Nữ hoàng Elizabeth, vui vẻ như một con chim két đậu trên giậu hoa hồng, cưỡi ngựa lên đường từ sáng sớm, và tất cả các thị nữ phải đi cùng bà, dù vui hay không, dù thích hay không. Tôi cưỡi một chú ngựa săn to lớn nhưng không còn sợ hãi như những ngày thơ ấu ở Bradgate. Cha tôi luôn bế tôi lên một chú ngựa lớn, nói rằng nếu tôi cầm chắc dây cương và bảo đảm con ngựa biết ai là người ra lệnh thì không có gì đáng lo cả. Rằng tôi nên ngồi lệch một chút trên yên ngựa vì tôi vốn bị vẹo cột sống. Và, nếu tôi ra hiệu lệnh một cách rõ ràng, mạnh mẽ thì sẽ không có vấn đề gì vì tôi vốn thấp bé nhẹ cân. Cha cũng nói rằng dù tôi không cao nhưng tôi có thể khiến ai cũng phải “ngước” nhìn.
Trong khi Jane, chị cả của tôi, chỉ muốn ở nhà đọc sách, và chị Katherine luôn muốn chơi với bầy thú nhỏ trong vườn hoặc trong phòng chị, thì tôi luôn ở trong chuồng ngựa, đứng trên một cái thùng lật úp để vuốt ve những chú ngựa to lớn, hoặc leo lên bục lên ngựa rồi ngồi không cần yên cương trên chiếc lưng rộng ấm áp của chúng.
“Con đừng để việc con được sinh ra với cơ thể nhỏ nhắn và cái lưng không được thẳng cản trở đường tiến lên của con”, cha tôi thường nói như thế với tôi. “Không ai trong chúng ta hoàn hảo cả, con không hề kém cỏi hơn Vua Richard III, người đã cưỡi ngựa trong nửa chục trận đánh và hy sinh trong một cuộc tấn công bằng kỵ binh – nhưng không ai bảo rằng ông không nên cưỡi ngựa cả”.
“Nhưng ông là người rất xấu”, tôi nói với cái nhìn nghiêm nghị của một đứa trẻ bảy tuổi.
“Ừ, rất xấu”, cha tôi đồng ý, “nhưng đó là về tâm hồn, chứ không phải cơ thể ông. Con sẽ là một cô gái tốt dù vóc dáng nhỏ nhắn và cột sống hơi lệch một chút. Con có thể học cách đứng thẳng như một ngự lâm quân, và con có thể trở thành một người phụ nữ đẹp. Nếu không kết hôn thì con có thể là một em gái tốt của Jane và Katherine, một người dì tốt của các cháu. Nhưng cha không thấy có lý do nào khiến con không nên kết hôn và có một gia đình hạnh phúc khi có cơ hội. Sự ra đời của con cũng tốt đẹp như bất kỳ cô gái nào trong vương quốc này, thậm chí tốt hơn tất cả mọi người, ngoại trừ các công chúa, hoàng tử con vua. Sự thật mà nói, vấn đề không phải là cột sống của con có thẳng hay không, mà là trái tim con có ngay thẳng hay không”.
Tôi vui mừng khi cha tin tưởng tôi và dạy tôi cưỡi ngựa như mọi người khác. Cha là người đầu tiên giao cho tôi nhiệm vụ phải đứng thẳng, và tôi đã rèn luyện bản thân như thế. Tôi trải qua những ngày dài ngồi sau yên ngựa của Nữ hoàng Elizabeth và người nài ngựa lố bịch của bà, chẳng ai quan tâm tôi có ngồi vững không hay tôi có mệt không. Tôi có thể cưỡi ngựa xa và nhanh như bất cứ người phụ nữ nào trong triều đình, và tôi can đảm hơn hầu hết bọn họ. Tôi không bao giờ ngồi sụp trên yên ngựa hay nhăn mặt vì đau lưng vào cuối một ngày dài. Tôi không bao giờ quay nhìn Robert Dudley ra dấu để nhờ ông xin Nữ hoàng quay về nhà. Tôi không bao giờ mong đợi bất kỳ sự giúp đỡ nào từ họ cả, và vì vậy nên tôi không bao giờ thất vọng.
Không phải việc cưỡi ngựa khiến tôi mệt mỏi, nhưng Chúa biết tôi mệt đến chết với Nữ hoàng Elizabeth, và khi vó ngựa gõ lên con đường rải sỏi ở cổng thành Lâu đài Windsor, người trung sĩ gác cổng Thomas Keyes nhìn tôi với ánh mắt nâu đầy lo lắng. Tôi gật đầu mỉm cười với chàng, ra dấu rằng tôi chỉ kiệt sức với vị Nữ hoàng này mà thôi. Tôi không bị đau vì cưỡi ngựa mà chỉ thấy đau trong lòng.
Suốt quãng thời gian vui vẻ này, dưới cái nóng của mùa hè chuyển dần sang thu, trong khi Nữ hoàng Elizabeth dành buổi sáng để đi săn, buổi trưa đi dã ngoại và chèo thuyền trên sông, buổi tối với những vở kịch, khiêu vũ và hóa trang, thì chị tôi đang bị chú tôi giam cầm trong ba căn phòng với con của chị, bị tách khỏi đứa con trai đầu yêu dấu và chồng chị ấy.
Không có gì gây rắc rối cho người dì hoàng gia của chúng tôi cả! Mọi thứ đều khiến Nữ hoàng Elizabeth vui vẻ. Bà ăn uống say sưa giữa tiết trời ấm áp trong khi người dân London phải chịu đựng cảnh oi bức và bệnh dịch lan rộng. Mọi ngôi làng trên mọi con đường rời khỏi London đều có ít nhất một ngôi nhà bị đánh dấu thập trên cửa và bên trong có những con người đang hấp hối. Mọi căn nhà ven sông Thames đều khóa chặt cửa cống và rào chắn không cho tàu thuyền từ London đi vào. Mọi thành phố trong vương quốc đang đào hố chôn xác người chết vì bệnh và mọi nhà thờ đang cầu nguyện cho dịch bệnh trôi qua. Mọi ngôi nhà chưa bị dịch bệnh tấn công đều khóa trái cửa không tiếp khách. Người ta sợ hãi đến mức đối xử nhẫn tâm với người khác. Nhưng, không có gì gây trở ngại cho Nữ hoàng Elizabeth cả. Bà vẫn tán tỉnh Dudley giữa cái nóng như đổ lửa ban ngày và lẻn vào phòng ông bất cứ tối nào bà thích, trong khi chị tôi than khóc hằng đêm mơ được tự do.
Thomas Keyes phải làm nhiệm vụ gác cổng lâu đài và không thể giúp tôi xuống ngựa, nhưng luôn có một trong những người đàn ông trẻ tuổi của triều đình nhanh chóng đến đỡ tôi xuống. Họ biết rằng chị tôi và hai con trai của chị là những người kế vị ngai vàng tiếp theo; họ biết thứ bậc của tôi được Nữ hoàng công nhận. Không ai trong họ biết ảnh hưởng của tôi như thế nào và tôi có thể làm gì cho họ nếu họ làm tôi vui lòng. Tôi gần như không nhìn thấy họ. Nụ cười duy nhất của tôi chỉ dành cho Thomas Keyes, người trung sĩ gác cổng của Nữ hoàng; chàng là người duy nhất mà tôi tin tưởng giữa cái hố sâu hiểm độc của những con rắn hai mặt này. Thomas gật đầu chào riêng tôi khi tôi đi qua, và tôi biết tôi sẽ gặp lại chàng sau, vào một ngày nào đó khi Nữ hoàng Elizabeth đang vui vẻ với những người khác và quên chú ý đến tôi.
“Công nương Mary đâu rồi?”, bà hỏi ngay khi vừa xuống ngựa, như thể bà rất yêu mến tôi và luôn nhớ đến tôi suốt cả ngày vậy, rồi tôi tiến lên phía trước để nhận đôi găng tay đi ngựa bằng da có thêu hoa rất đẹp của bà. Một người khác nhận chiếc roi ngựa, và bà đưa bàn tay trắng muốt cho Robert Dudley dắt bà rời khoảng sân ánh sáng chói chang bước vào bóng râm mát mẻ của Lâu đài Windsor, với bữa sáng được phục vụ trong đại sảnh và Đại sứ Tây Ban Nha đang đợi chào đón bà.
Tôi mang đôi găng tay vào phòng trang phục hoàng gia, rắc lên một ít phấn thơm rồi gói chúng vào một tấm vải, sau đó tôi quay lại đại sảnh ngồi xuống bàn cùng với các thị nữ. Nữ hoàng Elizabeth ngồi ở chiếc bàn cao nhất với Đại sứ Tây Ban Nha một bên và Robert Dudley bên kia. Tôi ngồi ở đầu bàn dành cho các thị nữ; tôi là cháu họ của bà, tôi là con gái của một công nương dòng dõi. Tất cả chúng tôi đều cúi đầu hành lễ, Nữ hoàng Elizabeth khăng khăng muốn làm lễ bằng tiếng Latin để phô diễn sự thông thái của bà hơn là vì lòng mộ đạo, rồi những người hầu mang bình nước và chén đến cho chúng tôi rửa tay. Sau đó, họ mang lên những món ăn tuyệt vời, hết đĩa này đến đĩa khác. Mọi người đều đói sau một buổi sáng trên lưng ngựa, thịt và bánh mì mới nướng được phục vụ cho mỗi bàn.
“Cháu có nghe tin gì từ chị cháu không?”, dì Bess St. Loe thầm hỏi tôi. “Cháu viết thư, nhưng chị ấy không trả lời”, tôi đáp, “chị ấy được phép nhận thư của cháu, dù chú phải đọc trước, nhưng chị ấy không trả lời”.
“Có chuyện gì xảy ra với cô ấy không? – Ồ, không phải dịch bệnh gì chứ?” “Không, ơn Chúa, dịch bệnh chưa lan đến Pirgo. Chú bảo rằng chị ấy không ăn uống gì cả mà chỉ khóc liên tục.”
Dì Bess tỏ vẻ ái ngại, “Ôi, cháu tôi”.
“Vâng”, tôi mím môi, “khi Nữ hoàng bắt đứa trẻ đi, cháu nghĩ bà ấy đã làm tan nát trái tim chị Katherine”.
“Nhưng Nữ hoàng sẽ tha thứ cho cô ấy, và cô ấy sẽ được đoàn tụ với họ. Cô ấy rất tử tế. Và Katherine là người kế vị duy nhất phù hợp với đức tin chúng ta. Nữ hoàng Elizabeth phải quay lại với cô ấy.”
“Cháu biết”, tôi nói, “cháu biết việc đó sẽ xảy ra. Nhưng trong khi chờ đợi thì đây là những ngày tháng khó khăn với chị ấy. Và thật tàn nhẫn với hai đứa trẻ, bọn trẻ chưa từng biết gì khác ngoài việc bị giam giữ. Dì có nói chuyện với Nữ hoàng không?”.
“Có lẽ ít nhất bọn trẻ phải được thả...”, dì Bess bắt đầu nói, sau đó ngưng lại khi Nữ hoàng đứng lên thông báo rằng bà sẽ đi dạo trong vườn với Đại sứ Tây Ban Nha và Robert Dudley. Có ba thị nữ đi sau bà, còn lại chúng tôi được tự do khoảng một hoặc hai giờ. Chúng tôi đứng dậy, đi theo bà ra khỏi đại sảnh và nhún gối chào khi bà đi qua cổng vườn, khoác tay Robert Dudley một bên và Álvaro de la Quadra bên kia. Nữ hoàng Elizabeth rất thích ở trung tâm của sự chú ý với mỗi người đàn ông một bên. Tôi nghĩ nếu không phải là một nữ hoàng thì chắc chắn bà ta sẽ trở thành một ả điếm. Khi họ đi ra và cánh cổng được lính gác đóng lại sau lưng, tôi lướt đi theo hướng đối diện đến cổng chính. Nó được khóa chặt để chống dịch bệnh, nhưng có một anh lính gác đẹp trai làm nhiệm vụ phía trong cửa xép. Khi tôi đến gần, anh ta cúi đầu và đưa tay ra giúp tôi bước qua cánh cửa hẹp.
Thomas đứng gác bên ngoài cánh cửa bị khóa, khoanh tay trước ngực. Đó là một người đàn ông khổng lồ trong bộ chế phục Tudor, người trung sĩ gác cổng của Nữ hoàng. Tôi cảm thấy mình đang mỉm cười lần đầu tiên trong ngày hôm nay khi vừa nhìn thấy chàng.
“Công nương Mary!”, chàng kêu lên khi tôi đập nhẹ lên khuỷu tay chàng. Chàng quỳ một chân xuống khoảnh sân rải sỏi để gương mặt chàng ngang tầm với tôi, đôi mắt nâu tràn đầy yêu thương, “nàng được tự do bao lâu? Nàng sẽ vào nghỉ trong nhà gác cổng nhé?”.
“Em có một giờ”, tôi nói, “bà ấy đang đi dạo trong vườn”.
Thomas ra lệnh cho một trong những người lính gác thay thế vị trí của chàng rồi dẫn tôi đến nhà gác cổng kế bên cổng thành, nhìn tôi leo lên chiếc ghế lớn cạnh chiếc bàn của chàng. Chàng rót cho tôi một ly rượu nhỏ từ chiếc bình trên chạn và ngồi xuống một chiếc ghế thấp bên cạnh để đầu chúng tôi có thể ngang nhau.
“Có tin gì về chị nàng không?”, chàng hỏi.
“Không có gì mới. Em đã hỏi Robert Dudley xem ông ấy có thể nói chuyện với Nữ hoàng một lần nữa không. Ông ấy bảo việc đó sẽ chẳng có ích gì mà chỉ làm bà ấy tức giận hơn thôi”.
“Vậy nàng phải chờ à?”
“Chúng ta phải chờ”, tôi xác nhận.
“Thế thì chuyện của chúng ta cũng phải chờ thôi”, chàng nhẹ nhàng nói. Tôi đặt tay lên bờ vai rộng của chàng và vuốt ve bông hồng Tudor trên cổ áo chàng. “Chàng biết rằng em sẽ kết hôn với chàng ngay ngày mai nếu có thể. Nhưng lúc này em không thể xin Nữ hoàng Elizabeth bất cứ điều gì, cho đến khi bà ấy chịu ân xá cho chị Katherine. Chị ấy phải được tự do trước đã”.
“Tại sao bà ấy lại phiền lòng đến thế nhỉ?”, chàng tự hỏi. “Tại sao một nữ hoàng vĩ đại lại phải bận tâm quá nhiều về chị của nàng như vậy? Đó không phải là vấn đề riêng tư của trái tim sao? Bá tước Hertford thuộc dòng dõi quý tộc, tại sao chị nàng không được làm vợ ngài ấy?”.
Tôi ngần ngại. Thomas có cách nhìn đơn giản của một người đàn ông chân chất. Chàng đứng gác cổng mỗi ngày và chịu trách nhiệm về sự an toàn của một vị Nữ hoàng mâu thuẫn bậc nhất. Có những người yêu mến Nữ hoàng Elizabeth và sẵn sàng chết vì bà ấy, những người năn nỉ xin vào lâu đài chỉ để được nhìn thấy bà, như thể bà là một vị thánh, để họ có thể về nhà nói với con cái rằng họ đã nhìn thấy người phụ nữ vĩ đại nhất vương quốc, đeo đầy những món đồ trang sức với sự uy nghi lộng lẫy trong bữa tối. Và cũng có những người ghét bà cay đắng vì càng ngày bà càng đưa đất nước rời xa Giáo hội La Mã. Họ gọi bà là kẻ dị giáo và sẵn sàng đầu độc bà, đâm chết bà hoặc đặt bẫy bà như bẫy một con thú hoang. Một số người xem thường bà vì sự lang chạ, một số nghi ngờ bà ngoại tình, và một số khác thậm chí còn cáo buộc bà sử dụng yêu thuật, dị hình, che giấu một đứa con hoang, hay thậm chí cho rằng bà là đàn ông. Mọi người đàn ông và phụ nữ ở mọi tầng lớp phải đi ngang qua cái nhìn rà soát của Thomas và chàng vẫn kiên định nghĩ đến những điều tốt đẹp nhất, tin tưởng họ nhất miễn là họ an toàn, hoặc bảo họ quay về nếu chàng nghĩ họ có thể là một mối nguy hiểm. Chàng tin rằng con người nói chung là tốt và tử tế giống như chàng vậy.
“Em không biết tại sao Nữ hoàng Elizabeth không thể chấp nhận cuộc hôn nhân của chị Katherine”, tôi lựa lời nói, “em biết bà ấy sợ rằng nếu chị Katherine được chọn làm người kế vị thì mọi người sẽ rời bỏ bà và chị Katherine sẽ âm mưu chống lại bà, giống như dì Margaret Douglas, một người dì họ khác, đã làm. Nhưng hơn thế nữa, không chỉ chị Katherine – Nữ hoàng Elizabeth không thích ai kết hôn cả; bà không thích ai được chú ý ngoại trừ bà. Tất cả các thị nữ đều không mong đợi được Nữ hoàng cho phép kết hôn. Thậm chí bà không cho phép bọn em nói về việc đó. Tất cả mọi người ở triều đình đều phải yêu một mình bà ấy mà thôi”.
Thomas mỉm cười bao dung. “Ừ thì bà ấy là nữ hoàng”, chàng thừa nhận, “ta cho rằng bà ấy có thể có một triều đình theo sở thích của bà ấy. Ta có thể gặp nàng tối nay sau khi khóa cổng chứ?”.
“Em sẽ gặp chàng trong vườn”, tôi hứa.
Chàng cầm bàn tay nhỏ bé của tôi trong bàn tay to lớn của chàng và nhẹ nhàng hôn lên nó. “Ta rất vinh dự”, chàng nói thầm, “ta nhớ nàng suốt cả ngày, nàng biết đấy, và ta mong ngóng nàng được ra hay vào cổng. Ta thích nhìn nàng cưỡi ngựa, ngồi rất cao trên lưng ngựa và rất xinh đẹp trong bộ áo váy”.
Tôi nghiêng đầu chạm má lên mái tóc chàng khi chàng cúi xuống hôn tay tôi. Tóc chàng dày và xoăn, có mùi khí trời. Tôi nghĩ rằng trong toàn bộ thế giới nguy hiểm và không chắc chắn này, tôi đã tìm thấy người đàn ông duy nhất mà tôi có thể tin cậy. Tôi nghĩ chàng không biết điều đó đối với tôi quý giá đến nhường nào.
“Lần đầu tiên chàng mong đợi em là khi nào?”, tôi thì thầm hỏi.
Chàng ngẩng đầu lên và mỉm cười trước sự trẻ con của tôi, muốn nghe một câu chuyện lặp đi lặp lại. “Ta để ý đến nàng khi lần đầu tiên nàng đến triều đình, lúc chưa đầy mười tuổi, một cô gái nhỏ bé. Ta còn nhớ ta đã nhìn thấy nàng ngồi trên một con ngựa to lớn và ta cảm thấy lo sợ thay cho nàng. Rồi ta thấy nàng điều khiển nó và biết nàng tuy nhỏ bé nhưng thật mạnh mẽ”.
“Chàng là người vĩ đại nhất mà em từng gặp”, tôi nói với chàng. “Trung sĩ gác cổng của Nữ hoàng, chàng rất đẹp trai trong bộ chế phục, cao to như một cây đại thụ, một cây sồi vĩ đại”.
“Rồi khi nàng được chọn làm thị nữ trong cung, ta nhìn thấy nàng ra vào triều đình, và ta nghĩ rằng trong tất cả họ, nàng là người vui vẻ nhất và ngọt ngào nhất”, chàng nói, “khi chị nàng lẻn qua cánh cổng với chiếc mũ trùm lên mái tóc vàng, ta biết chị ấy đi gặp người tình, ta đã định cảnh báo nàng; nhưng nàng còn rất trẻ và rất xinh đẹp, ta không muốn là người mang lo lắng đến cho cuộc sống của nàng. Ta không dám nói chuyện với nàng cho đến khi nàng bắt đầu chào ta vào buổi sáng. Ta đã mong đợi điều đó – nàng nói. ‘Chào buổi sáng, đội trưởng Keyes’. Và ta lắp bắp như một gã ngốc hân hoan, không kịp đáp lại một lời nào”.
“Nhờ đó mà em biết chàng thích em”, tôi nói với chàng. “Chàng nói chuyện tự nhiên với mọi người khác, nhưng với em, chàng lúng túng như một cậu bé. Và chàng đỏ mặt! Chúa ơi! Một người đàn ông to lớn mà đỏ mặt như một cậu học trò!”.
“Làm thế nào ta có thể nói chuyện với một công nương như nàng chứ?”, chàng chữa thẹn.
“Ôi! Người tốt nhất triều đình!”, tôi nói với chàng. “Em rất vui khi chàng đề nghị đi cùng em đến thăm chị Katherine ở Tháp. Khi chàng nói sẽ hộ tống em vì đường phố không an toàn. Em rất vui khi có chàng bên cạnh. Giống như đi bên cạnh một chú ngựa Shire tuyệt vời vậy: Chàng to lớn đến mức mọi người đều tránh đường. Và khi em gặp chị ấy, nhìn chị ấy đau khổ đến mức em muốn bật khóc cùng với chị ấy, rồi em bước ra ngoài, thấy chàng đang chờ em, và em cảm thấy được an ủi chỉ vì chàng ở đó, như một ngọn núi. Em cảm thấy mình có một đồng minh. Một đồng minh to lớn như một tòa lâu đài. Một người bạn mạnh mẽ”.
“Chắc chắn là cao rồi”, chàng cười nói, “ta sẽ làm tất cả vì nàng, công nương nhỏ bé của ta”.
“Hãy luôn yêu em, như bây giờ vậy”, tôi thì thầm. “Ta thề sẽ luôn yêu nàng.”
Chàng im lặng trong giây lát. “Nàng không phiền việc ta đã kết hôn trước đây chứ?”, chàng khẽ hỏi. “Nàng không phản đối các con ta chứ? Chúng sống với dì chúng tại Sandgate, nhưng ta sẽ rất vui nếu chúng có một người mẹ kế đáng yêu như nàng”.
“Liệu bọn trẻ có coi thường em không?”, tôi lúng túng hỏi.
Chàng lắc đầu: “Bọn trẻ sẽ biết nàng là một phụ nữ tuyệt vời ngay cả khi chúng phải cúi xuống hôn tay nàng”.
“Em thích chúng ta có con”, tôi thẹn thùng nói. “Trước tiên em sẽ chăm sóc các con của chàng, sau đó có lẽ là những đứa con của chúng ta”.
Chàng nắm tay tôi, áp lên má, “Mary, chúng ta sẽ rất hạnh phúc”. Chúng tôi cùng im lặng trong giây lát, rồi tôi nói: “Chàng biết không, bây giờ em phải đi”.
Chàng đứng thẳng người lên, đầu gần chạm trần nhà. Chàng cao hơn hai mét tính từ đôi giày ống khổng lồ đến mái tóc nâu xoăn. Khi đứng cạnh chàng, đầu tôi chỉ ngang với chiếc thắt lưng da bóng loáng của chàng. Chàng mở cửa cho tôi, tôi đi đến cánh cổng rào chắn lớn của Lâu đài Windsor và chàng mở cánh cửa xép bên trong cho tôi qua.
“Hẹn gặp nàng tối nay nhé!”. Chàng thì thầm và nhẹ nhàng khép cửa lại sau lưng tôi.
LÂU ĐÀI WINDSOR
GIÁNG SINH NĂM 1563
Tình yêu của tôi tặng tôi một chiếc nhẫn vàng với một viên hồng ngọc nhỏ xíu mang màu sắc của tình yêu đích thực, màu đỏ sẫm. Tôi tặng chàng một chiếc thắt lưng bằng da dày để chàng đeo ngang vòng eo rộng. Tôi tự tay dùng dùi của một người thợ đóng giày để khắc tên và gia huy của chúng tôi lên lớp da dày đó. Chàng có thể đeo nó quay vào trong để không ai biết ngoại trừ hai chúng tôi. Khi tôi tặng nó cho chàng và chàng lấy nó ra khỏi chiếc túi lụa nhỏ do tôi tự tay may, chàng đỏ mặt đến tận mang tai giống như một chú bé con.
Tôi rất thích chiếc nhẫn chàng tặng tôi. Nó vừa vặn với ngón tay tôi như một chiếc nhẫn cưới và chàng nói tôi phải đeo nó trên ngón tay đeo nhẫn khi tôi ở một mình, vì đó là tín vật tình yêu chàng dành cho tôi và chúng tôi đã hẹn ước với nhau.
“Em ước gì chúng ta có thể kết hôn và chung sống với nhau ngay lập tức”, tôi thì thầm với chàng. Tôi ngồi trong lòng chàng, đôi tay to lớn của chàng vòng quanh người tôi. Chàng ôm tôi nhẹ nhàng như thể tôi là một đứa trẻ, nhưng tôi vẫn cảm thấy nhịp đập khao khát của chàng dành cho tôi như một phụ nữ khi tôi đặt những ngón tay tôi lên cổ tay mạnh mẽ của chàng.
“Ta cũng ước gì như vậy”, chàng nói, “ngay khi nàng đồng ý, ta sẽ đi tìm một mục sư và những người làm chứng, rồi chúng ta sẽ kết hôn. Hoặc chúng ta có thể đến nhà thờ. Ta không bao giờ muốn nàng phải đối mặt với những câu hỏi như chị nàng phải chịu đựng. Chúng ta sẽ có người làm chứng và chúng ta sẽ có hôn ước bằng giấy tờ”.
“Họ không quan tâm đến em đâu!”, tôi phẫn uất nói. “Trong mắt Nữ hoàng Elizabeth, em bé nhỏ đến mức bà ấy thậm chí không e ngại gì em cả. Em không giống như chị em, cả nửa triều đình châu Âu tán tỉnh và thêu dệt các âm mưu. Hôn nhân của em là chuyện của riêng em: Với bà ấy, không có gì khác biệt dù em có kết hôn hay không, dù em có một nhà đầy trẻ con hay chỉ có một mình chàng”.
“Vậy chúng ta sẽ kết hôn trong bí mật chứ?”, chàng hỏi trong hy vọng. “Nàng có dám không?”.
“Có thể là năm tới”, tôi thận trọng đáp. “Em không muốn khiến Nữ hoàng lại nổi giận giống như chuyện của chị Katherine. Em hy vọng Hội đồng có thể thuyết phục bà thả chị ấy trong tháng này. Một số học giả đang nghiên cứu tìm cách chứng minh chị ấy là người kế vị và chứng minh đám cưới của chị ấy hợp pháp để các con chị ấy trở thành những người kế vị hợp pháp. Em không thể nghĩ về bất cứ chuyện gì khác cho đến khi điều đó được viết ra và công bố”.
Thomas gật đầu. Chàng rất tôn trọng nền học vấn trong gia đình tôi, nhất là sau khi chị Jane được công nhận là một nhà thần học và những bài viết của chị được rất nhiều người đọc ở khắp nơi. “Nàng có đang viết cuốn sách nào không?”, chàng hỏi.
“Ồ, không”, tôi nói, “tất cả đều đang được thực hiện bởi viên chưởng lý cấp cao trong Tòa Đại hình, John Hales. Ông ấy đã đọc di chúc nguyên bản của nhà vua và nói trong đó ghi rõ tên mẹ em và dòng dõi của mẹ là những người kế vị sau Hoàng tử Edward và các công chúa. Hales đã chứng minh rằng cuộc hôn nhân của bà em là một cuộc hôn nhân hợp pháp, vì vậy nên dòng họ em hợp pháp, được sinh ra ở Anh và theo Kháng cách. Lúc này chồng chị Katherine, Ned Seymour, đang trả tiền cho các giáo sĩ ở nước ngoài để chứng minh rằng cuộc hôn nhân của họ, lời thề hôn nhân riêng và các con của họ là hợp pháp. Khi tất cả các bằng chứng được tổng hợp lại thì John Hales sẽ công bố và cả vương quốc sẽ thấy rằng chị Katherine được chứng minh là người kế vị của Nữ hoàng: sinh ra hợp pháp và kết hôn hợp pháp”.
Thomas do dự. Chàng là người ít học nhưng chàng có nhiều hiểu biết về thế giới thực tế xung quanh. Chàng phụ trách an ninh của cung điện và Nữ hoàng ngay từ khi Nữ hoàng Elizabeth mới lên ngôi. “Thế này nhé, thưa Công nương xinh đẹp, ta không phải một nhà quý tộc, cũng không phải một học giả, nhưng ta không chắc việc này có khôn ngoan không. Nữ hoàng không phải là một phụ nữ có thể cảm thấy bị bắt buộc phải làm theo những gì người khác nghĩ. Ngay cả khi toàn bộ đất nước cùng suy nghĩ một việc, bà ấy vẫn sẽ đi theo con đường riêng của mình. Nàng có nhớ quãng thời gian khi bà là vị công chúa Kháng cách duy nhất đứng lên vì đức tin của mình, khi chị bà đang là Nữ hoàng không? Lúc đó bà đã không hề đổi ý, mặc dù có vẻ như cả tất cả đang chống lại bà, từ Nữ hoàng Mary xứ Scots cho đến cả những người Tây Ban Nha. Ta nghĩ muốn thuyết phục bà thì một cuốn sách không đủ”.
“Nhưng bà đã làm theo”, tôi bướng bỉnh nói, “em còn nhớ bà đã đi dự thánh lễ và rên rỉ về việc đó”.
“Và đã về sớm”, chàng nhắc tôi, “vì lý do bị ốm. Và thể hiện cho mọi người thấy rằng bà không nuốt nổi nó”.
“Vâng, nhưng William Cecil đang bảo trợ cho cuốn sách này”, tôi nhấn mạnh, “và cả Robert Dudley nữa. Những gì William Cecil nghĩ hôm nay, Nữ hoàng sẽ thông báo vào ngày mai. Cuối cùng, bà ấy sẽ nghe theo lời khuyên của ông ấy. Ông ấy, em rể ông ấy và tất cả các cố vấn khác đều ủng hộ cuốn sách, và họ sẽ thấy nó được công bố. Nữ hoàng sẽ phải chọn chị Katherine làm người kế vị khi toàn bộ các những người Cơ đốc giáo đều nói chị ấy đã thực sự kết hôn và toàn thể Hội đồng Cơ mật đều nói chị ấy là người kế vị”.
Chúng tôi nghe thấy tiếng đồng hồ báo giờ. “Em phải đi thôi”, tôi nói, cựa mình trong vòng tay ấm áp của chàng.
Chàng bế tôi lên từ trong lòng chàng và đặt tôi xuống đất rồi nghiêng người về phía trước, kéo thẳng chiếc váy và những nếp nhăn trên tay áo tôi. Chàng dịu dàng như thị nữ của một công nương. Chàng vuốt chiếc mũ trùm đầu và chỉnh lại cổ áo cho tôi.
“Xong rồi”, chàng nói, “công nương xinh đẹp nhất triều đình”.
Tôi đợi chàng mở cửa phòng gác và liếc nhìn ra ngoài. “Không có ai cả”, chàng nói và lùi lại để tôi bước ra.
Khi tôi băng qua sân từ cửa chính đến các bậc tam cấp dẫn ra vườn, bộ váy của tôi lấm tấm tuyết, thật không may tôi đụng mặt Nữ hoàng đang bước vào sau khi chơi bóng gỗ trên thảm cỏ đóng băng. Bà mặc một chiếc váy màu đỏ nhung với chiếc mũ trùm đầu che phủ hai tai. Bà khoác tay Robert Dudley, hai má ửng hồng vì lạnh và ánh mắt lấp lánh. Tôi lùi lại và nhún gối chào, chuồi chiếc nhẫn hồng ngọc từ ngón tay vào túi áo trước khi ánh mắt tối tăm sắc sảo của bà kịp nhìn thấy nó: “Kính chào Nữ hoàng!”.
Thomasina, cô thị nữ lùn của Nữ hoàng, đi theo sau họ và nhìn tôi với một vẻ mặt hài hước như muốn hỏi tôi vừa mới ở đâu. Tôi mặc kệ cô ta. Cô ta không có quyền tò mò về tôi. Tôi không phải trả lời cô ta, và nếu cô ta gợi ý để Nữ hoàng hỏi tôi thì sau đó tôi sẽ gặp riêng cô ta để bảo cô ta đừng chõ mũi vào việc người khác.
“Công nương Mary”, Nữ hoàng Elizabeth lên tiếng với giọng khó chịu. Tôi không nghĩ ra tôi đã làm gì khiến bà bực mình, nhưng rõ ràng là bà không vui, “cô có vui lòng có mặt giúp ta thay y phục cho bữa tối hôm nay không?”.
Dù không nhìn nhưng tôi vẫn có thể cảm thấy nụ cười trấn an của Robert Dudley. Tôi không dám nhìn thẳng vào bất cứ đâu ngoại trừ đôi mắt đen lấp lánh của Nữ hoàng Elizabeth. “Vâng ạ, thưa Nữ hoàng”, tôi ngoan ngoãn nói, “thần rất vinh dự”.
“Vậy thì nhớ đấy!”, bà cáu kỉnh nói rồi đi lướt qua tôi. Tôi nhún gối chào, và khi ngẩng đầu lên, tôi bắt gặp một nụ cười cảm thông rất nhanh của Robert Dudley và một cái nháy mắt xấc xược của Thomasina. Robert Dudley nối bước theo Nữ hoàng. Thomasina lần lữa đứng lại.
“Có người đang viết sách về chị cô”, Thomasina thông báo với tôi, “đó là lý do tại sao bà ấy tức giận với cô. Bà ấy chỉ mới nghe nói về nó. Rõ ràng trong đó nói rằng chị cô sẽ là Nữ hoàng Anh tiếp theo. Cô sẽ là em gái Nữ hoàng và là dì của vị vua kế tiếp. Thật không tưởng tượng nổi một người lùn giống như tôi lại ở sát cạnh ngai vàng đến thế”.
“Tôi không có gì giống cô cả”, tôi lạnh lùng nói.
“Ồ, cô nghĩ cô sẽ cao hơn với chiếc vương miện tuyệt vời trên đầu chị cô sao?”, cô ta cười nói. “Việc chị cô lên ngôi có giúp cô cao hơn không? Cô có cao hơn khi được chị cô phong làm nữ Công tước không?”.
“Tôi không hiểu cô đang nói về chuyện gì cả”, tôi quay đi, nhưng cô ta nắm lấy váy tôi lại trong bàn tay nhỏ nhắn vuông vức của mình, giống bàn tay tôi.
“Chuyện gì?”, tôi ngang giọng. “Để tôi đi nào. Cô nghĩ chúng ta sẽ cãi nhau trong sân như các thị đồng sao?”.
“Có nhiều người sẵn sàng trả tiền để xem đấy”, cô ta vui vẻ nói, “nhưng tôi luôn kiếm sống bằng cách làm một thị nữ nhỏ nhắn chứ không làm một chú hề vui nhộn đâu”.
“Còn tôi thì chưa bao giờ phải kiếm sống”, tôi nghiêm giọng nói, “và chiều cao của tôi không liên quan gì đến ai cả. Tôi rất cảm ơn cô nếu cô buông áo tôi ra”.
Cô ta thả váy tôi ra, nhưng nụ cười xấc xược không hề biến mất. “Có một cuốn sách thật đấy, Công nương Mary”, cô ta nói ngắn gọn, “các học giả đang viết, từng phần một. Có một trang sách bị đánh cắp từ Tòa Đại hình cho thấy gia đình cô được Vua Henry VIII chỉ định làm người kế vị, bằng chứng của cuộc hôn nhân cho thấy dòng dõi cô hợp pháp, chứng minh rằng cả ba người, Công nương Jane, Công nương Katherine và cô đều sinh ra ở Anh, theo Kháng cách và thuộc dòng dõi hoàng tộc”.
“Đừng có nói về chị Jane”, tôi cảnh cáo.
“Được chôn trong một chiếc quan tài to như quan tài của... một đứa trẻ!”, cô ta nói một cách ranh mãnh. Tôi quay gót sải bước đi, nhưng tôi có thể nghe tiếng cô ta liến thoắng phía sau và cô ta chạy nhanh lên trước chắn đường tôi.
“Cô sẽ muốn biết phần còn lại của câu chuyện này”, cô ta nói, “hãy nghe đây, vì lợi ích của chính cô. Báo cáo của các học giả từ Pháp và Tây Ban Nha đều chọn chị Katherine của cô là người kế vị hợp pháp. Nữ hoàng đang rất giận dữ. Nếu cô là người yêu cầu họ viết các báo cáo này thì tốt hơn cô nên cảnh báo cho các thư ký của cô lánh đi. Cô có thể bảo chú cô đi một chuyến đến Pháp vì lý do sức khỏe. Và tốt hơn cô nên tiếp tục cúi đầu xuống, đừng chạy ra ngoài hôn chàng trung sĩ gác cổng nữa”.
Tôi cắn môi nén bật ra một tiếng kêu vì sốc.
“Tôi nghe thấy rất nhiều chuyện”, cô ta nói thêm, “cô biết thế nào mà. Không ai quan tâm đến chúng ta cả”.
“Thế sao cô lại cảnh báo tôi?”, tôi hỏi, “trong khi cô đang sống dưới cái bóng của bà ấy?”.
“Bởi vì chúng ta đều là những người lùn”, cô ta thẳng thắn nói, “cả hai chúng ta đều là những phụ nữ nhỏ bé trong một thế giới rộng lớn và đầy nguy hiểm. Chúng ta có sự gắn kết của những người lùn, dù rằng cô muốn phủ nhận điều đó. Vì vậy, tôi nói với cô – đừng khiến bà ấy nổi giận nữa. Bà ấy đã đủ giận dữ với gia đình cô rồi”.
Cô ta gật đầu một cách xấc láo như thể muốn tôi phải hiểu thật rõ mọi thứ, rồi cô ta quay lại và nhảy qua sân, giống như một cô bé đang chạy theo sau gia sư, và tôi thấy cánh cửa dẫn đến cầu thang lên hậu cung của Nữ hoàng Elizabeth đóng lại sau lưng cô ta.
LÂU ĐÀI WINDSOR
MÙA XUÂN NĂM 1564
Tôi hầu hạ Nữ hoàng Elizabeth suốt mùa xuân lạnh giá nước Anh bằng sự nhã nhặn và tỉ mẩn nhất có thể, và dù bà có búng ngón tay kêu tôi lấy cây quạt hay phàn nàn tôi làm trầy xước cổ bà khi giúp bà đeo sợi dây chuyền bằng ngọc bích, bà không có lý do nào khác để o ép tôi.
Thậm chí tôi cũng không liếc nhìn về phía cô lùn Thomasina để cảm ơn vì lời cảnh báo, hoặc khi một điệu nhảy khiến chúng tôi vô tình đứng cạnh nhau, tôi sẽ đổi vị trí bất cứ khi nào có thể. Tôi không thừa nhận sự gắn kết giữa những người lùn. Tôi không tham gia hiệp hội những người còi cọc. Tất nhiên tôi có thể nhận ra các đặc điểm của tôi ở Thomasina, trong dáng đi liêu xiêu với đôi chân ngắn, trong việc phải liên tục ngước mặt lên và xoay tới xoay lui để bám sát những cuộc nói chuyện đang diễn ra phía trên đầu mình. Tôi đoán lưng cô ta cũng bị đau như tôi sau một ngày dài trên lưng ngựa, và cả hai chúng tôi đều ghét khi mọi người gọi chúng tôi là những đứa trẻ do nhầm lẫn vóc dáng với tuổi tác hoặc trí tuệ. Nhưng tôi sẽ không bao giờ tỏ ý rằng tôi và cô ta cùng một khuôn đúc cả. Chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên về ngoại hình và chỉ có vậy. Lẽ nào Nữ hoàng Elizabeth phải nhận họ hàng với tất cả những người tóc đỏ? Liệu Phu nhân Margaret Douglas là chị em với một con ngựa? Bề ngoài không là gì cả so với dòng dõi. Tôi thuộc dòng dõi hoàng tộc và không phải một người lùn; tôi mang họ Grey và không phải một món đồ chơi đẹp. Tôi là người thừa kế ngai vàng nước Anh, còn Thomasina chỉ là người thừa kế di truyền những đoạn xương ngắn.
Nhưng vào một buổi tối đầu xuân khi đi ăn tối, tôi nhận thấy William Cecil vắng mặt, một điều bất thường, và sự tâng bốc hài hước của Robert Dudley nghe có vẻ gượng gạo. Nữ hoàng Elizabeth xù lông như một con mèo mắc mưa; mọi người đều thấy bà rất cáu kỉnh. Có vẻ như không ai khác trừ người lùn Thomasina biết được ai đã ngu ngốc đến mức chọc giận Nữ hoàng Elizabeth, nhưng tôi không thể tự đi hỏi cô ta.
Trong khi các bàn ăn đang được dọn dẹp, Robert Dudley cúi xuống hôn tay Nữ hoàng và tôi thấy bà gật đầu với người thư ký, người này đưa cho ông một xấp giấy. Ông cúi đầu nhận lấy rồi rời khỏi đại sảnh. Tôi lén đi vòng quanh các bức tường, không ai chú ý đến tôi vì đầu tôi còn thấp hơn những chiếc ghế có lưng dựa cao. Tôi bắt kịp ông ngay bên trong những cánh cửa lớn và tôi chuồi theo ra ngoài khi họ mở cửa cho ông.
“Công nương Mary”, ông nói, cúi đầu chào tôi. Những cánh cửa đóng lại phía sau chúng tôi, triều đình không thể nhìn thấy chúng tôi.
“Có vấn đề rắc rối à?”, tôi hỏi thẳng.
Ông cúi thấp xuống để có thể nói chuyện nhỏ giọng với tôi. “Đúng vậy. Một ai đó – tôi nghĩ là đại sứ Pháp – đã nộp cho Nữ hoàng quyển sách ủng hộ chị cô, Công nương Katherine, là người kế vị ngai vàng”.
“Công nương Hertford”, tôi nói, sửa bằng tên của chồng chị ấy.
Ông cau mày với tôi. “Công nương Katherine”, ông lặp lại, “đây không phải là lúc để cô khẳng định một cuộc hôn nhân mà Nữ hoàng đã phán quyết là không hợp lệ”.
Tôi nhìn khuôn mặt tối tăm của người mà cuộc hôn nhân của chính ông cũng sẽ bị phán quyết là không hợp lệ, nếu vợ ông không bị mưu sát một cách thuận tiện.
“Chúng ta đều biết rõ sự thật”, tôi kiên quyết nói.
“Và các tác giả đã công bố những gì họ nghĩ là sự thật”, ông ngang giọng đáp.
“Ngài có liên quan đến cuốn sách không?”. Tôi hỏi, dù biết là ông có liên quan.
“Không”, ông nói dối, “nhưng những người có liên quan với nó sẽ bị trừng phạt. Nữ hoàng đã ra lệnh bắt giữ chú John Grey của cô; John Hales, tác giả; Robert Beale, thư ký của ông ấy; Francis Newdigate, cha dượng của Edward Seymour. Ngay cả Quan giữ ấn Nicholas Bacon cũng bị bắt vì dám đưa ra ý kiến ủng hộ chị cô”.
Tôi cảm thấy lạnh run. “Chú tôi bị bắt? Quan giữ ấn bị bắt? Nhưng còn chị Katherine thì sao?” Tôi chụp lấy tay áo ông. “Ôi, ngài Robert! Họ không đưa chị ấy trở lại Tháp chứ?”.
“Không.”
“Nhưng chị ấy sẽ đi đâu nếu chú tôi bị bắt khỏi nhà? Họ có để chị ấy ở đó với Phu nhân Grey không? Hay chị ấy được thả? Ôi, ngài Robert, chị ấy có được thả không?”
“Không”, ông đứng thẳng lên, “Công nương Mary, tôi phải làm công vụ cho Nữ hoàng. Tôi phải gởi lính đi bắt những người này về thẩm vấn”.
Tôi ngước nhìn ông. “Ngài, ngài đi bắt họ ư? Ngài, người không liên quan gì đến cuốn sách, sao giờ lại đi bắt họ?”.
“À”, ông nói ngắn gọn, “vì Nữ hoàng ra lệnh cho tôi”.
Không có gì để than phiền khi ông luôn làm theo bất cứ điều gì Nữ hoàng muốn và không bao giờ phản đối bà. Bạn không được ân sủng tại triều đình của một bạo chúa nếu bạn không từ bỏ những nguyên tắc của bạn mỗi ngày. Tất cả những gì tôi có thể làm là cố giữ ông về phía chị Katherine.
“Ngài Robert, việc này rất tàn nhẫn với chị tôi và các con chị ấy. Họ không làm gì cả. Chị ấy không làm gì cả. Ai đó đã yêu cầu viết cuốn sách này – thậm chí cả bạn bè ngài – nhưng chị ấy không làm. Ai đó đã viết nó – không phải chị ấy. Ai đó đã công bố nó – không phải chị ấy. Ngài không thể xin thả chị ấy được sao? Ngay cả khi ngài phải bắt giữ những người khác?”
Ông lắc cái đầu tối tăm của mình. “Nữ hoàng sẽ không nghe lời tôi trong chuyện này”, ông nói. “Bà ấy không nghe ai cả. Bà ấy có quyền ban lệnh ân xá chỉ khi nào bà ấy cảm thấy vui”.
“Dì Margaret Douglas của chúng tôi được tha dù phạm tội nặng hơn nhiều!”
“Đó là quyết định của Nữ hoàng. Việc đó thuộc thẩm quyền của bà ấy.” “Tôi biết!” Tôi nói. “Bà ấy đã...”.
Ông giơ tay lên cao để nhắc nhở tôi rằng ông không thể nghe bất cứ điều gì không hay về người phụ nữ đang cai trị cả hai chúng tôi.
“Bà ấy đã quyết định”. Tôi tiếp tục nói, và khi ông quay đi, tôi thì thầm với chính mình, “quyết định làm một kẻ đê tiện”.
Tôi đang ngồi trong nhà gác với Thomas Keyes trong khi chàng quan sát cánh cổng và người lính trực qua một ô cửa nhỏ. Bỗng tôi nghe thấy tiếng vó ngựa và Thomas nói: “Đó là những người bị bắt vì ủng hộ chị nàng, thật đáng thương!”.
Chàng đỡ tôi lên một chiếc ghế để tôi có thể nhìn ra ngoài cửa sổ mà không bị ai trông thấy. Hales cưỡi một con ngựa gầy yếu và phía sau ông là một người đàn ông khác, mặt cúi gằm, đi giữa người lính có vũ khí trên tay.
“Chúa ơi! Đó là chú John của em. John Grey, người đang cầm giữ chị em!”
Thomas rời khỏi tôi, cầm theo cây gậy đội trưởng màu đen. Tôi nghe tiếng chàng ra lệnh dừng lại và sau đó chàng mở cửa cho họ vào rồi quay lại với tôi, đặt cây gậy vào góc phòng rồi nới lỏng chiếc thắt lưng da.
“Nhưng họ đã làm gì thế?”, chàng hỏi tôi với vẻ bối rối. “Bị bắt chỉ vì họ viết một cuốn sách sao?”.
“Đúng vậy!”, tôi cay đắng nói. “Chàng biết chú em không bao giờ làm gì chống lại Nữ hoàng Elizabeth. Chú ấy mãi mãi trung thành với bà. Và John Hales cũng nói rằng tất cả những gì ông đang cố gắng làm là chứng minh tính hợp pháp của một người kế vị theo Kháng cách. Ông không hề kêu gọi chị Katherine tiếm quyền của Nữ hoàng Elizabeth mà chỉ kêu gọi để chị ấy được chọn làm người kế vị nếu Nữ hoàng Elizabeth băng hà mà không có con trai”.
“Hội đồng Cơ mật sẽ nhìn thấy điều đó”, Thomas nói một cách hy vọng. “Trừ phi họ tự bịt mắt bịt tai”, tôi cay đắng nói.
CUNG ĐIỆN GREENWICH
MÙA HÈ NĂM 1564
Nữ hoàng Elizabeth cho gọi tôi vào hậu cung khi bà đang thay y phục cho bữa tối. Bà ngồi cạnh bàn, trước một chiếc gương Venetian, bộ tóc giả màu đỏ đặt trên giá đỡ, những ngọn nến lấp lánh xung quanh trong khi những người hầu tỉ mỉ thoa phấn trắng lên mặt bà. Bà ngồi bất động một cách hoàn hảo, giống như một pho tượng cẩm thạch, khi hỗn hợp chì và giấm trắng được dàn trải một cách không tì vết từ chân tóc xuống cổ rồi xuống ngực bà. Không ai dám thở mạnh. Tôi đứng đóng băng như những bức tượng khác trong căn phòng cho đến khi bà mở mắt ra, nhìn thấy tôi trong gương và nói mà không hề cử động đôi môi, nơi lớp phấn nền hỗn hợp đang khô lại, “Công nương Mary, nhìn đây này”.
Theo ánh mắt bà, tôi bước lên trước và khi bà chớp mắt cho phép, tôi cầm lên một cuốn sách nhỏ đang mở trước mặt bà.
Cuốn sách có tựa đề Monas Hieroglyphica80* và tác giả là John Dee. Có vẻ như nó được viết riêng tặng cho Hoàng đế La Mã Chí thánh và lời tựa dài lê thê như bắt người đọc phải thừa nhận các biểu tượng hành tinh là có ý nghĩa tự thân, và có thể được đọc như một ngôn ngữ hoặc một loại mật mã.
80* . Monas Hieroglyphica (hay Hieroglyphic Monad) là tiêu đề của cuốn sách được xuất bản năm
1564 bởi John Dee, gồm một tập hợp các biểu tượng bí truyền (esoteric symbols) được phát minh và thiết kế bởi chính tác giả. Các biểu tượng thể hiện tầm nhìn của Dee về sự thống nhất của vũ trụ và là tổng hợp của nhiều biểu tượng bí truyền và chiêm tinh khác nhau. Tuy là một học trò theo trường phái Phục hưng Tân Plato (Renaissance Neo-Platonism) của Marsilio Ficino, Dee không nhìn thấy được sự khác biệt giữa toán học và ma thuật. Thay vào đó, ông cho rằng tất cả các hoạt động của mình gồm nhiều khía cạnh khác nhau của cùng một nhiệm vụ: tìm kiếm sự hiểu biết siêu việt của Thiên Chúa ẩn dưới thế giới hữu hình, mà Dee gọi là “Sự thật Thuần khiết” (“Pure Verities”). Theo Wikipedia.
Tôi ngước lên và bắt gặp ánh nhìn tăm tối của Nữ hoàng Elizabeth. “Đọc đi”, bà ra lệnh bằng đôi môi mím chặt. “Cô nghĩ sao?”.
Tôi lật các trang sách nhỏ. Chúng gồm toàn những hình ảnh và các biểu tượng thiên văn với những dòng chữ li ti giải thích ý nghĩa của từng biểu tượng và biểu tượng này khớp với biểu tượng kia như thế nào. Có một số trang về toán học, thể hiện mối liên hệ giữa các biểu tượng, và một số trang khác có vẻ giống triết học, hay thậm chí là thuật giả kim.
“Thần không thể hiểu cuốn sách này khi mới đọc lần đầu”, tôi thẳng thắn nói. “Thần cần nghiên cứu nhiều ngày mới có thể hiểu được ạ. Thần xin lỗi, thưa Nữ hoàng”.
“Ta cũng không thể hiểu nổi”, Nữ hoàng Elizabeth thở ra và một ít phấn trắng bay bám vào gương, “nhưng ta nghĩ đó là một tác phẩm phi thường. Ông ấy kết hợp các ký hiệu cổ và các nghiên cứu về Hồi giáo – ông ấy nói về một vũ trụ khác tồn tại song song với thế giới này, hoặc phía sau thế giới này, mà chúng ta có thể cảm nhận nhưng khó mà nhìn thấy. Nhưng ông ấy nghĩ rằng những biểu tượng này mô tả thế giới đó, và có một loại ngôn ngữ có thể học được”.
Tôi lắc đầu bối rối. “Thần sẽ đọc nó cẩn thận, nếu Người muốn, và viết một bài thu hoạch”, tôi đề nghị.
Bà cười nhẹ để không làm rạn lớp phấn. “Ta sẽ cho đọc nó bởi chính tác giả”, bà nói. “Ông ấy sẽ có mặt theo lệnh ta. Nhưng cô có thể ngồi nghe cuộc đàm luận để học hỏi, nếu cô muốn. Ta chỉ muốn xem cô hiểu được gì sau lần đọc đầu tiên”.
“Thần không dám nhận đặc ân được học cùng Người”, tôi tìm cách thoái thác, “nhưng thần sẽ rất vui nếu được hiểu biết thêm. Nếu thần được nghe Người giảng dạy, chắc chắn thần sẽ được mở mang hơn”.
“Nhưng ta nghe nhiều người nói rằng chị Jane của cô là một học giả”, bà nói. “Ta nghe Roger Ascham nói với mọi người rằng cô ta là học giả vĩ đại nhất ngày ấy. Ông ấy đang viết một cuốn sách để tưởng nhớ cô ta. Dường như ngày nay mọi người đều muốn viết sách – họ không có việc gì khác để làm hay sao?”.
“Ông ấy chỉ gặp chị ấy một hoặc hai lần”, tôi nói, kìm nén khao khát bảo vệ chị Jane chống lại thói ganh tị hủ lậu này. “Ông ấy hầu như không quen biết chị ấy”.
“Hãy nhớ là ta cũng đã học với Hoàng hậu Kateryn Parr”, Nữ hoàng Elizabeth nói, ngẫm nghĩ về những cuộc tranh chấp đã qua.
“Và tôi nữa”, Phu nhân Margaret Douglas lên tiếng từ phía sau căn phòng, tuyệt vọng muốn được tham gia và nhắc nhở Nữ hoàng Elizabeth về mối quan hệ họ hàng của bà. Nữ hoàng Elizabeth không buồn quay đầu lại.
“Tôi chắc chắn chị ấy chưa bao giờ đọc một cuốn sách nào như cuốn sách này của Tiến sĩ John Dee81*”, tôi nói, cố gắng đưa Nữ hoàng Elizabeth về thực tại.
81* . John Dee (1527-1608) là nhà toán học, chiêm tinh học, nhà huyền bí, nhà hàng hải. Ông là gia sư và cố vấn của Nữ hoàng Elizabeth I. Năm 20 tuổi, ông được mời giảng đại số cao cấp tại Đại học Paris. Ông từng theo học và giảng dạy tại Đại học Cambridge, Anh và Đại học Louvain, Bỉ. Người hướng dẫn luận án tiến sĩ của ông sau này là Gemma Frisius và Gerardus Mercator. John Dee là người đứng giữa khoa học và phép thuật, mặc dù hai lĩnh vực này rất khác nhau. Ông là người có học hơn tất cả những người đàn ông khác cùng độ tuổi của mình Ông đã lập nên thư viện lớn nhất ở Anh và một trong những thư viện lớn nhất ở châu Âu thời bấy giờ.
“Đúng vậy”, bà đáp, “ta dám chắc là cô ta không thể hiểu nó”.
Họ vẽ môi cho bà, tô đậm lông mi và lông mày của bà. Họ nhỏ nước cà dược vào mắt bà để trông có vẻ long lanh hơn. Tôi đứng cầm cuốn sách, chờ xem mình có được ra về chưa. Tối nay tôi không phải phục vụ bà; không phải vẽ lên ngôi mộ trắng của vị Nữ hoàng già này. Tối nay lẽ ra tôi được tự do làm những gì tôi muốn; nhưng bà lại giữ tôi ở đây khi bà lo lắng liệu tôi có đủ thông minh để hiểu được những gì không rõ ràng với bà hay không, than phiền rằng người chị đã mất từ lâu của tôi là một học giả giỏi hơn.
