc đời bà, cũng không đòi quyền kế vị ngai vàng khi bà qua đời nếu không có sự cho phép của bà. Thậm chí nếu có thể đoan chắc rằng bà sẽ không bao giờ mất đi nhan sắc, không bao giờ già nua và không bao giờ chết, chúng tôi sẵn sàng thêm vào một đoạn để thề trước mặt bà.

Bằng cách nào đó tôi phải thuyết phục bà rằng tôi hoàn toàn trái ngược với bà. Bà quá hão huyền đến mức không thể tưởng tượng được có một người không giống bà. Bà chỉ có thể tưởng tượng ra một thế giới theo hình ảnh của bà. Nhưng tôi hoàn toàn khác. Tôi để trái tim tôi điều khiển lý trí, trong khi bà luôn luôn tính toán. Tôi kết hôn vì tình yêu, trong khi bà bán đứng người yêu mình cho một cuộc hôn nhân với Nữ hoàng Mary xứ Scots. Tôi có hai cậu con trai khôi ngô, trong khi bà không có con. Và khác biệt lớn nhất giữa chúng tôi là tôi không muốn ngai vàng nước Anh, thậm chí tôi không muốn được chọn làm người kế vị với cái giá này – trong khi đó là tất cả những gì bà mong muốn ngay từ thời thơ ấu, khi bà bị gọi là con hoang, bị loại khỏi dòng dõi kế vị trực tiếp của chúng tôi, và đó là tất cả những gì bà quan tâm vào lúc này.

Kính thưa Nữ hoàng Nhân từ, tôi không dám mạo muội xin ân xá tội bất tuân và thiếu suy nghĩ nếu không có sự đồng ý của Lệnh Bà; tôi chỉ van xin Lệnh Bà tiếp tục rủ lòng nhân từ thương xót kẻ hèn mọn này. Tôi thừa nhận bản thân mình là một sinh vật không xứng đáng nhất để được nhận quá nhiều ân sủng mà Lệnh Bà ban cho. Nỗi đau đớn và sầu khổ kéo dài khiến tôi ngày càng thấm thía hơn tội lỗi tồi tệ của mình, và lòng trắc ẩn bao dung của Lệnh Bà càng khiến tôi cảm thấy day dứt hơn vì đã quên mất nghĩa vụ đối với Lệnh Bà. Đó là một sự tra tấn tinh thần khủng khiếp. Vì vậy, xin Nữ hoàng Bề trên cho phép tôi được phủ phục dưới chân Lệnh Bà để bày tỏ hoàn cảnh khốn khổ của tôi trước lòng nhân từ vô biên của Lệnh Bà, với tất cả sự sáng suốt mà tôi khao khát, với những lời cầu nguyện hằng ngày của tôi cầu xin Đức Chúa cho chúng tôi tiếp tục được hưởng nền thịnh trị bền vững và lâu dài của Lệnh Bà.

Từ Pirgo, ngày 6 tháng 11 năm 1563. Kể bề tôi trung thành và hèn mọn của Lệnh Bà.

Cuối cùng, tôi và chú tôi gởi lá thư đã hoàn thành cho Robert Dudley, trong vai trò một người bạn của chúng tôi và cố vấn chính của Nữ hoàng. Thật kỳ quặc, số phận ông ấy cũng chông chênh, giống như tôi. Ông ấy có thể thấy mình đang ở một vị trí lạ lùng, người yêu của Nữ hoàng Anh và chồng của Nữ hoàng Scotland; ông ấy có thể là một hoàng thân, như anh trai ông suýt nữa đã có được vị trí đó. Duy nhất một người thuộc dòng họ Dudley mới có thể hy vọng một kết quả như vậy với một tham vọng: Chỉ có Nữ hoàng Elizabeth mới có thể tưởng tượng ra điều đó.

Nhưng chúng tôi không biết Nữ hoàng Mary xứ Scots có thể tưởng tượng được gì. Tất cả chúng tôi đều phải chờ xem liệu nỗi nhục khi lấy người yêu vô dụng của người dì họ mình có đáng để đổi lấy việc được chọn làm người kế vị ngai vàng nước Anh hay không. Tất cả chúng tôi đều chờ xem liệu Nữ hoàng Elizabeth có chấp nhận phong cho Dudley lên vị trí Bá tước vùng Leicester để ông ấy có thể cưới một thành viên hoàng gia một cách hợp pháp, rồi sau đó gởi ông đi hay không. Tất cả chúng tôi đều chờ xem Hội đồng Cơ mật có yêu cầu Nữ hoàng Elizabeth chỉ định tôi làm người kế vị như bà đã hứa rằng bà sẽ làm theo lời khuyên của họ hay không. Robert Dudley hứa sẽ trình lá thỉnh nguyện thư của chúng tôi vào đúng thời điểm, khi bà sẵn sàng lắng nghe. Tất cả chúng tôi đều biết chỉ có Robert Dudley mới có thể khơi gợi một tâm trạng dễ chịu của Nữ hoàng, chỉ có Robert Dudley mới có thể khiến bà cảm thấy hạnh phúc; nhưng liệu ông ấy có đủ sức ảnh hưởng để thuyết phục bà rộng lượng với tôi không? Liệu ông ấy có thể làm cho Nữ hoàng Elizabeth – Lãnh đạo Tối cao của Hội thánh – tha thứ cho tôi như một tín đồ Cơ đốc hay không?

Nhưng Dudley đã không thể. Có lẽ đây là điều đầu tiên Nữ hoàng từ chối ông ấy. Tất cả chúng tôi đều nghĩ bà không thể kháng cự ông ấy, không thể từ chối ông ấy một điều gì cả. Nhưng chuyện nhỏ nhặt này, hành động tha thứ hợp lý, nhân ái và đầy tình cảm này, vượt quá khả năng của bà. Bà biết tôi đang đau khổ, bị chia cắt khỏi chồng con, bị giam giữ cô lập trong nhà chú tôi, buộc phải phụ thuộc chi phí ăn ở và quần áo vào ông. Con trai nhỏ của tôi cũng bị giam cùng với tôi dù không có tội gì cả. Con trai lớn bị tách khỏi tôi, còn chồng tôi bị chính mẹ chàng giam giữ. Elizabeth biết rằng đó là một sự tàn nhẫn với hai gia đình quý tộc, vi phạm luật pháp và công lý. Bà phải thả chúng tôi – chúng tôi không đe dọa bà, không mong muốn gì khác ngoài việc được yêu nhau và được sống bên nhau – nhưng bà sẽ không làm điều đó.

Có vẻ như tôi sẽ sống và chết trong ngục tù vì tội kết hôn với người mình yêu, vì Nữ hoàng Elizabeth Tudor không thể kết hôn với người bà yêu. Một sự ganh ghét đến mức bất thường. Một sự ác độc vượt quá mọi giới hạn, và khi nhận được sự khước từ của bà, tôi e rằng chỉ có cái chết mới có thể giải phóng tôi, giống như tất cả những người trong dòng họ Tudor từng bị bà đẩy tới cái chết. Chị bà đã giết chị tôi, còn bà sẽ giết tôi. Chuyện này chỉ có thể kết thúc bằng cái chết: của tôi hoặc của bà.

« Lùi
Tiến »