“Cô không nghĩ đây là một trò dị giáo chứ?”, bà đứng lên và họ giữ chiếc váy dưới chân bà để bà bước vào giữa, rồi họ kéo nó lên và thắt dây ngang eo bà.
“Thần không thể đưa ra ý kiến”, tôi thận trọng nói, “Nữ hoàng mới là người đánh giá điều đó tốt nhất. Nhưng thần luôn nghe Người nói tốt về John Dee”.
“Ta có nói”, bà khẳng định. “Và ta rất vui khi ông ấy trở lại Anh với một kiến thức như vậy! Ta sẽ bắt đầu đọc cuốn sách này vào ngày mai. Cô có thể tham gia với chúng ta”.
Tôi nhún gối chào như thể rất biết ơn. “Tạ ơn Nữ hoàng. Thần rất mong được học hỏi từ hai vị”.
John Dee, người có đôi mắt màu sẫm, vận áo thụng đen như các học giả đương thời, được bao bọc quanh mình toàn sách vở và các công trình nghiên cứu. Mỗi trang giấy là những dòng chữ ngoằn ngoèo cùng ký hiệu, ký hiệu này nối tiếp ký hiệu kia, và mỗi ký hiệu được ghi chú với hàng chục chú thích nhỏ. Tôi nhìn ông khoa tay dùng ngón trỏ chỉ vào một đoạn văn mà ông muốn chúng tôi ghi chú lại. Nữ hoàng Elizabeth, với cuốn sách mở trong lòng, ngồi giữa cơn bão khoa học này, đôi mắt mở to chăm chú. Thomasina, như một chú chó kiểng mặc quần áo sặc sỡ, quỳ dưới chân bà. Tôi ngồi trên một chiếc ghế ở một bên; tôi không bao giờ khúm núm trên sàn trong khi Nữ hoàng Elizabeth đang ngồi.
John Dee nói về các ký hiệu của những ngôi sao: Bất cứ điều gì thể hiện trên trời đều khớp với một chuyện gì đó xảy ra ở dưới đất. “Ở trên thế nào, ở dưới thế ấy”, ông nói.
“Vậy ông có thể tiên đoán được cuộc hôn nhân của các hoàng tử không?”, Nữ hoàng Elizabeth hỏi.
“Với độ chính xác cao, nếu tôi có ngày tháng, thời gian và địa điểm sinh ra của họ, những điều đó cho tôi biết sao chủ mệnh của họ”, Dee trả lời.
“Đó không phải là chiêm tinh học sao?”, tôi thận trọng hỏi ông.
Ông gật đầu trước sự thận trọng của tôi. “Không, vì tôi không tìm cách đoán trước những điều nguy hại”, ông nói, “tiên đoán cái chết của một hoàng tử là bất hợp pháp, nhưng không có hại gì nếu có thể thấy trước hạnh phúc của họ”. Đôi mắt sáng của ông quay sang nhìn Nữ hoàng Elizabeth, “tôi có thể chọn ngày tốt nhất cho lễ kết hôn của Người chứ, như tôi đã tiên đoán lễ đăng quang của Người vậy?”.
Nữ hoàng Elizabeth cười phá lên. “Không phải ta, triết gia tốt bụng ạ. Ông biết ta không sẵn sàng đi theo hướng đó. Ta vừa buộc phải làm cho Thái tử Áo Ferdinand thất vọng. Ta bảo ngài ấy rằng ta thà làm một cô gái chăn bò độc thân còn hơn là một nữ hoàng đã lập gia đình!”.
“Cuộc sống độc thân là một ơn gọi”, John Dee đáp, và tôi cố hết sức giữ nét mặt trang nghiêm với ý nghĩ Nữ hoàng Elizabeth là một nữ tu. Tôi không dám nhìn Thomasina, cô ta cũng đang cúi đầu xuống.
Cách vòng tròn ma thuật của chúng tôi một quãng, các thị nữ đang thở dài nhàm chán và thay đổi tư thế đứng. Các cận thần đứng sát tường, nói chuyện với nhau, và một hoặc hai người đứng dựa vào ván tường cho đỡ mỏi. Không ai được phép ngồi mặc dù John Dee đã đọc cuốn sách của ông trong suốt hai giờ.
Dee đang lật một trang sách khác và trưng ra cho Nữ hoàng thì William Cecil yên lặng bước vào phòng và cúi chào.
“Xin thứ lỗi vì tôi đã làm gián đoạn việc nghiên cứu của Người”, ông thấp giọng nói, “nhưng Người muốn biết ngay khi nào Nữ hoàng Scotland cho phép chồng của Phu nhân Margaret Douglas được vào Scotland”.
Cậu anh họ Henry Stuart đẹp trai của tôi đang đứng ngáp ở góc phòng, nghe thấy tên mẹ cậu và ngước nhìn lên, nhưng Nữ hoàng Elizabeth và Cecil đang đứng sát gần nhau.
“Nữ hoàng Mary xứ Scots chưa bao giờ đồng ý mà!”. Bà kêu lên, giấu vẻ mặt rạng rỡ đằng sau cây quạt có những hình vẽ trên đó.
Cecil cúi đầu. “Bà ấy đã đồng ý”.
Bà nắm tay áo ông kéo lại gần hơn. Chỉ có Thomasina và tôi nghe được cuộc nói chuyện thì thầm của họ. “Nhưng ta chỉ hỏi vì ta chắc chắn cô ta sẽ từ chối không cho ông ta được phép về Scotland”, bà thì thầm, “ta chỉ hỏi để gây sao nhãng và rắc rối cho Mary khi cô ta đang đàm phán với Don Carlos của Tây Ban Nha mà thôi”.
“Vậy Người đã đạt được nhiều hơn mong đợi”, Cecil nói một cách trôi chảy, “người đã lừa được bà ấy. Vì bà ấy đã cho phép cả Bá tước Lennox lẫn con trai ông ta vào Scotland, và là những người theo đạo Công giáo, chắc chắn họ sẽ chia rẽ bà ấy với các cố vấn Kháng cách. Họ có đi không, hay sẽ an toàn hơn nếu giữ chàng trai trẻ ở lại đây?”.
Nữ hoàng Elizabeth vẫy tay ra hiệu với Henry Stuart, Công tước Darnley, một cậu bé tóc vàng xinh đẹp như con gái. Cậu ta là anh họ tôi vì là con trai dì Margaret Douglas, nhưng tôi không có nhiều cảm giác bà con với cậu ấy. Tôi chưa bao giờ thích mẹ cậu, người được hưởng lợi nhờ sự bất công của Nữ hoàng Elizabeth – bà được trả tự do trong khi chị tôi bị giam giữ; địa vị của dì được nâng lên trong khi danh tiếng chị tôi bị hạ thấp. Tôi dám thề dì ấy nghĩ rằng chỉ dì ấy mới là người kế vị ngai vàng trong khi ai cũng biết đó phải là chị Katherine.
Chính Henry Stuart chọn quay về từ Pháp để phục vụ như một chú chim nhỏ trong lồng của triều đình: Cậu ta hót líu lo để làm vui lòng Nữ hoàng nhưng cánh cửa lồng không bao giờ mở. Mẹ cậu đặt cậu ở bất cứ nơi nào mà người khác có thể nhìn thấy cậu: Bà nghĩ không ai có thể cưỡng lại cậu ta được. Việc bà hy vọng cậu sẽ kết hôn với Nữ hoàng Mary xứ Scots là một bí mật mà ai cũng biết, nhưng vị nữ hoàng này đã phá vỡ những lời hứa hẹn đường mật của cậu ngay những ngày đầu khi vừa góa bụa. Giờ thì cậu đang cúi đầu trước Nữ hoàng Elizabeth và gật đầu với tôi; nhưng không ai trong chúng tôi muốn lãng phí thời gian cho người kia cả. Cậu ta là một anh chàng vô tích sự, hầu như không quan tâm đến bất kỳ người phụ nữ nào ở bất kỳ kích thước nào. Những gì cậu ta thành thạo một cách hoàn hảo là làm thế nào để thỏa mãn những người phụ nữ lớn tuổi, như mẹ cậu hoặc Nữ hoàng, nhưng thích ở bên cạnh một cậu trai trẻ đẹp. Tất cả những gì cậu thích làm cho bản thân là uống say và dạo quanh thị trấn tìm kiếm rắc rối với những cậu bé xinh trai khác. Dù sao, tôi cũng không thu hút sự chú ý của cậu ta, và cậu ta cũng không lãng phí một chút chú ý nào với tôi.
“Ngươi có thể nói với cha ngươi rằng ông ấy đã được Nữ hoàng Scotland cấp chiếu khán, theo yêu cầu của ta”, Nữ hoàng Elizabeth nói với Henry Stuart. Cậu ta bỗng đỏ mặt thẹn thùng như một cô gái và quỳ một chân xuống. Nữ hoàng Elizabeth mỉm cười với cậu. “Ngươi có muốn đến Scotland với ông ấy không?”, bà hỏi.
“Thần không muốn rời xa Người!”. Cậu ta đáp to, như thể với một trái tim đang tan vỡ. “Ý thần là, xin hãy tha thứ cho thần, thần đã nói quá nhanh. Thần sẽ làm tất cả những gì Người ra lệnh, những gì cha thần ra lệnh. Nhưng thần không muốn rời triều đình này để đến một triều đình khác. Có ai lại đi từ mặt trời đến mặt trăng bao giờ?”.
“Ngươi phải đi, nếu cha ngươi cần ngươi!”, Nữ hoàng Elizabeth ra lệnh. Ánh mắt cậu ta sáng lên khi cậu ta vuốt những sợi tóc lòa xòa trước trán qua một bên; trông cậu đáng yêu như một chú cún con Spaniel lông vàng. “Thần có thể ở lại không?”.
Nữ hoàng Elizabeth vươn người tới và vén những lọn tóc vàng trên gương mặt đỏ bừng của cậu. “Có”, bà nói một cách khoan dung, “thật không thể chịu nổi ngươi. Cha ngươi, Bá tước Lennox, đi giải quyết việc đất đai của ông ấy còn ngươi sẽ ở đây an toàn như một chú chim nhỏ trong tổ với ta”.
Cecil nhướng mày trước giọng điệu ve vãn của Nữ hoàng và không nói gì cả. Henry Stuart đánh bạo cầm tay Nữ hoàng đặt lên môi cậu ta. Nữ hoàng Elizabeth cười và cho phép cậu ta làm thế.
“Thần sẽ không bao giờ rời xa Người”, cậu ta thề. “Thần không thể chịu nổi”.
Chắc chắn tôi biết cậu ta sẽ không đi được, vì Thomas Keyes đã nhận lệnh không cho cậu ta ra khỏi cổng. Nhưng đây là chiếc mặt nạ của một tình yêu phong nhã, và điều đó quan trọng hơn bất kỳ sự thật trần trụi nào.
“Ta biết ngươi sẽ không bao giờ làm thế”, Nữ hoàng Elizabeth gừ gừ như một con mèo béo thỏa mãn với sự ân cần của cậu ta.
“Thần không giống Robert Dudley! Ông ấy không đi Scotland để kết hôn với Nữ hoàng Mary sao?”. Darnley hỏi, như vừa thả một giọt độc dược vào chiếc bánh ngọt.
Gương mặt Nữ hoàng Elizabeth chấn động dưới lớp phấn trắng. “Ông ấy đi vì tình yêu dành cho ta”, bà phán.
CUNG ĐIỆN WHITEHALL LONDON,
MÙA THU NĂM 1564
James Melville, một nhà thuyết khách Scotland có giọng nói mềm mỏng, được Nữ hoàng Mary cử đi thuyết phục Nữ hoàng Elizabeth chọn cô ấy làm người kế vị, đến triều đình chúng tôi vào cuối mùa hè. Ban ngày trời ấm áp nhưng buổi tối thì trở lạnh; những chiếc lá đang đổi màu, rực rỡ màu đồng, vàng và đỏ. Nữ hoàng Elizabeth thích thời tiết nóng, nấn ná với những cuộc vui mùa hè và khăng khăng muốn chúng tôi đi thuyền ngắm hoàng hôn trên sông, dù trời chiều sẽ thổi những cơn gió lạnh xuống thung lũng.
Nữ hoàng triệu tập nhà ngoại giao Scotland ngồi bên cạnh ngai vàng của bà ở giữa thuyền rồng. Tôi đứng một bên và Kat Ashley, được khôi phục ân sủng, đứng ở bên kia. Cô lùn Thomasina đứng trên một cái thùng phía mũi tàu để có thể nhìn thấy dòng nước bạc phía trước. Tôi quay đi chỗ khác. Tôi không muốn nhìn cô ta đứng như một đứa trẻ vẫy tay với các ngư dân, với những người chèo thuyền trên những chiếc đò.
Nữ hoàng Elizabeth đang nghiêng đầu nói chuyện với viên cố vấn Scotland. Bất kể bà nói gì, bà vẫn thích làm ra vẻ bí mật. Nhưng tôi có thể hiểu rõ nụ cười kín đáo của ông ta rõ ràng như chị Jane có thể đọc tiếng Hy Lạp. Tôi biết chính xác bà đang nói gì với ông ta – bà đang bảo rằng ông ta phải thuyết phục Nữ hoàng Mary xứ Scots kết hôn với Robert Dudley, đổi lại bà sẽ trao cho cô ấy những quyền lợi của chị Katherine: Cô ấy sẽ được chọn làm người kế vị của Nữ hoàng Elizabeth. Bà đang hứa với ông ta rằng chị Katherine sẽ bị quản thúc tại gia cho đến ngày đó, rằng bất kỳ chiến dịch nào ủng hộ cũng sẽ bị bóp nghẹt, bất kỳ ấn phẩm nào cũng sẽ bị trừng phạt. Nữ hoàng Elizabeth đang ủng hộ Nữ hoàng Mary xứ Scots làm người kế vị, và chị tôi sẽ bị phớt lờ cho đến khi điều đó được chấp thuận.
Tôi không dám liếc nhìn Kat Ashley, hẳn bà cũng phản đối sự điên rồ này giống như Melville, như William Cecil, hoặc như chính vị tân lang miễn cưỡng Robert Dudley. Tôi không dám nhìn bất kỳ một phu nhân nào vì sợ ai đó sẽ nháy mắt với tôi. Không ai trong chúng tôi nghĩ rằng nếu đã đến lúc phải để ông đi, Nữ hoàng Elizabeth sẽ chấp nhận để người tình của mình đi thật. Không ai trong chúng tôi nghĩ rằng Nữ hoàng Mary sẽ biết ơn khi được cho một món đồ bỏ đi. Không ai trong chúng tôi nghĩ rằng Robert Dudley – ngay cả với tham vọng to lớn của ông ấy – dám với cao đến một vị trí như Nữ hoàng Elizabeth, người đã không chịu thỏa hiệp bằng những cuộc truy hoan với ông ấy. Nhưng Nữ hoàng Elizabeth tỏ ra rất quyết tâm; bà liên tục thì thầm với Đại sứ Scotland cho đến khi cuối cùng ông gật đầu đồng ý, cúi chào và lui bước.
Nữ hoàng Elizabeth ngả lưng vào ghế và mỉm cười với Kat sủng ái của bà. “Ông ấy sẽ làm việc đó”, bà nói, “ông ấy sẽ thuyết phục cô ta. Và cô ta sẽ lấy Dudley”.
“Tôi có thể hiểu vì sao Melville cố làm việc này – vì một phần thưởng lớn khi được thấy Nữ hoàng của ông ta trở thành người kế vị ngai vàng nước Anh. Nhưng Dudley sẽ làm điều đó chứ? Người sẽ chấp nhận chứ?”
Nữ hoàng Elizabeth quay đầu lại. “Ta không thể tin ai khác ngoài Robert với cô ta”, bà nói khẽ. “Và ta tin cô ta với chẳng ai khác ngoài chàng. Nếu cô ta kết hôn với Don Carlos của Tây Ban Nha hay công tước Pháp thì chúng ta sẽ có một kẻ thù ở cửa sau, và các linh mục Công giáo sẽ tràn sang Tweed. Nhưng Robert sẽ cứu ta, như chàng đã làm trước đây. Chàng sẽ cưới cô ta và làm chủ cô ta”.
“Nhưng Người sẽ phải để ông ấy đi”, Kat nhẹ nhàng nói, “Người sẽ phải đặt ông ấy vào vòng tay của một phụ nữ khác”.
“Có lẽ cũng một thời gian nữa”, Nữ hoàng Elizabeth nói mơ hồ, “chắc chắn sẽ mất một thời gian dài để sắp xếp, phải không? Và thỉnh thoảng chúng ta có thể ở cùng nhau. Chúng ta có thể đặt triều đình ở phương bắc, ở York, Newcastle hoặc Carlisle vào mỗi mùa hè. Chúng ta có thể có Nghị viện miền bắc và Robert có thể chỉ huy họ. Chắc chắn, một khi cô ta có con, chàng có thể trở về Anh”.
“Có con”, Kat lặp lại, giương mắt nhìn gương mặt của Nữ hoàng, “bà ấy còn trẻ và có thể sinh con. Họ nói rằng đêm nào bà ấy cũng khóc trên giường mong có một tấm chồng. Điều gì sẽ xảy ra nếu bà ấy yêu ngài Robert và họ sinh ra một đứa con vì tình yêu? Người nghĩ Người cảm thấy thế nào khi nghe tin bà ấy đang mang thai con của ông ấy? Người nghĩ ông ấy sẽ cảm thấy thế nào khi vợ ông ấy đang đưa một người thừa kế của Dudley lên ngai vàng Scotland và Anh? Người không sợ khi đó ông ấy sẽ chuyển sang yêu bà ấy sao? Lúc đó có người đàn ông nào lại không yêu vợ mình chứ?”.
Tôi có thể thấy gương mặt của Nữ hoàng Elizabeth trở nên tái nhợt dưới lớp trang điểm. Tôi đoán bụng bà ấy đang quặn đau vì cơn ghen. “Chàng nên là cha của một hoàng tử”, bà bảo vệ ý kiến của mình, “chàng là một người đàn ông hoàn toàn thích hợp để nắm giữ một vương quốc. Và có lẽ sẽ mất khá lâu đến mức cô ta không còn khả năng sinh con trước khi họ kết hôn”.
“Bà ấy hai mươi mốt tuổi”, Kat nói thẳng thừng, “Người nghĩ rằng Người có thể kéo dài chuyện này bao lâu?”.
Nữ hoàng Elizabeth kéo chiếc cổ áo lông trên vai bà và hướng gương mặt giận dữ về phía tôi. Tôi cảm thấy nao núng trước cái nhìn tối tăm của bà. “Bất cứ điều gì cũng tốt hơn chị cô ta”, bà đột ngột nói, lắc mái tóc đỏ về phía tôi, “ta sẽ không có một đối thủ trong tầm mắt. Ta sẽ không có một người kế vị lập gia đình với nhà Seymour, chia tư chiếc huy hiệu hoàng gia, trong khi mọi người lũ lượt đứng về phe cô ta. Ta sẽ không để một phụ nữ trẻ như Katherine Grey tồn tại trong triều đình và tất cả mọi người lấy cô ta làm phép so sánh”.
CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON
MÙA THU NĂM 1564
Không ai tin Nữ hoàng có ý định chia tay với Robert Dudley, nhưng bà đã thuyết phục James Melville rằng bà thực sự muốn điều đó. William Cecil chuẩn bị một cuộc họp giữa các ủy viên Hội đồng Scotland và Anh tại Berwick để ký một thỏa thuận hôn nhân và liên minh. Thomasina người lùn nhìn tôi với một nụ cười bí mật, như thể hai chúng tôi, những người có thể nhìn thấy Nữ hoàng Elizabeth khi bà không gây ấn tượng bằng các vũ điệu, âm nhạc hay học vấn trước Đại sứ Scotland, có hiểu biết nhiều hơn những người đàn ông này, những người bị bắt buộc phải ngưỡng mộ bà. Để làm cho người tình của mình trở thành một người cầu hôn xứng đáng, bà quyết định phong ông là Bá tước Leicester và Nam tước Denbigh, và toàn bộ triều đình có mặt tại đại sảnh để xem Robert Dudley, con trai một kẻ phản bội, cháu trai một kẻ phản bội, quỳ xuống trước Nữ hoàng để nhận tước vị mới. Nữ hoàng Mary phải được bảo đảm rằng Nữ hoàng Elizabeth chỉ yêu Robert Dudley như một người anh trai và tôn trọng ông như một nhà quý tộc. Nhưng thậm chí Nữ hoàng Elizabeth không thể hoàn thành trò chơi này mà không làm hỏng toàn cục. Khi ông quỳ gối trước bà với sự tôn kính, bà đưa tay vuốt ve phía sau cổ ông. Đại sứ Scotland nhìn thấy; mọi người đều nhìn thấy. Hẳn bà cũng có thể tuyên bố với thế giới rằng bà yêu ông và ông hoàn toàn nằm dưới bàn tay của bà. Điều đó là không thể: Nữ hoàng Mary xứ Scots không bao giờ nhận những thứ đồ thừa của Nữ hoàng Elizabeth kể cả khi chúng không bị bà ấy từ bỏ, như thể nước bọt của Nữ hoàng Elizabeth vẫn còn vương trên người ông ấy vậy.
CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON
MÙA ĐÔNG NĂM 1564
Một buổi tối tháng Mười một khi sương mù lạnh lẽo phủ xuống dòng sông và một màn mưa bụi đang phủ quanh những ngọn đuốc, tôi đang hối hả bước vào sân triều đình thì thấy cái bóng to lớn của Thomas xuất hiện ở lối ra cổng chính như thể chàng đang đợi tôi từ trước.
“Thomas!”, tôi kêu lên. “Chàng đang làm gì ở đây? Em không thể dừng lại được. Em phải đến đại sảnh ngay”.
Gương mặt chàng nhăn nhó, chiếc mũ bị bóp nhàu trong lòng bàn tay to lớn. “Ta phải gặp nàng”.
“Có chuyện gì vậy?”
“Có vài rắc rối cho nàng”, chàng nói một cách thiểu não. “Ôi, Mary, thề có Chúa, ước gì ta có thể chia sẻ cùng nàng”.
Tôi nuốt nỗi sợ hãi xuống. “Có chuyện gì vậy? Không phải về chị Katherine chứ? Không phải về một trong các con của chị ấy chứ?”.
Chàng quỳ xuống một chân để ngang tầm với tôi. “Không, cảm ơn Chúa, chị ấy an toàn như chim trong lồng. Đó là về chú của nàng. Ông ấy đã chết”.
“Bà ta chặt đầu chú ấy à?”, tôi thì thầm nỗi sợ lớn nhất của mình. “Không, không. Không tệ đến thế. Họ nói là do đau buồn.”
Tôi chết lặng. Chú tôi không phải là một người họ hàng dễ mến – nhưng chú bị tống giam vì đã ủng hộ chị Katherine, và chú là một người bảo vệ tốt cho chị ấy. Giờ chú đã chết, chị ấy mất đi một người bảo vệ, và một thành viên nữa trong gia đình chúng tôi chết vì sự thất sủng của nhà Tudor. Quả thật, họ là những chủ nhân khó chiều và không thể yêu thương nổi.
“Chúa cứu rỗi linh hồn chú ấy”, tôi nói không cần suy nghĩ. “Amen”, Thomas đáp lại một cách thành kính.
“Nhưng còn chị Katherine thì sao? Ồ, Thomas. Chàng có nghĩ là bây giờ Nữ hoàng sẽ thả chị ấy không? Chị ấy không thể ở lại Pirgo nếu không có chú em.”
Chàng nắm tay tôi trong bàn tay rộng của chàng. “Không, một tin khá xấu. Đó là tin xấu nhất trong những tin xấu. Họ đang đưa cô ấy đến William Petre. Chính mắt ta đã thấy những người lính cưỡi ngựa đi dẫn độ chị ấy, như thể chị ấy là một tù nhân có khả năng đào thoát. Họ không thả chị ấy, họ chỉ chuyển chị ấy đi nơi khác và sẽ giam giữ chị ấy chặt hơn”.
Tôi cau mày: “Ngài William Petre à? Ông ấy còn sống sao? Em nghĩ ông ấy bị bệnh. Ông ấy hẳn đã hơn trăm tuổi”.
Chàng lắc đầu. “Ông ấy chưa đến sáu mươi, nhưng họ đang đặt một gánh nặng lên vai ông ấy. Có lẽ ông ấy là người duy nhất thiếu những kỹ năng để thoát khỏi nó”, chàng nhìn tôi, gương mặt to lớn của chàng nhăn nhúm. “Có lẽ cũng không sao đâu. Ông ấy có một ngôi nhà đẹp; cô ấy có thể thích ở đó. Cậu bé con cô ấy có thể được phép chơi trong vườn”.
“Ở đâu? Ông ấy sống ở đâu?”
“Tòa nhà Ingatestone Hall ở Essex. Nàng đã từng đến đó, nàng còn nhớ không? Nó nằm độ nửa đường đến New Hall.”
“Em phải gặp chị ấy”. Tôi nói với một quyết tâm bất ngờ, “em phải đi gặp chị ấy. Em không thể chịu đựng được nữa”.
Tôi chờ cho đến khi Nữ hoàng Elizabeth kết thúc bữa tối và khiêu vũ xong với vị tân Bá tước Robert Dudley. Ông là một bậc thầy trong việc quyến rũ Nữ hoàng Elizabeth và chọc cười bà, và mọi người vẫn tiếp tục chúc mừng việc ông được phong tước cũng như quyết định đúng đắn của bà trong việc công nhận giá trị phi thường của người đàn ông này. Nhưng liệu bà làm thế đã đủ để thuyết phục Nữ hoàng Mary chấp nhận ông ấy chưa? Dù là Nam tước hay không, Bá tước hay không, Nữ hoàng Mary xứ Scots cũng sẽ không chấp nhận một món đồ thừa của Nữ hoàng Elizabeth nếu không có một lời hứa chắc chắn rằng cô ấy sẽ được trao tặng những quyền lợi của chị tôi, và hội nghị Berwick giữa các cố vấn Scotland và Anh đang đấu tranh để đạt được một thỏa thuận. Nữ hoàng Elizabeth quyết tâm rằng Nữ hoàng Mary phải kết hôn với Robert thì mới được chỉ định làm người kế vị. Nữ hoàng Mary nhấn mạnh việc kế vị phải diễn ra trước cuộc hôn nhân. Không ai đặt câu hỏi làm thế nào hai vị nữ hoàng không hề tin tưởng nhau này lại có thể có được một thỏa thuận lâu dài.
Nhưng ít nhất tối nay Nữ hoàng Elizabeth đang có tâm trạng vui vẻ. Tôi cầm chiếc áo ngủ bằng lụa của bà hơ ấm trước ngọn lửa, một thị nữ khác phục vụ đồ ngọt và một thị nữ thứ ba mang rượu ngọt đến cho bà, trong khi những người hầu nội cung đâm dao xuống giường và nhìn xuống gầm giường xem có kẻ thù ẩn nấp hay không, như thể họ thực sự tin rằng bà sẽ dành nhiều hơn mười phút ở đó một khi cánh cửa đóng lại. Tôi chờ đến khi bà ngồi lên chiếc ghế bên cạnh ngọn lửa và có được mọi thứ bà muốn, rồi tôi đi về phía bà và quỳ xuống.
“Đừng quỳ thấp hơn nữa, Công nương Mary, nếu không thì cô sẽ ngã vào giỏ đựng gỗ đấy”, bà nói, và tất cả mọi người cùng cười. Tôi cảm thấy Thomasina nhìn thẳng vào mặt tôi khi tôi bị sỉ nhục trước đám đông. Tôi đứng thẳng người lên. Ngay cả khi đã đứng thẳng lên, tôi cũng chỉ đứng ngang tầm đôi mắt đầy ác cảm của Nữ hoàng Elizabeth khi bà đang ngồi.
“Thưa Nữ hoàng, thần muốn xin Người ban cho một ân huệ lớn”, tôi nói. “Cô đã suy nghĩ kỹ chưa?”, bà hỏi, “trước khi cầu xin ta một ân huệ lớn?”. “Thưa có.”
Đôi mắt bà nhảy múa một cách thích thú, và bà đọc một câu trong kinh Tân ước, “Vả lại, có ai trong các ngươi lo lắng mà có thể tăng thêm một chút chiều cao cho tầm vóc của mình không?”.
Tôi đỏ mặt khi tất cả mọi người cùng cười một cách bợ đỡ trước sự hóm hỉnh của Nữ hoàng. “Thần muốn tăng thêm ánh hào quang cho danh tiếng nhân từ của Người, chứ không phải chiều cao cho bản thân thần”, tôi nói. Tôi có thể cảm thấy ánh mắt của Thomasina như muốn thiêu cháy tôi.
Sự hài hước vui vẻ biến mất khỏi gương mặt Nữ hoàng như thể bà vừa mới dùng một miếng bọt biển xóa sạch lớp phấn trang điểm. “Ta không nghĩ ra ai xứng đáng với lòng nhân từ của ta cả”, bà nói.
“Chị của thần, Katherine”, tôi nhẫn nhục nói, “chúng thần đã mất đi người chú, người cầm giữ chị ấy. Thần vừa biết tin chú ấy đã chết vì đau buồn bởi bị thất sủng. Gương mặt xinh đẹp nhưng đã quay đi hướng khác của Người đã giết chết chú của thần. Thần biết chị Katherine không ăn uống gì cả và chỉ khóc suốt ngày. Chị ấy cũng đau khổ vì bị thất sủng lòng thương của Người. Thần e rằng chị ấy sẽ không đủ can đảm để sống nếu không có lòng thương xót của Người. Thần cầu xin Người, ít nhất, xin hãy cho phép thần đến thăm chị ấy”.
Bà chỉ mất đúng một phút để suy nghĩ về thỉnh nguyện của tôi. Tôi thấy Thomasina nín thở. Các thị nữ khác chờ đợi. Tôi chờ đợi. “Không”, bà nói.
Tôi chỉ có thể viết thư cho chị Katherine.
Chị yêu dấu của em,
Em hy vọng chị có thể sống thoải mái ở Ingateston và con trai bé nhỏ của chị sẽ mang niềm vui đến cho chị. Em biết chị sẽ nghe những tin tức tốt lành từ Hanworth. Con trai đầu của chị và Bá tước, cha bé, đều khỏe mạnh và mong được đoàn tụ với chị một lần nữa.
Em khá ổn ở triều đình, và Nữ hoàng luôn dịu dàng khoan dung, rất sáng suốt với uy quyền vĩ đại của Người, đến mức em không hề nghi ngờ rằng chị sẽ được ân xá một ngày nào đó không lâu nữa. Em đã hỏi xin giúp chị.
Ôi chị Katherine, em nhớ chị rất nhiều!
Yêu chị.
Em gái của chị
Mary
PHILIPPA GREGORY
CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON MÙA ĐÔNG NĂM 1564
Trong khi tôi chờ đợi và hy vọng nhận được hồi âm của chị tôi, có lần ngài William Cecil đi cạnh tôi trên hành lang, cố ý bước ngắn lại để vừa tầm bước chân tôi và khom người xuống để có thể nhìn thấy mặt tôi.
“Tôi nghe nói cô viết thư cho chị cô?”
Tôi nghĩ ông ấy đã đọc thư của tôi ngay sau khi tôi đưa nó cho người đưa tin nhờ gởi cho chị Katherine ở Ingatestone. Thực lòng, tôi viết đoạn cuối như thế cốt ý để cho Nữ hoàng đọc.
“Vâng”, tôi thận trọng nói, “Không ai bảo tôi không được phép viết thư cho chị tôi cả. Tôi hỏi thăm sức khỏe và nói rằng tôi luôn yêu mến chị ấy”.
“Lá thư hoàn toàn được phép”, ông ấy trấn an tôi. Rồi ông ấy ngừng lại và ra hiệu mời tôi ngồi cạnh ông trên một băng ghế gần cửa sổ để ông có thể nhìn thấy mặt tôi mà không phải cúi người xuống. Tôi kéo một chiếc ghế thấp và dùng nó như một bậc thang để leo lên. Ông biết tôi không muốn được giúp đỡ, và khi tôi đã yên vị, ông ngồi xuống bên cạnh tôi.
“Tôi có một tin buồn cho cô về ngài Hertford”, ông nói.
Suy nghĩ đầu tiên của tôi là anh rể tôi đã chết. Tôi nghĩ tin đó sẽ là sự kết thúc của chị tôi. Tôi nghiến răng không nói gì cả. Tôi nhướng mắt lên chờ nghe ông nói.
“Ông ấy không được mẹ ông ấy chăm sóc nữa và được gởi đến sống tại nhà Ngài John Mason ở London”, William Cecil nói.
“Tại sao?”
Viên cận thần già nhún vai tỏ ý không thể nói được, và dù sao đi nữa, cả ông và tôi đều biết sẽ không có lý do nào chính đáng cả. Nữ hoàng Elizabeth không có lý do gì để thù oán Ned và cậu con trai nhỏ, con trai của chị tôi, ngoại trừ việc anh ấy ở triều đình của bà mà dám yêu một phụ nữ khác không phải bà. “Tôi rất tiếc vì điều đó”, ông nói một cách nặng nề.
“Còn Teddy, cháu được đi với cha cháu chứ?” Cecil cúi đầu, “Không”.
Nỗi đau khiến tôi không nói nên lời. “Bà ấy đã đưa con chị Katherine đi đâu?”.
“Cậu bé ở Hanworth với bà nội. Nó có thể sống tự do với bà ấy trong ngôi nhà của gia đình.”
“Và lớn lên như một đứa trẻ mồ côi sao?”
“Trong ngôi nhà của gia đình cậu ấy, được bà nội nuôi nấng. Cậu ấy sẽ được an toàn dưới sự nuôi dạy của bà ấy.”
“Chúa ơi, chị Katherine sẽ rất đau lòng!”
Ngài cố vấn của Nữ hoàng Elizabeth rất hiểu về những nỗi đau. Ông chỉ gật đầu.
Tôi trở nên kiên định hơn. “Chúng ta có thể làm gì được không?”, tôi khẽ hỏi. “Bất cứ điều gì? Chúng ta có thể làm gì để đưa họ quay lại với nhau không?”.
“Chưa đâu”, ông nhẹ nhàng nói, “nhưng tôi có chút hy vọng”. “Sao cơ?”
“Nếu cuộc hôn nhân giữa Nữ hoàng Scotland và Robert Dudley bị từ bỏ thì Nữ hoàng Scotland sẽ không bao giờ được chọn là người kế vị nước Anh. Nữ hoàng của chúng ta sẽ thấy rằng bà ấy không có người kế vị nào khác ngoài Công nương Katherine.”
“Cuộc hôn nhân giữa Nữ hoàng Scotland và Robert Dudley có thể bị từ bỏ sao?”, tôi hỏi.
Cecil cẩn trọng: “Người Scotland coi đó là trò bịp bợm. Họ nói sẽ chấp nhận ông ấy nếu nữ hoàng của họ được tuyên bố là người kế vị nước Anh. Họ đã mời ông ấy đến Edinburgh, nhưng giờ khi mọi chuyện sắp diễn ra, tôi nghĩ Nữ hoàng sẽ không ra lệnh cho ông ấy đi. Chúng ta không thể đưa Robert Dudley đi. Ông ấy phải ở lại Anh”.
Đây là tin rất quan trọng và William Cecil nói với tôi rất khẽ. Một lần nữa, không có người kế vị Kháng cách nào khác ngoài chị tôi. Khi tôi hít sâu một hơi và thấy William Cecil đang nhìn mình.
“Bất cứ điều gì Nữ hoàng muốn”, tôi cung kính nói.
William Cecil gật đầu đồng ý. “Tôi chắc chắn bà ấy sẽ cân nhắc kỹ lưỡng”. Ông rút ra một lá thư từ trong chiếc áo khoác nhung đen. “Lá thư này đến tay tôi trước, vì nó phải thế. Nhưng đó là thư của cô. Tôi xin lỗi, không có tin gì tốt cả”.
Tôi nhìn con dấu đã mở. Đó là thư của chị Katherine. Tôi mỉm cười với sự thách thức của chị. Chị sử dụng dấu triện Seymour hình đôi cánh thiên thần trên lá thư gấp lại. Con dấu đã bị mở và lá thư đã được đọc. Các thám tử của ngài William đã biết mọi chuyện. Ông đứng dậy, cúi chào rồi bước đi, để tôi ngồi lại đọc lá thư của chị Katherine.
Mary yêu dấu,
Cảm ơn em vì lá thư và những lời chúc tốt đẹp. Chị e rằng nó đến quá trễ. Chị nghĩ trái tim chị đã tan vỡ sau khi chị bị tách khỏi chồng và con trai. Chị không thể ăn hay ngủ được. Cuộc hôn nhân của chị, bắt đầu với một bữa tiệc trên giường, đang kết thúc với những đêm trắng, cô đơn và đói khát.
Chị biết em và tất cả bạn bè của chúng ta đã cố gắng hết sức để giải thích cho Nữ hoàng Nhân từ rằng chị không có ý gì xấu cả, và tất cả mạo phạm của chị là vì tình yêu chứ không nhằm toan tính lợi ích gì khác.
Chị hy vọng chị và các con được thả. Nếu chị chết, Mary, chị cầu xin em hãy chăm sóc bọn trẻ và nói với các cháu rằng chị rất yêu chúng và cha chúng. Chị mong em tìm thấy hạnh phúc và tình yêu. Nếu em có cơ hội, em hãy nắm bắt ngay nhé!
Tạm biệt, em gái ngoan của chị.
Chị Katherine
CUNG ĐIỆN WHITEHALL LONDON,
MÙA XUÂN NĂM 1565
Cậu bé đẹp trai Henry Stuart, Công tước xứ Darnley, đã được cấp chiếu khán đi cùng cha đến Scotland và Nữ hoàng Elizabeth đã đồng ý cho cậu lên đường. Chuyến đi của cậu được sự ủng hộ nhiệt tình bởi hai cố vấn của Nữ hoàng Elizabeth, Robert Dudley và William Cecil, vì những lý do ích kỷ riêng của họ. Robert Dudley sẵn sàng gởi quỷ dữ đến Scotland để kết hôn với Nữ hoàng Mary nếu việc đó cho phép ông được an toàn ở nhà, còn Cecil tin rằng Henry – biết nói tiếng Pháp, có học thức, phong cách lịch lãm, người em họ luôn được Phu nhân Margaret Douglas gán ghép cho cô chị Nữ hoàng Scotland từ sau khi cô ấy trở nên góa bụa – sẽ đánh lạc hướng Nữ hoàng khỏi nỗ lực thống nhất và cai trị thần dân của mình. Ông đoán Henry Stuart sẽ gây ra những rắc rối vô tận.
Không ai khác ngoài mẹ cậu ta nghĩ rằng Nữ hoàng Scotland sẽ suy nghĩ nghiêm túc về chàng trai này. Nữ hoàng Elizabeth cũng không bao giờ nghĩ vậy. Nhưng Cecil cho rằng Henry Stuart và cha cậu, Bá tước Lennox, bạn bè với tất cả các nhà quý tộc Scotland, chọc tức nhà truyền giáo đầy ảnh hưởng John Knox, quấy nhiễu các đối thủ cũ và tranh giành đất đai của gia đình Douglas bên vợ, sẽ làm rối loạn các vấn đề ở Edinburgh vượt tầm kiểm soát của Nữ hoàng Mary. Các quý tộc Kháng cách Scotland nóng tính sẽ căm ghét cậu bé người Anh nói tiếng Pháp theo Công giáo La Mã này và sẽ âm mưu chống lại cậu ta, phá vỡ sự ủng hộ mong manh mà Nữ hoàng Mary có được.
Về phần mình, Robert Dudley tuyệt vọng không muốn bị đưa đi Scotland và bị ép cưới một phụ nữ khinh miệt ông như một kẻ ngoại tình và một kẻ giết vợ. Ông cũng biết rằng cho dù lúc này Nữ hoàng Elizabeth có nói gì đi nữa thì bà cũng sẽ không bao giờ tha thứ cho ông vì dám cưới một phụ nữ khác. Ông đánh cược mọi thứ để bà không bắt ông đi. Ông nài nỉ bà gởi Henry Stuart thay thế vị trí của ông như một chiến thuật nghi binh trong triều đình của Nữ hoàng Mary – không gì hơn thế.
Không ai nghĩ Henry Stuart, Công tước Darnley đẹp trai, lại có thể là một người chồng thích hợp, cố vấn cho Nữ hoàng Mary, rằng cậu ta có thể giữ lòng trung thành với nước Anh và phục vụ như một đại sứ Anh, một nhà cố vấn khôn ngoan. Cậu chưa đầy 20 tuổi, trải qua cuộc đời quẩn quanh dưới váy người mẹ Công giáo, hết được nuông chiều lại bị mắng mỏ. Cậu được nuôi lớn như một hầu cận trong cung, duyên dáng, dễ chịu, vui nhộn, và là một người bạn tốt. Nhưng không ai nghĩ cậu có thể hành động như một nhà ngoại giao tài giỏi với sự trung thành trên hết với nước Anh. Mọi người đều tin rằng cậu chỉ là một trò điên rồ lãng phí thời gian.
Tôi nghĩ họ đã đánh giá thấp cậu ấy. Tôi tin rằng gương mặt ngọt ngào đó che giấu một trái tim tham lam, và vẻ ngoài đẹp trai đó có thể quyến rũ vị nữ vương Pháp cô đơn, bị vây quanh bởi toàn những người đàn ông to mồm tranh giành quyền lợi. Không phải ai cũng giống như Nữ hoàng Elizabeth: Muốn có một người đàn ông trông giống một tên trộm ngựa hơn một nhà quý tộc. Nhưng cả Cecil (dù ông đã trải qua nhiều lần lên voi xuống chó từ khi Nữ hoàng còn là một cô gái trẻ) lẫn Robert Dudley (người được bà yêu chiều khá lâu) đều không dám tưởng tượng về chuyện một phụ nữ khác có thể tìm thấy một người đàn ông khác đẳng cấp hơn. Tôi nghĩ chàng trai trẻ Henry có sức quyến rũ mê hồn, nếu bạn thích một con búp bê xinh đẹp – nhưng chính tôi đã là một búp bê như vậy, nên điều đó không có gì đáng ngạc nhiên.
Thậm chí tôi cũng không thể nói tôi là một trong những người ngưỡng mộ Công tước Darnley, và tôi có thể nhìn cậu ta rời triều đình không một chút luyến tiếc. Cậu ta sung sướng khi được tự do đến mức quên mất sự kình địch của mẹ cậu với tôi, và lần đầu tiên cậu mỉm cười với tôi. “Khi ngôi sao của tôi lên cao, tôi sẽ nhớ đến chị cô”, cậu ta ngọt ngào nói, “Ai có thể nghi ngờ sự ưu ái mà Nữ hoàng dành cho gia đình chúng ta chứ? Cô với chị cô sẽ trở nên không quan trọng, và khi đó tôi sẽ lên tiếng giúp cô”.
“Chị ấy rất cần bạn bè”, tôi điềm tĩnh nói, “nhưng chúng tôi đặt tất cả niềm tin vào Nữ hoàng”.
Cậu vẫy tay với triều đình đang tập trung lại để chia tay cậu. Cậu cúi đầu chào duyên dáng như một vũ công rồi quay lại nhảy lên lưng ngựa. Chú ngựa chồm lên; cậu nắm chặt dây cương và ngồi vững chãi trong khi nó lồng lên. Cậu giở mũ và hôn gió chào tạm biệt Nữ hoàng Elizabeth trong khi bà mỉm cười với cậu. Trông cậu đẹp như một thiên thần. Tôi tự hỏi bao lâu sau khi cậu rời khỏi tầm mắt thì bà ấy sẽ cảm thấy hối tiếc vì đã để cậu ra đi.
Câu trả lời là chưa đầy một tháng! Tôi suýt bật cười nếu không bị buộc phải đứng thẳng như một khúc gỗ, cao ngang một thanh kiếm, trong khi bà giận dữ đi tới đi lui trong phòng. Ngài William Maitland, cố vấn của Nữ hoàng Scotland, đến từ Edinburgh, mang theo một yêu cầu bất thường của Nữ hoàng Mary, rằng cô ấy muốn kết hôn với một thần dân cao quý của Nữ hoàng Elizabeth – Henry Stuart, tức Công tước Darnley. Nữ hoàng Elizabeth tức giận rút vào hậu cung. Cecil và Dudley thập thò đi ra đi vào và nhấp nhổm lo lắng như những chú hề lò xo trong hộp. Đi vào: lắng nghe Nữ hoàng Elizabeth la hét trong cơn thịnh nộ rằng Henry Stuart giả dối giống như mẹ cậu ta, Margaret Douglas, giống cả cha cậu ta, Matthew Stuart, Bá tước Lennox; và rằng Nữ hoàng Mary là một kẻ ngốc, cậu ta sẽ làm tan nát trái tim cô ấy và làm hỏng cơ hội để cô ấy được chọn làm người kế vị nước Anh. Đi ra: gặp các nhà quý tộc của Hội đồng Cơ mật để xem có phương thức hợp pháp nào, bất kỳ mối quan hệ bị cấm đoán nào, bất kỳ mưu kế nào, để họ có thể từ chối cho phép việc kết hôn này – hoặc nếu nó đã diễn ra – thì có thể tuyên bố nó vô hiệu hay không.
Đó là một vở kịch rất hay đối với tôi – một vở hài kịch độc ác – khi nhìn những người đàn ông vĩ đại này tìm cách phá hủy nỗi khao khát trong sáng của một phụ nữ. Họ không nghĩ gì khác ngoài lợi thế cho con đường của chính họ, chiến thắng cho những toan tính của họ. Họ không nghĩ gì về một phụ nữ đang yêu, một cô gái trẻ, không có người tư vấn, một cô gái trẻ cô đơn được ném cho một anh chàng đẹp trai giữa một triều đình tan nát vì những cơn cuồng nộ và không có đường quay lại.
“Không phải như thể cậu là một chàng trai trẻ đáng ngưỡng mộ”, tôi nói với Thomas Keyes. Đó là một buổi chiều lạnh giá và hai chúng tôi ngồi bên nhau trước lò sưởi trong căn phòng riêng của chàng, bên trên cửa cống. Một trong những người lính của chàng đang trực tại cổng chính. Cơ chế kéo dây của cánh cửa sắt nằm ở bên kia bức tường và không ai được kéo nó lên nếu Thomas không cho phép. Chàng có một ít rượu trong bình và trong khi tôi ngồi xem, chàng nhẹ nhàng lấy que cời đống than hồng và vẩy rượu vào. Tiếng xèo xèo của chất lỏng bị đốt và hương rượu tỏa ra khắp căn phòng. Chàng rót một cốc cho tôi và một cốc cho chàng.
“Một quý tộc nhỏ nhắn thanh tao”, chàng nói, “nhưng ta e rằng đó không phải là một người đi theo con đường của Chúa”.
Đó là một sự lên án vô cùng cực đoan mà Thomas có thể nói ra – Thomas của tôi không bao giờ nói xấu ai cả. Tôi nhìn chàng qua miệng cốc: “Tại sao, chàng biết gì về cậu ta à?”.
Chàng mỉm cười với tôi. “Ta là người gác cổng”, chàng nói, “không ai đi vào mà ta không thấy. Ta biết những ai thường đến thăm cậu ấy – và họ không phải là những người đàn ông đúng nghĩa. Và ta rất thường gặp cậu ấy xuống thăm những người lính của ta”, chàng nói ngắn gọn, “để say sưa với họ – những khi họ không phải trực. Ta không muốn nói nhiều hơn nữa; những chuyện đó không thích hợp để nói ra”.
Tôi rất kinh ngạc trước những vụ bê bối mà chàng nói bóng gió. “Trước đây chàng chưa bao giờ kể với em những chuyện như thế này”.
“Đó không phải chuyện thích hợp mà ta nên nói”, chàng đáp, “cũng không phải chuyện mà nàng nên nghe. Vợ chưa cưới của ta không nên quan tâm đến những chuyện phiếm”.
Tôi mỉm cười với chàng, “Chàng đánh giá em quá cao rồi đấy, Thomas. Công việc chính của triều đình là tán gẫu. Chàng vừa mới cho em cả một núi chuyện tai tiếng nếu em muốn đi nói với mọi người”.
Chàng gật đầu, “Ồ, ta biết rất nhiều chuyện tai tiếng. Nàng không nghĩ là ta cho phép mọi người ra vào bất kỳ lúc nào sao? Ta nghe thấy hết mọi chuyện, nhưng ta không kể lại”.
“Em rất vui vì điều đó”, tôi nói, “Vì nếu chàng là người như thế thì em sẽ không ở đây đâu”.
Chàng lắc đầu: “Ta sẽ không làm thế”.
“Chàng có tin nhắn gì từ ngài William Petre không? Hay có nghe tin gì về chị của em không?”, tôi hỏi.
“Ta chỉ biết những gì nàng biết: Tinh thần chị ấy xuống rất thấp. Ông ấy là một gia chủ nghèo, một ông già mệt mỏi và đau ốm. Ông ấy được lệnh phải giam giữ chị ấy và không chi tiền cho chị ấy. Đó là một nơi không có gì vui vẻ.”
Nghĩ về chị Katherine, người lúc nào cũng vui vẻ hài hước, giờ đang đắm chìm trong nỗi đau trong một ngôi nhà nghèo nàn khiến tôi cúi mặt nhìn chăm chăm vào đám than hồng như thể tôi sẽ nhìn thấy một tương lai hạnh phúc hơn cho chị ở đó. Tôi như cảm nhận được sự cồn cào của những cơn đói trong bụng chị, nỗi đau buồn của chị giống như một gánh nặng trên đôi vai tôi.
“Rồi những thời điểm tốt đẹp sẽ đến”, Thomas khích lệ tôi, “còn với chúng ta... chúng ta có thể kết hôn, thậm chí trong bí mật, và ở bên nhau, được không? Chắc chắn chúng ta không thể khiến mọi chuyện tệ hơn cho người chị đáng thương của nàng và các con cô ấy, phải không? Và Nữ hoàng đang mải lo lắng những vấn đề của một vị nữ hoàng khác: Bà ấy sẽ không tìm kiếm thêm rắc rối với chúng ta chứ?”.
Tôi nhìn khuôn mặt rộng và chân thành của chàng, ấm áp dưới ánh lửa. Tôi quá mệt mỏi khi phải từ chối chàng, tôi mệt mỏi với sự thận trọng và những bất hạnh. Tôi mệt mỏi vì phải làm cô em gái nhỏ bé bị khinh thường của một vị thánh trong Tháp và một người bị đọa đày ở Ingatestone đến mức tôi đưa tay ra ngay với chàng.
“Vâng”, tôi nói, “ít nhất hai chúng ta phải được hạnh phúc”.
CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON
MÙA HÈ NĂM 1565
Sự can đảm của tôi được khích lệ hơn, uy tín của tôi trong triều đình tăng lên khi Nữ hoàng Elizabeth ngày càng hà khắc với dì Margaret Douglas, người chị họ theo Công giáo La Mã, phản bội, hai mặt, già nua, khó chịu, tham vọng, đạo đức giả... Dì Margaret Douglas phải nhận lãnh tất cả những tên gọi này vì đã để chồng mình đi Scotland dưới sự cho phép của Nữ hoàng Elizabeth, và sau đó là cậu con trai xinh đẹp của bà, để tìm cách vươn lên và chiếm lấy ngai vàng Scotland.
Sau nhiều ngày sống với những phàn nàn hờn dỗi và hằn học, Nữ hoàng Elizabeth bảo Margaret Douglas phải ở trong phòng riêng tại triều đình, không được gặp ai cả, và sau một tuần lễ lạnh nhạt, bà ra lệnh bắt giữ Margaret. Lần này Phu nhân Margaret sẽ không được giam giữ một cách thoải mái trong ngôi nhà xinh đẹp nữa mà phải trải qua một chuyến đi ngắn bằng thuyền đến Tháp London. Bà không có tội gì ngoài việc có một người con đẹp trai đi Scotland và bây giờ không chịu quay về. Không một lời buộc tội nào cả, không thể có được: Bà không phản quốc và cũng không phạm tội. Họ giam bà trong Tháp chỉ để gây áp lực cho cậu con chạy về với mẹ. Họ giữ bà như một miếng mồi để nhử cậu ta.
Nhưng việc đó không có kết quả. Những người trong dòng tộc của Nữ hoàng Elizabeth mạnh mẽ hơn bà tưởng. Chị tôi, dù bị chia rẽ với chồng con, vẫn không gọi chồng mình là một kẻ đê tiện và con mình là đứa con hoang. Margaret Douglas, bị cầm tù ở Tháp, không bao giờ gọi con mình quay về để rồi bị giam giữ cùng với mình. Bà thu xếp một gia đình nhỏ trong Tháp và chờ đợi tin tốt từ Scotland. Chắc chắn Nữ hoàng Scotland sẽ không cho phép mẹ chồng tương lai bị cầm tù; chắc chắn các đại sứ Pháp và Tây Ban Nha sẽ không cho phép Nữ hoàng Elizabeth đàn áp một tín đồ Công giáo danh tiếng. Margaret Douglas, một chiến binh từng trải và bền bỉ hơn nhiều so với người chồng nhạy cảm và cậu con trai bóng bẩy, đã sắp xếp ổn thỏa để vượt qua cuộc khủng bố của Nữ hoàng Elizabeth.
Nữ hoàng và toàn bộ triều đình được mời tham dự một trong những lễ cưới lớn nhất trong năm: lễ cưới của Henry Knollys, con trai của Catherine Carey, một người họ hàng của Nữ hoàng Elizabeth và là tổng quản thị nữ nội cung của bà. Bà ấy là một người bạn tuyệt vời của bà ngoại kế của tôi, Catherine Brandon, vì cả hai đều là những tín đồ Kháng cách trung thành thà trốn sang châu Âu còn hơn phải sống dưới triều đình của Nữ hoàng Mary. Họ quay lại cùng lúc với triều đình của Nữ hoàng Elizabeth và được bà chào đón với vòng tay rộng mở. Tất nhiên, vì tôn giáo của họ, họ thần tượng chị Jane, và tôi luôn cảm thấy mình là một phiên bản thấp kém bé nhỏ của vị thánh tử đạo Kháng cách vĩ đại ấy. Dù vậy, tôi vẫn xem họ là bạn, nhất là bà ngoại kế của tôi, Catherine Brandon, nữ Công tước Suffolk.
Giờ đây, con trai của Catherine Carey, Henry, kết hôn với Margaret Cave, cô con gái nổi tiếng giàu có của Nhà Durham, và Nữ hoàng Elizabeth nhấn mạnh suốt nhiều tuần rằng chúng tôi phải trưng ra cho bà xem những bộ váy đẹp nhất của bà để bà có thể chọn bộ đẹp nhất, sang trọng nhất, với hy vọng sẽ lộng lẫy hơn cả cô dâu và tất cả những người khác.
Sự ưu ái của Nữ hoàng Elizabeth dành cho Nữ hoàng Mary xứ Scots biến thành một mối hận thù, được William Cecil lặng lẽ thêm dầu vào lửa bằng cách chỉ ra rằng Nữ hoàng Mary không bao giờ có thể trở thành người kế vị ngai vàng Anh vì đã chứng tỏ mình không tuân phục, không đáng tin cậy, và đã dám kiêu ngạo từ chối Robert Dudley.
Anh chàng trẻ tuổi đẹp trai Henry Stuart, Công tước Darnley, được lệnh quay về Anh, đã phủ nhận sự tận tụy trước đây với Nữ hoàng Elizabeth và dám thách thức bà, từ chối quay trở lại. Nữ hoàng Elizabeth không kiềm chế nổi trước sự bất tuân, bất trung, và – trên hết, theo tôi – một sự ưu tiên hơn cho người khác khiến bà điên tiết. Chàng trai trẻ thích chọn tình yêu đích thực của một nữ hoàng xinh đẹp hai mươi hai tuổi hơn sự hão huyền đòi hỏi không ngừng của người dì họ ba mươi mốt tuổi. Không ai ngạc nhiên với chuyện này ngoại trừ Nữ hoàng Elizabeth. Trong cơn thịnh nộ, bà thề rằng người kế vị của bà sẽ không bao giờ là vị Nữ hoàng Công giáo này, rằng người chị họ Margaret Douglas giờ là kẻ thù của bà, còn chồng và con trai họ thậm chí còn tồi tệ hơn cả những kẻ phản bội.
Tôi cầm lên một bộ ống tay thêu hoa nặng nề và một bộ khác nữa. Bà không thích cả hai. Tôi đặt chúng xuống và cầm lên một bộ khác. Việc này có thể mất cả ngày. Phòng trang phục hoàng gia đầy những chiếc áo dài, váy và ống tay trang trí lộng lẫy. Nữ hoàng Elizabeth đặt mua đồ mới mỗi mùa và không bao giờ bỏ đi cái nào cả. Mọi chiếc áo váy đều được rắc phấn, chèn ngọn hoa oải hương và treo trong một túi vải lanh để ngăn ngừa những con nhậy. Bà có thể cân nhắc đến hàng trăm lựa chọn để làm hỏng hạnh phúc của cô dâu trong ngày cưới. Việc chọn trang phục diễn ra dễ dàng hơn với những phụ nữ khác: Chúng tôi phải mặc màu đen hoặc trắng. Chỉ có Nữ hoàng mới được mặc trang phục rực rỡ, chỉ có bà mới đáng được ngưỡng mộ.
Nhưng tôi không quan tâm chiếc áo nào được chọn, tôi cũng không quan tâm tôi phải mặc cái gì, bởi vì tôi sẽ không ở đó. Ngày cưới của Henry Knollys và Margaret Cave cũng sẽ là ngày cưới của tôi, và tôi cảm thấy chắc chắn về hạnh phúc của tôi hơn là hạnh phúc của họ. Tôi sắp kết hôn với người đàn ông mà tôi biết, yêu và tin tưởng; còn cuộc hôn nhân của họ được cha mẹ sắp đặt, được Nữ hoàng cho phép, và bà sẽ không cho phép nếu bà nghĩ giữa họ có một tình yêu hay một sự đam mê nào đó. Tất cả mọi tình yêu và ngưỡng mộ phải hướng đến bà chứ không được hướng đến bất kỳ một phụ nữ nào khác.
Cuối cùng, Nữ hoàng đã chọn xong ống tay áo và đến lượt một thị nữ khác mở hộp trang sức để bà chọn dây chuyền, hoa tai và trâm cài. Chỉ khi mọi thứ được bày ra so sánh với nhau, chỉ khi tất cả chúng tôi đều đồng ý rằng bà sẽ là người giàu có nhất, đẹp nhất, lộng lẫy nhất, thì chúng tôi mới bắt đầu chuẩn bị thay y phục cho bà.
Mái tóc thưa của bà được chải cẩn thận và cột lên đỉnh đầu thành một búi tóc nhỏ xíu. Mary Ratcliffe, người thị nữ danh dự với bàn tay vững vàng nhất, bước ra phía trước với một cái chậu đựng hỗn hợp chì trắng mới pha. Nữ hoàng Elizabeth ngồi thẳng, nhắm mắt lại, Mary vẽ hỗn hợp chì và giấm trắng từ trán xuống đến đầu núm vú của bà một cách nhẹ nhàng và tỉ mỉ. Đó là một quá trình dài. Cổ, lưng và vai của Nữ hoàng cũng phải được thoa màu; bà chọn một chiếc áo hở cổ và hở lưng, không một vết sẹo đậu mùa xấu xí nào có thể bị nhìn thấy qua làn phấn trắng rực rỡ.
Khi hai má Nữ hoàng đã khô, Thomasina đứng trên một chiếc ghế nhỏ, thoa phấn hồng lên hai gò má hõm của bà và tô son đỏ lên đôi môi mỏng. Dì Bess tiến ra phía trước với chiếc bút chì màu nâu và vẽ hai đường lông mày cong vút cho bà.
“Chúa ơi! Xem ta đang làm những gì vì nhan sắc!”. Nữ hoàng thốt lên và tất cả chúng tôi cùng cười, như thể đó là một việc vui vẻ và hợp lý chứ không phải một công việc lố bịch hằng ngày mà chúng tôi phải làm.
Với một sự cẩn thận đặc biệt, Phu nhân Bess St. Loe phủ bộ tóc giả màu đỏ tuyệt vời lên trên mái tóc đang bạc dần của Nữ hoàng Elizabeth trong khi bà giữ nó trước trán và nhìn vào gương để xem hiệu quả của nó như thế nào.
Bà cởi chiếc áo ngủ ra và ngồi vào ghế. Bà không mặc gì ngoài chiếc áo lót thêu hoa dày đặc, hai chân dang rộng ra để mang đôi vớ lụa.
Dorothy Stafford cúi người xuống, cẩn thận cuộn nó lên đến đầu gối của Nữ hoàng và thắt sợi dây nịt vớ lại.
“Cô có biết Margaret Cave sẽ mang về cho gia đình một gia tài như thế nào không?”, Nữ hoàng Elizabeth hỏi.
“Công nương Catherine nói với tôi rằng cô ấy sẽ được thừa kế toàn bộ đất đai của cha cô ấy ở Kingsbury, Warwickshire”, Dorothy trả lời.
Nữ hoàng Elizabeth làm điệu bộ nhăn mặt như thể bà đang nghĩ bà sẽ làm gì nếu bà là một nữ thừa kế như thế, thay vì một đứa con hoang bị gạt khỏi danh sách thừa kế đích thực. Phía sau nụ cười được vẽ trên mặt, gương mặt bà đầy vẻ chua chát.
Nữ hoàng đứng lên khi các thị nữ ép chiếc áo lót vào bụng bà rồi đi vòng ra sau lưng, bắt đầu luồn sợi dây ren qua những cái lỗ và siết chặt chúng lại. Nữ hoàng nắm lấy cọc giường để ghì lại họ. “Chặt hơn nữa đi”, bà nói, “không ai trong các cô có thể siết chặt như Kat cả”.
Kat Ashley, nữ gia sư cũ của Nữ hoàng Elizabeth, không có mặt hôm nay. Bà nằm nghỉ trong phòng vì mệt và khó thở. Nữ hoàng Elizabeth đến thăm bà mỗi buổi sáng nhưng chỉ thực sự nhớ đến bà khi nào cần người siết sợi dây ren mà thôi. Chỉ có Kat mới có thể kéo chúng đủ căng để cái yếm của Nữ hoàng Elizabeth nằm thẳng thớm, phẳng phiu trên cái bụng to như thùng rượu vang của bà.
Dorothy Stafford cầm khuôn váy phồng để Nữ hoàng Elizabeth bước chân vào, kéo nó lên qua phần hông mảnh khảnh của bà, buộc nó ngang eo rồi gắn một cuộn vải bóng lên trên. “Thưa Nữ hoàng, Người có cảm thấy thoải mái không?”, cô hỏi, và Nữ hoàng Elizabeth làm vẻ như bà đang phải chịu đau đớn vì lợi ích của nước Anh vậy.
Tôi bước lên phía trước, dâng bộ ống tay cho Nữ hoàng Elizabeth khi bà bước chân vào chiếc váy dài. Trong khi một thị nữ thắt dây chiếc váy ở phía sau, tôi nhấc các ống tay áo lên và Nữ hoàng Elizabeth luồn tay qua hai ống tay áo. Sau đó bà cười, như bà vẫn luôn cười như thế, và nói: “Phu nhân Bess, buộc tay áo cho ta. Công nương Mary sẽ không bao giờ với tới được đâu”.
Tôi mỉm cười như thể không phải tôi đã nghe câu nói này cả trăm lần trước kia, và dì Bess cột các tay áo với phần thân áo trong khi Dorothy giúp Nữ hoàng mặc chiếc áo dài.
Chúng tôi giống như một đạo quân kiến cố gắng di chuyển một con thỏ chết. Chúng tôi tụ tập xung quanh bà, kéo những chỗ phồng ở tay áo phía trong ra ngoài qua những đường xẻ thêu hoa công phu, cài các móc gài, sắp xếp chiếc áo dài bên ngoài cái váy phồng và cuộn vải bóng để nó nâng cao phần hông của bà. Khi chúng tôi lùi lại, bà nói: “giày”, và cô gái trẻ Jennie quỳ xuống thắt nơ cho đôi giày đẹp nhất của Nữ hoàng.
Bà đứng thẳng người trong khi chúng tôi mang các đồ trang sức cho bà và ghim chúng lại một cách an toàn. Bà nói bà sẽ mặc một chiếc áo choàng không tay khoác ra ngoài mọi thứ trong khi đi dọc dòng sông đến nhà Durham, và chúng tôi sắp xếp chiếc mũ áo choàng trùm lên bộ tóc giả cao chót vót màu đỏ. Bà đứng cao phía trên tôi, tôi nhìn bà như một con quái vật vừa được tạo ra, một nửa lông bờm ngựa, vải bóng, ngọc trai biển và sáp chì trắng. Tôi nghĩ: Hôm nay là ngày cuối cùng mà tôi sợ bà. Tôi sẽ tìm kiếm khát vọng của trái tim mình, như chị tôi đã làm, có lẽ như cả hai người chị của tôi đã làm, mà bà không bao giờ dám làm. Cảm ơn Chúa vì tôi thực sự nhỏ bé đến mức bà sẽ không khom người xuống để nhìn tôi. Cảm ơn Chúa vì tôi không phải đối thủ của bà về bề ngoài hay là một mối đe dọa kế vị, tôi có thể kết hôn với một người vô danh, như mẹ tôi đã làm, như bà ngoại kế của tôi đã làm, và che giấu tên tôi dưới tên chàng. Giống như bà ngoại kế của tôi, nhũ danh Catherine Brandon, nhưng giờ là Catherine Bertie, tôi chấp nhận mất cái tên tuyệt vời của dòng họ Grey để được gọi là Mary Keyes.
Nữ hoàng Elizabeth đi về phía cánh cửa hậu cung. Các thị nữ như chúng tôi phải đi theo, không được chậm trễ để ngắm mình trong gương hay chỉ để vuốt thẳng bộ váy của chính mình. Tôi đi sau bà, như cấp bậc của tôi yêu cầu. Khi không có dì Margaret Douglas, tôi là người đầu tiên ở triều đình. Tôi sẽ lẻn đi khi mọi người bắt đầu lên thuyền.
Chúng tôi đi qua khu vườn hoàng gia đến bến tàu, cha cô dâu đang ở đó, đang tranh luận gì đó một cách nghiêm túc với ngài Đại sứ Tây Ban Nha mới, Don Diego Guzmán de Silva. Họ bắt đầu tách ra khi nhìn thấy Nữ hoàng Elizabeth, sau đó Ngài Ambrose Cave giải thích rằng Đại sứ Pháp đã ăn tối với ông trước đám cưới và giờ thì ông ấy không chịu rời đi. Ông không muốn nhường chỗ cho Đại sứ Tây Ban Nha. Rõ ràng Nữ hoàng không thể chen vào cuộc cãi vã ngoại giao này – nhất là khi ai cũng biết Pháp và Tây Ban Nha đang cạnh tranh nhau để ủng hộ Nữ hoàng Scotland chống lại người họ hàng yêu dấu của bà ở Anh.
Trong một khoảnh khắc, tôi nghĩ Nữ hoàng Elizabeth sẽ nổi cơn thịnh nộ và không ai trong chúng tôi sẽ tham dự đám cưới, như thế tôi sẽ phải nhắn với Thomas rằng đám cưới của chúng tôi cũng sẽ bị hủy bỏ. Nhưng rồi tôi nhìn thấy chàng đang đứng ở cổng vườn, đầu và vai cao hơn mọi người đàn ông khác trong triều đình, chờ đợi để đảm bảo Nữ hoàng lên thuyền an toàn. Ánh mắt sâu thẳm của chàng nhìn lướt qua tôi không thể hiện chút cảm xúc. Tôi cảm thấy yên tâm khi chàng biết, chàng hiểu, và chàng sẽ không làm những chuyện ngớ ngẩn vì giận dữ và thất vọng như mấy ông đại sứ ngu xuẩn này đang làm.
William Cecil được ủy nhiệm giải quyết vấn đề. Ông và Ngài Nicholas Throckmorton, Đại sứ Vương quốc Anh tại Scotland, cùng đi đến nhà Durham để dọn đường cho Nữ hoàng. Thomas của tôi đi cùng họ. Tôi thấy họ đi qua cổng, Thomas giữ cửa cho hai người đàn ông vĩ đại kia rồi đi theo sau họ với lòng kính trọng thầm lặng.
Nữ hoàng kiên nhẫn một cách lạ thường. Qua đó, tôi biết bà quyết tâm tham dự đám cưới của Henry Knollys. Nữ hoàng Elizabeth muốn điều đó và sẽ xem xét để đảm bảo không có một trở ngại nào cả. Bà ngồi xuống và ai đó đưa các nhạc công đến, những người tưởng rằng ngày làm việc của mình đã kết thúc thì bỗng nhiên bị bắt đến cung điện, và họ chơi nhạc cho bà nghe trong khi triều đình đứng vòng quanh tán gẫu, cảnh giác với sự chú ý của bà và bồn chồn như những con ngựa đang chờ đợi. Trong chưa đầy nửa giờ, cổng vườn lại mở ra, Thomas của tôi hộ tống ngài William và ngài Nicholas bước ra, cả hai đều mỉm cười.
William Cecil mời Nữ hoàng. “Mời Người lên thuyền. Đại sứ Pháp đã rời bữa tối của ông ấy để giúp chúng ta, và giờ thì Người có thể đến dự đám cưới”.
Mọi chuyện diễn ra tốt đẹp đối với tôi. Sau sự cố chậm trễ này, mọi người đều muốn đi đến mức không ai chú ý đến tôi cả.
Tôi khều tay Mary Ratcliffe. “Tôi không đi được. Tôi đau bụng quá, tôi sợ sẽ gây rắc rối ở nhà nguyện”, tôi nói.
“Cô có xin phép chưa?”
“Bà ấy không quan tâm đâu”, tôi nói một cách chắc chắn, “tôi sẽ không đuổi theo bà ấy để làm trì hoãn bà ấy một lần nữa. Nếu bà ấy hỏi tôi, hãy nói với bà ấy rằng tôi bị ốm và xin phép vắng mặt”.
Triều đình đi xuống bến tàu, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng hét của những người chèo thuyền. “Đi đi”, tôi nói, “đừng để bà ấy chờ nữa!”.
Mary Ratcliffe chạy đi, để tôi lại một mình tại khu vườn trống rỗng. Tôi quay về, đi vào cung điện, và trong cơn bốc đồng, tôi vòng lại hậu cung và đi vào phòng ngủ của Nữ hoàng.
Tôi bị cám dỗ một cách lạ lùng với việc sờ mó những món đồ của bà. Có rất nhiều món đồ đẹp đẽ rải rác khắp nơi – chậu và sơn trên bàn, nữ trang trong hộp, ruy-băng và dây ren, giống như những món đồ chơi quăng lung tung trong một nhà trẻ của một đứa trẻ hư hỏng. Những người hầu sẽ sớm đến xếp dọn ngăn nắp mọi thứ, nhưng lúc này không có ai làm phiền tôi cả. Tôi lấy chậu sơn, quẹt một ít phía dưới mắt rồi lau đi ngay lập tức. Nó có màu trắng sáng, khiến tôi trông như một người đeo mặt nạ. Nó không giúp gì cho bề ngoài của tôi cả; tôi không có những vết rỗ hay nếp nhăn cần phải che giấu.
Tôi cởi chiếc mũ trùm đầu ra, xõa tóc xuống và chải nhẹ nhàng bằng chiếc lược vàng của Nữ hoàng. Những sợi lông của chiếc lược lướt qua mái tóc vàng của tôi và cuộn vào vai tôi. Tôi đặt chiếc lược xuống, cẩn thận thắt tóc lại, dùng những chiếc kẹp tóc của mình để cuộn tóc sát vào đầu rồi trùm chiếc mũ trùm đầu lên. Tôi nghĩ tối nay Thomas Keyes sẽ cởi chiếc mũ trùm đầu của tôi ra để cho mái tóc của tôi bung xõa xuống, và tôi phun vào tóc một ít dầu hoa hồng mà Nữ hoàng Elizabeth để trên bàn, phảng phất trong không khí một hương thơm ngọt ngào ấm áp.
Tôi kiểm tra kỹ và phủi hết những sợi tóc vàng của mình trên chiếc lược, chúng lấp lánh giữa những sợi tóc mỏng màu xám, sau đó tôi đặt chiếc lược lại chính xác nơi người thị nữ của bà đã đặt. Tôi tô một ít son đỏ lên môi và ngắm hiệu quả của nó; tôi thoa một ít phấn hồng lên má. Tôi lấy cây bút chì của Nữ hoàng Elizabeth vẽ đôi lông mày giống như bà. Nó quá đậm và tôi dùng lòng bàn tay để lau nó đi. Tôi thấy mình nghịch ngợm một cách tuyệt vời, giống như một đứa trẻ đang chơi đùa trên bàn trang điểm của một bà mẹ giàu có vậy.
Trong sự tĩnh lặng ở tất cả các gian phòng, tôi có thể biết toàn bộ triều đình đều đã đi đến nhà Durham, và tôi đứng dậy, mỉm cười với mình trong chiếc gương bạc. Những món đồ trang sức của Nữ hoàng nằm trong những cái hộp rải rác khắp phòng, nhưng tôi không muốn lấy trộm thứ gì cả. Tôi là em gái của Jane Grey, tôi là em gái của Katherine Grey, người thừa kế hợp pháp của tất cả những thứ này. Tất cả những thứ này là của chúng tôi; tôi không nghi ngờ một ngày nào đó, tôi sẽ có quyền được ngồi đây một cách đường hoàng.
Tôi mời ba người họ hàng đến ăn tối với tôi: Margaret Willoughby, người em họ thân thiết của tôi, và hai cô gái Stafford nữa. Tôi có thể tin tưởng họ sẽ giữ bí mật cho tôi; nhưng tôi không muốn họ có nguy cơ bị mắc tội về đám cưới của tôi do làm nhân chứng. Thay vì thế, tôi gọi người hầu gái của mình, cô đã xin vắng mặt ở triều đình để nghỉ phép, và cô vội vã chạy đến phòng tôi, không biết tôi muốn gì. Tôi bảo cô ấy đợi rồi sẽ thấy. Sau đó có tiếng gõ cửa và cô chạy ra mở cửa. Chàng đứng đó, cúi đầu dưới rầm cửa, che lấp cả lối vào, tình yêu của tôi, tình yêu tuyệt vời của tôi.
“Chín giờ rồi”, chàng nói, và chúng tôi nghe tiếng điểm đồng hồ để chứng minh tính chính xác của chàng, “nàng đã sẵn sàng chưa, người yêu của ta?”.
Tôi đứng lên, đưa tay ra với chàng. “Em đã sẵn sàng.”
“Và không suy nghĩ lại chứ?”. Chàng nhẹ nhàng hỏi, “nàng có chắc chắn không?”.
Tôi mỉm cười với chàng. Không cần đến phấn hồng tôi cũng đã đỏ bừng mặt vì khao khát. “Em chắc chắn”, tôi nói. “Em đã yêu chàng từ rất lâu rồi, Thomas. Em rất tự hào được trở thành vợ chàng”.
Chàng cúi người và nắm lấy tay tôi, chúng tôi đi trước cùng với ba người bạn và cô hầu của tôi, Frances, theo sau, băng qua cung điện hoang vắng đến căn phòng của Thomas trên cửa cống.
Có rất đông người trong căn phòng của chàng: em trai chàng cùng những người bạn. Thomas đã thuê một mục sư, người đang chờ đợi với cuốn kinh nguyện mở trước mặt. Tôi quay lại nói với các phù dâu của tôi: “Tất cả các em phải ra khỏi đây và chờ bên ngoài. Sau này nếu ai có hỏi, cứ nói rằng các em không phải là người chứng, vì các em đứng ngoài cửa”.
Tất cả chúng tôi đều cảm thấy căng thẳng. Họ cười lớn khi bước ra, và tôi cũng cười. Sau đó, tôi quay lại với Thomas và tôi biết mức độ nghiêm trọng của việc chúng tôi sắp làm.
“Còn chàng, chàng có chắc chắn không?”, tôi hỏi, “vì Nữ hoàng gây chuyện với tất cả những người kế vị bà ấy. Trong tất cả họ hàng của bà, em là người duy nhất còn lại ở triều đình. Bà ấy có thể xem chúng ta như một gia đình, hoặc có thể ghét bỏ chúng ta. Bà ấy có thể vui mừng khi em lấy chồng; cũng có thể ganh ghét với em vì em hạnh phúc. Em không thể đoán trước được”.
“Ta chắc chắn”, chàng nói, “cho dù bất cứ chuyện gì xảy ra. Ta chắc chắn ta muốn kết hôn với nàng”.
“Vậy chúng ta bắt đầu nhé”, vị mục sư nói và bắt đầu đọc những câu nghi lễ hôn nhân mà tôi nghĩ tôi sẽ không bao giờ được nghe cho mình. Ông ấy đưa cuốn Kinh nguyện ra trước mặt Thomas, chàng đặt một chiếc nhẫn cưới bằng vàng lên đó, đủ nhỏ để vừa vặn ngón tay tôi, rồi Thomas và tôi cùng hứa sẽ yêu nhau và sẽ chung thủy với nhau cho đến khi cái chết chia lìa đôi lứa.
Tất nhiên, tôi nghĩ đến chị Katherine của tôi. Chị ấy đã không yêu cầu tôi làm nhân chứng cho đám cưới của chị; chị đã bảo vệ tôi giống như tôi đang bảo vệ những người họ hàng của mình bằng cách để họ đứng ngoài cửa. Nhưng tôi đã đọc tất cả các bằng chứng trong quá trình xét xử cuộc hôn nhân của chị ấy cũng như cuộc điều tra về chồng chị. Tôi biết căn phòng của anh Ned được chuẩn bị rượu vang và thức ăn, tôi biết Janey Seymour là nhân chứng duy nhất của họ, tôi biết vị mục sư đã rời đi để họ lên giường cùng nhau, ngủ thiếp đi, sau đó choàng dậy và vội vã mặc y phục cho nhau vì chị phải chạy trở về triều đình đúng giờ. Tôi biết chị yêu anh ấy nhiều đến thế nào, và không có gì có thể ngăn cản chị kết hôn với anh ấy. Tôi biết cái giá mà chị phải trả là gì, và tôi biết tôi cũng đang lựa chọn như vậy – kết hôn với một người đàn ông vì tình yêu, để sống một cách trọn vẹn, và chấp nhận bất cứ hậu quả nào từ sự hiểm độc của Nữ hoàng Elizabeth. Bởi vì tôi sẽ không học cách chết và cũng không chấp nhận sống một cuộc sống không trọn vẹn. Tôi muốn làm một người vợ và có lẽ một người mẹ. Tôi muốn có Thomas làm chồng hơn cả muốn tồn tại trong cái triều đình u tịch cằn cỗi này. Tôi hai mươi tuổi. Tôi đã sẵn sàng cho cuộc đời. Tôi muốn yêu và được yêu, tôi muốn có một cuộc sống thực sự, tôi muốn có một người chồng.
Chúng tôi ăn tối cùng nhau, gia đình Thomas và gia đình tôi. Thomas tự hào giới thiệu con trai riêng của chàng với tôi và tôi đón chào cậu bé như một người mẹ mới. Thomas giới thiệu em trai và người bạn thân nhất của chàng, những người khăng khăng đòi làm nhân chứng, và một người bạn cũ đang phục vụ cho Giám mục Gloucester. Họ có chút e ngại tôi và những người họ hàng dòng dõi của tôi, nhưng khi mọi người cùng tụ tập trong một căn phòng nhỏ, chia sẻ một lễ cưới bí mật, một bữa tiệc với rượu vang, thì mọi e dè đều tan biến. Thomas rất vững vàng, ấm áp và lịch thiệp đến mức không ai cảm thấy lúng túng. Chúng tôi nói chuyện sôi nổi, cười đùa và liên tục “Suỵt! suỵt!” dặn nhau nói khẽ thôi mặc dù triều đình đang ở rất xa để chúc mừng một đám cưới khác lớn hơn, dù tôi dám cược rằng đó không phải một đám cưới với nhiều tình yêu hơn.
Người bạn thân của chàng bảo tôi: “Tôi chưa bao giờ thấy anh ấy hạnh phúc như thế này. Tôi chưa bao giờ nghĩ anh ấy sẽ hạnh phúc một lần nữa sau cái chết của người vợ đầu. Tôi rất vui vì điều đó. Cô đã thật sự mang đến hạnh phúc cho anh ấy”.
Con trai chàng bảo tôi: “Con rất vui, tất cả mọi người đều rất vui khi cha hạnh phúc trở lại”.
Thomas bảo tôi: “Em là của riêng anh”.
Ý thức được thời gian gần hết và Nữ hoàng có thể quay về nên họ không ở lại sau khi ăn tối và chúc mừng chúng tôi. Thomas tiễn họ ra cửa, và những người bạn của chàng ngạc nhiên vì chàng không gác cổng cho đến khi Nữ hoàng quay về. “Không phải tối nay”, chàng nói thầm, nhưng không ai hỏi tại sao cả.
Trong khi chàng đưa những người khách của chàng đi qua cổng trước và đưa những người họ hàng của tôi quay về phòng, tôi khóa cửa và cởi quần áo. Tôi không biết có nên giữ chiếc áo khoác ngoài không. Tôi mang theo một chiếc áo ngủ cho buổi tối đặc biệt này, một chiếc áo khá đẹp, nhưng tôi không biết nên mặc nó ngồi trước lò sưởi hay nên cởi hết ra và lên giường nằm. Tôi bật cười với chính mình, lo lắng về một điều như vậy trong khi đã kết hôn với người đàn ông tôi yêu mà không có sự cho phép của một Nữ hoàng nổi tiếng hay ganh ghét, và tôi còn nhiều điều phải lo lắng hơn thế; nhưng dù sao, tôi vẫn là một cô dâu trong buổi tối tân hôn của mình. Việc tôi lăn tăn về những chi tiết này là chuyện tự nhiên. Tôi muốn chàng hài lòng, tôi muốn chàng nín thở khi nhìn thấy tôi, dù đang ngồi bên lò sưởi trong chiếc áo lụa thêu hay đang nằm bán khỏa thân trên giường. Tôi muốn chúng tôi tận hưởng niềm hoan lạc cùng nhau.
Tôi đang nửa nằm nửa ngồi trên giường thì chàng quay về và thử đẩy cửa. Tôi trùm vội chiếc áo ngủ lụa màu đỏ anh đào xinh đẹp và chạy ra mở cửa, vì vậy nên khi chàng bước vào, tôi không nằm khêu gợi trên giường mà cũng không ngồi vương giả bên lò sưởi, mà chỉ đỏ bừng mặt và bối rối vì không kịp chuẩn bị gì cả.
Chàng mang theo một khay rượu và một ít bánh ngọt. “Không phải thức ăn nữa chứ!”, tôi nói.
“Anh không phải là người nhỏ bé”, chàng mỉm cười. “Anh cần phải giữ gìn sức mạnh của mình”.
“Em yêu chàng bằng chính con người chàng”, tôi nói. “Có Chúa biết, em nghĩ chàng như chính chàng là đủ cho em. Em không ngại khi chàng yếu hơn một chút khi đói bụng”.
“Thử đi nào”, chàng năn nỉ tôi, và đó là chiếc bánh hạnh nhân ngọt ngào nhất từ bếp của Nữ hoàng, được nướng riêng cho chúng tôi bởi một trong những người đầu bếp giỏi nhất của bà.
“Ồ ngon quá!”. Tôi nói, miệng đầy bánh. “Người đầu bếp có biết chuyện này không?”.
“Anh nói anh sẽ ăn tối với cô gái xinh đẹp nhất mà anh từng gặp”, Thomas nói. “Ông ấy tự đề nghị sẽ làm cho cô gái đó một ít bánh ngọt”.
Tôi nhấp một ngụm rượu vang. Thomas nhìn tôi.
“Anh sẽ lên giường và em vào cùng anh nhé?”, chàng nhẹ nhàng hỏi. “Anh sẽ làm mọi điều em muốn”.
Tôi nhận ra tôi đã quá lo lắng. Tôi nhận ra tôi đã cố gắng hết sức để lấy can đảm. Tôi nhận ra tôi đã tự dọa mình không vì lý do gì, và tôi nhận ra đây là người đàn ông yêu tôi thực sự. Và đây là tôi, tôi cũng yêu người đàn ông đó. Bất kể điều gì sẽ xảy đến với đám cưới này và việc chúng tôi ở bên nhau, chúng tôi cũng sẽ cùng nhau đối mặt với nó, bằng tình yêu đích thực.
“Em đến đây”. Tôi nói và tháo dây thắt lưng chiếc áo ngủ và thả nó xuống sàn không một chút e sợ. Tôi thấy ánh mắt chàng đang nhìn xoáy vào hai bầu vú căng tròn của tôi, vòng eo nhỏ nhắn của tôi, cái xương sống bị vẹo khiến một bên vai tôi nghiêng về phía trước. Ngoài chỗ vẹo đó ra, tôi hoàn hảo như một bức tượng nữ hoàng sắc đẹp thu nhỏ. Tôi lắc đầu và mái tóc tôi xõa xuống che gương mặt đang đỏ bừng, thoang thoảng mùi hương hoa hồng của tôi.
“Hãy đến đây nào!”. Chàng đáp, cởi bỏ quần áo và đưa hai tay về phía tôi. Chàng bế tôi lên và đặt tôi vào chiếc giường cao rộng. Rồi chàng nằm xuống, lăn về phía tôi như một cái cây bị đốn ngã, vòng tay ôm và siết chặt tôi vào khuôn ngực to lớn mạnh mẽ của chàng. “Ôi em yêu”, chàng dịu dàng nói, “tình yêu của anh”.
Tôi không ở lại cả đêm với chồng. Tôi trở lại phòng riêng trước lúc triều đình quay về. Các tỳ nữ giúp tôi cởi quần áo và đưa tôi lên giường mà không nhận ra tôi chỉ vừa nhập vào đoàn của triều đình trên đường họ trở về. Frances, người hầu gái, giúp tôi tháo giày mà không tỏ ra một biểu hiện gì cả. Tôi nghĩ mình sẽ không ngủ được vì hạnh phúc, nhưng khi vừa nằm xuống, tôi ngủ thiếp đi và chỉ thức dậy khi người hầu gái bước vào phòng mang thêm củi cho vào lò sưởi.
Buổi sáng hôm đó tôi phải trực hầu Nữ hoàng Elizabeth, vì vậy tôi rửa mặt, thay quần áo và lao vội vào cung. Khi đi được nửa đường, tôi bỗng nhận ra mình đang suy nghĩ: Chàng yêu tôi. Tối qua chàng đã ôm ấp tôi như một người đàn ông với tình yêu nồng nàn nhất. Chàng đã cưới tôi. Chàng yêu tôi. Tôi đã là vợ chàng.
Điều này giống như một bài hát lặp đi lặp lại trong tâm trí tôi suốt cả ngày. Khi Nữ hoàng Elizabeth gặp các đại sứ, cưỡi ngựa ra ngoài cùng Robert Dudley, quay lại ăn sáng, cợt nhã với ngài Đại sứ Tây Ban Nha, hy vọng thuyết phục ông rằng bà đang suy nghĩ nghiêm túc về việc kết hôn, và sau đó thắng trong các ván bài ăn tiền trước khi đưa triều đình đi ăn tối; cả ngày, tôi chỉ nghĩ một điều duy nhất: Chàng yêu tôi. Tối qua chàng đã ôm ấp tôi như một người đàn ông với tình yêu nồng nàn nhất. Chàng đã cưới tôi. Chàng yêu tôi. Tôi đã là vợ chàng.
Khi triều đình ăn tối xong và những người hầu đang dọn dẹp đại sảnh để chuẩn bị cho cuộc khiêu vũ buổi tối với một đoàn diễn viên xiếc nhào lộn, tôi đi ra cổng trước và Thomas đứng đó, cao lớn như một cây đại thụ, đang cho các công dân London vào xem khiêu vũ.
“Xin chào, Công nương Mary”, chàng nói to với tôi, sau đó hạ thấp giọng. “Xin chào, bà Keyes”.
“Xin chào, phu quân”, tôi mỉm cười với chàng. “Em đến để xem liệu em có nên bí mật đến phòng chàng trong khi triều đình đang ngủ hay không”.
“Anh nghĩ là được”, chàng nói, giả vờ hờn dỗi. “Thực sự, anh rất mong em đến. Anh mong đợi một người vợ ngoan ngoãn và biết vâng lời”.
“Chàng sẽ được như thế”, tôi hứa với chàng. Tôi nhìn thấy một trong những người hầu của William Cecil đang tiến đến cổng. Tôi mỉm cười với Thomas rồi quay đi: “Em hứa”.
Lần đầu tiên chúng tôi ngủ yên bình trong vòng tay nhau cho đến lúc bình minh. Khi đầu chàng đặt cạnh đầu tôi trên gối, chúng tôi nằm ngang nhau, vầng trán rộng của chàng áp vào vầng trán nhỏ của tôi, chàng nhẹ nhàng hôn lên đôi môi tôi đang mỉm cười. Đôi chân dài của chàng duỗi đến tận chân giường, mở rộng qua mép giường, còn tôi chỉ nằm một góc phía trên, nhưng chúng tôi nằm song song nhau, với những tấm rèm phủ xuống xung quanh, chúng tôi bình đẳng với nhau, chúng tôi đã là một.
Đêm thứ hai, tôi thức dậy lúc nửa đêm khi nghe tiếng chuông Tu viện Westminster rền vang, âm thanh ám ảnh báo hiệu ai đó vừa mới chết. “Nữ hoàng Elizabeth”, tôi thì thầm trong giây phút vừa thức tỉnh, mong ước bật ra thành lời trước khi kịp suy nghĩ. Tôi thức tỉnh với niềm vui khi còn đang mơ ngủ, tin rằng đó là thông báo về cái chết của Nữ hoàng Elizabeth và chị tôi sẽ trở thành Nữ hoàng Anh.
Thomas cũng nghe tiếng chuông báo tang, chàng bật dậy khỏi giường như một chiếc lò xo và cúi đầu xuống để tránh những thanh rầm mái nhà. “Anh phải đi ngay”, chàng nói và mặc bộ chế phục vào. Tôi cũng ngồi dậy, mặc áo vào.
“Anh phải thắt dây áo cho em chứ?”. Chàng đi ra cửa, nhưng nửa chừng thì quay đầu lại.
“Em tự làm được. Chàng đi đi”, tôi nói ngắn gọn. Tôi biết chàng muốn làm nhiệm vụ, bảo vệ cổng thành chống lại bất cứ tin xấu nào đang đến.
Chàng chạy vội ra khỏi phòng, tôi trùm một chiếc khăn choàng lên đầu như một phụ nữ nghèo, đi xuống cầu thang và băng qua sân. Tôi nghĩ tôi sẽ về đến phòng mà không ai thấy, nhưng đột nhiên Thomasina xuất hiện từ dãy phòng của các thị nữ. Trong nháy mắt, cô ta nhìn thấy tình trạng quần áo luộm thuộm và mái tóc rối bù của tôi. Nhưng cô ta không có thời gian bình luận.
“Đó là Kat Ashley”, cô nói giữa một hồi chuông rền rĩ, “Chúa ban phước cho bà ấy. Chúng ta đã mất bà ấy rồi”.
“Mất bà ấy sao?”, tôi hỏi một cách ngu ngốc.
“Bà ấy đã chết. Bà ấy không cầm cự được lâu. Nữ hoàng rất đau buồn”, Thomasina nói. “Bà đã rời cuộc khiêu vũ và ra lệnh kéo chuông báo tử, lệnh cho triều đình để tang. Nữ hoàng bảo, Kat giống như mẹ của bà vậy”.
“Đúng vậy”, tôi đồng ý với vẻ nghiêm nghị; nhưng tôi nghĩ dù thương tiếc là thế nhưng Nữ hoàng Elizabeth vẫn cho bắt Kat và giam cầm bà trong Tháp.
Tôi lao về phòng mình, vội vã lột cái mũ trùm đầu rồi chạy nhanh đến phòng khánh tiết của Nữ hoàng. Căn phòng u ám với những cánh cửa chớp đóng kín và mọi người trao đổi tin tức với nhau với giọng thì thầm. Bên trong hậu cung, các cận thần được sủng ái đang rì rầm nói chuyện. Nhiều người sẽ nhớ Kat Ashley; nhưng mọi người đều biết sự ra đi của bà để lại một vị trí trống trong số những thị nữ của Nữ hoàng Elizabeth mà một phụ nữ đầy tham vọng có thể bước vào, và một khoảng trống trong số cố vấn của bà mà ai đó sẽ nắm lấy.
Tôi đi đến cửa phòng ngủ. Dì Bess, trông mệt mỏi, bước ra khi tôi đang đợi bên ngoài. “Cháu thay dì khoảng một tiếng được không?”, dì ấy hỏi.
“Bà ấy muốn có hai người ở trong đó, luôn ngồi bên cạnh và chia sẻ đau buồn cùng bà ấy”.
Tôi gật đầu và bước vào.
Căn phòng bị đóng cửa và ánh lửa lò sưởi lập lòe, tối và ngột ngạt. Nữ hoàng Elizabeth nằm trên giường, chăn kéo đến cằm, mặc nguyên bộ y phục, chỉ có đôi giày là trượt khỏi chân. Chiếc cổ áo xếp nếp bị ép nhàu nhĩ quanh cổ bà, đôi mắt nhòe nhoẹt màu vẽ, chất bột chì vấy ra gối và bộ tóc giả màu đỏ. Nhưng giữa nỗi đau, bà trông giống như một đứa trẻ. Sự đau khổ của bà cũng trần trụi như bất cứ đứa trẻ mồ côi nào trên đường phố. Nữ hoàng Elizabeth luôn ở một mình, dù triều đình của bà tràn ngập những kẻ tâng bốc và hầu hạ; giờ đây, với cái chết của người phụ nữ ở bên cạnh bà từ thuở ấu thơ, bà nhận ra điều đó một lần nữa. Kat Ashley đã đến với bà khi bà không được công nhận. Bà từng là một công chúa đáng yêu, con gái một phu nhân được sủng ái, sau đó bà bị vứt bỏ, bị lãng quên, tước vị và danh hiệu bị tước đoạt. Lần đầu tiên Kat Ashley đến gặp cô bé này, bà tìm thấy một đứa trẻ hoàn toàn bị hủy hoại. Kat đã xây dựng lại niềm kiêu hãnh cho bà, dạy cho bà tình yêu học thuật và đức tin, dạy bà cách tồn tại và sự khôn ngoan, không tin vào ai cả. Kat là người phụ nữ duy nhất trên đời yêu quý Nữ hoàng Elizabeth, và giờ thì bà đã ra đi. Nữ hoàng Elizabeth úp mặt vào gối để chôn chặt tiếng nức nở, và tôi nghĩ – vâng – giờ thì bà đã thật sự cô đơn, giờ thì có lẽ bà sẽ hiểu như thế nào là thực sự yêu thương một người và bị tách rời khỏi họ. Giờ có lẽ bà mới biết thương chị Katherine, một đứa trẻ mồ côi, bị tách khỏi chồng và con trai.
William Cecil đến phòng Nữ hoàng, chờ tôi bước ra và nhờ tôi nhắn cho Nữ hoàng một thông điệp.
Tôi ngần ngại. “Hiện giờ bà không muốn gặp ai cả”, tôi nói, “và Blanche Parry sẽ là tổng quản thị nữ nội cung”.
Ông cúi xuống nói nhỏ vào tai tôi. “Sẽ tốt nếu bà ấy nghe tin này từ cô”, ông nói, “vì tôi không thể vào được”.
“Tôi không phải là lựa chọn tốt nhất của ngài cho những tin xấu”, tôi miễn cưỡng nói. Tôi có cảm giác không ổn, dù tôi nghĩ có thể không có vấn đề gì với chị tôi cả: William Cecil sẽ không tra tấn tôi như thế này nếu chị Katherine bị ốm, “có chuyện gì thế?”.
“Henry Stuart, Công tước Darnley, đã kết hôn với Nữ hoàng Scotland”, Cecil nói và khẽ nhắc tôi. “Hạ thấp giọng xuống nào!”.
Ông không cần phải cảnh báo tôi như thế. Tôi biết điều này sẽ là thảm họa như thế nào cho nước Anh. Tôi cố giữ vẻ mặt vô cảm: “Là Henry Stuart à?”.
“Đúng vậy. Và bà ấy đã phong cậu ta làm vua.”
Lúc này gương mặt tôi đanh lại như một chiếc mặt nạ. Nữ hoàng Mary xứ Scots hẳn đang cuồng yêu, hoặc đơn giản là cô ấy đã phát điên khi trao vương miện và ngai vàng cho một chàng trai có thể được mua bán để đổi lấy chủ quyền quốc gia. Tôi đoán cô ấy muốn trở thành hoàng hậu của một vị vua một lần nữa nhiều đến mức cô ấy nghĩ mình sẽ tạo ra một vị vua, bất kể Henry chỉ là một triều thần không thuộc dòng dõi hoàng tộc.
William Cecil tỏ ra thán phục sự điềm tĩnh của tôi và tiếp tục: “Bà ấy đã đi quá xa đến mức không còn khả năng kế vị ngai vàng nước Anh nữa – một tín đồ Công giáo và giờ lấy một người chồng yếu đuối. Bà ấy không phải là mối đe dọa đối với chúng ta. Chúng ta sẽ không bao giờ chấp nhận Dudley làm Vua nước Anh bên cạnh bà ấy; chắc chắn chúng ta sẽ không chấp nhận Darnley. Chúng ta sẽ không có một vị vua và nữ hoàng Công giáo, thậm chí cả người Pháp cũng sẽ không ủng hộ bà, khi bà cưới một người như anh ta”.
“Cô ấy đã làm hỏng nó”, tôi thì thầm, “cô ấy đã vứt bỏ tương lai của mình vì một cậu trai”.
“Vâng”, Cecil khẳng định, “rõ ràng bà ấy đã bị thuyết phục rằng anh ta và cha anh ta có thể đánh bại kẻ thù của bà ấy. Họ đã thuyết phục bà ấy lập một đội quân để tuyên chiến với chính những người dân của mình, với các quý tộc Kháng cách: Những người dân theo tôn giáo chúng ta. Bà ấy đã tự biến mình thành kẻ thù của chúng ta. Vì vậy, đối với nước Anh, chỉ còn một người kế vị duy nhất có thể. Nữ hoàng Mary xứ Scots đã công khai thù nghịch với tôn giáo chúng ta, Margaret Douglas là mẹ chồng bà ấy, nên chị cô trở thành người kế vị duy nhất còn lại. Nữ hoàng sẽ nhìn thấy điều đó ngay lập tức, vì vậy nên cô hãy tự mình mang tin này đến cho bà ấy, và hãy đứng trước mặt bà ấy trong khi báo tin, để bà ấy biết rằng bà ấy có một gia đình trung thành bên cạnh”.
Cơn thịnh nộ của Nữ hoàng Elizabeth với vị nữ hoàng đối thủ81* nhanh chóng thay thế nỗi đau buồn của bà. Bà bật dậy khỏi giường, ra lệnh tổ chức một đám tang trọng thể cho Kat Ashley, và sau đó lao đến Hội đồng Cơ mật, đòi họ tuyên chiến với Scotland.
81* . Tức Nữ hoàng Mary xứ Scots.
Có một cuộc nổi loạn ở Scotland. Người anh cùng cha khác mẹ với Nữ hoàng Scotland, Bá tước Moray, đã quay lưng chống lại em mình. Dù anh ta chào đón em mình về Scotland và cố vấn cho cô ấy trước kia nhưng anh ta là một tín đồ Kháng cách sùng đạo và không thể chịu nổi một nữ hoàng Công giáo với một ông vua Công giáo từ trên trời rơi xuống. Dù Nữ hoàng Elizabeth không thực sự quan tâm đến việc đấu tranh vì tôn giáo nhưng bà quyết định ủng hộ gã con hoang, James Stewart, tức Bá tước Moray, chống lại vị Nữ hoàng được tấn phong, người em cùng cha khác mẹ với anh ta. Bà gởi hàng đống vàng để anh ta chi trả cho những người ủng hộ, mọi sứ giả đều mang đến cho chúng tôi tin tức về sự phản phúc của anh ta và những đòi hỏi trợ giúp ngày càng tăng. Hội đồng Cơ mật hỏi nhau, thậm chí hỏi các thị nữ chúng tôi, xem Nữ hoàng đang làm gì, ủng hộ một cuộc nổi dậy chống lại một Nữ hoàng đã được trao vương miện, gởi tiền nhưng không gởi quân, hỗ trợ vừa đủ để khuyến khích nhưng không quá nhiều để đảm bảo một chiến thắng cho anh ta, hay phải làm thế nào. Đại sứ Pháp đến triều đình với một cơn thịnh nộ kìm nén và nói rằng nếu Nữ hoàng Elizabeth ủng hộ phe nổi dậy Kháng cách chống lại vị Nữ hoàng Công giáo hợp pháp mang nửa dòng máu Pháp thì họ buộc phải can thiệp... và đột nhiên, Nữ hoàng Elizabeth bỗng mất đi lý tưởng ủng hộ Kháng cách và cuộc nổi dậy của một đứa con hoang; đột nhiên bà nhớ lại lòng trung thành của mình với nữ hoàng chị em. Lật đổ một phụ nữ quyền lực nghĩa là đe dọa mọi phụ nữ quyền lực khác. Đột nhiên, Nữ hoàng Elizabeth trở thành một đồng minh.
Thêm vào đó, tất cả những tin tức chúng tôi có được từ Scotland là những thắng lợi của vị nữ hoàng trẻ tuổi, và Nữ hoàng Elizabeth ghét phải ở bên thua trận. Nữ hoàng Mary tập trung một đội quân và đích thân thống suất họ đuổi sát người anh cùng cha khác mẹ với một loạt trận đánh và cuối cùng đuổi anh ta qua biên giới. Từ căn cứ quân sự của chúng tôi ở Newcastle trên sông Tyne, anh ta xin tiếp viện và đưa đám tàn quân lê lết về phía nam đến London như một gã hoảng loạn. Nữ hoàng Elizabeth khiến anh ta sững sờ khi bà nặng nề khiển trách anh ta tội bất trung với người vừa là nữ hoàng vừa là em cùng cha khác mẹ của mình. Tôi và Thomasina trao đổi nhau một cái nhìn ra chiều thông hiểu khi Nữ hoàng Elizabeth bỏ mặc ngài Bá tước Moray và lý tưởng Kháng cách ở Scotland trong tình trạng đổ nát, và triều đình lúng túng không biết bà thực sự muốn gì.
Bà không khiến tôi ngạc nhiên, bởi vì cách bà đối xử với tôi, cách bà đối xử với chị Katherine và các con của chị, hoàn toàn không có chút tình lý nào cả. Nữ hoàng Elizabeth bị chi phối bởi nỗi sợ hãi, bà có những quyết định đột ngột đầy lo âu và sau đó đảo ngược chúng. Lúc này Nữ hoàng Mary xứ Scots sẽ không bao giờ có thể là người kế vị nước Anh nữa, nhưng Nữ hoàng Elizabeth vẫn không công nhận chị tôi, vì lo ngại một phụ nữ không quyền lực đang bị giam cầm không kém lo ngại một đối thủ được vũ trang đầy đủ ngay biên giới quốc gia. Bà sẽ không thả chị tôi, dù chị có thể chết trong lúc bị giam cầm nếu không được đoàn tụ với chồng con. Triều đình, Hội đồng Cơ mật, các đồng minh của Nữ hoàng, ngay cả những kẻ thù của bà cũng mong mỏi một chiến lược nhất quán từ Nữ hoàng Elizabeth. Họ không nhận ra rằng không phải các chiến lược khiến bà chống lại những người họ hàng như chị tôi và Nữ hoàng Mary xứ Scots. Chính sự kình địch và ganh tỵ, chứ không phải chính trị, mới là yếu tố thúc đẩy bà hành xử như thế. Tôi biết điều đó, bởi vì cũng như tất cả những người họ hàng khác phải chịu đựng sự thù oán và ganh tỵ của bà, tôi cũng vậy.
CUNG ĐIỆN WHITEHALL, LONDON
MÙA HÈ NĂM 1565
Tôi nằm trong vòng tay Thomas, lắng nghe hơi thở đều đặn của chàng, ngắm bầu trời qua khung cửa sổ đối diện với chiếc giường của chúng tôi. Bầu trời chuyển dần từ tối sẫm sang xám nhạt, rồi ửng hồng khi mặt trời mọc. Tôi nằm yên không cựa mình, tôi không muốn làm chàng thức giấc; tôi muốn giây phút này không bao giờ kết thúc. Tôi có một cảm giác bình yên và một niềm vui sâu lắng lạ với người đàn ông to lớn nằm bên cạnh đang vòng tay ôm tôi, hơi thở ấm áp phả vào cổ tôi.
Đột nhiên có tiếng gõ nhẹ lên cửa, tôi lập tức cảnh giác và cảm thấy sợ hãi. Không ai biết tôi đang ở đây; tôi không được phép bị phát hiện ở đây. Tôi bật dậy và ngay lập tức Thomas đứng lên rời khỏi giường. Chàng ngủ như một người lính gác – chàng luôn sẵn sàng thức giấc. Chàng chuyển động như một con mèo lớn, không một tiếng động, tôi chụp tấm chăn che giấu cơ thể mình và nhảy xuống giường. Tôi trốn vào góc phòng để không ai nhìn thấy tôi từ bên ngoài. Thomas mặc quần vào, liếc nhìn tôi đã ẩn nấp, gật đầu ra dấu cho tôi im lặng rồi hỏi qua cánh cửa cài then: “Ai đó?”.
“Thomasina, người lùn của Nữ hoàng!”, có một tiếng rít gấp gáp. “Mở cửa ra, Thomas Keyes, đồ ngốc”.
Chàng giấu một nụ cười, mở then cửa và chặn cửa bằng cánh tay của chàng. Thomasina thậm chí không cần phải cúi đầu xuống cũng có thể chuồi vào phòng và nhìn thấy tôi. “Tôi biết cô ở đây”, cô ấy hổn hển nói. “Đó là sự thật. Cô đã kết hôn. Tốt hơn cô nên mặc quần áo vào và đi ngay đi. Bà ấy biết rồi”.
Tôi há hốc miệng hỏi: “Làm thế nào được?”.
Cô ấy lắc đầu: “Tôi không biết. Bà ấy hỏi cô ngay khi vừa thức dậy sáng nay, Chúa mới biết tại sao, và họ không thấy cô trên giường”.
“Tôi có thể bịa ra chuyện gì đó”, tôi điên cuồng mặc y phục vào, Thomas giúp tôi thắt dây ren. “Tôi sẽ nói tôi đi thăm một người bạn bị ốm”.
“Để tôi làm cho”. Thomasina nói, đẩy chàng sang một bên. “Anh thật vụng về. Tôi phải đi. Không thể để họ thấy anh ở với hai chúng tôi trong phòng được, Thomas Keyes! Đó sẽ là một vụ tai tiếng thực sự!”.
Lần đầu tiên tôi không sửa lỗi cô ấy. Tôi không nói rằng không có “hai chúng tôi” nào ở đây mà là một công chúa và một cô lùn, chúng tôi không giống nhau. Tôi vội mang giày và nhét đôi vớ vào túi áo choàng. Cô ấy đã đến cảnh báo tôi vì cô ấy tin vào tình chị em của chúng tôi, kẻ tí hon giúp người tí hon khác trong một thế giới đầy nguy hiểm. Tôi sẽ không phủ nhận mối quan hệ này với cô ấy một lần nào nữa. Giờ đây cô ấy đã là bạn tôi, một người chị em của tôi.
“Ai đã nói với bà ấy thế?”, tôi hỏi. Tôi cuộn mái tóc dài lại và đội chiếc mũ trùm đầu lên. Thomasina rất nhanh chóng và thành thạo với một vài cây kẹp tóc.
“Một trong những người hầu”, cô nói, “cô ta không dám nói khác. Cô ta chỉ nói rằng cô không có trên giường. Không biết ở đâu. Nhưng tất cả chúng tôi đều biết hai người yêu nhau nhiều tháng rồi. Hai người đã kết hôn chưa?”.
“Rồi.”
“Không được phép của Nữ hoàng à?”
“Không có luật pháp nào chống lại điều đó”, tôi nói với vẻ thông thái rởm. “Đã từng có một điều luật nhưng nó bị bãi bỏ rồi”.
Cô ấy cười nhạo tôi. “Nữ hoàng không cần có luật thì mới nổi giận được”, cô ấy nói. “Hỏi Margaret Douglas thì biết. Hỏi chị cô thì biết. Chỉ có Chúa mới có thể giúp cô lúc này thôi”.
Cô ấy nhảy bổ ra cửa: “Nhanh lên!”. Tôi nghe thấy tiếng gọi của cô và tiếng bước chân lộp cộp xuống cầu thang.
Thomas mặc chiếc áo sơ-mi của chàng vào rồi vươn tay lấy chiếc áo khoác chế phục. “Chúng ta nên làm gì đây?”, chàng hỏi tôi. “Ta sẽ đi cùng nàng đến gặp Nữ hoàng chứ?”.
“Không. Dù sao thì chàng cũng không thể vào được nếu bà ấy đang ở hậu cung.”
“Anh đã phục vụ bà ấy rất trung thành từ khi bà ấy mới lên ngôi”, chàng nói, “bà ấy biết anh rất trung thành”.
Tôi mím môi để không bật ra những gì tôi nghĩ về ý kiến của Nữ hoàng Elizabeth đối với những người bầy tôi trung thành của bà. Hãy hỏi Robert Dudley xem ông ta nhận được phần thưởng gì khi phục vụ bà một cách trung thành, hãy hỏi cả William Cecil. “Nếu bà ấy có nói gì thì em sẽ nhắc bà ấy về điều đó”, tôi hứa với chàng.
Tôi kiễng chân lên và chàng cúi xuống hôn tôi. Đó không phải là một nụ hôn chúc phúc hay một nụ hôn vội. Chàng vòng tay quanh người tôi và ôm tôi thật chặt. Chàng hôn tôi với tất cả sự đam mê nồng cháy, như thể chúng tôi không bao giờ được hôn nhau lần nữa. “Anh yêu em”, chàng nói khẽ, “hãy đến gặp anh tại cổng thành càng sớm càng tốt, cho anh biết mọi việc đều ổn. Hoặc gởi cho anh một tin nhắn rằng tất cả đều ổn”.
Tôi mỉm cười với chàng một cách can đảm. “Em sẽ đến ngay khi có thể”, tôi nói, “hãy chờ em. Hãy chờ em”.
Tôi đi như chạy đến phòng khánh tiết của Nữ hoàng. Căn phòng đầy những người thỉnh cầu và khách tham quan hy vọng được bà chú ý thoáng qua trên đường đi đến nhà nguyện. Một nửa số họ sẽ xin ân xá hoặc tha thứ cho những người đàn ông hay phụ nữ bị bắt vì tội dị giáo, phản bội hoặc bị nghi ngờ. Nhà tù chật ních các nghi phạm, triều đình đông nghịt thân nhân của họ. Hội đồng Cơ mật tin rằng những người Công giáo sẽ nổi dậy chống lại Nữ hoàng Elizabeth để ủng hộ Nữ hoàng Mary xứ Scots. Họ tin rằng bà dì họ Margaret Douglas của tôi đã âm mưu với Pháp và Tây Ban Nha để đưa cậu con trai Công giáo của mình và một Nữ hoàng Công giáo lên ngai vàng. Vương quốc này càng ngày càng đáng sợ, một đất nước đầy dẫy sự ngờ vực, và bây giờ tôi đang sợ và cũng đang bị nghi ngờ.
Tôi băng qua đám đông đến cánh cửa dẫn đến hậu cung của bà. Mọi người nhường lối cho tôi – họ biết tôi là một trong những cô gái nhà Grey. Tôi nhận được những cái nhìn thương hại từ những người mà cuộc sống của chính họ đang bị nguy hiểm đến mức họ phải tìm đến triều đình xin giúp đỡ. Những người đứng dưới cái bóng của đoạn đầu đài nhưng lại đang thương hại tôi. Có hai người lính đứng gác cửa hậu cung của Nữ hoàng Elizabeth. Họ mở cửa cho tôi đi vào.
Hầu hết các thị nữ của Nữ hoàng và một số người hầu đã có mặt, rõ ràng họ đang nói về tôi. Một sự im lặng khủng khiếp phủ xuống khi tôi bước vào phòng, nhìn quanh những người phụ nữ này, những người đồng hành và bạn bè tôi suốt mười một năm. Không ai nói một lời nào.
“Blanche Parry đâu?”, tôi hỏi. Cô ấy là tổng quản thị nữ mới của nội cung; cô ấy sẽ biết tôi đang phải đối mặt với những rắc rối như thế nào. Phu nhân Clinton gật đầu hướng về cánh cửa đang đóng kín.
“Cô ấy đang ở với Nữ hoàng. Bà ấy không vui lắm.”
Mọi người xì xào, nhưng không ai nói chuyện trực tiếp với tôi. Dường như họ không dám đụng chạm đến tôi vì sợ bị vạ lây. Không ai muốn bị xem là bạn thân của tôi, dù hầu hết họ đều từng tự hào xưng là những người bạn thân của tôi.
“Có đúng không? Có phải cô đã kết hôn không, Công nương Mary?”. Một trong các thị nữ trẻ buột miệng hỏi, rồi cô ta nhún gối chào và đỏ mặt đến tận mang tai. “Xin Công nương thứ lỗi”, cô ta thì thầm.
Tôi không phải trả lời cô ta, nhưng lúc này tôi sẽ không phủ nhận điều đó nữa. Tôi sẽ không bao giờ phủ nhận cuộc hôn nhân với người đàn ông tôi yêu. Một phần trong tôi nghĩ thế – nhưng điều đó thật ngớ ngẩn! Tôi có một người chị bị xử tử vì dám lên ngôi và một người chị bị cầm tù vì dám yêu – còn đây là tôi, với một chiếc nhẫn trong túi và một cuộc hôn nhân riêng tư, không tranh giành ngai vàng mà cũng không cưới một nhà quý tộc.
“Bà ấy tức giận lắm à?”, tôi hỏi.
Một người nào đó kêu lên một tiếng rít nhỏ như tiếng rít của một cơn bão.
“Tôi có thể đi vào không?”
“Cô nên đợi ở đây”, Phu nhân Clinton nói, “bà ấy sẽ cho gọi cô”.
“Tôi sẽ về phòng thay áo khoác”, tôi nói. Không ai nói tôi không được đi cả, vì vậy nên tôi bước ra ngoài, một lần nữa đi qua những cánh cửa, đi qua phòng khánh tiết với những cái nhìn trộm, bước lên chiếc cầu thang hẹp dẫn đến phòng mình. Người thị nữ của tôi, gương mặt trắng bệch, chải tóc và ghim áo choàng cho tôi mà không nói nên lời. Tôi cũng không nói chuyện với cô ấy.
Khi tôi quay lại hậu cung, ai đó đã gọi William Cecil và ông đang đứng gần cửa sổ, nói chuyện với bà ngoại kế của tôi, Catherine Brandon, cùng với Blanche Parry. Những người khác đang chờ đợi ở một khoảng cách lịch sự, cố dỏng tai lên để nghe nhưng không dám tiến lại gần hơn. Khi tôi bước vào phòng, ngài William nhìn lên và thấy tôi. Ông mỉm cười với tôi một cách mệt mỏi, tôi bước ngang căn phòng và ngước nhìn ông. Bà ngoại kế của tôi đứng sau lưng tôi, như thể bà sẵn sàng ủng hộ tôi.
“Giờ thì đây là việc phải làm”, ngài William nhẹ nhàng nói, và tôi nghĩ – tạ ơn Chúa, cuối cùng thì cũng có người biết rằng đây là một cuộc hôn nhân vì tình yêu, điều đó không có ý nghĩa gì khác trừ việc chúng tôi yêu nhau. Nó sẽ khiến Nữ hoàng bực mình bởi vì tất cả các tình yêu đều khiến bà bực mình, ngoại trừ loại tình yêu giả vờ đầy nhẫn tâm của chính bà. Nhưng đây là một người đàn ông hiểu biết, và ông biết rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi không có gì quan trọng trong thế giới rộng lớn này.
“Tôi xin lỗi vì tôi đã không xin phép”, tôi khẽ nói. “Cô đã kết hôn à?”, ông hỏi.
“Vâng, với Thomas Keyes.”
Một nụ cười hoài nghi thoáng qua gương mặt của vị chính khách cao niên. “Tôi nghĩ anh ta là người đàn ông to lớn nhất triều đình còn cô là công nương nhỏ bé nhất”.
“John Dee sẽ nói rằng chúng tôi là những con người đối lập bổ khuyết cho nhau”, tôi nói.
“Đây là một vi phạm rất lớn”, ngài William nói, gật đầu về phía cánh cửa đóng kín.
“Đây là một vi phạm rất nhỏ. Nữ hoàng có thể rất tức giận, nhưng không có lý do chính đáng.”
Ông cúi đầu trước sự chỉnh sửa của tôi.
“Tôi có thể vào không? Tôi có thể giải thích rằng đó chỉ là một vấn đề riêng tư.”
“Ta sẽ đưa cô ấy vào...”, bà ngoại kế của tôi đề nghị.
Blanche lắc đầu. “Bà ấy không muốn gặp cô đâu”, cô ấy nói ngắn gọn, “bà ấy đang rất giận dữ, Công nương Mary. Chuyện này, trên tất cả mọi sự...”.
“Chuyện này không là gì cả”, tôi quả quyết, “và mọi chuyện khác – nếu cô muốn nói đến cuộc hôn nhân của chị tôi với một nhà quý tộc trẻ – cũng không có lý do gì để gọi là phạm tội. Cuộc hôn nhân của Nữ hoàng Mary xứ Scots là một vấn đề tầm cỡ quốc gia nhưng không liên quan gì đến chúng tôi cả. Chị tôi và tôi đã hành động như những cá nhân riêng rẽ”, tôi nhìn quanh những người phụ nữ khác trong hậu cung, “không lẽ không ai trong chúng ta được kết hôn sao?”.
William Cecil hắng giọng. “Cô sẽ phải đi Windsor”, ông nói, “trong khi chờ Nữ hoàng điều tra”.
“Bà sẽ nói giúp cho cháu”, bà ngoại kế của tôi nói.
“Điều tra chuyện gì?”, tôi hỏi. “Đó một cuộc hôn nhân riêng tư, có nhân chứng. Gia đình chàng ở đó, một thị nữ làm nhân chứng cho tôi. Có một mục sư chứng thực đám cưới là hợp lệ. Ngài không cần phải điều tra gì cả. Tôi sẽ nói với ngài tất cả mọi chuyện. Keyes sẽ nói với ngài tất cả”.
William Cecil có vẻ mệt mỏi. “Có lẽ thế. Nhưng Nữ hoàng muốn cô đến Windsor trong khi bà ấy tiến hành điều tra”.
Tôi nắm tay ông và nhìn thẳng vào mắt ông: “Ngài William, ngài nói với chúng tôi rằng có một âm mưu của Tây Ban Nha nhằm tài trợ cho Nữ hoàng Scotland. Nữ hoàng Scotland đã kết hôn với người kế vị ngai vàng Scotland và đánh bại những người Kháng cách nổi loạn chống lại bà ấy. Đây có phải là lúc để ngài và Hội đồng Cơ mật lo lắng về tôi không?”.
“Về một cô gái nhỏ bé như cô sao?”, ông cười.
“Không ai nhỏ bé hơn tôi ở triều đình này, và chuyện tình cảm của tôi cũng không kém phần quan trọng hơn thế!”
“Bà ấy khăng khăng cho đòi cô”, ông nhẹ nhàng nói, “cô hãy thu xếp đồ đạc đi”.
Tôi muốn đi thẳng ra cổng gặp Thomas nhưng có hai phụ nữ đi theo tôi đến phòng để giúp tôi gói ghém sách vở, giấy tờ, quần áo và đồ trang sức. Sau đó, khi tôi đã sẵn sàng, có hai người lính gác ở cửa đưa tôi xuống cầu thang đi ra cổng. Tôi tìm Thomas ở cổng chính cung điện nhưng chàng không có ở đó, người đội phó đang làm nhiệm vụ không nhìn lên nên tôi không thể ra dấu với anh ta được. Căn phòng phía trên cửa cống, nơi chúng tôi sống với nhau như vợ chồng, cửa sổ không có ánh sáng, các cửa chớp đều đóng kín. Hoặc chàng ở đó, đang bị giam trong bóng tối, hoặc họ đã đưa chàng đến một nơi khác.
“Ta muốn gặp chồng ta, Thomas Keyes”, tôi nói với người lính đi bên cạnh tôi. “Ta ra lệnh”.
“Tôi nhận lệnh đưa bà đi thẳng ra sông và lên thuyền đến Windsor”, anh ta nói.
“Này trung sĩ”, tôi nhắc nhở anh ta, “với quyền yêu cầu quân đội và phẩm giá không thể xâm phạm, ta yêu cầu ngươi cho ta gặp anh ấy”.
Anh ta cúi đầu về phía tôi. “Họ đã đưa anh ấy vào thành phố”, anh ta khẽ nói. “Anh ấy đã đi rồi, thưa Công nương”.
LÂU ĐÀI WINDSOR
MÙA HÈ NĂM 1565
Tôi bị giam ở một khu vực gồm ba căn phòng đẹp nhìn ra khu thượng của lâu đài Windsor. Cánh cửa ra ngoài bị khóa vào ban đêm nhưng ban ngày có một lính gác đứng ngoài và anh ta sẽ đi cùng tôi nếu tôi muốn đi dạo trong vườn. Tôi được phép đi đến bất cứ nơi đâu trong lâu đài nhưng không được phép ra ngoài phố. Những căn phòng rất rộng, tôi có hai thị nữ và ba người hầu. Những căn phòng này tốt hơn rất nhiều so với những căn phòng của chị Katherine trong nhà viên trung úy cai ngục ở Tháp, tôi được tự do nhiều hơn chị Jane ở đó. Tôi rất vui khi không bị giam ở Tháp – là điều thật sự không thể chịu nổi. Tôi không thể đi theo con đường mà người chị bị cầm tù của tôi đã đi, tôi không thể thức dậy mỗi sáng để nhìn thấy thảm cỏ xanh nơi người chị tử vì đạo của tôi bị xử tử. Ít nhất ở đây vẫn tốt hơn.
Tôi sống lặng lẽ, tôi đến nhà nguyện của lâu đài hai lần một ngày. Tôi đi bộ đến đó với những người lính gác phía trước và phía sau. Tôi đọc sách, tôi học, tôi may vá và chơi nhạc. Không có gì để làm, nhưng ít nhất tôi không phải quỳ gối trước một bạo chúa căm ghét tôi.
Tôi viết thư cho chị Katherine rằng tôi cũng đã kết hôn vì tình yêu và tôi cũng không có ý gì sai trái ngoài việc muốn được sống hạnh phúc với một người đàn ông tốt. Tôi viết rằng tôi cũng đã khiến Nữ hoàng nổi giận nhưng tôi hy vọng bà sẽ tha thứ cho tôi và cũng sẽ tha thứ cho chị Katherine. Tôi đưa nó cho người chỉ huy lâu đài nhưng tôi không biết nó có vượt qua các gián điệp của Cecil để đến tay chị tôi không.
Tôi viết thư cho Thomas Keyes. Lá thư này khó viết hơn. Chàng không phải là một nhà thơ như Ned Seymour đáng thương. Mối tình của chúng tôi không có một từ hay một câu lãng mạn nào. Vì vậy, tôi viết ngắn gọn và tôi không mong đợi ai có thể gởi thư của tôi cho chàng cả. Nếu tôi chỉ viết cho các gián điệp thì điều đó không có ý nghĩa gì hết. Thomas không cần sự bảo đảm cho tình yêu của tôi, tôi cũng không cần sự bảo đảm cho tình yêu của chàng. Chúng tôi yêu nhau, chúng tôi đã kết hôn, chúng tôi biết rõ trái tim của nhau. Dù lá thư ngắn đến thế nào, chàng vẫn biết tôi yêu chàng say đắm và cuồng nhiệt như một nhà thơ vĩ đại nhất, dù chỉ vài dòng vắn tắt.
Phu quân yêu dấu của em,
Em đang bị giam giữ tại Lâu đài Windsor theo lệnh của Nữ hoàng. Em hy vọng bà sẽ sớm ân xá cho cả hai chúng ta, ngay khi bà ấy biết rằng chúng ta không có ý định xấu xa nào với cuộc hôn nhân này mà chỉ mong được hạnh phúc.
Em nhớ chàng rất nhiều. Em rất yêu chàng. Em không hối tiếc về cuộc hôn nhân của chúng ta (trừ việc điều đó khiến Nữ hoàng không hài lòng). Chàng là trái tim nồng nàn trong một thế giới vô cảm.
Vợ của chàng, Mary
Những cành cây trong công viên rực rỡ như những sợi dây chuyền màu đồng và vàng của Nữ hoàng, những bông hoa trong vườn bách thảo mất dần màu sắc sặc sỡ, những cánh hoa rụng đi và chúng trở thành những đầu gậy tơi tả. Mùa hè với chuỗi ngày dài nắng ấm dần kết thúc. Mỗi ngày, tôi leo lên các bậc thang xoắn lên đến đỉnh tháp, nơi tôi có thể ngắm dòng sông và những con thuyền qua lại. Dù tôi luôn mong đợi vào mỗi hoàng hôn nhưng chiếc thuyền hoàng gia không bao giờ đến đón tôi.
Một buổi tối, khi tôi đang quay về phòng, viên chỉ huy lâu đài ngăn tôi lại và bảo tôi thu xếp đồ đạc để chuẩn bị đi vào sáng hôm sau.
“Tôi được thả à?”, tôi hỏi anh ta.
Anh ta cúi đầu để che giấu sự bối rối, và tôi biết tôi không được thả. “Đến ở với Ngài William Hawtrey”, anh ta khẽ nói, “một thời gian ngắn, theo những gì tôi hiểu”.
“Tại sao?”, tôi xẵng giọng.
Anh ta lại cúi đầu: “Thưa Công nương, họ không nói với tôi lý do”. “Nhưng tại sao lại là Ngài William Hawtrey?”
Anh ta khoát tay làm một cử chỉ bất lực: “Tôi không biết gì khác ngoài việc tôi phải hộ tống Công nương đến nhà ông ấy”.
“Có vẻ như tôi cũng chẳng biết gì.”
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA THU NĂM 1565
Chúng tôi mất cả ngày để cưỡi ngựa đi từ Windsor, qua sông và qua Chiltern Hills. Niềm hạnh phúc của tôi quay trở lại ngay khi tôi được leo lên lưng ngựa, ngắm nhìn đường chân trời xanh ngắt, những đống rơm to trên cánh đồng và những ngôi làng nhỏ gọn gàng xinh xắn nơi dân chúng chạy ra ngoài để nhìn tôi và những người lính đi ngang qua. Người giữ ngựa cưỡi một con ngựa đi bên cạnh tôi và người hầu gái của tôi ngồi sau lưng một trong những người lính áp giải.
Chúng tôi không mang một dấu hiệu nào cả, vì vậy nên không ai biết tôi là tù nhân của Nữ hoàng. Đây là một dấu hiệu khác cho nỗi sợ của Nữ hoàng Elizabeth. Bà không muốn vương quốc biết rằng bà đã bắt giữ thêm một người họ hàng của mình nữa mà không có lý do chính đáng. Ngay từ khi chị Katherine vừa mới bị bắt giam, người dân đã yêu cầu trả tự do cho chị ấy và nại rằng không nên bắt giữ Margaret Douglas vì con trai bà kết hôn với đối thủ của Nữ hoàng. Nhưng tôi không mong đợi ai đó có thể kêu gọi cho tôi giống như khi họ kêu gọi cho chị Katherine hoặc chị Jane. Không ai có thể đến cứu tôi cả: Tất cả bạn bè của tôi đều thuộc triều đình của Nữ hoàng Elizabeth, dưới quyền sinh sát của bà. Gia đình tôi hoàn toàn ly tán. Người thân nhất và đáng tin cậy nhất của tôi là chồng tôi, và tôi không biết chàng đang ở đâu, cũng không biết làm thế nào để gởi một lá thư đến cho chàng.
Ngài William Hawtrey, một người tốt bụng tầm bốn mươi lăm tuổi, với người vợ trẻ giàu có đứng sau, đón chào tôi trước ngưỡng cửa tòa nhà xinh đẹp Chequers của ông và cầm tay tôi đưa vào nhà. Ông đối xử với tôi bằng một thái độ phức cảm kỳ quặc nửa tôn kính nửa lo lắng – vì tôi là em gái người kế vị ngai vàng duy nhất – nhưng ông buộc phải đồng ý giam giữ tôi như một tù nhân.
“Đường này”, ông nói một cách thân mật, đưa tôi lên cầu thang tới cánh đông bắc của lâu đài. Ông mở cánh cửa dẫn vào một căn phòng nhỏ xíu, chỉ vừa đủ cho một chiếc giường, một cái bàn và một cái ghế. Ngay lập tức, tôi lùi lại.
“Phòng của tôi đâu?”, tôi hỏi ông. “Tôi không thể ở đây được”.
“Nữ hoàng ra lệnh thế”, ông nói một cách không thoải mái, “tôi nghĩ cô sẽ chỉ ở đây một hoặc hai đêm. Không có phòng nào khác an toàn hơn...”, giọng ông ấy kéo dài.
“Ngài William”, tôi nghiêm túc nói, “tôi không làm gì sai cả”.
“Tôi chắc chắn thế”, ông ấy nhẹ nhàng đáp, “và vì vậy nên chắc chắn cô sẽ được ân xá và triệu hồi về triều đình. Cô chỉ ở đây một chút thôi, một hoặc hai ngày”.
Tôi nhìn quanh. Người hầu gái của tôi do dự đứng ở ngưỡng cửa; trong phòng không có chỗ để cô ấy phục vụ tôi.
“Người hầu của cô sẽ ở gần đây, và cô ấy sẽ ở cùng cô vào ban ngày, phục vụ các bữa ăn cho cô”, ngài Wilhelm nói, “cô có thể đi dạo trong vườn nếu cô thích, vì sức khỏe của cô”.
“Tôi không thể sống như thế này được”, tôi nói.
“Vâng, không thể như thế được!”, ông trấn an tôi. “Cô chỉ ở đây một thời gian ngắn thôi. Chắc chắn bà ấy sẽ tha thứ cho cô và cô sẽ quay lại triều đình”.
Ông khoát tay một lần nữa chỉ lối cho tôi, và tôi bước vào phòng. Tôi có cảm giác thật kinh khủng khi ông chạm vào người tôi. Tôi ghét bị xô đẩy hoặc bị nhấc người lên. Không ai được phép nghĩ rằng họ có thể nhấc tôi lên và đặt tôi xuống bất cứ nơi nào họ muốn mà không có sự đồng ý của tôi. Tôi đi đến ô cửa sổ nhỏ, leo lên một chiếc ghế đủ cao để có thể nhìn ra khu công viên. Nó đẹp như Bradgate, như nhà tôi. Chúa ơi, tôi cảm thấy dường như đã rất nhiều năm trôi qua kể từ khi chị Jane, chị Katherine và tôi còn là những đứa trẻ thơ trong gia đình.
Tôi có thể ngắm hoàng hôn qua những vuông cửa sổ nhỏ trên cao. Đó là một buổi tối tuyệt đẹp, mặt trời lặn xuống và mặt trăng mọc lên. Tôi nhìn ánh trăng và thầm ước, như tôi vẫn thường làm khi còn nhỏ, và chị Jane bảo tôi đó là một việc làm vô nghĩa ngoại đạo, rằng tôi nên cầu nguyện cho những ước muốn của mình thay vì phung phí suy nghĩ cho những mơ ước hão huyền. Ngôi sao Hôm lấp lánh như một viên kim cương nhỏ ở đường chân trời, tôi cầu xin ngôi sao ban cho tôi tự do, cũng như cầu xin tất cả những ngôi sao trên bầu trời đem đến những điều tốt lành cho Thomas.
Có tiếng gõ cửa và tiếng cánh cửa mở ra sau lưng khiến tôi quay lại. Ngài William trông có vẻ mệt mỏi và lo lắng: “Tôi đến để đảm bảo rằng cô có mọi thứ cô cần”.
Tôi gật đầu mà không trả lời. Đó là một bữa tối đạm bạc, và ông ấy biết điều đó. Một người thuộc dòng dõi hoàng tộc nên được phục vụ hai mươi món ăn. Tôi đã ăn bữa tối hôm nay như một phụ nữ nghèo khổ.
“Tôi sẽ viết thư cho Nữ hoàng xin được thả”, tôi nói, “ngài có thể nhận thư của tôi và gởi giúp tôi đến bà ấy không?”.
“Tôi sẽ giúp”, ông nói, “và tôi sẽ viết thêm một lá thư thỉnh nguyện của riêng tôi. Bà ấy cần phải thể hiện lòng bao dung với cô, chị cô, Phu nhân Margaret, và cậu con trai nhỏ của Phu nhân Margaret nữa”.
Tôi cảm thấy lo lắng về cậu bé. “Ngài không định nói về Charles Stuart chứ? Cậu bé không thể bị bắt được? Đó chỉ là một đứa trẻ”.
Gương mặt ông có vẻ không vui trong khi ông gật đầu nói rằng: “Cậu bé đang bị giam giữ tại một ngôi nhà ở miền bắc”.
“Cậu bé chỉ mới mười tuổi thôi!”, tôi kêu lên. “Mẹ cậu đang ở Tháp London, cha và anh cậu ở Scotland – tại sao Nữ hoàng không để cậu ấy ở nhà với những người hầu và bạn bè? Cậu không hề mạnh mẽ và đang phải sống một mình giữa thế giới này. Cậu ấy không đe dọa ai cả. Hẳn cậu ấy đã rất cô đơn và sợ hãi, ở một mình trong chính ngôi nhà của mình. Tại sao lại phải đưa cậu ấy đến một ngôi nhà xa lạ và gọi cậu ấy là một tù nhân chứ?”.
Chúng tôi im lặng. Cả hai chúng tôi đều biết tại sao. Một lời cảnh báo với tất cả chúng tôi rằng sự tức giận của Nữ hoàng sẽ đổ lên đầu chúng tôi và thậm chí cả con cái chúng tôi, kể cả những đứa trẻ vô tội. Một lời cảnh báo với tất cả chúng tôi rằng bà là một Herod hung tàn, sẵn sàng giết hại cả trẻ con. Bà không yêu thương bất cứ người họ hàng nào cho đến khi họ chết đi và chỉ khi đó bà mới tôn vinh họ bằng một lễ tang trọng thể. Bà không thích những người họ hàng của mình ở bất cứ nơi đâu ngoài nhà ngục. Bà chỉ yêu thương họ khi họ nằm trong những nấm mồ.
Ngài William lắc đầu: “Chắc chắn, tôi mong bà ấy sớm thả tất cả những người họ hàng của mình”.
Tôi viết thư cho William Cecil xin ông bày tỏ với Nữ hoàng rằng chị Katherine và tôi chưa bao giờ nói một lời nào hay có âm mưu chống lại bà, rằng – không như Nữ hoàng Scotland hay Phu nhân Margaret – chúng tôi chưa bao giờ nói về việc đến gần ngai vàng. Cả hai chúng tôi đều đã yêu, nhưng đó không phải là một cái tội. Chúng tôi kết hôn không có sự cho phép của bà, nhưng điều đó không phạm pháp.
Tôi nhận được một mẩu tin ngắn gọn không ký tên, trả lời rằng chị tôi và con trai nhỏ của chị đang mạnh khỏe ở Ingatestone, con trai lớn của chị đang ở cùng bà nội tại Hanworth, chồng chị vẫn bị giam ở London. Chồng tôi, Thomas Keyes, đang ở Nhà tù Fleet. Người vô danh viết rằng Nữ hoàng sẽ được thỉnh cầu đưa tất cả chúng tôi sang một hình thức giam giữ thoải mái hơn – nhất là Thomas Keyes, hiện đang rất tù túng. Việc này sẽ được đưa ra trước Nữ hoàng “ngay khi thuận tiện”.
Tôi ngồi trong căn phòng nhỏ với mẩu giấy trong tay rất lâu trước khi có thể lấy lại nhận thức và ném nó vào lò sưởi. Tôi hiểu Nữ hoàng vẫn đang ở trong một tâm trạng ác độc đến mức không ai dám đề nghị bất cứ điều gì với bà, kể cả William Cecil. Tôi biết một điều khác – một điều mà tôi đã biết – rằng bà không hề có chút tử tế hay rộng lượng nào với tôi hay với chị tôi. Và giờ thì tôi biết Thomas cũng đang phải chịu đựng vì tôi. Tôi tự hỏi chính xác người viết thư muốn nói gì khi dùng chữ “tù túng”. Tôi e rằng họ đã đưa Thomas vào một căn phòng nhỏ. Nhà tù Fleet có những xà lim ẩm thấp có chuột chạy quanh sàn. Có phải họ đã bỏ người chồng to lớn đẹp trai của tôi vào một cái lồng không?
Chàng sẽ cảm thấy nhục nhã, tôi biết, khi bị giam ở Nhà tù Fleet – một nhà tù thông thường dành cho bọn tội phạm thứ dân, làm đồ giả và những kẻ say rượu. Hôm sau, khi ngài William đến, trước khi bữa tối đạm bạc của tôi được dọn ra, tôi hỏi ông có tin gì về Thomas Keyes không.
Tôi nhận ra vẻ lo lắng của ông. Ánh mắt ông nhìn xuống sàn, gương mặt ông hằn lên những nếp nhăn khắc khoải, ông vuốt mái tóc xám bạc. “Tôi không có tin tức gì cả, tôi chỉ nghe tin đồn”, ông bắt đầu nói.
“Làm ơn cho tôi biết”, tôi nói. Tôi cảm thấy một cơn đau lan từ bụng đến cổ họng và tôi nhận ra đó là một nỗi đau, một sự khao khát. Tôi yêu Thomas và tôi đã làm hại chàng. Tôi không bao giờ nghĩ tôi sẽ ước rằng chúng tôi đừng kết hôn với nhau, nhưng tôi sẽ học cách ước điều đó, nếu chàng đang phải chịu khổ vì tôi.
“Xin nói với tôi tất cả những gì ngài biết, thưa ngài William.”
“Họ giam anh ta vào Nhà tù Fleet”, ông nói, “nhưng ít nhất mùa đông đang đến và mùa bệnh dịch đã qua”.
Vậy là bức thư nói đúng, vì tôi biết sự thật là. Nhà tù nơi giam giữ Thomas nằm trên sông Fleet, dòng sông dơ bẩn nhất London, ẩm ướt và rất lạnh vào mùa đông. Tù nhân phải tự trả tiền cho củi đốt và chăn mền. Nếu gia đình Thomas không gởi tiền và thức ăn vào, chàng sẽ chết đói. Chàng không phải là một thanh niên trẻ; chàng sẽ đổ bệnh trong một căn phòng chật hẹp ở đó.
“Họ giam anh ta trong một xà lim rất nhỏ”, ngài William nói rất khẽ. Ông liếc nhìn quanh căn phòng của tôi, một không gian nhỏ hẹp vừa đủ chiều dài chiếc giường, một cái bàn và một cái ghế tấn vào trong góc, một cửa sổ nhỏ trên cao với một không gian gò bó. “Tất nhiên, anh ta là một người to lớn”.
Tôi nghĩ về lần đầu tiên tôi gặp Thomas, dáng đứng hộ pháp trước cổng Cung điện Whitehall, hai ngón tay cái đặt lên sợi thắt lưng da sáng bóng, đôi vai rộng vuông vức của chàng, vóc dáng hiên ngang của chàng, phong thái oanh liệt của chàng. Là một người to lớn nhưng chàng rất nhanh nhẹn, suy nghĩ dứt khoát. Tôi nhớ cách chàng mỉm cười khi gặp tôi, cách chàng quỳ một chân xuống để nói chuyện với tôi.
“Căn phòng của chàng nhỏ đến mức nào?”. Tôi không thể tưởng tượng được những gì ngài William đang nói với tôi, “chính xác là nhỏ cỡ nào?”.
Ông hắng giọng. “Anh ta không thể đứng thẳng trong đó”, ông miễn cưỡng nói, “anh ta phải cúi đầu xuống. Vì người anh ta quá dài, nên anh ta không thể nằm duỗi thẳng người. Anh ta phải co người lại”.
Tôi nhớ Thomas, chân chàng luôn thò ra ngoài giường. Chàng cao hơn hai mét. Họ không giam chàng, mà họ đang đè bẹp chàng.
“Chàng sẽ rất đau đớn”, tôi nói.
“Và họ không cho anh ta ăn”, Cecil cúi đầu nói. “Anh ta phải săn thú và những con chim nhỏ bằng một chiếc ná cao su từ cửa sổ xà lim để có thịt ăn”.
Tôi đặt tay lên miệng để kiềm một cơn nôn ọe chực chờ. “Đó là một án tử hình”, tôi nói thầm.
Ngài William gật đầu: “Tôi rất tiếc, thưa Công nương”.
Và như thế, bà ấy đã thắng. Tôi sẽ phủ nhận cuộc hôn nhân của tôi và cầu xin bà tha thứ như một nô tỳ. Bà có thể xem tôi là một người lùn trong triều đình, một món đồ chơi. Nếu bà thả Thomas trước khi chàng bị hủy diệt, tôi sẽ đồng ý không bao giờ gặp lại chàng nữa, và không bao giờ nhắc đến tên chàng. Tôi viết cho William Cecil một lá thư, trong đó tôi hạ mình xuống mức thấp nhất. Tôi cầu xin sự tha thứ như thể tôi là tội nhân của một sự sắp đặt xấu xa nhất. Tôi nói tôi thà chết còn hơn khiến bà bực mình. Tôi ký tên bằng tên thời con gái của tôi, tên cũ của tôi, Mary Grey. Tôi không đề cập đến Thomas. Tôi cho thấy rằng chàng không là gì của tôi cả, rằng tôi đã quên chàng, rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi không bao giờ có thật. Và rồi tôi chờ đợi. Tôi phải đợi xem liệu bà có rộng lượng với chiến thắng toàn cục này hay không, dù trước giờ bà chưa bao giờ rộng lượng với ai.
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA ĐÔNG NĂM 1565
Agnes Hawtrey không mấy tử tế gì với tôi, vì việc tôi ở đây không nằm trong phạm vi quản gia của bà, và những người hàng xóm đến thăm bà nhân Giáng sinh có thể không gặp tôi. Bà không được lợi lộc gì khi có tôi trong nhà cả; thậm chí bà không thể cho tôi ra ngoài. Nhưng vì tôi là người duy nhất ngoài bà cô già sẽ lắng nghe những tin đồn mà bà nghe được từ London nên bà phải đến với tôi để có thể thỏa mãn cơn thèm nói của mình.
“Tôi phải nói với cô”, bà nói, “tôi phải nói với ai đó – dù cô không bao giờ được nói với chồng tôi hay bất cứ ai, rằng tôi đã nói chuyện với cô về Nữ hoàng”.
“Tôi sẽ không nghe những điều phản nghịch!”, tôi đáp nhanh. “Tôi không muốn nghe”.
“Đây không phải chuyện phản nghịch mà là những tin tức đã lan truyền”, bà đáp lại. “Lord Robert Dudley đã cầu hôn Nữ hoàng và bà ấy đã đồng ý kết hôn với ông ấy vào dịp lễ Candlemas82*”.
82* . Lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh, còn gọi là Lễ Nến hay Lễ Thanh Tẩy. Đây là lễ kính nhớ việc Đức bà Maria được thanh tẩy theo luật Môsê, 40 ngày sau khi sinh Đức Giêsu.
“Không!”, tôi nói. “Hẳn bà nghe nhầm rồi. Tôi có thể thề rằng bà ấy sẽ không bao giờ kết hôn với ông ấy hay bất cứ ai cả”.
“Bà ấy sẽ cưới! Bà ấy sẽ cưới! Họ sẽ kết hôn trong lễ Candlemas.” “Bà nghe tin này ở đâu?”, tôi nghi ngờ.
“Rất nhiều người biết”, bà nói, “chính chồng tôi đã nói với tôi, nhưng tôi cũng nghe từ một người bạn có một người họ hàng phục vụ Công tước Norfolk, ông ấy thề rằng cuộc hôn nhân không được diễn ra nhưng lại không thể ngăn cản được. “Ồ!” đột nhiên bà chợt nghĩ ra, “thế còn cô? Nếu bà ấy kết hôn, bà ấy có thả cô không?”.
“Không có lý do gì bà ấy không thả tôi ra ngay bây giờ”, tôi nói. “Tôi không thể là đối thủ của bà ấy trong chuyện tình cảm với ngài Robert. Nhưng chắc chắn, nếu bà ấy kết hôn và có con trai thì sẽ lại càng không có lý do gì để giam giữ tôi hay chị tôi. Nếu bà ấy kết hôn, bà ấy cũng nên cho phép các thị nữ của mình kết hôn”.
“Đó sẽ là một đám cưới rất hoành tráng!”, bà kêu lên. “Chắc chắn bà ấy sẽ ân xá cho các tù nhân nhân dịp đám cưới”.
“Candlemas”, tôi nói, nghĩ đến Thomas, đang nằm co ro trong căn phòng lạnh lẽo, trên sàn nhà ẩm ướt, và chịu đói khát, “đến tận tháng Hai, còn lâu lắm!”.
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA XUÂN NĂM 1566
Không có bữa tiệc Giáng sinh nào dành cho tôi tại Chequers. Tôi e rằng cũng không có gì vui cho chị tôi ở Ingatestone hay cho chồng chị ấy ở London tại nhà Ngài John Mason. Có lẽ Teddy ở Hanworth sẽ nhận được một món quà Giáng sinh nhỏ từ bà nội, có thể là một chiếc bánh quy gừng; nhưng giờ thì cậu bé biết rằng cậu sẽ không bao giờ nhận được một lời chúc Giáng sinh từ cha hay mẹ mình. Tôi biết chồng tôi, Thomas, sẽ rất lạnh và đói. Khi thời tiết trở lạnh và tuyết rơi vào tháng Giêng, tôi nghĩ đến chàng đang cúi xuống ô cửa sổ nhỏ, nhìn ra để xem có bắt được một con chim sẻ để lấy một mẩu thịt trên những mảnh xương nhỏ của nó không. Tôi nghĩ chàng sẽ bẫy và ăn thịt chuột. Tôi nghĩ chàng đang ngồi bên một ngọn lửa bé xíu và cố gắng làm ấm cơ thể. Tôi nghĩ chàng đang nằm co quắp trên chiếc giường vào buổi tối, với nỗi đau lạ lùng khi cơ thể không bao giờ được duỗi thẳng, đứng cả ngày phải cúi đầu, ngủ với đôi chân gấp lại.
Tôi cũng nghe một ít tin vui từ triều đình ở London. Nữ hoàng Elizabeth ôm nỗi ghen tị tuyệt vọng với những tin tức từ Edinburgh rằng vị Nữ hoàng đối thủ của bà đang mang thai. Nữ hoàng Mary xứ Scots và người chồng trẻ, Công tước Henry Darnley, sắp sinh cho Scotland một người kế vị hoàng gia, và nước Anh sẽ có thêm một đứa trẻ có quyền giành ngai vàng của Nữ hoàng Elizabeth. Khi ngài William cho tôi biết điều này, trong một khoảnh khắc hiếm hoi tôi thấy vui mừng khi mình không còn ở triều đình nữa. Tôi không thể tưởng tượng được những đau khổ mà các thị nữ sẽ phải chịu đựng trong tay Nữ hoàng Elizabeth nếu Nữ hoàng Mary sinh con trai. Ước gì tôi có thể ở bên chị Katherine và nghe tiếng chị cười khúc khích khi nghĩ về điều đó. Ngay khi Nữ hoàng Elizabeth từ chối những người kế vị, chúng tôi sẽ sinh ra những người kế vị mới. Câu chuyện sẽ rất vui nếu nó không trở nên quá cay đắng.
Robert Dudley vẫn tự tin rằng Nữ hoàng Elizabeth sẽ kết hôn với ông trong lễ Candlemas theo lời hứa của bà; nhưng tháng Giêng đến rồi đi và Candlemas cũng trôi qua mà không có động tĩnh gì từ Nữ hoàng Elizabeth. Tôi không biết bà đã trì hoãn ông ấy như thế nào – có thể một lời hứa khác hoặc một lần thoái thác đầy thuyết phục khác – nhưng mục sư của bà có một bài thuyết giảng rằng Candlemas không còn tồn tại nữa, bây giờ đó là một trò dị giáo, vậy nên có lẽ lời hứa hôn với Robert cũng biến mất cùng với truyền thống cũ.
Sự kình địch cáu kỉnh của Nữ hoàng Elizabeth biến thành nỗi sợ hãi khi Nữ hoàng Mary tuyên bố mình là Nữ hoàng hợp pháp của Anh. Vấn đề ai được chọn làm người kế vị Nữ hoàng Elizabeth đột nhiên trở nên không còn phù hợp khi Nữ hoàng Mary tuyên bố Nữ hoàng Elizabeth là kẻ tiếm quyền. Tuyên bố đó lại được sự ủng hộ của Đức Giáo hoàng mới, Pius V, và vì vậy tất cả các nước châu Âu đều quay lại chống Nữ hoàng Elizabeth. Người Tây Ban Nha ủng hộ Nữ hoàng Mary vì đức tin của cô ấy; người Pháp ủng hộ cô ấy vì lý do gia đình; và phân nửa nước Anh đứng lên vì cô ấy nếu cô ấy lãnh đạo một đội quân Công giáo tràn qua biên giới.
Cô ấy có thể khơi mào một cuộc thánh chiến ngay giữa trung tâm nước Anh và giành ngai vàng một cách hợp pháp với sự ban phước của Giáo hội Thiên Chúa giáo. Tất nhiên, tất cả những gì tôi nghĩ, khi tôi được phép vào khu vườn phủ băng để đi dạo khoảng nửa tiếng đồng hồ, là những sai phạm của tôi và chị Katherine chẳng là gì so với lời tuyên chiến của Nữ hoàng Mary. Nhưng tôi biết tuyên bố này sẽ khiến Nữ hoàng Elizabeth chìm ngập trong một nỗi kinh hoàng vì ghen ghét đối với Nữ hoàng Mary. Bà sẽ không nghĩ đến điều gì khác. Bà sẽ không nói về người nào khác. Bà sẽ không thương xót bất cứ ai.
Tôi viết thư cho William Cecil, nhắc ông rằng chị Katherine và tôi không làm gì để giành quyền kế vị Nữ hoàng Elizabeth cả, rằng chúng tôi không bao giờ đòi quyền lợi, rằng chúng tôi là những tín đồ Kháng cách, cùng tôn giáo với ông và Nữ hoàng, rằng nếu bà ấy bị đe dọa bởi những người họ hàng Công giáo, bà có thể tin vào tình bạn của chúng tôi; bà có thể cho mọi người thấy bà ủng hộ tôn giáo chung của chúng tôi. Chúng tôi có thể đứng bên cạnh bà, trước triều đình. Chúng tôi có thể ủng hộ quyền hợp pháp của bà với ngai vàng. Cuối cùng, tôi viết rằng tôi cầu xin ông – không ngoài chuyện gì khác – cho phép Thomas Keyes qua một xà lim lớn hơn và được phép đi dạo bên ngoài.
Tôi viết: Tôi từ bỏ chàng. Hãy xem cuộc hôn nhân của chúng tôi đã bị hủy như thể nó chưa bao giờ xảy ra. Tôi sẽ không bao giờ gặp lại chàng lần nào nữa nếu ngài thả chàng ra.
Một lần nữa, tôi ký tên là Mary Grey, phủ nhận tình yêu của tôi, phủ nhận cuộc hôn nhân của tôi, phủ nhận chính mình. Một lần nữa, tôi lại chờ đợi tin.
Tôi cảm thấy mình thật ngốc khi không lường trước được những chuyện sẽ xảy ra tiếp theo. Các gián điệp của William Cecil đùa với Công tước Darnley như thể anh ta là một chú chó kiểng giống như chú chó Jo của chị tôi. Họ huấn luyện anh ta, dạy anh ta những tiểu xảo. Trước tiên, họ chế nhạo tính cách đàn ông ẻo lả của anh ta, nói rằng anh ta không thể làm vua thực sự nếu anh ta sợ vợ, và giờ thì Nữ hoàng Mary đã từ chối phong tước hiệu hoàng thân cho anh ta. Họ thề rằng cô ấy không hề phụ thuộc vào anh ta, người đàn ông mà Chúa đã trao cho cô, mà phụ thuộc vào viên cố vấn, cũng là thư ký của cô ấy, David Rizzio. Họ nói rằng cô ấy nghe lời người đàn ông Ý này, rằng cô ấy thích anh ta hơn người chồng trẻ, thậm chí đã ăn nằm với anh ta; có thể đứa bé cô ấy mang thai là con anh ta chứ không phải con của Stuart. Họ nhồi nhét vào cái đầu đồi bại say sưa của anh ta những ảo tưởng về sự tham lam và phản bội, đến mức anh ta lao vào cung của cô ấy với một khẩu súng sáu phát đã nạp đạn, chĩa thẳng vào cái bụng đang mang thai của cô ấy và bắt cô phải giao nộp Rizzio cho anh ta. Tất nhiên, Cecil và Elizabeth sẽ không quan tâm nếu khẩu súng bị cướp cò và giết chết đứa bé lẫn Nữ hoàng như một tai nạn ngẫu nhiên. Darnley, cậu bé xinh đẹp, cùng với nửa tá bạn bè, lôi viên thư ký của Nữ hoàng ra khỏi hậu cung của cô ấy trong khi ông ta đang gào thét kêu cứu, bám lấy chiếc váy của cô, và họ đâm anh ta đến chết trên cầu thang riêng của Nữ hoàng. Một cái chết khủng khiếp, một âm mưu khủng khiếp. Đó là cách mà Elizabeth và vị cố vấn của bà đối phó với những thách thức chính trị nghiêm trọng. Tôi nên vui mừng vì chị tôi và tôi chỉ bị giam cầm mà thôi.
Tôi hy vọng anh rể tôi, Ned Seymour, có thể được thả ra. John Mason, người giám hộ rất căm ghét anh, đã chết, và hội đồng không tìm được người thay thế. Không ai muốn canh giữ một nhà quý tộc Anh không hề bị buộc tội và cũng không có lý do chính đáng. Tôi hỏi Phu nhân Hawtrey xem các bạn của bà ở triều đình có nghĩ rằng Nữ hoàng có thể đưa Ned đến giam chung với chị Katherine hay không. Nếu được ở chung với anh ấy thì việc giam cầm của chị sẽ hoàn toàn thay đổi. Mỗi tháng tôi đều nghe nói chị ngày càng suy sụp và đắm chìm hơn trong đau buồn và cô đơn. Agnes nói không – Nữ hoàng Elizabeth sẽ không mạo hiểm thêm một cậu con trai nhà Seymour, một người kế vị ngai vàng nữa. Nhưng tôi nghĩ bà đã sai. Chắc chắn Nữ hoàng Elizabeth, với những tin tức như vậy từ Scotland, sẽ phải thả Ned và sau đó là tất cả chúng tôi. Bà phải cho đất nước thấy rằng bà ủng hộ đại nghiệp Kháng cách chống lại những yêu sách của Công giáo.
Nữ hoàng Mary đã củng cố sự nghiệp của cô ấy và xoay chuyển âm mưu đó. Cô ấy khéo léo sửa đổi chồng mình, cậu bé Darnley yếu đuối, thành một con người hoàn toàn khác. Cô ấy phủ nhận nỗi sợ hãi kinh hoàng khi anh ta có thể tấn công cô và giết chết viên cố vấn trung thành của cô, kéo anh ta ra khỏi vòng tay say xỉn của những gã bạn xảo trá. Giờ thì anh ta hoàn toàn chống lại họ, phủ nhận mọi liên quan trong vụ tấn công vợ mình và viên cố vấn bị ám sát của bà. Nữ hoàng Mary tự thân chống đỡ trước những kẻ phản bội và giành lại sự ủng hộ của các quý tộc Kháng cách ở Scotland. Cô ấy nhanh chóng và can đảm đánh bại mọi kẻ thù, đồng thời kết bạn với nhiều người khác. Còn Nữ hoàng Elizabeth, cố gắng giữ vững lập trường trong tình thế khó khăn này, loan tin với mọi người rằng bà rất đau buồn vì những sự kiện khủng khiếp ở Scotland và lo sợ cho sự an nguy của cô cháu họ yêu dấu. Bà công khai kêu gọi Nữ hoàng Mary nên cẩn thận, nhất là trong lúc đang mang thai.
Tất nhiên, việc đó không đánh lừa được ai cả, nhưng nó khiến mọi người tự hỏi liệu Nữ hoàng Mary xứ Scots có dám đưa đạo quân chiến thắng của cô ấy về phương nam, vượt qua biên giới và xâm lược chúng tôi hay không. Cô ấy gọi Nữ hoàng Elizabeth là con hoang và là kẻ tiếm quyền. Cô ấy xem Nữ hoàng Elizabeth là kẻ thù của cô, một người dọn đường cho cô bằng những vụ ám sát và những lời khuyên đen tối. Nữ hoàng Mary đã tích lũy được sức mạnh của bản thân. Cô ấy sẽ làm gì tiếp theo?
Tôi không thể không tự hỏi liệu cô ấy có tiến chiếm nước Anh và các tín đồ Công giáo có đứng lên chào mừng cô ấy như một người giải phóng, một vị cứu tinh hay không. Và nếu cô ấy đến, nếu cô ấy chiến thắng, liệu cô ấy có cho phóng thích những người họ hàng khác không? Đầu tiên, cô ấy sẽ giải phóng mẹ chồng cô, Margaret Douglas, sau đó thì sao – tại sao không phải là chị Katherine và tôi? Liệu cô ấy, với đứa con trong bụng, có rủ lòng thương xót những đứa cháu nhỏ của tôi không? Tôi không thể tưởng tượng khi nghĩ một Nữ hoàng Công giáo có thể giải phóng những người em gái của Jane Grey. Chắc chắn cô ấy không thể là một người họ hàng hay một nữ hoàng tồi tệ hơn Nữ hoàng Elizabeth.
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA HÈ NĂM 1566
Ngày bắt đầu sớm hơn và tôi ngắm những cành cây từ ô cửa sổ nhỏ của mình, từ những vệt xanh mờ nhạt chuyển dần thành những đám lá non mùa xuân đầy sức sống. Khi đi dạo trong vườn, tôi choàng một chiếc khăn mỏng qua vai thay cho chiếc áo khoác nặng nề, tiếng chim hót rộn rã xung quanh tôi. Một buổi sáng, tôi nghe tiếng chim cu gáy rất to và khác thường làm tôi bỗng nhớ lại những ngày ở Bradgate, khi chị Katherine kéo tay tôi nhảy qua các luống đất trên một cánh đồng mới cày và nói: “Nhanh lên! Nhanh lên! Có thể chúng ta sẽ nhìn thấy nó. Nhìn thấy một chú chim cu là một điềm may mắn đấy!”.
Tôi khao khát được tự do vào mùa xuân này. Tôi nhìn những chú thỏ nhà bên dưới các bụi cây xanh và những chú thỏ rừng nhảy nhót giữa sương mù sáng sớm. Tôi nghe tiếng cáo kêu buổi tối và những con cú gọi tình và bay từ ống khói này sang ống khói khác. Tôi nhận thức rõ về tuổi thanh xuân của mình, sự tươi mát của chính mình trong quãng thời gian rực rỡ sinh lực này. Buổi tối tôi không ngủ được vì nhớ Thomas. Chúng tôi có quá ít thời gian bên nhau, nhưng làn da tôi vẫn nhớ từng đụng chạm với chàng. Tôi muốn yêu chồng tôi. Tôi muốn nằm bên cạnh cơ thể to lớn của chàng. Tôi không quan tâm chúng tôi sống ở đâu, tôi không quan tâm nếu chúng tôi nghèo khổ, tôi không quan tâm nếu chúng tôi bị thất sủng. Chỉ cần tôi được tự do với chàng, tôi sẽ rất hạnh phúc.
Và rồi tôi nhận được một vài tin vui, có lẽ là sự khởi đầu của những niềm vui đối với tôi, nhẹ nhàng như những cành cây xanh đang đâm chồi nảy lộc. Người giám hộ chị Katherine, Ngài William Petre ở Ingatestone, quá ốm yếu nên không thể giữ chị trong nhà ông lâu hơn nữa. Có lẽ Chúa đã không quên chúng tôi là những người kế vị. Ned không có người giám hộ, và giờ thì chị Katherine cũng vậy. Tôi thực sự nghĩ rằng chị tôi có thể đến ở với tôi, hoặc tất cả chúng tôi phải được thả và chỉ bị quản thúc tại gia cùng nhau. Chắc chắn việc giam giữ tất cả chúng tôi trong một ngôi nhà sẽ rẻ hơn và dễ dàng hơn nhiều. Tôi viết thư cho William Cecil nói rằng tôi sẽ rất hạnh phúc nếu chúng tôi có thể bị giam cùng nhau. Chắc chắn sẽ thuận tiện hơn cho Nữ hoàng nếu chúng tôi cùng ở một nơi, chị tôi sẽ cần ít người phục vụ hơn vì tôi có thể chăm sóc cho con chị, tôi sẽ chăm sóc việc ăn uống của chị và làm bạn với chị.
Và tiết kiệm hơn, tôi viết một cách đắc thắng, vì chúng tôi có thể dùng chung lò sưởi và những người hầu. Tôi hỏi liệu ông có thể xin Nữ hoàng điều đó, và xin thả Thomas Keyes về với các con riêng của chàng ở Kent không. Tôi cam đoan sẽ không bao giờ gặp lại chàng nữa, và chàng sẽ hứa không bao giờ gặp tôi. Thật sự rất tệ khi giam một người đàn ông cao lớn như Thomas trong một xà lim bé xíu như thế. Đó không phải lòng nhân từ của Thiên Chúa. Không thể nhốt một con bò mộng trong một cái chuồng quá nhỏ. Chàng không làm gì sai cả ngoại trừ việc yêu tôi, và chàng hẳn sẽ không bao giờ nói ra nếu tôi không khích lệ chàng.
Tôi nhận được một trong những câu trả lời hiếm hoi của ngài William Cecil. Ông viết rằng chị tôi Katherine sẽ được chuyển sang quản thúc bởi một cận thần trung thành khác được đào lên từ một chốn tối tăm nào đó, gần như từ một nấm mồ lâu năm: Ngài John Wentworth ở Gosfield Hall. Chị ấy sẽ sống ở khu phía tây ngôi nhà, có người hầu phục vụ. Con trai chị, Thomas, cậu bé chưa từng được biết đến cuộc sống bên ngoài phòng giam, chưa từng được nhìn thấy bầu trời tự do trong suốt ba năm đầu đời tính đến giờ phút này, sẽ tiếp tục ở với chị ấy.
Đối với Keyes, cậu ấy sẽ được cho phép đi dạo trong sân và được duỗi thẳng đôi chân dài ngoẳng của mình, William Cecil viết với chút hài hước cố hữu của mình. Nữ hoàng sẵn sàng rủ lòng nhân từ với cậu ấy. Có rất nhiều người thỉnh cầu sự tha thứ cho cô và Công nương Katherine trong thời khắc khó khăn này, và tôi là người cầu mong điều đó nhất.
Tôi không chắc cụ thể Cecil muốn nói gì khi dùng những từ “thời khắc khó khăn”, vì đây là quãng thời gian duy nhất chúng tôi biết kể từ khi người được ông bảo trợ lên ngôi, nhưng vào tháng Sáu, tôi nghe tin điều tồi tệ nhất cho Nữ hoàng Elizabeth cuối cùng đã xảy ra: Nữ hoàng Mary xứ Scots đã sinh con. Thậm chí còn tệ hơn cho Nữ hoàng Elizabeth, người đã xúi bẩy chồng Mary chĩa súng vào bụng cô ấy, người phụ nữ trẻ này đã vượt cạn một cách tốt đẹp. Tệ hơn nữa cho Elizabeth, đó là một em bé khỏe mạnh. Và tệ nhất đối với Nữ hoàng Elizabeth, đó là một bé trai. Người họ hàng Công giáo của bà, giống như người họ hàng Kháng cách của bà, có một cậu con trai khỏe mạnh, người kế vị ngai vàng nước Anh. Nữ hoàng Elizabeth, ba mươi hai tuổi, không kết hôn, không yêu, giờ đã có hai người họ hàng với những bé trai nằm trong nôi. Bà không thể phủ nhận tất cả những sự thật này.
Những gì Elizabeth làm, tất nhiên, là những gì bà vẫn luôn luôn làm. Bà chạy trốn và giả vờ như thể chuyện đó không hề xảy ra. Đầu bếp ở Chequers là bạn của một người giữ ngựa hoàng gia và chúng tôi nghe tin về những lễ hội hoành tráng ở Kenilworth, khi Robert Dudley ném cả gia tài của mình xuống chân Nữ hoàng, người tình hay lảng tránh nhất của anh ta. Rõ ràng có cả một loạt phòng được xây dựng chỉ để cho chuyến viếng thăm của bà, với những buổi ca vũ, những cuộc đi săn, một vở kịch được ủy thác đặc biệt và rất nhiều pháo hoa. Sau thất vọng trong lễ Candlemas, anh ta tiếp tục ném mình vào một nỗ lực khác để theo đuổi bà. Trong năm nay anh ta đã rời triều đình trong cơn giận dữ hoặc tuyệt vọng đến hai lần, và cả hai lần bà đều hạ mình xin anh ta quay lại. Mọi người đều thấy bà không thể sống thiếu anh ta. Hẳn anh ta đang tự hỏi liệu bà có thấy được điều đó không.
Tôi ngồi trong căn phòng nhỏ xíu của mình nghĩ về Nữ hoàng Elizabeth, dì họ của tôi, đang ngắm pháo hoa trên hồ Kenilworth, mà cố gắng dằn xuống những cay đắng và giận dữ. Tôi không phải là một tù nhân u sầu như chị Katherine, tôi không chìm đắm trong đau khổ. Tôi không thể tha thứ cho Nữ hoàng Elizabeth vì đã đối xử với chúng tôi một cách điên rồ. Tôi nghĩ về bà như một kẻ độc ác mất trí, và khi tôi viết một trong những bức thư thường lệ, cầu xin tha thứ, hứa hẹn trung thành mãi mãi, tôi đang nói dối giống như tất cả các triều thần khác của bà. Bà đã tạo nên một triều đình toàn những kẻ dối trá, và tôi là người tồi tệ nhất.
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA THU NĂM 1566
Tôi nghe tin rằng một lần nữa, bà lại khiến Robert Dudley cảm thấy không chắc chắn; nhưng đó là điều tôi có thể đoán được. Tôi tin rằng anh ta sẽ luôn phải đứng ở ngưỡng cửa hôn nhân với bà mà không bao giờ nhảy qua nổi. Tôi tin rằng bà sẽ không bao giờ cưới ai. Tôi đã thề điều đó nhiều năm trước, giờ tôi sẵn sàng thề lại. Bà luôn giữ anh ta đủ gần để phá hủy cuộc đời anh ta, nhưng không bao giờ quá gần để làm hỏng cuộc đời bà. Bà quay lại London từ Kenilworth, và lúc này bà phải triệu tập Nghị viện. Bà cần tiền. Bà đang bỏ ra một tài sản lớn để gây rắc rối ở Scotland: Các gián điệp và những cuộc nổi loạn không bao giờ có giá rẻ. Nhưng Nghị viện sẽ không trao tiền cho bà nếu không có một lời hứa về người kế vị. Họ thấy rằng họ có cơ hội để ra lệnh cho bà. Nghị viện Kháng cách chỉ muốn một người kế vị duy nhất – chị Katherine của tôi, và cậu con trai Seymour theo sau chị.
Một ngày nọ, trong khi đi dạo trong vườn ngắm nhìn những sắc màu rực rỡ của cây cối và những chiếc lá vàng rơi xoay tít rồi đáp xuống chân mình, tôi bỗng thấy một mẩu giấy trắng trên con đường trước mặt. Tôi nhặt nó lên và mở nó ra.
Bạn bè cô sẽ lên tiếng cho cô và chị cô. Không ai trong hai người bị bỏ quên cả. Nước Anh biết ai là người kế vị.
Tôi nhét mẩu giấy vào túi và khi quay lại phòng, tôi đốt nó trong lò sưởi rồi dùng que cời nghiền nát đám tro. Tôi thấy mình đang mỉm cười. Có lẽ không lâu nữa tôi sẽ có thể ở trong một căn phòng rộng. Tôi sẽ đi dạo trong một khu vườn và đi ra ngoài cổng vườn. Có lẽ mùa xuân tới tôi sẽ được nghe tiếng một chú chim cu may mắn ở Công viên Bradgate.
Người chủ nhà bất đắc dĩ đến gặp tôi trong căn phòng nhỏ. Ông ấy mặc quần chẽn, áo khoác giữ ấm, mang giày ống cưỡi ngựa, cầm một chiếc nón trong tay; trông ông ấy không có vẻ ngại ngùng gì cả và rất tươi cười. Ông ấy cúi đầu chào khi tôi đang ngồi trên chiếc ghế duy nhất bên cạnh cửa sổ. Ngay lập tức, tôi bừng tỉnh như một con nai đánh hơi thấy mùi chó săn trong gió. Chuyện gì đang xảy ra vậy?
“Cô thấy đấy, tôi sẽ đi. Tôi sẽ tới London”. Ông ấy nói.
Tôi gật đầu, bên ngoài vẫn giữ bình tĩnh và tỏ vẻ quan tâm trong khi những suy nghĩ quay cuồng trong đầu.
“Tôi xin cô hãy giữ yên tĩnh ở nhà trong khi tôi đi vắng”, ông ấy nói, “nếu cô lợi dụng sự vắng mặt của tôi để chạy trốn, Nữ hoàng sẽ nổi giận với tôi và vợ tôi. Tôi không dám đối mặt với điều đó. Cô hiểu rồi đấy”.
“Tôi không có nơi nào để đi và không có ai để gặp cả; tôi sẽ không để ngài hay chị tôi phải gặp rắc rối”, tôi hứa với ông ấy, “chắc chắn Nữ hoàng sẽ trừng phạt chị tôi và các cháu của tôi nếu tôi bỏ trốn”.
Ông ấy lại cúi đầu. “Ngoài ra, tôi hy vọng tôi sẽ quay lại với những tin tức tốt lành cho cô và Phu nhân Hertford, Công nương chị cô”.
Tôi thấy ông ấy đã gọi chị Katherine bằng tước hiệu hoàng tộc và tên chồng của chị. “Ồ, thật vậy sao?”.
Ông ấy liếc về phía sau như để đảm bảo không ai đang đứng bên ngoài cánh cửa mở. Tôi chạy đi đóng cửa sổ và quay lại. Ngay lập tức, chúng tôi trở thành những kẻ đồng mưu, bảo vệ nhau chống lại các gián điệp.
“Tôi được triệu tập đến Nghị viện”, ông ấy nói. “Chúng tôi sẽ yêu cầu Nữ hoàng chỉ định người kế vị. Chỉ có Nghị viện mới có thể tăng thuế và thu thuế cho bà ấy, và chúng tôi có quyền đặt điều kiện. Bởi vì một khi tất cả chúng tôi đồng ý, chúng tôi mới không bị chia rẽ bởi các cố vấn của triều đình, và chúng tôi liên minh với Thượng viện. Chúng tôi sẽ nhấn mạnh rằng bà ấy phải chọn người kế vị, và người kế vị của bà ấy phải là Phu nhân Hertford và con trai”.
Tôi chỉ muốn nhảy cẫng lên và vỗ tay; nhưng tôi cố ngồi yên như một công nương đoan trang và nghiêng đầu lắng nghe. “Tôi rất vui khi nghe điều đó”, tôi nói.
“Khi cô được thả”, ông nói “khi” chứ không nói “nếu”, “Tôi hy vọng cô sẽ nói với chị cô, Phu nhân Hertford, rằng tôi đã đối xử với cô tốt hết mức có thể”.
“Tôi sẽ nói với chị ấy như thế”, tôi nói một cách công bằng, “và tôi sẽ nói với chị ấy rằng ngài đã đến London khi được triệu tập và ngài đã nỗ lực tham gia cùng những người khác để thuyết phục Nữ hoàng chọn chị ấy làm người kế vị”.
Ông cúi thấp như chào một thành viên hoàng gia.
“Và tôi sẽ rất biết ơn nếu ngài đến thăm ông Thomas Keyes ở Nhà ngục Fleet và yêu cầu thả ông ấy”, tôi nói thêm.
“Tôi sẽ nói điều này với các thành viên Nghị viện”, ông ấy hứa, “tất nhiên, không nên bắt giữ ai nếu họ không có tội”. Ông ấy chờ thêm giây lát trong trường hợp tôi có thêm yêu cầu khác. “Tôi có cần nói chuyện với ai ở triều đình nhân danh cô không?”.
Tôi mỉm cười. Tôi sẽ không nêu tên bạn bè hay những người họ hàng của mình. Tôi sẽ không đổ trách nhiệm cho ai cả. “Cứ để mọi thứ công khai”, tôi nói. “Xin hãy nói về tôi và chị tôi với tất cả mọi người”.
Trong thời gian người giám hộ vắng mặt, tôi được phép đi dạo và ngồi chơi trong vườn. Tôi học và viết, đọc Kinh Thánh và vẽ. Thậm chí tôi còn thử vẽ tranh bích họa lên tường phòng, nhớ đến những bức chạm khắc của các chàng trai nhà Dudley trên bệ ống khói ở Tháp từ rất lâu trước kia. Tôi nghĩ nếu chị Katherine và tôi được thả, nếu chị ấy được chọn làm người kế vị và chúng tôi được về nhà, thì câu chuyện dài đau đớn về sự bất trung với hoàng gia và tình yêu bị mất sẽ kết thúc, những đứa trẻ vô tội sẽ được giải thoát. Tôi nghĩ về những đứa cháu trai nhỏ bé và tôi cầu nguyện cho cả hai bé sẽ được lớn lên trong ngôi nhà xinh đẹp của cha mình, dưới sự chăm sóc của cả cha lẫn mẹ, biết rằng mình là những người kế vị hợp pháp của ngai vàng và chắc chắn sẽ tiếp nhận vị trí của mình. Tôi nghĩ chị Katherine sẽ là một Nữ hoàng Anh tuyệt vời: Chị sẽ không tiếm quyền hay sử dụng gián điệp để bắt bớ hay tra tấn nhằm dọn đường cho mình. Con trai chị sẽ là một vị vua đáng kính theo tôn giáo Kháng cách, một vị vua Seymour - Tudor giống như cậu họ tôi, Vua Edward.
Sau một tuần, Phu nhân Hawtrey nhận được một lá thư từ chồng bà và mang nó đến căn phòng nhỏ của tôi. Bà gõ cửa và bước vào ngay khi tôi chưa nói dứt lời, “Vào đi!”.
“Chồng tôi vừa gởi một lá thư từ London cho tôi biết mọi chuyện đang diễn tiến thế nào”, bà nói và nhún gối, “tôi nghĩ cô sẽ muốn biết các tin tức này”.
“Vâng”, tôi nói, “mời bà ngồi”.
Bà ngồi xuống một chiếc ghế nhỏ bên lò sưởi còn tôi ngồi trên chiếc ghế cao để chúng tôi ngang tầm nhau. Bà mở lá thư ra.
“Ông ấy nói rằng Hạ viện83* đã cùng Thượng viện84* can gián Nữ hoàng, có những lúc mọi người đều nổi giận”, bà nói. “Cả hai viện đều cương quyết yêu cầu chọn Công nương Katherine làm người kế vị. Hội đồng Cơ mật đồng ý với Nghị viện. Nữ hoàng đã cãi nhau với Công tước Norfolk85*, với Robert Dudley và Bá tước Pembroke86*”.
83* . The House of Commons – Hạ viện.
84* . The House of Lords – Thượng viện.
85* . Tức Thomas Howard (1538 – 1572).
86* . Tức William Herbert (1501 – 1570).
Tôi chăm chú lắng nghe. Đó là những vị cố vấn chủ chốt và bạn bè của Nữ hoàng. Bá tước Pembroke là cha chồng cũ của chị Katherine. Tôi không bao giờ nghĩ ông sẽ mạo hiểm bất đồng với Nữ hoàng vì chị Katherine cả. Không ai trong những người này có được bất cứ điều gì từ việc công nhận chị Katherine. Nữ hoàng Elizabeth phải thấy rằng họ đang làm việc này vì lợi ích của vương quốc. Cũng không ai trong họ dám phản đối Nữ hoàng trừ phi họ chắc chắn thành công.
“Giờ thì bà ấy đã cấm họ bước vào phòng khánh tiết”, Phu nhân Hawtrey đọc tiếp. Bà nhìn tôi, “thật bất thường, phải không?”.
“Vâng”, tôi đáp ngắn gọn.
“Bà ấy triệu tập ba mươi người của Hạ viện nhưng lại không cho phép Chủ tịch Hạ viện đến gặp bà”, Phu nhân Hawtrey đọc. “Chồng tôi nói rằng bà ấy đã hét lên với họ”.
Tôi quay đi để giấu một nụ cười. Tôi tưởng tượng cảnh các thành viên Nghị viện đến từ những vùng miền đang thất kinh trước Nữ hoàng, người có thể ra lệnh bắt họ không cần báo trước và giam giữ không cần xét xử. Nhưng họ không nhượng bộ. Họ nhấn mạnh họ có quyền cố vấn cho bà, và lời khuyên của họ là bà phải kết hôn, có một người kế vị, và trong khi đó, phải tuyên chọn một người kế vị ngay bây giờ.
Phu nhân Hawtrey lật đến trang cuối. “Ông ấy đang trên đường quay về”, bà nói. “Ông ấy nói mọi việc đã hoàn tất. Ông ấy nói họ đã chiến thắng”.
“Bà ấy đã chọn chị Katherine à?”. Tôi thì thầm, không thể tin được. Đó là con đường duy nhất mở ra cho Nữ hoàng Elizabeth nếu Nghị viện đoàn kết đứng lên chống lại bà. “Bà ấy đã nêu tên chị ấy làm người kế vị sao?”.
Phu nhân Hawtrey gấp lá thư lại đưa cho tôi: “Cô tự xem đi. Bà ấy đã tuyên chọn. Họ đã cấp tiền cho bà ấy và bà ấy đã hứa rằng họ sẽ quyết định người kế vị”.
Bà nhìn tôi. “Họ đã thắng trong thỏa thuận này”, bà nói. “Cô không nghĩ rằng họ đã thắng sao?”.
Tôi mỉm cười run rẩy. “Tôi không dám hy vọng, tất cả những gì tôi có thể làm là cầu nguyện. Họ đã rất can đảm và cuối cùng bà ấy đã được thuyết phục làm một điều đúng đắn”.
Bà lắc đầu một cách thích thú. “Bà ấy là một phụ nữ phi thường, bà ấy không phải trả lời với ai cả”.
“Bà ấy phải trả lời với Chúa”, tôi điềm tĩnh nói, “và Người sẽ hỏi bà ấy về chị Katherine, về hai đứa trẻ Teddy và Thomas, về chồng chị ấy, Ned, thậm chí về Margaret Douglas và cậu bé Charles, về tôi và Thomas Keyes. Chúa đã hứa với chúng ta rằng không một chú chim sẻ nào bị rơi xuống đất. Người sẽ hỏi Nữ hoàng Anh rằng những người họ hàng của bà đang ở đâu tối nay?”.
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA ĐÔNG NĂM 1566
Nữ hoàng Mary xứ Scots đổ gục do một cơn đau lách trong khi vương quốc đang gặp rắc rối. Cô ấy bị bất tỉnh nhiều giờ liền và người ta phải làm nóng cơ thể lạnh ngắt của cô ấy. Chỉ có Chúa mới biết chuyện gì sắp xảy ra. Con trai và người kế vị của cô ấy vẫn chỉ là một đứa trẻ sơ sinh – nếu cô ấy qua đời, không có ai bảo vệ cậu bé cả. Họ nói rằng những lời cuối cùng của cô ấy là yêu cầu Nữ hoàng Elizabeth làm Người Giám hộ cho cậu.
Hẳn cô ấy có thể yêu cầu một con chim cu gáy bảo vệ những quả trứng trong cái tổ bên cạnh nó. Hẳn cô ấy có thể yêu cầu một con cú bảo vệ con chuột. Nhưng tôi nhìn thấy một kỹ năng ở đây; ngay cả trên giường bệnh, Nữ hoàng Mary cũng vẫn khôn ngoan hơn Nữ hoàng Elizabeth, đặt bẫy bà bằng miếng mồi của một cậu bé hoàng gia. Nếu Nữ hoàng Elizabeth đồng ý làm người bảo hộ cho người kế vị Scotland nghĩa là bà thừa nhận mối quan hệ họ hàng này. Nữ hoàng Elizabeth, ham muốn tầm ảnh hưởng ở Scotland, vẫn đang giằng co giữa yêu và ghét đối với vị Nữ hoàng trẻ đẹp hơn mình, sẽ không thể cưỡng lại nổi. Tôi nhận được một dòng ghi chú ngắn không ký tên từ một người tôi không nhận ra là ai và tôi kết luận nó từ William Cecil.
Nữ hoàng sẽ làm mẹ đỡ đầu của Hoàng tử James của Scotland.
Chỉ có vậy; nhưng đó là dấu chấm hết cho niềm hy vọng của tôi. Nữ hoàng Elizabeth đã phá vỡ lời hứa với Nghị viện và giới quý tộc. Bà đã chọn Nữ hoàng Mary chứ không chọn chị Katherine, chọn Công giáo chứ không chọn Kháng cách. Bà nghĩ bà đã nhìn thấy một cơ hội mà Nữ hoàng Mary đem ra nhử trước mặt bà. Nữ hoàng Mary có thể đang nằm trên giường bệnh nhưng vẫn đầy mưu kế trong bàn tay lạnh lẽo của mình hơn Nữ hoàng Elizabeth với tất cả những trò xảo trá vô tận. Nữ hoàng Mary dùng đứa trẻ làm mồi và Nữ hoàng Elizabeth nhảy ngay vào bẫy, rằng nếu Nữ hoàng Mary qua đời, bà sẽ nhận cậu bé mồ côi mẹ đó làm con mình, và cậu bé sẽ là vị vua tiếp theo của nước Anh.
Tôi gởi chị Katherine một lá thư Giáng sinh nhưng tôi không có quà gì để tặng chị cả. Chị trả lời tôi với một lá thư kèm một sợi dây chuyền vàng.
Chị có vật này vì chị có rất nhiều quà tặng nho nhỏ từ chồng chị, chàng gởi cho chị tình yêu của chàng qua những lá thư và những món quà. Bé Thomas khỏe mạnh và chóng lớn. Con trai lớn của anh chị, Teddy, đang sống với bà nội ở Hanworth; bà kể với Ned rằng cậu bé khỏe mạnh, vui vẻ và vô tư. Tất cả chúng ta đều cầu nguyện cho sự tự do của chúng ta và cho em. Chị đang sống với những người tốt. Họ làm mọi thứ có thể để chị cảm thấy thoải mái khi chị bước vào năm giam cầm thứ sáu. Chị mệt mỏi và rất buồn, nhưng chị tin rằng năm tới, có lẽ trong dịp năm mới, chúng ta sẽ được tha thứ và được thả. Chị nghe nói Nữ hoàng Scotland và Nữ hoàng Nhân từ của chúng ta đã có một thỏa thuận có thể khiến chị và em trở thành những thần dân và những người họ hàng trung thành. Chị rất mong được gặp em, em gái ạ. Tạm biệt em.
Tôi đọc đi đọc lại lá thư cho đến khi thuộc lòng, sau đó tôi đốt cháy nó trong lò sưởi. Tôi đeo sợi dây chuyền của chị quanh cổ và nghĩ rằng món quà nhỏ bé này đến từ một người phụ nữ có quyền sở hữu toàn bộ kho báu hoàng gia Anh.
Đó không phải món quà Giáng sinh duy nhất mà tôi nhận được. Người giám hộ của tôi tặng tôi một ít ruy-băng và một người hầu trang trí một chiếc áo của tôi với một ít dây ren dễ thương. Tôi tặng Phu nhân Hawtrey một bức vẽ phác thảo khu vườn nhìn từ cửa sổ phòng tôi. Nếu tôi có thể nhìn thấy nhiều hơn, tôi sẽ vẽ nhiều hơn, nhưng ngay cả tầm nhìn của tôi cũng bị hạn chế.
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA XUÂN NĂM 1567
Công tước Darnley, đứa con hoang đàng của dì Margaret Douglas của tôi, đã chết. Chàng trai mà không ai nghĩ có thể trở thành người tốt đã có một kết thúc khủng khiếp. Anh ta nằm trần truồng và bị bóp cổ chết trong vườn, với ngôi nhà bị phá hủy phía sau. Có ai đó – và mọi người đều cho rằng đó là các nhà quý tộc Kháng cách – đã cho nổ tung Kirk o’ Field87* bằng thuốc súng và bắt được anh ta khi đang trên đường bỏ trốn. Đây không phải là một người sẽ có cái chết êm ả – vì đó là một tên sát nhân từng đe dọa vợ và đứa con chưa chào đời của mình, một đứa con hư hỏng bởi tham vọng của mẹ mình – nhưng mọi người đều choáng váng khi nhìn thấy anh ta nằm đó với một kết cục bi thảm như thế, và họ kinh hoàng khi nghĩ đến tác động của việc này đối với Nữ hoàng Scotland, người vừa hồi phục sau cơn bệnh nặng và giờ đây đang bị nhiều người nghi ngờ âm mưu giết chồng.
87* . Kirk o’ Field là nơi xảy ra vụ án mạng vào ngày 10 tháng 2 năm 1567 làm chết Công tước Darnley (tức Henry Stuart), cha Vua James VI của Anh quốc, và là chồng thứ hai của Mary, Nữ hoàng xứ Scots. Địa điểm này bị chiếm đóng bởi nhà thờ trường đại học St Mary in the Field, hay còn gọi là Kirk o ‘Field ở Edinburgh, Scotland. Ngày nay, địa điểm này nằm gần Bảo tàng Quốc gia Scotland.
Nữ hoàng Elizabeth, không giấu nổi sự vui mừng trước thảm họa đã làm nổ tung thỏa thuận giữa bà và Nữ hoàng Scotland, giống như ngôi nhà Kirk o’ Field bị nổ tung, giờ chuyển sang phô trương lòng trắc ẩn với người mẹ đau khổ của đứa con hoang đàng. Dì họ của chúng tôi, Phu nhân Margaret Douglas, được thả khỏi Tháp và được phép sống với Thomas Sackville tại Lâu đài Sackville. Charles, cậu con trai nhỏ, được ở cùng bà để an ủi bà trong nỗi đau mất mát khủng khiếp này. Cái chết của con trai, một kẻ sát nhân mắc bệnh giang mai, bằng cách nào đó đã bào chữa cho tội phản bội của chính bà. Phu nhân Margaret được trả tự do; còn chị Katherine và tôi, không hề phạm tội gì cả, vẫn tiếp tục bị giam giữ. Nữ hoàng Elizabeth không thể nghĩ đến chuyện gì khác ngoài việc làm thế nào để phản ứng với Nữ hoàng Mary.
Trong khi các nhà truyền giáo Scotland điên cuồng tuyên bố rằng không một phụ nữ nào có thể nắm giữ quyền lực, Nữ hoàng Elizabeth lại muốn hỗ trợ người cháu họ của mình. Nhưng bà không thể hết lòng làm điều đó. Bà đưa ra lời khuyên cho Nữ hoàng Scotland, chỉ ra sự tương phản giữa chính bà – một Nữ hoàng độc thân – và vị Nữ hoàng vừa góa bụa sau hai lần kết hôn. Thậm chí một bản sao của bức thư này được gởi đến tôi ở Chequers, và tôi đọc nó, rất kinh ngạc khi thấy Nữ hoàng tự xưng mình là một người họ hàng và một người bạn trung thành, nói rằng bà thấy tiếc vì những hiểm họa với Nữ hoàng Mary hơn là cái chết của Darnley, và Nữ hoàng Mary cần phải bảo vệ danh dự của mình thay vì soi mói những người đã giúp cô ấy giết chồng, “như hầu hết mọi người nói”.
Tôi không biết “hầu hết mọi người” có nói Nữ hoàng Mary là người giết Darnley trước khi Nữ hoàng Elizabeth đưa ra sự phòng thủ đáng nguyền rủa đó không, nhưng tôi chắc chắn bây giờ thì mọi người sẽ nói thế. Tôi nhìn thấy bàn tay của William Cecil trong tất cả những chuyện này: vụ ám sát trong khu vườn đêm, sự bôi nhọ danh tiếng của vị Nữ hoàng Công giáo, sự xoay chuyển bất ngờ về sự tự tin và lòng thương hại giả vờ của Nữ hoàng Elizabeth. Cái chết của Darnley đã hủy hoại Nữ hoàng Mary, giống như cuộc hôn nhân của cô với anh ta đã hủy hoại cô. Nó hủy hoại luôn cả thỏa thuận giữa cô ấy với Nữ hoàng Elizabeth, theo đúng kế hoạch của con cáo già William Cecil.
Đây không phải một vụ giết người thầm lặng được thực hiện một cách ngẫu nhiên trên cầu thang với một bồi thẩm đoàn gọn nhẹ để phán quyết về một cái chết do tai nạn. Đây là một vụ nổ lớn ngay tại trung tâm Edinburgh vào giữa đêm, với việc Nữ hoàng Mary từ chối ngủ cùng chồng trong ngôi nhà bị sụp đổ ngay đúng tối hôm đó. Dường như cô ấy đã biết trước điều đó, mọi người nói thế. Như thể thùng thuốc súng được đóng gói bởi một người mà cô ấy biết rõ.
Dù tôi bị khóa trong phòng, bị giam trong vườn, nhưng tin đồn vẫn đến tai tôi. Nhà bếp Chequers nóng rực với những tin đồn, những người canh chuồng ngựa là những người nhiệt tình ủng hộ nhà quý tộc Scotland: James Hepburn, Bá tước Bothwell, người luôn chiến đấu vì sự nghiệp Kháng cách bằng những cách thức giản đơn, trực tiếp và cả bạo lực. Những phụ nữ giặt quần áo thương hại ngài Darnley đáng thương, bị thổi bay trên giường hoặc bị bóp cổ bởi các nhà quý tộc Scotland man rợ theo lệnh của người vợ độc ác. Suốt mùa xuân, vụ tai tiếng ngày càng bùng nổ và phức tạp hơn cho đến tháng Tư, chúng tôi nghe tin Nữ hoàng Mary xứ Scots đã chạy trốn khỏi thủ đô Scotland, và vào tháng Năm, cô ấy kết hôn với người đã giết chồng mình: James Hepburn, Bá tước Bothwell.
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA HÈ NĂM 1567
So với cuộc hôn nhân bất hạnh mới này của Nữ hoàng Scotland, tình yêu của tôi với Thomas Keyes và thậm chí cả tình yêu của chị Katherine với Ned Seymour đều trở nên mờ nhạt như một sự thiếu suy xét. Chúng tôi yêu những người đàn ông đáng tôn trọng, được tự do kết hôn. Thậm chí không ai biết Bothwell đang có vợ hay không, nhưng Nữ hoàng Mary kết hôn với anh ta không một chút ngượng ngùng trong bộ tang phục kỳ quặc: một chiếc váy nhung đen có hoa văn thêu chỉ vàng và bạc. Tôi nhờ Phu nhân Hawtrey tìm hiểu kỹ về chiếc váy, và thực tế đó là một chiếc váy nhung đen lộng lẫy đắt tiền thêu bằng vàng thật cùng một chiếc váy lót màu đỏ tươi! Cô ấy vừa là một cô dâu vừa là một góa phụ cùng lúc. Cô ấy có thể là kẻ giết người, và chắc chắn cô ấy đang kết hôn với một kẻ giết người. Cô ấy bị hủy hoại trong mắt toàn thế giới: Pháp, Tây Ban Nha và Anh, cả Công giáo lẫn Kháng cách. Cô ấy đã tự hủy diệt mình. Rõ ràng, cô ấy không xứng đáng là người kế vị nước Anh.
Tôi chờ ngài William đến gặp tôi thông báo rằng tôi được tự do. Chiến dịch bí mật kéo dài của William Cecil chống Nữ hoàng Scotland, kế hoạch bí mật của ông cho sự kế vị của chúng tôi, cuối cùng đã hoàn thành. Không thể có lý do gì để giam giữ chị em tôi lâu hơn nữa. Ngài William Hawtrey bảo tôi rằng em trai của Robert Dudley, ngài Ambrose, đã đến thăm Ned Seymour, bất chấp mệnh lệnh không ai được đến thăm anh rể tôi, và bảo đảm với anh ấy rằng chị Katherine sẽ được chọn làm người kế vị, và nhà Dudley sẽ ủng hộ chị.
Tôi bồn chồn trong căn phòng ngột ngạt của mình. Tôi mở cả hai cửa sổ và nhìn ra ngoài. Mỗi khi đi dạo, tôi đi lên đi xuống trong khu vườn mùa hè xinh đẹp, đi vòng quanh con đường dẫn ra ngoài như một con chồn sương chạy quanh lồng không lối thoát. Mỗi khi nghe tiếng vó ngựa, tôi lại nghĩ đó là sứ giả của Nữ hoàng đến để giải phóng tôi. Không thể lâu hơn nữa.
Phu nhân Hawtrey kể với tôi những tin đồn từ London. Chồng của Phu nhân Margaret Douglas, người cha đầy hoảng sợ của Công tước Darnley, đã chạy trốn khỏi Scotland và được phép quay về Anh. Ông được mời đến triều đình và Phu nhân Margaret được phép đi cùng. Ông kể rằng Scotland ngập chìm trong những cuộc nổi dậy. Các nhà quý tộc Scotland chống lại cả Bothwell lẫn Nữ hoàng. Nữ hoàng Mary – vừa là nạn nhân vừa là vợ của Bothwell – không giữ nổi quyền lực của một Nữ hoàng. Đúng như điều Nữ hoàng Elizabeth luôn lo sợ, một nữ hoàng sau khi lấy chồng sẽ bị hạ xuống ngang tầm với người chồng. Nữ hoàng Mary đã đến Scotland như một góa phụ hoàng gia Pháp trong chiếc áo dài trắng rực rỡ nhất. Cô ấy không thể cai trị đất nước như vợ của Bothwell trong màu đen quyến rũ và chiếc váy lót màu đỏ. Ngoài mặt họ vẫn tôn trọng cô ấy, nhưng họ giam cô ấy ở lâu đài trên đảo Lochleven. Đối thủ của chị tôi, một người quá tự do và mạnh mẽ, giờ đã trở thành một tù nhân giống như chúng tôi.
Và, giống như chúng tôi, người chị họ Nữ hoàng Scotland bị giam cầm của chúng tôi giờ phải phụ thuộc vào thiện chí của Nữ hoàng Elizabeth. Không ai khác có thể yêu cầu các nhà quý tộc Scotland tôn trọng chế độ quân chủ của họ. Không ai khác có một đội quân trên biên giới, những gián điệp nằm vùng, và hầu hết các quý tộc đều là những triều thần được trả lương. Nhưng thay vì ra lệnh khôi phục cho vị Nữ hoàng chị em mình, Nữ hoàng Elizabeth lại nghe theo một người họ hàng khác, Margaret Douglas, đòi hỏi công lý cho cái chết của con trai bà: xử tử con dâu và đòi quyền sở hữu cháu trai, người kế vị nhỏ bé. Tất cả những tuyên bố chính đáng để hạ nhục Nữ hoàng Scotland có một sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với Nữ hoàng Elizabeth, nhưng bà không thể theo đuổi chúng.
Hơn bất kỳ niềm tin nào khác, Nữ hoàng Elizabeth tin rằng pháp luật không áp dụng đối với nữ hoàng. Bà muốn mọi người nghĩ rằng một nữ hoàng có thể mắc sai lầm – có thể phạm những sai lầm nghiêm trọng trong cuộc sống cá nhân – nhưng vẫn phù hợp để làm một nhà lãnh đạo đất nước. Nếu mọi người nói rằng một nữ hoàng không thể yêu một người đàn ông đã có vợ thì Nữ hoàng Elizabeth và Robert Dudley sẽ thế nào? Nếu mọi người nói rằng một người chồng hoặc người vợ “cản trở” không thể bị giết chết một cách tàn nhẫn, thì phán quyết tai nạn trong vụ điều tra về cái chết bất thường của Amy Dudley có thể được sửa lại như thế nào cho đúng? Nữ hoàng Elizabeth muốn giữ bé Stuart, muốn thấy cái chết của cha cậu được trả thù; nhưng sự an toàn của mẹ cậu bé, một nữ hoàng, là bất khả xâm phạm. Không có gì quan trọng hơn đối với Nữ hoàng Elizabeth, con gái của một hoàng hậu bị chặt đầu, là mọi người phải hiểu rằng các nữ hoàng không thể bị chặt đầu. Không một nữ hoàng nào có thể bị chặt đầu ở Anh nữa.
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA HÈ NĂM 1567
Các nhà quý tộc Scotland quyết định kết thúc tình trạng bế tắc này; họ không hiểu được vị Nữ hoàng Anh và họ đã vô tình tự hủy hoại sự nghiệp của mình. Họ thông báo rằng Nữ hoàng Mary của họ, danh dự hoàng gia bị truất phế vì sẩy thai một cặp sinh đôi trong nhà tù trên đảo, và cô ấy đã đồng ý thoái vị. Họ buộc cô ấy phải nhường ngôi cho con trai, và cô ấy đồng ý trở thành một tù nhân không tước vị. Họ nghĩ đó là một chiến thắng, nhưng điều đó càng làm Nữ hoàng Elizabeth quay đầu chống lại họ chỉ trong giây lát. Giờ thì bà từ chối công nhận Hoàng tử James bé nhỏ là Vua James VI của Scotland. Bà nói cậu bé không thể thay thế mẹ cậu được, cậu bé không được chiếm ngôi của mẹ, một nữ hoàng không thể bị các nhà quý tộc lật đổ. Không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ được phép đặt một người kế vị lên ngai vàng – đó là nỗi sợ lớn nhất trong cuộc đời bà. Bà mắng nhiếc Cecil, bà thề rằng việc truất phế Nữ hoàng Mary sẽ không được phép. Các nữ hoàng phải được đối xử một cách tôn trọng, họ không thể bị xét xử và truy nã. Bà sẽ gây chiến để bảo vệ Nữ hoàng Mary.
Bây giờ Nữ hoàng Elizabeth trở nên khắt khe hơn với người họ hàng vừa mới được phục chức, Margaret Douglas. Phu nhân Margaret khẳng định rằng cô con dâu, Nữ hoàng Mary xứ Scots, phải bị giam giữ mãi mãi, hoặc bị đưa ra xét xử và hành hình vì tội ác ghê tởm giết chồng. Điều đó hầu như không quan trọng đối với bà, miễn là em bé được đưa về Anh. Phu nhân Margaret có thể tự xem mình là bà nội của một vị vua, nhìn thấy cậu bé lên kế vị ngai vàng cả Scotland và Anh.
William Cecil tiếp tục trò chơi kéo dài của mình. Ông giữ im lặng. Bên ngoài, ông đồng ý với Nữ hoàng rằng việc tấn công một thành viên hoàng gia là không thể chấp nhận được, nhưng ông chỉ ra rằng bất kỳ cuộc xâm lược Scotland nào cũng có thể khiến các nhà quý tộc Scotland sát hại Nữ hoàng Mary ngay lập tức. Họ sẽ hoảng sợ, ông nhẹ nhàng nói và nhìn vào gương mặt thất kinh của Nữ hoàng Elizabeth. Sẽ tốt hơn nhiều cho nước Anh nếu có thể phản đối một cách ôn hòa, thương lượng với quan nhiếp chính tự xưng, Công tước Moray, người anh cùng cha khác mẹ xảo trá của Nữ hoàng Mary, và cố gắng tìm cách đưa đứa trẻ về phương nam khi thuận tiện.
Tất nhiên, các nhà quý tộc Kháng cách ở Scotland sẽ không bao giờ trao hoàng tử của họ cho một người Công giáo cực đoan như Margaret Douglas. Tất nhiên, Phu nhân Margaret, đã hủy hoại một đứa con trai, sẽ không bao giờ được tin tưởng ủy thác thêm một người nào nữa. Nữ hoàng Elizabeth quá nản lòng với những sự kiện này đến mức không buồn nói chuyện với vị cố vấn tuyệt vời hay người họ hàng yêu quý của bà, và tôi có nhiều cơ sở hơn bao giờ hết để dự đoán rằng bà sẽ quay về với chúng tôi. Bà phải quay lại với chúng tôi. Gia đình có còn ai khác cho bà nữa đâu?
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA HÈ NĂM 1567
Một bên là chị Katherine, bị giam ở Gosfield Hall, không phạm bất cứ một tội lỗi nào, được một nửa nước Anh yêu quý, có con trai được nuôi dưỡng như một thành viên hoàng gia Seymour ẩn mình. Một bên là Nữ hoàng Mary, bị giam tại Lochleven, có thể là một kẻ giết người, chắc chắn là kẻ ngoại tình, bị căm ghét bởi nửa nước Anh và là một nỗi kinh hoàng với chính các tín đồ Công giáo của bà, có con trai bị người anh cùng cha khác mẹ cầm giữ, chồng thì đang bỏ trốn. Ai là lựa chọn tốt hơn để thành người kế vị? Ai là lựa chọn tốt hơn cho nước Anh? Tất nhiên, Nữ hoàng Elizabeth, với tính ngoan cố quái dị, vẫn ủng hộ Nữ hoàng Mary và kêu gọi trả tự do cho cô ấy.
Người Scotland nhận tiền của Nữ hoàng Elizabeth nhưng không có gì tiến triển cả vì Cecil đã khéo léo chặn đứng mọi hy vọng về cuộc xâm lăng nước Anh bởi Scotland. Quyết tâm của Nữ hoàng Elizabeth bị nao núng. Cecil gợi ý bà nên đi tuần du, Robert Dudley hứa hẹn với bà một mùa hè bình dị chốn đồng quê – cớ sao bà lại không vui? Nữ hoàng Elizabeth quyết định gác lại các thảm họa của những người họ hàng để cưỡi ngựa bên cạnh người tình, một lần nữa trốn chạy khỏi những rắc rối.
CHEQUERS, BUCKINGHAMSHIRE
MÙA HÈ NĂM 1567
Lũ chim én bay vào các khu vườn ở Chequers vào ban ngày và bay đi vào buổi tối. Tôi cũng nghe tiếng chim sơn ca hót trong rừng vào lúc chạng vạng. Mùa hè là quãng thời gian bức bối nhất khi bị cầm tù. Tôi cảm thấy như thể mọi thứ đều tự do và đang sống cuộc đời đúng nghĩa của chúng, ngoại trừ tôi. Tôi cảm thấy như thể mọi sinh vật đều đang tìm kiếm bạn đời, tìm kiếm niềm vui – tất cả mọi thứ, tất cả mọi người – ngoại trừ tôi và chị tôi.
Tối nay, tôi cảm thấy tinh thần xuống rất thấp. Tôi thường cố gắng đọc sách hoặc trang trí căn phòng chật hẹp của mình với những bức vẽ trên tường, nghiên cứu Kinh Thánh hoặc các bài viết của chị Jane, nhưng tối nay tôi đứng trên một chiếc ghế bên cửa sổ mở, tay chống cằm và nhìn ra chân trời đen kịt, chỉ có một ngôi sao đơn độc xuất hiện như một đầu đinh ghim bạc lấp lánh trên một chiếc váy lụa màu xanh đậm, và tôi biết tôi đang ở rất xa gia đình mình, bạn bè mình, và tôi sẽ không bao giờ được gặp lại người đàn ông tôi yêu một lần nữa. Không bao giờ trong cuộc đời này.
Tôi cảm thấy gương mặt tôi ướt đẫm nước mắt và tôi biết mình không nên trải qua một buổi tối như thế này. Tôi sẽ không cảm thấy tốt hơn vì điều này vào buổi sáng, tôi sẽ không học được gì nếu chỉ đắm chìm trong nỗi buồn. Tôi không phải kiểu phụ nữ nói rằng mình luôn cảm thấy khá hơn sau khi khóc. Tôi coi thường loại phụ nữ đó. Tôi thường giữ cho mình bận rộn, tránh những khoảnh khắc đau buồn vì mất tự do, mất những người chị, cùng với sự tàn lụi khủng khiếp trong gia đình chúng tôi vì chúng tôi sinh ra là những người thuộc dòng họ Tudor. Tôi dùng tay áo vỗ vào mặt và tự tìm kiếm bên trong mình đức tin thánh thiện của chị Jane, hoặc thậm chí cả quyết tâm sắt đá của mẹ tôi. Tôi không thể ủy mị và dễ tổn thương như chị Katherine, nếu không tôi sẽ tuyệt vọng giống như chị ấy.
Tôi chuẩn bị đóng cửa sổ và lên giường cố gắng ngủ cho qua một ngày mới, để những giờ phút cô đơn mỏng manh của buổi tối trôi qua. Tôi vươn tay ra đặt lên chốt cửa sổ, và tôi nghe có tiếng vó ngựa trên đường, một vài con ngựa, có lẽ sáu con. Một đoàn người đang cưỡi ngựa từ London tới Chequers. Đây là những tiếng vó ngựa mà tôi đang chờ đợi. Tôi căng tai lắng nghe. Vâng, chắc chắn họ không đi ngang qua mà đang tiến về phía ngôi nhà. Tôi đứng tựa cửa sổ, nhìn chằm chằm vào ánh sáng mờ để xem có cờ hiệu gì phía trước hay không, và nhìn xem đoàn ngựa chạy nước kiệu này mang sắc thái gì khi đến đây vào giờ này buổi tối.
Nếu ai đó đang đến với tôi, vào một buổi tối mùa hè, ai đó quyết tâm trả tự do cho chúng tôi, ai đó nắm lấy cơ hội Nữ hoàng Elizabeth đi tuần du và Cecil đang dành một tuần ở ngôi nhà mới, thì tôi sẽ đi cùng họ, bất kể họ là ai. Nếu họ đưa tôi đến Pháp hay Tây Ban Nha và sống trong nghèo khổ, nếu họ đưa tôi vào một chốn nguy hiểm và đầy bạo lực, tôi cũng đi. Tôi sẽ không ở đây thêm một mùa hè nữa, bị nhốt trong lồng như những con chim hồng tước của chị Katherine. Tôi sẽ không ở lại. Tôi không quan tâm nếu chúng tôi chết trên đường vượt biển hoặc nếu tàu của chúng tôi bị bắt hay bị chìm. Tôi thà chết đuối còn hơn phải ngủ thêm một đêm nữa trên chiếc giường nhỏ bé này, nhìn lên trần nhà màu trắng và những bức vẽ tạp nham của tôi trên tường. Tôi thà chết tối nay còn hơn sống trong ngục tù thêm một ngày nữa.
Các kỵ sĩ vòng qua khúc quanh và bây giờ tôi có thể nhìn thấy họ. Lá cờ hiệu Tudor phấp phới phía trước. Đó không phải là một kẻ ngoài vòng pháp luật mà là một thông điệp từ Nữ hoàng Elizabeth. Nó được đưa đến bởi một nhà quý tộc cưỡi ngựa giữa những người lính bảo vệ, theo lệnh Nữ hoàng. Cuối cùng, cuối cùng, đó phải là sự tự do của tôi. Chỉ có thể là bà ấy trả tự do cho tôi. Nếu là bất kỳ một mệnh lệnh nào khác thì sẽ chỉ có một sứ giả duy nhất đi ngựa thong dong. Cuối cùng, ngợi khen Chúa, ngợi khen Chúa vì điều đó, bà ấy đang trả tự do cho tôi, tôi sẽ rời khỏi ngôi nhà đọa đày này và sẽ không bao giờ đặt chân đến đây một lần nào nữa.
Tôi đóng sập cửa sổ và nhảy xuống ghế. Tôi lay mạnh người hầu đang ngủ gật trên ghế. “Làm tóc cho tôi”, tôi ra lệnh. “Hãy mang cho tôi chiếc mũ trùm tốt nhất. Ngài William sẽ gõ cửa bất cứ lúc nào. Hãy mở cửa cho ngài ấy. Ngài ấy đang đến để báo với tôi rằng chúng ta sẽ được giải thoát”.
Cô ấy mở toang chiếc rương, lấy mũ trùm đầu của tôi ra. Tôi đứng thẳng, tim đập thình thịch trong khi cô ấy kẹp mái tóc vàng của tôi lại rồi trùm mũ lên trên. Tôi tháo chiếc nhẫn cưới khỏi ngón tay, hôn nó, lồng nó vào sợi dây chuyền và bảo cô ấy cài sợi dây chuyền quanh cổ tôi. Cô ấy thắt chặt dây ren của chiếc áo dài ở tay áo và trên chiếc váy. Tôi dang rộng cánh tay như một con búp bê nhỏ để cô ấy có thể chỉnh sửa chiếc áo lót, và ngay khi cô ấy vừa nói: “Hoàn hảo, thưa Công nương” thì có tiếng gõ cửa. Tôi nhìn vào mắt cô ấy, mỉm cười và nói: “Cuối cùng, ơn Chúa. Cuối cùng”.
Tôi ngồi lên ghế và cô hầu ra mở cửa, nhún gối chào ngài William rồi quay lại, nhường lối cho ông. Ông ấy bước vào phòng, cúi đầu chào tôi, phía sau là người đội trưởng đang dẫn toán lính bảo vệ đến cửa trước, cầm chiếc nón trong tay; ông ấy cúi người khi nhìn thấy tôi và tôi nghiêng đầu.
“Công nương Mary”, ngài William cúi chào, “đây là một sự thay đổi đột ngột”.
Tôi không thể không mỉm cười. “Tôi nghe thấy tiếng vó ngựa”, tôi nói. “Họ đến đưa cô đi”, ngài William bối rối nói, “tất nhiên là không có báo trước. Nhưng chúng tôi rất tiếc khi cô đi, thưa Công nương”.
Tôi nhích người đến mép ghế và thả chân xuống sàn. Tôi đưa tay cho ông và ông quỳ một chân xuống hôn tay tôi. “Chúa ban phước cho cô”, ông nói với giọng khàn đục, “tạ ơn Chúa, cô đã được tự do”.
“Ngài là một chủ nhà tử tế”, tôi nói, “nhưng tất nhiên, tôi rất vui vì có thể ra đi”.
“Cô hãy thu dọn đồ đạc để sáng mai lên đường sớm”, ông ấy nói. “Tôi hy vọng mọi việc sẽ thuận lợi”.
Tôi sẽ rời khỏi nơi đây, rời chiếc giường cũ, cái ghế, cái bàn nhỏ và chiếc ghế nhỏ dưới gầm bàn. Tôi sẽ để lại cả quần áo và đi chân trần với chiếc áo lót nếu tôi có thể đến Bradgate ngay tối nay.
“Hoàn hảo!”, tôi nói.
Người chỉ huy đội bảo vệ đứng sau ngài William cúi chào và nói: “Chúng ta sẽ đi sau bữa sáng, thưa Công nương. Vào lúc bảy giờ, có thuận tiện cho cô không?”.
Tôi nghiêng đầu. “Hoàn hảo!”, tôi nhắc lại.
Ngài William do dự: “Cô không hỏi cô sẽ đi đâu sao?”.
Tôi cười nhẹ. Tôi chỉ nghĩ đến sự tự do của mình mà thôi. Tôi đã mơ ngày được rời khỏi đây từ rất lâu đến mức tôi không cần nghĩ tới điểm đến. Tôi chỉ biết rằng tôi đang cưỡi ngựa ra khỏi cánh cổng đá đó và có thể đi bất cứ đâu. Tôi muốn đến London thăm chồng tôi, Thomas, nếu chàng vẫn bị cầm tù. Còn nếu chàng được tự do, tôi sẽ đến bất cứ nơi nào có chàng – Kent, có lẽ vậy. Tôi không quan tâm. Tất cả những gì tôi muốn là tự do. Tôi muốn bước đi trên đường, tôi không quan tâm nó dẫn tôi đến đâu. “Tất nhiên tôi nên hỏi. Tôi sẽ đi đâu thế?”.
“Đến bà ngoại kế của cô, Nữ Công tước Phu nhân Suffolk”, ông nói, “đến nhà bà ấy ở London. Tôi sẽ hộ tống cô”.
Điều đó không có gì khác biệt đối với tôi. Tôi muốn đến London để giải thoát cho Thomas, và bà ngoại kế của tôi, Catherine, là một trong những thành viên cuối cùng trong gia đình tôi còn sống. Tôi luôn luôn yêu thích bà. Bà là một phụ nữ rất giàu kinh nghiệm sống – một cận thần rất được sủng ái của nhà vua có sở thích giết chóc. Có vẻ đúng là tôi nên về với bà, và khi chị tôi được thả, chị ấy cũng nên đến ở cùng chúng tôi.
“Còn chị tôi?”
“Tôi không biết cô ấy được đề xuất điều gì”, ngài William đáp, “nhưng chúng ta có thể hy vọng”.
Tôi thấy lúc này chúng tôi đã có thể công khai hy vọng. Tôi thấy ông ấy hy vọng. Tôi sẽ đến ở cùng bà ngoại kế của tôi, tôi sẽ trả tự do cho chồng tôi. Chắc chắn tôi sẽ gặp Robert Dudley hoặc em trai anh ta, Ambrose, vì họ đang quan tâm đến sự tự do của chúng tôi. Tôi sẽ gặp William Cecil; tôi sẽ đến thăm chị Katherine cùng các cháu trai của tôi và giành tự do cho họ. Cuối cùng Nữ hoàng Elizabeth cũng đã hiểu lý lẽ hơn và hiểu rằng bà không thể hỗ trợ Nữ hoàng Mary xứ Scots thay vì chị em tôi. Chỉ có một người kế vị của Nữ hoàng Elizabeth và đó là chị Katherine của tôi. Chúng tôi sẽ giành lại vị trí của mình trên thế giới này. Chúng tôi sẽ tự do; chúng tôi sẽ đoàn tụ. Chúng tôi thậm chí có thể hạnh phúc. Tại sao không? Chị Katherine và tôi luôn có những tính cách vui vẻ. Chúng tôi sẽ tự do sống hạnh phúc một lần nữa.
TỪ CHEQUERS ĐẾN LONDON
MÙA HÈ NĂM 1567
Chúng tôi lên đường trong ánh bình minh rực rỡ của một buổi sáng mùa hè trên Vương quốc Anh. Đó là thời gian tốt nhất trong ngày của mùa đẹp nhất ở Anh. Mặt trời mọc sau một đám mây xanh nhạt trông như những dải ruy-băng trên các ngọn đồi vùng Chiltern và chúng tôi đi về phía đông, hướng đến những tia sáng vàng óng ánh trên con đường La Mã cổ đại thẳng tắp như một thanh kiếm, đường Akeman.
Chúng tôi đi thành một đoàn: Một nhóm tiên phong đi cách một quãng để tôi không phải hít bụi từ họ, tiếp đến là tôi, ngài William, chỉ huy đội bảo vệ, phía sau chúng tôi là những người còn lại. Chúng tôi dừng lại sau vài giờ để ăn uống và cho ngựa uống nước. Ngài William hỏi tôi có mệt không.
“Không”, tôi đáp, “tôi khỏe”.
Tôi nói dối. Lưng tôi đau nhừ còn chân tôi bị nhức do phải ngồi dạng chân trên lưng ngựa, bởi vì tôi cưỡi ngựa như cha tôi đã dạy tôi: Tôi không ngồi bám yên sau như một cô gái nông thôn phía sau một gã đần độn. Tôi cưỡi con ngựa của tôi và ngồi thẳng lưng một cách kiêu hãnh trên yên. Nhưng vì tôi bị nhốt trong một căn phòng nhỏ quá lâu đến mức tôi đã đánh mất phần nào sức mạnh và năng lượng của mình. Nhưng tôi không đánh mất ý chí sinh tồn hay niềm khao khát tự do. Tôi thà chết vì cơn đau hay bị vọp bẻ trên lưng ngựa còn hơn thú nhận mình đang mệt mỏi, vì sợ người chỉ huy sẽ bảo chúng tôi quay lại Chequers và chỉ được đi khi anh ta tìm được một chiếc kiệu. Không gì có thể bắt tôi quay lại nhà giam cả. Tôi sẵn sàng cưỡi ngựa với đôi tay nứt nẻ và đôi chân rướm máu thay vì quay lại căn phòng nhỏ đó để ngắm bầu trời qua vuông cửa sổ.
Tôi có cảm giác như được sinh ra một lần nữa với bầu trời lồng lộng trên đầu và từng làn gió nhẹ lướt qua má tôi, mặt trời phía trước mặt chúng tôi. Tôi phớt lờ cơn đau lưng và cơn đau trên từng cái xương trong cơ thể mình. Tôi có thể ngửi thấy mùi hoa kim ngân và những bông hoa đậu dại trên các hàng rào nơi chúng tôi đi qua. Khi qua những ngọn đồi cao, nơi có những con cừu đang gặm cỏ, tôi có thể nghe tiếng chim chiền chiện cao vút trên đầu, tiếng hót trầm bổng theo từng nhịp đập cánh. Những chú chim nhạn lao xuống rồi lượn vòng quanh các ao làng, người dân trên những cánh đồng nhìn chúng tôi đi qua và vẫy tay chào, những chú chó chạy theo cố táp vào gót ngựa. Khi chúng tôi vượt qua một người bán hàng rong trên đường, ông ta đong đưa gói hàng và mời tôi dừng lại chọn lựa. Tôi hoa mắt với quang cảnh và những âm thanh của thế giới thực: Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình có thể nhìn thấy những thứ này một lần nữa.
Chúng tôi dừng lại ăn trưa. Vào lúc bốn giờ chiều, người chỉ huy đi ngựa đến bên cạnh tôi và nói: “Chúng ta sẽ dừng lại nghỉ đêm tại trang viên Headstone Manor ở làng Pinner. Họ đang đợi chúng ta”.
Tôi lập tức cảnh giác: “Tôi sẽ không bị giam chứ?”.
“Không”, anh ta nói, “cô đã được tự do. Cô sẽ có phòng ngủ riêng trong một khu riêng, và cô sẽ ăn tối ở đại sảnh với các vị chủ nhà của chúng ta, nếu cô muốn. Đây không phải là một nhà giam mới”.
“Tôi không muốn bị lừa nữa đâu”, tôi nói, nghĩ đến việc chị Katherine rời khỏi Tháp đến sống với chú, tưởng rằng sẽ được ở cùng chồng.
“Tôi thề tôi sẽ đưa cô đến nhà Nữ Công tước Suffolk”, người chỉ huy đảm bảo với tôi, “nhưng chúng ta không thể đi thực hiện cuộc hành trình chỉ trong một ngày. Sáng mai chúng ta sẽ đi thêm nửa ngày nữa”.
“Rất tốt”, tôi nói.
Vị chủ nhà của tôi, Ngài Roger North, chào đón tôi một cách trân trọng. Rõ ràng họ đang chào đón em gái của một người kế vị ngai vàng nước Anh. Vợ ông, Winifred, lúng túng nhún gối, gập người rất thấp, cố gắng thể hiện sự kính trọng đúng mực đối với một thành viên hoàng gia, cố gắng cúi đầu xuống thấp hơn để chào tôi, tôi cười cho qua và bà đưa tôi đến phòng ngủ. Hai người hầu trong nhà pha nước nóng cho tôi tắm, còn người hầu của tôi chuẩn bị cho tôi một chiếc váy sạch từ trong túi xách.
Tôi ăn tối một mình trong phòng chứ không ra chiếc bàn cao ngoài đại sảnh. Tôi cảm thấy nhút nhát sau một thời gian dài – gần hai năm – bị giam cầm. Và tôi nghi ngờ sẽ có những gián điệp ngồi lẫn vào những người có thiện chí giữa các thực khách trong sảnh. Tôi không sẵn sàng cho sự xô bồ và những tiếng ồn của một đại sảnh. Tôi đã cô độc quá lâu đến mức không thể quen với nhiều giọng nói, nhiều người nói chuyện cùng một lúc.
Sáng hôm sau, chúng tôi thức dậy, đi lễ ở nhà nguyện, ăn sáng, và khi đồng hồ trong chuồng ngựa điểm chín giờ, chúng tôi lên đường. Chú ngựa của tôi cũng đã được nghỉ ngơi. Mặc dù hai chân tôi bầm tím, tê cứng, lòng tôi tràn ngập niềm vui tự do đến mức tôi luôn tươi cười với viên kỵ sĩ chỉ huy. Khi chúng tôi đến một đoạn đường thẳng, tôi nói với ngài William rằng chúng tôi có thể phi nước kiệu.
Cảm giác như đang bay vậy, tôi đi rất nhanh. Tôi gập người về phía trước và thúc ngựa. Tiếng vó ngựa thình thịch, bùn bắn tung tóe và gió thổi vào mặt khiến tôi muốn hát thật to trong niềm hân hoan tràn ngập. Tôi được tự do, tôi biết tôi đã được tự do. Cuối cùng tôi đã được tự do.
Khi chúng tôi gần đến London, những ngôi làng nhỏ đã quen với những người khách xuôi ngược đường Watling và họ tìm xem cờ hiệu là gì. Khi nhìn thấy lá cờ hoàng gia, họ nhận ra tôi và gọi tên tôi. Người chỉ huy cưỡi ngựa tiến lại gần tôi.
“Chúng ta được yêu cầu không gây sự chú ý”, anh ta nói vẻ áy náy, “cô có thể đội mũ áo choàng lên được không, thưa Công nương? Sẽ không ích lợi gì khi thu hút đám đông cả”.
Tôi kéo chiếc mũ trùm lấy đầu, không một lời than phiền, và tôi nghĩ nếu việc mọi người nhìn thấy một người dòng dõi hoàng tộc cấp thấp như tôi trên đường cũng có thể bị xem là một mối nguy hiểm thì hẳn thiện chí của người dân với Nữ hoàng đã giảm sút đi rất nhiều.
“Chị cô đâu? Công nương Katherine và những cậu con trai xinh xắn của cô ấy đâu?”. Ai đó hét lên khi chúng tôi đi qua lối vào ở phía đông thành phố.
“Các hoàng tử bé đâu rồi?”. Một người khác kêu to, và tôi thấy người chỉ huy nhăn mặt. “Các cậu bé nhà Seymour đâu?”.
Tôi kéo chiếc mũ trùm thấp xuống phía trước và thúc ngựa tiến lại gần ngài William. “Đó là một câu hỏi mà tôi cũng muốn hỏi”, tôi nói với ông ấy bằng giọng khô khốc.
“Đó là một câu hỏi mà tôi không nên hỏi”, ông ấy đáp.
MINORIES, LONDON MÙA HÈ NĂM 1567
Chúng tôi huyên náo kéo về nhà bà ngoại kế của tôi ở Minories. Thực sự nơi đây từng là nhà của chúng tôi. Tôi nhớ cha tôi bảo đó là một món quà của Vua Edward, và tôi nhớ mình đã lùi lại trước cánh cửa gỗ tối khổng lồ màu sẫm và những hành lang đá với những âm thanh vang dội từ tu viện cũ. Chúng tôi mất cơ ngơi này khi chị Jane bị xử tử, tất nhiên – khi đó chúng tôi mất hết mọi thứ.
Bà ngoại kế của tôi, Catherine, một phụ nữ trầm lặng và xinh đẹp gần năm mươi tuổi, bước ra từ đại sảnh. Bà khoác chiếc áo choàng dã ngoại. Bà nhìn thấy chúng tôi trên những con ngựa mướt mồ hôi đang đứng trước ngưỡng cửa London.
“Mary! Cháu yêu! Bà nghĩ cháu sẽ đến vào tháng tới! Người ta nói cháu sẽ ở đây vào tháng tới”, bà vẫy tay với một người giữ ngựa mặc chế phục và nói, “Thomas, giúp Công nương Mary xuống ngựa nào”.
Anh ta giúp tôi xuống ngựa, sau đó bà tôi cúi xuống hôn tôi một cách nồng ấm. “Bà rất vui vì cháu được thả và đến đây sống với bà”, bà nói. “Chào mừng cháu đã đến. Trông cháu rất nhợt nhạt. Cũng không có gì ngạc nhiên”.
Bà ngẩng lên nhìn ngài William: “Việc này là thế nào? Họ bảo tôi là ngài sẽ đưa cô ấy đến cho tôi trong vòng một tháng nữa. Tôi sắp đi Greenwich”.
Ngài William xuống ngựa và cúi chào. “Đội bảo vệ đến hộ tống cô ấy vào ngày hôm kia mà không báo trước”, ông ấy nói. “Có lệnh. Nhưng Công nương tuyệt vọng muốn được tự do bất cứ lúc nào trong suốt một năm qua”, ông ấy tiếp tục, “sẽ rất tàn nhẫn nếu giữ cô ấy thêm một ngày nữa. Tôi không nghĩ tôi có thể giữ cô ấy thêm một ngày nào nữa, thành thật mà nói. Cô ấy đã giành được tự do, Chúa biết rõ điều đó”.
Một bóng tối lướt qua gương mặt bà tôi. Bà quay sang tôi: “Nhưng cháu biết là cháu không được tự do chứ?”.
“Sao cơ?”
Bà quay sang ngài William. “Cô ấy không được tự do”, bà nhắc lại, “tôi sẽ trông nom cô ấy. Cô ấy được đưa đến cho tôi giám hộ”.
Ngài William buột miệng chửi thề và quay sang con ngựa để giấu tiếng chửi của ông. Ông quay lại chúng tôi, gương mặt đỏ bừng vì giận dữ và nước mắt trào ra. “Không được tự do à?”, ông nhắc lại, “lệnh của ai vậy...”, ông nuốt vào trong những lời nói có thể bị xem là phản bội, “tôi tưởng cô ấy đến với bà vì bà là bà của cô ấy, và sau đó cô ấy có thể đi bất cứ nơi nào cô ấy muốn. Tôi tưởng bà sẽ đón nhận cô ấy và đưa cô ấy trở lại triều đình”.
“Vào trong đi”, bà tôi nói, cảnh giác với những người hầu đang đứng đợi và những người đang đi ngoài đường. Bà dẫn chúng tôi vào đại sảnh bên trong và rẽ sang căn phòng của người gác cổng để đảm bảo sự riêng tư. Có một cái bàn, một chiếc ghế và một bệ đứng để viết tin nhắn. Tôi dựa vào bàn, đột nhiên cảm thấy kiệt sức.
“Cháu yêu, ngồi xuống đi”, bà nói với tôi. “Ngài William, ngài muốn uống một cốc bia chứ? Hay rượu?”.
Tôi không muốn ngồi. Tôi có cảm giác là nếu tôi ngồi, họ sẽ đóng sầm cửa lại và không bao giờ cho tôi ra ngoài nữa. Tôi đứng im, bối rối. Lưng tôi đau nhức sau hai ngày cưỡi ngựa, đầy cảm giác đau đớn và lo sợ. “Cháu không được tự do à?”, tôi gần như không thốt nên lời, cảm thấy đôi môi sưng phồng và cứng đơ như vừa bị tát vào mặt, “cháu tưởng cháu đã được tự do”.
Bà lắc đầu: “Cháu sẽ ở dưới sự giám hộ của bà, giống như cậu bé cháu trai tội nghiệp của cháu đang được bà nội cậu ấy trông nom ở Hanworth. Nhưng Nữ hoàng không thả cháu. Bà đã buộc phải hứa sẽ cầm giữ cháu”.
“Cháu không thể”, tôi vỡ òa. Nước mắt tuôn ra và tôi khóc nức nở. “Bà ơi, cháu không thể bị giam giữ nữa. Cháu phải được ra ngoài. Cháu không thể chịu nổi khi bị giam trong một căn phòng nhỏ như một con búp bê trong hộp. Cháu không chịu nổi nữa, bà ơi. Cháu sẽ chết. Cháu thề cháu sẽ chết nếu cháu không được cưỡi ngựa, đi dạo và tự do ra ngoài”.
Bà gật đầu, gương mặt tái nhợt. Bà liếc nhìn ngài William và nói: “Ngài giữ cô ấy khắc nghiệt lắm à?”.
Ông giận dữ nhún vai. “Tôi có thể làm gì chứ? Tôi được lệnh chỉ cho cô ấy đi dạo trong vườn khi cần vì lý do sức khỏe. Nhưng tôi để cô ấy ra ngoài cả ngày và mỗi ngày, khi tôi có thể. Họ ra lệnh chỉ cho cô ấy một phòng, một căn phòng nhỏ, một người hầu, không được nhắn tin, không được thăm viếng hoặc có bạn bè. Cô ấy thậm chí không được nói chuyện với những người hầu của tôi. Tôi không được phép nói chuyện với cô ấy”.
Bà quay sang tôi. “Đừng khóc nữa, Mary”, bà bình tĩnh nói, “chúng ta sẽ làm những gì có thể. Và ít nhất thì cháu ở đây với bà, cháu có thể sống với bà và các con của bà: Susan và Peregrine. Chúng ta có thể nói chuyện thoải mái, học hành, viết và suy nghĩ”.
“Cháu phải được tự do”, tôi thì thầm, “cháu phải được tự do”.
Bà tôi nhìn ngài William. “Tôi phải đi Greenwich ngay bây giờ”, bà nhắc lại, “Công nương Mary có thể đi với tôi. Ngài có mang theo xe chở các thứ đồ đạc của cô ấy không? Hay ngài sẽ gởi mọi thứ trực tiếp đến Greenwich?”.
“Cô ấy gần như không có gì cả”, ngài William thốt lên, “cô ấy đến với tôi hầu như không mang theo thứ gì. Chỉ vài tấm thảm, một hoặc hai cái gối”.
Bà tôi sửng sốt hết nhìn ông lại nhìn tôi. “Vậy đồ đạc của cô ấy đâu? Tài sản của cô ấy đâu? Mẹ cô ấy là một công chúa hoàng gia, cô ấy có một ngôi nhà lớn đầy kho báu. Đó là một gia đình giàu có. Họ sở hữu nhiều nhà cửa, đất đai, giấy phép và đặc quyền. Áo váy và đồ trang sức từ triều đình của cô ấy đâu?”.
Ngài William lắc đầu. “Tất cả những gì tôi biết là cô ấy được đưa đến chỗ tôi như một phụ nữ nghèo, và họ không gửi gì cho cô ấy cả. Tôi sẽ gởi bà tất cả những gì của cô ấy. Tôi rất tiếc không có gì hơn nữa, thưa Phu nhân”. Ông gật đầu với tôi. “Tôi sẽ chuyển cho cô bất cứ thứ gì cô cần từ Chequers”, ông quay sang tôi, “xin cứ cho tôi biết”.
“Tôi không muốn gì cả”, tôi lắc đầu, “tôi không muốn gì khác ngoài tự do. Tôi tưởng tôi đã được tự do”.
“Cháu sẽ ăn gì đó rồi chúng ta sẽ lên thuyền xuôi dòng đi Greenwich”, bà tôi nói, “và sau đó chúng ta sẽ đi xem phòng của cháu, các thứ đồ đạc và quần áo nữa. Nữ hoàng sẽ cung cấp những gì còn thiếu, bà sẽ đích thân nói chuyện với William Cecil về việc cấp dưỡng và trả tự do cho cháu. Đừng sợ. Cháu sẽ được tự do, cháu thân yêu, bà thề đấy: cháu, chị cháu, và các cậu bé”.
Tôi nhìn bà, người phụ nữ này từng bị lưu đày và bức hại vì đức tin của mình. Người phụ nữ này đã kết hôn với một người đàn ông đẳng cấp thấp hơn để được tự do yêu thương và tự do sống. “Xin hãy giúp chúng cháu, thưa bà”, tôi khẽ nói, “cháu sẽ hứa bất cứ điều gì với Nữ hoàng nếu bà ấy trả tự do cho cháu, và chị Katherine, người chị đáng thương của cháu”.
Bước chân lên chiếc thuyền Suffolk giống như một bước trở về quá khứ, những ngày chúng tôi thường đi xuôi dòng với triều đình đến Greenwich hoặc ngắm những đồng cỏ xanh rì lùi dần về sau khi thuyền chúng tôi đi về phía thượng nguồn đến Richmond. Đó là một ngày oi bức và cái nóng hầm hập phủ lên thành phố hôi thối, nhưng cảm giác rất dễ chịu khi đi giữa dòng sông với tấm vải bạt bay phấp phới trong làn gió mát thổi vào từ biển cả. Những con chim hải âu gọi bầy trên cao và tất cả những cái chuông ở London vang lên báo giờ như thể đang chào mừng tự do của tôi. Tinh thần tôi khá hơn khi chúng tôi đi qua những bức tường đá quen thuộc của Tháp và lối vào khung lưới sắt ở cửa cống. Ít nhất tôi cũng không phải lê bước vào những căn phòng nhà giam. Tôi đang chịu sự giám hộ của bà ngoại kế, nhưng tôi sẽ đến một cung điện hoàng gia trên chiếc thuyền của bà, ánh nắng mặt trời chiếu lên mặt, hơi gió mặn thổi lùa mái tóc, và tôi có thể nhìn thấy không chỉ một ô vuông bầu trời.
Dòng sông mở rộng khi chúng tôi đến Greenwich và rồi tôi nhìn thấy cung điện ưa thích của Vương triều Tudor – cung điện ưa thích của chúng tôi – như một bờ biển thơ mộng, như thể nó đang bồng bềnh trên mặt nước. Bến cảng rực rỡ trong ánh nắng vàng, những cánh cửa khổng lồ mở rộng. Greenwich trông lộng lẫy, thân thiện và yên bình đến mức tôi không thể tin rằng đây sẽ là một nơi giam cầm – không phải trong ngôi nhà xinh đẹp này với những cánh cửa mở ra các khu vườn đẹp đẽ, những thảm cỏ xanh và những vườn cây trái.
Nữ hoàng Elizabeth không có ở đây. Bà đang tuần du ở Lâu đài Farnham tại Guildford, chỉ có một vài người hầu đi cùng, làm những công việc như xịt thơm phòng, dọn sạch rác rưởi bụi bặm, đặt những chiếc lá xanh tươi và thảo dược ở tất cả các phòng công cộng. Những người hầu của bà ngoại kế tôi đang đợi bà, họ xếp hàng trước dãy phòng của bà trong cung điện và cúi chào tôi khi tôi cùng bà bước vào. Tôi gần như đã quên mất cần có bao nhiêu người hầu để phục vụ một dãy phòng hay một công nương khó tính. Tôi đã quá quen với căn phòng chật chội và một người hầu, tôi đã quá quen với một ô cửa sổ nhìn ra một vuông trời nhỏ và lặng lẽ. Bà tôi dẫn tôi vào dãy phòng riêng của bà, ngồi xuống một chiếc bục cao, ra dấu cho tôi ngồi bên cạnh. Họ rửa tay chúng tôi với một bình nước bằng bạc, mang cho chúng tôi một ít bia lạnh và một đĩa trái cây với thịt, rồi người quản lý gia đình Greenwich báo cáo với bà tôi về việc điều hành công việc ở đây, một trong những người giữ ngựa vắng mặt không xin phép, giá rượu tăng.
Tôi không cảm thấy muốn ăn. Đôi mắt sắc sảo của bà nhìn tôi trong khi đang lắng nghe người quản lý báo cáo. Khi ông ấy kết thúc, cúi chào và đứng thẳng lên, bà bảo tôi: “Cháu phải ăn đi, cháu thân yêu”.
“Cháu không đói”, tôi nói.
“Cháu hẳn phải đói”, bà khăng khăng, “cháu trải qua một chuyến cưỡi ngựa dài, sau đó là một chuyến đi thuyền. Chiến thắng của cháu là phải sống sót và vươn lên, cháu biết đấy. Nhịn đói và thất bại nghĩa là giúp kẻ thù làm công việc của họ”.
“Cháu không có kẻ thù”, tôi điềm tĩnh nói, “cháu không gây thù oán với ai khi cháu phục vụ Nữ hoàng, và cháu kết hôn với một người đàn ông vì tình yêu, người có quyền tự do yêu cháu. Cháu không có đối thủ hay kẻ thù nào nhưng cháu vẫn bị cầm tù trong hai năm. Không ai buộc tội cháu về bất cứ điều gì, không ai làm chứng chống lại cháu. Không ai có lý do gì để ghét cháu”.
Bà gật đầu. “Bà biết. Chúng ta không thể nói về chuyện đó ở đây. Nhưng dù sao, cháu phải ăn. Con đường của cháu là phải tồn tại...”.
Bà không nói “và sống lâu hơn Nữ hoàng Elizabeth”, nhưng cả hai chúng tôi đều hiểu ý bà muốn nói.
“Cháu sẽ làm thế”, tôi nói và cười nhẹ với bà. Tôi nhìn thấy trong quyết tâm của bà – ý chí của một người sống sót – là một tấm gương cho bản thân tôi, “bà đã làm được như thế”.
Bà ra dấu một cử chỉ ngoại lai, kiểu nhún vai từ người mẹ Tây Ban Nha nổi tiếng xinh đẹp của bà. “Một triều thần phải biết cách sống sót. Bà sinh ra và lớn lên ở triều đình, bà hy vọng sẽ được chết trong nhung lụa, trong sự sủng ái”.
“Cháu tin là sẽ có một đám tang lớn”, tôi cay đắng nói, “bất cứ khi nào cháu chết. Nữ hoàng rất thích tôn vinh gia đình của bà khi họ đã chết một cách an toàn”.
Bà bật cười khẽ. “Suỵt”, bà nói, “nếu cháu còn cười được thì cháu có thể ăn được. Người ta nói với bà rằng chị cháu rất đau khổ và nhịn ăn. Đó không phải là cách để chiến thắng. Bà sẽ viết thư cho chị cháu và cũng sẽ khuyên chị cháu điều này. Đó là điều mà bạn của bà, Hoàng hậu Kateryn Parr, hiểu rõ; đó là điều mà mẹ cháu hiểu rõ. Một phụ nữ khôn ngoan sẽ sống lâu và hy vọng thay đổi”.
CUNG ĐIỆN GREENWICH
MÙA THU NĂM 1567
Những căn phòng của tôi ở Greenwich được trang bị đầy đủ nội thất, đích thân Nữ hoàng gởi cho tôi vài bình nước bạc để đựng bia và rượu, sau khi bà ngoại kế của tôi cung cấp cho William Cecil một danh sách những thứ chúng tôi cần. Tôi không nghĩ bà sẽ nói toạc mọi thứ khi bà càu nhàu về hoàn cảnh thiếu thốn của tôi. Tôi không nghĩ bà sẽ bảo đảm về kỹ năng quản gia tốt của chúng tôi. Bà ngoại kế của tôi đã mất tất cả những thứ tốt đẹp của bà trong những năm sống lưu vong ở châu Âu, một bước đi trước các điệp viên Công giáo muốn lôi bà trở lại Anh để xử tội dị giáo. Bây giờ bà quyết tâm không để bản thân hay gia đình mình phải chịu đau khổ một lần nữa. Bà được nhiều người yêu mến ở triều đình của Nữ hoàng Elizabeth và bà đang chờ triều đình quay lại Greenwich để thảo luận về sự tự do cho tôi. Bà tự tin rằng tôi sẽ được thả, Ned sẽ được phép về Hanworth, chị Katherine và bé Thomas sẽ về với anh ấy và bé Teddy, gia đình sẽ được giải thoát và đoàn tụ. Bà tin rằng lòng mộ đạo chân chính của Nữ hoàng Elizabeth với Đức tin Kháng cách sẽ chiến thắng tình cảm ngang bướng dai dẳng với người họ hàng Công giáo, lòng trung thành gia đình lay lắt của bà với Nữ hoàng Mary xứ Scots, sự phòng thủ đáng sợ của bà với các quyền lợi nữ hoàng, thậm chí dành cho một người gần như không có gì xứng đáng.
“Hãy can đảm lên!”, Nữ Công tước rạng ngời nói với tôi khi thấy tôi mệt mỏi bước đi trong vườn, nhìn ra dòng sông nơi những con thuyền dang rộng cánh buồm, thả xuống những sợi dây thừng bằng sợi gai thô trông như thể chúng đang sẵn sàng bay đi, tự do như những cánh chim bay vòng quanh các cột buồm. “Can đảm lên! Mùa xuân tới cháu sẽ được đi đến bất cứ nơi nào cháu muốn, bà thề đấy. Bà sẽ lên tiếng vì cả chồng cháu, chị cháu, anh rể cháu, và vì hai cậu bé vô tội. Cuộc đời cháu sẽ không kết thúc trong ngục tù như chị Jane đáng thương của cháu. Cháu sẽ được tự do, hãy tin là thế!”.
Tôi tin bà. Chồng bà, Richard Bertie, cúi xuống hôn tay tôi và bảo rằng những thời khắc tốt đẹp sẽ đến. Mọi người đều phải chịu đựng trong thế giới khó khăn này, nhưng Chúa sẽ tưởng thưởng cho những người trung thành với Ngài. Ông nhắc tôi rằng bà ngoại kế của tôi đã được triệu tập về nhà khi tôn giáo của bà trở thành đức tin của nước Anh, và chỉ trong phút chốc, bà không còn là một kẻ dị giáo bị đọa đày mà trở thành một trong những người được lựa chọn.
“Ngoài ra”, bà nói với tôi, “Nữ hoàng Elizabeth không thể tạo ra một lực lượng cho Nữ hoàng Mary xứ Scots. Bà ấy đã cho Clan Hamilton một khoản tiền lớn, nhưng họ sẽ không triệu tập quân đội cho Nữ hoàng Mary. Bà ấy yêu cầu các nước châu Âu không tiếp tế cho Scotland. Nhưng ngay cả Pháp, dòng họ cũ của Nữ hoàng Mary, cũng không ủng hộ một cuộc phong tỏa thương mại ở Scotland. Nếu không có sự hỗ trợ của Tây Ban Nha, không có Pháp, Nữ hoàng Elizabeth không thể làm gì cho người họ hàng của bà ấy cả: Bà ấy không thể hành động đơn độc”.
“Hoặc dù sao thì bà ấy cũng không dám”, Richard Bertie thầm bổ sung. Bà tôi cười và đánh nhẹ vào tay chồng. “Việc khôi phục ngai vàng cho một nữ hoàng Công giáo không phải là vì lợi ích của nước Anh”, bà nói.
“Nữ hoàng, Nữ hoàng của chúng ta sẽ không bao giờ chống lại lợi ích đất nước Kháng cách của mình. Dù trái tim bà ấy khao khát điều gì, bà ấy luôn có một cái đầu kiên định. Cháu có thể chắc chắn điều đó”.
“Tôi có thể chắc chắn về William Cecil”, Richard Bertie nói. “Trái tim ông ấy không hề muốn một người Công giáo đang gặp rắc rối”.
“Và cùng lúc đó”, tôi hỏi, “chuyện gì đang xảy ra với Mary, cựu Nữ hoàng Scotland?”.
Bà ngoại kế của tôi nhún vai như thể muốn nói “Ai mà quan tâm!”, bà nói, “cô ấy bị cầm tù. Hẳn cô ấy rất nhớ cậu con trai mà cô ấy phải trao đi; hẳn cô ấy rất đau khổ vì những đứa trẻ đã mất. Cô ấy phải hiểu rằng mình đã cư xử như một kẻ ngốc. Chúa ơi, cô ấy hẳn phải hối tiếc suốt cả cuộc đời vì đã kết hôn với cậu bé đồi bại đó, sau đó cho người giết cậu ta, và rồi lại kết hôn với kẻ giết người đó”.
“Cháu không biết là có bằng chứng cho thấy cô ấy đã giết Darnley”, tôi nói.
Bà nhướng mày. “Thế thì ai làm?”, bà hỏi, “ai được lợi từ cái chết của cậu trai trẻ vô giá trị đó nếu không phải người vợ bị ngược đãi và người tình của cô ta?”.
Tôi định mở miệng tranh cãi, nhưng rồi lặng im. Tôi không biết sự thật của vấn đề, tôi không biết người chị họ nguy hiểm và xinh đẹp của tôi có thể đã làm hoặc không làm gì. Nhưng tôi biết rằng cô ấy, giống như chị Katherine và tôi, thù ghét bị giam cầm, đang đập vào các chấn song như một con chim hoảng loạn. Tôi biết cô ấy sẽ như chúng tôi, quyết tâm tìm kiếm tự do. Tôi biết rằng cô ấy, như chúng tôi, sẽ làm bất cứ điều gì để được giải thoát. Đó là sức mạnh duy nhất của chúng tôi. Và như thế, chúng tôi là mối hiểm họa với chính mình.
Tôi nghĩ chị Katherine và tôi có một cơ hội. Vận may không đến với chúng tôi kể từ khi chị Jane đi ngược dòng đến Syon trên chiếc thuyền của nhà Dudley và không phảng kháng khi họ đặt chiếc vương miện lên đầu chị, nhưng cuối cùng thì nó cũng đã trở lại. Chị tôi bỗng được giải thoát khi người giám hộ già của chị qua đời. Sự kiện này chỉ bất ngờ đối với những người hy vọng gạt chị qua một bên và không bao giờ nghĩ đến chị nữa. Ông cụ Wentworth nghèo khó đã hơn bảy mươi tuổi: Ông phản đối chi phí của việc giam giữ chị, ông nài nỉ rằng ông không thể làm việc đó, và giờ thì ông đã thoát khỏi nhiệm vụ bằng cách nằm xuống lòng đất sâu.
Tôi đã quen với những tin xấu đến mức tôi cảm thấy lo sợ ngay khi nhìn bà ngoại kế đi về phía tôi trên con đường rải sỏi vào một ngày đầu tháng Chín với một tờ giấy trong tay. Ngay lập tức tôi sợ rằng có điều gì đó không ổn. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là về chồng tôi, Thomas Keyes, bị giam ở Nhà tù Fleet, tiếp theo là về chị Katherine và những đứa trẻ.
Tôi chạy về phía bà, đôi giày nhỏ kêu lạo xạo trên đá. “Bà ơi! Có tin gì xấu phải không?”.
Bà cố mỉm cười. “Ồ, Mary! Cháu có thể đọc được suy nghĩ của người khác như một người lùn ở hội chợ sao?”.
“Bà nói đi!”, tôi nói.
“Cháu yêu, ngồi xuống đã nào.”
Tôi lại càng cảm thấy sợ hãi hơn. Chúng tôi đi đến một băng ghế đá dưới một lùm cây lá vàng. Tôi leo lên ghế ngồi cho bà vui lòng rồi quay sang bà: “Bà nói đi!”.
Bà mở bức thư ra. “Đó là về chị của cháu, người chị đáng thương của cháu”.
Lá thư được gởi từ người thi hành di chúc của người đàn ông già, một người không hề quan trọng nhưng lại bị cuốn vào những sự kiện lớn lao. Ông viết cho William Cecil nói rằng góa phụ Wentworth không thể chịu trách nhiệm về Katherine và con trai chị ấy, dù bà ấy yêu thương chị như con gái mình. Ông Roke Green do dự nói rằng ông không có chỉ thị gì về việc Katherine nên đi đâu, hay Nữ hoàng muốn như thế nào. Bản thân ông rất nghèo, ông sống một cuộc sống quá đạm bạc để có thể đón tiếp một công nương vĩ đại. Bản thân ông là một người góa vợ, mặc dù nếu ông có vợ, họ cũng chỉ có thể cung cấp cho chị một nơi ở nghèo nàn. Chắc chắn, không ai có thể cho phép chị đến chỗ ông nếu không có một phụ nữ trong nhà để trông nom chị, ngôi nhà của ông nhỏ và chật chội, ông là một người nghèo. Nhưng dù vậy – dù vậy – đây là lá thư thứ ba của ông và không ai cho ông biết nên làm gì! Trong khi điểm đến tiếp theo của chị Katherine đang được các nhà quý tộc ở triều đình của Nữ hoàng cân nhắc, trong khi chị Katherine không có nơi nào để đi, theo đúng nghĩa đen – liệu ông có thể mời chị đến ở nhà ông được không? Đây không phải là một sự cảm thông, thành kiến, ủng hộ hoặc chống đối sự nghiệp hay quyền kế vị của chị. Nhưng chị còn trẻ và yếu đuối, xinh đẹp và gầy ốm một cách kinh khủng, nhịn đói và tuyệt vọng muốn gặp lại chồng con. Chị hầu như không ra khỏi giường, hiếm khi chị ngừng khóc. Ông Roke Green có thể cho chị một mái nhà trong khi Nữ hoàng, với sự khôn ngoan của bà, quyết định nên làm gì với người phụ nữ đáng thương này không? Vì chị không thể tiếp tục ở lại nơi chị đang ở, và chị sẽ chết nếu bị bỏ mặc.
Tôi trả lại lá thư cho bà. “Chị ấy không có nơi nào để đi cả”, tôi nói. Gương mặt bà sáng lên. “Ông ấy nói thế”.
“Bà thấy vui sao?”
“Đúng, vì đây là một cơ hội để chúng ta giải phóng cô ấy, bà nghĩ vậy.” Tôi bỗng thấy tim mình đập mạnh. “Bà nghĩ họ sẽ cho phép sao? Bà sẽ mời chị ấy đến đây chứ?”.
Bà mỉm cười với tôi: “Tại sao không? Như chúng ta đã được cảnh báo, cô ấy không còn nơi nào khác để đi”.
Bà tôi viết thư cho Nữ hoàng, cho William Cecil, và cho Robert Dudley. Triều đình đang ở Lâu đài Windsor. Họ đang trì hoãn việc quay lại London, thời tiết rất tốt, mọi người đều không muốn quay lại đối mặt với câu hỏi khó khăn về việc làm thế nào để hỗ trợ Nữ hoàng Scotland – Một người họ hàng. Một đấng quân vương – mà không phải phản đối các nhà quý tộc Scotland, những người cùng tôn giáo với chúng tôi. Nữ hoàng Elizabeth không biết làm gì và muốn tránh né vấn đề này bằng cách ở lại Windsor vui chơi cùng Robert Dudley. Bà tôi phải viết thư cho một triều đình không có hứng thú với những khó khăn gai góc. Vì vậy, bà cho họ một giải pháp, một giải pháp đơn giản: Rằng chị Katherine sẽ đến sống với bà ngoại của mình và mang theo cậu bé. Ned sẽ được trả về với mẹ anh ở Hanworth. Thomas Keyes sẽ được đưa về gia đình ở Kent. Tất cả chúng tôi phải chấp nhận không gây rắc rối, không gởi thư, không liên hệ với những quyền lực hay phe phái, nhưng chúng tôi có thể sống như những thường dân, và – vì chúng tôi hứa không phạm tội – chúng tôi nên được tự do.
Bà gởi một lá thư đến William Cecil tại ngôi nhà mới đáng yêu của ông, Burghley House; một lá thư đến Robert Dudley, đang khiêu vũ cùng Nữ hoàng Elizabeth tại Windsor; và một lá thư nữa đến vị Nữ hoàng đang rong chơi. Rồi chúng tôi chờ đợi hồi âm trong hy vọng.
Câu trả lời ngay lập tức đến từ William Cecil. Cặp đôi bí mật Dudley và Nữ hoàng Elizabeth hẳn đã quyết định là họ sẽ để Cecil viết thư cho chúng tôi. Hạnh phúc của họ, sự tự do của họ trên những cánh đồng vàng nước Anh sau mùa gặt, không nên bị làm phiền. Thời tiết tốt đẹp, những chuyến săn bắn hào hứng, không ai trong họ muốn phải giải quyết những việc khó khăn cả. Nữ hoàng Elizabeth đang ăn mừng thêm một năm Dudley làm nô lệ cho bà. Tôi biết Robert Dudley sẽ ủng hộ việc trả tự do cho chị Katherine, nhưng chỉ khi anh ta cảm thấy có thể làm điều đó mà không gặp rắc rối. Anh ta sẽ không cho phép bất cứ điều gì phá vỡ hạnh phúc của Nữ hoàng khi bà đang vui vẻ bên cạnh anh ta.
William Cecil viết một lá thư tay rằng chị Katherine có thể chưa đến với chúng tôi được. Ông viết “chưa” và ông gạch dưới chữ đó. Trong lúc này, chị sẽ ở cùng một người đàn ông trung thành tốt bụng, Ngài Owen Hopton ở Cockfield Hall, Suffolk.
“Chúa ơi, ông ta là ai vậy?”, bà ngoại kế của tôi cáu kỉnh nói, “họ tiếp tục tìm kiếm những người vô vọng này ở đâu vậy?”.
“Ở Cockfield Hall, Suffolk”, tôi đọc lá thư qua vai bà, “bà nhìn này...”. Tôi chỉ vào một câu ngắn. Nữ hoàng khẳng định rằng Công nương Katherine và con trai phải bị cô lập hoàn toàn. Không được nhận thư, quà, tiếp khách hoặc sứ thần nước ngoài.
Bà nhìn tôi. “Họ nghĩ cô ấy có thể làm được gì chứ?”, bà nói, “họ không biết rằng cô ấy buồn đến mức không muốn nói chuyện với ai sao? Rằng cô ấy ăn ít đến mức kiệt sức? Rằng cô ấy hiếm khi rời khỏi giường, rằng cô ấy khóc suốt ngày?”.
Tôi nuốt nước mắt trước ý nghĩ về chị tôi phải ở một mình một lần nữa và bị chuyển đi xa tôi hơn nữa. “Bà đã nói với họ chứ?”.
“Tất nhiên bà đã nói rồi. Và dù sao thì Cecil cũng biết tất cả.”
“Nữ hoàng muốn gì ở chúng cháu?”, tôi hỏi. “Có phải bà ấy chỉ muốn chúng cháu chết trong sự giam cầm và lặng lẽ, ở một nơi xa xôi nào đó mà không ai phàn nàn nếu chúng cháu chết vì đau khổ?”.
Bà tôi không trả lời. Bà nhìn tôi một cách trống rỗng như thể không có gì để nói. Tôi nhận ra trong lúc cảm xúc dâng tràn, tôi đã nói lên một sự thật mà bà không thể phủ nhận.
Triều đình quay về Hampton, nhưng bà tôi không được lệnh triều kiến. “Cháu không muốn mình là nguyên nhân khiến bà bị thất sủng với Nữ hoàng”, tôi nói với bà. “Cháu biết bà phải nghĩ cho các con mình, Peregrine và Susan. Cháu biết bà phải giữ an toàn cho họ. Bà không thể để gia đình bà bị nhiễm sự thất sủng từng đeo bám những người họ hàng của Nữ hoàng Elizabeth”.
Bà nghiêng đầu sang bên và cười gượng. “Bà đã phải đối mặt với những điều tồi tệ hơn thế, cháu biết đấy”, bà nói, “bà đã phục vụ cho vị nữ vương đã dạy Elizabeth tất cả những kiến thức mà hiện nay bà ấy đang tự hào thể hiện. Bà đã phục vụ cho vị nữ vương đã dạy Elizabeth biết cách cai trị. Bà đã phục vụ cho vị nữ vương đã viết kinh sách và dạy Elizabeth – cùng chị Jane của cháu – về thần học. Bà đã phục vụ nữ vương khi bà ấy đối mặt với tội dị giáo và phản quốc. Bà không bao giờ quên Hoàng hậu Kateryn Parr, và bây giờ bà không có gì phải sợ Nữ hoàng Elizabeth cả”.
“Cháu sợ bà ấy”, tôi thú nhận, và tôi bỗng có cảm giác giải thoát lạ lùng khỏi sự kháng cự như một sợi chỉ dệt xuyên suốt tấm thảm cuộc đời tôi kể từ ngày đầu tiên tôi bị đem ra làm một con tốt trong các liên minh gia đình, một cô gái quá trẻ để đưa ra ý kiến, bị cho đi trong một liên minh với Arthur Grey. “Cháu sẽ không giả vờ can đảm. Cháu sợ bà ấy. Cháu nghĩ bà ấy sẽ hủy diệt cháu. Cháu nghĩ bà ấy đã và đang làm điều đó. Cháu nghĩ bà ấy muốn cháu và chị Katherine phải chết, như bà ấy luôn luôn làm thế”.
Bà ngoại kế đáng kính của tôi nở một nụ cười rạng rỡ nhất. “Sống sót”, bà nhắc tôi, “sống sót và hy vọng những ngày tháng tốt đẹp hơn”.
Đây không phải là thời điểm tốt cho các tín hữu của chúng tôi ở Pháp. Nhà vua, bị gia đình chi phối – gia đình Guise – đã bức hại những người cùng đức tin với chúng tôi cho đến khi họ nổi dậy trong một cuộc thánh chiến. Tất nhiên, nước Anh, nơi nắm giữ sức mạnh Kháng cách chủ chốt, nên gởi vũ khí và tiền bạc cho những người Huguenots, nên gởi họ một đội quân để lật đổ các nhà cầm quyền theo Công giáo La Mã. Nhưng Nữ hoàng Elizabeth, như mọi khi, chỉ có thể đi nửa đường trong bất kỳ nhiệm vụ nào. Bà biết bà cần ngăn chặn các nhà cầm quyền Công giáo Pháp giết hại và tiêu diệt các tín hữu của mình. Nhưng những người Kháng cách ở Scotland đã lật đổ người họ hàng của bà, Nữ hoàng Guise Pháp, và bà không thể chịu nổi một mối đe dọa đối với quyền lực hoàng gia. Bà biết mình nên xem Giáo hoàng là kẻ thù – như mọi người nói – ông sẽ tuyên bố đuổi bà ra khỏi tôn giáo, trở thành một nhân vật bị khinh thường, một người có thể bị giết chết một cách hợp pháp. Nhưng có một lãnh đạo Kháng cách ở Scotland, John Knox, gọi bà và Nữ hoàng Mary xứ Scots là “bọn đàn bà quái dị”, không thích hợp để cai trị, và thúc giục tất cả những người có suy nghĩ đúng đắn đứng lên chống lại họ. Nữ hoàng Elizabeth bị xúc phạm nặng nề bởi sự thiếu tôn trọng này, giữa những suy nghĩ rối ren, bà ghét John Knox hơn cả Giáo hoàng, và bà nghĩ bà nên sát cánh cùng Nữ hoàng Mary xứ Scots chống lại ông ta.
Tôi gởi một lá thư cho chị tôi, được người hầu thân tín nhất của Richard Bertie mang đi, giấu trong chiếc bít tất của anh ta. Tôi nghĩ chắc chắn khi đến tay chị Katherine, nó sẽ bốc mùi mồ hôi. Tôi không biết liệu chị có thể trả lời hay không. Tôi thậm chí không biết liệu chị có còn sống để đọc thư không. Tôi không biết tình trạng hiện tại của chị như thế nào.
Chị yêu dấu,
Em cầu nguyện cho chị, chị Katherine thân yêu, trong khoảng thời gian khó khăn này. Em đang sống tốt với bà ngoại kế của chúng ta, Nữ Công tước Suffolk tại Greenwich, và được đối xử tử tế. Em sống trong phòng của bà, em được phép đi dạo trong vườn và đi dạo bên bờ sông. Em không được tiếp khách, nhưng em thích chơi cùng Peregrine và Susan.
Em thường xuyên viết thư cho Nữ hoàng Elizabeth và các nhà quý tộc ở triều đình để xin thả chúng ta, xin thả Ned Seymour và người chồng tội nghiệp của em, Thomas Keyes. Xin đừng quở trách em, ngay cả trong suy nghĩ của chị, vì đã cưới chàng. Chàng là một người tốt, chị Katherine, và chàng rất yêu em. Cuộc hôn nhân của chúng em là một tai họa cho chàng. Em sẵn sàng hủy bỏ nó nếu điều đó có thể cứu chàng thoát khỏi nhà giam. Nhưng sẽ không vì lý do nào khác.
Em nghe nói chị rất ốm. Làm ơn, làm ơn, hãy chiến đấu để sống. Ăn, đi dạo, chơi với con trai chị. Chúng ta phải sống, chị Katherine ạ. Chị Jane đã nói “Hãy học cách chết”, và đó là chỉ khi chị ấy phải đối diện với một án tử hình không thể tránh khỏi. Chị ấy đã sai. Chúng ta không phải học cách chết. Em muốn sống. Em muốn chị sống. Em sẽ sống. Em cầu nguyện với Chúa, Ngài lắng nghe tất cả những lời cầu nguyện của chúng ta, và đối với Ngài, chúng ta quan trọng hơn những con chim sẻ nhỏ rơi xuống đất, em cầu xin cho chị và em sẽ sống và một ngày nào đó chúng ta sẽ ở bên nhau. Khi em nhìn những con chim sẻ trên hàng rào xung quanh những đồng cỏ phía dưới Cung điện Greenwich, em nghĩ đến những chú chim hồng tước của Janey, tình yêu của chị với thiên nhiên, và em cầu nguyện rằng một ngày nào đó tất cả chúng ta sẽ được tự do như những chú chim nhỏ.
Em sẽ không viết thêm nữa – Tạm biệt Chị – vì em mong rằng em sẽ sớm gặp lại chị, cả hai chúng ta sẽ đều mạnh khỏe và hạnh phúc.
M.
Người hầu của Bertie bảo tôi rằng anh ta đưa lá thư vào phòng chị bằng cách nhét nó vào giữa một đống gỗ lò sưởi, nhưng không có cách nào để biết liệu chị có đọc nó không, và không có thư trả lời.
CUNG ĐIỆN GREENWICH
MÙA ĐÔNG NĂM 1567
Triều đình không triệu tập chúng tôi vào Điện Westminster, cả bà tôi, các con của bà và tôi, nhưng tin đồn lan xuống hạ nguồn qua những người hầu, những người bán hàng rong, những người bán nến và những cô gái vắt sữa. Mọi người ở London, kể cả chúng tôi, đều biết Nữ hoàng Elizabeth cuối cùng cũng đang chuẩn bị kết hôn, và lựa chọn của bà rơi vào Đại công tước Charles II của Áo, con trai Hoàng đế La Mã Thần Thánh quá cố Ferdinand.
Đó sẽ là một liên minh hùng mạnh, kết nối nước Anh với một thế lực vĩ đại của châu Âu, dòng họ Habsburg. Việc đó sẽ bảo vệ chúng tôi an toàn trước mọi cuộc xâm lược từ bất kỳ cường quốc lục địa nào, che chở chúng tôi trước sự thù địch của Giáo hoàng. Việc đó có nghĩa là chúng tôi sẽ được phục hồi vị trí giữa các nước theo Cơ đốc, không còn là một kẻ ngoại đạo so với đức tin của các nước châu Âu. Chúng tôi có thể giúp Nữ hoàng Mary xứ Scots hay không tùy ý. Sự sụp đổ hay trỗi dậy của cô ấy sẽ không đe dọa chúng tôi một khi Habsburg đã là đồng minh của chúng tôi.
Chúng tôi có thể đạt được điều đó gần như không phải trả giá gì cả. Nữ hoàng Elizabeth không phải cải đạo, đất nước không phải thay đổi tôn giáo. Bà không phải đặt ông, như một người chồng, lên trên bà. Ông không phải là một hoàng thân. Ông là con trai thứ trong gia đình: Ông hiểu rõ về vai trò của một người ở vị trí thứ hai. Điều tốt nhất có lẽ là Đại công tước sẽ không thay đổi tôn giáo của mình, ông sẽ hành lễ riêng cho đức tin của ông, sẽ có một nhà nguyện trong mỗi cung điện hoàng gia và sẽ có một linh mục đi cùng ông. Ông sẽ giữ thánh lễ nhưng sẽ không bắt buộc ai phải theo mình cả. Chúng tôi sẽ thể hiện, như chúng tôi nên làm, rằng ở đất nước này, các bậc trị vì luân phiên nhau từ Công giáo đến Kháng cách, rồi lại Công giáo, rồi lại Kháng cách, và chúng tôi có thể sống hòa thuận với nhau. Rằng chỉ có một Đức Chúa Trời, nhưng có những cách khác nhau để tiếp cận Ngài. Rằng ý muốn của Chúa là chúng tôi nên yêu thương nhau. Chúa Giêsu không hề nói rằng chúng ta nên bức hại nhau đến chết. Kinh Thánh không hề bắt buộc phải xử tử chị Jane. Không một luật pháp nào của con người hay Đức Chúa Trời yêu cầu phải bắt giam chúng tôi cả.
Nhưng tôi không bị cám dỗ bởi viễn cảnh lung linh này với người dì họ Nữ hoàng Elizabeth của tôi. Nếu được tự do, tôi sẽ không lãng phí một giây phút nào cho điều đó. Nữ hoàng Elizabeth đã thuyết phục Hội đồng rằng bà dự định kết hôn với Đại công tước. Bà không bao giờ thuyết phục được tôi rằng bà sẽ đưa một người đàn ông khác thay vào vị trí của Robert Dudley, nhưng Hội đồng Cơ mật cực kỳ nhẹ nhõm với giải pháp này cho vấn đề kế vị – và sau đó – để khiến họ chệch hướng hơn nữa, bà hỏi xin ý kiến và lời khuyên của họ.
Việc này chủ yếu nhằm thỏa mãn các thành viên Thượng viện và Hạ viện, những người năm ngoái yêu cầu bà phải chỉ định một người kế vị và khẳng định đó phải là một tín đồ Kháng cách phù hợp – chị Katherine. Giờ thì Nữ hoàng Elizabeth, như một tên lang băm ngoài chợ tìm cách moi tiền trong túi những kẻ nhẹ dạ, nói rằng bà nghe theo lời khuyên của họ là bà phải kết hôn, rằng bà có ý định kết hôn với một người Công giáo Habsburg, rằng cặp vợ chồng hạnh phúc (chắc chắn) sẽ sinh ra một đứa trẻ, vì vậy nên bà không cần phải chọn Nữ hoàng Mary xứ Scots – đang bị giam trên hòn đảo của mình, hay chị Katherine – đang bị nhốt ở nhà ngài Owen. Nhưng Nữ hoàng có thể hứa bà sẽ sinh con, một cậu con trai xinh xắn, cháu trai của Hoàng đế La Mã Thần Thánh, cháu ngoại của Vua Henry VIII, và tất cả mọi người trên thế giới đều hân hoan khi tình yêu có thể tìm thấy một con đường mà hận thù không thể, để đưa Công giáo và Kháng cách hòa hợp với nhau một lần nữa; mọi người đều có thể hạnh phúc – tất nhiên ngoại trừ chị Katherine, tôi và Nữ hoàng Mary xứ Scots. Cả ba chúng tôi sẽ bị giam cầm vĩnh viễn và (hy vọng) bị lãng quên.
Những tin đồn lan truyền khắp London và toàn vương quốc. Dù Nữ hoàng Elizabeth dường như đã sẵn sàng kết hôn vì lợi ích của đất nước, dù bà đã thuyết phục Hoàng đế La Mã Thần Thánh rằng bà sẽ chấp nhận em trai ngài, nhưng Hội đồng vẫn còn mâu thuẫn, và Nữ hoàng Elizabeth mượn sự không chắc chắn của họ làm một tấm khiên để che giấu quyết tâm sống đời độc thân của bà. Thomas Howard, Công tước Norfolk, nói rằng việc kết hôn với một hoàng tử vĩ đại như thế không hề có nguy hiểm gì cho vương quốc mà ngược lại, sẽ mang đến rất nhiều lợi ích, và ông tin rằng không có một trở ngại nào. Vị Đại công tước đã đề nghị và hứa hẹn rằng chúng tôi có thể sống với một vị hoàng thân Công giáo tự làm thánh lễ riêng. Song những người khác trong Hội đồng cho rằng không phải như vậy: đó là Francis Knollys, một tín đồ Kháng cách trung thành, và Robert Dudley, một thành viên nhà Dudley đáng tin cậy. Các nhà quý tộc Kháng cách, Ngài William Herbert, Bá tước Pembroke, và Ngài William Parr, Hầu tước Northampton, cùng cảnh báo Nữ hoàng rằng đất nước không thể chấp nhận bà có một người chồng Công giáo, và họ sẽ không chúc mừng một em bé nửa Công giáo trong nôi. Robert Dudley cho rằng lời cầu hôn nước ngoài này cũng không hấp dẫn lắm. Có người nói với Nữ hoàng rằng ông ta rất xấu xí, rằng tất cả những người Habsburg đều có những chiếc cằm rất nhỏ; bà có muốn kết hôn với một người đàn ông trông như một con sóc không?
Ngay trước lễ Giáng sinh, Nữ hoàng gởi đến Hoàng đế La Mã Thần Thánh quyết định cuối cùng rằng bà không thể kết hôn với em trai ông, Đại công tước Charles. Tất nhiên, toàn bộ gia đình Habsburg bị xúc phạm nghiêm trọng, và tất cả các nước Công giáo đều xem Anh là những kẻ dị giáo bướng bỉnh cứng đầu. Hẳn sẽ tốt hơn cho tất cả chúng tôi nếu trước kia bà chưa giả vờ bằng lòng. Giờ thì họ xem chúng tôi là những kẻ lừa dối. Người Pháp, những người đang đàn áp mọi tín đồ Kháng cách trong vương quốc, đặc biệt cảm thấy cay đắng, và Nữ hoàng Elizabeth một lần nữa không có người kế vị, ngoại trừ Nữ hoàng Mary bị truất phế trong nhà giam và người chị đáng thương của tôi. Chúng tôi quay lại điểm mốc mà có vẻ như chúng tôi luôn đứng đó – loay hoay với vấn đề người kế vị vương quốc để Nữ hoàng Elizabeth có thể tự do yêu Robert Dudley.
CUNG ĐIỆN GREENWICH
MÙA XUÂN NĂM 1568
Ngài Owen Hopton, người giám hộ mới của chị Katherine, viết thư cho William Cecil, xin ông gởi một thầy thuốc London đến Suffolk. Chị tôi ngày càng trở nên yếu hơn vì không ăn uống, và giờ thì chị đang bệnh nặng.
Thầy thuốc Symondes đã được gởi đến khám bệnh cho Công nương, Cecil lịch sự viết mà không ghi rõ là ai đã đưa ra quyết định xa xỉ này, gởi một thầy thuốc giỏi nhất London đến cho chị tôi. Nhưng đây không phải chuyến đi đầu tiên của ông ấy và tình hình không khả quan lắm. Chúng ta hãy cầu nguyện cho cô ấy.
“Cháu phải đến thăm chị ấy”, tôi nói với bà ngoại kế, “bà hãy viết thư cho Cecil xin phép ông cho cháu được ở bên chị. Ông ấy sẽ không từ chối đâu. Ông ấy biết là chị không thể chết một mình. Cháu phải đi”.
Mặt bà tái nhợt vì lo lắng. “Bà biết. Bà biết. Bà sẽ viết thư cho ông ấy, cháu cũng có thể tự viết, và chúng ta sẽ gởi thư cùng một lúc”.
“Cháu có thể đi khi chưa được phép không? Cháu có thể đi ngay bây giờ không?”
Bà đan tay vào nhau. “Chúng ta không dám”, bà nói, “nếu Nữ hoàng biết bà để cháu đi mà không được cho phép, họ sẽ bắt cháu đi nơi khác, và có Chúa mới biết họ sẽ đưa cháu đến đâu”.
“Nhưng chị ấy đang hấp hối!”, tôi bướng bỉnh nói. “Cháu không được phép nói lời tạm biệt với người chị sắp chết của mình sao? Người thân cuối cùng của cháu?”.
Bà đẩy một tờ giấy đến trước mặt tôi. “Cháu viết đi”, bà nói ngắn gọn, “và chúng ta sẽ đi ngay khi được phép”.
Chúng tôi không được cho phép. Chúng tôi nhận được một gói văn kiện chuyển đến từ văn phòng William Cecil. Trên cùng là một ghi chú viết tay của ông. Tôi e rằng thậm chí nếu cô khởi hành ngay lập tức thì cũng đã quá muộn. Công nương Katherine đã qua đời.
Tôi nhìn bà tôi, không tin nổi tin tức này được gởi đến tôi một cách ngắn gọn như vậy. Không một lời cảm thông, không một từ thể hiện sự mất mát bi thương đối với một người phụ nữ trẻ, chỉ mới hai mươi bảy tuổi. Chị tôi. Người chị xinh đẹp, hài hước, đáng yêu và vương giả của tôi.
Bà tôi tháo dải băng quấn quanh xấp tài liệu và nói: “Đây là ghi chép về những giờ phút cuối cùng của con bé. Chúa ban phước cho cô ấy, một phụ nữ xinh đẹp. Bà đọc cho cháu nghe nhé?”.
Tôi ngồi lên bệ cửa sổ trong phòng riêng của bà. “Xin hãy đọc cho cháu”, tôi nói một cách vô cảm. Tôi tự hỏi tại sao mình không khóc, và rồi tôi nhận ra mình đã sống dưới cái bóng của đoạn đầu đài quá lâu. Tôi chưa bao giờ mong đợi bất kỳ ai trong chúng tôi có thể tồn tại dưới sự cai trị của dòng họ Tudor. Bà tôi vuốt thẳng tờ giấy trên đầu gối và hắng giọng đọc, “Ở đây viết rằng chị cháu đã chuẩn bị cho cái chết trong khi cả gia đình cầu xin cô ấy hãy chiến đấu để sống. Chị cháu không đơn độc, Mary – Phu nhân Hopton đã ở bên cạnh cô ấy và nói với cô ấy rằng với tình yêu của Chúa, cô ấy sẽ sống. Nhưng cô ấy nói Chúa không muốn cho cô ấy sống thêm nữa, và chúng ta nên thực hiện ý muốn của Ngài thay vì ý nguyện của cô ấy”.
Bà liếc nhìn tôi để xem tôi chịu đựng điều này như thế nào. Tôi biết trông tôi rất bình tĩnh; tôi không cảm thấy gì ngoài một nỗi tuyệt vọng băng giá.
“Từ tờ mờ sáng, cô ấy đã nhắn gọi Ngài Owen Hopton, nhờ ông chuyển lời giúp. Cô ấy xin Nữ hoàng tha thứ vì đã kết hôn mà không được phép, cô ấy nói: ‘Xin hãy đối xử tốt với các con tôi và đừng áp đặt những tội lỗi của tôi lên bọn trẻ’”. Bà liếc nhìn tôi lần nữa. Tôi gật đầu để bà tiếp tục.
“Cô ấy xin Nữ hoàng đối xử tốt với ngài Hertford, chồng cô, và nói:
‘Tôi biết cái chết của tôi sẽ là một tin tức nặng nề với chàng’. Cô ấy xin trả tự do cho cậu ấy và gởi cậu ấy chiếc nhẫn đính hôn, một chiếc nhẫn có một viên kim cương nhọn, và một chiếc nhẫn cưới có năm mắt xích”.
“Cháu nhớ nó”, tôi ngắt lời, “chị ấy đã cho cháu xem. Chị ấy luôn luôn giữ nó bên mình”.
“Cô ấy đã gởi trả cậu ấy kèm cùng một chiếc nhẫn tang”, giọng bà tôi như nghẹn lại. “Cô bé đáng thương. Một cô bé dịu dàng đáng yêu tội nghiệp. Thật bi kịch! Ở đây viết rằng cô ấy đã cầu nguyện cho chồng – Em đã là một người vợ thực sự, luôn thủy chung với chàng, và chàng sẽ là một người cha hết mực yêu thương những đứa con của chúng ta. Ở đây viết rằng chị con đã đặt làm một chiếc nhẫn tang với chân dung của mình trên đó từ nhiều tháng trước – hẳn cô ấy biết trước là mình sẽ chết. Cô ấy đã khắc một lời nhắn cho chồng mình”.
Tôi gập người trên ghế, úp mặt vào đầu gối, co rúm lại như một đứa trẻ bị thương, hai tay che mắt. Tôi gần như muốn bịt tai lại để không phải nghe những lời yêu thương trong những phút cuối đời của chị. Tôi cảm thấy như mình đang chìm sâu vào một nỗi mất mát nặng nề.
“Nó khắc gì?”, tôi hỏi, “chiếc nhẫn khắc gì?”.
“Chừng nào em còn sống – em là của chàng”.
“Chỉ vậy thôi sao?”, tôi hỏi. Tôi nghĩ mình đã chạm đến tận cùng của nỗi đau. Dường như bể khổ đau đã bao phủ toàn bộ đầu óc tôi.
“Ở đây nói rằng mọi người đã rung chuông vì cô ấy và dân làng đã cầu nguyện cho cô ấy bình phục.”
“Chị ấy có nhắn gì cho cháu không?”
“Cô ấy nói: Vĩnh biệt, Em Gái Ngoan của Chị.”
Tôi đã nghe những lời này khi chị Jane nói với chị Katherine, và giờ là chị Katherine nói với tôi. Rồi tôi sẽ nói với ai? Khi chị Katherine không còn thì tôi chẳng còn người chị em nào nữa. Tôi là một đứa trẻ mồ côi đơn độc.
“Cô ấy nói ‘Xin Chúa Giêsu tiếp nhận linh hồn con’, rồi cô ấy đưa tay che mắt và rời bỏ chúng ta.”
“Cháu không biết phải chịu đựng điều này như thế nào”, tôi nói khẽ. Tôi nhích người đến mép ghế và khuỵu xuống sàn. “Cháu thật sự không biết phải chịu đựng điều này như thế nào”.
Bà nắm tay tôi nhưng không ôm siết tôi quá chặt. Bà biết không gì có thể xoa dịu nỗi đau của tôi. “Chúa ban cho, và Chúa lấy đi; Chúa có lý do riêng của Ngài, cầu Chúa ban phước lành cho con”, bà nói với tôi.
Tất nhiên, người dì họ của chúng tôi, Nữ hoàng Elizabeth, ban cho chị Katherine một tang lễ trọng thể. Bà đặc biệt yêu thích các đám tang, nhất là đám tang của các thành viên trong gia đình! Chị Katherine được chôn cất tại một nhà thờ làng ở Yoxford, cách xa nhà, xa nơi an nghỉ của mẹ chúng tôi, xa nhà nguyện bên gia đình chồng. Nữ hoàng Elizabeth ra lệnh cho triều đình để tang rồi bày ra vẻ đau buồn trên gương mặt giả tạo của bà. Bảy mươi bảy người từ triều đình đến dự tang lễ cùng với một sứ giả và những người hầu trong triều đình; huy hiệu của chị Katherine được vẽ trên các biểu ngữ và cờ hiệu của nhà thờ. Mọi thứ làm nổi bật vị thế của một công chúa Tudor đều được thực hiện. Chị Katherine ra đi trong sự công nhận và tôn vinh, dù chị đã sống một cuộc đời bị bức hại và bỏ mặc.
Nữ hoàng Elizabeth không cho phép tôi tham dự. Hiển nhiên là không. Bà chỉ yêu mến những người kế vị khi họ chết trước bà. Bà không hề mong đợi ai đó sẽ chỉ ra rằng nếu chị Katherine là một công nương Tudor thì cô em gái nhỏ của chị cũng thế – và là người cuối cùng trong hoàng tộc. Bà không hề mong đợi một người họ hàng còn sống, nhất là khi bà đang phô trương sự thương tiếc một cái chết “đẹp” của một người họ hàng khác. Bà ngoại kế của tôi được phép nói lời vĩnh biệt với chị Katherine khi chị đã chết, dù bà bị cấm khi chị còn sống. Bà đi và quay về với vẻ u sầu, nói rằng thật là một bi kịch cuộc đời khi đầu bạc phải đưa tiễn đầu xanh.
Tôi ngồi trong phòng, gặm nhấm cơn giận dữ đầy đau đớn. Tôi không thở nổi trước nỗi đau mất đi người chị thân yêu và lòng căm hận Nữ hoàng. Tôi hầu như không ăn được: Người quản gia cố thuyết phục tôi ăn cái gì đó ít nhất một lần mỗi ngày. Tôi nghĩ sẽ chẳng có gì quan trọng nếu tôi chết vì không được phép nói lời tạm biệt với chị gái mình và cũng không thể chăm sóc cho các con chị. Tôi không được ở với chồng tôi và không được chăm sóc cho các con của chàng. Nữ hoàng Elizabeth biến tôi thành một người đơn độc như bà, một đứa trẻ cô đơn như bà, một đứa trẻ mồ côi như bà. Tôi nghĩ trái tim bà hẳn phải nhỏ bé như trái tim tôi, trí tưởng tượng của bà ngừng phát triển khi mẹ bà qua đời và không ai biết bà là ai. Tôi có thể nhỏ bé nhưng tôi không nhỏ mọn như bà.
Tôi nghĩ thậm chí tôi sẽ không ra khỏi giường cho đến khi bà tôi gõ cửa phòng và nói: “Chúng ta có khách. Cháu không muốn ra phòng khách để xem ai đến gặp cháu sao?”.
“Ai?”. Tôi hỏi một cách lãnh đạm, không buồn quay đầu khỏi gối.
Bà mở cửa, nhìn vào phòng với một nụ cười mỉm, nụ cười đầu tiên mà tôi nhìn thấy suốt cả tháng qua. “Ngài Owen Hopton, người giám hộ Katherine, đến đây tìm cháu. Ông ấy đã đưa bé Thomas Seymour, con trai Katherine, đến ở cùng anh trai và bà nội ở Hanworth. Ông ấy đã mang những chiếc nhẫn cưới và lời nhắn của Katherine đến Ned Seymour. Và giờ thì ông ấy đang ở đây để gặp cháu”.
Tôi tung chăn ra và nhảy khỏi giường. Người hầu của tôi đứng sau lưng bà với bộ áo váy, găng tay và mũ trùm của tôi. “Hãy bảo ông ấy chờ một chút, cháu đến ngay”, tôi nói.
Bà tôi rời khỏi phòng, tôi vội vàng mặc y phục rồi theo bà đến phòng khách. Một người đàn ông cao lớn với vẻ mệt mỏi đang đứng trước mặt bà, một tay cầm chiếc mũ, tay kia cầm một ly rượu. Trên sàn nhà gần cửa là một cái hộp và một chiếc lồng cao được phủ kín. Khi tôi bước vào, ông đặt ly rượu và cái mũ xuống, để tay lên tim, cúi chào tôi.
“Công nương Mary”, ông nói, “thật là vinh dự cho tôi”.
Tôi giật mình khi ông quỳ xuống trước mặt tôi như thể tôi là một nữ hoàng. “Xin hãy đứng dậy”, tôi nói.
“Tôi rất tiếc vì những tin tức tôi đem đến”, ông nói, đứng dậy nhưng vẫn cúi xuống để có thể nhìn vào mặt tôi, “tôi rất yêu quý và kính trọng chị cô, dù chỉ một thời gian ngắn nhưng gia đình chúng tôi rất vui vì sự có mặt của cô ấy. Vợ chồng tôi rất đau buồn khi cô ấy qua đời. Chúng tôi hẳn đã làm bất cứ điều gì có thể cho cô ấy. Bất cứ điều gì”.
Tôi thấy mình phải gác nỗi đau sang một bên để trả lời ông. Cái chết của một công nương không giống như một thường dân. “Tôi hiểu”, tôi nói, “tôi biết ông không thể làm gì để cứu chị ấy”.
“Chúng tôi đã làm mọi việc có thể”, ông nói, “chúng tôi muốn bảo đảm là cô ấy có thể ăn. Cô ấy không muốn ăn và cũng không được chu cấp chi phí ăn uống, nhưng chúng tôi đã phục vụ cô ấy từ nhà bếp của chính mình”.
Ý nghĩ về sự ích kỷ đáng căm hận của Nữ hoàng Elizabeth khiến tôi nghiến răng lại, nhưng tôi cố gắng mỉm cười với ông. “Tôi chắc rằng cuối cùng chị ấy đã tìm thấy sự ấm áp của một gia đình khi đến ở với ông”, tôi nói, “và nếu lúc nào bản thân tôi có thể có một cuộc sống tốt hơn, tôi sẽ không quên ông đã rất tử tế với chị tôi”.
Ông lắc đầu. “Không, tôi không cần phần thưởng”, ông nói, “tôi không đến để được cảm ơn. Chị cô là một công nương vĩ đại. Đó là một vinh hạnh của tôi”.
Thật mỉa mai và cay đắng khi nghĩ đến những gì chị Katherine có thể làm để bước lên bục vinh quang. Không ai ngoài chị ấy có thể chia sẻ sự chua chát này cùng tôi. Tôi chỉ có thể gật đầu.
“Tôi mang đến cho cô một số vật dụng của cô ấy”, ông nói, “chồng cô ấy, Bá tước Hertford, nói rằng tôi nên mang cho cô một số sách của cô ấy, một quyển Kinh Thánh và một số sách ngữ pháp. Bá tước nói cô nên giữ quyển sách ngữ pháp tiếng Ý do chính tác giả dành tặng riêng cho chị cả của cô, Công nương Jane Grey”.
“Cảm ơn”, tôi nói.
“Và tôi mang cho cô cái này”, ông nói một cách ngượng ngùng. Tôi thấy bà ngoại kế của tôi liếc nhìn đến chiếc lồng ở góc phòng.
“Không phải là một con khỉ đấy chứ!”, bà nói.
Lần đầu tiên trong nhiều tuần qua, tôi cảm thấy buồn cười, nhưng có vẻ lúc này không phù hợp. Trong khi mọi người đang nhớ đến bi kịch của chị tôi, tôi lại nhớ đến sự ngốc nghếch duyên dáng của chị. Người giám hộ của chị đã buồn bã đi khắp nước Anh với một thùng sách và một lồng nhốt thú cưng, phong cách điển hình của một phụ nữ trẻ, một người pha lẫn những đam mê khao khát và những sở thích ngộ nghĩnh.
“Ông có gì cho tôi vậy?”
“Một con khỉ”, ông nói, nhìn về phía bà tôi. Bà nói rõ ràng: “Không thể nào!”.
“Chúng tôi thực sự không thể nuôi nó, và Nữ Công tước Somerset nói bà ấy cũng không thể nuôi nó ở Hanworth.”
“Và tôi cũng sẽ không nuôi nó ở đây!”, bà tôi khẳng định.
Ông tháo tấm phủ lồng và chúng tôi nhìn thấy chú khỉ Nozzle, với vẻ mặt buồn bã như thường lệ, ngồi yên một góc như một vị thần ngoại giáo, run rẩy trước sự chào đón không mấy thiện cảm. Tôi thề rằng vừa nhìn thấy tôi, nó đã nhận ra tôi và bước đến cánh cửa lồng một cách hy vọng, làm một cử chỉ với những ngón tay nhỏ xíu như thể muốn mở khóa cửa.
“Thế đấy, nó biết cô. Kể từ khi chủ của nó qua đời, nó không muốn ra ngoài nữa”, ngài Owen nói một cách khích lệ, “nó trở nên tiều tụy vì cô ấy giống như một tín đồ Cơ đốc vậy”.
“Vô lý”, bà tôi kêu lên, nhưng bà không cấm tôi mở cửa lồng, và Nozzle – chú khỉ giờ đã già hơn và buồn bã hơn – nhảy vọt ra, lao vào vòng tay tôi. “Cháu có thể nuôi nó không?”, tôi quay sang hỏi bà.
“Ôi các cô gái!”. Bà thốt lên, như thể chị Jane, chị Katherine và tôi vẫn còn là những đứa trẻ, đang cầu xin được nuôi một con thú cưng không thích hợp.
“Được không ạ?”. Tôi nói, dường như nghe thấy tiếng chị Katherine âm vang trong tiếng nói của chính mình, “cháu xin bà, cháu sẽ không để nó gây rắc rối đâu, cháu hứa”. Tôi nhớ một ngày nắng đẹp trong phòng ngủ của chị Jane, chị Katherine không chịu để nó lại ngoài cửa và nói dối rằng nó không hề có rận.
“Thôi được rồi, cháu có thể giữ nó”, bà nói một cách bao dung, “nhưng nó không được phép xé rách bất cứ thứ gì hoặc gây lộn xộn trong những căn phòng của bà đâu đấy”.
“Cháu sẽ giữ nó sạch sẽ và gọn gàng”, tôi hứa. Tôi có thể cảm thấy nó nắm chặt ngón cái của tôi trong bàn tay nhỏ bé của nó, như thể chúng tôi đang bắt tay nhau với một thỏa thuận. “Chị ấy rất yêu nó”.
“Cô ấy có một trái tim nhân hậu”, ngài Owen nhận xét, “một trái tim chan chứa yêu thương”.
Ai đó đã gắn một dải ruy-băng đen lên chiếc áo khoác nhỏ của nó để nó để tang vị nữ chủ nhân đã hết lòng yêu thương mình. Đôi mắt bi thương của nó nhìn tôi, và tôi ôm nó vào lòng.
“Còn con mèo và con chó của chị ấy thì sao?”
Khuôn mặt u ám của ông rũ xuống. “Con mèo già đang sống trong sân nhà chúng tôi. Cô biết đấy, loài mèo không trung thành lắm. Tôi không nghĩ đến việc bắt nó mang đến đây”.
“Không”, bà tôi vội vã nói, “chúng tôi không cần một con mèo nữa đâu. Thật đấy”.
“Còn Jo, con chó nhỏ đó...”, ông ngập ngừng. “Ông cũng không mang nó đi đâu sao?” “Than ôi, tôi không thể”, ông nói.
“Tại sao?”. Tôi hỏi, nhưng tôi nghĩ tôi biết câu trả lời.
“Nó ở suốt bên cạnh giường Công nương Katherine trong những ngày cuối cùng của cô ấy. Nó không rời khỏi cô ấy, nó không ăn. Giống như một phép màu vậy. Công nương nói chúng tôi nên chuẩn bị một ít thịt để dưới sàn bên cạnh giường cô ấy cho nó. Cô ấy vẫn nhớ đến chú chó Jo; cô ấy không quên nó, ngay cả khi cô ấy đang chuẩn bị đến với Chúa.”
“Ông nói tiếp đi”, tôi nói.
“Jo nằm bên chân giường của chị cô, và khi Công nương trút hơi thở cuối cùng, nó rên lên những tiếng kêu nhỏ, như tiếng than khóc, rồi gác đầu lên chân của Công nương.”
Bà tôi hắng giọng, như thể bà không thể chịu nổi cảnh tượng sầu thảm này.
“Thật sao?”, tôi hỏi.
“Đúng vậy”, ngài Owen đáp. “Chúng tôi phải đưa thi thể đi, ướp liệm và niêm chì. Tất cả thủ tục để chôn cất một công chúa đều phải được thực hiện, cô biết đấy”.
Tôi biết. Ai có thể biết rõ những điều này hơn tôi chứ?
“Chú chó nhỏ đi theo Công nương như người đầu tiên trong đoàn đưa tang, và thật sự là tất cả chúng tôi đều không nỡ đưa nó đi chỗ khác. Có Chúa chứng giám, chúng tôi không hề có ý bất kính với Công nương Katherine. Nhưng cô ấy luôn để chú chó nhỏ chạy theo mình khắp nơi, nên chúng tôi để nó theo, ngay cả khi chủ nhân của nó không còn nữa.
Vào ngày đưa tang, một chiếc xe tang rất đẹp và trang nghiêm được chuẩn bị cho Công nương. Chiếc xe phủ vải màu đen và vàng. Một sứ truyền lệnh đi trước và bảy mươi bảy người đưa tang từ triều đình đi sau, rồi đến gia đình tôi và rất nhiều người dân địa phương, có cả những nhà quý tộc từ những nơi rất xa nữa. Bà cô cũng ở đó; mọi nghi lễ được thực hiện rất hoàn hảo”, ông cúi đầu trước bà tôi. “Mọi người đi theo chiếc xe tang đến nhà nguyện, cả chú chó nhỏ cũng đi theo, dù không ai chú ý đến nó; họ bị phân tâm bởi các biểu ngữ, người sứ giả, những tôn vinh từ triều đình và mọi thứ khác. Nếu tôi biết thì hẳn tôi đã không cho phép chú chó đi theo. Thật lòng tôi cảm thấy đau buồn như thể cô ấy là con gái tôi vậy – tôi không dám bất kính – tôi sẽ không bao giờ quên cô ấy. Cô ấy là Công nương xinh đẹp dịu dàng nhất mà tôi từng phục vụ. Tôi sẽ không thể gặp lại cô ấy một lần nữa”.
“Được rồi, được rồi”, bà tôi nói.
“Cô ấy được an nghỉ trong nhà nguyện và được đặt một tấm bia rất đẹp lên mộ, các biểu ngữ và cờ hiệu treo xung quanh. Cuối cùng, mọi người về nhà sau khi cầu nguyện và chúc phúc cho cô ấy. Không ai cầu nguyện cho linh hồn cô ấy cả”, ông nói, nhìn bà ngoại kế theo Kháng cách của tôi, “tất cả chúng tôi đều biết hiện nay không có nơi nào gọi là luyện ngục nữa. Nhưng tất cả chúng tôi đều cầu nguyện cho cô ấy lên thiên đường và thoát khỏi đau đớn, rồi tất cả chúng tôi về nhà”.
“Nhưng chú chó nhỏ không về cùng với chúng tôi. Nó ở lại nhà nguyện một mình, chú chó nhỏ dễ thương ấy. Không một ai, ngay cả người giữ ngựa mà nó thân thuộc nhất, có thể khiến nó rời nhà nguyện. Chúng tôi cho nó một ít bánh mì, có cả thịt, nhưng nó không ăn gì cả. Chúng tôi cột một sợi dây quanh cổ kéo nó đi, nhưng nó tuột khỏi cái vòng cổ và quay lại nhà nguyện rồi ngủ bên mộ cô ấy. Cuối cùng, chúng tôi để mặc nó. Jo nhắm mắt lại, dụi mũi vào chân như thể nó đang than khóc. Sáng hôm sau, con vật bé nhỏ tội nghiệp ấy đã bất động và lạnh giá, như thể nó đã chọn ra đi cùng với nữ chủ nhân của mình.”
Tôi nhìn bà tôi, thấy bà cũng như tôi, đang cắn môi để kìm nén dòng nước mắt chực trào vì cái chết của chú chó nhỏ, vì cái chết của chị tôi, vì sự lụi tàn của gia đình tôi, và vì tất cả mọi thứ dù không có lý do gì cả.
Chúng tôi im lặng một lúc, sau đó ngài Owen lên tiếng. “Nhưng tôi có mang theo lũ chim hồng tước phía sau xe”, ông nói, giọng đột nhiên vui vẻ.
“Không phải những con chim hồng tước của Janey Seymour đó chứ!” “Những đứa con của chúng, hoặc có thể là con của con chúng”, ông nói, “cô ấy cho chúng làm tổ và sinh con. Chúng tôi đã cho bớt và giữ lại vài con theo yêu cầu của cô ấy. Tôi đã mang chiếc lồng chim xinh xắn với lũ hồng tước đang ca hát đến cho cô, hãy theo tôi ra xe”.
MINORIES, LONDON
MÙA XUÂN NĂM 1568
Dì Bess St. Loe, người bạn của gia đình và thỉnh thoảng là đồng minh của chúng tôi, đã giành được một chiến thắng vào năm ngoái khiến tôi mỉm cười bất cứ khi nào nghĩ đến bà. Dì Bess đã chôn cất người chồng thứ ba và bước đến trước bàn thờ Chúa lần thứ tư – nhưng lần này dì đã vượt qua chính mình – dì kết hôn với ngài George Talbot, Bá tước Shrewsbury, và bây giờ dì là người phụ nữ giàu nhất nước Anh sau Nữ hoàng, sở hữu gần như toàn bộ vùng trung du nước Anh.
Tôi không thể không bật cười trước tiến bộ vượt bậc của dì Bess. Dì từng là một người bạn và là một người chuyên ngồi lê đôi mách ở Bradgate, giờ đây dì là một Nữ Bá tước. Dì Bess, sinh ra là một cô gái nghèo, sớm góa bụa, từng vui mừng vì được sự yêu mến của mẹ tôi, giờ trở thành một phụ nữ tuyệt vời nhờ sự nhạy bén kinh doanh phi thường và những cuộc hôn nhân. Tất nhiên, tôi nghĩ vận may của bà có thể giúp ích cho tôi. Một chủ đất như dì Bess, sở hữu hàng nghìn ngôi nhà, vô số trang trại và làng mạc, có thể dễ dàng cho tôi một chỗ nương thân. Dì được Nữ hoàng tin cậy; dì có thể đảm bảo tôi không chạy trốn hoặc mưu phản với người Tây Ban Nha, hay bất kỳ điều gì mà Nữ hoàng giả vờ lo sợ, chỉ để giam cầm tôi. Nếu dì Bess có thể nói giúp tôi (dù tôi vẫn không quên dì không bao giờ nói giúp chị Katherine điều gì cả), thì tôi có thể sống tự do đâu đó gần Trang viên Wingfield, Lâu đài Tutbury, Thái ấp Chatsworth, hoặc bất kỳ ngôi nhà nào trong cả nửa tá ngôi nhà khác mà dì sở hữu. Nếu dì là chủ nhà của tôi, tôi sẽ không cần người giám hộ, tôi sẽ giải thoát bà ngoại kế khỏi nhiệm vụ cầm giữ tôi, khỏi sự thất sủng khó chịu của Nữ hoàng Elizabeth; tôi sẽ rời xa London, bị quên lãng, và tôi có thể được tự do.
Tôi nói với bà tôi rằng tôi nghĩ dì Bess có thể nói giúp tôi trước Nữ hoàng và có thể cho tôi một nơi ở. Bà khuyến khích tôi viết thư cho Nữ Bá tước mới và nhờ dì ấy sử dụng ảnh hưởng của mình với Nữ hoàng – vì dì vẫn là một thị nữ, dù lúc này cấp bậc của dì đã được tăng đáng kể. Tôi nghĩ một ngôi nhà nhỏ, một ngôi nhà rất nhỏ ở một ngôi làng nhỏ, cũng đủ là một niềm hạnh phúc to lớn đối với tôi. Tôi có thể sống cùng các con của Thomas Keyes, dù có thể tôi sẽ không bao giờ gặp lại chàng nữa. Và tôi chắc chắn chú khỉ Nozzle sẽ thích một khu vườn nhỏ nhiều cây trái.
LÂU ĐÀI GRIMSTHORPE, LINCOLNSHIRE
MÙA HÈ NĂM 1568
Nữ hoàng Elizabeth chịu đựng nỗi đau sau cái chết của chị Katherine giỏi đến độ toàn bộ triều đình ngưng để tang chỉ sau một tháng, và lễ May Day88* đem lại bầu không khí vui tươi hơn bao giờ hết. Sau nỗi lo lắng về Nữ hoàng Mary xứ Scots, người vẫn đang bị giam cầm, bà hồi phục tốt đến mức trao đổi thư từ với Bá tước Moray89* – kẻ phản trắc mang nửa dòng máu anh em với Mary xứ Scots – người đã bắt giam em mình và giám hộ con trai cô ấy. Nữ hoàng Elizabeth nghe tin ông ta mở kho hoàng gia bán đấu giá những món đồ trang sức nổi tiếng của Nữ hoàng Mary, bà đã bỏ qua nỗi lo ngại về người họ hàng của mình và chào giá mua. Sự phản bội đáng kinh ngạc, sự trộm cắp trơ tráo của ông ta không có vấn đề gì với Nữ hoàng Elizabeth, và bà đã trả giá cao hơn mọi người khác để thắng một chuỗi vòng cổ sáu dây ngọc trai với mức giá không tưởng. Tôi nghĩ đến Nữ hoàng Mary đang bị giam cầm tại Lâu đài Lochleven cũng giống như tôi bị giam ở nhà bà tôi tại Grimsthorpe, và nghĩ rằng cô ấy hẳn phải cảm thấy cay đắng lắm nếu biết người họ hàng mà cô ấy nghĩ sẽ đến giải cứu mình hóa ra lại kẻ đồng lõa với kẻ bắt giữ cô ấy và đang đeo chuỗi ngọc trai của cô.
88* . May Day là ngày lễ đón chào tháng Năm, khi cây cối chuyển mình và muôn hoa đua nở. Người Anh có truyền thống kết hoa thành vòng (May Garland), đây là một trong những truyền thống lâu đời nhất của May Day và vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. May Garland như một dấu hiệu báo mùa hè đến. Trẻ con thường mang trên mình những vòng hoa này khi đi gõ cửa xin quà ở các nhà trong thôn xóm kèm theo những khúc hát truyền thống của May Day.
89* . Tức James Stewart (1531 – 1570), Đệ nhất Bá tước thứ nhất của Moray, con ngoài giá thú của Vua James V. Ông làm Nhiếp chính Scotland từ 1567 cho đến khi bị ám sát chết vào năm 1570.
Nhưng Nữ hoàng Mary không lãng phí thời gian để đếm những thứ bị cướp mất và khóc than cho đứa con bị sẩy thai. Sau đó vào cuối tháng Năm, chúng tôi nghe tin cô đã vượt ngục thoát ra như một nữ anh hùng, và tôi nghĩ – tôi ước gì tôi có đủ dũng cảm, tiền bạc và những người bạn giống như cô ấy. Nữ hoàng Mary đã tự chèo thuyền qua bên kia hồ, cải trang thành một người hầu, gây dựng quân đội và thách thức người anh mang nửa dòng máu với mình trên chiến trường. Nữ hoàng Elizabeth nên gởi quân đến hỗ trợ – bà từng lớn tiếng hứa như vậy – nhưng rốt cục chỉ gởi cho Mary những lời chúc tốt đẹp nhất, và chúng chẳng giúp ích gì. Nữ hoàng xứ Scots bị đánh bại. Đây là nỗ lực cuối cùng của cô ấy, và giờ thì cô ấy đang chạy trốn, không ai biết cô ấy đang ở đâu.
Cô ấy hẳn đang ở đâu đó trong một vùng quê hoang dã của Scotland. Trận chiến diễn ra ở phía tây, bên ngoài Glasgow, tại một nơi mà cô không biết là đâu, cũng không có bạn bè của cô ở đó. Chồng cô, đồng minh lớn nhất của cô, Bothwell, đang mất tích. Người họ hàng Nữ hoàng Elizabeth không giúp gì. Nữ hoàng Mary rất đơn độc. Chúng tôi không có tin tức gì trong nhiều ngày, và rồi chúng tôi nghe tin rằng cô ấy đã cưỡi ngựa ba mươi dặm sau khi bị đánh bại trong trận chiến, ba mươi dặm trong đêm trên mặt đường gồ ghề sỏi đá. Cuối cùng cô ấy cũng tìm được một nơi ẩn náu an toàn, một tu viện yêu mến Nữ hoàng và đức tin của cô. Nếu nước Anh đến hỗ trợ cô ấy ngay bây giờ, toàn cục có thể thay đổi. Nữ hoàng Mary có thể giành lại ngai vàng. Nữ hoàng Elizabeth có thể có một người họ hàng xinh đẹp là nữ hoàng nước láng giềng một lần nữa.
Chúng tôi biết điều đó. Ngay cả bà ngoại kế của tôi, gia đình bà và tôi, những người bị trục xuất khỏi triều đình đến ở tại nhà bà tôi ở Grimsthorpe, Lincolnshire, cũng biết điều đó, bởi vì cả vương quốc đều biết Nữ hoàng Mary đã kêu gọi Nữ hoàng Elizabeth và gởi cho bà một vật hiệu triệu. Đó là một vật đầy quyền lực mà Nữ hoàng Elizabeth không thể từ chối. Đó là một chiếc nhẫn, chiếc nhẫn kim cương mà Nữ hoàng Elizabeth tặng bà năm năm trước khi bà thề thốt về tình yêu thương và tình bạn vĩnh cửu, và bảo Nữ hoàng Mary hãy gởi chiếc nhẫn này cho bà trong trường hợp khẩn cấp, bà sẽ không làm người giữ nó thất vọng.
Tôi theo dõi câu chuyện này – cả thế giới đều theo dõi – cứ như thể đó là một câu chuyện nghẹt thở đăng trên các ấn phẩm được chào bán bởi những người hát rong. Đó là một câu chuyện có sức hút không tưởng về một nữ hoàng vĩ đại thề sẽ viện trợ tuyệt đối cho một nữ hoàng khác, và bây giờ lời hứa cần được thực hiện. Tôi rất mong được biết nơi ở của Nữ hoàng Mary, càng mong đợi muốn biết tiếp theo cô ấy sẽ làm gì.
Tôi nghĩ Nữ hoàng Elizabeth phải gởi tiếp viện cho cô ấy. Bà hẳn phải gởi cả một đội quân để hỗ trợ cho Nữ hoàng Mary ngay khi cô ấy vừa vượt ngục. Nhưng bây giờ – người họ hàng của chúng tôi đang tự do và không thể bảo vệ chính mình, đã gởi chiếc nhẫn để yêu cầu sự trợ giúp bằng bất cứ giá nào từ Nữ hoàng Elizabeth. Bà phải giữ đúng lời thề công khai của mình, phải giải cứu vị nữ hoàng cháu họ của bà.
Không có tin gì về bất kỳ một khoản viện trợ đặc biệt nào đến Scotland. Nhưng tất nhiên, Nữ hoàng Elizabeth có thể bí mật gởi tiền mà không nói với ai. Chắc chắn quân đội không được tập trung, vì nếu chuyện đó xảy ra thì dù bị nhét trong góc kẹt, chúng tôi vẫn sẽ biết. Tôi nghĩ có lẽ Nữ hoàng Elizabeth sẽ gặp Hội đồng Cơ mật và thuyết phục họ ủng hộ Nữ hoàng xứ Scotland để sự uy nghiêm của hoàng gia không bị đe dọa. Tôi nghĩ có lẽ bà sẽ triệu tập Nghị viện và chọn Nữ hoàng Mary làm người kế vị – cuối cùng bà cũng phải đi đến điểm đó – để người Scotland biết rằng họ không thể tấn công họ hàng của Nữ hoàng Elizabeth và người kế vị của bà, rằng họ sẽ có lợi nếu họ trả ngai vàng cho Mary để cô ấy có thể truyền ngôi cho con trai và cuối cùng, ngai vàng của Scotland và Anh sẽ được thống nhất.
Có tin đồn rằng người Pháp sẽ giải cứu Nữ hoàng Mary từ bờ biển Scotland. Cô ấy là người thân của họ và cô ấy đang tuyệt vọng. Nếu họ cứu cô ấy trước chúng tôi, và Nữ hoàng Scotland ở trong tay nước Pháp, thì liệu nước Anh có thể tránh khỏi một cuộc tấn công? Liệu cô ấy có kết hôn với một hoàng tử khác, giành lại vương quốc và nhớ đến người dì họ là Nữ hoàng Elizabeth bất trung đã phá vỡ lời tuyên thệ thiêng liêng với cô, một đồng minh không đáng tin cậy, một người họ hàng giả tạo? Liệu cô ấy có nghĩ về nước Anh như một kẻ thù bất tín? Liệu cô ấy có dùng vũ lực để giành lại ngai vàng lẽ ra phải thuộc về cô về mặt pháp lý?
Mọi thứ quy về một điểm nút là Nữ hoàng Elizabeth phải ra tay cứu giúp và đưa cô ấy lên lại ngai vàng. Có nhiều lý do thuyết phục bà phải làm như vậy và không lý gì bà chọn một con đường khác. Là một người họ hàng, cùng là những nữ hoàng, từng đưa ra lời thề thiêng liêng, Nữ hoàng Elizabeth phải giúp Nữ hoàng Mary. Bà không được từ chối.
Nhưng chúng tôi vẫn không nghe tin tức gì. Tôi viết thư cho dì Bess, nhờ bà rằng khi nào thuận tiện, hãy xin Nữ hoàng cho tôi được tự do ở tại một trong những ngôi nhà của bà. Tôi xin bà hãy nhớ đến tình cảm mà mẹ tôi đã dành cho bà và những điều bà đã hứa với chị tôi. Rồi tôi hỏi bà một số tin tức. Bà có biết chuyện gì đang xảy ra với người chị họ tôi, Nữ hoàng Mary xứ Scots không, cô ấy đã được cứu chưa? Bà có tin tức gì về cô ấy không?
Khi tôi còn chưa nhận được phản hồi của dì Bess thì bà tôi bước vào phòng. Tôi đang đọc sách Latin với một thị nữ. Bà nói: “Cháu không bao giờ đoán được chuyện gì vừa xảy ra đâu”.
Tôi hoảng sợ nhảy xuống ghế. Tôi không còn mong đợi những điều tốt đẹp xảy ra trong cuộc đời mình. “Có chuyện gì vậy ạ?”.
“Nữ hoàng Mary xứ Scots đã vượt Solway Firth, rời Scotland và đã đến Anh. Cô ấy viết một lá thư công khai cho Nữ hoàng Elizabeth, nói rằng cô ấy mong được đưa trở về Scotland ngay lập tức với một đạo quân Anh để giúp cô ấy.”
Tôi nghĩ mình phải phấn khích về chuyện này. Thêm một hành động liều lĩnh đầy gan dạ nữa. Nữ hoàng Mary đang ép buộc Nữ hoàng Elizabeth. Nữ hoàng Elizabeth không thể lẩn tránh như cách bà vẫn làm, vì người chị họ của tôi quá cương quyết. Nhưng tôi không cảm thấy hào hứng; tôi thấy khiếp sợ, “Nữ hoàng trả lời chưa?”.
Bà tôi rạng rỡ nói: “Chồng bà, Richard, đang ở với triều đình tại Greenwich. Ông ấy nói Nữ hoàng Elizabeth và Cecil đang soạn thảo các điều khoản. Nữ hoàng Elizabeth nói rằng Nữ hoàng Mary phải được một đạo quân hùng mạnh hộ tống trở về Scotland. Người Scotland phải biết (và tất cả mọi người phải biết) rằng họ không thể lật đổ một nữ hoàng. William Cecil đồng ý và Hội đồng Cơ mật cũng sẽ đồng ý. Không ai muốn tranh cãi về việc một nữ hoàng có thể bị tiêu diệt bởi một người như John Knox ở ngay trước cửa nhà chúng ta. Nghị viện sẽ bỏ phiếu cấp ngân sách và quân đội sẽ được huy động. Nữ hoàng Mary sẽ được đưa về Edinburgh và Nữ hoàng Elizabeth sẽ gởi quân đội đến chiến đấu vì cô ấy”.
“Bà ấy sẽ làm thế sao?”
“Bà ấy đã từng làm thế. Bà ấy từng gởi một đội quân đến Scotland để chống lại nhiếp chính Công giáo và đã chiến thắng trận đó. Bà biết điều đó có thể”, bà tôi nghĩ ngợi, “ngoài ra, sẽ không đến mức đó đâu. Các nhà quý tộc Scotland không muốn có một cuộc chiến với nước Anh. Một nửa trong số họ đang được chúng ta chu cấp tiền bạc. Nếu Nữ hoàng Elizabeth và Cecil triệu tập một đội quân, người Scotland nên biết là họ phải hoan nghênh Nữ hoàng của họ quay lại và giảng hòa với cô ấy. Chính Bothwell mới là người họ không thể chịu nổi. Rất nhiều người thật lòng yêu quý Nữ hoàng Mary”.
“Cháu thích cô ấy được tự do hơn”, tôi nói. “Cháu biết cô ấy là một tín đồ Công giáo và có thể có tội, nhưng cháu mừng là cô ấy đã thoát khỏi Lâu đài Lochleven và được tự do, dù có chuyện gì xảy ra tiếp theo đi nữa. Cháu thường nghĩ đến cô ấy: xinh đẹp như chị Katherine, xấp xỉ tuổi chị Ketherine, và cháu thích nhìn cô ấy, như tất cả những người họ hàng khác, được tự do”.
Nhưng có một người dòng họ Tudor không vui mừng với tự do của Nữ hoàng Mary: dì Margaret Douglas. Hung hãn và hận thù, cùng với chồng là Bá tước Lennox, họ lao vào triều đình. Cả hai liên tục than khóc về cái chết của cậu con trai hư hỏng Henry Stuart, Công tước Darnley, và quăng mình dưới chân Nữ hoàng Elizabeth khóc lóc đòi lại công bằng cho con trai họ. Rằng Nữ hoàng Mary là kẻ đã giết chết anh ta, cô ấy phải được trả về Scotland trong xiềng xích, phải ra tòa vì tội giết người. Nữ hoàng Elizabeth phải bắt Mary, kẻ phải bị thiêu sống vì tội giết chồng.
Nữ hoàng Elizabeth trở nên mất kiên nhẫn với người họ hàng này. Darnley đã đến Scotland theo lệnh của mẹ anh ta và từ chối quay về Anh theo lệnh của Nữ hoàng Elizabeth. Bà không bao giờ quên điều đó. Anh ta đã sử dụng bạo lực với vợ. Tất cả chúng tôi đều biết anh ta chĩa một khẩu súng đã lên đạn vào bụng bầu của vợ mình. Anh ta hẳn là một nạn nhân của các nhà quý tộc xứ Scotland vì họ thù ghét anh ta, nhưng không có bằng chứng xác thực nào cho thấy Nữ hoàng Mary liên quan đến âm mưu này. Và dù sao, dì Margaret nên biết rằng Nữ hoàng Elizabeth có một lương tâm rất khó hiểu. Bà ấy nghĩ Amy Dudley đã chết như thế nào chứ?
Nữ hoàng Elizabeth giải thích, đủ nhẹ nhàng, rằng người Scotland không thể bắt nữ hoàng của họ ra tòa, không ai có thể xử tội một nữ hoàng được tấn phong chính thức. Công bằng mà nói, Nữ hoàng Elizabeth không có quyền lực hơn Nữ hoàng Mary. Họ đều là nữ hoàng và Nữ hoàng Elizabeth không thể bắt hay bỏ tù Nữ hoàng Mary. Các nữ hoàng tạo ra pháp luật, vậy nên họ đứng cao hơn pháp luật. Bà chắc chắn Nữ hoàng Mary sẽ giải thích rõ khi cô ấy gặp mẹ chồng mình. Đó là vấn đề cá nhân giữa họ. Tóm lại, không ai quan tâm đến những gì dì Margaret Douglas nghĩ. Thật ra thì trước giờ chẳng ai quan tâm.
Nhưng tôi cảm thấy không thoải mái khi từng ngày trôi qua mà tôi vẫn không nhận được phản hồi nào của dì Bess, Nữ Bá tước Shrewsbury, và không có tin gì từ triều đình về việc tôi sẽ được chuyển đi đâu. Tôi cảm thấy không thoải mái khi mình vẫn là một tù nhân, bị quản thúc bởi bà ngoại kế, đồng thời chị họ của tôi, Nữ hoàng Mary xứ Scots, đang được giám hộ bởi Ngài Francis Knollys tại Lâu đài Carlisle. Dường như Nữ hoàng Elizabeth không thể kết tội cả hai chúng tôi, những người họ hàng của bà, vì bất cứ tội gì; nhưng chúng tôi vẫn bị giam giữ. Có phải bà nghĩ bà có thể giam chúng tôi đến chết vì tuyệt vọng như chị Katherine không?
Nữ hoàng Elizabeth gởi cho Nữ hoàng Mary một ít quần áo vì cô ấy không có gì ngoài bộ y phục cưỡi ngựa cô mặc trên đường chạy trốn. Nhưng khi họ mở gói đồ ra thì chúng không khác gì một mớ giẻ rách: hai chiếc váy rách, hai miếng vải nhung đen, hai đôi giày, và không có gì khác.
“Tại sao bà ấy lại sỉ nhục Nữ hoàng xứ Scots như vậy?”, bà tôi hỏi. “Tại sao bà ấy lại đối xử với cô ấy một cách khinh miệt như vậy?”.
Chúng tôi nhìn chiếc ghế gác chân tơi tả cùng hai tấm thảm trang trí rách rưới đã ở nhà chúng tôi nhiều năm trời, và nhìn chiếc cốc móp méo mà Nữ hoàng Elizabeth gởi từ kho nhà bếp đến cho tôi sử dụng.
“Để cảnh cáo cô ấy”, tôi chậm rãi nói, “giống như cách bà ấy đã cảnh cáo chị Katherine và cháu. Rằng khi không được ân sủng của bà ấy thì chúng cháu sẽ sống trong cảnh rất nghèo khổ, chúng cháu là những tù nhân. Bà ấy có thể nói là bà ấy không bắt giữ một nữ hoàng, nhưng nếu Nữ hoàng Mary là khách của Ngài Francis Knollys và không thể tự do đi lại, thì cô ấy là gì nếu không phải là tù nhân của Nữ hoàng Elizabeth? Bà nghĩ Nữ hoàng Mary có hiểu được thông điệp đó không? Rằng cô ấy cũng là một tù nhân như cháu?”.
LÂU ĐÀI GRIMSTHORPE, LINCOLNSHIRE
MÙA HÈ NĂM 1568
Hội đồng Cơ mật đã họp tại Cung điện Greenwich và tuyên bố Nữ hoàng Mary xứ Scots sẽ phải hầu tòa. Cô ấy không thể trở về Scotland với một đội quân Anh hộ tống nếu không chứng minh được sự vô tội của mình. Cô ấy bị buộc tội giết chồng, và bản án cho việc giết chồng – một tội ác được xem là phản nghịch vì điều đó chống lại quy luật tự nhiên, cũng như việc giết người – là bị thiêu sống. Đáng ngạc nhiên là Nữ hoàng Elizabeth không khiển trách Hội đồng vì đã không đồng ý với bà – điều đó cho thấy họ chỉ là người phát ngôn thay bà mà thôi – để nói những điều bà không dám nói. Nhưng Nữ hoàng Elizabeth lại ra lệnh rằng Nữ hoàng Mary không được đến triều đình để biện hộ cho hành động của mình, như một nữ hoàng đối diện với một nữ hoàng khác. Bà nói bà và Nữ hoàng Mary không thể gặp nhau, rằng danh tiếng của Nữ hoàng Scotland đã bị vấy bẩn bởi những tin đồn. Việc một phụ nữ phạm tội lăng loàn không được phép đến triều đình của Nữ hoàng Elizabeth sẽ rất buồn cười nếu như không phải rất tồi tệ khi áp dụng với người họ hàng của chúng tôi, Nữ hoàng Mary. Làm thế nào cô ấy có thể được lắng nghe một cách công bằng nếu cô ấy không được phép nói? Và nếu Hội đồng Cơ mật, dàn đồng ca đại diện cho Nữ hoàng Elizabeth và Cecil, nói rằng Nữ hoàng Mary phải bị xử tội giết người mà không được phép tự biện hộ, thì hẳn họ đã quyết định chắc chắn cô ấy có tội và phải chết.
Nhưng Nữ hoàng Mary rất thông minh. Cô ấy từ chối những mảnh giẻ rách nhung đen và những đôi giày cũ, gọi đó là “một ơn gọi lạnh lùng”90*, và ngài Francis, cực kỳ xấu hổ với những mảnh vải rách trong tay mình, nói rằng hẳn đây là một sai lầm ngớ ngẩn của người giữ phòng trang phục. Nữ hoàng Mary nói mình là một nữ hoàng: Cô ấy phải mặc áo lông chồn, cô ấy là hoàng tộc. Không ai được phép gởi cho cô ấy những trang phục thấp kém hơn hoàng gia. Và tương tự, không ai được phép buộc tội cô ấy, vì cô ấy là bậc quân vương được thụ phong: Chỉ có Chúa mới có quyền phán xét cô ấy.
90* . A cold calling.
Nữ hoàng Elizabeth lui một bước, nhanh chóng và gọn ghẽ, và chỉ có Nữ hoàng Elizabeth mới làm được như thế. Bà viết thư cho Mary, bảo rằng đó không phải là một phiên tòa, bởi vì – tất nhiên – một nữ hoàng không thể bị ra tòa. Đó là một yêu cầu đối với hành vi của ngài Moray, người anh cùng cha khác mẹ của Nữ hoàng Scotland. Rằng cô không bị buộc tội, ông ta mới bị. Họ sẽ điều tra xem ông ta có phản bội không, sau đó phục hồi vương vị cho cô. Họ sẽ khôi phục danh tiếng cho cô và đưa cô về ngai vàng. Cô sẽ thoát khỏi tai tiếng và có thể tiếp tục nuôi nấng con trai mình.
“Cô ấy sẽ được tự do”, tôi nói, “cảm ơn Chúa, ít nhất thì cô ấy cũng được tự do”.
Vào tháng Bảy, cuối cùng tôi cũng nhận được hồi âm từ dì Bess. Thư của bà được niêm phong bởi một dấu triện mới, một chú sư tử chồm lên. Tôi mỉm cười khi nhìn thấy nó và mở triện ra. Tôi cảm thấy thích thú khi nghĩ về dì Bess với dấu triện chú sư tử hung hăng vì nó rất thích hợp.
Mary yêu quý, dì rất tiếc không thể cho cháu một câu trả lời tốt hơn. Dì rất muốn cháu ở nhà dì (bất kỳ ngôi nhà nào của dì!) vì tình yêu mà dì dành cho mẹ cháu và cháu. Nhưng trước khi dì kịp xin phép Nữ hoàng cho cháu ở thì bà ấy đã giao cho dì một nhiệm vụ quan trọng hơn là trông nom cháu. Dì và dượng của cháu, ngài Bá tước, đang phải đón tiếp một vị khách – có lẽ cháu cũng có thể đoán ra là ai. Và chúng ta phải bảo đảm an toàn cho cô ấy, tránh xa những kẻ thù địch, kiểm soát thư từ và báo cáo về tất cả những gì cô ấy làm. Cô ấy là một vị khách, nhưng cô ấy không được phép đi đâu cho đến khi chúng ta đưa cô ấy về Scotland. Cô ấy là một vị khách nhưng chúng ta phải kiểm tra mọi thư từ trong tráp của cô ấy và tìm hiểu mọi thứ chúng ta có thể, rồi quyết định cho phù hợp.
Có lẽ lúc này cháu đã đoán được dì đang giữ ai, và lý do tại sao dì không thể mời cháu. Nữ hoàng tin tưởng dì và chồng dì, ngài Bá tước, sẽ giữ an toàn cho Nữ hoàng Mary xứ Scots cho đến khi Nữ hoàng sẵn sàng đưa cô ấy về Scotland. Chúng ta sẽ không để xảy ra một sai sót nào, và hãy tưởng tượng những vinh dự cũng như lợi ích mà chúng ta sẽ có được khi tiếp đón Nữ hoàng Mary xứ Scots và đưa cô ấy an toàn về với ngai vàng. Khi cô ấy trở về Scotland, dì sẽ xin Nữ hoàng cho phép cháu được tự do sống ở một trong những ngôi nhà nhỏ của dì.
Tôi thả lá thư xuống sàn. Tôi cảm thấy muốn bệnh, giống như cái ngày chị Katherine bị bắt đến Tháp và Nữ hoàng Elizabeth đưa cho tôi đôi găng tay của bà. “Cô ấy sẽ không bao giờ thoát được”, tôi tiên đoán, “Nữ hoàng Mary xứ Scots sẽ không bao giờ thoát được. Nữ hoàng Elizabeth đã nhốt cô ấy trong cái mạng nhện của bà, giống như bà đang nhốt cháu. Cả hai chúng cháu sẽ chết trong sự giam cầm”.
LÂU ĐÀI GRIMSTHORPE, LINCOLNSHIRE
GIÁNG SINH NĂM 1568
Đó là một mùa Giáng sinh lạnh giá rực rỡ tại Grimsthorpe và bà ngoại kế của tôi đang ở triều đình nên người quản gia của bà và tôi ăn mừng mùa lễ hội một cách lặng lẽ trong khi bà vắng mặt. Tôi được phép đi dạo trong vườn, xuống chuồng ngựa và đi vòng quanh sân của tòa lâu đài tuyệt đẹp, nhưng khi tuyết rơi, mặt đất bị bao phủ bởi những tảng băng dày, tôi không thể đi xa hơn được. Tôi không ngại bị cầm tù bởi tuyết phủ, vì tôi biết rằng sẽ có ngày băng tan.
Bà tôi gởi cho tôi một lá thư với món quà Giáng sinh là một chiếc cốc vàng, kể cho tôi các tin tức. Bà viết rất cẩn thận để không một tay gián điệp nào có thể nói rằng bà đang âm mưu với tôi.
Bà có những tin tốt về Ned Seymour, Bá tước Hertford, bà viết, tránh nhắc lại việc anh là anh rể của tôi. Ned đã được thả và đang sống tự do ở nhà cậu ấy tại Wiltshire, Wulf Hall. Các con của cậu ấy, Teddy và Thomas, vẫn ở với bà nội tại Hanworth, nhưng bọn trẻ có thể viết thư cho cha chúng, và chúng cũng có thể viết và nhận thư từ cháu. Bà biết điều này sẽ giúp cháu vui vẻ.
Tôi ngừng đọc và nghĩ về những đứa cháu nhỏ của mình, các con của chị Katherine, và nghĩ về cha chúng vẫn đang ở xa chúng, nhưng ít nhất mọi người có thể viết thư cho nhau. Thật sự Nữ hoàng Elizabeth đã trở thành một Nữ hoàng quyền lực kinh khủng. Tất cả chúng tôi chỉ được ở nơi nào bà cho phép chúng tôi ở.
Bà tôi nói rõ rằng cuộc điều tra tội mưu phản của người anh cùng cha khác mẹ với Nữ hoàng Mary xứ Scots đã đổi hướng hoàn toàn. Ngài Moray cung cấp cho cuộc điều tra một hộp chứa những lá thư chứng minh rằng Nữ hoàng là người ám sát chồng và phạm tội ngoại tình với Bothwell. Giờ đây, không phải người anh cùng cha khác mẹ mưu phản mà chính Nữ hoàng Mary mới là kẻ phải ra tòa – dù Nữ hoàng Elizabeth đã thề việc đó sẽ không xảy ra.
Những lá thư trông không giống chữ viết tay của cô ấy, bà tôi khéo léo giải thích. Vì vậy nên một số người nghi ngờ chúng có phải là của cô ấy không.
Tôi rất chắc chắn về điều này. Tôi tưởng tượng các gián điệp của William Cecil đang cắt dán những lá thư giống như những đứa trẻ ngoan cắm mặt vào sách vở để gấp rút giả mạo các thứ. Nhưng trong trường hợp nào đi nữa thì Nữ hoàng Elizabeth cũng không đủ can đảm để đưa ra quyết định cuối cùng. Chúng tôi bước qua năm mới với việc Nữ hoàng Scotland và tôi cùng bị giam cầm, tôi ở Grimsthorpe, cô ấy ở Lâu đài Bolton, phục sức theo đẳng cấp hoàng gia, những trang phục của cô nhất quyết phải được gởi từ Lochleven. Cả hai chúng tôi đều hy vọng được tự do vào mùa xuân tới.
Cô ấy không chỉ hy vọng: Cô ấy viết thư cho Vua Philip II của Tây Ban Nha, nói rằng cô ấy đang bị Nữ hoàng Elizabeth giam giữ không lý do. Việc đó có thể mang lại tự do cho cô hoặc không, nhưng chắc chắn sẽ khiến cô gây thù oán với William Cecil và toàn bộ các tín đồ Kháng cách. Không như cô ấy, tôi không có ai để viết thư. Người thân hoàng gia duy nhất và là kẻ thù duy nhất của tôi: Nữ hoàng Elizabeth.
LÂU ĐÀI GRIMSTHORPE, LINCOLNSHIRE
MÙA XUÂN NĂM 1569
Thật khó tin là ngày ấy cũng đến, mùa xuân đến, cả vùng đất thoát khỏi cái lạnh của mùa đông, những dòng suối chảy róc rách, cả Nữ hoàng Mary xứ Scots và tôi đều được tự do. Mùa xuân luôn khiến tôi rung động với tiếng chim hót, cũng mùa xuân chứng kiến sự tự do của tôi. Nữ hoàng Mary được quay lại Scotland để phục hồi ngai vàng. Cuộc điều tra chống lại cô bị hủy bỏ, và Nữ hoàng Elizabeth biết rằng bà không thể giam giữ cô cháu hoàng tộc của mình mà không có lý do gì cả. Thậm chí bà cũng không tiếp tục giam giữ tôi, dù tôi không có Vua Phillip II và Giáo hoàng ủng hộ. Như thể Nữ hoàng Elizabeth nhìn lại những việc kinh khủng bà đang làm, nhìn lại con đường bà đang đi. Nếu bà có luận điểm nào chống lại được Nữ hoàng Mary, bà có thể xử tử cô ấy. Nếu bà tiếp tục giam giữ tôi vô thời hạn, điều đó có khác gì một án tử? Nữ hoàng Elizabeth đầy lo sợ và hay thay đổi đã chuyển từ việc bức hại những người kế vị bà sang trả tự do cho chúng tôi với hy vọng rằng Nữ hoàng Mary ở Edinburgh và tôi ở đâu đó thật xa sẽ ít gây phiền phức cho bà hơn là giam cầm chúng tôi.
“Cháu sẽ đến ở nhà Ngài Thomas Gresham”, bà tôi nói. “Bà sẽ nhớ cháu, cháu yêu, nhưng bà rất vui khi cháu vẫn ở London, và lần kế tiếp khi triều đình có một vị trí trống, cháu sẽ trở thành một thị nữ. Cháu sẽ trở về vị trí trước kia của cháu”.
“Bà ấy nghĩ rằng cháu sẽ quay lại phục vụ bà ấy sao?”, tôi hỏi một cách hoài nghi.
Bà tôi cười. “Cháu sẽ làm vậy. Đó là cách tốt nhất để chứng tỏ cháu không có gì nguy hiểm đối với Nữ hoàng, cháu không phải là một đối thủ của bà ấy. Hãy nhớ rằng chị của Nữ hoàng đã cầm tù bà ấy nhưng sau đã đó gọi bà ấy vào triều. Nữ hoàng nghĩ rằng mình có thể làm tương tự với cháu”.
“Nhưng cháu có được tự do không?” “Cháu được tự do.”
Tôi nắm tay bà. “Cháu sẽ không bao giờ quên ơn bà”, tôi nói.
“Không có gì đâu”, bà nhăn mặt. “Đừng quên là bà đã nhận nuôi cả con khỉ chết tiệt kia nữa đấy!”.
NHÀ GRESHAM, BISHOPSGATE, LONDON
MÙA HÈ NĂM 1569
Tôi cưỡi ngựa đi London, qua những vùng đất trù phú, màu mỡ nhất nước Anh. Hai bên đường là những đồng cỏ khô vừa mới cắt và tôi có thể ngửi thấy hương cỏ ngai ngái. Trên những ngọn đồi xa xa, những đàn cừu đang quây quần bên nhau. Những cậu bé chăn cừu nhìn đám cừu non mũm mĩm một cách lơ đãng. Trên những đồng cỏ cạnh dòng sông, đàn bò thơ thẩn trên thảm cỏ xanh mướt, và khi chúng tôi cưỡi ngựa đi qua vào lúc hoàng hôn, chúng tôi nhìn thấy những cô thôn nữ ra về, trên tay là chiếc ghế vắt sữa và trên vai nặng trĩu những thùng sữa bò tươi.
Tôi vui khi được cưỡi ngựa đến mức không muốn kết thúc chuyến hành trình thú vị này. Không lâu sau, chúng tôi đi qua Bishopsgate, và kia là tòa nhà to lớn lộng lẫy của ngài Thomas, được xây bằng cả một gia tài ông có được nhờ việc tư vấn các chính sách tài chính cho vương triều Tudor. Chính ngài Thomas là người cảnh báo Nữ hoàng rằng bà phải thu hồi tiền rách và phát hành tiền mới, chính ngài Thomas là người đến sống tại Antwerp91* và bảo vệ quyền lợi cho các thương gia Anh trước những đối tác thương mại lớn nhất của chúng tôi, và chính ngài Thomas là người đã khuyên chúng tôi xây dựng một trung tâm thương mại ở London cho các thương gia gặp gỡ và trao đổi tin tức, cấp giấy phép, chứng nhận sản phẩm độc quyền, mua bán phần hùn công ty của nhau.
91* . Antwerp: Một thành phố lớn vùng Flanders thuộc Vương quốc Bỉ, ngày nay mệnh danh là
Chúng tôi dừng lại trước tòa nhà tráng lệ của ông, to gần bằng một cung điện. Những người hầu mặc chế phục mở cổng cho tôi bước vào. Không có ai ở đó chào đón tôi ngoài người quản gia đang cúi người chào tôi và đề nghị đưa tôi lên phòng.
“Trung tâm kim cương” của thế giới.
“Ngài Thomas đâu rồi?”. Tôi vừa hỏi vừa cởi đôi găng tay đi ngựa đưa cho thị nữ, “và Phu nhân Gresham?”.
“Ngài Thomas bị bệnh, đang nghỉ trong phòng ngủ. Còn Phu nhân Gresham thì đã ra ngoài”, ông ấy nói, có vẻ bối rối vì sự đón tiếp không chu đáo và thiếu tôn trọng đối với tôi.
“Vậy hãy đưa tôi về phòng và bảo Phu nhân Gresham đến gặp tôi ngay khi bà ấy quay về”, tôi nghiêm giọng nói.
Tôi theo người quản gia đi lên một cầu thang lớn. Ông dẫn tôi đi qua những cánh cửa đôi rồi ngừng lại trước một cánh cửa nhỏ ở góc tòa nhà. Ông ấy mở cửa mời tôi bước vào. Căn phòng không đến nỗi ngột ngạt như cái hộp mà tôi phải chịu đựng ở Chequers nhưng cũng không phải một căn phòng đẹp đẽ so với vẻ ngoài tráng lệ của tòa nhà. Đó là một dãy phòng riêng, không có phòng khách, và rõ ràng là tôi sẽ không sống ở đây như một công nương với triều đình nhỏ bé của riêng mình.
Phía trong có một phòng ngủ với một chiếc giường cỡ lớn và một cửa sổ nhìn xuống con đường ồn ào bên dưới để tôi có thể nhìn trộm mọi thứ như một bà vợ tò mò của một thương gia nhìn các thương nhân của ngài Thomas đến và đi, các thư ký ra vào phòng tài vụ.
“Chúng tôi được thông báo là cô sẽ không ở đây lâu”, người quản lý nói với vẻ áy náy. “Chúng tôi được báo là cô sẽ đến triều đình”.
“Tôi tin là vậy, và như thế này cũng ổn nếu ông không có căn phòng nào tốt hơn”, tôi bình thản nói. “Hãy đưa thị nữ và người giúp việc của tôi về phòng họ và vui lòng mang cho tôi một ít rượu, nước và thức ăn. Ông có thể để các thứ đó ở phòng ngoài”.
Ông ấy cúi chào và bước ra. Tôi nhìn quanh. Căn phòng cũng khá dễ chịu – dù sao thì có Chúa biết, ở đây tốt hơn ở Tháp gấp nghìn lần – và đủ tốt cho đến khi tôi quay lại triều đình.
Điều hạnh phúc nhất, tuyệt vời nhất có thể đến với tôi đã xảy ra: Điều kỳ diệu nhất trên đời, báo hiệu một hạnh phúc sắp đến. Và mỗi khi nghĩ về điều đó, tôi lại quỳ xuống cảm ơn Chúa nhân từ. Chồng tôi, người chồng yêu quý của tôi, Thomas Keyes, đã sống sót sau những ngày tháng lạnh giá, đói khổ trong căn xà-lim chật hẹp của một nhà tù tồi tệ nhất nước Anh, và cuối cùng chàng đã được trả tự do. Tôi nhận được tin này qua một lá thư của chàng, do chính chàng viết, lá thư đầu tiên mà tôi nhận được kể từ ngày chúng tôi hôn tạm biệt nhau. Đó là những dòng chữ đầu tiên chàng viết cho tôi. Tôi biết chàng không phải là một học giả và việc thể hiện những suy nghĩ của chàng qua thư không hề dễ dàng. Vì thế, tôi cất giữ lá thư của chàng cẩn thận như cất giữ một báu vật. Nó còn hơn cả một bài thơ, hơn cả một bản ballad, nó là những lời từ tận đáy lòng của một người đàn ông chân thật, người đàn ông của cuộc đời tôi.
Anh sẽ đến Lâu đài Sandgate quê hương anh, hạt Kent. Anh từng là đội trưởng ở đó nên anh biết đó là một nơi đồn trú nhỏ gọn. Anh rất vui mừng khi được tự do. Mỗi ngày anh đều cầu nguyện cho em, cầu mong em sớm được tự do để về với anh. Anh vẫn yêu em như ngày đầu tiên anh gặp em, một cô bé nhỏ nhắn chưa đầy mười tuổi ngồi trên lưng một con ngựa to lớn. Hãy đến với anh khi em có thể – anh sẽ chờ em. Anh mãi mãi là người chồng yêu thương và chung thủy của em.
TK.
Dù tôi thường đốt tất cả thư sau khi đọc nhưng tôi không thể đốt lá thư này. Tôi giấu nó vào quyển Kinh Thánh tiếng Pháp của chị Katherine, quyển Kinh mà Ned Hertford đã ghi ngày sinh của các cháu tôi trong đó. Tôi kẹp lá thư vào giữa những trang sách và đọc nó mỗi ngày.
Việc đầu tiên tôi làm là viết thư gởi bà tôi ở triều đình và nhờ bà nhắn với Nữ hoàng rằng tôi đang đợi lệnh triều kiến.
Cháu không phàn nàn về chuyện phòng ốc nhưng cháu thích ở với bà hơn. Bên cạnh đó, ngài Thomas rất bận nghiên cứu sổ sách lời lỗ, chân ông ấy khập khiễng do một vết thương trước đây. Vợ ông ấy không dễ thương lắm. Đây không phải là một nơi vui vẻ. Cháu không muốn ở lại đây lâu hơn mức cần thiết. Rõ ràng họ cũng không muốn cháu ở lại. Họ không có con và nơi này không có gì thú vị hơn một sở đúc tiền, nơi ông ấy dành phần lớn thời gian ở đó.
Tôi không thích ở đây nhưng dù sao thì khung cảnh xung quanh cũng thay đổi và đó là một dấu hiệu cho thấy tôi đang trên đường đến với tự do hoàn toàn. Lần này tôi may mắn hơn Nữ hoàng Mary xứ Scots. Cuối cùng cô ấy đã không về được Scotland được vì người anh cùng cha khác mẹ đã bội ước, không chấp nhận sự quay về của cô, và các nhà quý tộc Kháng cách cũng không tin vào cô ấy nữa. Cô sẽ phải ở lại với dì Bess tại Wingfield cho đến khi được chấp nhận quay về quê hương. Cô được ở một tòa nhà lộng lẫy nhất và được hầu hạ chu đáo, nhưng tôi không ghen tỵ với cô ấy. Cũng như tôi, cô ấy chỉ mới đi được nửa đường, đã nhìn thấy tự do nhưng chưa thật sự được tự do. Cả hai chúng tôi đều phải chờ đợi lòng nhân từ của Nữ hoàng Elizabeth, một điều hiếm khi xảy ra trong ngày một ngày hai.
NHÀ GRESHAM, BISHOPSGATE, LONDON
MÙA HÈ NĂM 1569
Triều đình đang trong cuộc tuần du thì một tin tức bất thường nhất đến với chúng tôi ở London. Dường như người chị họ tôi, Nữ hoàng Mary xứ Scots, đã đánh lừa được người quản thúc cô ấy, dì Bess, và phạm tội, giống như chị Katherine đã phạm tội, như tôi đã phạm tội. Thật lố bịch, dù đã kết hôn với Bá tước Bothwell hiện đang mất tích nhưng cô ấy lại tự hứa hôn, và nếu điều đó chưa đủ khủng khiếp với vị nữ hoàng không chồng, thì lựa chọn của cô ấy lại rơi vào một nhà quý tộc Anh vĩ đại. Mọi người nói rằng cô ấy đã đính hôn với Thomas Howard, Công tước Norfolk – một người họ hàng của Nữ hoàng Elizabeth từ chi họ Boleyn – ông đã trốn khỏi triều đình của Nữ hoàng Elizabeth và không ai biết ông đang ở đâu.
Ngài Thomas biến mất khỏi nhà vào buổi sáng và không quay về cho đến nửa đêm. Không có gì đáng ghét với các thương gia hơn là sự không chắc chắn, và nếu Nữ hoàng Elizabeth phải gởi một đội quân chống lại gia đình bên mẹ mình, nhà Howard, thì bà sẽ phải chiến đấu với gần hết vùng Norfolk, và không thể dự đoán kết quả sẽ ra sao. Đó sẽ là một cuộc chiến tranh giữa những người họ hàng ruột thịt một lần nữa. Đó sẽ là một cuộc chiến tồi tệ như những cuộc chiến ở Pháp – một cuộc chiến tôn giáo. Sẽ là hai nữ hoàng chiến đấu vì tương lai của nước Anh. Sẽ là một thảm họa cho vương quốc tôi và ngai vàng của các chị em tôi.
Nữ hoàng Elizabeth hủy bỏ cuộc tuần du mùa hè và cả triều đình vội vã quay về Lâu đài Windsor để chuẩn bị cho một cuộc vây hãm. Bà đã sống một cuộc sống khủng khiếp, chờ đợi sự kiện này, và giờ thì nó đã đến. Bà luôn lo sợ người kế vị mình sẽ kết hôn với một nhân vật hùng mạnh và họ sẽ cùng nhau lật đổ bà. Giờ thì bà nghĩ rằng Thomas Howard sẽ tập trung toàn bộ miền Đông chống lại triều đình và các quý tộc miền Bắc sẽ sử dụng những lực lượng mạnh nhất để giải cứu Nữ hoàng Scotland. Cả hai khu vực này đều là Công giáo và không nơi nào yêu thích hoàng gia Tudor.
Tôi có thể nghe tiếng từng nhóm dân chúng và những cậu bé học việc đang tập luyện để bảo vệ London. Khi mở cửa sổ ra, tôi có thể nhìn thấy họ đang duyệt binh lên xuống với những cán chổi trên vai thay cho những ngọn giáo.
Họ nói rằng Công tước Norfolk sẽ tiến quân đánh chiếm Windsor. Họ nói các quý tộc miền Bắc sẽ đến nhà dì Bess để đánh cướp vị khách của bà bằng vũ lực. Dì Bess và chồng dì, Bá tước Shrewsbury, những người rất tự hào khi được đón tiếp một nữ hoàng, phải gởi cô ấy từ Wingfield đến Lâu đài Tutbury và phòng bị nơi này trước một cuộc vây hãm. Nước Anh một lần nữa lại chia thành hai phe – như trước kia – và trò chơi dai dẳng của Nữ hoàng Elizabeth giữa các tôn giáo, các liên minh, những người họ hàng, đã sụp đổ trong nỗi kinh hoàng.
Các quý tộc miền Bắc cưỡi ngựa tuần hành dưới một biểu ngữ hình năm vết thương của Chúa. Họ đang biến việc này thành một cuộc thánh chiến và mọi tín đồ Công giáo ở Anh sẽ ủng hộ họ. Đây là một cuộc Nổi dậy Lần II92*, giống như cuộc nổi dậy lần trước đã suýt lật đổ Đức Vua quá cố Henry VIII, và các giáo sĩ phản bội miền Bắc đang rung chuông ở sân sau của mọi nhà thờ để chứng minh rằng họ đang nổi dậy vì tôn giáo cũ và vì vị Nữ hoàng Scotland trẻ tuổi.
92* . Pilgrimage of Grace.
Dì Bess đáng thương của tôi! Tôi nhận được tin về bà từ vị chủ nhà, ngài Thomas, trong một lần ngắn ngủi ông gặp tôi trên đường từ đại sảnh ra vườn. Ông bảo tôi bà đang chạy trốn về phương nam, đi rất nhanh với một ít người hầu, cố gắng tránh xa quân đội miền Bắc đang tiến xuống, càn quét qua nước Anh. Dì Bess được lệnh phải giam giữ Nữ hoàng Mary trong Lâu đài Coventry trước khi các quý tộc miền Bắc bắt được bà cùng cả gia đình và thảm sát tất cả mọi người. Nữ hoàng Elizabeth tập hợp một đội quân giữa các thương gia London và các cậu bé học việc, ngài Thomas gởi người của ông đi và họ đang hành quân về phía bắc, nhưng họ sẽ không thể làm gì cả nếu mọi ngôi làng đều chống lại họ và mọi nhà thờ đều tổ chức thánh lễ, tuyên bố ủng hộ tự do của Nữ hoàng Mary xứ Scots. Gần như chắc chắn họ sẽ đến trễ. Hội đồng miền Bắc của Nữ hoàng Elizabeth đặt tại York bị bao vây bởi các lực lượng của các quý tộc miền Bắc. Và vẫn không có tin tức gì về quân đội từ Norfolk với Thomas Howard là người đứng đầu có thể tiến đến Coventry để cứu cô dâu của ông hoặc sẽ đem quân đến London để đòi lại ngai vàng cho cô ấy.
NHÀ GRESHAM, BISHOPSGATE, LONDON
MÙA ĐÔNG NĂM 1569
Ngài Thomas bảo tôi rằng có một hạm đội Tây Ban Nha trang bị vũ khí đang đợi lệnh và sẵn sàng dong buồm đến từ Hà Lan và Tây Ban Nha để tăng cường cho đội quân miền Bắc và giải phóng Nữ hoàng Mary xứ Scots. Ông nói có thể giải hòa với người Tây Ban Nha – họ có thể sắp xếp đưa Nữ hoàng Mary về ngai vàng Scotland của cô ấy và tuyên bố cô ấy là người kế vị Nữ hoàng Elizabeth – nhưng các quý tộc miền Bắc có thể không dễ dàng thỏa thuận như vậy.
“Ngài nghĩ Công tước Norfolk cùng với Tây Ban Nha và các quý tộc miền Bắc có thể bị kích động để phản bội lẫn nhau chứ?”, tôi hỏi.
Ông thể hiện vẻ mặt của một người cho vay, gương mặt của kẻ buôn vàng đang cân nhắc giữa hai rủi ro. “Sự phản bội luôn luôn có thể xảy ra”, ông trả lời đơn giản, “đó là tất cả những gì chúng ta còn lại”.
Nữ hoàng Elizabeth may mắn, Nữ hoàng Elizabeth luôn luôn may mắn, và bây giờ may mắn lại mỉm cười với bà một lần nữa. Thomas Howard, Công tước Norfolk, là người đầu tiên phá vỡ cục diện – ông ấy tự nộp mình cho triều đình. Ông không tập hợp quân đội mà đầu hàng, và để tưởng thưởng, bà bắt giam ông ở Tháp. Hạm đội Tây Ban Nha không đến vì họ nghi ngờ quân đội miền Bắc sẽ không đồng hành với họ. Quân đội miền Bắc bỏ cuộc và quay lại những ngọn đồi lạnh lẽo của họ bởi vì không có quân Tây Ban Nha, họ không dám thách thức Nữ hoàng Elizabeth. Và Nữ hoàng Elizabeth, không làm gì khác ngoài việc ẩn nấp đằng sau những bức tường dày của Lâu đài Windsor, quay về London ca khúc khải hoàn và tuyên bố mình là người chiến thắng được Chúa lựa chọn.
NHÀ GRESHAM, BISHOPSGATE, LONDON
MÙA XUÂN NĂM 1570
Dì Bess đáng thương đã mất người chồng thứ tư, mọi người nói thế. Nhưng lần này không phải ông bị chết, để lại cho bà một gia sản kếch xù, mà là bà đánh mất tình yêu của vị Bá tước trong một vụ ngoại tình đầy tai tiếng, vì mọi người nói rằng ông đang yêu người chị họ xinh đẹp của tôi, Nữ hoàng Mary xứ Scots, và đó là lý do tại sao ông thất bại trong việc canh giữ cô ấy hoặc cảnh báo về cuộc nổi dậy.
Điều này đủ để Nữ hoàng Elizabeth căm ghét ông vì dám ngưỡng mộ Nữ hoàng Mary, và ghét luôn cả dì Bess tội nghiệp – đổ lỗi cho bà vì sự quyến rũ không cưỡng được của vị Nữ hoàng xinh đẹp. Dì Bess đánh mất ân sủng hoàng gia, thứ mà bà đã vất vả cả đời mới giành được. Thậm chí còn tệ hơn, vợ chồng bà không thể chung sống trong ngôi nhà hạnh phúc của họ nữa (tôi còn nhớ bà đã viết cho tôi về nhiều ngôi nhà của bà), vì họ phải giam giữ Nữ hoàng Scotland dưới sự canh gác chặt chẽ và cô ấy sẽ bị nhốt ở Lâu đài Tutbury tối tăm và ẩm ướt. Nữ hoàng Mary bị giam giữ một cách thảm hại và dì Bess bị giam cùng với cô ấy, cũng giống như tôi bị cầm tù trong ngôi nhà xinh đẹp ở Bishopsgate và những người chủ nhà không mong muốn bị cầm tù cùng với tôi.
Nhưng không gì có thể dự đoán được. Chủ nhà của tôi, ngài Thomas, bảo tôi rằng thời thế thay đổi gây ảnh hưởng xấu đến giá trị tiền tệ và giờ thì ông không biết một đồng si–ling trị giá bao nhiêu so với một đồng xu. Khi tôi hỏi chuyện gì đã xảy ra, ông nói rằng Bá tước Moray, Nhiếp chính vương Scotland – người anh em phản bội mang nửa dòng máu họ hàng của Nữ hoàng Mary – đã bị bắn chết, và bây giờ các quý tộc Scotland đang kêu gọi sự trở lại của Nữ hoàng Mary xứ Scots. Mùa hè năm ngoái, họ không muốn cô ấy quay lại khi Nữ hoàng Elizabeth muốn trao trả cô, nhưng giờ thì họ muốn cô quay lại, nhưng Nữ hoàng Elizabeth đã học được cách sợ cô ấy. Thay cho vị nữ hoàng chính thống, Nữ hoàng Elizabeth gởi Bá tước Lennox, chồng của dì tôi, Margaret Douglas, đến làm nhiếp chính.
Ngay cả tôi cũng thấy việc này khó có thể được mọi người đồng ý. Ông ta có thực sự mang hòa bình đến cho một quốc gia bị chia rẽ hay không? Liệu ông ta có chào đón cô con dâu đáng ghét của mình khi cô ấy quay về Scotland không? Liệu ông ta có làm được gì khác ngoài việc theo đuổi các quý tộc Scotland mà ông ta buộc tội đã giết con trai mình và bắt đầu những cuộc chiến một lần nữa?
NHÀ GRESHAM, BISHOPSGATE, LONDON
MÙA HÈ NĂM 1570
Tôi cầm trong tay một vật hiếm hoi và quý giá, lá thư của chồng tôi, Thomas. Nó đến với tôi trong bộ khăn trải giường sạch sẽ, nghĩa là ai đó đã hối lộ tiệm giặt ủi để đưa trang giấy này đến với tôi. Đó là một tờ giấy loại tốt – hẳn chàng đã đến gặp các thư ký ở Lâu đài Sandgate để mua – và chàng viết với nét chữ rõ ràng, không phải văn phong học thuật, nhưng dễ đọc cho tất cả mọi người, một lối viết đủ tốt để gởi một mệnh lệnh ngắn gọn đến một người gác cổng từ một khoảng cách xa.
Tình yêu của em, em đang ở rất xa. Nhưng em nghe thấy tiếng chàng. Có Chúa biết, em sẽ luôn luôn, luôn luôn lắng nghe chàng.
Vợ yêu của anh,
Anh đã nói chuyện với Tổng Giám mục Parker (mà anh biết là một người tốt) về chuyện của chúng ta, và hỏi ông ấy rằng có phải là trong hôn nhân, không ai có thể ngăn cách chúng ta không. Ông ấy sẽ xin Nữ hoàng khoan dung cho phép anh được chung sống với vợ mình. Anh sẽ đi đến bất cứ nơi đâu với em, anh sẽ ở cùng em trong bất kỳ hoàn cảnh giam giữ nào và hy vọng có thể khiến việc giam giữ trở nên dễ chịu hơn với em, cũng giống như những suy nghĩ về em luôn giúp anh cảm thấy dễ chịu. Anh mãi mãi là một người chồng chung thủy với em, trong hành động cũng như trong suy nghĩ.
TK.
Một tin tốt với tôi là Thomas Howard, người họ hàng của Nữ hoàng Elizabeth, đã được thả khỏi Tháp mà không bị kết tội và bị quản thúc tại gia ở London. Nếu ông, một người họ hàng thứ hai, phạm tội đính hôn với nữ hoàng đối phương, mà còn có thể được phóng thích, và nếu chị họ tôi có thể được đưa trở về Scotland, thì không có lý do gì để tiếp tục giam giữ tôi nữa.
“Tôi đã xin thả cô”, ngài Thomas nói với tôi bằng giọng khô khốc khi ông bước đến cánh cửa phòng riêng của tôi để thăm hỏi theo phép lịch sự, “Tôi chắc chắn cô sẽ được thả vào năm tới”.
Tôi viết thư cho Thomas:
Chồng yêu dấu, em đã nhận được quá nhiều lời hứa tự do đến mức em đã học được rằng mình không nên tin vào điều gì cả, nhưng nếu có thể đến với chàng, em sẽ đến. Em cầu nguyện cho chàng mỗi ngày và em luôn nghĩ về chàng, người đã dành cho em một tình yêu tuyệt vời như thế. Em rất vui vì chàng được tự do và ước mong duy nhất của em lúc này là được ở bên chàng, làm một người mẹ tốt của các con chàng. Mãi mãi là vợ yêu của chàng.
MK.
Tôi ký tên “MK”, chữ viết tắt của “Mary Keyes”. Tôi không phủ nhận tình yêu của tôi dành cho chàng hay cuộc hôn nhân của tôi với chàng, tôi hôn lên nếp gấp của tờ giấy, nhỏ sáp vào vị trí nụ hôn và gắn niêm phong bằng dấu triện của gia đình tôi. Chàng sẽ biết cách gỡ con dấu để nhận nụ hôn.
NHÀ GRESHAM, BISHOPSGATE, LONDON
MÙA XUÂN NĂM 1571
Ngài Thomas rất phấn khích và người vợ xấu tính của ông cuối cùng cũng có một niềm vui trong cuộc đời. Nữ hoàng Elizabeth sẽ đến thăm trung tâm thương mại và các cửa hàng mà ông đã xây dựng, sau đó bà sẽ dùng bữa tối tại nhà ông. Đặc biệt, họ sẽ phục vụ người dì Nữ hoàng của tôi một bữa đại tiệc ngay bên dưới căn phòng của tôi, nhưng tôi không được phép tham dự. Dù tôi đang ở trong nhà theo lệnh của bà nhưng tôi không được xuất hiện.
“Không được gặp bà ấy à?”, tôi hỏi thẳng. Trong một khoảnh khắc, tôi tưởng mình sẽ đơn giản tham gia cùng đoàn tùy tùng của bà khi họ bước vào và bà sẽ nhân chuyến thăm này đưa tôi quay lại phục vụ hoàng gia mà không một lời xin lỗi vì đã bắt giữ tôi, không một bình luận. Nữ hoàng Elizabeth có cách hành xử rất kỳ lạ và lạnh lùng đến mức tôi nghĩ bà có thể đưa tôi quay lại triều đình mà không nói một lời nào.
“Không”, Phu nhân Gresham ngang giọng nói, “tôi đã bảo chồng tôi giải thích cho ngài Burghley rằng sẽ tốt hơn nếu cô không ở nhà chúng tôi, để tránh tình trạng bối rối, nhưng ông ấy nói cô sẽ ở trong phòng cô và sẽ chẳng có chuyện gì bối rối cả”.
“Ngài Burghley?”, tôi hỏi.
“Tước hiệu mới của Ngài William Cecil.”
Tôi gật đầu. Tôi có thể hiểu người bạn cũ của tôi được khen thưởng vì sự thù nghịch bất tận của ông đối với Nữ hoàng Scotland.
“Cô sẽ ở yên trong phòng”, bà khẳng định. “Như bà muốn.”
“Và không làm ồn.”
Tôi mở to mắt trước sự thô lỗ của bà. “Tôi không có ý định nhảy múa”, tôi nói, “hoặc ca hát”.
“Và không được cố gắng thu hút sự chú ý của bà ấy”, bà quy định.
“Phu nhân Gresham thân mến”, tôi nói một cách khinh miệt, dù tôi chỉ cao đến ngang ngực bà, “cả đời tôi luôn cố gắng tránh né sự chú ý của người dì họ Nữ hoàng, tôi không hứng thú việc rống lên với bà ấy khi bà ấy đang tham dự một bữa tiệc trong nhà bà. Tôi chỉ hy vọng bà có thể làm tất cả mọi thứ mà bà ấy thích. Tôi nghĩ bà không ở triều đình nhiều, phải không? Bà là một bà nội trợ ở thành phố, đúng không nào? Và không phải là một quý tộc?”.
Phu nhân Gresham nghiến răng giận dữ rồi lao ra khỏi phòng. Tôi bật cười. Tra tấn Phu nhân Gresham là trò giải trí chính của tôi. Và một chuyến viếng thăm của Nữ hoàng sẽ cho tôi nhiều trò khác nữa.
Trên thực tế, mọi chuyện diễn ra rất hoàn hảo. Nữ hoàng Elizabeth ăn tối trong phòng tiệc của nhà Gresham và xem một vở kịch ca ngợi sự uy nghi vĩ đại của bà. Sau đó, bà đi vòng quanh ngắm nghía sự náo nhiệt ở trung tâm thương mại của ngài Thomas. Các thương gia không tập trung nhiều ở đây giống như trung tâm Bourse ở Bruges. Những người thợ bạc và thợ kim hoàn, những người bán hàng không chuyển vào các cửa hàng nhỏ của ông, họ thích các quầy hàng truyền thống ở mặt tiền nhà của họ trên những con đường thành phố nhộn nhịp hơn. Ngài Thomas đề nghị tất cả những người thuê mặt bằng mang tất cả hàng hóa ra cho Nữ hoàng xem, và ông tặng quà cho bà ở mọi cửa hàng. Nữ hoàng Elizabeth mang đầy những món quà và những lời tâng bốc như một con mèo béo ú. Bà bảo sứ giả thông báo rằng kể từ lúc này, trung tâm thương mại này sẽ được gọi là Trung tâm Thương mại Hoàng gia, cuối cùng ngài Thomas sẽ có thể kiếm tiền ở đây và biểu tượng châu chấu của ông có thể nhảy khắp London.
“Và cô sẽ được tự do”, Phu nhân Gresham nói, phô gương mặt bất mãn qua cánh cửa phòng riêng của tôi vào cuối ngày. Mặt bà đỏ bừng men chiến thắng và men rượu, “ngài Thomas đã hỏi Nữ hoàng và bà ấy nói cô có thể rời khỏi đây”.
“Tôi sẽ rất vui nếu được đi”, tôi nói, cố giữ giọng bình thường trước một tin tuyệt vời được thông báo bởi người đưa tin khó ưa, một thiên sứ ít được mong đợi nhất, “tôi có được đi gặp chồng tôi không?”.
“Tôi không biết”, bà ấy nói, không thể trêu chọc tôi với một lời từ chối, “nhưng chắc chắn cô có thể rời khỏi đây”.
NHÀ GRESHAM, BISHOPSGATE, LONDON
MÙA THU NĂM 1571
Tôi chờ lệnh để đóng gói sách vở và cho chú khỉ Nozzle vào lồng nhưng không có một mệnh lệnh nào cả. Sau đó tôi được biết William Cecil đang rất bận rộn với những vấn đề khác. Ông phát hiện ra một âm mưu lớn nhằm bắt cóc Nữ hoàng Elizabeth. Thomas Howard bị buộc tội âm mưu với Tây Ban Nha tập hợp quân đội để đưa Nữ hoàng Mary lên ngai vàng. Triều đình đầy sợ hãi và sẽ không ai thả một người kế vị khác, một Mary khác, ngay cả khi đó chỉ là tôi, dù mọi người đều biết tôi không làm gì cả. Thomas Howard bị bắt về Tháp, lính gác được tăng cường tại nhà dì Bess, và một lần nữa, Nữ hoàng Elizabeth đang giam giữ ba người họ hàng cùng một lúc.
Tôi viết thư cho Thomas:
Em nghĩ em có thể đến với chàng, nhưng việc này lại bị trì hoãn. Em cầu mong đó chỉ là một sự trì hoãn tạm thời mà thôi. Mỗi ngày trái tim em đều ở bên chàng và cầu nguyện cho chàng. Mãi mãi là vợ yêu của chàng.
MK.
Tôi không nhận được thư trả lời của chàng, nhưng không có vấn đề gì cả. Có thể chàng chưa nhận được thư của tôi hoặc không thể gởi một tin nhắn bí mật đến cho tôi. Tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn ra đường phố London. Tôi bỗng thấy một thầy thuốc đi đến trước cửa và được mở cửa mời vào nhà. Tôi không có bệnh gì cả, vì vậy nên tôi tự hỏi ai đã gọi ông ấy, liệu có phải Phu nhân Gresham ăn gì đó và bị trúng độc không.
Đích thân ngài Thomas mở cửa và thầy thuốc Smith bước vào phòng. Vậy ra ông ấy đến thăm tôi. Tôi đứng dậy, trong lòng đầy bất an. Nếu đó là vấn đề tự do của tôi, tại sao họ lại gởi một thầy thuốc đến? Tại sao cả hai người đều trông rất nghiêm trọng như vậy?
Tôi không chờ ông lên tiếng hay cúi chào. “Làm ơn nói đi”, tôi nói nhanh. “Xin hãy cho tôi biết ngay lập tức bất cứ điều gì ngài cần nói với tôi. Hãy cho tôi biết ngay lập tức”.
Hai người đàn ông nhìn nhau, và, vào lúc đó, tôi biết tôi đã mất tình yêu của cuộc đời mình.
“Có phải về Thomas không?”, tôi hỏi.
“Vâng, thưa Công nương”, vị thầy thuốc khẽ nói. “Rất tiếc phải báo với cô rằng ông ấy đã chết”.
“Chồng tôi?”, tôi nói. “Thomas của tôi, Thomas Keyes? Trung sĩ gác cổng của Nữ hoàng, người đàn ông to lớn nhất triều đình? Người đã kết hôn với tôi?”.
Tôi nghĩ, nhất định là một sự nhầm lẫn. Thomas của tôi đã sống sót ở Nhà tù Fleet qua mùa đông, trở về Kent, viết thư bảo rằng chàng sẽ đến với tôi, chàng không thể thất bại và chết trước khi chúng tôi đoàn tụ được. Chuyện tình của chúng tôi, một câu chuyện kỳ lạ, không thể kết thúc một cách bất hạnh như vậy. Tôi nghĩ đó là một Thomas khác, không phải Thomas của tôi, với dáng đứng cao lớn như một cây đại thụ, đôi vai thẳng và đôi mắt tử tế quét qua tất cả những người ra vào cổng.
“Vâng, thưa Công nương”, vị thầy thuốc nhắc lại. “Tôi e rằng ông ấy đã chết”.
VƯỜN OSTERLEY, MIDDLESEX
MÙA XUÂN NĂM 1572
Sau đó, một thời gian dài sau đó, họ kể lại rằng khi nghe xong tin tức ấy, tôi đã ngất xỉu, mặt tôi trắng bệch và họ nghĩ tôi sẽ không bao giờ mở mắt ra nữa. Tôi không nói gì cả, và họ nghĩ tin này đã giết chết tôi. Lúc tỉnh dậy trên giường, tôi hỏi đó có phải là sự thật không, và khi họ đáp: “Vâng, vâng, Thomas Keyes đã chết”, tôi nhắm mắt lại và quay mặt vào tường. Đối diện với bức tường, tôi chờ cái chết đến với tôi. Khi đó, tôi có cảm giác rằng tôi đã mất tất cả những người mà tôi yêu thương, tất cả những người thuộc về tôi, rằng cuộc sống của tôi từ đây là vô nghĩa, một sự lãng phí thời gian, tôi sống chỉ để làm cho Nữ hoàng giận dữ, rằng bà ấy đã trở thành một con quái vật, một con chuột chũi như cha bà, một con quái thú vĩ đại sống trong lòng nước Anh và nuốt chửng những đứa trẻ sáng sủa nhất.
Sự độc ác đó của Nữ hoàng Elizabeth hẳn đã phá vỡ trái tim người đàn ông vĩ đại nhất nước Anh, người đàn ông vĩ đại với một tinh thần vĩ đại, điều đó không hề chứng minh quyền lực của bà mà chỉ cho thấy sức mạnh của quỷ dữ, khi một người phụ nữ không nghĩ đến gì khác ngoài chính bản thân mình. Nữ hoàng Elizabeth mạnh mẽ hơn nhờ tính kiêu căng tự phụ. Bất cứ ai dám nói với bà về một phụ nữ khác đáng yêu hơn đều phải chết. Bất cứ người đàn ông nào dám yêu một phụ nữ khác hơn bà đều phải bị lưu đày. Ngay cả một người như Thomas, đã trung thành phục vụ bà và yêu một phụ nữ bé nhỏ như tôi, không cao hơn chiếc thắt lưng da bản rộng của chàng, thậm chí Thomas cũng không được phép sống hạnh phúc khi cái nhìn của chàng dám rời Nữ hoàng Elizabeth để chuyển sang một người khác – là tôi.
Họ đưa tôi đến Vườn Osterley, một ngôi nhà ở vùng quê của Ngài Thomas Gresham, mà như đang di chuyển một xác chết. Họ nghĩ tôi sẽ chết một mình ở vùng quê này và mọi sự bất tiện sẽ kết thúc. Đó cũng là ước nguyện thầm lặng của tôi. Hẳn đó là ý muốn của Chúa và tôi sẽ không báng bổ Ngài bằng cách tự sát, nhưng tôi không ăn và không nói. Tôi nằm đó với đôi mắt nhắm nghiền và chiếc gối dưới đầu tôi luôn ướt đẫm bởi những giọt nước mắt không ngừng tuôn ra khi tôi khóc chồng tôi, Thomas Keyes, dù đang thức hay ngủ.
Ngày trở nên ngắn lại và phòng ngủ của tôi tối đen từ khoảng ba giờ chiều, và sau đó từ từ, từ từ, ánh sáng vàng bắt đầu chiếu lên những bức tường trắng và tôi có thể nghe thấy tiếng chim hót bên ngoài cửa sổ vào buổi sáng. Bầu trời sáng dần và tôi nghĩ chồng tôi, người chồng yêu dấu của tôi, sẽ không bao giờ khuyên tôi bỏ cuộc. Chàng yêu tôi khi tôi còn là một cô bé nhỏ xíu trên lưng một con ngựa lớn. Chàng yêu lòng can đảm của tôi; chàng yêu tinh thần bất khuất của tôi. Có lẽ tôi có thể tìm thấy lòng can đảm và tinh thần đó một lần nữa, vì tình yêu dành cho chàng.
Và tôi nghĩ, nếu không có gì khác, tôi có thể phủ nhận chiến thắng của Nữ hoàng Elizabeth trước cái chết của tất cả những người họ hàng. Tôi nghĩ về Nữ hoàng Mary xứ Scots đang chờ được quay về Scotland, quyết tâm giành lại đất nước và con trai mình. Tôi nghĩ về Thomas, Công tước Norfolk, đang chuẩn bị lời biện hộ ở Tháp London. Tôi nghĩ về dì Margaret Douglas, hiện là một góa phụ vì chồng dì đã bị giết trong một cuộc cãi vã ở Scotland, không bao giờ ngưng đòi hỏi công lý, không bao giờ ngưng đòi ngai vàng Scotland cho cháu nội, và tôi nghĩ tôi sẽ rất tệ nếu tôi giải phóng cho Nữ hoàng Elizabeth trong việc đối phó với ba người kế vị còn sống sót. Tôi sẽ rất tệ nếu tôi giúp đỡ Nữ hoàng Elizabeth bằng sự ra đi trong im lặng của một đối thủ khác. Tôi là em gái của Jane Grey – người ta gọi chị là vị thánh tử đạo đầu tiên của Tôn giáo Kháng cách – tôi sẽ không biến mất trong im lặng. Lời chị Jane tôi vẫn còn đó: “Hãy học cách chết!” với tôi không có nghĩa là nằm xuống như chú chó Jo, gác chân lên mũi và bỏ cuộc. “Hãy học cách chết!” có nghĩa là làm thế nào để cái chết của bạn có ý nghĩa, và làm thế nào để cuộc sống của bạn có ý nghĩa.
Vì vậy, vào cuối thời gian lặng lẽ khóc thương chồng, tôi đứng dậy vì tôi yêu chồng tôi và tôi sẽ sống phần còn lại của cuộc đời tôi để chứng minh điều đó, và bởi vì tôi khinh thường Nữ hoàng Elizabeth nên tôi sẽ sống phần còn lại của cuộc đời tôi để quấy rầy bà. Khi mùa xuân đến, tôi trỗi dậy. Đơn giản là thế. Tôi đứng lên, làm tóc, xen lẫn màu bạc với màu vàng như trang phục của một góa phụ, tôi đặt mua vải đen từ cửa hàng của ngài Thomas ở London và tranh luận với Phu nhân Gresham về việc tôi cần bao nhiêu nguyên liệu để may một chiếc áo tang đen. Tôi muốn nó có nhiều nếp gấp và phải đẹp. Sau đó tôi nghe rằng người chồng cực kỳ ngu ngốc của bà (vì ông ta là một kẻ ngốc, với tất cả những gì ông ta biết về kinh doanh) đã đến gặp William Cecil để hỏi xem liệu tôi có thể mặc y phục như một góa phụ không. Như thể việc đó quan trọng với ông ấy, như thể việc đó quan trọng với họ! Như thể việc một góa phụ mặc áo đen để tang cho tình yêu cuộc đời cô ấy rất quan trọng đối với một nữ hoàng. Như thể một nữ hoàng nên cúi xuống để lo lắng về chiếc váy lót màu đen của người nhỏ bé nhất trong những người mà bà quan tâm, như thể bất cứ ai cũng nên phủ nhận chiếc áo đen của tôi khi tôi mang theo tình yêu lớn nhất trong trái tim mình.
Tôi giành được chiếc áo đen và giành được tự do. Tôi được phép đi dạo qua những khu vườn ở Osterley và thậm chí cưỡi ngựa đi khắp công viên. Chú khỉ Nozzle thích vườn cây trái của Thomas Gresham và khi những trái cây đầu mùa xuất hiện, chú thường lục lọi tìm kiếm những trái mâm xôi hoặc anh đào đầu mùa. Chú hái các loại trái cây và tôi phải ngờ rằng chú cảm thấy rất thích thú khi làm phiền vị chủ nhà của chúng tôi. Hơn một lần ngài Thomas nhắn tin từ London về yêu cầu gởi cho ông những trái đào trong nhà kính, bảo người quản gia rằng ông sắp mời một vị khách quan trọng ăn tối, nhưng chú khỉ Nozzle đã đi trước ông. Chú ta biết cách mở khóa cửa nhà kính, vào trước và ăn hết những trái ngon nhất. Đôi khi chú chỉ cắn một miếng trên mỗi trái. Tôi nghĩ ngài Thomas nên ngưỡng mộ phương pháp giành giá trị trước của chú khỉ; nhưng ông ấy không nghĩ thế.
Tôi viết thư cho William Cecil nói rằng vì bây giờ cuộc hôn nhân của tôi đã được công nhận hợp pháp nên tôi nên chuyển đến sống ở nơi mà chồng tôi đã sống, tại Sandgate ở Kent, và nuôi các con riêng của chàng như con tôi. Lúc này bọn trẻ đã mồ côi còn tôi là một góa phụ; sẽ giảm tải cho giáo xứ và là một niềm vui cho tôi nếu tôi có thể chăm sóc cho chúng.
Ông mất một thời gian dài để trả lời, nhưng tôi biết ông còn nhiều việc khác phải lo. Thomas Howard, Công tước Norfolk, đã ra hầu tòa với một loạt cáo buộc chống lại ông nhưng chỉ có một cáo buộc đúng – và đó là điều tệ nhất. Ông thích Nữ hoàng Mary hơn Nữ hoàng Elizabeth, ông định kết hôn với người phụ nữ trẻ xinh đẹp này, và Nữ hoàng sẽ xử tử ông vì điều đó. Ông biết có một âm mưu giải phóng Nữ hoàng Scotland và có thể ông đã chuyển tiền cho họ. Ông không làm gì khác. Ông không tham gia vào âm mưu, ông tự nộp mình cho Nữ hoàng và xin tha tội. Bà không chấp nhận sự biện minh rằng vì ông hứa kết hôn với Nữ hoàng Scotland nên phải giúp đỡ bà. Đó là lời biện hộ cuối cùng trên thế giới có thể lôi kéo một phụ nữ như Nữ hoàng Elizabeth, không thể chịu đựng được bất kỳ một sự chú ý nào dành cho một phụ nữ khác. Thế là Thomas Howard bị tuyên án có tội, và Nữ hoàng có thể chọn tha tội cho ông hoặc không. Trong khi chờ đợi, ông ở Tháp Luân Đôn, như chị Jane đã đợi, như chị Katherine đã đợi, như tôi đã đợi ở đây tại Osterley, để nhìn thấy niềm vui của Nữ hoàng.
Và bây giờ, khi Thomas Howard bị kết tội phản bội vì đã cầu hôn Nữ hoàng xứ Scots, khi chồng dì Bess bị khinh miệt vì yêu Nữ hoàng xứ Scots, đột nhiên, danh tiếng của Nữ hoàng Mary bị phá hủy. Hội đồng Cơ mật cho phép công bố đầy đủ những lá thư của cô ấy, những lá thư nổi tiếng trong chiếc tráp mạ bạc – giả mạo và hư cấu. William Cecil quá bận rộn với các giấy tờ, trước kia từng bí mật đến mức thậm chí các cố vấn hoàng gia cũng không được phép xem, giờ thì được công khai với giá rẻ đến nỗi mọi người phụ bếp ở London đều có thể mua một bản sao và đọc thấy Nữ hoàng Mary không phải là một Nữ hoàng xứng đáng, vì cô ấy đã ngoại tình với Bothwell và giết chồng bằng một quả bom.
Bị sốc với điều này, và lo sợ trước nhiều cảnh báo khác của Cecil, Nghị viện kêu gọi buộc tội và hành quyết Nữ hoàng Mary. Vẫn là một vị khách không mời và suy sụp của dì Bess, Nữ hoàng Scotland phải chờ xem Nữ hoàng Elizabeth sẽ làm gì. Tôi đoán Nữ hoàng Elizabeth sẽ giam giữ vô thời hạn tất cả những người họ hàng của bà – tất cả chúng tôi, cho đến khi đội quân trung thành của Thomas quên ông đi, cho đến khi họ chết vì đau khổ. Nhưng bà không thể hạ thấp tôi hơn nữa, tôi vốn đã rất thấp. Bà cũng không thể làm tan vỡ trái tim tôi: Nó đã được chôn cùng chồng tôi, Thomas Keyes.
Cuối cùng, khi tôi nghe tin từ Cecil, ông từ chối yêu cầu của tôi. Nữ hoàng không muốn cho tôi quay lại cuộc sống bình thường. Tôi không được phép chăm sóc cho các con của chồng mình; tôi không được phép nuôi dạy con cái của Thomas như chàng yêu cầu tôi. Nhưng bà không nên nghĩ tôi sẽ lặng lẽ chết cho bà thỏa nguyện. Không phải vì điều này, không phải vì bất cứ điều gì khác!
ST. BOTOLPH’S–WITHOUT–ALDGATE, LONDON
MÙA XUÂN NĂM 1573
Và cuối cùng, tôi đã thắng. Đó là một chiến thắng đơn giản và ngoạn mục. Tôi đã vượt qua sự tàn ác của Nữ hoàng Elizabeth và sống sót sau tất cả sự ghen tuông ganh ghét của bà.
Tôi đã chứng kiến bà nhẫn tâm để người chị yêu quý của tôi chết vì dịch bệnh, sau đó bỏ mặc chị chết vì tuyệt vọng. Tôi tận mắt nhìn thấy Nữ hoàng ruồng bỏ các cháu trai bé bỏng của tôi giữa bệnh dịch. Tôi đã thấy bà hành hình người họ hàng Thomas Howard và tống giam một người họ hàng khác, một Nữ hoàng – và ai có thể tưởng tượng rằng mình có thể bỏ tù Nữ hoàng xứ Scots, một thành viên hoàng gia nước Pháp? Nhưng tôi đã thấy Nữ hoàng Elizabeth làm tất cả những điều đó. Và cuối cùng, tôi đã thấy ác tâm của bà đối với tôi phai nhạt dần do bà sử dụng nó quá nhiều. Người mệt mỏi và bỏ cuộc không phải là tôi mà là Nữ hoàng Elizabeth. Cuối cùng, bà đã thả tôi.
Trước tiên, bà cho phép tôi đến Beaumanor ở với cha dượng tôi, Adrian Stokes, và như thế, tôi có thể quay về nhà mình. Sau đó, dường như Nữ hoàng cảm thấy mệt mỏi sau nhiều năm dài ngược đãi tôi, bà trả tự do cho tôi và thậm chí hứa hẹn sẽ khôi phục trợ cấp hoàng gia cho tôi. Việc bà trả tự do cho tôi cũng không một lời giải thích, giống như khi bà bắt giam tôi. Giờ đây tôi không có gì nguy hiểm đối với bà, cũng như trước kia cũng không. Không có gì cả ngoại trừ một ý thích bất chợt của hoàng gia.
Nhưng tôi không quan tâm, tôi không đòi hỏi công lý, tôi cũng không phàn nàn rằng lẽ ra bà phải trả tự do cho tôi cách đây bảy năm, lẽ ra bà không nên bắt giam người chồng yêu quý của tôi, và lẽ ra nếu bà thả chị Katherine, hẳn chị ấy đã không chết. Tôi biết chúng tôi là những nỗi sợ hãi của Nữ hoàng Elizabeth. Nhưng tôi không than phiền gì cả. Bà đã trả tự do cho tôi và chu cấp cho tôi. Tôi có thể tiếp tục sống. Tôi ôm hôn cha dượng tôi, hôn người vợ mới của ông và những đứa con đáng yêu của họ. Tôi mua cho mình một ngôi nhà nhỏ ở London và sống như một phụ nữ bình thường ở London, đầy kiêu hãnh và tự do như Phu nhân Gresham, nhưng hạnh phúc hơn nhiều.
London rất đẹp vào mùa xuân. Đó là khoảng thời gian tuyệt vời nhất. Những ngôi làng dọc theo các bức tường thành phố trở nên tươi sáng hơn với tuyết phủ trắng xóa các mái nhà và rực rỡ màu hoa ly vàng đung đưa trong gió khi bước vào Mùa Chay. Chú khỉ Nozzle đã già, biết rằng cuối cùng chúng tôi đã về đến ngôi nhà của chính mình, chơi đùa suốt ngày với chiếc gối nhung đỏ trên một chiếc ghế lưng dựa cao trong sảnh. Ở đó, chú có thể quan sát mọi người ra vào ngôi nhà nhỏ của tôi như một trung sĩ gác cổng bé nhỏ. Tôi làm cho chú một chiếc thắt lưng dày bằng da in hoa và một chiếc áo khoác Tudor màu xanh lá cây để luôn nhớ đến người trung sĩ gác cổng của Nữ hoàng, người mà tôi sẽ không bao giờ quên.
Tôi thăm các con của chồng tôi như đã hứa với chàng. Con gái chàng, Jane Merrick, thường ghé thăm tôi. Cô ấy đề nghị tôi làm mẹ đỡ đầu cho con gái mình và đặt tên cô bé giống tên tôi, Mary. Tôi cũng có những người khách khác. Tôi có vài người bạn cũ ở triều đình, là phù dâu trong đám cưới của tôi. Blanche Parry, tổng quản nội cung, thỉnh thoảng đến thăm tôi và kể về những câu chuyện cũ. Nếu tôi muốn quay lại phục vụ Nữ hoàng Elizabeth, tôi biết Blanche sẽ nói giúp, và tôi cảm thấy rất vui về điều đó. Tôi sinh ra để phục vụ triều đình, nhưng tôi ghét Nữ hoàng Elizabeth đến mức thà sống xa triều đình. Cũng chưa biết chừng tôi sẽ trở lại. Tôi sẽ quyết định sau. Tôi có quyền tự do lựa chọn.
Tôi còn có những vị khách khác. Bà ngoại kế của tôi và các con bà thường ghé thăm tôi mỗi khi họ đến London. Họ ở lại nhà tôi ăn tối và ngủ qua đêm. Anh rể tôi, Ned, viết thư cho tôi về các cháu của tôi, và tôi sẽ đến Hanworth thăm họ vào mùa hè. Cháu nhỏ nhất, Thomas, là một học giả như chị Jane, một nhà thơ như cha nó. Tôi gởi cho cháu những cuốn sách mà một nhà truyền giáo giới thiệu khi ông đến thăm tôi để nghiên cứu và trao đổi về thuyết thần học mới nhằm thúc đẩy Giáo hội bán Công giáo93* của Nữ hoàng Elizabeth đi xa hơn trong việc cải cách và thanh lọc. Tôi mua thêm những quyển sách mới, dự các thánh lễ, theo dõi các thông tin về mọi thay đổi bước ngoặt của cuộc tranh luận này.
93* . Half-papist Church: Giáo hội nửa Công giáo La Mã, nửa Tin lành Kháng cách.
Dì Bess, người bạn “thay đổi theo thời tiết” của gia đình tôi, đến thăm tôi khi bà tới London. Bà không chia sẻ với chúng tôi về sự tan vỡ trong gia đình, nhưng ai cũng biết rằng ngài Bá tước, chồng bà, đã hoang phí cả gia tài khổng lồ của mình để mua vui và đảm bảo an toàn cho vị khách hoàng gia, và “mỏ vàng” này tiếp tục bị bòn rút khi Nữ hoàng Elizabeth không đưa Nữ hoàng Mary về Scotland trong danh dự mà cũng chẳng giao cô ấy về Pháp trong tủi nhục. Dì Bess cố sống xa chồng mình, càng xa càng tốt, nhưng bà không cứu được tài sản này. Đó có lẽ là nỗi đau lớn nhất của bà.
Bà hãnh diện nói về con cái và các dự án xây dựng nhà cửa lớn lao của bà. Bà hy vọng sẽ cứu được tài sản của mình khỏi các món nợ ngài Bá tước gây ra và có đủ tiền để tự xây dựng một tòa nhà lớn bên cạnh tòa dinh thự cũ Hardwick và lập nên một đế chế. Ông chồng Bá tước có thể khiến bà thất vọng, nhưng tham vọng của bà không bao giờ tàn lụi. Chỉ có Chúa mới biết bà sẽ chọn ai làm chồng cho cô con gái đáng thương của mình.
“Cháu nghĩ thế nào nếu chọn Charles Stuart cho con gái Elizabeth của dì?”, bà hỏi, “cậu ta là một họ hàng của Nữ hoàng và là em trai của Vua Scotland quá cố”.
Tôi nhìn dì, ngạc nhiên tột độ. “Dì nghĩ rằng Nữ hoàng Elizabeth sẽ chấp thuận cuộc hôn nhân này sao?”.
Dì Bess thở hắt ra như muốn thổi tắt một ngọn nến, và vì lý do gì đó, tôi cảm thấy tê cứng. “Ồ, không, có lẽ không có gì”, dì ấy nói. “À, cháu trả bao nhiêu tiền cho người quản gia này? Không phải thuê người ở London rất đắt sao?”.
Tôi để dì ấy thay đổi đề tài cuộc nói chuyện và quên đi những gì dì ấy nói. Dì Bess rất tự tin khi có hình một con sư tử chồm lên trên gia huy. Không ai biết dì ấy và gia đình sẽ kết thúc ở đâu.
Trước khi dì Bess ra về, tôi cho dì ấy xem xung quanh ngôi nhà nhỏ của tôi, từ phòng ngủ của người hầu trên gác xép đến phòng ngủ và dãy phòng riêng của tôi bên dưới. Dì ấy ngưỡng mộ thư viện sách và tỏ ra phấn khích trước chiếc giường lớn có bốn bức tranh của tôi. “Mọi thứ đều rất tốt”, dì ấy bảo tôi, như một phụ nữ vươn lên từ số không nói với một phụ nữ khác từng mất hết tất cả và đang giành lại mọi thứ.
Tôi đưa dì tham quan đại sảnh và xem các thứ đồ dùng bằng bạc trong tủ. Có thể có hai mươi người ăn tối với những đồ dùng bằng bạc trên bàn và một trăm người khác có thể ngồi dưới sảnh. Thỉnh thoảng tôi cũng tổ chức những bữa tiệc và mời bất cứ ai tôi thích. Chú khỉ Nozzle lặng lẽ quan sát khi tôi đưa dì ấy đi ngắm các đồ vật quý giá.
Khi vào nhà bếp, tôi chỉ cho dì xem xiên thịt nướng và đám than cháy rực trong bếp để chuẩn bị làm món nước sốt, lò nướng bánh mì và nhà kho phía sau, khu sơ chế, phòng dự trữ bơ sữa, hầm rượu, khu vực nấu bia và làm bơ.
“Đây là một ngôi nhà thích hợp”, dì Bess nói, như thể bà nghĩ một người nhỏ bé thì chỉ cần một ngôi nhà nhỏ như nhà búp bê.
“Đúng vậy”, tôi nói, “đây là nhà của cháu, và cháu đã mất một thời gian dài mới đến được đây”.
Tôi có một chuồng ngựa sau nhà và tôi cưỡi ngựa ra ngoài khi tôi thích. Tôi muốn đi bao xa và bao lâu tùy ý. Sẽ không còn ai nói với tôi một lần nữa rằng tôi chỉ có thể đi đến chiếc cổng hoặc nhìn thấy bầu trời qua vuông cửa nhỏ. Tôi nghĩ về chị Katherine, sự ngọt ngào và ngớ ngẩn của chị, tình yêu sâu sắc chung thủy dành cho chồng, cùng với lòng can đảm bảo vệ cho anh ấy và các con của mình. Tôi nghĩ về chồng tôi, Thomas Keyes, cách họ giam giữ chàng như nhốt một con gấu ở Bradgate, một con vật to lớn, đẹp đẽ bị những người canh gác tàn ác giam giữ trong một cái chuồng chật chội. Tôi nghĩ đến chị Jane và quyết tâm về bên Chúa, thay vì dễ dàng im lặng để được sống, và tôi nghĩ chị ấy đã lựa chọn định mệnh của mình, và tôi cũng lựa chọn định mệnh của tôi.
Tôi mừng vì tôi đã không chọn cái chết tử vì đạo như chị Jane. Tôi mừng vì tôi đã không đau khổ đến chết như chị Katherine. Tôi mừng vì tôi đã yêu Thomas và tôi biết tôi vẫn luôn yêu chàng. Tôi mừng vì Nữ hoàng Elizabeth không tiêu diệt được tôi, vì tôi đã chống lại bà và tôi không bao giờ hối hận về điều đó. Và tôi mừng vì cuộc sống nhỏ bé của tôi, như một người nhỏ bé, là điều quý giá nhất đối với tôi.
Tôi vuốt nhẹ chiếc váy màu đen. Tôi luôn mặc màu đen như một góa phụ sang trọng và giàu có. Tôi nhớ mọi người bảo tôi rằng Nữ hoàng Mary xứ Scots đã mặc một bộ váy cưới màu đen thêu chỉ bạc và vàng – và tôi nghĩ đúng là một góa phụ rất thời trang! Làm một nữ hoàng là phải như thế. Bên dưới lớp vải đen thêu kim tuyến, tôi mặc một chiếc váy lót màu đỏ tươi, như cô ấy đã làm. Màu đỏ rực rỡ thấp thoáng ẩn hiện khi tôi đi dạo quanh nhà hay bước ra đường. Màu đỏ của sự thách thức, màu đỏ của cuộc sống, màu đỏ của tình yêu. Đó là sắc màu của tôi. Tôi sẽ mặc chiếc váy đen thêu kim tuyến và váy lót màu đỏ cho đến lúc chết – bất kể đó là lúc nào, nếu Nữ hoàng Elizabeth đáng thương và không có tình yêu còn ngồi trên ngai vàng, thì tôi biết ít nhất bà cũng sẽ tổ chức cho tôi một tang lễ thật long trọng, tương xứng với vị công nương cuối cùng của Vương triều Tudor.